1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thủ tục sơ thẩm trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại từ thực tiễn tòa án nhân dân tỉnh nam định

78 84 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 814,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc biệt, qua nghiên cứu thực trạng giải quyết VAKDTM theo thủ tục sơ thẩm tại Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Nam Định – là một tỉnh nơi tác giả đang sinh sống và làm việc, tác giả còn nhậ

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực

Hà Nội, ngày tháng năm 20

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Phạm Thúy Nga

Trang 4

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Lãnh đạo và cán bộ Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định đã tạo điều kiện và hỗ trợ tôi về tài liệu vụ việc thực tế, số liệu thống kê có giá trị trong quá trình nghiên cứu của tôi

Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn ủng hộ, động viên, tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn

Hà Nội, ngày tháng năm 20

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Phạm Thúy Nga

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1:NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ THỦ TỤC SƠ THẨM TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤPKINH DOANH THƯƠNG MẠI 9

1.1 Những vấn đề lý luận cơ bản về thủ tục sơ thẩm trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại 9

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của thủ tục sơ thẩm trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại 9

1.1.2 Cơ sở của việc quy định về thủ tục sơ thẩm trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại 17

1.1.3 Qúa trình hình thành và phát triển của pháp luật tố tụng dân sự về thủ tục sơ thẩm dân sự nói chung, về thủ tục sơ thẩm trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại nói riêng 20

1.2 Quy định của pháp luật hiện hành về thủ tục sơ thẩm trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại 24

1.2.1 Nhận, xử lý và thụ lý đơn khởi kiện vụ án kinh doanh thương mại 25

1.2.2 Chuẩn bị xét xử và hòa giải vụ án kinh doanh thương mại 31

1.2.3 Mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại 39

CHƯƠNG 2:THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT THEO THỦ TỤC SƠ THẨM VỤ ÁN KINH DOANH THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN HAI CẤP TỈNH NAM ĐỊNH VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA THỦ TỤC SƠ THẨM TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI 46

2.1 Thực tiễn giải quyết theo thủ tục sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại tại tỉnh Nam Định 46

Trang 6

2.2 Những kết quả đạt được và những vướng mắc, tồn tại trong giải quyết theo thủ tục sơ thẩm tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định

50

2.2.1 Những kết quả đạt được 50

2.2.2 Những tồn tại, vướng mắc 56

2.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của thủ tục sơ thẩm trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại 60

2.3.1 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về thủ tục sơ thẩm 60

2.3.2 Kiến nghị về thực hiện pháp luật 64

KẾT LUẬN 68

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 69

Trang 7

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT

BLTTDS Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 TAND Tòa án nhân dân

HĐXX Hội đồng xét xử KDTM Kinh doanh thương mại VAKDTM Vụ án kinh doanh, thương mại

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Hiện nay, trên thế giới cũng như tại Việt Nam, sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường đã làm nảy sinh nhiều quan hệ kinh doanh thương Đặc biệt, ở Việt Nam, để tồn tại và phát triển trong bối cảnh nền kinh tế nhiều thành phần được quản lý theo cơ chế thị trường, các nhà kinh doanh thường phải hợp tác chặt chẽ, giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau Tuy nhiên, vì nhiều lý do chủ quan và khách quan khác nhau, giữa các nhà kinh doanh cũng có khi phát sinh mâu thuẫn, tranh chấp về quyền, lợi ích kinh doanh thương mại Thực tiễn cho thấy ngày càng nhiều các tranh chấp kinh doanh thương mại nảy sinh, đòi hỏi nhà nước với tư cách là chủ thể quản lý xã hội phải đề

ra những phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại một cách phù hợp, có hiệu quả và không ảnh hưởng hoặc ảnh hưởng không nhiều đến hoạt động kinh doanh của các chủ thể Các phương thức giải quyết tranh chấp KDTM như tự thương lượng, hòa giải, yêu cầu trọng tài giải quyết hay yêu cầu Tòa án giải quyết đã ra đời và được ghi nhận trong hệ thống pháp luật Trong các phương thức giải quyết này thì phương thức giải quyết tranh chấp KDTM bằng con đường tố tụng tại Tòa án đã thể hiện được nhiều ưu điểm và được áp dụng phổ biến trên thế giới cũng như tại Việt nam

Ở Việt nam, với cơ chế giải quyết theo nguyên tắc Tòa án phải bảo đảm chế

độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm1, việc giải quyết các tranh chấp KDTM (là vụ án kinh doanh thương mại sau khi được tòa án thụ lý) đã góp phần quan trọng trong việc xây dựng một môi trường KDTM lành mạnh, tạo cơ sở vững chắc cho sự phát triển của nền kinh tế thị trường Với nguyên tắc này, sau khi Tòa án thụ lý vụ án KDTM, các

vụ án này sẽ được Tòa án giải quyết lần đầu tiên theo thủ tục sơ thẩm, bao gồm một trình tự các thủ tục do pháp luật quy định, nhằm bảo đảm tính khách quan, minh bạch, tôn trọng quyền tự định đoạt của các chủ thể có quyền, lợi ích về KDTM trong vụ án

1 Điều 17 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

Trang 9

Với ý nghĩa rất quan trọng đó, thủ tục sơ thẩm trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại hay còn gọi là thủ tục sơ thẩm trong giải quyết vụ án kinh doanh thương mại (VAKDTM) đã được quy định trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, đặc biệt

là trong Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam Theo tư tưởng lập pháp của Việt Nam thì các quan hệ KDTM là một phần của các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng (chỉ không bao gồm hình sự và hành chính), vì thế hiện nay thủ tục giải quyết tranh chấp KDTM được quy định chung trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS) So với Bộ luật tố tụng dân sự trước đây là Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam năm 2004, được sửa đổi, bổ sung năm 2011 thì BLTTDS năm 2015 đã quy định đầy đủ hơn, phù hợp hơn

về thủ tục sơ thẩm dân sự mà trong đó có VAKDTM Tuy nhiên, qua một thời gian thực hiện, BLTTDS hiện hành vẫn bộc lộ những hạn chế, vướng mắc rất cần được nghiên cứu để tìm ra hướng hoàn thiện Đặc biệt, qua nghiên cứu thực trạng giải quyết VAKDTM theo thủ tục sơ thẩm tại Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Nam Định – là một tỉnh nơi tác giả đang sinh sống và làm việc, tác giả còn nhận thấy ngoài lý do những

lý do như các tranh chấp KDTM gia tăng, quy định của BLTTDS về thẩm quyền giải quyết tranh chấp KDTM còn chưa rõ, những hạn chế, vướng mắc trong các quy định của BLTTDS gây nhiều khó khăn cho công tác sơ thẩm các VAKDTM thì việc thực hiện thủ tục sơ thẩm trong giải quyết tranh chấp KDTM của Tòa án chưa đạt được hiệu quả như mong muốn còn xuất phát từ một số lý do khách quan và chủ quan khác

