1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Can thiệp Tim bẩm sinh tại Viện Tim mạch Việt Nam - Bệnh viện Bạch Mai: kết quả sau 2 năm nhìn lại 2015-2016

8 55 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 344,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu chúng tôi nhằm báo cáo kết quả, hiệu quả và biến chứng can thiệp bằng ống thông cho bệnh nhân tim bẩm sinh tại Viện Tim mạch Việt Nam 2015-2016.

Trang 1

Can thiệp Tim bẩm sinh tại

Viện Tim mạch Việt Nam - Bệnh viện Bạch Mai: kết quả sau 2 năm nhìn lại 2015-2016

Nguyễn Thị Mai Ngọc*, Kim Ngọc Thanh* , **, Nguyễn Thị Duyên* Nguyễn Minh Hùng*, Đỗ Thu Trang*, Trần Bảo Trang*, Đỗ Quốc Hiển*, Phạm Tuấn Việt*

Phạm Thu Thủy*, Nguyễn Lân Hiếu * , **, Trương Thanh Hương* , **

Viện Tim mạch Việt Nam* Đại học Y Hà Nội**

TÓM TẮT

Giới thiệu: Số lượng bệnh nhân mắc tim bẩm

sinh được can thiệp bằng đường ống thông ngày

càng tăng ở Việt Nam

Mục tiêu: Nghiên cứu chúng tôi nhằm báo cáo

kết quả, hiệu quả và biến chứng can thiệp bằng ống

thông cho bệnh nhân tim bẩm sinh tại Viện Tim

mạch Việt Nam 2015-2016

Phương pháp: Chúng tôi tuyển chọn 1265

bệnh nhân (tuổi trung bình: 25,8 ± 17.0; nhỏ nhất

6 tháng tuổi, cao nhất 76 tuổi) có bệnh tim bẩm

sinh mà được thực hiện can thiệp qua da từ tháng

1/2015 đến tháng 12/2016 Toàn bộ dữ liệu lâm

sàng được thu thập hồi cứu dựa trên dữ liệu bệnh

viện và bệnh án bệnh nhân

Kết quả: Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận

gồm 1265 ca can thiệp TBS/22.416 ca nhập viện

nội trú (5,64%), trong đó chủ yếu là thông liên nhĩ

(TLN), thông liên thất (TLT) và ống động mạch

(ÔĐM), cụ thể như sau: 499 ca TLN (39,6%), 158

ca TLT (12,5%), 251 ca CODM (19.8%), 52 ca

hẹp van động mạch phổi và 7 ca nong van ĐMC

Thủ thuật can thiệp thành công trên 1194/1265

ca (94,4%) Biến chứng sớm chính xảy ra ở 71 ca (5,6%), trong đó bao gồm 52 ca rối loạn nhịp, 10

ca đái máu, 1 ca ép tim do tràn máu màng ngoài tim cấp và 2 ca di lệch dụng cụ (1 TLT, 1 TLN) Biến chứng khác là shunt tồn lưu nhỏ ở 6 ca TLT, TLN Thời gian theo dõi sau can thiệp là 3 ngày Chúng tôi không ghi nhận tắc mạch não, nhồi máu cơ tim,

và tử vong trong quá trình can thiệp cũng như thời gian theo dõi

Kết luận: Phương pháp can thiệp bằng ống

thông theo đường dưới da cho bệnh nhân tim bẩm sinh là hiệu quả và an toàn trong đại đa số các ca Tỷ

lệ biến chứng sớm sau can thiệp là 5,6%

Từ khóa: Bệnh tim bẩm sinh, biến chứng sớm

sau can thiệp, can thiệp tim bẩm sinh

ĐẶT VẤN ĐỀ Tim bẩm sinh là những bất thường cấu trúc tim

và mạch máu lớn tồn tại khi trẻ ra đời Tỷ lệ tim bẩm sinh thường gặp với tỷ lệ khoảng 8-10/1000 trẻ sinh sống[1], [2] Tại Nhật Bản ước tính có khoảng

Trang 2

400.000 bệnh nhân tim bẩm sinh người lớn năm

2007 và tăng thêm 9000 bệnh nhân mỗi năm[3]

