1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng đến quá trình sinh trưởng phát triển của cây lạc tiên (passiflora foetida l ) nhân giống bằng hạt tại thái nguyên

54 60 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 2,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân, được sự nhất trí của Ban chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp, ban giám hiệu Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Sinh thái và Bảo tồn ĐDSH Khoa : Lâm Nghiệp

Khóa học : 2015 - 2019

Thái Nguyên - 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Sinh thái và Bảo tồn ĐDSH Lớp : K47 – ST&BTĐDSH

Khóa học : 2015 - 2019 Giáo viên hướng dẫn : TS Nguyễn Thị Thu Hiền

Thái Nguyên – 2019

Trang 3

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong khóa luận là trung thực Khóa luận đã được giáo viên hướng dẫn xem và sửa

Thái Nguyên, ngày 15 tháng 7 năm 2019

TS Nguyễn Thị Thu Hiền Sình Sín Tỷ

XÁC NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN BIỆN Xác nhận đã sửa chữa sai xót sau khi Hội đồng chấm đánh giá

(Ký, họ và tên)

Trang 4

ii

LỜI CẢM ƠN

Thực tập tốt nghiệp là một thời gian có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình học tập của mỗi sinh viên Đây là một quá trình giúp sinh viên hệ thống hóa, củng cố lại kiến thức đã học Đồng thời cũng là thời gian để cho sinh viên học hỏi, làm quen với công tác nghiên cứu, tiếp xúc và cọ sát với thực tế, giúp mỗi sinh viên nâng cao kiến thức, kĩ năng, thái độ trước khi ra trường Là tiền

đề cho sự thành công của mình trong tương lai

Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân, được sự nhất trí của Ban chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp, ban giám hiệu Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên,

tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng đến

quá trình sinh trưởng phát triển của cây Lạc tiên (Passiflora foetida L.) nhân giống bằng hạt tại thái nguyên” Trong quá trình thực tập được sự giúp

đỡ, chỉ bảo, hướng dẫn tận tình của các thầy cô trong khoa, trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, đặc biệt cô giáo hướng dẫn: TS Nguyễn Thị Thu Hiền là người trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện đề tài này cùng sự cố gắng của bản thân

đã giúp tôi hoàn thành khóa luận này

Nhân dịp này cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới Ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên

đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành khóa luận này

Đặc biệt cho tôi xin bày tỏ lòng biết ơn với chân thành và sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn TS Nguyễn Thị Thu Hiền đã hướng dẫn tận tình trong suốt thời gian tôi thực tập và hoàn thành khóa luận

Do điều kiện và thời gian có hạn, trình độ bản thân còn hạn chế nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Vì vậy tôi rất mong nhận được

ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn để đề tài hoàn thiện hơn

Thái Nguyên, ngày 15 tháng 7 năm 2019

Sinh viên

Trang 5

iii

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.1 Ảnh hưởng công thức mật độ trồng đến Hvn cây Lạc tiên 26

Bảng 4.2 Ảnh hưởng công thức mật độ trồng đến D00 cây Lạc tiên 29

Bảng 4.3 Ảnh hưởng công thức mật độ trồng đến động thái tăng trưởng Hvn, D00 cây Lạc tiên ngoài mô hình trồng 31

Bảng 4.4 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến số cành cấp 1 cây Lạc tiên 32

Bảng 4.5 Ảnh hưởng công thức mật độ trồng đến số nụ của cây Lạc tiên 34

Bảng 4.6 Ảnh hưởng công thức mật độ trồng đến sinh khối cây Lạc tiên 36

Bảng 4.7 Ảnh hưởng công thức mật độ trồng đến tình hình sâu bệnh hại cây Lạc tiên ngoài mô hình trồng 38

Trang 6

iv

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1 Thực hiện kỹ thuật lên luống, lót phân và phủ ni lông luống 22

Hình 3.2 Thực hiện kỹ thuật đóng cọc và làm giàn leo cho trên luống 23

Hình 4.1 Chỉ tiêu Hvn cây Lạc tiên tại các công thức mật độ trồng 27

Hình 4.2 Tác giả đo đếm chỉ tiêu Hvn cây Lạc tiên ở mô hình trồng 28

Hình 4.3 Chỉ tiêu D00 cây Lạc tiên tại các công thức mật độ trồng 30

Hình 4.4 Động thái tăng trưởng Hvn, D00 cây ở các công thức mật độ trồng 31

Hình 4.5 Chỉ tiêu số cành cấp 1 của cây tại các công thức mật độ trồng 33

Hình 4.6 Chỉ tiêu số nụ của cây Lạc tiên tại các công thức mật độ trồng 35

Hình 4.7 Chỉ tiêu sinh khối cây Lạc tiên tại các công mật độ trồng 37

Hình 4.8 Tác giả đo đếm chỉ tiêu sinh khối cây Lạc tiên 37

Hình 4.9 Tác giả theo dõi tình hình sâu bệnh hại cây Lạc tiên 38

Trang 7

Tb

Xentimet Milimet Công thức Đường kính Chiều cao

Số thứ tự Trung bình

Trang 8

vi

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CÁC BẢNG iii

DANH MỤC CÁC HÌNH iv

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích nghiên cứu 2

1.3 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.4 Ý nghĩa của đề tài 2

1.4.1 Ý nghĩa về mặt khoa học 2

1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

PHẦN 2 TỔNG QUAN PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4

2.1 Cơ sở khoa học của phương pháp nhân giống bằng hạt, đưa ra trồng theo khoảng cách 4

2.2 Tình hình nghiên cứu về dược liệu 4

2.2.1 Trên Thế giới 4

2.2.2 Ở Việt Nam 8

2.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu 13

2.3.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 13

2.3.2 Đặc điểm điều kinh tế - xã hội 15

2.4 Đặc điểm chung của cây Lạc tiên 15

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18

3.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 18

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 18

Trang 9

vii

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 18

3.2 Nội dung nghiên cứu 18

3.3 Phương pháp nghiên cứu 18

3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 19

3.3.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 19

3.3.2.1 Phương pháp chuẩn bị (dụng cụ, vật tư phục vụ nghiên cứu) 19

3.2.2.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm 19

3.3.2.3 Phương pháp thực hiện gieo ươm hạt Lạc tiên giai đoạn vườn ươm 20

3.3.2.4 Phương pháp tổ chức các bước kỹ thuật ở ngoài mô hình trồng 21

3.3.2.5 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi, đánh giá ngoài mô hình trồng 23

