Nghiên cứu chúng tôi nhằm báo cáo kết quả, hiệu quả và biến chứng can thiệp bằng ống thông cho bệnh nhân tim bẩm sinh tại Viện Tim mạch Việt Nam 2015-2016.
Trang 1Can thiệp Tim bẩm sinh tại
Viện Tim mạch Việt Nam - Bệnh viện Bạch Mai: kết quả sau 2 năm nhìn lại 2015-2016
Nguyễn Thị Mai Ngọc*, Kim Ngọc Thanh* , **, Nguyễn Thị Duyên* Nguyễn Minh Hùng*, Đỗ Thu Trang*, Trần Bảo Trang*, Đỗ Quốc Hiển*, Phạm Tuấn Việt*
Phạm Thu Thủy*, Nguyễn Lân Hiếu * , **, Trương Thanh Hương* , **
Viện Tim mạch Việt Nam* Đại học Y Hà Nội**
TÓM TẮT
Giới thiệu: Số lượng bệnh nhân mắc tim bẩm
sinh được can thiệp bằng đường ống thông ngày
càng tăng ở Việt Nam
Mục tiêu: Nghiên cứu chúng tôi nhằm báo cáo
kết quả, hiệu quả và biến chứng can thiệp bằng ống
thông cho bệnh nhân tim bẩm sinh tại Viện Tim
mạch Việt Nam 2015-2016
Phương pháp: Chúng tôi tuyển chọn 1265
bệnh nhân (tuổi trung bình: 25,8 ± 17.0; nhỏ nhất
6 tháng tuổi, cao nhất 76 tuổi) có bệnh tim bẩm
sinh mà được thực hiện can thiệp qua da từ tháng
1/2015 đến tháng 12/2016 Toàn bộ dữ liệu lâm
sàng được thu thập hồi cứu dựa trên dữ liệu bệnh
viện và bệnh án bệnh nhân
Kết quả: Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận
gồm 1265 ca can thiệp TBS/22.416 ca nhập viện
nội trú (5,64%), trong đó chủ yếu là thông liên nhĩ
(TLN), thông liên thất (TLT) và ống động mạch
(ÔĐM), cụ thể như sau: 499 ca TLN (39,6%), 158
ca TLT (12,5%), 251 ca CODM (19.8%), 52 ca
hẹp van động mạch phổi và 7 ca nong van ĐMC
Thủ thuật can thiệp thành công trên 1194/1265
ca (94,4%) Biến chứng sớm chính xảy ra ở 71 ca (5,6%), trong đó bao gồm 52 ca rối loạn nhịp, 10
ca đái máu, 1 ca ép tim do tràn máu màng ngoài tim cấp và 2 ca di lệch dụng cụ (1 TLT, 1 TLN) Biến chứng khác là shunt tồn lưu nhỏ ở 6 ca TLT, TLN Thời gian theo dõi sau can thiệp là 3 ngày Chúng tôi không ghi nhận tắc mạch não, nhồi máu cơ tim,
và tử vong trong quá trình can thiệp cũng như thời gian theo dõi
Kết luận: Phương pháp can thiệp bằng ống
thông theo đường dưới da cho bệnh nhân tim bẩm sinh là hiệu quả và an toàn trong đại đa số các ca Tỷ
lệ biến chứng sớm sau can thiệp là 5,6%
Từ khóa: Bệnh tim bẩm sinh, biến chứng sớm
sau can thiệp, can thiệp tim bẩm sinh
ĐẶT VẤN ĐỀ Tim bẩm sinh là những bất thường cấu trúc tim
và mạch máu lớn tồn tại khi trẻ ra đời Tỷ lệ tim bẩm sinh thường gặp với tỷ lệ khoảng 8-10/1000 trẻ sinh sống[1], [2] Tại Nhật Bản ước tính có khoảng
Trang 2400.000 bệnh nhân tim bẩm sinh người lớn năm
2007 và tăng thêm 9000 bệnh nhân mỗi năm[3]
Ở Việt Nam ước tính mỗi năm có khoảng 16.000 -
20.000 trẻ mắc bệnh tim bẩm sinh ra đời; trong đó
có 30% bị bệnh tim bẩm sinh phức tạp và 70% là
bệnh tim bẩm sinh không phức tạp mà 80% trong
số đó có thể chữa trị triệt để Trong nghiên cứu mô
hình bệnh tật ở bệnh nhân điều trị nội trú tại Viện
Tim Mạch, tỷ lệ bệnh tim bẩm sinh năm 2003 là
7.2% và năm 2007 là 9,6% [4]