Để chỉ ra đầy đủ những nguyên nhân dẫn đến hiệu quả của thủ tục sơ thẩm VAKDTM chưa đạt hiệu quả như mong muốn, từ đó đề xuất các giải pháp khắc phục, tháo gỡ

nên tác giả đã quyết định chọn đề tài “Thủ tục sơ thẩm trong giải quyết tranh chấp

kinh doanh thương mại từ thực tiễn Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định” làm đề tài tốt

nghiệp thạc sĩ Luật học của mình Do thời gian thực hiện luận văn có hạn, do thực tiễn giải quyết theo thủ tục sơ thẩm các vụ án KDTM là khá tộng và phúc tạp nên tác giả chỉ đề cập, nghiên cứu thực tiễn thực hiện thủ tục sơ thẩm tranh chấp KDTM tại Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định để các phân tích, đánh giá về thực tiễn thực hiện được chân thực và sâu sát hơn

Trang 10

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Thủ tục sơ thẩm dân sự nói chung hay thủ tục sơ thẩm trong giải quyết tranh chấp KDTM nói riêng không phải là một vấn đề nghiên cứu khoa học Luật hoàn toàn mới Từ trước đến nay ở nước ta đã có khá nhiều công trình nghiên cứu khoa học có

đề cập đến vấn đề này Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu như:

- Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam của các cơ sở đào tạo luật như của Trường Đại học Luật Hà Nội, của Bộ Giaó dục và đào tạo, của Khoa luật thuộc Đại học quốc gia Hà Nội, của Trường Đại học Mở Hà Nội… Các giáo trình này đều có viết về thủ tục sơ thẩm dân sự (trong đó có VAKDTM) Những tài liệu này cung cấp các kiến thức chung nhất về thủ tục sơ thẩm dân sự, tuy nhiên các kiến thức này mới chỉ dừng ở mức độ là các kiến thức đại cương về thủ tục sơ thẩm dân sự như khái niệm, ý nghĩa của thủ tục sơ thẩm, nguyên tắc tiến hành phiên tòa sơ thẩm, các bước trong thủ tục sơ thẩm…

- Các cuốn Bình luận khoa học luật tố tụng dân sự như “Bình luận khoa học

Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015” do TS Bùi Thị Huyền chủ biên xuất bản bởi Nhà xuất bản Lao Động; “Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng dân sự của nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt nam năm 2015” do PGS.TS Trần Anh Tuấn chủ biên xuất bản bởi Nhà xuất bản Sự thật… Các tài liệu này bình luận các nội dung của Bộ luật tố tụng dân sự nên cũng chỉ dành một phần bình luận về thủ tục sơ thẩm vụ án dân sự

- Các sách chuyên khảo nghiên cứu chuyên sâu về thủ tục sơ thẩm vụ án dân

sự, ví dụ cuốn “Phiên tòa sơ thẩm dân sự - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Bùi Thị Huyền xuất bản bởi nhà xuất bản Sự thật Trong cuốn sách này tác giả nghiên cứu rất sâu sắc về phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự và đã giải quyết tương đối hoàn chỉnh các vấn đề liên quan đến phiên tòa sơ thẩm dân sự, trong đó có phiên tòa KDTM Tuy nhiên, cuốn sách này mới chỉ nghiên cứu chuyên sâu về phiên tòa sơ thẩm, tức mới nghiên cứu về một giai đoạn tố tụng của thủ tục sơ thẩm, mặt khác tác giả tiếp cận các điều luật là Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 thì cho đến nay các điều

Trang 11

luật này đã hết hiệu lực pháp luật, vì thế đến nay việc tiếp cận thủ tục sơ thẩm cần có tính kịp thời hơn

- Một số luận văn thạc sĩ cũng nghiên cứu về những nội dung có liên quan đến thủ tục sơ thẩm, đó là luận văn “Thủ tục phiên tòa dân sự sơ thẩm và thực tiễn áp dụng tại tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn” của tác giả Hoàng Thị Thanh bảo vệ thành công năm 2018; Luận văn “Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân

sự và thực tiễn áp dụng tại tòa án nhân dân thành phố Thái Bình” của tác giả Trần Thị Tuyết Trinh bảo vệ thành công năm 2018; Luận văn “Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự ở tòa án cấp sơ thẩm và thực tiễn thực hiện tại tòa án” của tác giả Tạ Thị Thùy Linh bảo vệ thành công năm 2017; Luận văn “Giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm tại Tòa án từ thực tiễn tại Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh” của tác giả Nguyễn Minh Thương bảo vệ thành công năm 2018… Các luận văn này không có định hướng nghiên cứu tổng thể về thủ tục sơ thẩm vụ án dân

sự nói chung, VAKDTM nói riêng mà chỉ nghiên cứu một vài nội dung của thủ tục

sơ thẩm vụ án dân sự nói chung

Nhìn chung, qua nghiên cứu nội dung các công trình nghiên cứu đã kể trên thì tác giả nhận thấy các công trình nghiên cứu trên đã nghiên cứu về thủ tục sơ thẩm dân sự nói chung, trong đó có thủ tục sơ thẩm trong giải quyết tranh chấp KDTM nói riêng dưới nhiều góc độ khác nhau, với nhiều quan điểm khác nhau Chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách tổng thể về thủ tục sơ thẩm trong giải quyết tranh chấp KDTM và khảo sát thực tiễn áp dụng tại tỉnh Nam Định Đặc biệt, một số công trình nghiên cứu thực hiện khi BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) còn hiệu lực, vì thế đến nay chỉ còn giá trị tham khảo Xác định được như vậy, em nhận thấy cần nghiên cứu tổng thể về thủ tục sơ thẩm trong giải quyết tranh chấp KDTM

để trước hết có những kiến thức lý luận, sau đó nghiên cứu thực trạng pháp luật hiện hành, những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn, từ đó đề xuất giải pháp khắc phục nhằm làm cho thủ tục sơ thẩm VAKDTM có hiệu quả cao hơn nữa trong thực tiễn Như vậy, trên cơ sở kế thừa thành quả nghiên cứu của các công trình khoa học trước đây về vấn đề này, luận văn của em hy vọng sẽ giải quyết cả về lý luận, cả về thực

Trang 12

tiễn thực hiện thủ tục sơ thẩm trong giả quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Nam Định trong thời gian gần đây

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Để đạt được các mục đích trên, luận văn cần tập trung vào các nhiệm vụ chủ yếu sau:

- Xây dựng được khái niệm, chỉ ra các đặc điểm, phân tích được ý nghĩa của thủ tục sơ thẩm trong giải quyết tranh chấp KDTM (hay thủ tục sơ thẩm VAKDTM); Làm rõ cơ sở của việc quy định thủ tục sơ thẩm VAKDTM và sự phát triển của chế định thủ tục sơ thẩm VAKDTM