3.3.3 Phương pháp xử lý số liệu 25

PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 26

4.1 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến chỉ tiêu D00 và Hvn cây Lạc tiên nhân giống bằng hạt tại Thái Nguyên 26

4.1.1 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến Hvn cây Lạc tiên 26

4.1.2 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến D00 cây Lạc tiên 28

4.2 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến động thái tăng trưởng Hvn và D00 cây Lạc tiên nhân giống bằng hạt tại Thái Nguyên 30

4.3 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến số cành cấp một cuả cây Lạc tiên nhân giống bằng hạt tại Thái Nguyên 32

4.4 Ảnh hưởng mật độ trồng đến số nụ của cây Lạc tiên nhân giống bằng hạt tại Thái Nguyên 34

4.5 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh khối cây Lạc tiên nhân giống bằng hạt tại Thái Nguyên 35

Trang 10

viii

4.6 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến tình hình sâu bệnh hại cây Lạc tiên nhân

giống bằng hạt tại Thái Nguyên 38

PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 39

5.1 Kết luận 39

5.2 Kiến nghị 39

TÀI LIỆU THAM KHẢO 41

Trang 11

1

PHẦN 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Theo nghiên cứu của các nhà khoa học đã công bố, tỉ lệ người mất ngủ có thể từ 4% cho tới 48% tùy theo đối tượng và lứa tuổi Khoảng 33% dân số bị một trong nhiều triệu chứng của mất ngủ, 18% không thoả mãn với giấc ngủ 30% bệnh mất ngủ có liên hệ bệnh tâm thần, Theo số liệu thống kê, có tới khoảng 20% dân số gặp phải tình trạng mất ngủ về đêm Trước đây tình trạng khó ngủ về đêm, mất ngủ… thường chỉ xảy ra ở những người cao tuổi thì hiện nay càng có nhiều người trẻ phải vật lộn chứng khó ngủ, mất ngủ Tình trạng khó ngủ, mất ngủ về đêm kéo dài sẽ khiến cơ thể mệt mỏi, làm ảnh hưởng tới cuộc sống và hiệu quả công việc Việc sử dụng thuốc ngủ và thuốc an thần trong thời gian dài ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và có thể gây nghiện Hiện nay, sử dụng thảo dược trong điều trị mất ngủ và rối loạn an thần đang được chú trọng, khắc phục được các hạn chế của thuốc ngủ và thuốc an thần

Cây Lạc tiên (Passiflora foetida L.) là một loại dược liệu được dùng trong

sản xuất đông dược và tân dược Cây còn có nhiều tên gọi: cây Lạc, cây Lồng đèn, Hồng tiên, Mắc mát, Long châu quả Cây Lạc tiên có trong Dược điển Pháp và được nhiều nước ở châu Âu, Mỹ sử dụng Các nghiên cứu cho thấy nó

có tác dụng lên hệ thần kinh trung ương: trấn tĩnh, an thần, chống hồi hộp, lo âu, mất ngủ Nó còn có tác dụng trực tiếp lên cơ trơn, làm giãn và chống co thắt nên chữa được các chứng đau do co thắt đường tiêu hóa, tử cung

Dân gian thường dùng dây và lá cây Lạc tiên sắc uống làm thuốc an thần chữa mất ngủ Theo Đỗ Tất Lợi, dây, lá, hoa cây Lạc tiên thái nhỏ, phơi khô có công dụng an thần, giải nhiệt, mát gan; chữa trị chữa đau đầu, mất ngủ, thường phối hợp thêm với một số vị thuốc khác Quả cây Lạc tiên vị ngọt, tính bình, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, lợi thủy, dùng chữa ho do phế nhiệt, phù thũng, giã đắp chữa ung nhọt lở loét ở chân

Trang 12

2

Thái Nguyên là một tỉnh thuộc khu vực miền núi phía Bắc có điều kiện tự nhiên, khí hậu thích hợp với phát triển trồng cây dược liệu Trong quy hoạch phát triển nông nghiệp của tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020 đã xác định rõ trồng cây dược liệu là một hướng phát triển bên cạch phát triển các cây trồng truyền thống với mục tiêu hình thành một số vùng chuyên canh trông cây dược liệu Cây Lạc tiên là một loại thảo dược quý, dễ trồng, thích hợp với nhiều điều kiện

tự nhiên khí hậu nhiệt đới khác nhau Do đó, trồng cây Lạc tiên và chế biến cây Lạc tiên thành các sản phẩm điều trị và hỗ trợ điều trị an thần, mất ngủ tại Thái Nguyên là một hướng thích hợp, đem lại hiệu quả kinh tế và y dược cao

Xuất phát từ những lý do trên, bước đầu tôi tiến hành thực hiện đề tài

“Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng đến quá trình sinh trưởng phát

triển của cây Lạc tiên (Passiflora foetida L.) nhân giống bằng hạt tại Thái Nguyên”

1.2 Mục đích nghiên cứu

Đề tài góp phần tạo giống cây con lạc tiên, cung cấp dược liệu, cho nghiên cứu khoa học, bảo vệ môi trường sống và sản xuất quả

