1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thiết Kế, Chế Tạo Dao Cắt Dạng Đĩa Và Lựa Chọn Chế Độ Cắt Hợp Lý Để Giảm Công Suất Tiêu Thụ

125 44 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 2,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hội nghị bàn về xoá đói, giảm nghèo ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do Ủy ban Kinh tế - xã hội Châu Á và Thái Bình Dương ESCAP tổ chức tháng 9/1993, tại Băng Cốc Thái Lan đưa ra khái

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

TRẦN THỊ TUYẾT

GIẢI PHÁP GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ

THÁI NGUYÊN - 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

TRẦN THỊ TUYẾT

GIẢI PHÁP GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

Mã số: 8.34.04.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN NHUẬN KIÊN

THÁI NGUYÊN - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực Các tài liệu, số liệu sử dụng trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định

Tác giả luận văn

Trần Thị Tuyết

Trang 4

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các đồng nghiệp đã chia sẻ nhiều tư liệu

và kinh nghiệm quý báu liên quan đến vấn đề nghiên cứu của Luận văn Tôi xin cảm ơn sự hợp tác và giúp đỡ của lãnh đạo, các phòng ban chuyên môn và đồng nghiệp tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên

Xin trân trọng cảm ơn!

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC BIỂU ĐỒ ix

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1

3 Mục tiêu nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn 4

6 Bố cục của luận văn 5

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG 6

1.1 Những vấn đề chung về giảm nghèo bền vững 6

1.1.1 Khái niệm về nghèo 6

1.1.2 Khái niệm, mục tiêu và yêu cầu giảm nghèo bền vững 12

1.2 Nội dung, tiêu chí đánh giá và các yếu tố ảnh hưởng đến giảm nghèo bền vững 14

1.2.1 Nội dung quản lý giảm nghèo bền vững 15

1.2.2 Các tiêu chí đánh giá kết quả giảm nghèo bền vững 22

1.2.3 Các yếu tố tác động đến giảm nghèo bền vững 23

1.3 Kinh nghiệm của một số địa phương về giảm nghèo bền vững và bài học rút ra cho tỉnh Thái Nguyên 27

1.3.1 Kinh nghiệm giảm nghèo bền vững ở một số nước trên thế giới 27

1.3.2 Kinh nghiệm giảm nghèo bền vững của một địa phương 28

Trang 6

1.3.3 Một số bài học về giảm nghèo bền vững rút ra cho tỉnh Thái

Nguyên 33

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36

2.1 Câu hỏi nghiên cứu 36

2.2 Phương pháp nghiên cứu 36

2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 36

2.2.2 Phương pháp tổng hợp thông tin 38

2.2.3 Phương pháp phân tích thông tin 38

2.2.3.2 Phương pháp so sánh 38

2.3 Chỉ tiêu phân tích của luận văn 40

Chương 3 THỰC TRẠNG GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN 43

3.1 Giới thiệu về Thái Nguyên 43

3.1.1 Điều kiện tự nhiên tỉnh Thái Nguyên 43

3.1.2 Kết quả phát triển kinh tế chung của tỉnh 43

3.1.3 Kết quả giảm nghèo bền vững tại tỉnh Thái Nguyên 45

3.2 Thực trạng giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 48

3.2.1 Phân tích thực trạng giảm nghèo bền vững tại tỉnh Thái Nguyên 48 3.2.2 Phân tích sự ảnh hưởng của các yếu tố đến thực trạng giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 76

3.3 Đánh giá chung 83

3.3.1 Kết quả đạt được 83

3.3.2 Hạn chế 85

3.3.3 Nguyên nhân của hạn chế 87

Chương 4 GIẢI PHÁP GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN 88

4.1 Phương hướng giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 88

Trang 7

4.1.1 Bối cảnh mới có ảnh hưởng đến giảm nghèo bền vững 88

4.1.2 Phương hướng giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020 90

4.2 Giải pháp giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020 92

4.2.1 Hoàn thiện công tác xây dựng chiến lược, chương trình và kế hoạch giảm nghèo bền vững 92

4.2.2 Hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện chiến lược, chương trình và chính sách giảm nghèo bền vững 96

4.2.3 Hoàn thiện công tác kiểm tra, đánh giá các chương trình, chính sách giảm nghèo bền vững 100

4.2.4 Giải pháp nâng cao năng lực giảm nghèo bền vững 101

4.3 Kiến nghị 103

4.3.1 Tạo điều kiện phát triển kinh tế trên địa bàn 103

4.3.2 Tăng cường các biện pháp quản lý kinh tế, xã hội 104

KẾT LUẬN 106

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 107

PHIẾU ĐIỀU TRA 111

Trang 8

WB : Ngân hàng thế giới XĐGN : Xóa đói giảm nghèo

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Cỡ mẫu tối thiểu để nghiên cứu 37 Bảng 3.1: Số hộ nghèo và tỷ lệ hộ nghèo tại các địa phương 46 Bảng 3.2: Tỷ lệ hộ nghèo tại Thái Nguyên so với Yên Bái và tỷ lệ bình

quân cả nước 47 Bảng 3.3: Thực trạng tái nghèo và tỷ lệ hộ cận nghèo tại các địa

phương 48 Bảng 3.4: Kết quả khảo sát người dân về các chương trình, chính sách

hỗ trợ giảm nghèo bền vững được xây dựng 50 Bảng 3.5: Một số chương trình, chính sách cho vay tại tỉnh Thái

Nguyên 52 Bảng 3.6: Quy trình tổ chức thực hiện cho vay giảm nghèo tại tỉnh Thái

Nguyên 53 Bảng 3.7: Kết quả cho vay hộ nghèo giai đoạn 2012 -2016 54 Bảng 3.8: Kết quả khảo sát người dân về công tác tổ chức chính sách

tín dụng 55 Bảng 3.9: Kết quả thực hiện chính sách hỗ trợ về y tế cho người

nghèo 56 Bảng 3.10: Kết quả khảo sát người dân về công tác tổ chức chính sách y

tế 57 Bảng 3.11: Kết quả thực hiện chính sách hỗ trợ về giáo dục cho hộ

nghèo 59 Bảng 3.12: Kết quả khảo sát người dân về chính sách giáo dục 60 Bảng 3.13: Kết quả thực hiện chính sách về hỗ trợ nhà ở cho người

nghèo 61 Bảng 3.14: Kết quả khảo sát người dân về những hỗ trợ về nhà ở 62 Bảng 3.15: Kết quả thực hiện chính sách về dạy nghề cho hộ nghèo, tạo

việc làm 63

Trang 10

Bảng 3.16: Kết quả khảo sát người dân về chính sác hỗ trợ dạy nghề, tạo

việc làm 63 Bảng 3.17: Kết quả khảo sát người dân về các chính sách hỗ trợ pháp

lý 65 Bảng 3.18: Kết quả thực hiện chính sách hỗ trợ tiền điện cho hộ

nghèo 66 Bảng 3.19: Kết quả khảo sát người dân về những hỗ trợ trong chính sách

tiền điện 67 Bảng 3.20: Kết quả khảo sát người dân về những hỗ trợ trong chính sách

chuyển giao khoa học kỹ thuật 68 Bảng 3.21: Kết quả thực hiện phát triển kết cấu hạ tầng hỗ trợ sinh kế hộ

nghèo 69 Bảng 3.22: Kết quả khảo sát người dân về phát triển kết cấu hạ tầng, hỗ

trợ sinh kế hộ nghèo 70 Bảng 3.23: Một số hoạt động tuyên truyền các chính sách giảm

nghèo 72 Bảng 3.24: Kết quả khảo sát người dân về các hoạt động tuyên truyền giảm

nghèo 73 Bảng 3.25: Kết quả khảo sát người dân về công tác kiểm tra, đánh giá

thực hiện việc giảm nghèo bền vững 75 Bảng 3.26: Số lượt cán bộ được tham gia trực tiếp chương trình giảm

nghèo bền vững giai đoạn 2012 -2016 81 Bảng 3.27: Khả năng huy động và sử dụng nguồn nhân lực địa phương

cho giảm nghèo 82

Trang 11

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1: Một số hỗ trợ pháp lý cho người nghèo tại tỉnh Thái

Nguyên 64 Biểu đồ 3.2: Công tác tổ chức tập huấn cho đội ngũ cán bộ cấp xã, huyện

tại tỉnh Thái Nguyên 71

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Ngay từ đầu thập niên 1990, khi Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nguy cơ đói nghèo đã được nhận rõ, mà trước hết là số liệu trẻ em suy dinh dưỡng đã ở mức báo động (gần 50%) Năm 1991, vấn đề xóa đói giảm nghèo đã đề ra trong các diễn đàn, các nghiên cứu và triển khai thành phong trào xóa đói giảm nghèo Sau gần 20 năm thực hiện công tác giảm nghèo (bắt đầu triển khai thực hiện chương trình giảm nghèo năm 1998), Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, được thế giới công nhận và đánh giá cao Xóa đói, giảm nghèo toàn diện, bền vững là mục tiêu xuyên suốt trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội

và là một trong những nhiệm vụ quan trọng, góp phần thực hiện phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Việt Nam là quốc gia hoàn thành sớm mục tiêu thiên niên kỷ nhưng bên cạnh những thành tựu to lớn đã đạt được, nước ta cũng còn rất nhiều huyện, xã chưa được giải quyết tận gốc vấn đề nghèo đói; bất kì nơi nào từ thành phố đến nông thôn, đồng bằng đến miền núi, vùng sâu vùng xa vẫn tồn tại các hộ nghèo, người nghèo, xã nghèo Những kết quả đạt được chưa mang tính bền vững bởi vì thu nhập của người dân hầu hết đều xoay quanh ở mức cận nghèo Do vậy rất dễ rơi vào tình trạng tái nghèo khi gặp những tác động không thuận lợi đến sản xuất và đời sống của họ