- Nêu và phân tích được các quy định của BLTTDS hiện hành về thủ tục sơ thẩm VAKDTM

- Khảo sát, phân tích và đánh giá thực tiễn giải quyết các VAKDTM tại Tòa

án nhân dân hai cấp tỉnh Nam Đinh để từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về thủ tục sơ thẩm và một số giải pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả của thủ tục sơ thẩm trong giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định nói riêng cũng như tại các tòa án có thẩm quyền sơ thẩm trên phạm vi toàn quốc nói chung

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1.Đối tượng nghiên cứu:

Luận văn có đối tượng nghiên cứu là:

Trang 13

- Các học thuyết pháp lý về tố tụng dân sự có liên quan đến thủ tục sơ thẩm dân sự, các văn bản pháp luật quy định về thủ tục tố tụng dân sự sơ thẩm qua các thời

kỳ khác nhau, đặc biệt là các quy định về thủ tục sơ thẩm vụ án dân sự của BLTTDS

- Thực tiễn giải quyết theo thủ tục sơ thẩm trong giải quyết tranh chấp KDTM tại TAND hai cấp tỉnh Nam Định

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

Đề tài trong luận văn được nghiên cứu chủ yếu dưới góc độ pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật nhưng không nghiên cứu sâu các quy định của pháp luật nội dung về KDTM mà chỉ tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật tố tụng dân

sự về giải quyết VAKDTM tại Tòa án theo thủ tục sơ thẩm

Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu trình tự, thủ tục giải quyết VAKDTM tại Tòa án theo thủ tục sơ thẩm dân sự thông thường mà không nghiên cứu về thủ tục sơ thẩm VAKDTM theo thủ tục rút gọn

Về thực tiễn thì luận văn chỉ tập trung nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định về thủ tục sơ thẩm VAKDTM tại TAND hai cấp tỉnh Nam Đinh trong giai đoạn gần đây, từ năm 2016 đến năm 2018

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận:

Luận văn dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, các quan điểm của Đảng và Nhà nước về giải quyết vụ án dân sự nói chung và giải quyết tranh chấp KDTM nói riêng

5.2 Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử như:

Trang 14

- Phương pháp phân tích, phương pháp bình luận, phương pháp tổng hợp, phương pháp lịch sử… được sử dụng trong chương 1 để nghiên cứu các vấn đề lý luận về thủ tục sơ thẩm các VAKDTM tại Tòa

- Phương pháp so sánh luật học, phương pháp đánh giá, phương pháp phân tích, phương pháp bình luận… được sử dụng trong chương 2 để tìm hiểu các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về trình tự, thủ tục sơ thẩm giải quyết các VAKDTM tại Tòa án

- Phương pháp thống kê, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp quan sát… được sử dụng trong chương 3 để đánh giá thực trạng giải quyết tranh chấp KDTM theo thủ tục sơ thẩm tại TAND tỉnh Nam Định, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về thủ tục sơ thẩm VAKDTM và một số giải pháp khác

để nâng cao hiệu quả của thủ tục sơ thẩm trong giải quyết tranh chấp KDTM

6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của công trình nghiên cứu

6.1.Ý nghĩa lí luận:

Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về thủ tục sơ thẩm VAKDTM, các phân tích và bình luận về quy định của BLTTDS về thủ tục sơ thẩm dân sự, các giải pháp nâng cao hiệu quả của thủ tục sơ thẩm Do đó luận văn sẽ là một tài liệu góp phần củng cố, bổ sung thêm vào hệ thống các lý thuyết pháp lý về phương thức giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án theo thủ tục sơ thẩm

6.2 Ý nghĩa thực tiễn:

Luận văn chỉ ra những bất cập, hạn chế trong thực tiễn thực hiện quy định của BLTTDS về thủ tục sơ thẩm trong giải quyết tranh chấp KDTM, từ đó đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật cũng như những giải pháp khác nhằm góp phần nâng cao hiệu quả của thủ tục sơ thẩm VAKDTM trên phạm vi toàn quốc nói chung và trên địa bàn tỉnh Nam Định nói riêng Những kết quả nghiên cứu của luận văn có giá trị tham khảo đối với những người làm công tác nghiên cứu và áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án nhân dân Những kết luận, đề xuất mà luận văn nêu ra

Trang 15

đều có cơ sở khoa học và thực tiễn, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền có thể tham khảo để sửa đổi, hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Mục lục, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu gồm 02 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản và quy định của pháp luật hiện hành

về thủ tục sơ thẩm trong giải quyết tranh chấp KDTM

Chương 2: Thực tiễn giải quyết theo thủ tục sơ thẩm trong giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định và một số kiến nghị nhằm nâng cao

hiệu quả của thủ tục sơ thẩm VAKDTM

Trang 16

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ THỦ TỤC SƠ

THẨM TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP

KINH DOANH THƯƠNG MẠI

1.1 Những vấn đề lý luận cơ bản về thủ tục sơ thẩm trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của thủ tục sơ thẩm trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại

Để xây dựng được khái niệm về thủ tục sơ thẩm trong giải quyết tranh chấp KDTM thì trước hết phải xây dựng được khái niệm VAKDTM

VAKDTM có cơ sở hình thành từ tranh chấp về KDTM Tranh chấp KDTM

là hệ quả tất yếu của hoạt động KDTM trong nền kinh tế thị trường Theo Từ điển

tiếng Việt thông dụng, tranh chấp được hiểu là “Giành giật, giằng co nhau cái không

rõ thuộc về bên nào” hoặc được hiểu là “Bất đồng, trái ngược nhau”2 Còn trong nghiên cứu khoa học pháp lý, theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, khái niệm tranh chấp trong các lĩnh vực dân sự, kinh doanh, hợp đồng được khái quát với các

nội dung như “tranh chấp dân sự có thể hiểu là những mâu thuẫn, bất hòa về quyền

và nghĩa vụ hợp pháp giữa các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự, tranh chấp kinh doanh là những mâu thuẫn, bất đồng, xung đột giữa những chủ thể kinh doanh với nhau trong các hoạt động kinh doanh, tranh chấp hợp đồng được hiểu là những xung đột, bất đồng, mâu thuẫn giữa các bên về việc thực hiện hoặc không thực

2 Nguyễn Như Ý (2001), Từ điển tiếng Việt thông dụng, NXB.Giáo dục, Hà Nội, trang 808

Trang 17

hiện các quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng”3 Ngoài cách giải thích trên thì còn có nhiều cách giải thích khác nhau về tranh chấp KDTM, tuy nhiên đều có điểm chung