Thông tim can thiệp ngày càng trở thành
phương pháp điều trị hiệu quả cho rất nhiều các
bệnh tim bẩm sinh trên thế giói cũng như ở Việt
Nam Viện Tim mạch Việt Nam - Bệnh viện Bạch
Mai phối hợp với các đồng nghiệp nước ngoài đã
tiến hành rất sớm việc đóng lỗ Thống liên nhĩ bằng
dụng cụ qua da vào cuối năm 1999 Từ đó đến nay,
tại Viện Tim mạch Việt Nam – Bệnh viện Bạch Mai,
nhờ các tiến bộ của khoa học kỹ thuật, sự hoàn thiện
không ngừng của các dụng cụ can thiệp tim mạch
và đồng thời là kinh nghiệm ngày càng phong phú
của các bác sĩ tim mạch, một số lượng lớn các bệnh
nhân tim bẩm sinh đó được điều trị bằng phương
pháp can thiệp qua da không cần đến các cuộc đại
phẫu thuật với tuần hoàn ngoài cơ thể Tính từ đầu
3/2014 đến giữa tháng 12 năm 2015, trong vòng
gần 20 tháng, phòng Tim bẩm sinh Viện Tim mạch
Việt Nam - Bệnh viện Bạch mai đã điều trị cho hơn
1552 bệnh nhân tim bẩm sinh, trong đó có 1045
bệnh nhân có bệnh lí tim bẩm sinh với luồng thông
trái - phải được điều trị với các kỹ thuật tim mạch
can thiệp
Đến nay tại Viện Tim mạch Việt Nam - Bệnh
viện Bạch Mai, chưa có tổng kết đầy đủ nào về tình
hình can thiệp các bệnh lý Tim bẩm sinh
Chính vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề
tài: “Can thiệp Tim bẩm sinh tại Viện Tim mạch
Việt Nam - Bệnh viện Bạch Mai: kết quả sau 2 năm
nhìn lại từ 2015-2016” với mục tiêu nghiên cứu:
- Đặc điểm các bệnh tim bẩm sinh can thiệp tại Viện Tim mạch Việt Nam - Bệnh viện Bạch Mai từ
2015 - 2016
- Tỷ lệ các bệnh tim bẩm sinh được can thiệp tại Viện Tim mạch Việt Nam - Bệnh viện Bạch Mai từ
2015 - 2016
- Một số biến chứng thường gặp liên quan đến bệnh tim bẩm sinh được can thiệp tại Viện Tim mạch Việt Nam - Bệnh viện Bạch Mai từ 2015 - 2016 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Tất cả những bệnh nhân chẩn đoán tim bẩm sinh vào điều trị tại khoa Tim bẩm sinh và Di tryền tại Viện Tim mạch - Bệnh viện Bạch Mai thời gian
từ tháng 01/2015 đến hết tháng 12/2016
Tiêu chuẩn loại trừ đối tượng nghiên cứu:
- Đối tượng chẩn đoán không phải bệnh lý tim bẩm sinh mà là dị tật khác
- Đối tượng không rõ chẩn đoán
Cỡ mẫu nghiên cứu
Cỡ mẫu được tính theo công thức tính cỡ mẫu
áp dụng cho nghiên cứu hồi cứu mô tả cắt ngang
( ) ( )
2
2 1
2
1
n Z
p
α
ε
−
× −
×
Trong đó: n là cỡ mẫu nhỏ nhất cần cho nghiên cứu; α là mức ý nghĩa thống kê; 2
1
Z−α
là hệ số tin cậy;
α = 0,05( độ tin cậy 95%) thì 2
1 2
Z−α
bằng 1,96; p là
tỷ lệ tim bẩm sinh ở nghiên cứu trước, theo tỷ lệ tại Viện Tim mạch năm 2007 là 9,6%; ε là độc chính xác tương đối được chọn là 0,45 Thay vào công thức ta có cỡ mẫu thấp nhất cần cho nghiên cứu là
178 bệnh nhân
Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu, mô tả cắt ngang
Địa điểm nghiên cứu, thời gian nghiên cứu
Khoa Tim bẩm sinh và Di truyền Viện Tim mạch Việt Nam, phòng lưu trữ hồ sơ Bệnh viện Bạch Mai
Trang 3Thời gian từ tháng 01/2015 đến hết tháng 12/2016.