Ở Việt Nam ước tính mỗi năm có khoảng 16.000 -

20.000 trẻ mắc bệnh tim bẩm sinh ra đời; trong đó

có 30% bị bệnh tim bẩm sinh phức tạp và 70% là

bệnh tim bẩm sinh không phức tạp mà 80% trong

số đó có thể chữa trị triệt để Trong nghiên cứu mô

hình bệnh tật ở bệnh nhân điều trị nội trú tại Viện

Tim Mạch, tỷ lệ bệnh tim bẩm sinh năm 2003 là

7.2% và năm 2007 là 9,6% [4]

Thông tim can thiệp ngày càng trở thành

phương pháp điều trị hiệu quả cho rất nhiều các

bệnh tim bẩm sinh trên thế giói cũng như ở Việt

Nam Viện Tim mạch Việt Nam - Bệnh viện Bạch

Mai phối hợp với các đồng nghiệp nước ngoài đã

tiến hành rất sớm việc đóng lỗ Thống liên nhĩ bằng

dụng cụ qua da vào cuối năm 1999 Từ đó đến nay,

tại Viện Tim mạch Việt Nam – Bệnh viện Bạch Mai,

nhờ các tiến bộ của khoa học kỹ thuật, sự hoàn thiện

không ngừng của các dụng cụ can thiệp tim mạch

và đồng thời là kinh nghiệm ngày càng phong phú

của các bác sĩ tim mạch, một số lượng lớn các bệnh

nhân tim bẩm sinh đó được điều trị bằng phương

pháp can thiệp qua da không cần đến các cuộc đại

phẫu thuật với tuần hoàn ngoài cơ thể Tính từ đầu

3/2014 đến giữa tháng 12 năm 2015, trong vòng

gần 20 tháng, phòng Tim bẩm sinh Viện Tim mạch

Việt Nam - Bệnh viện Bạch mai đã điều trị cho hơn

1552 bệnh nhân tim bẩm sinh, trong đó có 1045

bệnh nhân có bệnh lí tim bẩm sinh với luồng thông

trái - phải được điều trị với các kỹ thuật tim mạch

can thiệp

Đến nay tại Viện Tim mạch Việt Nam - Bệnh

viện Bạch Mai, chưa có tổng kết đầy đủ nào về tình

hình can thiệp các bệnh lý Tim bẩm sinh

Chính vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề

tài: “Can thiệp Tim bẩm sinh tại Viện Tim mạch

Việt Nam - Bệnh viện Bạch Mai: kết quả sau 2 năm

nhìn lại từ 2015-2016” với mục tiêu nghiên cứu:

- Đặc điểm các bệnh tim bẩm sinh can thiệp tại Viện Tim mạch Việt Nam - Bệnh viện Bạch Mai từ

2015 - 2016

- Tỷ lệ các bệnh tim bẩm sinh được can thiệp tại Viện Tim mạch Việt Nam - Bệnh viện Bạch Mai từ

2015 - 2016

- Một số biến chứng thường gặp liên quan đến bệnh tim bẩm sinh được can thiệp tại Viện Tim mạch Việt Nam - Bệnh viện Bạch Mai từ 2015 - 2016 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Tất cả những bệnh nhân chẩn đoán tim bẩm sinh vào điều trị tại khoa Tim bẩm sinh và Di tryền tại Viện Tim mạch - Bệnh viện Bạch Mai thời gian

từ tháng 01/2015 đến hết tháng 12/2016

Tiêu chuẩn loại trừ đối tượng nghiên cứu:

- Đối tượng chẩn đoán không phải bệnh lý tim bẩm sinh mà là dị tật khác

- Đối tượng không rõ chẩn đoán

Cỡ mẫu nghiên cứu

Cỡ mẫu được tính theo công thức tính cỡ mẫu

áp dụng cho nghiên cứu hồi cứu mô tả cắt ngang

( ) ( )

2

2 1

2

1

n Z

p

α

ε

− 

 

 

× −

×

Trong đó: n là cỡ mẫu nhỏ nhất cần cho nghiên cứu; α là mức ý nghĩa thống kê; 2

1

Z−α 

  là hệ số tin cậy;