được chỉ ra đó là tranh chấp KDTM “là những bất đồng, xung đột về quyền, lợi ích

giữa các bên chủ thể trong quá trình thực hiện các hoạt động thương mại”4

So với các tranh chấp khác như tranh chấp dân sự, hôn nhân gia đình, lao động thì tranh chấp KDTM có những đặc điểm khá khác biệt như tranh chấp về thương mại phát sinh trực tiếp từ các quan hệ KDTM và luôn gắn liền với mục đích sinh lời Chủ thể của các tranh chấp KDTM thường là chủ thể kinh doanh có tư cách thương nhân có đăng ký kinh doanh hoặc có tư cách của nhà kinh doanh, đã hoặc đang tiến hành các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi như mua bán hàng hóa, cung ứng dịch

vụ, phân phối, đại diện, ký gửi, thuê và cho thuê, đầu tư tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, chuyển giao công nghệ… Lý do phát sinh tranh chấp KDTM giữa các chủ thể này là hành vi vi phạm hợp đồng KDTM hoặc vi phạm pháp luật thương mại Khi có tranh chấp KDTM xảy ra thì việc giải quyết tranh chấp này bằng phương thức nào, giải quyết ra sao là do các bên tranh chấp tự định đoạt

Tranh chấp KDTM khá đa dạng, bao gồm tranh chấp phát sinh trong hoạt động KDTM giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận; tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận; tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty, tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập,

3 Trường Đại học Luật Hà Nội (1999), Từ điển Giải thích Thuật ngữ luật học, NXB.Công

an nhân dân, Hà Nội, trang 35

4 Nguyễn Hoàng Hải (2017), Hòa giải trong giải quyết tranh chấp thương mại từ thực tiễn

tòa án thành phố Hải Phòng, Luận văn thạc sĩ luật học, trang 7

Trang 18

hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty

Vì tranh chấp KDTM là tranh chấp mang yếu tố vật chất, thường có giá trị lớn

và mục đích của các bên tranh chấp đều hướng tới việc tìm kiếm, bảo vệ lợi nhuận nên so với các tranh chấp khác, tranh chấp KDTM thường có mức độ gay gắt, tính chất phức tạp hơn, thậm chí tranh chấp thương mại không được giải quyết kịp thời sẽ dẫn đến những tổn thất về mặt kinh tế không chỉ cho các bên tranh chấp mà còn gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của nền kinh tế địa phương hoặc nền kinh tế quốc gia Vì thế, việc giải quyết tranh chấp KDTM nhằm loại bỏ những mâu thuẫn, xung đột về mặt lợi ích kinh tế, từ đó bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của các chủ thể đòi hỏi phải đa dạng nhưng hiệu quả, nhanh chóng nhưng phải chính xác,

khách quan

Thực tiễn giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại cho thấy tranh chấp KDTM có thể được giải quyết bằng nhiều phương thức khác nhau như các bên tự thỏa thuận, các bên hòa giải với nhau thông qua bên thứ ba, giải quyết tại trọng tại thương mại theo cơ chế tài phán tư hoặc giải quyết tại Tòa án bằng cơ chế tài phán công Mỗi phương thưc giải quyết đều có những ưu điểm riêng song phương thức giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án đã thể hiện được nhiều ưu điểm, được một

hoặc các bên tranh chấp lựa chọn áp dụng ngày càng nhiều Giải quyết tranh chấp

KDTM tại Toà án là hình thức giải quyết thông qua hoạt động của cơ quan tài phán của nhà nước có thẩm quyền Toà án là một thiết chế của Nhà nước, hoạt động của Toà án mang tính kỹ năng nghề nghiệp cao, hoạt động của Tòa án độc lập với hệ thống cơ quan quản lý Toà án với một đội ngũ Thẩm phán có năng lực, trình độ và

kỹ năng xét xử và khi “Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”5 nên hoạt động xét xử của Tòa án đảm bảo tính chính xác, công minh Tòa

án xét xử nhân danh quyền lực Nhà nước, phán quyết của Tòa án khi có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan Nhà nước, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan thi hành,

5 Điều 12 Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam năm 2015

Trang 19

nếu không sẽ bị cưỡng chế thi hành, vì thế kết quả giải quyết VAKDTM của Tòa án được đảm bảo bằng quyền lực Nhà nước, thể hiện tính nghiêm minh, tuân thủ pháp luật Hơn nữa, việc xét xử của Toà án là công khai, minh bạch, người dân và công luận xã hội có thể giám sát nên phán quyết của Toà án có tính thuyết phục cao đối với các bên đương sự

Để việc giải quyết tranh chấp KDTM được nhanh chóng, khách quan, bảo vệ công bằng, bình đẳng quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong VAKDTM thì việc giải quyết của tòa án phải tuân theo một trình tự các thủ tục do pháp luật quy định và phải tuân theo những nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng dân sự Trình

tự các thủ tục tố tụng mà tòa án cần phải tiến hành bao gồm nhận và xử lý đơn khởi kiện để thụ lý VAKDTM, chuẩn bị xét xử VAKDTM, hòa giải các bên đương sự trong VAKDTM trước khi mở phiên tòa sơ thẩm, mở phiên tòa sơ thẩm để công khai xem xét chứng cứ, ra phán quyết giải quyết nội dung tranh chấp KDTM Chính trình

tự các thủ tục từ khi Tòa án nhận đơn khởi kiện đến khi Tòa án ra phán quyết giải quyết về nội dung vụ án này được gọi khái quát là thủ tục sơ thẩm VAKDTM

Theo giải thích trong Từ điển Hán Việt, “sơ thẩm” được giải thích “là xét xử

lần đầu tiên, lần thứ nhất”6 Tương tự như vậy, Đại Từ điển tiếng Việt cũng giải thích

sơ thẩm là “xét xử lần đầu một vụ việc ở tòa án cấp thấp”7 Còn trong Từ điển thuật

ngữ luật học thì sơ thẩm là “xét xử lần đầu vụ án dân sự”8 Về thuật ngữ “thủ tục” thì

các kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng “thủ tục có nguồn gốc từ tiếng Nhật Bản, được

hiểu là một thể thức phải làm để đạt được một kết quả nhất định”9, hoặc là “cách

thức, trình tự và nghi thức tiến hành xem xét một vụ việc hoặc giải quyết một vụ án

đã được thụ lý hoặc khởi tố theo các quy định của pháp luật”10, hay “là những bước