Quy trình thu thập số liệu
Thông tin được thu thập theo bệnh án nghiên
cứu Số liệu được nhập bằng epidata, excel 2010
Số can thiệp TBS Số can thiệp Số BN nhập viện
Biểu đồ 1 Tình hình can thiệp tim bẩm sinh giai đoạn 2015-2016
Nhận xét: Can thiệp tim bẩm sinh chiếm số
lượng lớn trong số can thiệp tim mạch và trong số
bệnh nhân nhập viện tại Viện Tim mạch Việt Nam,
Bệnh viện Bạch Mai trong năm 2015 và năm 2016
Đặc điểm các loại can thiệp tim bẩm sinh
Phân tích số liệu bằng Stata 10
KẾT QUẢ
Tình hình can thiệp tim bẩm sinh tại Viện Tim mạch
Bảng 1 Tỉ lệ các bệnh tim bẩm sinh được can thiệp năm 2015-2016
Nhận xét: Can thiệp tim bẩm sinh chủ yến là bít thông liên nhĩ, bít thông liên thất và bít ống động mạch.
Trang 4Bảng 2 Đặc điểm tuổi, giới ở nhóm can thiệp bít thông liên nhĩ, thông liên thất và còn ống động mạch năm 2015
Tuổi trung bình±SD (năm)
(Min – Max)
32.8±18 (0.5 – 76)
22.7±15.9 (0.5 – 67)
21.9±17.1 (0.5 – 56)
Phân bố nhóm tuổi
< 6 tuổi (%)
6-18 tuổi (%)
>18 tuổi (%)
9.8%
12.9%
77.3%
19.8%
15.8%
64.4%
29.1%
10.1%
60.9%
Tỉ lệ nam
Tỉ lệ nữ
23.8%
76.2%
47.8%
52.2%
28.2%
71.8%
Nhận xét: Phần lớn bệnh nhân được can thiệp thông liên nhĩ, thông liên thất, còn ống đông mạch là
người trưởng thành Tỉ lệ nữ nhiều hơn nam trong các loại can thiệp tim bẩm sinh
Bảng 3 Đặc điểm địa dư ở nhóm can thiệp bít thông liên nhĩ, thông liên thất và còn ống động mạch năm 2015-2016
Khu vực
Năm 2015
Năm 2016
Năm 2015
Năm 2016
Năm 2015
Năm 2016
Nhận xét: Đa số các trường hợp can thiệp thông
liên nhĩ, thông liên thất và bít ống động mạch là khu
vực Đồng Bằng Sông Hồng và vùng Đông Bắc Bộ
Một số biến chứng của can thiệp tim bẩm sinh
Tỉ lệ biến chứng tại cathlab của chúng tôi 2015-2016: 71/1265 ca (1,66%) Trong đó: Tử
Trang 5vong (liên quan thủ thuật): 0; Ép tim:1/1265 ca
(0,07%); Rơi dụng cụ: 2/1265 ca (0.15%); Rối
loạn nhịp: 52/1265 ca (4.1%); Đái máu:10/1265
ca (0,79%); Shunt tồn lưu nhỏ: 6/1265 ca (0,47%)
BÀN LUẬN
Tình hình can thiệp tim bẩm sinh tại Viện Tim
mạch:
Nghiên cứu của chúng tôi trong 2 năm từ 2015
đến hết 2016 có 1265 bệnh nhân tim Bẩm sinh
được can thiệp với 626 (2015) và 639 (2016)
Trong khi đó, tổng số các loại can thiệp Tim mạch
khác của Viện Tim mạch trong 2 năm 2015-2016 là
17.977: 8863 (2015) và 9114 (2016) Như vậy, can
thiệp tim bẩm sinh chiếm số lượng lớn trong số can
thiệp tim mạch và ngày càng tăng
Theo nghiên cứu của PGS.TS Phạm Mạnh
Hùng và cộng sự từ 2002 đến hết tháng 5/2013 có
tổng số 3283 bệnh nhân can thiệp tim bẩm sinh [5]
Đặc điểm các loại can thiệp tim bẩm sinh:
Trong số các bệnh tim bẩm sinh được can thiệp
tại Viện Tim mạch trong 2 năm 2015-2016 chúng
tôi thấy can thiệp tim bẩm sinh chủ yếu là bít thông
liên nhĩ, bít thông liên thất và bít ống động mạch
Trong năm 2015: bít được 225 ca TLN (35,9%);
148 ca CODM (23,6%); 92 ca TLT (14,7%)
Trong năm 2016: bít được 274 ca TLN (42,9%);
