1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích thực trạng tình hình tài chính tại Nhà xuất bản Bản đồ

30 585 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Thực Trạng Tình Hình Tài Chính Tại Nhà Xuất Bản Bản Đồ
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh
Thể loại báo cáo
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 79,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh qua bảng cân đối kế toán Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh một cách khái quát toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghi

Trang 1

Phân tích thực trạng tình hình tài chính tại

Nhà xuất bản Bản đồ

Giới thiệu chung về Nhà xuất bản Bản đồ

Tên giao dịch quốc tế CARTOGRAPHIC PUBLISHING HOUSE

Tiền thân của Nhà xuất bản Bản đồ là Xí nghiệp Bản đồ_ Cục Đo đạc và Bản đồ Nhà nước được thành lập theo quyết định số 640/QĐ ban hành ngày 19/11/1977 của Cục trưởng cục Đo đạc và Bản đồ Nhà nước trên cơ sở sáp nhập 3 đơn vị: Ban biên tập, Xưởng Biên vẽ Bản đồ, Xí nghiệp in Bản Đồ.

_ Tháng 4/1994: chính phủ hợp nhất Cục Đo đạc và Bản đồ Nhà nước và Tổng cục Quản lí Ruộng đất thành Tổng cục Điạ chính.

_ Ngày 28/01/1995: Căn cứ vào quyết định số 72 ngày 16/01/1995 của

Bộ trưởng Bộ Văn hoá _ Thông tin cho phép thành lập Nhà xuất bản Bản đồ, Tổng cục trưởng Tổng cục địa chính đă ra quyết định số 18/QĐ_ĐC thành lập Nhà xuất bản Bản đồ

_ Tháng 12/1996: Trong công cuộc đổi mới, sắp xếp lại doanh nghiệp , ngày 21/12/1996 Tổng Cục Địa chính đã ra quyết định số 678/QĐ_TCCB :

Sáp nhập Xí nghiệp Bản đồ, Xí nghiệp In vào Nhà xuất bản Bản đồ”

Nhà xuất bản Bản đồ mới từ đầu năm 1997 đã chính thức đi vào hoạt động.

Trang 2

Đây là một xí nghiệp sản xuất kinh doanh lĩnh vực bản đồ lớn nhất Việt Nam cả về số lượng lao động, công nghệ và quy mô sản xuất

Nhà xuất bản Bản đồ có những chức năng, nhiệm vụ sau:

_ Xuất bản, in, phát hành bản đồ, tập bản đồ chuyên đề các thể loại : tờ rời Atlas, quả địa cầu, bản đồ số Các tài liệu thuộc ngành Địa chính và các ngành có liên quan đến ngành Địa chính.

_ Thực hiện các công trình hiện chỉnh, thành lập và chế in bản đồ địa chính, địa hình, và các sản phẩm bản đồ quốc gia khác.

_ Xuất bản , in các loại tạp chí sách báo, lịch, sản phẩm quảng cáo và các loại văn hoá phẩm khác

_ Kinh doanh sản phẩm vật tư chuyên ngành và thực hiện các dịch vụ tư liệu, kĩ thuật công nghệ về xuất bản, in ấn và quảng cáo trong lĩnh vực bản đồ.

Sau 4 năm được tổ chức lại( tính từ tháng 1/1997) , Nhà xuất bản Bản đồ

đã có đội ngũ cán bộ kĩ thuật có trình độ cao, có độ ngũ công nhân kĩ thuật lành nghề; hệ thống thiết bị công nghệ tin học, hệ thống máy móc chế bản và

in không ngừng được đầu tư, mở rộng, có khả năng tạo ra những sản phẩm bản đồ, Atlas, các sản phẩm in khác: sách báo tạp chí, quảng cáo với chất lượng cao.

2.1.2 Đặc điểm cơ bản liên quan đến quá trình phân tích

2.1.2.1 Đặc điểm tổ chức quản lý sản xuất của Nhà xuất bản Bản đồ.

Sơ đồ 1 : Sơ đồ tổ chức Nhà xuất bản Bản đồ

Cơ cấu này đảm bảo tính thống nhất trong quản lý, đảm bảo chế độ một thủ trưởng và trách nhiệm trong quản lý Do chức năng quản lý được chuyên

Phòng Biên

Phòng thị

Số 2

XN

biên vẽ

CN T Phố

Trang 3

môn hóa nên nó có điều kiện đi sâu thực hiện từng chức năng, tận dụng được năng lực của đội ngũ chuyên gia, đội ngũ những người làm công tác tham mưu giảm bớt được công việc cho người lãnh đạo Theo quy chế tổ chức các chức năng nhiệm vụ của bộ máy quản lý Nhà xuất bản được quy định như sau: Ban giám đốc : gồm 1 giám đốc và 3 phó giám đốc.