7 Nguyễn Như Ý (1998), Đại Từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, tr.1460

8 Trường Đại học Luật Hà Nội (1999), Từ điển Giải thích Thuật ngữ luật học, NXB.Công an nhân

dân, Hà Nội, Trang 224

9 Nguyễn Huy Đẩu (1962), Luật dân sự tố tụng Việt Nam, xuất bản dưới sựu bảo trợ của Bộ Tư pháp, trang 4

10 Trường Đại học Luật Hà Nội (1999), Từ điển Giải thích Thuật ngữ luật học, NXB.Công an nhân

dân, Hà Nội, Trang 224

Trang 20

tiến hành mang tính hình thức mà thông qua đó vụ kiện được giải quyết”11 Từ những giải thích trên có thể thấy thủ tục sơ thẩm là một trình tự các bước mà Tòa án phải tiến hành theo quy định của pháp luật để xét xử lần đầu đối với vụ án phát sinh tại Tòa án Theo một cách diễn đạt khác thì thủ tục sơ thẩm là cách thức Tòa án giải quyết lần đầu đối với vụ án, theo đó Tòa án phải tiến hành một trình tự các hoạt động

tố tụng khác nhau để xét xử được vụ án Giải thích được như vậy thì khái niệm về thủ

tục sơ thẩm VAKDTM có thể được hiểu như sau:

Thủ tục sơ thẩm VAKDTM là cách thức Tòa án tiến hành một trình tự các hoạt động tố tụng dân sự theo quy định của pháp luật để xét xử lần đầu tranh chấp KDTM

đã được Tòa án thụ lý, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên chủ thể trong quan hệ KDTM

* Đặc điểm của thủ tục sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại

- Thủ tục sơ thẩm VAKDTM thể hiện cách thức giải quyết của Tòa án đối với VAKDTM nhưng vẫn tôn trọng quyền định đoạt của các bên chủ thể trong VAKDTM

Khác với các cách thức giải quyết khác như tự thỏa thuận, hòa giải bởi bên thứ

ba hay sử dụng thiết chế tư là trọng tài thì nói đến thủ tục sơ thẩm VAKDTM là nói đến việc giải quyết tranh chấp KDTM gắn liền với thẩm quyền của Tòa án, diễn ra tại Tòa án, do Tòa án tiến hành Điều này cũng có nghĩa một hoặc các bên tranh chấp KDTM đã lựa chọn Tòa án là nơi giải quyết tranh chấp, họ đã khởi kiện yêu cầu tòa

án giải quyết và Tòa án đã thụ lý giải quyết tranh chấp, KDTM đó Sau khi Tòa án thụ lý, VAKDTM sẽ được Tòa án giải quyết theo một trình tự tố tụng dân sự mà pháp luật đã quy định Việc giải quyết này của Tòa án không chỉ tuân thủ pháp luật tố tụng dân sự mà việc giải quyết này còn chịu sự điều chỉnh của nhiều văn bản pháp luật nội dung có liên quan như Bộ luật dân sự, Luật thương mại, luật Doanh nghiệp Như vậy, việc giải quyết VAKDTM của Tòa án chịu sự điều chỉnh của cả pháp luật nội

11 Oxford Reference (1994), A dictionary of law, Oxford University Press, New York, trang

308

Trang 21

dung và luật hình thức Về hình thức, việc giải quyết các VAKDTM phải tuân thủ nghiêm túc các quy định về trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự của Bộ luật tố tụng dân sự Về mặt nội dung, để xác định chứng cứ cũng như xác định các quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự khi tham gia tố tụng thì việc giải quyết các VAKDTM phải căn cứ vào các quy đinh của Luật thương mại, Luật Doanh nghiệp, Luật đầu tư… Ngoài ra, do KDTM quyết định đến sự phát trển của nền kinh tế quốc gia nên trong quá trình giải quyết VAKDTM, có thể Tòa án còn phải căn cứ vào quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng nhà nước, căn cứ vào tình hình thực tiễn tại từng giai đoạn kinh tế đất nước để có phán quyết phù hợp, hợp tình, hợp

Tuy thủ tục sơ thẩm VAKDTM thể hiện cách thức giải quyết của Tòa án đối với VAKDTM nhưng trong quá trình Tòa án giải quyết thì các bên đương sự trong VAKDTM vẫn có quyền tự định đoạt theo quy định của pháp luật và Tòa án phải tôn trọng quyền tự định đoạt đó Cụ thể là dù người khởi kiện đã khởi kiện, yêu cầu Tòa

án giải quyết tranh chấp KDTM, Tòa án đã thụ lý giải quyết nhưng chủ thể khởi kiện vẫn có quyền thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu khởi kiện và khi đó Tòa án vẫn phải chấp nhận việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu khởi kiện đó Hay các bên đương sự trong VAKDTM có quyền thỏa thuận với nhau về giải quyết vụ án và tòa án phải công nhận

sự thỏa thuận đó (trừ khi thỏa thuận đó là vi phạm điều cấm của luật hoặc vi phạm đạo đức xã hội)

- Thủ tục sơ thẩm VAKDTM thể hiện cách thức giải quyết lần đầu của Tòa án đối với VAKDTM

Giải quyết lần đầu vừa là đặc điểm, vừa là tính chất của thủ tục sơ thẩm Thủ tục sơ thẩm VAKDTM chính là cách thức giải quyết lần đầu tiên của Tòa án đối với VAKDTM đã được Tòa án thụ lý Ở Việt Nam, việc giải quyết các tranh chấp tại Tòa

án được thực hiện theo chế độ hai cấp xét xử là xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm Cũng như nhiều quốc gia khác, xét xử sơ thẩm, phúc thẩm (nếu có căn cứ) là một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam được quy định

Trang 22

tại khoản 6 Điều 103 Hiến pháp năm 2013, Điều 6 Luật tổ chức TAND và Điều 17 BLTTDS, theo đó VAKDTM sẽ được Tòa án giải quyết, nếu sau khi giải quyết mà

có yêu cầu giải quyết lại thì VAKDTM sẽ được giải quyết lại một lần nữa theo thủ tục phúc thẩm Như vậy, khác với thủ tục phúc thẩm là lần giải quyết lại, thủ tục sơ thẩm VAKDTM là lần giải quyết đầu tiên của Tòa án về VAKDTM Để phân biệt thủ tục sơ thẩm và phúc phẩm VAKDTM thì ngoài việc phân biệt về tính chất (thủ tục sơ thẩm là xét xử lần đầu, phúc thẩm là xét xử lại vụ án đã được cấp sơ thẩm giải quyết) thì còn phân biệt về thẩm quyền, đó là thủ tục sơ thẩm chủ yếu thuộc thẩm thẩm quyền của Tòa án cấp huyện, trong một số trường hợp thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp tỉnh, còn thủ tục phúc thẩm thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp trên trực tiếp của Tòa án đã xét xử sơ thẩm (Tòa án cấp tỉnh hoặc Tòa án cấp cao) Căn cứ phát sinh của thủ tục sơ thẩm VAKDTM là do có đơn khởi kiện, còn căn cứu phát sinh thủ tục phúc thẩm VAKDTM là do có đơn kháng cáo của các đương sự hoặc quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát

- Thủ tục sơ thẩm VAKDTM bao gồm một trình tự các bước do pháp luật quy định được Tòa án tiến hành để giải quyết VAKDTM