103 ca CODM(16,1%) và 66 ca TLT (10,3%)
Theo báo cáo của PGS.TS Phạm Mạnh Hùng
trong 10 năm từ 2003-2013 tại Viện Tim mạch Việt
Nam, tổng số 3283 ca tim bẩm sinh được can thiệp
như sau [5]:
Bít TLN 1724 ca (52,5%); đóng CODM 1027
ca (31,3%); bít TLT 253 ca (7,7%); nong van ĐMP
417 ca (12,7%); các can thiệp TBS khác 350 ca
(10,7%)
Như vậy 3 loại bệnh tim bẩm sinh hay gặp nhất
là TLN, TLT và CODM
Đặc điểm tuổi, giới ở nhóm can thiệp bít lỗ
TLN, TLT và CODM 2015-2016:
Phần lớn các bệnh nhân được can thiệp TLN, TLT, CODM là người trưởng thành Tuổi trung bình của nhóm bít TLN là 32,8 ± 18 tuổi (nhỏ nhất 6 tháng tuổi và già nhất là 76 tuổi) Tuổi trung bình nhóm bít TLN là 22,7 ± 15,9 tuổi (nhỏ nhất
6 tháng tuổi, già nhất 67 tuổi) Tuổi trung bình nhóm bít CODM là 21,9 ± 17,1 tuổi (nhỏ nhất là 6 tháng tuổi, già nhất là 56 tuổi) Dưới 6 tuổi ở nhóm TLN chỉ có 9,8%; còn đa số là trên 18 tuổi (77,3%) Nhóm TLT và CODM phát hiện và được can thiệp sớm nhiều hơn: nhóm TLT 19,8% các trường hợp nhỏ dưới 6 tuổi trong khi trên 18 tuổi chiếm 64,4% Nhóm CODM dưới 6 tuổi chiếm 29,1%; trên 18 tuổi chiếm 60,9%
Tỉ lệ nữ nhiều hơn Nam trong các loại can thiệp tim bẩm sinh: TLN(nữ 76,2%; Nam 23,8%); TLT (nữ 52,2%; Nữ 47,8%); CODM (Nữ 71,8%; Nam 28,2%)
Theo nghiên cứu của PGS.TS Phạm Mạnh Hùng trong một báo cáo tổng kết 10 năm từ 2002-5/2013 thì độ tuổi trung bình của 3283 ca tim bẩm sinh can thiệp là 19 ± 21 tuổi (nhỏ nhất 1 tuổi và lớn nhất 67 tuổi), trong đó cũng đa phần là lớn tuổi với 70% số bệnh nhân trên 15 tuổi [5]
Trong nghiên cứu mô hình bệnh tật ở bệnh nhân điều trị nội trú tại Viện Tim mạch, tỷ lệ bệnh tim bẩm sinh năm 2003 là 7.2% và năm 2007 là 9,6%
Tuổi trung bình trong nhóm bệnh nhân tim bẩm sinh theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Nhung
và cộng sự trong luận án bảo vệ tốt nghiệp là 34,18
± 13,26 năm, cao nhất là 84 thấp nhất là 17 Độ tuổi trong nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với nhóm tuổi tim bẩm sinh người lớn trong nghiên cứu của Carianne L Verhegt [6] Nghiên cứu đánh giá bệnh tim bẩm sinh tại Bệnh viện Chợ Rẫy cũng ghi nhận bệnh nhân tim bẩm sinh người lớn cao tuổi nhất là
84 tuổi, cho thấy tim bẩm sinh người lớn với độ tuổi
Trang 6ngày càng cao hơn, trên nhóm đối tượng bệnh nhân
cao tuổi [7]
Độ tuổi trung bình trong nhóm nam là 32,47
thấp hơn nữ là 35,02 Có sự khác biệt về tuổi giữa
2 giới, nghiên cứu đánh giá những khác biệt giữa 2
giới trên tim bẩm sinh người lớn của P Engelfriet và
B.J.M Mulder cũng có kết quả khác biệt có ý nghĩa
giữa tuổi của nam và nữ tương tự nghiên cứu của
chúng tôi [8]
Tỷ lệ bệnh tim bẩm sinh người lớn
Từ các kết quả trên chúng ta thấy cũng phù hợp
và giải thích được tai sao lại hay gặp nhất 3 nhóm
bệnh TLN, TLT và CODM và đặc biệt là mang một
nét rất riêng biêt: đó là tim bẩm sinh người lớn
Trong nhóm nghiên cứu của Nguyễn Thị Nhung
