1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Chia nhà ở là tài sản chung của vợ chồng khi vợ chồng ly hôn

12 1,4K 9
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chia nhà ở là tài sản chung của vợ chồng khi vợ chồng ly hôn
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Hôn Nhân và Gia Đình
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 87,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chia nhà ở là tài sản chung của vợ chồng khi vợ chồng ly hôn

Trang 1

Mục lục

Trang Lời mở đầu

I Cơ sở lý luận của việc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn………

1 Căn cứ xác lập tài sản chung của vợ chồng………

2 Quyền sở hữu nhà ở đối với vợ chồng thuộc sở hữu chung………

3 Nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn – nguyên tắc chia

nhà ở là tài sản chung của vợ chồng………

II Thực tiễn về việc phân chia nhà ở là tài sản chung của vợ chồng khi ly

hôn………

1 Thực tế chia nhà ở là tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn………

2 Đường lối giải quyết tranh chấp về nhà ở của vợ chồng khi ly hôn………

Kết luận………

Danh mục tài liệu tham khảo

3 2 2 5

7 8 7 8

LỜI MỞ ĐẦU

Trang 2

Xuất phát từ tình hình thực tế các quan hệ hôn nhân và gia đình, đồng thời cũng nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của vợ chồng về vấn đề tài sản, luật hôn nhân và gia đình quy định các trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng Đó là: chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; chia tài sản chung của vợ chồng khi vợ, chồng chết và chia tài sản chung của vợ chồng khi vợ chồng ly hôn

Việc chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn là một vấn đề phức tạp, thường có nhiều tranh chấp giữa vợ chồng khi ly hôn và gặp nhiều vướng mắc trong thực tiễn xét xử nhiều năm qua ở nước ta Trong đó, vấn đề chia nhà ở là tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn là phức tạp, rắc rối hơn cả Tuy không phải là

đề tài mới, nhưng nó vẫn luôn mang ý nghĩa thiết thực lớn trong đời sống xã hội hiện nay, là vấn đề cần được xem xét và nghiên cứu cụ thể Chính vì vậy

em đã chọn đề tài: “ Chia nhà ở là tài sản chung của vợ chồng khi vợ chồng

ly hôn”

Do đây là một đề tài lớn và em đã cố gắng trình bày vấn đề này một cách ngắn gọn, cô đọng nhưng không thể tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô cũng như các bạn Em xin chân thành cảm ơn !

I/ Cơ sở lý luận về việc chia tài sản chung của vợ chồng khi

vợ chồng ly hôn:

Trang 3

Cuộc sống chung giữa vợ chồng khi quan hệ hôn nhân được xác lập đòi hỏi phải có một khối tài sản nhằm bảo đảm nhu cầu đời sống của gia đình Thỏa mãn nhu cầu về tinh thần, vật chất của vợ chồng, nghĩa vụ chăm sóc lẫn nhau giữa vợ chồng… Kế thừa và phát triển quy định của Luật hôn nhân

và gia đình năm 1986 về tài sản chung và quyền của vợ chồng đối với tài sản chung (điều 15, 16), Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã dự liệu về căn

cứ, nguồn gốc và thành phần các loại tài sản trong khối tài sản chung của vợ chồng Các quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 về vấn đề tài sản chung của vợ chồng đã tương đối cụ thể, dễ vận dụng hơn nhiều so với trước đây

1 Căn cứ xác lập tài sản chung của vợ chồng:

Khoản 1 điều 27 Luật hôn nhân và gia đình quy định về tài sản chung của vợ chồng Theo đó, việc xác định tài sản chung của vợ chồng phải dựa vào nguồn gốc phát sinh tài sản Cụ thể, tài sản chung của vợ chồng bao gồm những tài sản sau:

_ Tài sản do vợ chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân

_ Thu nhập của vợ chồng do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh _ Thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Theo Nghị quyết số 02 ngày 23/12/2000 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì “Thu nhập hợp pháp khác” là tiền thưởng, tiền trợ cấp, tiền trúng thưởng xổ số có được hay những tài sản mà vợ chồng xác lập quyền sở hữu theo quy định của BLDS năm 2005 như: xác lập quyền sở hữu với vật vô chủ, vật không xác định được ai là chủ sở hữu (điều 239); xác lập quyền sở hữu đối với vật bị chôn giấu, chìm đắm được tìm thấy (điều 240); xác lập quyền sở hữu do người khác đánh rơi, bỏ quên (điều 241); xác lập quyền sở hữu đối với gia súc bị thất lạc (điều 242); quyền

sở hữu đối với gia cầm bị thất lạc (điều 243); xác lập quyền sở hữu đối với vật nuôi dưới nước (điều 244)

_ Tài sản được tặng, cho chung

_ Tài sản được thừa kế chung

_ tài sản mà vợ hoặc chồng có trước khi kết hôn hoặc những tài sản mà

vợ hoặc chồng được thừa kế riêng hay được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân nhưng vợ chồng đã thỏa thuận nhập vào khối tài sản chung hoặc theo pháp luật quy định là tài sản chung

Theo quy định tại điều 219 của BLDS năm 2005 và điều 27 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, tài sản chung của vợ chồng là tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia Sở hữu chung hợp nhất là sở hữu

Trang 4

chung mà trong đó phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu không được xác định đối với tài sản chung Do vậy, bình thường chúng ta không thể xác định được phần tài sản nào là của vợ, phần tài sản nào là cỉa chồng trong khối tài sản chung hợp nhất, chỉ khi nào có sự phân chia tài sản chung của vợ chồng thì mới xác định được phần tài sản của từng người trong khối tài sản chung

đó

Vì vậy, pháp luật quy định tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng chỉ căn cứ vào nguồn gốc, thời điểm phát sinh tài sản mà không căn cứ vào công sức đóng góp của mỗi người vào việc tạo dựng và phát triển khối tài sản đó

Có thể do điều kiện sức khỏe, đặc điểm công việc và nghề nghiệp nên sự đóng góp công sức của vợ chồng vào việc xây dựng khối tài sản chung không ngang bằng nhau, nhưng quyền sở hữu của họ đối với tài sản chung vẫn ngang bằng nhau Tài sản chung của vợ chồng không nhất thiết phải do công sức của cả hai vợ chồng trực tiếp tạo ra, có thể chỉ do vợ hoặc chồng trực tiếp tạo ra, có thể chỉ do vợ hoặc chồng làm ra trong thời kỳ hôn nhân

2 Quyền sở hữu nhà ở của vợ chồng thuộc sở hữu chung:

Quyền sử dụng nhà ở là loại tài sản mang tính đặc thù riêng Thông thường, quyền sử dụng nhà ở là tài sản có giá trị lớn hoặc đem lại thu nhập chính cho vợ chồng Vì vậy, để tránh những vướng mắc khi giải quyết các tranh chấp về việc chia nhà ở, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã khẳng định quyền sử dụng nhà ở mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng

Theo Nghị quyết số 02 ngày 23/12/2000 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, những tài sản có giá trị lớn và quan trọng như nhà ở, quyền

sử dụng đất…thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ

và chồng Đây chính là căn cứ pháp lý để xác định tài sản chung của vợ chồng khi có tranh chấp Đối với những tài sản mà vợ chồng đang có tranh chấp nhưng không chứng minh được tài sản đó là tài sản riêng của một bên thì tàu sản đó là tài sản chung của vợ chồng Quy định này phù hợp với nguyên tắc khuyến khích tăng khối tài sản chung nhằm bảo đảm nhu cầu chung của gia đình và cũng nhằm mục đích bảo vệ lợi ích của vợ chồng Đối với tài sản chung của vợ chồng thì vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt (khoản 2 điều 219 BLDS năm 2005 và khoản 1 điều 28 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000) Như vậy, về nguyên tắc, vợ chồng có quyền và nghĩa vụ bình đẳng với nhau trong việc xây dựng, phát triển và duy trì khối tài sản, đồng thời, họ cũng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất

Trang 5

Quyền bình đẳng của vợ chồng đối với khối tài sản chung thể hiện trong việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình, việc dùng tài sản chung để đầu tư, kinh doanh phải được vợ chồng bàn vạc thỏa thuận (điều 28 Luật hôn nhân và gia đình) Như vậy, mọi giao dịch dân sự có liên quan đến tài sản có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình thì

vợ chồng cần phải bàn bạc, thỏa thuận với nhau thì những giao dịch đó mới

có giá trị pháp lý Đối với những giao dịch dân sự có liên quan đến tài sản có giá trị không lớn hoặc để phục vụ nhu cầu thiết yếu hàng ngày của gia đình thì chỉ cần một bên vợ hoặc chồng thực hiện hoặc đương nhiên coi là có đồng ý của bên kia Trong trường hợp vì lý do nào đó mà chỉ có một bên vợ hoặc chồng thực hiện giao dịch dân sự có liên quan đến tài sản chung của vợ chồng nhằm để phục vụ nhu cầu sinh hoạt thiết yếu hàng ngày của gia đình thì bên kia chịu trách nhiệm liên đới (điều 25 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000) Quy định này khẳng định quyền tự chủ của vợ, chồng trong việc thực hiện các giao dịch dân sự nhằm đảm bảo nhu cầu thiết yếu hàng ngày của gia đình cũng chính là nhằm bảo vệ lợi ích của gia đình, đồng thời cũng khẳng định trách nhiệm của bên kia đối với các hành vi dân sự hợp pháp do

vợ hoặc chồng mình thực hiện vì lợi ích chính đáng của gia đình

Vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc quản lý và sử dụng tài sản chung Vợ, chồng sử dụng tài sản chung của vợ chồng đương nhiên được coi là có sự thỏa thuận của cả hai vợ chồng

Pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ bình đẳng của vợ, chồng đối với tài sản chung là nhằm bảo vệ khối tài sản chung, tránh những trường hợp một trong hai vợ chồng có hành vi phá tán tài sản chung, hủy hoại tài sản chung hoặc tự mình thực hiện những giao dịch dân sự làm tổn thất khối tài sản chung, ảnh hưởng đến quyền lợi của gia đình và của người kia Đồng thời, quy định này còn khẳng định quyền bình đẳng về mọi mặt của vợ chồng trong quan hệ gia đình

Như vậy, luật hôn nhân và gia đình đã xác định thời điểm hình thành và nguồn gốc phát sinh tài sản chung của vợ chồng Kể từ sau khi kết hôn, những tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập hợp pháp của vợ chồng, tài sản

mà vợ chồng mua sắm được từ những thu nhập hợp pháp đều thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng mà không phụ thuộc vào công sức đóng góp của vợ, chồng nhiều hay ít, có lao động trực tiếp hay không Đồng thời, pháp luật còn quy định các quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với khối tài sản chung và mục đích của việc sử dụng tài sản là nhằm đáp ứng nhu cầu chung của gia đình, đảm bảo cho vợ chồng cùng nhau xây dựng gia đình và lao động tạo ra tài sản vì lợi ích chung của gia đình Những quy định đó còn là

cơ sở trong việc chia tài sản chung của vợ chồng

Trang 6

3 Nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng khi vợ chồng ly hôn – nguyên tắc chia nhà ở là tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn:

Đối với tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn mà vợ chồng không thỏa thuận được với nhau, có yêu cầu Tòa án giải quyết thì Tòa án quyết định theo nguyên tắc quy định tại khoản 2 và khoản 3 điều 95 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000