Thủ tục sơ thẩm VAKDTM được Tòa án thực hiện để giải quyết được, giải quyết đúng và giải quyết khách quan VAKDTM Để việc giải quyết VAKDTM của Tòa đáp ứng được các yêu cầu trên thì việc giải quyết của Tòa án theo thủ tục sơ thẩm phải tuân theo một trình tự các bước do pháp luật tố tụng dân sự quy định mà đầu tiên

là thủ tục nhận đơn khởi kiện và thụ lý đơn khởi kiện về KDTM Dựa trên quyền tự định đoạt của người có quyền, lợi ích thì VAKDTM chỉ phát sinh tại Tòa án khi có đơn khởi kiện của người khởi kiện và đơn đó được tòa án thụ lý Sau khi thụ lý VAKDTM, Tòa án không thể xét xử ngay được mà Tòa án cần phải tiến hành các hoạt động chuẩn bị xét xử như phân công Thẩm phán giải quyết vụ án, nghiên cứu và hoàn thiện hồ sơ vụ án, tiếp nhận và thu thập chứng cứ, ra các quyết định tố tụng cần thiết Trước khi xét xử, Tòa án còn cần phải kiểm tra xem liệu đương sự có thỏa thuận được với nhau để tự giải quyết hay không, chính vì thế Tòa án cần phải hòa giải các bên trong VAKDTM, trừ một số trường hợp không được hòa giải hoặc không tiến

Trang 23

hành hòa giải được Sau khi hòa giải nhưng không thành, mặt khác đã hết thời hạn chuẩn bị xét xử, thủ tục sơ thẩm VAKDTM sẽ được Tòa án thực hiện tiếp nối bằng việc mở phiên tòa sơ thẩm Phiên tòa sơ thẩm được tổ chức công khai, chính thức giải quyết yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện dựa trên chứng cứ, lý lẽ của các bên đương sự và Tòa án sẽ ra phán quyết giải quyết vụ án kinh, thương mại Như vậy, thủ tục sơ thẩm VAKDTM do Tòa án tiến hành phải bao gồm một trình tự các bước nhận

và thụ lý đơn khởi kiện, chuẩn bị xét xử, hòa giải và phiên tòa sơ thẩm Phiên tòa sơ thẩm VAKDTM chỉ là một bước cuối cùng trong thủ tục sơ thẩm

* Ý nghĩa của thủ tục sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại

- Về phương diện pháp lý:

Thủ tục sơ thẩm VAKDTM có ý nghĩa rất quan trọng trong tố tụng dân sự bởi

nó thể hiện phương thức giải quyết đúng đắn, khách quan, và công khai của Tòa án với vai trò là cơ quan đại diện của Nhà nước Đây cũng chính là ưu điểm nổi bật của thủ tục sơ thẩm VAKDTM Các quy định của pháp luật về thủ tục này đã chứng tỏ Việt nam là một đất nước tuân thủ pháp luật, tôn trọng và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân

Với tính chất là lần giải quyết đầu tiên của Tòa án, thủ tục sơ thẩm VAKDTM còn có ý nghĩa là thủ tục trọng tâm, có tính quyết định bởi nếu thủ tục giải quyết lần đầu này thực hiện tốt thì sẽ không phát sinh các thủ tục tiếp theo, không kéo dài tố tụng, uy tín của nhà nước tăng cao

- Về phương diện chính trị, xã hội:

Thủ tục sơ thẩm VAKDTM góp phần tạo nên bức tranh về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam với đặc thù đề cao dân chủ và thượng tôn pháp luật Với thủ tục sơ thẩm được tiến hành, nhà nước đã thể hiện được vai trò ổn định các quan hệ xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong xã hội Mối quan

hệ giữa nhà nước (Tòa án đại diện) với nhân dân (các bên đương sự) được thiết lập một cách chặt chẽ, tôn trọng nhau và bảo vệ nhau, từ đó tạo cơ sở cho việc nâng cao

Trang 24

ý thức bảo vệ, bảo đảm của nhà nước, nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của công dân

- Về mặt xã hội:

Thủ tục sơ thẩm VAKDTM góp phần ổn định trật tự xã hội, củng cố niềm tin của người dân vào nhà nước Thông qua việc thự hiện thủ tục sơ thẩm VAKDTM, hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật được thực hiện một cách tự nhiên và khá hiệu quả

1.1.2 Cơ sở của việc quy định về thủ tục sơ thẩm trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại

Cách thức giải quyết các vụ án dân sự nói chung, các VAKDTM nói riêng của Tòa án cần phải được cụ thể hóa trong các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việc quy định về thủ tục sơ thẩm VAKDTM trong pháp luật tố tụng dân sự nói chung, trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam nói riêng được dựa trên những cơ sở khoa học sau:

- Thứ nhất, việc xây dựng các quy định về thủ tục sơ thẩm VAKDTM xuất

phát từ nhu cầu cần phải có cơ sở pháp lý để việc giải quyết các VAKDTM tại Tòa

án được khách quan, hợp pháp, đáp ứng nhu cầu của việc xây dựng một nhà nước Việt Nam dân chủ, pháp quyền

Tranh chấp, mâu thuẫn về quyền, lợi ích giữa các chủ thể trong xã hội là một hiện tượng tất yếu và nhà nước với công cụ riêng có của mình là pháp luật phải làm nhiệm vụ là điều chỉnh, giải quyết các tranh chấp, mâu thuẫn đó để thiết lập, duy trì trật tự trong xã hội Ý chí của nhà nước cần phải được thể chế hóa trong pháp luật Muốn giải quyết các vụ việc phát sinh trong xã hội theo mong muốn của mình thì việc giải quyết đó về cả nội dung và cách thức đều cần phải được quy định trong pháp luật của nhà nước Tuân thủ pháp luật là nguyên tắc trong mọi hoạt động của cơ quan nhà nước nên Tòa án cũng không là ngoại lệ Việc giải quyết các vụ việc của Tòa án cũng phải tuân thủ pháp luật và chỉ khi việc giải quyết tuân thủ pháp luật thì kết quả

Trang 25

của việc giải quyết đó mới được công nhận là hợp pháp Các quy định của pháp luật mới là cơ sở pháp lý hợp lệ cho việc giải quyết của Tòa án Nói theo một cách khác thì việc xây dựng các quy định của pháp luật về cách thức giải quyết vụ việc tại Tòa

án xuất phát từ nhu cầu cần phải có cơ sở pháp lý để việc giải quyết các VAKDTM tại Tòa án được khách quan, hợp pháp, đáp ứng nhu cầu của việc xây dựng một nhà nước dân chủ, pháp quyền