và cộng sự [9], bệnh lý TLN gặp nhiều nhất với 383
bệnh nhân chiếm 44,49% Tỷ lệ này phù hợp với
nghiên cứu của Lê Thị Khánh Vân đánh giá bệnh
tim bẩm sinh tại Bệnh viện Chợ Rẫy, đứng đầu là
thông liên nhĩ với tỷ lệ 39,18% [7] So với nhóm tim
bẩm sinh trẻ em được thống kê theo y văn thì tổn
thương gặp nhiều nhất lại là thông liên thất với tỷ lệ
khoảng 30% [10] Một số nghiên cứu đánh giá tim
bẩm sinh ở trẻ nhỏ cũng cho thấy thông liên thất
là tổn thương gặp nhiều nhất như nghiên cứu của
Trần Thị Mai Hồng 35%, Lê Thị Kim Dung 41,12%,
còn trên đối tượng sơ sinh thì tổn thương còn ống
động mạch lại có tỷ lệ cao nhất [11], [12],[13]
Bệnh lý thông liên nhĩ có tỷ lệ cao nhất trong bệnh
tim bẩm sinh người lớn do đây là bệnh lý ít có triệu
chứng lâm sàng nên ít phát hiện khi còn nhỏ, bệnh
tiến triển từ từ và người bệnh thường tới viện ở tuổi
trưởng thành khi có suy tim hay tăng áp phổi đã gây
triệu chứng lâm sàng
Dạng tổn thương có tỷ lệ cao thứ hai trong tim
bẩm sinh người lớn ở nghiên cứu này là TLT có 205
bệnh nhân chiếm 3,81%; đây là một tổn thương có
tỷ lệ cao nhất ở trẻ em, là một tổn thương đơn giản
điều trị hiệu quả bằng phẫu thuật hoặc can thiệp
qua da, và ngay cả khi không được điều trị thì những thông liên thất lỗ nhỏ bệnh nhân vẫn sống tới tuổi trưởng thành, do đó mà thông liên thất có tỷ lệ cao trong nhóm tim bẩm sinh người lớn Tương tự thì một dạng tim bẩm sinh đơn giản khác là còn ống động mạch cũng có tỷ lệ cao ở người trưởng thành, trong nghiên cứu của chúng tôi là 12,54%
Ít gặp hơn là bệnh lý Fallot IV 5%; hẹp động mạch phổi 3,48%, những bệnh lý tim bẩm sinh khác như tim một thất, thất phải hai đường ra, đảo gốc động mạch, tim bẩm sinh phức tạp có tỷ lệ nhỏ, do đây là các dạng tổn thương phức tạp, nếu không được phát hiện điều trị thì trẻ thường tử vong sớm trước khi tới tuổi trưởng thành
Một số biến chứng liên quan đến can thiệp tim bẩm sinh được ghi nhân tại Viện Tim mạch 2015-2016:
Phương pháp can thiệp bằng ống thông theo đường dưới da cho bệnh nhân tim bẩm sinh là hiệu quả và an toàn trong đại đa số các ca Một số biến chứng được ghi nhận liên quan đến can thiệp tim bẩm sinh thường là shunt tồn lưu nhỏ, đái máu, rối loạn nhịp tạm thời và di lệch dụng cụ Tỉ lệ biến chứng tại cathlab của chúng tôi 2015-2016: 71/1265 ca (5,6%) Trong đó: Tử vong (liên quan thủ thuật):0; Ép tim:1/1265 ca (0,07%); Rơi dụng cụ: 2/1265 ca (0.15%);Rối loạn nhịp:52/1265 ca (4.1%); Đái máu:10/1265 ca (0,79%); Shunt tồn lưu nhỏ:6/1265 ca (0,47%)
Theo nghiên cứu cuả ThS.BS Hoàng Thị Phú Bằng và cộng sự [14] tổng kết 197 ca can thiệp TBS tại Viện Tim mạch trong 9 tháng đầu năm 2017 ghi nhận 127 (64.5%) ca TLN, 29 (14.7%) ca TLT, 39 (19.8%) ca CODM, 1 ca hẹp van động mạch phổi
và 1 ca cửa sổ phế chủ Thủ thuật can thiệp thành công trên 196 ca, tỷ lệ thành công đạt 100% trên TLN, 100% trên CODM, và 97.4% trên TLT Biến chứng sớm chính xảy ra ở 13 ca bao gồm 10 ca rối loạn nhịp ( 3 TLT và 7 TLN), 2 ca đái máu (1TLT