Sự chênh lệch giữa các vùng miền và các nhóm dân cư đang ngày càng gia tăng Tỷ

lệ nghèo vẫn còn cao và tình trạng nghèo kinh niên vẫn còn tồn tại, đặc biệt trong các nhóm dân tộc thiểu số và ở các vùng núi, vùng khó khăn bị cách biệt về kinh tế, xã hội, địa lý, ngôn ngữ, trình độ dân trí thấp, cơ sở hạ tầng kém phát triển, trình độ sản xuất hàng hóa và tiếp cận thị trường còn hạn chế

Thái Nguyên là một tỉnh vùng trung du miền núi phía Bắc, tiếp giáp với thủ

đô Hà Nội và là tỉnh nằm trong quy hoạch vùng thủ đô Hà Nội Thái Nguyên là một trung tâm kinh tế - xã hội lớn của khu vực Đông Bắc hay cả vùng Trung du và miền núi phía Bắc Tỉnh Thái Nguyên được tái lập ngày 1/1/1997 với việc tách tỉnh Bắc Thái thành hai tỉnh Bắc Kạn và Thái Nguyên Thái Nguyên hiện đang được nghiên cứu

để trở thành vùng kinh tế trọng điểm Bắc thủ đô Hà Nội Vấn đề giảm nghèo được Tỉnh

Trang 13

quan tâm trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Tổng nguồn vốn thực hiện 5 năm qua của toàn Tỉnh lên tới trên 4.876 tỷ đồng Nhờ vậy, tỷ lệ hộ nghèo Thái Nguyên giảm nhanh từ 23,65% năm 2012 xuống còn 6,09% năm 2016, giảm 13,51% tương ứng với 36.668 hộ thoát nghèo Tuy số hộ nghèo của tỉnh giảm nhanh song vẫn cao hơn bình quân chung của cả nước (4,25% năm 2016), kết quả giảm nghèo chưa thật bền vững Số hộ nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số đang chiếm đa số, cá biệt có những xóm bản người dân tộc H’Mông 100% số hộ là hộ nghèo[37] Công tác giảm nghèo ở Thái Nguyên còn nhiều thách thức khi tỷ lệ hộ tái nghèo còn cao, đồng thời những nguy cơ về biến đổi khi hậu, thiên tai, dịch bệnh hiểm nghèo, cạnh tranh trong nước và khu vực ngày càng khốc liệt và biến động phức tạp

Bên cạnh đó, trên địa bàn tỉnh công tác quản lý xóa đói giảm nghèo cũng còn nhiều hạn chế khi các chương trình, chính sách giảm nghèo đã triển khai chưa toàn diện; nhiều chính sách, chương trình giảm nghèo đã được ban hành nhưng còn mang tính ngắn hạn, chồng chéo, chưa tạo sự gắn kết chặt chẽ và lồng ghép tập trung vào mục tiêu giảm nghèo; công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân còn nhiều hạn chế, tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước, vào cộng đồng vẫn còn phổ biến trên địa bàn Việc quản lý giảm nghèo không có sự phối hợp đồng bộ giữa sự chỉ đạo của ban ngành các cấp với sự tham gia tích cực của người dân địa phương

Từ đó, khiến công tác giảm nghèo bền vững tại Thái Nguyên chưa đạt hiệu quả mong muốn, số hộ tái nghèo còn ở mức cao (510 hộ năm 2016)

Trước thực trạng trên, nhận thấy việc tìm ra các giải pháp nhằm giảm nghèo bền vững tại tỉnh Thái Nguyên có ý nghĩa thiết thực, cấp bách Chính vì vậy tác giả chọn

đề tài: “Giải pháp giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên” làm đề tài

nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Để giải quyết đói nghèo hiện nay, không chỉ ở phạm vi mỗi Quốc gia mà nó đã trở thành vấn đề có tính toàn cầu, bởi lẽ đói nghèo không chỉ đơn thuần là vấn đề kinh

tế, chính trị, xã hội, mà nó còn là vấn đề nhân đạo, nhân văn sâu sắc Các tổ chức, các nhà khoa học, các nhà hoạt động thực tiễn thuộc các cơ quan, đơn vị ở nhiều cấp,

Trang 14

ngành và địa phương khác nhau đã có nhiều nghiên cứu về xoá đói, giảm nghèo ở các góc độ khác nhau

Trên thế giới có một số hội nghị bàn về vấn đề đói nghèo như:

- Hội nghị về chống đói nghèo ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do tổ chức ESCAP (Uỷ ban kinh tế - xã hội Châu Á - Thái Bình Dương) tổ chức tại Băng Cốc - Thái Lan, tháng 9 năm 1993, đã đưa ra khái niệm chung về đói nghèo, thực trạng của đói nghèo và những giải pháp chống đói nghèo trong khu vực

- Hội nghị về phát triển xã hội do Liên hợp quốc chủ trì, tại Côpenhaghen - Đan Mạch, tháng 3 năm 1995, gồm các nguyên thủ quốc gia, đã tập trung thảo luận vấn

đề giảm đói nghèo, hoà hợp xã hội và nêu lên trách nhiệm của các tổ chức quốc tế và các nước phát triển trong việc hỗ trợ, giúp đỡ các nước đang phát triển xoá đói, giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách giữa những nước giàu và nước nghèo

Trong nước đã có một số công trình nghiên cứu và bài viết được công bố:

- Nguyễn Thị Hằng, Vấn đề xóa đói, giảm nghèo ở nông thôn nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, 1997 Cuốn sách đã đánh giá khá đầy đủ về thực trạng nghèo đói ở Việt Nam và biện pháp xóa đói giảm nghèo ở nông thôn nước ta đến năm 2000

- TS Lê Xuân Bá (cùng tập thể tác giả), Nghèo đói và xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, 2001 Các tác giả đã phản ánh tổng quan về nghèo đói trên thế giới; đưa ra các phương pháp đánh giá về nghèo đói hiện nay, nghèo đói ở Việt Nam và nghiên cứu thực tiễn về nghèo đói ở tỉnh Quảng Bình; qua đó đưa ra một số quan điểm, giải pháp chung về xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam

- Đinh Thị Thúy Hường "Xóa đói, giảm nghèo ở tỉnh Cao Bằng hiện nay", Luận văn Thạc sỹ Kinh tế phát triển, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, 2009

- PTS Đỗ Thị Bình, Lê Ngọc Hân: Phụ nữ nghèo nông thôn trong điều kiện kinh tế thị trường, Nxb Chính trị quốc gia, 1996 Cuốn sách này nêu lên các quan niệm về phân hóa giàu nghèo và tình trạng đói nghèo ở nước ta và trên thế giới; đánh giá thực trạng đời sống, các khó khăn và yêu cầu của phụ nữ nghèo nông thôn; đưa

ra các khuyến nghị khoa học làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách XĐGN, giúp phụ nữ nghèo nông thôn vươn lên

Trang 15

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đã đi sâu phân tích vấn đề xóa đói, giảm nghèo ở các địa bàn, phạm vi và dưới nhiều giác độ khác nhau cả về lý luận và thực tiễn Nhưng chưa có công trình nào đề cập đến vấn đề xóa đói, giảm nghèo, giảm nghèo bền vững đối với tỉnh Thái Nguyên – khu vực có tỷ lệ tài nghèo cao trong cả nước

3 Mục tiêu nghiên cứu

- Đề xuất các giải pháp cơ bản và đưa ra một số kiến nghị góp phần giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Thực trạng giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: luận văn tập trung nghiên cứu các cơ chế, chính sách, biện pháp của chính quyền tỉnh Thái Nguyên trong thực hiện giảm nghèo bền vững

- Về không gian: Nghiên cứu tại tỉnh Thái Nguyên

- Về thời gian: Phân tích thực trạng giảm nghèo bền vững ở tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn 2012 - 2016

5 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn

Các giải pháp và kiến nghị của đề tài luận văn có thể góp phần giảm nghèo bền vững tại tỉnh Thái Nguyên trong thời gian tới

Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu của đề tài luận văn cũng có ý nghĩa tham

khảo về giảm nghèo bền vững đối với các tỉnh, thành phố khác trong cả nước

Trang 16

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu thành 4 chương nội dung chính như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về giảm nghèo bền vững

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Thực trạng giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên Chương 4: Phương hướng và giải pháp giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh

Thái Nguyên

Trang 17

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG 1.1 Những vấn đề chung về giảm nghèo bền vững

1.1.1 Khái niệm về nghèo

1.1.1.1 Các khái niệm về nghèo

Nghèo là một hiện tượng kinh tế - xã hội mang tính chất toàn cầu Nó không chỉ tồn tại ở các quốc gia có nền kinh tế kém phát triển, mà còn tồn tại ở các quốc gia

có nền kinh tế phát triển Đến nay, đã có nhiều nhà nghiên cứu và tổ chức quốc tế đưa

ra các khái niệm khác nhau về nghèo, song nhìn chung, các khái niệm này không có

sự khác biệt đáng kể Tiêu chí chung nhất để xác định nghèo trong các khái niệm là mức thu nhập hay chi tiêu tối thiểu mà hộ gia đình có thể thỏa mãn những nhu cầu cơ bản, tối thiểu của con người về ăn, ở, mặc, y tế, văn hóa, giáo dục, đi lại và giao tiếp

xã hội Sự khác nhau giữa các khái niệm là mức đo lường độ thỏa mãn cao hay thấp,

mà điều đó phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng như phong tục, tập quán của từng quốc gia, vùng lãnh thổ