1.3 Mục tiêu nghiên cứu

Xác định được mật độ trồng đến quá trình sinh trưởng phát triển, thích

hợp nhất cho cây Lạc tiên (Passiflora foetida L.) nhân giống bằng hạt tại Thái

Trang 13

3

- Nắm được phương pháp nghiên cứu

- Qua quá trình nghiên cứu sẽ giúp sinh viên nắm được những kiến thức trong lĩnh vực lâm sinh: Kỹ thuật đóng bầu, chọn hạt trước khi gieo, xử lý hạt khi mang đi gieo… Đồng thời biết được quá trình sinh trưởng của hạt từ lúc bắt đầu gieo cho đến lúc cây có đủ tiêu chuẩn xuất vườn Trong quá trình nghiên cứu còn được bổ sung thêm kiến thức qua một số tài liệu, sách báo thông tin trên mạng Từ đó áp dụng khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất, và tạo cho sinh viên tác phong làm việc sau khi ra trường

Trang 14

4

PHẦN 2 TỔNG QUAN PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở khoa học của phương pháp nhân giống bằng hạt, đưa ra trồng theo khoảng cách

Bảo tồn nguồn gen ở thực vật hay động vật là bảo tồn các đa dạng di truyền cần thiết cho các loài nhằm phục vụ công tác cải thiện, duy trì giống trước mắt hoặc lâu dài, tại chỗ hoặc nơi khác Một trong nhiều phương pháp đang được

sử dụng nhiều hiện nay là phương pháp gieo bằng hạt

2.2 Tình hình nghiên cứu về dược liệu

Năm 238 Trước công nguyên, Thần Nông đã biên soạn cuốn sách “Thần

nông bản thảo” Cuốn sách có ghi chép về 364 vị thuốc và cách sử dụng Đây là

cuốn sách nền tảng cho sự phát triển của nghành y học dược thảo Trung Quốc cho đến ngày nay (dẫn theo Đặng Kim Vui, 2018) [9]

Năm 1595, Lý Thời Trân đã tổng kết tất cả các kinh nghiệm về cây thuốc,

kinh nghiệm sử dụng và soạn ra cuốn “Bản thảo cương mục” Đây là cuốn sách

vĩ đại nhất của Trung Quốc về lĩnh vực dược liệu, mô tả 1094 cây thuốc và vị thuốc từ cây cỏ (dẫn theo Đặng Kim Vui, 2018) [9]

Năm 348 – 322 Trước công nguyên, Aristote người Hy Lạp đã có những

ghi chép về cây cỏ của Hy Lạp Sau đó năm 340 Theophrate với tác phẩm “Lịch

sử vạn vật” đã giới thiệu gần 480 loài cây cỏ và công dụng của chúng Tuy tác

phẩm chỉ mới dừng lại ở mô tả các đặc điểm của cây cỏ, nhưng nó đã đặt nền

Trang 15

5

tảng cho các khoa học nghiên cứu về thực vật sau này (dẫn theo Đặng Kim Vui, 2018) [9]

Năm 60 – 20 Trước công nguyên, thầy thuốc Dioscorides người Hy Lạp

đã mô tả 600 loài cây cỏ chủ yếu để chữa bệnh, ông cũng là người đặt nền móng cho y dược học Hy Lạp (dẫn theo Đặng Kim Vui, 2018) [9]

Năm 79 – 24 Trước công nguyên, nhà tự nhiên học Plinus người La Mã

đã soạn thảo bộ sách “Vạn vật học” gồm 37 tập, giới thiệu gần 1000 loài thực

vật có ích (dẫn theo Đặng Kim Vui, 2018) [9]

Petelot, A (1952) đã soạn thảo cuốn sách “Les plantes de médicinales du

Cambodye, du Laos et du Vietnam” gồm 4 tập đã giới thiệu về các loại cây thuốc

và sản phẩm làm thuốc ở Đông Dương (dẫn theo Đặng Kim Vui, 2018) [9]

Theo tài liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) 1985 (dẫn theo Đặng Kim Vui, 2018) [9], trong tổng số khoảng 250.000 loài thực vật bậc thấp cũng như bậc cao đã biết, khoảng 20.000 loài được sử dụng làm thuốc ở mức độ khác nhau Trong đó, Ấn Độ được biết trên 6000 loài; Trung Quốc trên 5000 loài; riêng về thực vật có hoa ở một vài nước Đông Nam Á đã có tới 2000 loài là cây thuốc

Năm 2004, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) (dẫn theo Đặng Kim Vui, 2018) [4] đã có tài liệu hướng dẫn thực hành nông nghiệp tốt đối với cây thuốc (Guidelines on good agricultural and collection practices for medicinal plants) Tài liệu đã đưa ra những hướng dẫn cụ thể từ chọn cây thuốc, chọn vùng trồng trọt thích hợp, kỹ thuật trồng, chăm sóc, thu hoạch và bảo quản sau thu hoạch Đây là một hướng dẫn và là thước đo chất lượng sản phẩm dược liệu khi trở thành sản phẩm hàng hóa trên Thế giới Trung Quốc và Nhật Bản là hai nước đã dựa trên tài liệu hướng dẫn này để xây dựng khung quy định cho sản xuất cây dược liệu, nhằm đưa cây dược liệu và các sản phẩm dược liệu trở thành sản phẩm hàng hóa trên toàn Thế giới

Trang 16

6

Trong vài thập kỷ gần đây, các nước trên thế giới đã đẩy mạnh việc nghiên cứu các chế phẩm mới từ cây thuốc Ở Mỹ, 25% các đơn thuốc được pha chế tại các cửa hàng dược gồm các chất chiết từ cây cỏ, 13% từ các loài vi sinh và 3%

từ động vật với nhu cầu hàng tỷ USD/ năm Ở Trung Quốc, có 940 xí nghiệp và xưởng sản xuất thuốc từ cây cỏ với 6266 mặt hàng; doanh thu các thuốc từ cây

cỏ chiếm 33,1% thị trường thuốc năm 1995; tổng giá trị xuất khẩu dược liệu và

thuốc cổ truyền từ năm 1997 đạt 600 triệu USD (dẫn theo Đặng Kim Vui, 2018)