Tòa án nhân dân cần xác định đúng khối tài sản chung của vợ chồng hiện

có những tài sản nào (điều 27) Trong tài sản chung của vợ chồng còn bao gồm các quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người khác (như tiền tiết kiệm là tài sản chung của vợ chồng gửi ở ngân hàng; những món nợ

mà vợ chồng đã vay trước đó sử dụng vào đời sống chung cần phải trả; những món nợ mà vợ chồng cho người khác vay có quyền đòi… Những tài sản riêng mà vợ hoặc chồng đã tự nguyện nhập vào khối tài sản chung của

vợ chồng; những loại tài sản nào có thể chia được bằng hiện vật hoặc không chia được bằng hiện vật, phải chia theo giá trị (tiền)…)

Về nguyên tắc, phần của vợ, chồng trong khối tài sản chung của vợ chồng là bằng nhau Tuy vậy, trong mỗi trường hợp cụ thể, để đảm bảo quyền lợi chính đáng của mỗi bên, Tòa án có thể quyết định khác với nguyên tắc chung đó, choa theo công sức đóng góp, hoàn cảnh cụ thể của mỗi bên cho công bằng và hợp lý

Căn cứ vào khoản 2 điều 95 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, việc chia tài sản chung của vợ chồng được giải quyết theo các nguyên tắc sau:

“a) Tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi, nhưng có xem xét hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

b) Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật hoặc theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần giá trị chênh lệch”.

“Việc thanh toán nghĩa vụ chung về tài sản của vợ, chồng do vợ, chồng thỏa thuận; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết”

(khoản 3 điều 95 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000)

Trang 7

Trong việc xác định nhà là tàn sản chung của vợ chồng, Tòa án cần phân biệt các trường hợp: nhà do hai vợ chồng mua hoặc xây dựng; nhà do cha

mẹ chồng (hoặc cha mẹ vợ) cho chung cả hai vợ chồng (là tài sản chung của

vợ chồng); nhà do vợ chồng thuê của Nhà nước hoặc tư nhân, hoặc do cơ quan nhà nước cấp (chỉ có quyền quản lý, sử dụng, không phải là tài sản chung của vợ chồng; trường hợp vợ chồng còn ở chung với gia đình cha mẹ chồng (hoặc cha mẹ vợ) mà nhà đó là tài sản của cha mẹ, không thuộc tài sản chung của vợ chồng thì không chia Trường hợp có tranh chấp trong việc nhà ở là tài sản riêng của chồng, vợ nhưng đã được vợ chồng tu sửa tăng giá trị lên nhiều hoặc bên có nhà đã thỏa thuận nhập vào khối tài sản chung của

vợ chồng, khi ly hôn lại nói là chưa nhập…Tòa án cần phân biệt tùy từng trường hợp để giải quyết cho thỏa đáng, thấu lý, đạt tình)

II Thực tiễn về việc phân chia nhà ở là tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn:

Ly hôn – một hiện tượng xã hội Theo nguyên tắc chung, khi phán quyết

ly hôn của Tòa án có hiệu lực, quan hệ vợ chồng được chấm dứt Các quyền

và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ chồng phát sinh và gắn liền tương ứng trong quan hệ vợ chồng từ khi kết hôn cũng hoàn toàn chấm dứt khi ly hôn Tài sản chung của vợ chồng sẽ được chia theo yêu cầu của vợ chồng Ở nước ta những năm vừa qua, do nhiều nguyên nhân, yếu tố tác động dẫn tới các án kiện ly hôn gia tăng Giải quyết các tranh chấp về tài sản giữa vợ chồng khi

ly hôn luôn là việc khó khăn, phức tạp, có nhiều vướng mắc

1. Thực tế chia nhà ở là tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn:

Thực tế chia tài sản chung cho thấy, đối với các loại tài sản là nhà ở thường gặp nhiều khó khăn, vướng mắc Nó đụng chạm đến quyền lợi của

vợ chồng về tiền bạc, tài sản Khi tình cảm yêu thương, gắn bó giữa vợ chồng không còn, giữa họ thường có tranh chấp với nhau về tài sản rất gay gắt, nhiều vụ việc kéo dài do đương sự khiếu kiện