Trang 7và 1 CODM), và 1 ca TLT di lệch dụng cụ Biến
chứng khác là shunt tồn lưu nhỏ ở 8 ca TLT, 2 ca
TLN và 3 ca CODM Thời gian theo dõi sau can
thiệp là 3 ngày Các tác giả cũng ghi nhận không có
các biến chứng tắc mạch não, nhồi máu cơ tim, và tử
vong trong quá trình can thiệp cũng như thời gian
theo dõi
Nói chung, biến chứng liên quan đến can thiệp
tim bẩm sinh là đa dạng và cách xử lý biến chứng
tùy thuộc vào loại biến chứng, mức độ nguy hiểm
và tiến triển của biến chứng
KẾT LUẬN
1 Tỷ lệ các bệnh TBS nhập viện tại VTMVN
2015-2016: 5,64% (1265 ca/tổng số nhập viện nội
trú 22.416 ca), thường gặp vẫn là TBS người lớn trên 18 tuổi
2 Các bệnh TBS được can thiệp chủ yếu là bít TLN, TLT, CODM:
• TLN 499/1265 ca chiếm 39,6% (32,8 ±18 tuổi);
• TLT 158/1265 ca chiếm 12,5 % (22,7 ±15,9 tuổi);
• CODM 251/1265 ca chiếm 19,8% (21,9
±17,1 tuổi)
3 Phương pháp can thiệp TBS bằng ống thông qua da là hiệu quả và an toàn trong đại đa số các
ca (thành công 1194/1265 ca chiếm 94,4%; tỷ
lệ biến chứng trong và sau can thiệp 71/1265 ca chiếm 5,6%
SUMMARY
Transcatheter Interventional Therapy Of Congenital Heart Diseases in Viet Nam National Heart Institute, Bach Mai Hospital: A retrospective study during 2015-2016
Introduction: The number of patients with congenital heart disease intervented by transcatheter is
increasing in Vietnam during 2015-201
Objective: This study aims to report the results of transcatheter interventional therapy (TIT) of
congenital heart disease (CHD) at Vietnam National Heart Institute
Methods: We recruited 1265 patients (mean age: 25,8 ± 17.0 years Min 6 months; max 76 years old)
with congenital heart diseases who underwent TIT from 01/2015 to 12/2016 All clinical data were collected from hospital databases and medical records
Results: Our study recorded 1265 patients with congenital heart diseases who underwent TIT per
total 22.416 pts hospitalized (5,64%) Among that: 499 (39,6%) atrial septal defect (ASD), 158 (12,5%) ventricular septal defect (VSD), 251 (19.8%) patent ductus arteriosus (PDA), 52 pulmonary valve stenosis, and 7 aortic valve stenosis The procedure was successful in 1194/1265 cases (94.4%) Major early complications occurred in 71 cases (5.6%) including: arrhythmia in 52 cases, haematuria in 10 cases, and device malposition in 2 cases (1 VSD and 1 ASD) Another minor complication was small residual shunt in
6 cases The median follow-up was 3 days There was no stroke, myocardial infarction, and death during the procedure and at follow-up period
Conclusion: Percutaneous transcatheter interventional therapy for congenital heart diseases is effective
and safe in the vast majority of cases The early complication rate was 5.6 percent
Keywords: Congenital heart disease, early complications, transcatheter interventional therapy.