[4] Hiện nay, Trung Quốc có chủ trương đầu tư mạnh cho công tác nghiên cứu dược liệu, đã tự túc được khoảng 90% nhu cầu thuốc trong nước, trong đó thuốc sản xuất từ nguồn gốc thực vật chiếm ưu thế (dẫn theo Đặng Kim Vui, 2018) [9]

Chuỗi giá trị là khái niệm và cách tiếp cận xuất hiện đầu tiên trong quản trị doanh nghiệp, được mô tả chính thức và phổ biến bởi nhà nghiên cứu quản trị nổi tiếng người Mỹ, Michael Porter trong tác phẩm “Lợi thế cạnh tranh: Tạo dựng và duy trì sự vượt trội”, xuất bản năm 1985 Một chuỗi giá trị là một chuỗi toàn bộ các hoạt động hay quá trình theo thứ tự mà sản phẩm phải đi qua, từ nguyên liệu thô tới sản phẩm đến tay người tiêu dùng và ở mỗi hoạt động, sản phẩm lại tăng thêm giá trị (Porter, 1985)

Tiếp cận chuỗi giá trị cũng được áp dụng phổ biến trong phân tích sản phẩm nông nghiệp, nhất là khi vấn đề truy nguyên nguồn gốc nông sản và an toàn thực phẩm đang là vấn đề được quan tâm gần đây Cách tiếp cận chuỗi giá trị cho phép nhìn sản phẩm không phải tại một khâu, một mắt xích cụ thể nào đó

mà là tổng thể chu trình vận động của sản phẩm qua các khâu khác nhau cho đến khi đến tay người tiêu dùng Nhờ đó, nó khắc phục được sự hạn chế của các phương pháp nghiên cứu chi tiết chỉ tập trung và một khâu nào đó như sản xuất, tiêu thụ, chế biến…Cụ thể, tiếp cận chuỗi giá trị trong nông nghiệp đi từ đầu vào của hộ nông dân sản xuất nông sản cho đến khi nông sản đến bàn ăn của người tiêu dùng Để sản xuất nông sản, hộ nông dân cần phải mua (hoặc tự sản xuất) giống, phân bón, thuốc trừ sâu/hoặc thuốc thú y Sản phẩm nông sản có thể trải

Trang 17

(M et al., 2009) Hosni and Lancon (2011) tìm hiểu chuỗi giá trị táo của Syris

trên thị trường nước ngoài Nghiên cứu chỉ ra rằng để xuất khẩu táo thì Syris cần phải giải quyết những tồn tại trong chuỗi giá trị táo hiện tại Các tổ chức khuyến nông cần phải phát triển và cung cấp nhiều giống táo mới Đồng thời, cần có các

tổ chức xếp loại và đánh giá chất lượng táo độc lập để làm giảm các rủi ro chất lượng FAO lại có nghiên cứu về chuỗi giá trị quả xoài ở Kenya Nghiên cứu cho thấy chuỗi giá trị xoài Kenya gặp các cản trở về cơ cấu Tỷ lệ quả xoài không

đủ tiêu chuẩn xuất khẩu cao Kenya cần tập trung cho chế biến xoài xuất khẩu

và tận dụng số xoài không có khả năng xuất khẩu vào các mục đích khác (Hosni

và Lancon, 2011)

Cây lạc tiên có nhiều giá trị thực phẩm và dược học đã được nghiên cứu

và sử dụng trên thế giới Quả tươi được sử dụng ăn trực tiếp ở Thái Lan (Dassanayake và Hicks, 1994) Ở Venezuela, quả được sử dụng tạo thành nước giải khát (Padhye và Deshpande, 1960) Các bộ phận của Passiflora foetida có nhiều dược tính khác nhau để điều trị đau mãn tính, ho, hen suyễn, mất ngủ, các vấn đề tiêu hóa, bao gồm chứng khó tiêu (Da Costa Sacco, 1980) Dịch chiết cây Lạc tiên cho thấy hoạt tính diệt nấm, kháng khuẩn chống lại bốn vi khuẩn trên người Pseudomonas putida, Vibrio cholerae, Shigella flexneri và Streptococcus

pyogenes (Hoffmann et al., 2003) Phân tích cao chiết methanol lá cây Lạc tiên

có tác dụng diệt nấm và chống vi khuẩn thấy có sự hiện diện của hợp chất

Trang 18

8

cyclopropane, triterpene và glycoside (Gardner, 1989) Expectorant chiết xuất

từ cây lạc tiên có tác dụng lên hệ thần kinh, chống co thắt và chống viêm trên

chuột nghiên cứu (Fernandes et al., 2013) Nghiên cứu của Patil và cộng sự cho

thấy rằng chất chiết xuất từ P foetida có tác dụng chống trầm cảm có thể được

sử dụng trong điều trị bệnh nhân trầm cảm rối loạn (Patil et al., 2015) Nghiên

cứu cũng chỉ ra rằng các thành phần chiết từ cây Lạc tiên như vitexin có thể chống viêm và Kaempferol, Apigenin và luteolin có thể dẫn đến phát triển thuốc

chống dị ứng để bồi thường sử dụng thuốc quá nhiều steroid (Brindha et al.,

2012) Dịch chiết từ cây Lạc tiên đã được nghiên cứu chứng minh hoạt tính

chống oxi hóa, hạ đường huyết và ức chế tế bào ung thư (Balasubramaniam et

al., 2010; Asir et al., 2014a; Asir et al., 2014b)