α = 0,05( độ tin cậy 95%) thì 2

1 2

Z−α 

  bằng 1,96; p là

tỷ lệ tim bẩm sinh ở nghiên cứu trước, theo tỷ lệ tại Viện Tim mạch năm 2007 là 9,6%; ε là độc chính xác tương đối được chọn là 0,45 Thay vào công thức ta có cỡ mẫu thấp nhất cần cho nghiên cứu là

178 bệnh nhân

Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu, mô tả cắt ngang

Địa điểm nghiên cứu, thời gian nghiên cứu

Khoa Tim bẩm sinh và Di truyền Viện Tim mạch Việt Nam, phòng lưu trữ hồ sơ Bệnh viện Bạch Mai

Trang 3

Thời gian từ tháng 01/2015 đến hết tháng 12/2016.

Quy trình thu thập số liệu

Thông tin được thu thập theo bệnh án nghiên

cứu Số liệu được nhập bằng epidata, excel 2010

Số can thiệp TBS Số can thiệp Số BN nhập viện

Biểu đồ 1 Tình hình can thiệp tim bẩm sinh giai đoạn 2015-2016

Nhận xét: Can thiệp tim bẩm sinh chiếm số

lượng lớn trong số can thiệp tim mạch và trong số

bệnh nhân nhập viện tại Viện Tim mạch Việt Nam,

Bệnh viện Bạch Mai trong năm 2015 và năm 2016

Đặc điểm các loại can thiệp tim bẩm sinh

Phân tích số liệu bằng Stata 10

KẾT QUẢ

Tình hình can thiệp tim bẩm sinh tại Viện Tim mạch

Bảng 1 Tỉ lệ các bệnh tim bẩm sinh được can thiệp năm 2015-2016

Nhận xét: Can thiệp tim bẩm sinh chủ yến là bít thông liên nhĩ, bít thông liên thất và bít ống động mạch.

Trang 4

Bảng 2 Đặc điểm tuổi, giới ở nhóm can thiệp bít thông liên nhĩ, thông liên thất và còn ống động mạch năm 2015

Tuổi trung bình±SD (năm)

(Min – Max)

32.8±18 (0.5 – 76)

22.7±15.9 (0.5 – 67)

21.9±17.1 (0.5 – 56)

Phân bố nhóm tuổi

< 6 tuổi (%)

6-18 tuổi (%)

>18 tuổi (%)

9.8%

12.9%

77.3%

19.8%

15.8%

64.4%

29.1%

10.1%

60.9%

Tỉ lệ nam

Tỉ lệ nữ

23.8%

76.2%

47.8%

52.2%

28.2%

71.8%

Nhận xét: Phần lớn bệnh nhân được can thiệp thông liên nhĩ, thông liên thất, còn ống đông mạch là

người trưởng thành Tỉ lệ nữ nhiều hơn nam trong các loại can thiệp tim bẩm sinh

Bảng 3 Đặc điểm địa dư ở nhóm can thiệp bít thông liên nhĩ, thông liên thất và còn ống động mạch năm 2015-2016

Khu vực

Năm 2015

Năm 2016

Năm 2015

Năm 2016

Năm 2015

Năm 2016

Nhận xét: Đa số các trường hợp can thiệp thông

liên nhĩ, thông liên thất và bít ống động mạch là khu

vực Đồng Bằng Sông Hồng và vùng Đông Bắc Bộ

Một số biến chứng của can thiệp tim bẩm sinh

Tỉ lệ biến chứng tại cathlab của chúng tôi 2015-2016: 71/1265 ca (1,66%) Trong đó: Tử

Trang 5

vong (liên quan thủ thuật): 0; Ép tim:1/1265 ca

(0,07%); Rơi dụng cụ: 2/1265 ca (0.15%); Rối

loạn nhịp: 52/1265 ca (4.1%); Đái máu:10/1265

ca (0,79%); Shunt tồn lưu nhỏ: 6/1265 ca (0,47%)

BÀN LUẬN

Tình hình can thiệp tim bẩm sinh tại Viện Tim

mạch:

Nghiên cứu của chúng tôi trong 2 năm từ 2015

đến hết 2016 có 1265 bệnh nhân tim Bẩm sinh

được can thiệp với 626 (2015) và 639 (2016)