Trong đó giám đốc là người đứng đầu, lãnh đạo Nhà xuất bản và chịu trách nhiệm chỉ huy toàn bộ các bộ phận chức năng và các xí nghiệp kinh doanh đồng thời là người chịu trách nhiệm với cơ quan chủ quản, với Nhà nước Phó giám đốc có trách nhiệm giúp việc cho giám đốc và chỉ đạo các bộ phận do giám đốc uỷ quyền

Các đơn vị sản xuất thành lập các ban , các tổ sản xuất phù hợp với các khâu sản xuất trong dây chuyền sản xuất của đơn vị Các phòng chức năng không quản lí trực tiếp các tổ, các ban Tuy nhiên, một số nhiệm vụ về kế hoạch kĩ thuật được tổ chức quản lí kiểm tra định kì

2.1.2.2 Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán

Công tác kế toán của Nhà xuất bản Bản đồ được thực hiện tại phòng kế toán thống kê Bộ phận kế toán được tổ chức theo mô hình tập trung Phòng kế toán thống kê được biên chế 7 người dưới sự lãnh đạo của giám đốc Nhà xuất bản, và chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Kế toán trưởng.

Kế toán trưởng : là người phụ trách chung về công tác kế toán, thay mặt cho Nhà xuất bản quan hệ với các đơn vị khác về tài chính Theo dõi tình hình thực hiện nghĩa vụ của Nhà xuất bản với Nhà nước, cấp trên và đối với công nhân viên, là người tham mưu cho giám đốc về tình hình tài chính của Nhà xuất bản, làm kiểm soát viên kinh tế tài chính của Nhà nước tại Nhà xuất bản.

Dưới kế toán trưởng là : Kế toán tài sản cố định và công cụ dụng cụ, kế toán tiền lương , kế toán thanh toán, thủ quỹ kiêm kế toán tiền gửi ngân hàng,

và hai kế toán viên quản lý các đơn vị sản xuất

Ngoài ra ở dưới các đơn vị sản xuất, mỗi đơn vị đều có kế toán riêng trực tiếp quản lí sản xuất hàng tháng, kế toán của các đơn vị đều phải báo cáo, và thu thập các loại chứng từ nộp cho phòng kế toán và Nhà xuất bản.

2.1.2.3 Đặc điểm về sản phẩm Nhà xuất bản Bản đồ

Nhà xuất bản Bản đồ sản xuất và kinh doanh đa dạng với các sản phẩm sau:

Trang 4

a Xuất bản , in và phát hành bản đồ dưới mọi hình thức tờ rời, Atlas, địa

cầu, bản đồ số bao gồm: bản đồ địa hình, bản đồ địa chính các tỉ lệ, bản, bản

đồ chuyên đề các mảng đề tài , Atlas, quả địa cầu bản đồ nổi; bản đồ số

b Xuất bản các loại báo , tạp chí: sách hướng đẫn thực hiện về pháp

luật, chế độ chính sách, giáo trình giảng dạy; tài liệu tham khảo tra cứu.

c Xuất bản các loại văn hoá phẩm, biểu mẫu, nhãn, bao bì hàng hoá, sản

phẩm quảng cáo theo luật định

d. Kinh doanh các sản phẩm vật tư chuyên ngành.

e Thực hiện các dịch vụ về tư vấn: về tư liệu kĩ thuật, công nghệ trong

lĩnh vực bản đồ, đo đạc, đất đai, chế bản, in ấn, xuất bản

2.1.2.4 Đặc điểm về thị trường

Thị trường sản xuất, kinh doanh của Nhà xuất bản Bản đồ bao gồm :

_ Thị trường trong nước được phân ra:

+ Thị trường do Nhà nước quy định: đây là mảng thị trường duy nhất trong cả nước do Nhà xuất bản sản xuất, đồng thời hàng năm Nhà nước cấp cho một lượng vốn nhất định để đặt hàng chiếm khoảng 30% doanh thu.

+ Thị trường tự do: là mảng thị trường mà sản phẩm tự cân đối trong sản xuất, kinh doanh chiếm 70% doanh thu.