Từ thời Hồng Bàng và các Vua Hùng (Trước công nguyên), người dân đã

có tục ăn trầu và nhuộm răng đen với mục đích bảo vệ răng, làm chắc răng Việc

sử dụng gừng, tỏi, ớt, sả làm gia vị trong các bữa ăn hàng ngày giúp tiêu hóa tốt, phòng trừ các bệnh đường ruột

Cuối thế kỷ III Trước công nguyên, ở Nam Việt giao chỉ đã phát hiện và

sử dụng các loại cây thuốc để chữa bệnh như sắn dây, gừng, riềng, đậu khấu, ích

trí, lá lốt, sả, quế, vông nem… (dẫn theo Đặng Kim Vui, 2018) [9]

Dưới các thời phong kiến, các ty Thái y, viện Thái y đã Hình thành để chữa bệnh cho vua, quan và nhân dân Dưới triều Trần, danh y Tuệ Tĩnh (Nguyễn

Trang 19

9

Bá Tĩnh) đã nói “Nam dược trị Nam nhân”, ông cũng đề xuất việc trồng cây thuốc và chữa bệnh trong nhân dân Ông đã biên soạn cuốn sách “Nam dược

thần hiệu”, mô tả 499 vị thuốc và các phương thuốc để chữa 184 bệnh Năm

1717, “Nam dược thần hiệu” đổi tên thành “Hồng nghĩa giác lĩnh tư y thư” gồm

590 vị thuốc (Nguyễn Bá Tĩnh, 1717) [2]

Dưới triều đại nhà Lê, nổi bật trong nền y học nước nhà là danh y Hải Thượng lãn ông – Lê Hữu Trác Ông đã để lại nhiều kinh nghiệm quý báu trong sử

dụng các loại dược liệu chữa bệnh trong bộ sách “Hải Thượng y tông tâm lĩnh” gồm

28 tập, 66 quyển (dẫn theo Đặng Kim Vui, 2018) [5]

Nền y học cổ truyền Việt Nam có lịch sử phát triển từ rất lâu đời Cộng đồng các dân tộc Việt Nam có nhiều kinh nghiệm độc đáo trong việc sử dụng các loài cây cỏ để làm thuốc (dẫn theo Đặng Kim Vui, 2018) [9]

Theo Phạm Hoàng Hộ và Nguyễn Nghĩa Thìn Viện Dược liệu (2010), số lượng thực vật bậc cao có mạch đã thống kê được ở nước ta khoảng 10.500 loài,

dự đoán khoảng 12.000 loài Trong đó các loài cây được sử dụng làm thuốc khoảng trên 3900 loài thuộc 307 họ thực vật (Phạm Hoàng Hộ và Nguyễn Nghĩa Thìn, 2010) [12]

Trương Thị Tố Uyên (2010) [9], khi nghiên cứu tính đa dạng thực vật và tài nguyên cây thuốc ở xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên đã phát hiện 56 họ, 107 chi, 135 loài và phân loại được 13 nhóm cây thuốc Trong đó có

28 cây thuốc thông tiểu, thông mật; 27 cây thuốc chữa tê thấp; 22 cây thuốc chữa bệnh tiêu hóa; 21 cây thuốc chữa ho hen; 16 cây thuốc có tác dụng cầm máu; 17 cây thuốc có tác dụng giải độc; 16 cây thuốc chữa cảm sốt; 14 cây thuốc chữa mụn nhọt, mẩn ngứa; 9 cây thuốc chữa bệnh dạ dày; 6 cây thuốc trị giun sán; 3 cây thuốc giúp hạ huyết áp; 3 cây thuốc chữa bệnh về mắt và 2 cây thuốc

có tác dụng chữa ung thư

Báo cáo khoa học “Tài nguyên cây thuốc ở Sơn La và kết quả nghiên cứu

trồng thử nghiệm một số cây thuốc có giá trị tại Chiềng Sinh, thị xã Sơn La”

Trang 20

10

(1993) (Nguyễn Trung Vệ, 1993) [3] đã công bố 500 loài cây thuốc ở Tây Bắc Riêng Sơn La có 70 họ, 109 chi và 249 loài cây thuốc Trong đó: Nhóm cây 2 lá mầm gồm 54 họ, 159 chi và 203 loài; nhóm cây 1 lá mầm gồm 10 họ, 27 chi và

31 loài nhóm cây hạt trần gồm 2 họ, 2 chi và 2 loài; nhóm thông đất gồm 1 họ,

1 chi và 1 loài; nhóm dương xỉ gồm 3 họ, 9 chi và 12 loài

Năm 2005, Bộ y tế, Vụ y học cổ truyền biên soạn cuốn sách “Cây hoa cây

thuốc”, hướng dẫn cách sử dụng 29 loài cây hoa cây cảnh có tác dụng chữa bệnh

thông thường Cuốn sách sau khi xuất bản đã được đông đảo cán bộ và nhân dân tìm đọc, trở thành nhu cầu cần thiết đối với cộng đồng (dẫn theo Đặng Kim Vui, 2018) [6]

Cùng với các công trình nghiên cứu về đặc điểm, công dụng của các loại cây thuốc trong tự nhiên Để cây thuốc sử dụng rộng rãi, trở thành sản phẩm hàng hóa, đồng thời bảo vệ các nguồn gen cây thuốc ngoài tự nhiên đang bị cạn kiệt dần Các cơ sở nghiên cứu và các nhà khoa học đã nghiên cứu biện pháp kỹ thuật gây trồng các loài cây thuốc, trong đó có các nghiên cứu như:

Bảo Thắng (2003) trong cuốn “Kỹ thuật trồng, chế biến và sử dụng cây

thuốc nam” Cuốn sách đã trình bày chi tiết kỹ thuật trồng trọt, chăm sóc, phòng

trừ sâu bệnh, thu hoạch, bảo quản đối với 38 cây thuốc thông dụng; đồng thời cũng mô tả đặc điểm, cách sử dụng 124 vị thuốc chữa bệnh phụ khoa, 10 loại rau, 21 loại quả và một số loại hạt có tác dụng chữa bệnh (Bảo Thắng, 2003) [6] Nguyễn Bá Hoạt và Nguyễn Văn Thuần (2005) đã hướng dẫn kỹ thuật trồng trọt

sử dụng và chế biến 30 cây thuốc có nhu cầu lớn làm nguyên liệu cho sản xuất thuốc phòng, chữa bệnh xuất khẩu, đáp ứng nhu cầu sản xuất đại trà trên diện tích lớn, xây dựng vùng dược liệu theo hướng an toàn theo tiêu chuẩn GAP (Good agricultural pratice) Cuốn sách còn cung cấp một số thông tin cơ bản về giá trị của từng cây nhằm quảng bá, xây dựng thương hiệu sản phẩm (Nguyễn

Bá Hoạt và Nguyễn Văn Thuần, 2005) [28] Trong phần chế biến, các tác giả giới thiệu một số phương pháp chế biến theo y học cổ truyền, giúp cho cơ sở

Trang 21

Các nghiên cứu sử dụng tiếp cận chuỗi giá trị đã bắt đầu được thực hiện

ở Việt nam trong một thập kỷ gần đây, chủ yếu tập trung vào các sản phẩm trồng trọt như gạo, cà phê, chè, hồ tiêu… và chăn nuôi như gà, lợn, bò… Chẳng hạn Agrifood thực hiện một nghiên cứu về chuỗi giá trị gạo ở tỉnh Điện Biên theo đặt hàng của tổ chức phát triển Hà Lan SNV Nghiên cứu này tập trung vào gạo IR64 và gạo nếp nương (Agrifood, 2006) GTZ thực hiện phân tích thử nghiệm chuỗi giá trị bơ cho đồng bào thiểu số ở Daklak Nghiên cứu chỉ ra những thách thức đối với chuỗi bơ này là trình độ kỹ năng canh tác yếu, chi phí vật tư đầu vào như nước, phân bón, thuốc trừ sâu cao (GTZ, 2006b) Trong một nghiên cứu khác, GTZ phân tích chuỗi giá trị sản phẩm dưa hấu ở Long An Nghiên cứu chỉ

ra nhiều vấn đề trong chuỗi cần sự trợ giúp để nâng cao hiệu quả Chẳng hạn, tỉnh Long An cần có các chương trình phát triển bền vững cây dưa hấu với sự

hỗ trợ về kỹ thuật và thay đổi tập quán trồng trọt (GTZ, 2006a) Nghiên cứu hợp tác giữa Trung tâm nghiên cứu chính sách nông nghiệp (CAP), trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, và Tổ chức phi chính phủ Prosperity Initiative năm 2008 đã phân tích chuỗi giá trị bưởi tại Việt nam nhằm xác định

Trang 22

12

nhu cầu, khả năng cạnh tranh và cơ hội của bưởi Việt nam nhằm tìm hướng xóa đói giảm nghèo thông qua công cụ thị trường (Cap – PP, 2008)

Cây Lạc tiên (Passiflora foetida L.) là một loại dược liệu được dùng trong

sản xuất đông dược và tân dược Cây còn có nhiều tên gọi: cây Lạc, cây Lồng đèn, Hồng tiên, Mắc mát, Long châu quả Dân gian thường dùng dây và lá cây Lạc tiên sắc uống làm thuốc an thần chữa mất ngủ Theo Đỗ Tất Lợi, dây, lá, hoa cây Lạc tiên thái nhỏ, phơi khô có công dụng an thần, giải nhiệt, mát gan; chữa trị chữa đau đầu, mất ngủ, thường phối hợp thêm với một số vị thuốc khác Quả cây Lạc tiên vị ngọt, tính bình, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, lợi thủy, dùng chữa ho do phế nhiệt, phù thũng, giã đắp chữa ung nhọt lở loét ở chân Các nhà khoa học trong nước đã có những nghiên cứu về thành phần hoạt chất và tác dụng sinh học của cây lạc tiên Huỳnh Lời và cộng sự đã khảo sát thành phần hóa học của cây lạc tiên Tác giả đã tách chiết được vitexin và xylosyl vitexin từ những phần trên mặt đất của cây lạc tiên (Huỳnh Lời và Trần Hùng, 2011) Bằng

kỹ thuật HPLC-DAD, nhóm tác giả đã xác định được hàm lượng vitexin trong

lá từ 0,15-0,4%, trong hạt 0,005% (Huỳnh Lời và Trần Hùng, 2011) Năm 2014,

Vũ Thị Hiệp và cộng sự đã đánh giá tác dụng an thần giải lo âu của cao chiết

cồn lạc tiên tây (Passiflora incarrnata L.) trên chuột nhắt trắng Kết quả cho

thấy Cao cồn Lạc tiên tây không thể hiện độc tính cấp ở liều 3,2 g/kg Ở liều 150 mg/kg, cao Lạc tiên tây thể hiện tác dụng an thần giải lo âu trên mô Hình hai ngăn sáng tối Trên mô Hình kéo dài thời gian ngủ của thiopental và chữ thập nâng cao, liều 300 mg/kg có tác dụng an thần, giải lo âu Nghiên cứu độc tính bán trường diễn cho thấy cao cồn Lạc tiên tây không làm thay đổi số lượng hồng cầu, bạch cầu, Hb, AST, ALT (Vũ Thị Hiệp và Nguyễn Phương Dung, 2014) Nhóm tác giả Nguyễn Văn Đàn và cộng sự đã nghiên cứu độc tính và tác dụng

an thần của cao bình vôi – lạc tiên – lá sen – lá vông nem trên chuột nhắt trắng Kết quả đã chỉ ra rằng cao chiết liều 1,97 g/kg không có tác dụng kéo dài thời gian gây ngủ của thiopental sau 30 phút sử dụng, chỉ thể hiện sau 60 phút sử