Trong khi đó, tổng số các loại can thiệp Tim mạch

khác của Viện Tim mạch trong 2 năm 2015-2016 là

17.977: 8863 (2015) và 9114 (2016) Như vậy, can

thiệp tim bẩm sinh chiếm số lượng lớn trong số can

thiệp tim mạch và ngày càng tăng

Theo nghiên cứu của PGS.TS Phạm Mạnh

Hùng và cộng sự từ 2002 đến hết tháng 5/2013 có

tổng số 3283 bệnh nhân can thiệp tim bẩm sinh [5]

Đặc điểm các loại can thiệp tim bẩm sinh:

Trong số các bệnh tim bẩm sinh được can thiệp

tại Viện Tim mạch trong 2 năm 2015-2016 chúng

tôi thấy can thiệp tim bẩm sinh chủ yếu là bít thông

liên nhĩ, bít thông liên thất và bít ống động mạch

Trong năm 2015: bít được 225 ca TLN (35,9%);

148 ca CODM (23,6%); 92 ca TLT (14,7%)

Trong năm 2016: bít được 274 ca TLN (42,9%);

103 ca CODM(16,1%) và 66 ca TLT (10,3%)

Theo báo cáo của PGS.TS Phạm Mạnh Hùng

trong 10 năm từ 2003-2013 tại Viện Tim mạch Việt

Nam, tổng số 3283 ca tim bẩm sinh được can thiệp

như sau [5]:

Bít TLN 1724 ca (52,5%); đóng CODM 1027

ca (31,3%); bít TLT 253 ca (7,7%); nong van ĐMP

417 ca (12,7%); các can thiệp TBS khác 350 ca

(10,7%)

Như vậy 3 loại bệnh tim bẩm sinh hay gặp nhất

là TLN, TLT và CODM

Đặc điểm tuổi, giới ở nhóm can thiệp bít lỗ

TLN, TLT và CODM 2015-2016:

Phần lớn các bệnh nhân được can thiệp TLN, TLT, CODM là người trưởng thành Tuổi trung bình của nhóm bít TLN là 32,8 ± 18 tuổi (nhỏ nhất 6 tháng tuổi và già nhất là 76 tuổi) Tuổi trung bình nhóm bít TLN là 22,7 ± 15,9 tuổi (nhỏ nhất

6 tháng tuổi, già nhất 67 tuổi) Tuổi trung bình nhóm bít CODM là 21,9 ± 17,1 tuổi (nhỏ nhất là 6 tháng tuổi, già nhất là 56 tuổi) Dưới 6 tuổi ở nhóm TLN chỉ có 9,8%; còn đa số là trên 18 tuổi (77,3%) Nhóm TLT và CODM phát hiện và được can thiệp sớm nhiều hơn: nhóm TLT 19,8% các trường hợp nhỏ dưới 6 tuổi trong khi trên 18 tuổi chiếm 64,4% Nhóm CODM dưới 6 tuổi chiếm 29,1%; trên 18 tuổi chiếm 60,9%

Tỉ lệ nữ nhiều hơn Nam trong các loại can thiệp tim bẩm sinh: TLN(nữ 76,2%; Nam 23,8%); TLT (nữ 52,2%; Nữ 47,8%); CODM (Nữ 71,8%; Nam 28,2%)

Theo nghiên cứu của PGS.TS Phạm Mạnh Hùng trong một báo cáo tổng kết 10 năm từ 2002-5/2013 thì độ tuổi trung bình của 3283 ca tim bẩm sinh can thiệp là 19 ± 21 tuổi (nhỏ nhất 1 tuổi và lớn nhất 67 tuổi), trong đó cũng đa phần là lớn tuổi với 70% số bệnh nhân trên 15 tuổi [5]

Trong nghiên cứu mô hình bệnh tật ở bệnh nhân điều trị nội trú tại Viện Tim mạch, tỷ lệ bệnh tim bẩm sinh năm 2003 là 7.2% và năm 2007 là 9,6%