Theo quan điểm của Liên Hợp quốc (UN): Người nghèo là những người có thu nhập dưới đường ranh giới nghèo (gọi là ngưỡng nghèo), được xác định bằng số tiền chi tiêu cho nhu cầu thiết yếu về ăn, mặc, ở,… mà trước mắt là lương thực, thực phẩm để duy trì sự sống với mức tiêu dùng nhiệt lượng từ 2.100 - 2.300 calo/ người/ ngày [11]

Hội nghị bàn về xoá đói, giảm nghèo ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương

do Ủy ban Kinh tế - xã hội Châu Á và Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tháng 9/1993, tại Băng Cốc (Thái Lan) đưa ra khái niệm:

Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn và không được hưởng những nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận

Có thể xem đây là khái niệm chung nhất về đói nghèo, có tính chất hướng dẫn

về phương pháp đánh giá, nhận diện nét chính yếu, phổ quát về nghèo Các tiêu chí

và chuẩn mực đánh giá có tính đến sự khác biệt giữa các vùng, các điều kiện lịch sử

Trang 18

cụ thể quy định trình độ phát triển ở mỗi quốc gia Theo ESCAP, có hai dạng nghèo: nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối

- Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và không

có khả năng thoả mãn nhu cầu tối thiểu để duy trì cuộc sống Nhu cầu cơ bản tối thiểu

đó là mức bảo đảm tối thiểu về ăn, mặc, nhà ở, nước sinh hoạt, y tế, giáo dục và vệ sinh môi trường Nhu cầu này cũng có sự thay đổi, khác biệt ở từng quốc gia, vùng lãnh thổ Trên thực tế, một bộ phận dân cư nghèo tuyệt đối rơi vào tình trạng đói và thiếu đói

- Nghèo tương đối là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức trung

bình của cộng đồng tại địa phương Nghèo tương đối gắn liền với sự chênh lệch về mức sống của một bộ phận dân cư so với mức sống trung bình của địa phương ở một thời kỳ nhất định Vì vậy, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, việc xóa dần nghèo tuyệt đối là việc

có thể làm, còn nghèo tương đối là hiện tượng thường có trong xã hội và vấn đề cần quan tâm là rút ngắn khoảng cách chênh lệch giàu - nghèo

Tại Việt Nam, căn cứ theo quyết định số: 59/2015/QĐ-TTg Về baan hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020, các hộ nghèo và cận nghèo được xác định dựa trên các tiêu chí như sau:

+ Hộ nghèo

Đối với khu vực nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống; có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên

Đối với khu vực thành thị: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống; Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên

+ Hộ cận nghèo

Khu vực nông thôn: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản

Trang 19

Khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản

Hiện nay, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đưa ra khái niệm nghèo ở Việt Nam như sau:

+ Đói là tình trạng của một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức sống tối thiểu, không đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống

+ Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện, khả năng thỏa mãn

những nhu cầu tối thiểu và cơ bản nhất trong cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống của cộng đồng xét trên mọi phương diện

+ Hộ nghèo là hộ thiếu ăn nhưng không đứt bữa, mặc không lành và không đủ

ấm, không có khả năng phát triển sản xuất

+ Hộ cận nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân trên đầu người trên tháng từ

trên chuẩn nghèo đến tối đa bằng 130% chuẩn nghèo

+ Xã nghèo là xã có trên 40% tổng số hộ nghèo đói, không có hoặc rất thiếu những cơ sở hạ tầng thiết yếu, trình độ dân trí thấp, tỷ lệ mù chữ cao

+ Vùng nghèo là chỉ những địa bàn rộng, nằm ở những khu vực khó khăn, hiểm trở, giao thông không thuận lợi, có tỷ trọng xã nghèo, hộ nghèo cao [5]

Trong luận văn sẽ sử dụng khái niệm nghèo sau đây: Nghèo (theo hộ) là bộ phận hộ dân cư có thu nhập dưới mức thu nhập trung bình và không tiếp cận được với các dịch vụ xã hội cơ bản (theo quy định của Chính phủ cho từng vùng, từng thời điểm)

1.1.1.2 Chuẩn nghèo

Chuẩn nghèo là thước đo mức sống của dân cư để phân biệt trong xã hội ai thuộc diện nghèo và ai không thuộc diện nghèo Đến nay, trên thế giới có 3 phương pháp tiếp cận chuẩn nghèo là:

- Phương pháp dựa vào nhu cầu chi tiêu

- Phương pháp dựa vào thu nhập thực tế

- Phương pháp dựa vào đánh giá của người dân

Trang 20

Trong ba phương pháp trên, thì hai phương pháp dựa vào nhu cầu chi tiêu và dựa vào thu nhập thực tế được các quốc gia sử dụng khá phổ biến

Theo Ngân hàng Thế giới (WB), khi đưa ra các tiêu chí đánh giá mức độ giàu nghèo của các quốc gia, nên căn cứ vào bình quân thu nhập đầu người theo hai cách tính:

- Phương pháp tỷ giá hối đoái và tính theo USD

- Phương pháp sức mua tương đương tính theo USD

Tuy nhiên, theo phương pháp tỷ giá hối đoái và tính theo USD, việc chuyển đổi thường bị sai lệch, không phản ánh được tính ngang giá của sức mua Do đó, từ đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, UN đã đề ra phương pháp tính bình quân thu nhập mỗi nước theo sức mua tương đương (phương pháp sức mua tương đương tính theo USD) Đây là phương pháp so sánh chỉ tiêu thu nhập bình quân đầu người giữa các nước, nhằm đưa ra chỉ tiêu định lượng so sánh giữa các nước bằng cách đưa đồng tiền của mỗi nước về một đơn vị đo lường thống nhất là USD

Với mục tiêu hàng đầu là đấu tranh chống nạn nghèo khổ ở các nước đang phát triển, WB đưa ra chuẩn nghèo, đói tính theo số calo tối thiểu cần thiết cho một người để sống là 2.100 calo/người/ngày, những hộ gia đình không đảm bảo được mức này là những hộ nghèo khổ Tiêu chuẩn này được tính chung cho các nước trên thế giới, do đó nghèo khổ theo tiêu chuẩn này chính là nghèo tuyệt đối Theo mức đánh giá chung của thế giới, để đảm bảo mức 2.100 calo/người/ngày thì cần ít nhất là 1 USD/người/ngày, do

đó một người có thu nhập thấp hơn 1 USD/ngày được xem là nghèo [11]

Tuy nhiên, chuẩn nghèo theo thu nhập ở mỗi quốc gia lại khác nhau, tùy theo mức thu nhập trung bình của quốc gia đó Trong quá trình nghiên cứu đói nghèo và thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam, WB đã đưa ra hai mức chuẩn nghèo đối với Việt Nam như sau:

Thứ nhất, số tiền cần thiết để mua một số lương thực, thực phẩm đáp ứng nhu

cầu dinh dưỡng với lượng 2.100calo/người/ngày, gọi là chuẩn nghèo về lương thực, thực phẩm [11]

Thứ hai, số tiền cần thiết bao gồm cả chi tiêu cho lương thực, thực phẩm và

chi tiêu cho nhu cầu thiết yếu khác, gọi là chuẩn nghèo chung

Trang 21

Theo quan niệm của ngân hàng thế giới, ngoài chi tiêu tối thiểu về lương thực, thực phẩm để đảm bảo đủ lượng 2.100calo/người/ngày (tương đương 70% chi tiêu) còn có những khoản chi tiêu tối thiểu phi lương thực, thực phẩm (tương đương 30% chi tiêu) [11]

Ngoài gợi ý của Ngân hàng thế giới về cách xác định chuẩn nghèo theo mức hưởng thụ calo do bữa ăn mang lại hàng ngày qui đổi ra thu nhập đã nêu trên, các nhà nghiên cứu và các cơ quan quản lý nhà nước ở Việt Nam đã nêu ra các mức xác định chuẩn mực đói nghèo khác nhau, điển hình là cách xác định của Tổng cục Thống kê

và của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (Bộ LĐTBXH)

Việt Nam đã áp dụng chuẩn nghèo theo từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội Giai đoạn 2001 - 2005, tính theo thu nhập bình quân đầu người trong hộ cho từng vùng (Quyết định 1143/2000/QĐ-LĐTB&XH, ngày 01/11/2000 của Bộ LĐTBXH) Giai đoạn 2006 - 2010 (Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg, ngày 08/7/2005), tính theo khu vực

Chuẩn nghèo giai đoạn 2011 - 2015 (theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg, ngày 30/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ):

+ Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống [18];

+ Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (6.000.000 đồng/người/năm) trở xuống;

+ Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng đến 520.000 đồng/người/ tháng;

+ Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng đến 650.000 đồng/người/tháng [18]

Chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020 (theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ):

* Các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020

- Các tiêu chí về thu nhập

+ Chuẩn nghèo: 700.000đồng/ người/ tháng ở khu vực nông thôn và 900.000 đồng/ người/tháng ở khu vực thành thị

Trang 22

+ Chuẩn cận nghèo: 1.000.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 1.300.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị

- Tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản

+ Các dịch vụ xã hội cơ bản (05 dịch vụ): Y tế; giáo dục; nhà ở; nước sạch và

vệ sinh; thông tin

+ Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (10 chỉ số): Tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng

đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin [22]

* Chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình áp dụng cho giai đoạn 2016-2020

Hộ nghèo

+ Khu vực nông thôn: Là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:

- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống

- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội

cơ bản trở lên

+ Khu vực thành thị: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:

- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống

- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch

vụ xã hội cơ bản trở lên

+ Hộ cận nghèo

- Khu vực nông thôn: Là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản

- Khu vực thành thị: Là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản

Trang 23

hộ nghèo đói được cung cấp từ chính quyền cơ sở, nhất là chính quyền cấp thôn, ấp, bản, tổ dân cư