Trang 23

13

dụng Trong khi liều 3,94 g/kg khẳng định tác dụng sau 30 và 60 phút sử dụng Sau 60 phút, cao chiết liều 3,94 g/kg hiệu quả gây ngủ tăng hơn gấp 1,9 lần so với Sen vông-R liều 40 mg/kg Cả hai liều không thể hiện tác dụng giải lo âu tại thời điểm 30 và 60 phút sử dụng Chưa xác định được LD50 và độc tính bán trường diễn trên chuột nhắt trắng theo đường uống (Nguyễn Văn Đàn và Phan Quan Chí Hiếu, 2014)

Như vậy, cả kinh nghiệm dân gian và những nghiên cứu hiện đại đều đánh giá Lạc tiên là cây dược liệu có nhiều tác dụng quý, không độc đặc biệt có tác dụng an thần khi dùng riêng và dùng phối hợp với các dược liệu khác Hiện nay,

có nhiều công ty dược và sản xuất thực phẩm chức năng trong nước đã sản xuất các sản phẩm hỗ trợ an thần phòng ngừa mất ngủ từ cây dược liệu lạc tiên Nhưng nguồn nguyên liệu chủ yếu thu hái từ tự nhiên dẫn đến nguồn dược liệu này cạn kệt, không chủ động nguyên liệu trong sản xuất Hiện nay mới chỉ có tập đoàn

TH đầu tư Hình thành vùng trồng dược liệu 250 ha tại Nghệ An trong đó có cây lạc tiên đạt chuẩn hữu cơ Từ dược liệu lạc tiên trồng được, tập đoàn TH đã sản xuất một số thức uống thảo dược trong đó có thành phần chiết xuất từ cây lạc tiên cung cấp ra thị trường trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài (Báo Nghệ

An, 2017)

2.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu

2.3.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên

* Vị trí địa lý: Vườn ươm khoa Lâm nghiệp thuộc trường Đại học Nông

lâm Thái Nguyên Nằm cách thành phố Thái Nguyên khoảng 3 km về phía Tây Căn cứ vào bản đồ Thành phố Thái Nguyên thì xác định được vị trí như sau:

- Phía Bắc giáp với phường Quan Triều;

- Phía Nam giáp với phường Thịnh Đán;

- Phía Tây giáp xã Phúc Hà;

- Phía Đông giáp khu dân cư và khu kí túc xá thuộc trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên

Trang 24

14

* Đặc điểm địa Hình: Vườn ươm khoa Lâm nghiệp trường Đại học Nông

lâm Thái Nguyên nằm dưới chân đồi nhưng nhìn chung tương đối bằng phẳng

* Đặc điểm đất đai: Vườn ươm khoa Lâm nghiệp trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên nằm dưới chân đồi, đất không màu mỡ, ít dinh dưỡng Đặc điểm của đất là đất Feralit phát triển trên đá Sa Thạch

* Đặc điểm khí hậu thủy văn:

Theo số liệu quan trắc của Trạm khí tượng thủy văn Thái Nguyên cho thấy Trung tâm nghiên cứu Lâm nghiệp vùng núi phía Bắc - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết chia làm 4 mùa; Xuân - Hạ - Thu - Đông, song chủ yếu là 2 mùa chính; Mùa mưa và mùa khô Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, cụ thể:

- Nắng: Số giờ nắng cả năm là 1.588 giờ Tháng 5 - 6 có số giờ nắng nhiều nhất (khoảng 170 - 180 giờ)

- Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình năm khoảng 22 – 250C Chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm khoảng 2 – 50C Nhiệt độ cao tuyệt đối là 390C, nhiệt

độ thấp tuyệt đối là 130C

- Lượng mưa: Trung bình năm khoảng 2007 mm/năm, tập trung chủ yếu vào mùa mưa (tháng 6, 7, 8, 9) chiếm 85% lượng mưa cả năm, trong đó tháng 7

có số ngày mưa nhiều nhất

- Độ ẩm không khí: Trung bình đạt khoảng 82% Độ ẩm không khí nhìn chung không ổn định và có sự biến thiên theo mùa, cao nhất vào tháng 7 (mùa mưa) lên đến 86,8%, thấp nhất vào tháng 3 (mùa khô) là 70% Sự chênh lệch độ

ẩm không khí giữa 2 mùa khoảng 10 - 17%

- Gió, bão: Hướng gió thịnh hành chủ yếu vào mùa nóng là gió mùa Đông Nam và mùa lạnh là gió mùa Đông Bắc Do nằm xa biển nên xã Quyết Thắng nói riêng và thành phố Thái Nguyên nói chung ít chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão

Trang 25

15

2.3.2 Đặc điểm điều kinh tế - xã hội

- Sản xuất nông nghiệp: Chiếm 80% số hộ là sản xuất nông nghiệp, ngoài

ra còn có sự kết hợp giữa vật nuôi và cây trồng

- Sản xuất lâm nghiệp: Từ 10 năm trở lại đây việc trồng cây gây rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc đã được tiến hành Hiện nay toàn xã đã phủ xanh được phần lớn diện tích đất trống đồi núi trọc Mặc dù thu nhập từ lâm nghiệp chưa đáng kể nhưng thời điểm này có một số rừng trồng đã đủ tuổi khai thác