_ Thị trường ngoài nước: đó là việc hợp tác xuất nhập khẩu các ấn phẩm về bản đồ, vật tư, tư liệu ứng dụng khoa học kĩ thuật Ngoài ra hiện nay Nhà xuất bản đang thực hiện hợp đồng gia công các công đoạn sản xuất của một số loại bản đồ với Canada, Australia, Thuỵ Điển

2.1.3 Tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh

2.1.3.1 Nguyên tắc tổ chức kinh doanh

Do đặc điểm sản phẩm của nhà xuất bản là đa dạng, song sản phẩm chính là bản đồ, chu kì sản xuất phải qua nhiều công đoạn Sản phẩm của mỗi công đoạn là bán sản phẩm, được kiểm tra nghiệm thu chặt chẽ, tạo sản phẩm cuối cùng đạt chất lượng Vì vậy, nguyên tắc cơ bản của tổ chức là chuyên môn hoá, nhằm phân công lao động cho các đơn vị sản xuất phải chế tạo hoàn thành đúng tiến độ của bản sản phẩm Việc sản xuất bản đồ theo quy trình, quy phạm, quy định của Nhà nước, tuân theo chuẩn mực quy định của kí hiệu bản đồ về độ lớn nét vẽ, độ lớn của chữ, kiểu chữ và màu sắc vẽ ,in.

Quy trình sản xuất bản đồ bao gồm các bước sau:

+ Bước 1: Thu thập tư liệu bản đồ

+ Bước 2: Biên tập bản đồ

+ Bước 3: Biên vẽ, thanh vẽ bản đồ

Trang 5

2.1.3.2 Những thuận lợi và khó khăn trong hoạt động kinh doanh

a Thuận lợi :

Thứ nhất: Nhà xuất bản Bản đồ luôn được sự quan tâm lãnh đạo của Tổng Cục Địa chính, sự chỉ đạo sâu sắc của các Vụ chức năng và của các cơ quan quản lý Nhà nước về mọi mặt, nhất là trong kế hoạch bản đồ Nhà nước giao, đầu tư trang thiết bị, xây dựng cơ bản tạo điều kiện phát triển Nhà xuất bản Bản đồ lớn mạnh và thực hiện chiến lược phát triển ngành địa chính từ nay đến năm 2010.

Thứ hai: Là một doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích trực thuộc ngành Địa chính, bên cạnh lĩnh vực chuyên môn, khoa học kỹ thuật đo đạc bản

đồ, Nhà xuất bản có đặc thù là một doanh nghiệp nhà nước chuyên ngành, hoạt động trong lĩnh vực văn hoá tư tưởng, tuyên truyền nâng cao dân trí Do

đó, Nhà xuất bản Bản đồ luôn được sự quan tâm chỉ đạo của Ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương, Cục xuất bản Bộ văn hoá Thông tin và các cơ quan quản

lý Nhà nước khác về hoạt động trên lĩnh vực văn hoá tư tưởng.

Thứ ba : sau một quá trình hoạt động các mặt quản lý, hoạt động sản xuất kinh doanh của Nhà xuất bản đã đi vào nề nếp ổn định, nội bộ đoàn kết, CBCNV yên tâm phấn khởi công tác Quyết định của cơ quan quản lý Nhà nước về việc xếp hạng Nhà xuất bản Bản đồ là doanh nghiệp Nhà nước hạng 1(7/ 2000) đã nâng cao vị thế và là bước phát triển mới của Nhà xuất bản Bản đồ.

b Khó khăn

Thứ nhất: Kế hoạch sản xuất Nhà nước đặt hàng năm 2000 giảm đáng kể

so với năm 1999 Công việc được giao đều là các công việc có mức độ phức tạp cao, chu trình công nghệ kéo dài Tư liệu bản đồ chậm, thiếu đồng bộ ảnh hưởng đến tiến độ sản xuất Việc chuyển hệ toạ độ mới từ hệ HN-72 sang hệ VN- 2000 làm nảy sinh một số khó khăn ảnh hưởng đến tiến độ sản xuất.

Thứ hai: Chi nhánh Nhà xuất bản Bản đồ tại thành phố Hồ Chí Minh và xí nghiệp in số 2 là hai đơn vị gặp nhiều khó khăn về công việc hoạt động sản xuất

Trang 6

Thứ ba là : Công tác thị trường của Nhà xuất bản và các đơn vị trực thuộc vẫn còn nhiều hạn chế, nhất là việc mở rộng thị trường sản phẩm tiếp thị khách hàng và giới thiệu sản phẩm.

Trên đây mới chỉ là những đánh giá ban đầu về thuận lợi và khó khăn của Nhà xuất bản Bản đồ trong những năm qua dưới cách nhìn của một nhà quản trị Để đi sâu hơn về các mặt hoạt động cần phải đánh giá dưới khía cạnh tài chính bởi vì hoạt động tài chính luôn gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp.

2.1.3.3 Đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh qua

bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh

a Đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh qua bảng cân đối kế toán

Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh một

cách khái quát toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp theo hai cách đánh

giá là tài sản và nguồn hình thành tài sản tại thời điểm lập báo cáo các chỉ tiêu của bảng cân đối tài sản được phản ánh dưới hình thái giá trị và theo nguyên tắc cân đối là tổng tài sản bằng tổng nguồn vốn.