Dựa trên một số tiêu chí để xác định hộ nghèo do Bộ LĐTB&XH đưa ra, chính quyền các thôn, ấp, bản, tổ dân cư sẽ tổ chức đánh giá, bình chọn những hộ nào trong thôn, ấp, bản, tổ là hộ nghèo, sau đó lập danh sách và gửi cho chính quyền cấp xã xem xét và trình lên Phòng Lao động Thương binh và Xã hội cấp huyện để cấp sổ hộ nghèo cho hộ đó Thông tin này được sử dụng để xác định những hộ nghèo nhất được hưởng các chương trình trợ cấp đặc biệt như: tín dụng ưu đãi, thẻ khám chữa bệnh miễn phí, hỗ trợ sử dụng nước sạch, điện sinh hoạt, hỗ trợ nhà ở,… Vì nguồn lực hỗ trợ có hạn, số tiền trợ cấp phân bổ về từng địa phương ít, không đáp ứng nhu cầu, nên mỗi lần như vậy, các thôn, tổ, ấp, bản phải tổ chức bình chọn người đáng được hưởng trợ cấp, do vậy danh sách các hộ nghèo thụ hưởng có thể được thay đổi mỗi khi có chương trình trợ cấp mới

1.1.2 Khái niệm, mục tiêu và yêu cầu giảm nghèo bền vững

1.1.2.1 Khái niệm giảm nghèo bền vững

- Khái niệm giảm nghèo

Giảm nghèo là làm cho bộ phận dân cư nghèo nâng cao mức sống, từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo Biểu hiện ở tỷ lệ phần trăm và số lượng người nghèo giảm Nói một cách cụ thể hơn, giảm nghèo là quá trình chuyển bộ phận dân cư nghèo lên một mức sống cao hơn

Trang 24

- Khái niệm giảm nghèo bền vững

Giảm nghèo bền vững là sự tác động của Nhà nước, xã hội và sự nỗ lực của người nghèo để từng bước giảm số hộ nghèo ở địa phương, đồng thời hạn chế tới mức thấp nhất tình trạng tái nghèo (các hộ đã thoát nghèo không bị nghèo trở lại) và hạn chế phát sinh hộ nghèo mới trong thời kỳ ổn định chuẩn nghèo

Có thể hiểu giảm nghèo bền vững là nhiệm vụ mục tiêu nhằm giảm nguy cơ tái nghèo, giảm chênh lệch giữa các vùng miền Giảm nghèo bền vững là mục tiêu hướng đến trong công cuộc giảm nghèo của bất kỳ đơn vị, địa phương hay quốc gia nào

Mục tiêu của giảm nghèo bền vững chính là đảm bảo hay duy trì thành quả giảm nghèo một cách lâu dài, bền vững Hay nói cách khác giảm nghèo là hộ nghèo

đã thoát nghèo, không tái nghèo lại

Giảm nghèo bền vững là một trọng tâm của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 nhằm cải thiện và từng bước nâng cao điều kiện sống của người nghèo, trước hết là ở khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện ở các vùng nghèo; thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư

1.1.2.2 Mục tiêu giảm nghèo bền vững

- Mục tiêu tổng quát: Cải thiện điều kiện sống của người nghèo, hộ nghèo;

thúc đẩy giảm nghèo nhanh, bền vững, hạn chế tái nghèo; giảm khoảng cách chênh lệch về thu nhập, mức sống giữa thành thị và nông thôn, giữa các nhóm dân cư; tạo

sự chuyển biến nhanh về kinh tế - xã hội ở các xã nghèo, các xã có tỷ lệ nghèo cao góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế

- Mục tiêu cụ thể:

Một là, phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo bình quân mỗi năm theo

chuẩn nghèo hiện hành nhằm đạt mục tiêu của Đại hội Đảng bộ tỉnh đề ra

Hai là, đảm bảo các hộ nghèo, người nghèo, hộ cận nghèo, người cận nghèo

tiếp cận thuận lợi các chính sách hỗ trợ của Nhà nước, nhất là về vay vốn tín dụng ưu đãi phát triển sản xuất, y tế, giáo dục, văn hoá, nước sinh hoạt; không còn hộ nghèo phải ở nhà tạm, giúp người nghèo thoát nghèo bền vững

Trang 25

Ba là, tăng thu nhập của người dân, tạo điều kiện cho người nghèo, hộ nghèo

tiếp cận một cách tốt nhất đến các dịch vụ xã hội cơ bản (y tế, giáo dục, điều kiện sống, thông tin, bảo hiểm và trợ giúp xã hội, ), góp phần thực hiện công bằng xã hội, đem ánh sáng văn minh đến cho người nghèo

1.1.2.3 Yêu cầu của giảm nghèo bền vững

Thứ nhất, giảm nhanh số hộ nghèo, không để hộ nghèo rơi vào tình trạng đói

khổ Đây là yêu cầu quan trọng nhất, bằng những tác động cụ thể, giải pháp phù hợp tác động vào các nhóm hộ nghèo có thể thoát nghèo để họ tự vươn lên thoát nghèo Những hộ không có khả năng thoát nghèo thì cần có chính sách hỗ trợ từ Nhà nước,

từ cộng đồng để họ không bị đói, khổ, bảo đảm có mức sống tối thiểu (thông qua chính sách an sinh xã hội)

Thứ hai, không để các hộ đã thoát nghèo tái nghèo Muốn thực hiện được yêu

cầu này, các hộ đã thoát nghèo cần được tiếp tục quan tâm giúp đỡ để họ thoát xa ngưỡng nghèo bảo đảm duy trì sự bền vững thông qua hoạt động lao động sản xuất

có thu nhập của hộ gia đình

Thứ ba, không để các hộ diện cận nghèo rơi vào ngưỡng nghèo Cùng với điều

tra, đánh giá xác định hộ nghèo là việc xác định hộ cận nghèo Đối với các hộ diện này, cũng cần có các giải pháp hỗ trợ để họ có thu nhập tăng lên tự đảm bảo các nhu cầu tối thiểu của cuộc sống một cách vững chắc để không bị rơi vào ngưỡng nghèo

Thứ tư, bảo đảm ổn định chính trị và trật tự xã hội ở địa phương Trong quá

tình thực hiện những giải pháp hỗ trợ người nghèo, dễ phát sinh những mâu thuẫn nội

bộ nhân dân, vì việc xác định hộ nghèo chỉ mang tính chất tương đối, sự phân biệt rạch ròi nghèo, cận nghèo, không nghèo, là rất khó Do đó, ngay từ việc đánh giá xếp loại hộ nghèo, cận nghèo, đến khi thực hiện các chính sách trợ giúp cần sự công khai, minh bạch, sự chia sẻ trong cộng đồng dân cư để đảm bảo sự ổn định chính trị

và trật tự xã hội ở mỗi địa phương

Thứ năm, góp phần phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương Hỗ trợ người

nghèo phát triển sản xuất cũng chính là một hình thức phát triển sản xuất

1.2 Nội dung, tiêu chí đánh giá và các yếu tố ảnh hưởng đến giảm nghèo bền vững

Trang 26

1.2.1 Nội dung quản lý giảm nghèo bền vững

1.2.1.1 Xây dựng các chương trình, chính sách hỗ trợ giảm nghèo bền vững

Căn cứ vào chiến lược giảm nghèo bền vững quốc gia, căn cứ vào tình hình thực tế ở địa phương, Chính quyền tỉnh xây dựng chiến lược giảm nghèo bền vững của tỉnh Trong đó, xác định mục tiêu giảm nghèo bền vững dài hạn của địa phương, nguồn lực thực hiện giảm nghèo bền vững và các lực lượng tham gia giảm nghèo bền vững Chiến lược giảm nghèo bền vững được triển khai đồng bộ với nhiều giải pháp

có liên quan trực tiếp đến chiến lược phát triển kinh tế xã hội của địa phương, nhất là các chính sách liên quan trực tiếp đến đầu tư KCHT, vay vốn phát triển sản xuất, dạy nghề và giới thiệu việc làm cho người nghèo, hỗ trợ người nghèo tiếp cận các dịch

vụ xã hội cơ bản như: y tế, văn hóa, giáo dục, nhà ở, điện, nước sinh hoạt,… tạo tiền

đề để hộ nghèo, người nghèo cải thiện đời sống vươn lên thoát nghèo, góp phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa khu vực nông thôn và thành thị Chính quyền tỉnh cần xác định rõ mục tiêu thực hiện chiến lược giảm nghèo bền vững trong từng giai đoạn cụ thể như: thu nhập bình quân đầu người của hộ nghèo được tăng lên;

tỷ lệ hộ nghèo ở những nơi có đông đồng bào người dân tộc, các xã vùng sâu tăng, giảm, tái nghèo theo chuẩn nghèo hàng năm; việc tiếp cận các chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với người nghèo, hộ nghèo; KCHT nông thôn được tăng cường trên cơ

sở xây dựng nông thôn mới

Cùng với việc xây dựng chiến lược giảm nghèo bền vững, Chính quyền tỉnh còn có thể xây dựng các chương trình giảm nghèo bền vững, kế hoạch giảm nghèo

bền vững cho từng năm,… Các chương trình, kế hoạch này được xây dựng và thực

hiện để bảo đảm thực hiện các mục tiêu trong chiến lược giảm nghèo bền vững ở địa