- Dịch vụ: Hiện nay dịch vụ đang có sự phát triển đi lên Nhìn chung kinh

tế của xã vẫn chưa cao, quy mô sản xuất chưa lớn và chưa có kế hoạch cụ thể,

rõ ràng đây là một điểm hạn chế của xã Trong xã chưa phát triển tương đối giữa các ngành, mức sống của người dân vẫn chưa đồng đều

Trong những năm gần đây mức sống của người dân tăng lên rõ rệt Hệ thống cơ sở hạ tầng của xã được đầu tư và phát triển đặc biệt là hệ thống giao thông, thủy lợi là lĩnh vực quan trọng để phục vụ về các mặt của đời sống, kinh

tế, xã hội của nhân dân trong xã

2.4 Đặc điểm chung của cây Lạc tiên

* Tên khoa học: Passiflora foetida L

* Họ: Lạc tiên– Passifloraceae

* Tên gọi khác: Chùm bao, Dây nhãn lồng, Dây lưới, Mắn nêm, Dây bầu

đường (Đà nẵng), Tây phiên liên, Mò pì, Mác quánh mon (Tày), Co hồng tiên (Thái), Stinking passion-flower, granadilla, tagua passion-flower (Anh); passiflore, passion (Pháp)

* Dạng sống: Lạc tiên là một loại dây leo, thân nhỏ, Hình trụ có rãnh dọc,

nhiều lông thưa

Cây mọc leo có khi dài tới hàng chục mét, lá mọc xen, mang lá kèm ở mỗi đốt Cuống lá dài 2 - 5cm, mang phiến lá có 3 thùy dài, kích thước lá 10-15 x 12-25 cm, bìa phiến có răng cưa nhỏ, tròn đầu Hoa mọc ở kẽ lá, màu trắng hồng, đài 5 cánh màu xanh lục, cánh hoa dài 2 - 2,5 cm, tràng 5 cánh rời nhau, xếp xen

Trang 26

16

kẽ với các lá đài; tràng phụ do 4 - 5 hàng sợi trắng, gốc tím, cuống nhụy dài 1,5

cm Hoa đơn độc, có 5 cánh màu trắng hơi phớt tím Quả Hình tròn hay Hình trứng, bên ngoài được bao bởi lá bắc trông giống như cái đèn lồng; khi chín có màu vàng, trong chứa nhiều hạt mọng, vị ngọt, thơm, ăn được

* Phân bố, sinh học và sinh thái: Lạc tiên mọc hoang khắp nơi ở nước ta

và các vùng nhiệt đới đều có Lạc tiên mọc

* Mùa thu hoạch:

Mùa hoa quả: Trồng bằng hạt, sau 18 – 24 tháng cây sẽ cho quả Quả chín sau khi ra hoa khoảng 3 tháng, được thu vào tháng 6 – 7 và tháng 9 - 10 Cây 3 năm tuổi cho từ 20 – 25 kg quả, 1 hecta đạt 12 – 15 tấn Thâm canh tốt có thể đạt 30 tấn/ha Nếu trồng theo quy mô lớn thì chu kỳ 3 – 4 năm Sau đó cần xử

lý đất và luân canh vì cây bị tuyến trùng gây hại Ngoài ra cần chú ý phòng trừ rệp, nhện đỏ, ruồi đục quả

Thu hoạch quanh năm nhưng tốt nhất nên thu hoạch vào mùa xuân – hè,

có thể dùng tươi hoặc băm nhỏ rồi phơi hay sấy khô

Lạc tiên 8 – 16g sắc uống Dùng riêng hoặc phối hợp với lá vông, lá dâu, tâm sen nấu thành cao lỏng, mỗi ngày dùng 2 – 5g, chia nhiều lần uống, nên uống trước khi đi ngủ

* Đặc điểm sinh trưởng:

Lạc tiênđòi hỏi khí hậu ấm và ẩm, lượng mưa trung bình từ 1.600 mm trở lên, phân bố đều, trong thời kỳ ra hoa ít bị mưa, nhiệt độ thích hợp từ 16 – 300C, không có sương muối; độ ẩm từ 75-80% Cây Lạc tiêncó thể trồng những vùng

có khí hậu nóng

Cây Lạc tiên không kén đất, có thể trồng ở những vùng có khí hậu nóng,

kể cả đất có pH cao, tốt nhất là chọn đất thoát nước tốt, không để nước đọng Đất có thành phần cơ giới nhẹ, tầng canh tác sâu giá trị; 50 cm, độ mùn trên 1%

và pH 5,5 - 6 Lạc tiên quả tím thích hợp vùng á nhiệt đới, cao độ 1.000 - 1.200

Trang 27

17

m so mặt biển cho chất lượng quả tốt Ngược lại giống quả vàng thích hợp vùng nhiệt đới, độ cao lên tới; 600 m

* Bộ phận dùng: Phần trên mặt đất phơi hay sấy khô của cây Lạc tiên

* Công dụng: Ngọn Lạc tiên được thu hái về làm rau luộc ăn hay nấu

canh Quả chín vàng ăn ngon Lạc tiênđược dùng trị suy nhược thần kinh, mất ngủ, ngủ hay mơ, phụ nữ hành kinh sớm Còn dùng trị ho, phù thũng, viêm mủ

da, lở ngứa, loét ở chân Dùng ngoài đun nước rửa và giã cành lá tươi để đắp

Ở Ấn Độ, nước sắc lá dùng để trị bệnh thiếu mật và hen suyễn; quả dùng gây nôn; lá dùng đắp điều trị choáng váng và đau đầu Ở Vân Nam Trung Quốc, toàn cây dùng trị bỏng lửa, cháy, viêm kết mạc mắt và viêm kết mạc do ngoại thương, viêm hạch lymphô, ung thũng

Quả có làm nước giải khát tốt thanh nhiệt giải độc cho cơ thể con người, thân lá dùng làm thuốc

Ngày đăng: 15/05/2020, 16:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w