Bảng cân đối kế toán và bảng cơ cấu biểu hiện qua 3 năm chúng ta thấy tổng tài sản mà doanh nghiệp đang quản lý sử dụng luôn tăng lên đặc biệt là năm 2000 so với năm 1999 tăng (35747574324) đồng tương ứng với mức tăng là 226%, trong đó tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn chiếm 84, 6% trong cơ cấu tài sản.

Bảng 1: Cơ cấu tài sản và nguồn vốn từ năm 1998 đến năm2000

26,3

26, 1

0, 2

10 332 081305

1, 5

34, 6

34, 6 0

7 133 388 643 +856 211 790

84, 6

9, 7 6,7

Trang 7

7

11339 205 817

Sự thay đổi đó là do hàng tồn kho trong năm 2000 tăng đạt tỷ trọng 67, 4

% trong tổng tài sản của Nhà xuất bản Bản đồ Bên cạnh đó còn do tỷ trọng của các khoản phải thu, tài sản lưu động khác, chi sự nghiệp, vốn bằng tiền giảm Còn tài sản cố định chỉ chiếm 15,4% nhưng chủ yếu là tài sản cố định hữu hình với tỷ trọng 13,8%, chi phí xây dựng cơ bản dở dang tăng 1,6%.

Vậy tài sản của doanh nghiệp được hình thành từ nguồn nào? Trong hai năm nguồn vốn có sự biến động như thế nào?

Tài sản của Nhà xuât Bản bản đồ được hình thành từ hai nguồn : vốn chủ

sở hữu và vốn vay bên ngoài.

Theo số liệu ở bảng cân đối kế toán thì bên tài sản cũng như bên nguồn vốn năm 1999 tăng lên so với năm 1998 là 2 422 190 551 đồng với con số tương đối là 18, 1% và năm 2000 so với năm1999 là 35 574 747 324 đồng với

số tương đối là 226% điều đó có thể đánh giá quy mô về vốn của doanh nghiệp tăng lên

Mặt khác, nhìn trên bảng cân đối kế toán năm 2000 tài sản tăng do hàng hoá tăng nhưng thực chất hàng tồn kho từ hoạt động sản xuất của doanh nghiệp trong năm 2000 không tăng cao đến như vậy Qua nghiên cứu tình hình thực tế tại Nhà xuất bản Bản đồ ta thấy: Đầu năm 2000 với tư cách là một doanh nghiệp công ích phải thực hiện nhiệm vụ của Nhà nước giao nên đơn vị

đã nhận bán hộ Trung tâm Thông tin Lưu trữ Tư liệu Địa chính hàng trăm tấn bản đồ các loại và do nhu cầu của thị trường tiêu thụ loại sản phẩm này năm

2000 không cao nên số lượng bản đồ tồn trong kho của Nhà xuất bản lớn

Sự biến động của khoản phải trả người bán tác động đến cơ cấu nguồn vốn:

Trang 8

Tỷ trọng các khoản nợ phải trả ( toàn bộ là nợ ngắn hạn) chiếm 71,5% tăng tỷ trọng tương ứng là:32,8 % , còn nguồn vốn chủ sở hữu chỉ chiếm 28,5% giảm tỷ trọng tương ứng 32,8% so với cùng kỳ năm 1999.

Trong nợ phải trả, nợ ngắn hạn chiếm 100%, vay ngắn hạn ngân hàng 0%, khoản phải trả công nhân viên chiếm tỷ trọng 4,8%, thuế và các khoản phải nộp Nhà nước chiếm tỷ trọng 1,6%.

Trong nguồn vốn chủ sở hữu , thì nguồn vốn kinh doanh chiếm tỷ trọng 69%, , nguồn kinh phí mà cụ thể là nguồn kinh phí năm nay chiếm tỷ trọng 31%

b Đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh qua báo cáo

kết quả kinh doanh( Xem bảng 2)

Báo cáo kết quả kinh doanh là một bản báo cáo tài chính tổng hợp, nó phản ánh tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh theo từng loại hoạt động của doanh nghiệp, nó cung cấp cho người phân tích những thông tin tổng hợp

về phương thức kinh doanh, việc sử dụng các tiềm năng về vốn lao động và báo cáo kết quả kinh doanh chỉ ra rằng việc hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đem lại lợi nhuận hay bị lỗ vốn.

Bảng 2 : Trích Báo cáo kết quả hoạt dộng kinh doanh năm 2000

082

- 0,06 +4,31 _-0,18 +0, 84 -11,9 -7,2 +21,5

Qua các chỉ tiêu cơ bản trên bản báo cáo kết quả kinh doanh ta nhận thấy:

+Xét về doanh thu thuần của năm 2000 giảm 47416676 đồng tương ứng giảm 0,18% so với năm 1999.