Nghị định số 70/2001/NĐ – CP điều 23,24,25,26,27,28,29 đã quy định khá cụ thể về chia tài sản là nhà ở thuộc tài sản chung của vợ chồng hay tài sản của mỗi bên vợ chồng; hoặc thuộc khối tài sản của gia đình ( nhà vợ hoặc chồng) Tùy từng vụ việc cụ thể, theo quy định của pháp luật mà tòa án quyết định việc chia tài sản giữa vợ chồng khi ly hôn, đảm bảo quyền lợi chính đáng của người vợ và con chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng

bị tàn tật, mất NLHVDS, không có kinh nghiệm lao động, không có tài sản

Trang 8

Mục 12 – Nghị quyết số 02/2000/NQ – HĐTP đã hướng dẫn việc chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn phải theo đúng nguyên tắc được quy định tại điều 95 Tuy nhiên, qua thực tiễn xét xử, vẫn còn tồn tại một số vấn đề:

_ Thứ nhất, trong thực tiễn đời sống xã hội, vì nhiều nguyên nhân, một số

lượng lớn nhà ở nói chung và của vợ chồng nói riêng có nguồn gốc phức tạp Những tài sản đó vợ chồng có thể có chủ quyền hợp pháp, nhưng cũng có thể là không hợp pháp hoặc chưa có sự thừa nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc tài sản thuộc sở hữu của người khác Vì vậy, tranh chấp nhà ở có liên quan đến cả thẩm quyền quản lý nhà nước về đất đai của cơ quan hành chính nhà nước và thẩm quyền xét xử của TAND Do đó, việc giải quyết các tranh chấp nhà ở, 1 phần thuộc thẩm quyền của cơ quan hành chính nhà nước, 1 phần thuộc thẩm quyền của TAND và pháp luật hiện hành

đã quy định cụ thể về vấn đề này Liên quan đến quyền sử dụng đất, chia nhà

ở tòa án cần áp dụng 2 nguyên tắc:

+ TA chỉ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp và tài sản gắn liền đến quyền sử dụng đất đó Nguyên tắc là vậy, song trong thực tiễn xét xử, 1 số tòa án đã giải quyết cả những tranh chấp không thuộc các trường hợp trên, dẫn đến vi phạm PL tố tụng, gây khó khăn cho công tác quản lý nhà nước, ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự VD: tháng 2/2001, TAND huyện Gia Lâm – Hà Nội giải quyết việc ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Kim Ngưu và anh Đặng Văn Pháp Giữa các đương sự có tranh chấp về mảnh đất 120m2 tại thôn Kim Âu Theo UBND xã thì đất này là đất chuyển nhượng, chưa hợp pháp, chưa có giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu đất Tuy nhiên, tòa án sơ thẩm vẫn tổ chức định giá, xác định tài sản chung và chia cho chị Ngưu sử dụng Bản án phúc thẩm

số 37/PTDS ngày 13/4/2001 của TAND thành phố Hà Nội đã phải sửa án sơ thẩm, tách việc giải quyết mảnh đất 120m2 để 2 bên tự thỏa thuận, nếu không tự thỏa thuận được thì việc tranh chấp thuộc thẩm quyền của UBND cấp có thẩm quyền giải quyết