Tuổi trung bình trong nhóm bệnh nhân tim bẩm sinh theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Nhung

và cộng sự trong luận án bảo vệ tốt nghiệp là 34,18

± 13,26 năm, cao nhất là 84 thấp nhất là 17 Độ tuổi trong nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với nhóm tuổi tim bẩm sinh người lớn trong nghiên cứu của Carianne L Verhegt [6] Nghiên cứu đánh giá bệnh tim bẩm sinh tại Bệnh viện Chợ Rẫy cũng ghi nhận bệnh nhân tim bẩm sinh người lớn cao tuổi nhất là

84 tuổi, cho thấy tim bẩm sinh người lớn với độ tuổi

Trang 6

ngày càng cao hơn, trên nhóm đối tượng bệnh nhân

cao tuổi [7]

Độ tuổi trung bình trong nhóm nam là 32,47

thấp hơn nữ là 35,02 Có sự khác biệt về tuổi giữa

2 giới, nghiên cứu đánh giá những khác biệt giữa 2

giới trên tim bẩm sinh người lớn của P Engelfriet và

B.J.M Mulder cũng có kết quả khác biệt có ý nghĩa

giữa tuổi của nam và nữ tương tự nghiên cứu của

chúng tôi [8]

Tỷ lệ bệnh tim bẩm sinh người lớn

Từ các kết quả trên chúng ta thấy cũng phù hợp

và giải thích được tai sao lại hay gặp nhất 3 nhóm

bệnh TLN, TLT và CODM và đặc biệt là mang một

nét rất riêng biêt: đó là tim bẩm sinh người lớn

Trong nhóm nghiên cứu của Nguyễn Thị Nhung

và cộng sự [9], bệnh lý TLN gặp nhiều nhất với 383

bệnh nhân chiếm 44,49% Tỷ lệ này phù hợp với

nghiên cứu của Lê Thị Khánh Vân đánh giá bệnh

tim bẩm sinh tại Bệnh viện Chợ Rẫy, đứng đầu là

thông liên nhĩ với tỷ lệ 39,18% [7] So với nhóm tim

bẩm sinh trẻ em được thống kê theo y văn thì tổn

thương gặp nhiều nhất lại là thông liên thất với tỷ lệ

khoảng 30% [10] Một số nghiên cứu đánh giá tim

bẩm sinh ở trẻ nhỏ cũng cho thấy thông liên thất

là tổn thương gặp nhiều nhất như nghiên cứu của

Trần Thị Mai Hồng 35%, Lê Thị Kim Dung 41,12%,

còn trên đối tượng sơ sinh thì tổn thương còn ống

động mạch lại có tỷ lệ cao nhất [11], [12],[13]

Bệnh lý thông liên nhĩ có tỷ lệ cao nhất trong bệnh

tim bẩm sinh người lớn do đây là bệnh lý ít có triệu

chứng lâm sàng nên ít phát hiện khi còn nhỏ, bệnh

tiến triển từ từ và người bệnh thường tới viện ở tuổi

trưởng thành khi có suy tim hay tăng áp phổi đã gây

triệu chứng lâm sàng

Dạng tổn thương có tỷ lệ cao thứ hai trong tim

bẩm sinh người lớn ở nghiên cứu này là TLT có 205

bệnh nhân chiếm 3,81%; đây là một tổn thương có

tỷ lệ cao nhất ở trẻ em, là một tổn thương đơn giản

điều trị hiệu quả bằng phẫu thuật hoặc can thiệp

qua da, và ngay cả khi không được điều trị thì những thông liên thất lỗ nhỏ bệnh nhân vẫn sống tới tuổi trưởng thành, do đó mà thông liên thất có tỷ lệ cao trong nhóm tim bẩm sinh người lớn Tương tự thì một dạng tim bẩm sinh đơn giản khác là còn ống động mạch cũng có tỷ lệ cao ở người trưởng thành, trong nghiên cứu của chúng tôi là 12,54%

Ít gặp hơn là bệnh lý Fallot IV 5%; hẹp động mạch phổi 3,48%, những bệnh lý tim bẩm sinh khác như tim một thất, thất phải hai đường ra, đảo gốc động mạch, tim bẩm sinh phức tạp có tỷ lệ nhỏ, do đây là các dạng tổn thương phức tạp, nếu không được phát hiện điều trị thì trẻ thường tử vong sớm trước khi tới tuổi trưởng thành