Trang 9

+ Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh của năm 2000 tăng

132352082 đồng so với năm 1999 ( tương ứng tăng 21,5%)

Lợi nhuận tăng chủ yếu vì:

- Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp trong năm giảm tương ứng 11,9% và 7,2%.

Như vậy qua sự phân tích đánh giá khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp từ hai báo cáo tài chính quan trọng của Nhà xuất bản Bản đồ ta thấy

có nhiều ưu điểm

Nhưng đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp

thông qua hai báo cáo tài chính là bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh chỉ là bước đi ban đầu của công tác phân tích tài chính tại doanh nghiệp Số liệu của hai báo cáo tài chính trên chỉ được xem xét ở trạng thái tĩnh nên chưa lột tả được hết thực trạng tình hình tài chính tại doanh nghiệp vì vậy để đi sâu hơn cần phải tiến hành phân tích thông qua các hệ số tài chính của doanh nghiệp để làm sáng tỏ các mặt hoạt động của doanh nghiệp ở trạng thái động.

2.2 Phân tích đánh giá tình hình tài chính Nhà xuất bản Bản đồ

Trước khi tiến hành phân tích các số liệu trên bảng cân đối kế toán cần phải loại trừ giá trị hàng tồn kho mà Nhà xuất bản nhận bán hộ Trung tâm Thông tin Lưu trữ Tư liệu Địa chính.

Theo tổng kết thì lượng hàng tồn trong kho của Nhà xuất bản có cơ cấu như sau:

Hàng hoá tồn kho năm 2000 của Nhà xuất bản Bản đồ

Đơn vị tính đồng

9

31/12/20 00 Hàng hoá của Nhà xuất bản Bản đồ 636771119 112567427

Trang 10

Tổng tài sản và tổng nguồn vốn thực tế của Nhà xuất bảntính đến 31/12 năm 2000 là:

Xét về lý thuyết, để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp nên giảm các khoản phải thu, gia tăng các khoản nợ phải trả Nhưng trên thực tế thì không hẳn như vậy, các khoản phải thu nhỏ lại biểu hiện chính sách bán hàng thắt chặt của doanh nghiệp dẫn tới tình trạng khách hàng sẽ đi tìm bạn hàng khác Bên cạnh đó đơn vị nào có các khoản phải trả lớn sẽ là sức

ép về tài chính ràng buộc doanh nghiệp đó luôn phải tìm nguồn trang trải cho các khoản nợ đến hạn, đồng thời các nhà đầu tư hay người cho vaycó những đánh giá không tốt về tình hình tài chính; không muốn đầu tư khi nhìn vào cơ cấu vốn của doanh nghiệp trên bảng cân đối kế toán.

Mặt khác, nếu doanh nghiệp có chính sách quá rộng rãi tức là bị khách hàng chiếm dụng vốn quá lâu thì không chỉ làm cho đồng vốn ấy của doanh nghiệp không sinh lời được mà còn dẫn đến tình trạng đình trệ hoạt động sản xuất kinh doanh khi cần có vốn để đầu tư Trong trường hợp này doanh nghiệp sẽ phải đi vay đồng thời phải trả lãi và các khoản nợ phải trả lại gia tăng.

Xuất phát từ những lý do đó các doanh nghiệp nói chung và Nhà xuất bản Bản đồ nói riêng đều phải tiến hành phân tích khả năng thanh toán tại doanh nghiệp mình theo những bước dưới đây để nhằm hạn chế được những rủi ro.

Trang 11

2.2.1.1 Đánh giá chung về khả năng thanh toán

Bảng tình hình thanh toán các khoản phải thu , phải trả của Nhà xuất bản bản đồ qua các năm 1999, 2000

Đơn vị tính đồng

Chỉ tiêu Năm 1999 Năm 2000 Số tuyệt đối Chênh lệch Tỷ lệ

I Khoản phải thu 3 049 800

3 P trả công nhân viên 1 743 050 091 1775023127 +31973036 +1,89

4 Phải trả nội bộ - 293 358476 50 354 893 +343 713 369 +117,2 5Phải trả phải nộp khác 189 526 784 183 853 010 - 5 673 774 - 2,99

Nghiên cứu số liệu thực tế biểu hiện tình hình thực hiện công tác thanh toán tại Nhà xuất bản Bản đồ ta thấy:

Xét về các khoản phải thu:

Năm 2000, giá trị khoản phải thu nội bộ là 2586456448 đồng giảm hơn

so với năm 1999 2388510449 đồng tương ứng giảm 1181,3%, giá trị các khoản thu khác giảm 12998389 đồng so với năm 1999 (giảm 94,95%), trong khi đó giá trị các khoản phải thu từ khách hàng lại chỉ tăng 1253205779 đồng

so với năm 1999 (tăng 38,42%) là nguyên nhân dẫn tới hiện tượng giá trị các khoản phải thu nói chung giảm 37,65% ( tương ứng 1148303059 đồng) Qua quá trình xem xét ta thấy hiện tượng khoản phải thu nội bộ giảm rất mạnh do

đa số các đơn vị trực thuộc đã thực hiện tốt việc thanh toán với Nhà xuất bản Bản đồ như Xí nghiệp in số 1, Xí nghiệp biên vẽ chế bản , Trung tâm phát hành , Trung tâm tin học, Trung tâm Biên tập và Công Nghệ cao.

Như vậy xét về tổng thể sau khi phân tích khái quát tình hình các khoản phải thu cho thấy số lượng vốn bị chiếm dụng trong năm 2000 giảm Điều này

là tốt bởi vì doanh nghiệp có được số vốn để phục vụ cho nhu cầu sản xuất kinh doanh Ngoài ra số lượng vốn bị chiếm dụng từ khách hàng có tăng nhưng với tỷ lệ tăng 38,42% là hợp lý vì có một số khách hàng vẫn nợ dây dưa như: Công ty Ka Long còn nợ 332980960 đồng, Công ty Thái Dương còn nợ

184099454 đồng

Nhưng nhìn chung công tác thu hồi các khoản phải thu có nhiều tiến bộ Xin đưa ra một vài thí dụ để chứng minh như : 31/12 /1999 Văn phòng tiếp thị

Trang 12

nợ Nhà xuất bản 19500000 đồng, công ty Lotus nợ 83000000, công ty Kim Linh nợ 52881650 đồng đến 31/12/2000 đơn vị đã thu hồi hết các khoản phải thu của Văn phòng Tiếp thị, công ty Lotus, còn công ty Kim Linh vẫn chiếm dụng vốn của Nhà xuất bản 24995000 đồng

Qua các số liệu trên đây thể hiện rằng doanh nghiệp đã đưa ra chính sách bán hàng không quá “rộng rãi” cũng không quá “thắt chặt” để nhằm mục đích giữ gìn quan hệ tốt với bạn hàng

97035932 đồng (13.79 %) so với năm 1999, khoản phải trả phải nộp khác giảm 2,99% (5673774 đồng) tính đến thời điểm 31/12/2000 Nhưng các khoản khác lại tăng vào năm 2000 như khoản phải trả nội bộ tăng 343713369 đồng (tăng với tỷ lệ 117,2 %), hay khoản phải trả công nhân viên tăng

31973036 đồng tức là tăng 1,89% so với năm 1999.

**Đánh giá chung tình hình khả năng thanh toán của Nhà xuất bản:

Công tác thu hồi các khoản phải thu được đánh giá là tốt,doanh nghiệp sẽ

có vốn để tập trung vào việc trang trải các khoản nợ phải trả, và mặt khác sẽ đáp ứng được nhu cầu sản xuất kinh doanh.

Tình hình trang trải các khoản nợ phải trả vẫn duy trì ở mức độ khá Tuy có sự đánh giá như vậy nhưng để đi sâu tìm hiểu cặn kẽ tình hình khả năng thanh toán cần phải thông qua các chỉ tiêu tài chính đặc trưng Các chỉ tiêu tài chính đặc trưng này sẽ biểu hiện được tính động của khả năng thanh toán, là cơ sở cần thiết cho các định hướng về khía cạnh tài chính của Nhà xuất bản Bản đồ

2.2.1.2 Phân tích các chỉ tiêu tài chính đặc trưng về khả năng thanh toán của Nhà xuất bản Bản đồ.

Các chỉ tiêu tài chính đặc trưng về khả năng thanh toán là một trong những nét cơ bản của bức tranh phản ánh tình hình tài chính tại doanh nghiệp Các nhà đầu tư, chủ ngân hàng, người cho vay đều quan tâm đến các chỉ tiêu này bởi vì tình hình và khả năng thanh toán phản ánh rõ nét chất lượng công tác tài chính Nếu hoạt động tài chính tốt sản xuất sẽ ít công nợ, khả năng thanh toán dồi dào, ít đi chiếm dụng vốn Ngược lại nếu hoạt động

Trang 13

tài chính kém thì sẽ dẫn đến tình trạng chiếm dụng vốn lẫn nhau, các khoản công nợ phải thu, phải trả sẽ dây dưa kéo dài.