Trang 8TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Theo Vos, Ryan M Barber, Brad Bell và các cộng sự., "Global, regional, and national incidence,
prevalence, and years lived with disability for 301 acute and chronic diseases and injuries in 188 countries, 1990–2013: a systematic analysis for the Global Burden of Disease Study 2013", The Lancet,
386(9995), tr 743-800.
2 Ariane J Marelli, Raluca Ionescu-Ittu, Andrew S Mackie và các cộng sự (2014), "Lifetime
Prevalence of Congenital Heart Disease in the General Population From 2000 to 2010", Circulation,
130(9), tr 749-756.
3 Yumi Shiina, Tomohiko Toyoda, Yasutaka Kawasoe và các cộng sự., "Prevalence of adult patients
with congenital heart disease in Japan", International Journal of Cardiology, 146(1), tr 13-16.
4 Nguyễn Lân Việt (2010 ), "nghiên cứu mô hình bệnh tạt ở bệnh nhân điều trị nội trú tại Viện Tim Mạch
Việt Nam trong thời gian 2003-2007", Tạp chí Tim mạch học số 52
5 Phạm Mạnh Hùng: can thiệp tim bẩm sinh: làm gì? bao giờ? khi nào.
6 Carianne L Verheugt, Cuno S.P.M Uiterwaal, Enno T van der Velde và các cộng sự (2008),
"Gender and Outcome in Adult Congenital Heart Disease", Circulation, 118(1), tr 26-32.
7 Lê Thành Khánh Vân (2015), "Điều trị bệnh tim bẩm sinh tại bệnh viện Chợ Rẫy ", Tạp chí y học
thực hành
8 P Engelfriet và B Mulder (2009), "Gender differences in adult congenital heart disease", Neth Heart J,
17(11), tr 414-7
9 Nguyễn Thị Nhung (2016): Nhận xét đặc điểm tim bẩm sinh người lớn tại Viện Tim mạch quốc
gia-Luận văn tốt nghiệp BS đa khoa 2016
10 Nelson textbook of pediatrics 20th (Daniel Bernstein,), Elsevier.
11 Trần Thị Mai Hồng (2012), "Nghiên cứu sự thay đổi các chỉ số huyết học ở bệnh nhân tim bẩm sinh.",
Luận văn tốt nghiệp bác sĩ đa khoa.
12 Lê Thị Kim Dung, "Phân loại tim bẩm sinh điều trị tại khoa Nhi bệnh viện Đa khoa Thái Nguyên ".
13 Nguyễn Thị Thanh Hương (2010), "Đặc điểm bệnh lý tim bẩm sinh ở trẻ sơ sinh tại Bệnh viện Nhi
đồng 1 ", Tạp chí y học thành phố Hồ Chí Minh.
14 Ths.Bs Hoàng Thị Phú Bằng và cộng sự (2017): Can thiệp bằng ống thông ở bệnh nhân Tim bẩm
sinh: nghiên cứu hồi cứu tại Việt Nam, báo cáo hội nghị can thiệp tim mạch toàn quốc 11/2017 tại Cần thơ