Một số biến chứng liên quan đến can thiệp tim bẩm sinh được ghi nhân tại Viện Tim mạch 2015-2016:

Phương pháp can thiệp bằng ống thông theo đường dưới da cho bệnh nhân tim bẩm sinh là hiệu quả và an toàn trong đại đa số các ca Một số biến chứng được ghi nhận liên quan đến can thiệp tim bẩm sinh thường là shunt tồn lưu nhỏ, đái máu, rối loạn nhịp tạm thời và di lệch dụng cụ Tỉ lệ biến chứng tại cathlab của chúng tôi 2015-2016: 71/1265 ca (5,6%) Trong đó: Tử vong (liên quan thủ thuật):0; Ép tim:1/1265 ca (0,07%); Rơi dụng cụ: 2/1265 ca (0.15%);Rối loạn nhịp:52/1265 ca (4.1%); Đái máu:10/1265 ca (0,79%); Shunt tồn lưu nhỏ:6/1265 ca (0,47%)

Theo nghiên cứu cuả ThS.BS Hoàng Thị Phú Bằng và cộng sự [14] tổng kết 197 ca can thiệp TBS tại Viện Tim mạch trong 9 tháng đầu năm 2017 ghi nhận 127 (64.5%) ca TLN, 29 (14.7%) ca TLT, 39 (19.8%) ca CODM, 1 ca hẹp van động mạch phổi

và 1 ca cửa sổ phế chủ Thủ thuật can thiệp thành công trên 196 ca, tỷ lệ thành công đạt 100% trên TLN, 100% trên CODM, và 97.4% trên TLT Biến chứng sớm chính xảy ra ở 13 ca bao gồm 10 ca rối loạn nhịp ( 3 TLT và 7 TLN), 2 ca đái máu (1TLT

Trang 7

và 1 CODM), và 1 ca TLT di lệch dụng cụ Biến

chứng khác là shunt tồn lưu nhỏ ở 8 ca TLT, 2 ca

TLN và 3 ca CODM Thời gian theo dõi sau can

thiệp là 3 ngày Các tác giả cũng ghi nhận không có

các biến chứng tắc mạch não, nhồi máu cơ tim, và tử

vong trong quá trình can thiệp cũng như thời gian

theo dõi

Nói chung, biến chứng liên quan đến can thiệp

tim bẩm sinh là đa dạng và cách xử lý biến chứng

tùy thuộc vào loại biến chứng, mức độ nguy hiểm

và tiến triển của biến chứng

KẾT LUẬN

1 Tỷ lệ các bệnh TBS nhập viện tại VTMVN

2015-2016: 5,64% (1265 ca/tổng số nhập viện nội

trú 22.416 ca), thường gặp vẫn là TBS người lớn trên 18 tuổi

2 Các bệnh TBS được can thiệp chủ yếu là bít TLN, TLT, CODM:

• TLN 499/1265 ca chiếm 39,6% (32,8 ±18 tuổi);

• TLT 158/1265 ca chiếm 12,5 % (22,7 ±15,9 tuổi);

• CODM 251/1265 ca chiếm 19,8% (21,9

±17,1 tuổi)

3 Phương pháp can thiệp TBS bằng ống thông qua da là hiệu quả và an toàn trong đại đa số các

ca (thành công 1194/1265 ca chiếm 94,4%; tỷ

lệ biến chứng trong và sau can thiệp 71/1265 ca chiếm 5,6%

SUMMARY

Transcatheter Interventional Therapy Of Congenital Heart Diseases in Viet Nam National Heart Institute, Bach Mai Hospital: A retrospective study during 2015-2016

Introduction: The number of patients with congenital heart disease intervented by transcatheter is

increasing in Vietnam during 2015-201

Objective: This study aims to report the results of transcatheter interventional therapy (TIT) of

congenital heart disease (CHD) at Vietnam National Heart Institute

Methods: We recruited 1265 patients (mean age: 25,8 ± 17.0 years Min 6 months; max 76 years old)

with congenital heart diseases who underwent TIT from 01/2015 to 12/2016 All clinical data were collected from hospital databases and medical records