Theo A.I Kôvalenco,“một nhà nước pháp quyền phải là một nhà nước dựa

trên tính tối cao của pháp luật, quy định trách nhiệm tương hỗ của công dân và nhà nước trong phạm vi của pháp luật, đảm bảo các quyền và tự do của công dân, tất cả các công dân, người có chức vụ, các cơ quan, tổ chức phải có sự chấp hành và tuân thủ thường xuyên pháp luật” 12 Hiện nay, Việt Nam là một trong những nước theo

tư tưởng nhà nước pháp quyền, đang trong công cuộc từng bước xây dựng một nước pháp quyền nên việc xây dựng đầy đủ các quy phạm pháp luật tố tụng dân sự rõ ràng, hợp lý là một yêu cầu tất yếu Xây dựng nhà nước pháp quyền thì trước hết phải dựa trên nền tảng pháp luật của nhà nước Việc áp dụng pháp luật để giải quyết các vấn đề phát sinh trong xã hội là biểu hiện rõ nét nhất của sự dân chủ, tạo nên uy tín của nhà nước, bảo đảm quyền con người, quyền công dân của các chủ thể trong

vụ việc Ở Việt Nam, Đảng và nhà nước ta luôn coi phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới Cũng chính lý do này

đã giải thích tại sao giống như rất nhiều nước khác, Việt Nam thời gian qua trong các BLTTDS đều thống nhất quy định nguyên tắc tuân thủ pháp luật trong tố tụng dân sự

- Thứ hai: Xây dựng các quy định về cách thức giải quyết sơ thẩm VAKDTM

còn xuất phát từ yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự nói riêng, bảo đảm quyền con người, quyền, lơi ích hợp pháp của công dân nói chung trong TTDS

12 Nguyễn Đăng Dung (Chủ biên) (2004), Thể chế tư pháp trong nhà nước pháp quyền, Nhà xuất bản Tư pháp, trang 33

Trang 26

Tham gia tố tụng dân sự, cho dù là đương sự chủ động đi kiện, đưa ra yêu cầu

để tòa án giải quyết hay là đương sự bị động, buộc phải tham gia tố tụng để trả lời

về việc kiện thì đương sự nào trong VVDS cũng có nhu cầu cần được tòa án bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp cho mình Tuy nhiên, trước khi trông đợi tòa án bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp cho mình thì trước hết đương sự phải tự bảo vệ vì với các quyền, lợi ích dân sự đã được Nhà nước công nhận (còn gọi là quyền, lợi ích tư) thì việc bảo vệ chúng trước hết là do chính sự nỗ lực của chủ thể có quyền, lợi ích

đó Tuy nhiên, để các chủ thể này có thể tự bảo vệ được quyền, lợi ích cho mình thì Nhà nước cần phải ghi nhận rõ quyền, lợi ích cho đương sự, ghi nhận quyền được tự giải quyết của đương sự, nếu đương sự không tự giải quyết được thì tòa án đại diện cho nhà nước mới giải quyết cho đương sự Đây cũng là lý do giải thích tại sao thủ tục sơ thẩm VAKDTM lại bao gồm một quy trình các bước như nhận đơn khởi kiện, thụ lý để giải quyết, tiến hành hòa giải trước khi xét xử tại phiên tòa, khi hòa giải không thành mới mở phiên tòa xét xử Như vậy, các quy định về thủ tục sơ thẩm VAKDTM xuất phát từ yêu cầu bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, tuy nhiên, trong một số trường hợp thì việc giải quyết VAKDTM của Tòa án còn nhằm mục đích bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích nhà nước

- Thứ ba, xây dựng các quy định về cách thức giải quyết sơ thẩm VAKDTM

còn xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn tố tụng dân sự

Việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong VAKDTM trước hết

là do chính sự nỗ lực của đương sự Tuy nhiên, vì chỉ có địa vị pháp lý là người tham gia tố tụng nên việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự còn liên quan, phụ thuộc vào rất nhiều các chủ thể tiến hành tố tụng, đặc biệt là Tòa án Thực tiễn tố tụng dân sự thời gian qua cho thấy vì Tòa án được Nhà nước giao quyền lực đặc biệt nên đã dẫn đến sự lạm quyền Ví dụ như kết quả công tác thanh tra, kiểm tra, giải

quyết khhiếu nại năm 2015 cho thấy “trong số 47 trường hợp cán bộ, công chức Tòa

án có hành vi sai phạm thì xử lý cảnh cáo 13 trường hợp, khiển trách 21 trường hợp, cách chức thẩm phán 01 trường hợp, cách chức ủy viên Ban cán sự Đảng 11 trường

Trang 27

hợp, buộc thôi việc 05 trường hợp, hạ bậc lương 01 trường hợp…”13 Thực tế này cần phải được khắc phục để việc giải quyết các vụ án nói chung, VAKDTM nói riêng được khách quan, đúng đắn, từ đó đương sự thực sự được bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp Muốn khắc phục được, pháp luật tố tụng dân sự cần quy định cụ thể trình tự tố tụng sơ thẩm, quy định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể liên quan đến việc thực hiện trình tự tố tụng sơ thẩm Như vậy, ở một góc độ khác có thể nói cơ sở của việc quy định về thủ tục sơ thẩm trong pháp luật tố tụng dân sự còn xuất phát từ chính nhu cầu khắc phục thực tiễn TTDS của Việt Nam trong thời gian qua

1.1.3 Qúa trình hình thành và phát triển của pháp luật tố tụng dân sự về thủ tục

sơ thẩm dân sự nói chung, về thủ tục sơ thẩm trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại nói riêng

Khi nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật về thủ tục sơ thẩm VAKDTM thì cần phải xem xét một cách toàn diện tất cả các văn bản pháp luật

có liên quan đến thủ tục sơ thẩm dân sự Có thể khẳng định lịch sử hình thành phát triển của pháp luật tố tụng dân sự về thủ tục sơ thẩm gắn liền với quá trình hình thành

và phát triển của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam

* Giai đoạn 1945 – 1989

Cách mạng tháng Tám thành công năm 1945 không chỉ mở ra trang sử mới trong lịch sử phát triển của dân tộc, lập ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa mà còn đánh dấu một mốc mới của pháp luật Việt Nam Ngay sau khi thành lập, nhà nước ta

đã ban hành nhiều văn bản pháp luật mới trong đó có các văn bản chứa đựng các quy phạm tố tụng dân sự như Sắc lệnh số 34/SL ngày 13/4/1945 bãi bỏ hai ngạch quanhành chính và quan tư pháp; Sắc lệnh số 46/SL ngày10/10/1945 quy định tổ chức các đoàn thể luật sư; Sắc lệnh số 47/SL ngày 10/10/1945 cho tạm giữ các luật lệ hiện hành ở Bắc, Trung, Nam cho đến khi ban hành những bộ luật pháp duy nhất cho toàn quốc nếu những quy định trong luật lệ cũ không trái với nguyên tắc độc lập của nước