+ Tòa án chỉ phân nhà ở ki vợ chồng có quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hợp pháp Tuy nhiên, 1 số tòa án không bám sát nguyên tắc này dẫn đến chia nhà ở và quyền sử dụng đất cho vợ chồng khi họ không có chủ quyền hợp pháp đối với tài sản có tranh chấp VD: tháng 5/2001 TAND huyện Đông Anh – Hà Nội đã giải quyết việc ly hôn giữa anh Nguyễn Duy Lương và chị Đỗ Thị Dần Trong đó, các đương sự có tranh chấp mảnh đất

mà vợ chồng họ đang ở Chị Dần có yêu cầu được chia một phần mảnh đất này Nguồn gốc mảnh đất: bố mẹ anh Lương (ông Viêm, bà Chải) là chủ hộ được cấp đất giãn dân từ năm 1980 Ông Viêm mất năm 1986 Năm 1994, sau khi kết hôn, anh Lương chị Dần về sống chung với bà Chải Tuy nhiên, TAST đã bác yêu cầu của bà Chải về mảnh đất và chia cho chị Dần Bản án

Trang 9

phúc thẩm số 52/LHPT của TAND thành phố Hà Nội đã hủy phần bản án về nhà, đất để cấp sơ thẩm điều tra, xét xự lại

_ Thứ hai, tranh chấp về nhà ở giữa vợ chồng khi ly hôn đã phức tạp, lại

càng phức tạp hơn khi tài sản có tranh chấp không thể chia bằng hiện vật cho các bên, mà chỉ 1 bên được nhà, còn bên kia được nhận phần giá trị chênh lệch thanh toán bằng tiền (tính theo giá giao dịch thực tế trên thị trường) Tính phức tạp thể hiện ở chỗ, các bên đều muốn được chia bằng hiện vật, không muốn nhận tài san theo giá trị vì sợ thiệt thòi Trong khi đó nếu tòa án giải quyết thì quyết định của cơ quan này lại phụ thuộc nhiều vào kết luận của hội đồng định giá Chính vì vậy, TANDTC trong những năm qua đã có nhiều văn bản hướng dẫn, nhưng nhìn chung còn cần rất nhiều thời gian để giải quyết vấn đề này

_ Thứ ba, trong trường hợp vợ chồng sống trên nhà ở của bố mẹ vợ,

chồng, khi ly hôn họ có tranh chấp liên quan đến tài sản này, thì cũng là loại tranh chấp phức tạp và 1 số tòa án vẫn còn có nhiều thiếu sót, vướng mắc trong việc giải quyết loại việc này Trên thực tế, vì nhiều nguyên nhân khác nhau, 1 hiện tượng phổ biến là bố mẹ có thể tuyên bố cho vợ chồng con, nhưng chưa sang tên cho họ, khi vợ chồng con ly hôn thì bố mẹ không cho nữa hoặc các đương sự tranh chấp với nhau Giải quyết vấn đề này, 1 số tòa

án vẫn xác định nhà ở là tài sản của vợ chồng dẫn tới việc vi phạm các quy định có liên quan trong BLDS và các VBPL khác VD: tranh chấp tài sản ly hôn giữa anh Hà Như Quang và chị Nguyễn Thị Mai Hương, trú tại số 42, tổ

13, phường Châu Mát, thị xã Hòa Bình Vợ chồng anh chị sống trên nhà, đất của ông Ngọc, cha nuôi chị Hương từ năm 1989 Giấy tờ nhà, đất mang tên ông Ngọc Trong cả bản án sơ thẩm số 16/DSST của TAND thị xã Hòa Bình

và bản án phúc thẩm số 19/DSPT đều quyết định chia nhà, đất của ông Ngọc cho chị Hương và anh Quang Quyết định của 2 cấp là hoàn toàn trái với quy định tại khoản 1 điều 467 BLDS năm 2005: việc tặng cho BĐS phải được lập thành văn bản có chứng nhận của công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu theo quy định của PL BĐS phải đăng ký quyền sở hữu Do đó, ngày 26/6/2001 theo kiến nghị của Phó chánh án TANDTC, tòa dân sự TANDTC đã ra quyết định 128 hủy bản án ở cả 2 cấp đối với phần phân chia nhà, dất Giao hồ sơ vụ án cho TAND thị xã Hòa Bình xét xử lại theo trình

tự sơ thẩm

2. Đường lối giải quyết tranh chấp về nhà ở của vợ chồng khi ly hôn:

Nhà ở là tàu sản lớn và có vai trò đặc biệt quan trọng, thường là nguyên nhân phát sinh tranh chấp tài sản khi ly hôn Do vậy, Luật hôn nhân và gia đình đã quy định về quyền sử dụng đất tại điều 97, 97, 99 Tòa án cần linh hoạt trong từng trường hợp cụ thể, đồng thời kết hợp các quy định của

Trang 10

BLDS, LĐĐ, các báo cáo tổng kết các ngành tòa án của TANDTC, các nghị định, nghị quyết liên quan

Cũng như những loại tài sản khác, nếu nhà ở do 1 bên mua trước khi kết hôn, sau khi kết hôn đã có sự thỏa thuận về việc nhập nhà ở vào tài sản chung của vợ chồng thì đó là tài sản chung Trong thực tế, nhà ở là tài sản chung của vợ chồng có nhiều loại, như nhà do 2 vợ chồng xây dựng, nhà do cha mẹ cho 2 vợ chồng… Về nguyên tắc, nhà ở do thuộc sở hữu chung của 2

vợ chồng thì mới chia, nếu nhà đó có thể chia được thì sẽ áp dụng điều 95 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Khi chia nhà ở cần phải xem xét, 2 vợ chồng có thực sự ở nhà đó từ trước cho đến khi ly hôn hay có nơi ở khác, có cha mẹ ở cùng không…

• TH1: người chồng, người vợ thoát lygia đình đi công tác xa, chỉ có 1 mình người vợ hoặc chồng ở nhà, gia đình không còn cha mẹ, lâu nay vẫn ở trong nhà, khi ly hôn nên: cho người chồng hoặc vợ ở nhà; người thoát ly nhận tài sản bằng hiện vật hoặc có giá trị tương đương với quyền lợi được hưởng

• TH2: 2 vợ chồng ở chung thì phải xem xét cụ thể: ai cần nhà hơn, ai khó khăn hơn sau khi ly hôn để từ đó giao nhà Nếu 2 bên thực sự khó khăn thì ngăn nhà chia cho 2 bên sử dụng Diện tích nhiều hay ít phụ thuộc vào việc nuôi con, cha mẹ…mà không cứ phải chia đôi

• TH3: nhà không chia được do diện tích nhỏ, nếu cố chia không đảm bảo chỗ hoặc do mâu thuẫn quá sâu sắc: ưu tiên người khó khăn hơn; người không được chia nhận khoản tiền do bên được chia tương xứng với quyền lợi được hưởng

• TH4: nhà ở thành phố, thị xã nên giải quyết chia nhà để mỗi bên 1 phần Diện tích nhiều hay ít phụ thuộc vào mỗi bên Việc chia nhà cho 1 bên chỉ nên hạn chế Trong trường hợp vợ chồng tự thỏa thuận hoặc vì nhà quá chật mà bên kia lại có điều kiện tìm nơi ở khác

Trên đây là một số đường lối giải quyết tranh chấp về nhà ở của vợ chồng khi ly hôn Để giải quyết sao cho hợp lý, hợp tình, đảm bảo được quyền lợi của vợ chồng và người có liên quan không phải đơn giản Từ đó đòi hỏi phải

có đường lối giải quyết đúng và có hiệu quả nhất, vừa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người vợ, người chồng, của người thứ ba, vừa đảm bảo hiệu lực của pháp luật nhằm củng cố niềm tin trong nhân dân nói chung, từng cặp vợ chồng nói riêng vào sự công bằng của hệ thống cơ quan thực thi pháp luật

KẾT LUẬN

Ngày đăng: 26/10/2012, 14:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w