Để thực hiện công tác phân tích khả năng thanh toán của doanh nghiệp người ta thường dựa vào các chỉ tiêu sau:

a. Hệ số khả năng thanh toán tổng quát

Như ở phần cơ sở lý luận đã trình bày, hệ số khả năng thanh toán tổng quát biểu hiện mối quan hệ thương số giữa tổng tài sản mà doanh nghiệp đang quản lý sử dụng với tổng số nợ phải trả, qua đây ta thấy khả năng doanh nghiệp có thể chi trả các khoản nợ là như thế nào?

Áp dụng cho Nhà xuất bản Bản đồ ta thấy được hệ số khả năng thanh toán tổng quát qua hai năm 1999, 2000 như sau:

Qua hệ số thanh toán tổng quát năm 1999 ta thấy cứ 1 đồng nợ ngắn hạn

sẽ được đảm bảo bằng 2,58 đồng tài sản, còn hệ số tương ứng của năm 2000 cho thấy cứ 1 đồng nợ ngắn hạn sẽ được đảm bảo bằng 4,27 đồng tài sản Như vậy hệ số thanh toán tổng quát năm 1999, 2000 đều >1 chứng tỏ có

sự an toàn Tuy vậy doanh nghiệp vẫn nên tiếp tục thúc đẩy quá trình tiêu thụ sản phẩm nhằm nâng cao hệ số khả năng thanh toán.

b Hệ số khả năng thanh toán tạm thời

Khả năng thanh toán tạm thời là tỷ lệ được tính bằng cách chia tài sản lưu động cho nợ ngắn hạn Điểm chung giữa tài sản lưu động và nợ ngắn hạn

là đều có thời hạn nhất định – tới 1 năm Hệ số khả năng thanh toán tạm thời

là thước đo khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp, nó cho biết mức

độ các khoản nợ của các chủ nợ ngắn hạn được trang trải bằng các tài sản có thể chuyển thành tiền trong một giai đoạn tương đương với thời hạn của các khoản nợ đó.

Từ số liệu bảng cân đối kế toán của Nhà xuất bản Bản đồ ta có :

Trang 14

Hệ số khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn khi đến hạn của năm

2000 thấp hơn năm 1999 (cứ 1 đồng nợ ngắn hạn sẽ được đảm bảo bằng 2,49 đồng tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn vào năm 2000, với năm 1999 con số này là 1,9 đồng)

c Hệ số khả năng thanh toán nhanh

Hệ số khả năng thanh toán nhanh cho biết khả năng hoàn trả các khoản

nợ ngắn hạn không phụ thuộc vào việc bán tài sản dự trữ vì tài sản dự trữ là các tài sản khó chuyển thành tiền hơn trong tổng tài sản lưu động và dễ bị lỗ nhất nếu được bán.

Theo như lý luận ở phần một và dựa vào bảng cân đối kế toán của Nhà xuất bản Bản đồ ta tính được hệ số khả năng thanh toán nhanh hai năm 1999, 2000

Hệ số về khả năng thanh toán nhanh năm 2000 có sự thay đổi so với năm

1999 Năm 1999 khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp là 1,23 lần, và năm 2000 là1,97 lần Hệ số này đều lớn hơn 1 nên khả năng thanh toán nhanh của Nhà xuất bản ở tầm an toàn

d Hệ số khả năng thanh toán tức thời ( hệ số vốn bằng tiền):

Để đánh giá sát sao hơn khả năng thanh toán của doanh nghiệp còn có thể sử dụng chỉ tiêu hệ số vốn bằng tiền Ở đây, tiền bao gồm tiền mặt, tiền gửi ngân hàng tiền đang chuyển Các khoản tương đương tiền là các khoản ngắn hạn về chứng khoán.

Theo lý luận ở chương 1 và áp dụng với Nhà xuất bản Bản đồ ta có:

Trang 15

nhiên doanh nghiệp nên để một phần số tiền đó đầu tư mua sắm thiết bị nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh

Nhận xét chung:

Qua quá trình phân tích khả năng thanh toán của Nhà xuất bản Bản đồ năm 2000 kết hợp với số liệu năm 1999 bằng cách sử dụng các chỉ tiêu tài chính đặc trưng ta nhận thấy : tình hình thanh toán của Nhà xuất bản Bản đồ khá tốt biểu hiện ở bảng

Bảng Các hệ số về khả năng thanh toán của Nhà xuất bản Bản đồ

qua hai năm 1999, 2000

Đơn vị tính: lần

Hệ số khả năng thanh toán tổng

Hệ số khả năng thanh toán tạm

Hệ số khả năng thanh toán nhanh 1,23 1,97 +

Hệ số khả năng thanh toán tức

Mặt khác, nếu chỉ cứng nhắc dựa vào bảng cân đối kế toán và công thức đưa ra để tính toán và phân tích bốn hệ số biểu hiện khả năng thanh toán củaNhà xuất bản Bản đồ ta thấy đặt ra một số vấn đề còn bất hợp lý Xin đơn

cử một ví dụ về hệ số khả năng thanh toán nhanh:

Khả năng thanh toán nhanh được xác định như sau:

Tài sản lưu động – Vốn vật tư hàng hoá

Khả năng thanh toán nhanh =

Tổng số nợ ngắn hạn

Tử số của hệ số khả năng thanh toán không liên quan đến vốn vật tư hàng hoá có trong doanh nghiệp Nhưng mẫu số lại là tổng số nợ ngắn hạn bao gồm các khoản phải trả người bán.