Results: Our study recorded 1265 patients with congenital heart diseases who underwent TIT per

total 22.416 pts hospitalized (5,64%) Among that: 499 (39,6%) atrial septal defect (ASD), 158 (12,5%) ventricular septal defect (VSD), 251 (19.8%) patent ductus arteriosus (PDA), 52 pulmonary valve stenosis, and 7 aortic valve stenosis The procedure was successful in 1194/1265 cases (94.4%) Major early complications occurred in 71 cases (5.6%) including: arrhythmia in 52 cases, haematuria in 10 cases, and device malposition in 2 cases (1 VSD and 1 ASD) Another minor complication was small residual shunt in

6 cases The median follow-up was 3 days There was no stroke, myocardial infarction, and death during the procedure and at follow-up period

Conclusion: Percutaneous transcatheter interventional therapy for congenital heart diseases is effective

and safe in the vast majority of cases The early complication rate was 5.6 percent

Keywords: Congenital heart disease, early complications, transcatheter interventional therapy.

Trang 8

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Theo Vos, Ryan M Barber, Brad Bell và các cộng sự., "Global, regional, and national incidence,

prevalence, and years lived with disability for 301 acute and chronic diseases and injuries in 188 countries, 1990&#x2013;2013: a systematic analysis for the Global Burden of Disease Study 2013", The Lancet,

386(9995), tr 743-800.

2 Ariane J Marelli, Raluca Ionescu-Ittu, Andrew S Mackie và các cộng sự (2014), "Lifetime

Prevalence of Congenital Heart Disease in the General Population From 2000 to 2010", Circulation,

130(9), tr 749-756.

3 Yumi Shiina, Tomohiko Toyoda, Yasutaka Kawasoe và các cộng sự., "Prevalence of adult patients

with congenital heart disease in Japan", International Journal of Cardiology, 146(1), tr 13-16.

4 Nguyễn Lân Việt (2010 ), "nghiên cứu mô hình bệnh tạt ở bệnh nhân điều trị nội trú tại Viện Tim Mạch

Việt Nam trong thời gian 2003-2007", Tạp chí Tim mạch học số 52

5 Phạm Mạnh Hùng: can thiệp tim bẩm sinh: làm gì? bao giờ? khi nào.

6 Carianne L Verheugt, Cuno S.P.M Uiterwaal, Enno T van der Velde và các cộng sự (2008),

"Gender and Outcome in Adult Congenital Heart Disease", Circulation, 118(1), tr 26-32.

7 Lê Thành Khánh Vân (2015), "Điều trị bệnh tim bẩm sinh tại bệnh viện Chợ Rẫy ", Tạp chí y học

thực hành

8 P Engelfriet và B Mulder (2009), "Gender differences in adult congenital heart disease", Neth Heart J,

17(11), tr 414-7

9 Nguyễn Thị Nhung (2016): Nhận xét đặc điểm tim bẩm sinh người lớn tại Viện Tim mạch quốc

gia-Luận văn tốt nghiệp BS đa khoa 2016

10 Nelson textbook of pediatrics 20th (Daniel Bernstein,), Elsevier.

11 Trần Thị Mai Hồng (2012), "Nghiên cứu sự thay đổi các chỉ số huyết học ở bệnh nhân tim bẩm sinh.",

Luận văn tốt nghiệp bác sĩ đa khoa.

12 Lê Thị Kim Dung, "Phân loại tim bẩm sinh điều trị tại khoa Nhi bệnh viện Đa khoa Thái Nguyên ".

13 Nguyễn Thị Thanh Hương (2010), "Đặc điểm bệnh lý tim bẩm sinh ở trẻ sơ sinh tại Bệnh viện Nhi

đồng 1 ", Tạp chí y học thành phố Hồ Chí Minh.

14 Ths.Bs Hoàng Thị Phú Bằng và cộng sự (2017): Can thiệp bằng ống thông ở bệnh nhân Tim bẩm

sinh: nghiên cứu hồi cứu tại Việt Nam, báo cáo hội nghị can thiệp tim mạch toàn quốc 11/2017 tại Cần thơ

Ngày đăng: 15/05/2020, 19:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w