Trang 27

Với bất kỳ chính sách giảm nghèo nào, chính quyền cấp tỉnh bố trí đủ kinh phí quản lý, tổ chức triển khai thực hiện chính sách (đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tự cân đối được ngân sách), chỉ đạo các Sở, Ngành có liên quan lập dự toán kinh phí thực hiện chính sách gửi Bộ, Ngành Trung ương tổng hợp trình cơ quan

có thẩm quyền phê duyệt (đối với các tỉnh chưa tự cân đối được ngân sách) Chính quyền cấp tỉnh chỉ đạo, hướng dẫn triển khai việc thực hiện các chính sách hỗ trợ người nghèo tại địa phương; Thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện, đảm bảo chính sách đến được từng hộ nghèo, không để xảy ra thất thoát tiêu cực Chỉ đạo lập kế hoạch vốn thực hiện chính sách và lập báo cáo tiến độ thực hiện và kết quả giải ngân

* Chính sách tín dụng

Chính sách tín dụng ưu đãi cho hộ nghèo phát triển sản xuất là một cấu phần quan trọng trong chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững của Việt Nam Chính sách này đã tạo điều kiện cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác tiếp cận nguồn vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước để cải thiện và từng bước nâng cao điều kiện sống, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện ở các vùng nghèo

Đối tượng của chính sách ưu đãi tín dụng là những hộ nghèo nhóm đối tượng

yếu thế của xã hội cần được trợ giúp thông qua hoạt động của NHCSXH Chính sách

đã thể hiện được quyền bảo đảm về an sinh xã hội của người dân, đặc biệt là những người dân nghèo cần được trợ giúp an sinh xã hội để vươn lên thoát nghèo đảm bảo cuộc sống

Chính quyền tỉnh ban hành các văn bản về việc nâng cao chất lượng chính sách tín dụng Chính quyền tỉnh thực hiện chính sách này thông qua hoạt động của NHCSXH, chính sách ưu đãi tín dụng không vì mục đích lợi nhuận mà vì mục tiêu giảm nghèo, giải quyết việc làm, bảo đảm an sinh xã hội, góp phần phát triển kinh tế

- xã hội; cung cấp tín dụng ưu đãi cho các hộ nghèo có nhu cầu vay vốn sản xuất kinh doanh với lãi suất thấp, không phải thế chấp cho ngân hàng Việc cho vay tín dụng chính sách xã hội của NHCSXH thực hiện theo phương thức ủy thác qua các tổ chức chính trị - xã hội thông qua Tổ tiết kiệm và vay vốn bình xét từ cấp thôn, UBND cấp

xã phê duyệt (nguồn vốn vay của ngân hàng phục vụ người nghèo chủ yếu là huy

Trang 28

động cộng đồng và vay các tổ chức tín dụng ngân hàng, Nhà nước cấp bù lãi suất chênh lệch huy động)

* Chính sách khám chữa bệnh cho người nghèo

Chính sách hỗ trợ người nghèo về y tế nhằm trợ giúp người nghèo trong khám chữa bệnh bằng các hình thức như mua thẻ BHYT, cấp thẻ và giấy chứng nhận khám chữa bệnh miễn phí, khám chữa bệnh từ thiện nhân đạo chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho người nghèo

Theo Quyết định số 14/2012/QĐ-TTg ngày 01/03/2012 về sửa đổi, bổ sung

một số điều của Quyết định số 139/2002/QĐ-TTg ngày 15/10/2002 của Thủ tướng Chính phủ về khám, chữa bệnh cho người nghèo, Chính quyền cấp tỉnh cụ thể là Chủ

tịch Ủy ban nhân dân phải có trách nhiệm tổ chức, quản lý và sử dụng Quỹ khám,

chữa bệnh cho người nghèo trong việc hỗ trợ tiền ăn, hỗ trợ tiền đi lại cho người nghèo

Ngoài ra Chính quyền tỉnh huy động cộng đồng trong việc xây dựng quỹ khám chữa bệnh cho người nghèo, quỹ bảo trợ người nghèo, bữa ăn nhân đạo, khám chữa bệnh nhân đạo, khuyến khích các đội y tế lưu động phục vụ vùng cao, vùng sâu, biên giới hải đảo, xác định trách nhiệm của người nghèo trong phòng bệnh, tự bảo vệ chăm

lo sức khoẻ và chia sẻ một phần kinh phí trong khám chữa bệnh

* Chính sách hỗ trợ giáo dục đào tạo

Chính sách hỗ trợ người nghèo về giáo dục nhằm bảo đảm cho con em tất cả

các hộ nghèo có các điều kiện cần thiết trong học tập Giảm sự chênh lệch về môi trường trong học tập và sinh hoạt trong các nhà trường ở thành thị và nông thôn, giữa đồng bằng và miền núi, giữa vùng khó khăn với vùng có điều kiện phát triển Theo

đó người nghèo sẽ được miễn giảm học phí và các khoản đòng góp xây dựng trường, lớp, hỗ trợ vở viết sách giáo khoa, cấp học bổng cho học sinh tiểu học loại quá nghèo, khuyến khích học sinh nghèo học khá, học giỏi bằng các giải thưởng, học bổng và các chế độ ưu đãi khác Chính quyền tỉnh tổ chức thực hiện chính sách miễn giảm học phí, hỗ trợ học bổng, trợ cấp xã hội và hỗ trợ chi phí học tập đối với học sinh nghèo ở các cấp học theo nghị định 49/2010/NĐ-CP của Chính phủ; thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi đối với học sinh, sinh viên, nhất là học sinh, sinh viên nghèo;

Trang 29

thực hiện chính sách ưu đãi, thu hút đối với giáo viên công tác ở vùng sâu, vùng xa, vùng có đông đồng bào dân tộc; khuyến khích xây dựng và mở rộng “Quỹ khuyến học”; xây dựng các trung tâm dạy nghề, trường đạt chuẩn quốc gia, tạo điều kiện tốt nhất để người nghèo được học tập Mặt khác, Chính quyền khuyến khích các tổ chức, cá nhân tình nguyện tham gia giúp người nghèo nâng cao trình độ học vấn, tổ chức các hình thức giáo dục phù hợp để xoá mù chữ và ngăn chặn tình trạng tái mù như các lớp bổ túc văn hoá, lớp học tình thương, lớp học chuyên biệt

2015 trên địa bàn, công bố công khai các tiêu chuẩn, đối tượng và chỉ đạo bình xét, lập danh sách các hộ nghèo thuộc diện được hỗ trợ xây dựng nhà ở cho NHCSXH để thực hiện cho vay, danh sách được hỗ trợ xếp loại thứ tự ưu tiên cho các đối tượng theo quy định: đầu tiên là những Hộ gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn (già cả, neo đơn, tàn tật), hộ gia đình là đồng bào dân tộc thiểu số, hộ gia đình thuộc vùng thường xuyên xảy ra thiên tai, hộ gia đình đang sinh sống tại các thôn, bản đặc biệt khó khăn, hộ gia đình đang sinh sống tại các đơn vị hành chính thuộc vùng khó khăn,

hộ gia đình đang cư trú tại các huyện nghèo theo quy định tại Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ, và các hộ gia đình còn lại Sở Xây dựng là đơn vị thường trực chỉ đạo thực hiện chính sách hỗ trợ nhà ở đối với hộ nghèo và thiết kế một số mẫu nhà ở phù hợp để người dân tham khảo, lựa chọn Ngoài ra, Chính quyền tỉnh chỉ đạo các cơ quan liên quan, các cấp chính quyền địa phương phối hợp với các tổ chức, đoàn thể trên địa bàn vận động cộng đồng ủng

hộ, giúp đỡ hộ nghèo xây dựng nhà ở

* Chính sách hỗ trợ về dạy nghề cho hộ nghèo, tạo việc làm

Hỗ trợ sản xuất, dạy nghề, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người nghèo:

Trang 30

Chính quyền tỉnh tạo điều kiện thuận lợi cho người nghèo tiếp cận các nguồn vốn, gắn với việc hướng dẫn cách làm ăn, khuyến nông, khuyến công và chuyển giao

kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất; thực hiện có hiệu quả chính sách tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo, nhất là hộ có người khuyết tật, chủ hộ là phụ nữ; gắn dạy nghề với tạo việc làm đối với lao động nghèo

Ngoài ra Chính quyền tỉnh hỗ trợ về giáo dục và đào tạo qua chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ học bổng, trợ cấp xã hội và hỗ trợ chi phí học tập đối với học sinh nghèo ở các cấp học, nhất là bậc mầm non; chỉ đạo thực hiện chính sách tín dụng

ưu đãi đối với học sinh, sinh viên, nhất là sinh viên nghèo

* Chính sách trợ giúp pháp lý cho người nghèo

Chính sách hỗ trợ pháp lý cho người nghèo nhằm tạo điều kiện cho người nghèo nắm được những kiến thức phổ thông về pháp luật để phát huy được vai trò của mình trong đời sống KT - XH Nhận thức được đầy đủ trách nhiệm và quyền lợi của mình trong gia đình và xã hội

Chính quyền tỉnh thông qua Sở Tư pháp cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người nghèo dưới các hình thức: tư vấn pháp luật; tham gia tố tụng; đại diện

ngoài tố tụng và các hình thức trợ giúp pháp lý khác

* Chính sách hỗ trợ tiền điện cho hộ nghèo

Với chính sách này, mỗi hộ nghèo được hưởng một mức hỗ trợ tiền điện, mức

hỗ trợ tiền điện cho mục đích sinh hoạt hàng tháng tương đương tiền điện sử dụng 30 kWh tính theo mức giá bán lẻ điện sinh hoạt bậc 1 hiện hành là 46.000 đồng/hộ/tháng

và được chi trả trực tiếp theo hình thức hỗ trợ bằng tiền từng quý đến hộ nghèo Khi

cơ quan có thẩm quyền quyết định điều chỉnh giá bán lẻ điện sinh hoạt bậc 1 tăng, giảm so với hiện hành, Chính quyền cấp tỉnh điều chỉnh kịp thời mức hỗ trợ tiền điện hàng tháng tương đương tiền điện sử dụng 30 kWh tính theo mức giá bán lẻ điện sinh hoạt bậc 1 đã điều chỉnh