Xét riêng với Nhà xuất bản, nợ ngắn hạn của đơn vị chủ yếu là khoản phải trả người bán, mà khoản phải trả này lại xuất phát từ việc Nhà xuất bản thực hiện nhiệm vụ Nhà nước giao là bán hộ Trung tâm Thông tin Lưu trữ Tư liệu Địa chính hàng trăm tấn bản đồ các kích cỡ khác nhau và thực tế cho thấy

do những khó khăn chung, nhiệm vụ này còn chưa hoàn thành nên hàng hoá tồn kho lớn, doanh nghiệp chưa thể thanh toán với Trung tâm Thông tin Lưu trữ Tư liệu Địa chính được

Như vậy nếu chỉ dựa trên số liệu bảng cân đối kế toán hệ số khả năng thanh toán tổng quát nhanh lại một lần nữa phản ánh không chính xác khả năng thanh toán của doanh nghiệp

Ngày đăng: 29/09/2013, 02:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1 : Sơ đồ tổ chức Nhà xuất bản Bản đồ - Phân tích thực trạng tình hình tài chính tại Nhà xuất bản Bản đồ
Sơ đồ 1 Sơ đồ tổ chức Nhà xuất bản Bản đồ (Trang 2)
Bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả  sản xuất kinh doanh. - Phân tích thực trạng tình hình tài chính tại Nhà xuất bản Bản đồ
Bảng c ân đối kế toán và báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh (Trang 6)
Bảng 2 : Trích Báo cáo kết quả hoạt dộng kinh doanh năm 2000 - Phân tích thực trạng tình hình tài chính tại Nhà xuất bản Bản đồ
Bảng 2 Trích Báo cáo kết quả hoạt dộng kinh doanh năm 2000 (Trang 8)
Bảng tình hình thanh toán các  khoản phải thu , phải trả của Nhà xuất bản bản đồ qua các năm 1999, 2000 - Phân tích thực trạng tình hình tài chính tại Nhà xuất bản Bản đồ
Bảng t ình hình thanh toán các khoản phải thu , phải trả của Nhà xuất bản bản đồ qua các năm 1999, 2000 (Trang 11)
Bảng Các hệ số về khả năng thanh toán của Nhà xuất bản Bản đồ qua hai năm 1999, 2000 - Phân tích thực trạng tình hình tài chính tại Nhà xuất bản Bản đồ
ng Các hệ số về khả năng thanh toán của Nhà xuất bản Bản đồ qua hai năm 1999, 2000 (Trang 15)
Bảng kê phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn năm 2000 - Phân tích thực trạng tình hình tài chính tại Nhà xuất bản Bản đồ
Bảng k ê phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn năm 2000 (Trang 22)
Bảng phân tích báo cáo kết quả kinh doanh năm 2000 - Phân tích thực trạng tình hình tài chính tại Nhà xuất bản Bản đồ
Bảng ph ân tích báo cáo kết quả kinh doanh năm 2000 (Trang 23)
Bảng báo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp năm 2000 cho thấy lợi nhuận sau thuế tăng do hàng loạt các chỉ tiêu thay đổi:  lợi tức từ hoạt động kinh doanh tăng 132352082 đồng (tăng 21,5%), lợi tức từ hoạt động tài chính giảm 13,74%, lợi tức bất thườn - Phân tích thực trạng tình hình tài chính tại Nhà xuất bản Bản đồ
Bảng b áo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp năm 2000 cho thấy lợi nhuận sau thuế tăng do hàng loạt các chỉ tiêu thay đổi: lợi tức từ hoạt động kinh doanh tăng 132352082 đồng (tăng 21,5%), lợi tức từ hoạt động tài chính giảm 13,74%, lợi tức bất thườn (Trang 24)
Bảng tình hình thực hiện nghiã vụ với Nhà nước  của Nhà xuất bản năm 2000 - Phân tích thực trạng tình hình tài chính tại Nhà xuất bản Bản đồ
Bảng t ình hình thực hiện nghiã vụ với Nhà nước của Nhà xuất bản năm 2000 (Trang 25)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w