* Chính sách chuyển giao tiến bộ khoa học, kỹ thuật

Với phương châm giúp người nghèo có cái “cần câu” còn hơn cho “xâu cá”, Chính quyền tỉnh có thể mở các lớp tập huấn, đào tạo nghề, chuyển giao kỹ thuật về chăn nuôi, trồng trọt, tăng cường công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư…

để hỗ trợ giúp người dân có một nghề phù hợp hoặc được hỗ trợ vốn vươn lên xóa nghèo và làm giàu

1.2.1.3 Phát triển kết cấu hạ tầng hỗ trợ sinh kế hộ nghèo

Trang 31

Kết cấu hạ tầng là cơ sở để người dân nói chung, người nghèo nói riêng phát triển sản xuất và nâng cao chất lượng cuộc sống Kết cấu hạ tầng có tác động một cách gián tiếp nhưng rất quan trọng đến chương trình giảm nghèo

- Kết cấu hạ tầng bao gồm, kết cấu hạ tầng kinh tế, gồm: Giao thông, thủy lợi, trường học, trạm y tế, cấp nước, thoát nước,… Kết cấu hạ tầng xã hội, gồm: Các công trình nhà văn hóa, sân thể thao, phát thanh, truyền thanh, truyền hình, các công trình

đó đều gắn liền với đơn vị hành chính (làng, xã), khó tách riêng cho người nghèo

- Thực hiện chương trình kiên cố hóa giao thông nông thôn, tuyến đường trục

xã, đường trục thôn, đường trục chính nội đồng của các xã chưa đạt tiêu chuẩn kỹ thuật

- Thực hiện chương trình kiên cố hóa kênh mương, nâng cấp hệ thống đê điều, kiên cố hóa mặt đê, đảm bảo phòng chống lụt bão và phát triển giao thông nông thôn

- Tiếp tục đầu tư nâng cấp hệ thống điện cho các xã chưa đảm bảo cung cấp phục vụ sinh hoạt và sản xuất

- Việc phát triển kết cấu hạ tầng hỗ trợ sinh kế người nghèo cần quan tâm ưu tiên cho các vùng khó khăn, vùng có tỷ lệ hộ nghèo cao

- Những hộ nghèo có thể được hỗ trợ như: Cho vay tiền để lắp đặt hệ thống cấp nước từ nguồn chung vào gia đình, hoặc kéo điện hạ thế vào gia đình để sử dụng,…

- Khuyến khích các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân người hảo tâm tham gia vào chương trình, nhận hỗ trợ, giúp đỡ các xã nghèo, xã có tỷ lệ hộ nghèo cao tăng cường kết cấu hạ tầng thiết yếu

Trong quá trình xây dựng kết cấu hạ tầng, hộ nghèo cũng được quan tâm, ưu tiên trên một số mặt, như: giảm mức đóng hoặc được miễn đóng góp kinh phí xây dựng hạ tầng; được ưu tiên sử dụng lao động tham gia trực tiếp vào hoạt động xây dựng kết cấu hạ tầng để có thêm thu nhập

1.2.1.4 Nâng cao năng lực giảm nghèo cho người nghèo, hộ nghèo

* Nâng cao năng lực giảm nghèo:

Chính quyền tỉnh thường xuyên tổ chức hoặc chỉ đạo mở các lớp tập huấn bồi dưỡng nâng cao năng lực cán bộ làm công tác giảm nghèo Qua đó Chính quyền tỉnh

Trang 32

định hướng giảm nghèo tại địa phương, triển khai các Nghị quyết về giảm nghèo; tập huấn phương pháp xây dựng kế hoạch giảm nghèo; những nội dung cơ bản về theo dõi, giám sát, đánh giá hoạt động giảm nghèo; hướng dẫn quy trình điều tra, rà soát

hộ nghèo, hộ cận nghèo; hướng dẫn truyền thông về giảm nghèo cấp xã, huyện; hướng dẫn xây dựng, thực hiện và nhân rộng mô hình giảm nghèo; hướng dẫn triển khai thực hiện chính sách bảo trợ xã hội và giảm nghèo; hướng dẫn kỹ năng điều hành “đối thoại hỗ trợ giảm nghèo”; các chính sách hỗ trợ về giáo dục cho con hộ nghèo…

* Truyền thông về giảm nghèo

Truyền thông có vai trò to lớn trong việc đưa thông tin giảm nghèo của Chính phủ tới người dân Báo chí sẽ chủ động cung cấp thông tin theo các chủ đề phù hợp với các thời điểm cho người dân nắm được Trong đó, kịp thời thông tin về cách làm,

mô hình hay trong công tác tổ chức, thực hiện giảm nghèo, đồng thời phát hiện các sai phạm, phê phán biểu hiện gian dối, ỷ lại của người dân không muốn thoát nghèo

Do đó Chính quyền tỉnh hết sức chú trọng công tác truyền thông về giảm nghèo tại địa phương, thường xuyên chỉ đạo các cơ quan thông tin đại chúng là truyền hình, báo chí vào cuộc trong công cuộc giảm nghèo

1.2.1.5 Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện giảm nghèo bền vững

Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện các chủ trương, chính sách về giảm nghèo bền vững là nhằm bảo đảm cơ chế, chính sách của Nhà nước về giảm nghèo bền vững được tổ chức, triển khai thực hiện có hiệu quả, đúng mục tiêu, đúng đối tượng; kịp thời điều chỉnh các cơ chế, chính sách và các biện pháp thực hiện chưa phù hợp Để làm tốt công tác kiểm tra, đánh giá, cần quan tâm kiện toàn bộ máy, cán bộ, tăng cường cơ sở vật chất, điều kiện, phương tiện làm việc của bộ phận kiểm tra các cấp, nhất là ở cơ sở; thực hiện tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ mọi mặt cho đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra, giám sát

Nội dung kiểm tra, đánh giá bao gồm:

Đánh giá lãnh đạo, chính quyền các cấp từ việc nhận thức về công tác giảm nghèo đến việc xây dựng các kế hoạch giảm nghèo hàng năm; đánh giá từ mục tiêu, giải pháp đến công tác chỉ đạo

Trang 33

Kiểm tra, đánh giá tính chính xác của việc xác định hộ nghèo; việc thực hiện quy trình điều tra, rà soát hộ nghèo, tuyên truyền, giải thích cho người dân hiểu và thực hiện đúng việc kê khai thu nhập, tài sản trong điều tra thu nhập để đánh giá hộ nghèo

Kiểm tra, đánh giá công tác chỉ đạo, tổ chức thực hiện việc quản lý, phân bổ nguồn vốn cho giảm nghèo bền vững; việc thực hiện các chính sách trợ giúp cho người nghèo, việc thực hiện các chính sách, dự án, chương trình giảm nghèo và tỷ lệ

hộ nghèo trên địa bàn; công tác thông tin báo cáo hoạt động

Kiểm tra, đánh giá công tác kiện toàn ban chỉ đạo giảm nghèo và kế hoạch thực hiện chương trình giảm nghèo hàng năm; việc tổ chức rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo hàng năm, công tác quản lý dữ liệu, danh sách hộ nghèo, thu thập thông tin

1.2.2 Các tiêu chí đánh giá kết quả giảm nghèo bền vững

Trước hết, giảm nghèo bền vững được đánh giá qua các tiêu chí chung như

mức giảm tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo; tỷ lệ tái nghèo

Thứ hai, giảm nghèo bền vững thông qua thu nhập được đánh giá qua các chỉ

tiêu như: Sự thay đổi mức thu nhập bằng tiền theo tháng, năm của một nhân khẩu trong gia đình hộ nghèo Cơ cấu thu nhập Mức độ tăng hoặc giảm thu nhập qua các năm; so sánh thu nhập thực tế với chuẩn nghèo…

Thứ ba, giảm nghèo bền vững xét về phương diện sinh kế được đánh giá dựa

trên nhiều tiêu chí khác nhau, nhưng thường dùng nhất là hai tiêu chí sau:

- Số hộ nghèo thoát nghèo nhờ tổ chức sản xuất - kinh doanh tốt nên có thu nhập vượt ngưỡng nghèo

- Mức độ cải thiện trình độ nhận thức, kỹ năng tổ chức sản xuất, kinh doanh của hộ nghèo thông qua sự hỗ trợ của chính quyền, của cộng đồng xã hội; số hộ nghèo

tự vươn lên thoát nghèo do các thành viên trong hộ gia đình có việc làm ổn định, thu nhập của hộ gia đình vượt ngưỡng nghèo

Thứ tư, tiêu chí về điều kiện sống Các tiêu chí này thường được xem xét dưới

các khía cạnh sau: Số người được sử dụng nước hợp vệ sinh; số trẻ em đi học đúng

độ tuổi; số hộ được sử dụng điện lưới; mật độ đường giao thông, mật độ điện thoại trên đầu dân, số bác sĩ trên 1 vạn dân, số giường bệnh trên 1 vạn dân, tình trạng phủ

Trang 34

sóng điện thoại, mạng Internet… Nếu các tiêu chí này được giữ vững và liên tục được cải thiện thì độ bền vững của giảm nghèo (GN) tăng lên

Thứ năm, tiêu chí cải thiện đời sống tinh thần cho người nghèo Các tiêu chí

đo mức độ giảm nghèo bền vững về phương diện đời sống văn hóa bao gồm:

- Mức độ cải thiện trình độ văn hóa của các thành viên gia đình nghèo và cận nghèo Nếu không có chỉ tiêu này thì đo bằng chỉ tiêu chung: Số trẻ em ở xã đi học đúng độ tuổi; tỷ lệ người trưởng thành tốt nghiệp tiểu học, phổ thông cơ sở, phổ thông trung học

- Tỷ lệ lao động trong các hộ gia đình nghèo được đào tạo nghề Nếu không đo được số liệu này thì dùng chỉ tiêu tỷ lệ lao động của xã đã qua đào tạo nghề

- Số trường học, nhà văn hóa, bưu điện, điện thoại, nơi vui chơi, nơi sinh hoạt cộng đồng ở xã…

Thứ sáu, tiêu chí về xã hội, an ninh

Mức độ và số người dân tích cực tham gia các hoạt động quốc phòng, an ninh hoặc tình trạng trật tự trị an ở địa phương Việc không xảy ra tình trạng mất trật tự trị

an trên địa bàn hoặc xảy ra ở mức độ thấp cho thấy hoạt động giảm nghèo có tác động tốt tới xã hội

1.2.3 Các yếu tố tác động đến giảm nghèo bền vững

1.2.3.1 Yếu tố thuộc về môi trường bên ngoài

Điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý không thuận lợi ở những nơi xa xôi hẻo lánh, địa hình phức tạp (miền núi, hải đảo, vùng sâu), không có đường giao thông Đây cũng chính là một nguyên nhân chính dẫn đến tỷ lệ nghèo cao ở các vùng và địa phương ở vào vị trí địa

lý này Do điều kiện địa lý như vậy, họ dễ rơi vào thế bị cô lập, tách biệt với bên ngoài, khó tiếp cận được các nguồn lực của phát triển, như tín dụng, khoa học kỹ thuật và công nghệ, thị trường làm cho cuộc sống của họ lạc hậu, khó phát triển, kinh tế chủ yếu là tự cấp, tự túc là những nhân tố khách quan tác động mạnh mẽ đến vấn đề nghèo đói

Đất canh tác ít, đất cằn cỗi, ít mầu mỡ, canh tác khó, năng suất cây trồng vật nuôi đều thấp Đây là nguyên nhân dẫn đến sản xuất trong nông nghiệp gặp rất nhiều

Trang 35

khó khăn, làm cho thu nhập của người nông dân thấp, việc tích luỹ và tái sản xuất mở rộng bị hạn chế hoặc hầu như không có

Điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, thiên tai thường xuyên xảy ra đặc biệt là bão, lụt, hạn hán, cháy rừng, ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất và đời sống của nhân dân Tác hại của bão lụt, hạn hán là rất lớn, nó luôn là kẻ thù đồng hành với những người nghèo đói, nó có thể cướp đi cả tính mạng sống và tiền của con người Rất nhiều vùng và tỉnh đang trù phú nhưng chỉ sau một trận thiên tai gây ra như lụt bão thì hàng nghìn hộ lại rơi vào cảnh thiếu đói, các công trình công cộng, các cơ sở sản xuất và hạ tầng bị phá hỏng Thêm vào đó tình trạng thiếu nước sinh hoạt, thiếu nước tưới tiêu cũng là vấn đề rất khó khăn mà những người dân nghèo gặp phải đang là vấn đề đặt ra rất cấp bách đối với các cấp Chính quyền là phải làm gì để cải thiện tình hình tốt hơn

Điều kiện kinh tế xã hội

Môi trường kinh tế không thuận lợi, cơ sở hạ tầng yếu kém nhưng không có thị trường, thị trường hoạt động yếu ớt hay thị trường không đầy đủ cũng ảnh hưởng đáng kể đến tình trạng nghèo của các hộ gia đình Mặc dù trong những năm gần đây Chính phủ đã có nhiều cố gắng trong việc đầu tư xây dựng các cơ sở hạ tầng phục

vụ sản xuất, đời sống nhân dân, tuy nhiên cho đến nay vẫn còn nhiều nơi xa Đây là những nơi còn tiềm ẩn nhiều dấu hiệu của đói nghèo lạc hậu Những hộ ở đây không phải ai cũng được sử dụng điện Hệ thống tưới tiêu còn hạn chế, rất nhiều nơi chưa

có trạm bơm Việc tiếp cận với nước sạch (nước máy) gần như không có, ngay cả nước giếng vẫn còn hạn hẹp, rất nhiều hộ còn đang dùng nước sông, suối, nước mưa

Trong sản xuất trồng trọt, khó khăn lớn nhất là hệ thống kênh mương chưa phát triển nên không đủ nước tưới cho cây trồng, đặc biệt là cho lúa và hoa mầu Hiện nay ở nhiều nơi hệ thống kênh mương, cống đập, trạm bơm chủ yếu vẫn còn tạm bợ, chưa kiên cố, có nơi xuống cấp nghiêm trọng tác động trực tiếp đến việc giảm sản lượng năng suất cây trồng

Về vấn đề cơ sở hạ tầng (như đường giao thông, điện, trường học, trạm y tế, bệnh viện, bưu điện, chợ huyện ), thị trường (lao động, vốn, hàng hoá) vẫn còn kém

Trang 36

phát triển Đặc biệt là các nhóm dân tộc thiểu số càng có ít cơ hội tiếp cận với những dịch vụ trên

Từ những vấn đề trên, ta thấy, những người nghèo muốn thoát khỏi tình trạng nghèo đói trước hết phải được tiếp cận với thị trường, trên cơ sở đó mới có thể tham gia vào sự vận động của kinh tế thị trường Muốn thị trường phát triển, bên cạnh việc thúc đẩy phát triển sản xuất, tăng trưởng kinh tế thì việc phát triển giao thông cơ sở

hạ tầng có ý nghĩa lớn góp phần nối các thị trường trong nước lại với nhau, thúc đẩy thị trường phát triển tạo điều kiện cho việc hoà nhập vào nền kinh tế thế giới

- Về dân số: Dân số ngày càng đông nhưng đất nông nghiệp thì ngày càng bị thu hẹp làm cho rất nhiều hộ nông dân không đủ tiềm lực để phát triển Hiện nay nhiều nơi ở vùng biển không có hoặc có không đáng kể đất trồng lúa, đây là nhân tố tác động trực tiếp đến các hộ nghèo, có thể được coi là một trong những nhân tố cơ bản làm cho những hộ này triền miên bị đói

Ngoài ra chất lượng lao động (trình độ tay nghề, sức khỏe, thái độ lao động của người lao động) là một nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tế nói chung và GNBV nói riêng Chất lượng lao động sẽ tác động trực tiếp đến tăng năng suất và tăng thu nhập cho người lao động

- Về giáo dục: Chất lượng lao động gắn với việc nâng cao trình độ dân trí và chiến lược phát triển giáo dục Hầu hết những người nghèo, vùng nghèo ở Việt Nam

là những nơi có trình độ dân trí thấp Cùng với tác động của thu nhập thấp nên việc đầu tư chăm lo cho con cái học hành của các hộ gia đình nghèo và vùng nghèo ít được quan tâm hơn Do học vấn thấp, ít được đào tạo nghề nên con cái người nghèo ít có

cơ hội tìm kiếm việc làm có thu nhập cao Kết quả là tỷ lệ đi học trong độ tuổi ở các vùng này sẽ thấp và như vậy, nguy cơ nghèo về tri thức dẫn đến nghèo đói về mọi mặt sẽ gia tăng

- Về tập quán: Về một mặt nào đó, tập quán, lối sống cũng là một trở lực tới

sự phát triển của người nghèo, ảnh hưởng tới giảm nghèo Tập quán du canh du cư của một số đồng bào vùng dân tộc (nhất là Tây Bắc) đã làm cho tình trạng nghèo đói (đói kinh niên, đói gay gắt) về lương thực thực phẩm xảy ra thường xuyên Chính tập quán này đã đẩy họ rơi vào tình trạng nghèo dai dẳng, nghèo truyền kiếp Cái vòng

Trang 37

luẩn quẩn “nghèo đói phải du canh du cư và vì du canh du cư càng thêm nghèo đói” cộng thêm các hủ tục lạc hậu về văn hoá, lối sống bám chặt vào số phận của một số đồng bào miền núi

1.2.3.2 Yếu tố thuộc về môi trường bên trong

Năng lực của đội ngũ cán bộ tham gia trực tiếp chương trình giảm nghèo bền vững

Để thực hiện chương trình giảm nghèo, ở mỗi địa phương cần thành lập ban chỉ đạo thực hiện chương trình, một bộ phận giúp việc cho ban chỉ đạo, một cơ quan thường trực của Ban chỉ đạo, trong đó, đội ngũ cán bộ giúp việc cho ban chỉ đạo cần được lựa chọn theo các yêu cầu sau:

- Chọn cán bộ có chuyên môn về lĩnh vực xã hội, có kinh nghiệm hoạt động

xã hội (cán bộ hoạt động ở các đoàn thể nhân dân)

- Cán bộ có trách nhiệm, có tâm huyết với nhân dân, chăm lo lợi ích của nhân dân (chọn qua thực tiễn hoạt động của cán bộ)

Đội ngũ này cần được bồi dưỡng để nâng cao năng lực và kỹ năng hoạt động Hoạt động lĩnh vực giảm nghèo có tính đặc thù, các yếu tố tác động cũng như các tiêu chí đánh giá về hội nghèo luôn thay đổi, vì thế việc thường xuyên được bồi dưỡng kỹ năng, trao đổi kinh nghiệm và cập nhật thông tin là rất cần thiết cho đội ngũ cán bộ chuyên trách về hoạt động giảm nghèo

Trên thực tế, các mô hình làm tốt công tác giảm nghèo bền vững đều cho thấy vai trò quan trọng của bộ máy và cán bộ ở các cấp, nhất là cấp cơ sở

Khả năng huy động, sử dụng nguồn lực địa phương cho giảm nghèo bền vững

Khả năng huy động nguồn lực vật chất, tài chính là yếu tố rất quan trọng quyết định sự thành công hay thất bại khi thực hiện các mục tiêu XĐGN Để thực hiện các mục tiêu XĐGN trên quy mô diện rộng và đạt được kết quả nhanh thì nhà nước và bản thân các hộ nghèo đều phải có nguồn lực Nhà nước phải có nguồn lực đủ mạnh

để hình thành và thực hiện các chương trình hỗ trợ như: Xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu cho xã nghèo, vùng nghèo; hỗ trợ cho các doanh nghiệp để thực hiện chuyển dịch

cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) tạo

Trang 38

nhiều việc làm cho người lao động; hỗ trợ trực tiếp cho hộ nghèo về đời sống khi gặp rủi ro, thiên tai và hỗ trợ phát triển sản xuất thông qua các chương trình khuyến nông, đào tạo Nguồn lực của nhà nước phụ thuộc vào quy mô và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, tỷ lệ tích lũy và chính sách chi tiêu của Chính phủ, khả năng vay nợ của nước ngoài

Về phía hộ gia đình nghèo, để phấn đấu thoát nghèo, họ cũng cần có nguồn lực để tự mình phấn đấu vươn lên Nguồn lực họ có thể có được là từ các nguồn hỗ trợ của nhà nước, của cộng đồng dân cư, vốn vay tín dụng và khả năng tích lũy của bản thân

1.3 Kinh nghiệm của một số địa phương về giảm nghèo bền vững và bài học rút

ra cho tỉnh Thái Nguyên

1.3.1 Kinh nghiệm giảm nghèo bền vững ở một số nước trên thế giới

Tại Thái Lan: Chính phủ Thái Lan thể hiện rõ quan điểm ưu tiên đối đa cho tăng trưởng nhanh, xóa đói giảm nghèo sẽ được khắc phục dần dần vào thời gian sau hơn

là làm đồng bộ Kế hoạch 5 năm lần thứ sáu của Thái Lan đề ra hàng loạt biện pháp đồng bộ giải quyết nhiều vấn đề kinh tế- xã hội cấp thiết, trong đó vấn đề xóa đói giảm nghèo được coi là mục tiêu quan trọng Chiến lược tăng trưởng không đồng bộ

và thấp sẽ không thể giải quyết được mất cân bằng thu nhập và giảm nghèo đói, vì vậy với một đất nước đang phát triển mạnh như Thái Lan hiện nay thì việc cân đối hai mục tiêu này sẽ có lợi hơn rất nhiều

Tại Malaixia: Khi đề ra các chính sách phát triển, Chính phủ nước này luôn đặt mục tiêu là bảo đảm lợi ích hài hòa giữa các dân tộc trên cơ sở chú trọng đến lợi ích của cộng đồng người bản địa, vì họ là thành phần cư dân đông nhất và cũng có tỉ

lệ nghèo cao nhất Thông qua các cơ chế quản lý hiệu quả và đồng bộ, các chính sách xóa đói giảm nghèo của Malaixia đã đến được với những đối tượng nghèo khổ và cần sự trợ giúp Ở Malaixia, Nhà nước đi đầu và có vai trò nòng cốt trong công cuộc xóa đói giảm nghèo Nhà nước, thông qua các chương trình xã hội như y tế, giáo dục… đã giúp người lao động nâng cao khả năng tìm kiếm cơ hội việc làm, từ đó cải thiện thu nhập và mức sống Trong các chương trình đầu tư lâu dài này, Chính phủ

Trang 39

Malaixia đặc biệt chú trọng cho giáo dục và đào tạo, phần chi ngân sách cho đầu tư

và trợ cấp giáo dục qua từng thời kỳ là rất lớn

Tại Đài Loan: Chính phủ Đài Loan đã áp dụng một số chính sách giảm nghèo bền vững như sau:

- Đưa lại ruộng đất cho nông dân, tạo điều kiện hình thành các trang trại gia đình với quy mô nhỏ, chủ yêu sản phẩm nông phẩm theo hướng sản xuất hàng hóa

- Đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp, công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn,

mở mang thêm những ngành sản xuất kinh doanh ngoài nông nghiệp

-Đầu tư cho kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội dể phát triển nông thôn Đài Loan coi trọng phát triển mạng lưới giao thông nông thôn cả về đường bộ và đường thủy

1.3.2 Kinh nghiệm giảm nghèo bền vững của một địa phương

1.3.2.1 Kinh nghiệm giảm nghèo bền vững tại thành phố Hà Nội

Hà Nội là trung tâm kinh tế - văn hóa - chính trị cả nước Đây là Thành phố có nhiều kinh nghiệm trong GNBV Hà Nội là một trong hai thành phố có tỷ lệ nghèo thấp nhất cả nước Việc tham khảo và vận dụng những kinh nghiệm về XĐGN của thành phố

Hà Nội là rất cần thiết trong việc GNBV của tỉnh Thái Nguyên

Theo Sở Lao động Thương binh và Xã hội thành phố Hà Nội, bằng nhiều giải pháp hỗ trợ, năm 2015 toàn thành phố giảm được 6.550 hộ nghèo, đưa tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 1,5% Một số quận, huyện đạt chỉ tiêu giảm nghèo cao là: Hà Đông, Mỹ Đức, Long Biên, Tây Hồ, Gia Lâm… [29]

Thành phố Hà Nội đã triển khai nhiều chính sách hỗ trợ giảm nghèo Cụ thể, cấp 376.961 thẻ bảo hiểm y tế miễn phí cho người nghèo, cận nghèo, người dân các

xã thuộc Chương trình 135, đối tượng bảo trợ xã hội Sở triển khai nguồn vốn vay ưu đãi cho trên 42.300 lượt hộ nghèo, cận nghèo, mới thoát nghèo và 8.000 lượt học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn với tổng kinh phí vay 1.620 tỷ đồng

Trong công tác chăm sóc và bảo vệ trẻ em, đến nay, đã có 13.727 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được chăm sóc, trợ giúp bằng nhiều hình thức Đồng thời, triển khai 14 mô hình bảo vệ chăm sóc trẻ em tại các địa bàn trọng điểm Tính đến cuối năm 2015, toàn thành phố có 535 xã, phường đạt tiêu chuẩn xã, phường phù hợp với

Trang 40

trẻ em, đạt 105% kế hoạch đề ra Đặc biệt, trong năm 2015, các trung tâm dịch vụ việc làm của Sở LĐTB&XH Hà Nội đã tư vấn cho 58.000 lượt lao động, thông qua

đó, đã tuyển dụng được 25.000 lượt người

Năm 2016, Sở LĐTB&XH Hà Nội thực hiện đồng bộ các giải pháp để hoàn hành tốt các chỉ tiêu cơ bản như: Tăng số lao động được tạo việc làm mới; duy trì 100% hộ gia đình chính sách người có công có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của dân cư nơi cư trú… Thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về dạy nghề; đảm bảo chế độ chính sách đối với người có công và các đối tượng bảo trợ

xã hội…

Việc thực hiện mục tiêu GNBV thành phố Hà Nội giai đoạn 2011 - 2015 đã đạt được nhiều hiệu quả tích cực Không chỉ dựa vào chuẩn nghèo, cận nghèo của Chính phủ, Hà Nội đã ban hành chuẩn nghèo, cận nghèo riêng để thực hiện tốt hơn công tác GNBV trên địa bàn Thành phố Hà Nội đã ban hành một số chính sách đặc thù hỗ trợ các nhóm đối tượng đặc biệt, điển hình đó là nâng mức trợ giúp đối tượng bảo trợ xã hội; trợ cấp cho người già yếu, mắc bệnh hiểm nghèo không có khả năng lao động; nâng mức hỗ trợ mua thẻ bảo hiểm y tế cho người cận nghèo lên 100%; hỗ trợ chi phí hoả táng cho hộ nghèo; hỗ trợ đầu tư đường điện sau công tơ; hỗ trợ xây, sửa nhà ở xuống cấp, hư hỏng nặng… Ngoài chính sách chung của thành phố, các quận, huyện, thị còn ban hành những chính sách đặc thù như: quận Cầu Giấy xây nhà ở cho hộ nghèo đặc biệt khó khăn, cấp máy may, máy ép mía, hỗ trợ mua thẻ bảo hiểm y tế; quận Thanh Xuân hỗ trợ học nghề và cấp phương tiện làm ăn; quận Long Biên hỗ trợ tiền ăn trưa, tiền đồng phục cho học sinh nghèo; quận Hà Đông xây dựng nhà ở, cấp toàn bộ tiện nghi thiết yếu cho một số hộ đặc biệt khó khăn…

1.3.2.2 Kinh nghiệm giảm nghèo bền vững tỉnh Hà Giang

Hà Giang là một tỉnh miền núi - biên giới địa đầu phía Bắc của Tổ quốc Những

năm gần đây trong công cuộc GNBV của Hà Giang đã có những tiến bộ khá rõ rệt Tham khảo và vận dụng những kinh nghiệm về XĐGN của tỉnh Hà Giang là rất cần thiết trong việc GNBV của tỉnh Thái Nguyên

Trong 62 huyện nghèo nhất nước thì tỉnh Hà Giang có tới 6/11 huyện, thành phố nằm trong danh sách này (Yên Bái có 2/9 huyện, thị xã, thành phố) Những năm

Ngày đăng: 15/05/2020, 14:16

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w