13 Tòa án nhân dân tối cao (2015), Tham luận tại Hội nghị triển khai công tác tìa án nhân dân năm 2015”, Hà Nội, tr.112

Trang 28

Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hòa; Sắc lệnh số 51/SL ngày 17/4/1946 ấn định thẩm quyền các tòa án; Sắc lệnh số 144.SL ngày 22/12/1949 mở rộng quyền bào chữa cho các đương sự; Sắc lệnh số 85/SL ngày 22/5/1050 về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng… Mặc dù những vấn đề về tố tụng dân sự còn được quy định một cách tản mạn trong nhiều văn bản khác nhau nhưng đó là những quy định mang tính nguyên tắc đặt nền móng cho việc xây dựng hệ thống pháp luật tố tụng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Năm 1954, cuộc kháng chiến chống Pháp thành công đã giải phóng hoàn toàn miền Bắc nhưng miền Nam vẫn bị đặt dưới sự thống trị của đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn cho đến năm 1975 Thời gian đầu chính quyền Sài Gòn vẫn áp dụng các văn bản pháp luật tố tụng được ban hành dưới thời Pháp Còn từ năm 1960 trở đi, chính quyền Sài Gòn đã ban hành nhiều văn bản tố tụng dân sự mới như Luật số I/62 ngày 08/01/1962 về quy chế luật sư và tổ chức luật sư đoàn; Sắc lệnh số 72 ngày 05/6/1970 quy định về thủ tục tố tụng của những vụ kiện điền địa; Bộ luật dân sự, thương sự tố tụng ngày 20/12/1972 Mặc dù những quy định về pháp luật tố tụng dân

sự của chính quyền Sài Gòn khá cụ thể, có nhiều tiến bộ so với pháp luật tố tụng của chính quyền phong kiến Việt Nam song chúng cũng chỉ tập trung bảo vệ lợi ích của chính quyền tay sai, phản động

Trong khi đó ở miền Bắc, sau khi hòa bình lập lại, nhà nước đã ban hành hàng loạt các văn bản tố tụng dân sự mới như thông tư của Bộ tài chính và Bộ tư pháp số 03/VHC ngày 02/4/1955 sửa đổi tạm thời lệ phí về việc hộ; Nghị định của Bộ lao động và Bộ tư pháp về hòa giải xích mích giữa chủ và người làm công; Thông tư của

Bộ tư pháp số 1828/VHC ngày 18/10/1955 về quyền chống án và thời hạn chống án… Sau khi Hiến pháp năm 1959, Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 được ban hành, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành nhiều thông tư hướng dẫn về công tác xét xử dân sự như Thông sư số 614/DS1 ngày 24/4/1963 hướng dẫn một số thủ tục tố tụng cho tòa án địa phương, Thông tư số 594/NCPL ngày 27/8/1968 hướng dẫn đường lối xét xử các việc tranh chấp về thừa kế, Thông tư số 06/TATC ngày 25/02/1974 hướng dẫn về công tác điều

Trang 29

tra trong tố tụng dân sự, Thông tư số 25/TATC ngày 30/11/1974 hướng dẫn về công tác hòa giải trong tố tụng dân sự; Thông tư số 96/NCPL ngày 08/02/1977 ban hành Bản hướng dẫn về trình tự xét xử sơ thẩm về dân sự…

Đến năm 1980 sau khi Hiến pháp được ban hành thì nhiều văn bản pháp luật quy định về tố tụng dân sự cũng được ban hành như: Thông tư số 82/TATC ngày 07/01/1982 của Tòa án nhân dân tối cao quy định về thẩm quyền của các tòa án nhân dân; Thông tư số 83/TATC ngày 02/8/1982 hướng dẫn thủ tục giám đốc thẩm dân sự

ở Tòa án nhân dân tối cao…Nhìn chung các văn bản pháp luật về tố tụng dân sự được ban hành trong thời gian từ năm 1954 đến năm 1989 đã quy định tương đối đầy đủ, hợp lý các vấn đề về tố tụng dân sự, tuy vậy những quy định này vẫn tản mạn trong nhiều văn bản khác nhau và chủ yếu được quy định trong các thông tư do Tòa án tối cao ban hành nên hiệu lực chưa cao

* Giai đoạn 1989 – 2004

Năm 1989, Hội đồng Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh thủ tục giải quyết các

vụ án dân sự, Pháp lệnh thi hành án dân sự đã tạo bước phát triển mới của pháp luật

tố tụng dân sự Việt Nam Đây là những văn bản pháp luật tố tụng dân sự đầu tiên do Nhà nước ban hành có hiệu lực cao Tiếp theo đó nhiều văn bản pháp luật khác cũng được ban hành như Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1992, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1992, Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993 Để thể chế hóa đường lối cải các tư pháp của Đảng, sau khi sửa đổi Hiến pháp năm 1992 Nhà nước

ta đã ban hành Luật Tòa án nhân dân năm 2002, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 Như vậy trong giai đoạn này nhiều văn bản pháp luật có hiệu lực cao quy định về các vấn đề về tố tụng dân sự đã được ban hành tuy nhiên các quy định này vẫn còn khá tản mạn như các giai đoạn trước

* Giai đoạn 2004 đến nay

Để tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc giải quyết các tranh chấp dân sự, ngày 15/6/2004 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI đã

Trang 30

thông qua BLTTDS đầu tiên của nước ta Bộ luật này gồm 418 điều được cơ cấu thành 09 phần, 36 chương với nội dung quy định khá đầy đủ các vấn đề về thủ tục tố tụng dân sự Sự ra đời BLTTDS năm 2004 đã đánh dấu bước phát triển của hệ thống pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, khắc phục được tình trạng tản mạn, mâu thuẫn, khiếm khuyết của các quy định tố tụng dân sự trước đây đồng thời cũng thể chế hóa được quan điểm, đường lối của Đảng về xây dựng pháp luật, cải cách tư pháp, tạo điều kiện thuân lợi cho Tòa án giải quyết nhanh chóng và đúng đắn các vụ việc dân

sự, bảo đảm cho các cá nhân, cơ quan, tổ chức bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án BLTTDS năm 2004 đã thể hiện một quy trình tố tụng dân sự được thực hiện bởi Tòa án, hướng tới đảm bảo dân chủ, công khai, minh bạch

Sau khi ban hành BLTTDS năm 2004, một loạt các văn bản hướng dẫn thi hành cũng đã được ban hành như: Nghị quyết số 742/2004/NQ-UBTVQH11 ngày 24/12/2004 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc giao thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự quy định tại Điều 33 BLTTDS cho TAND huyện, quận, thị xã , thành phố thuộc tỉnh; Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31/3/2005 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn một số quy định trong Phần thứ nhất “Những quy định chung” của BLTTDS; Nghị quyết số 04/2005/NQ-HĐTP ngày 17/9/2005 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTDS

về “Chứng minh và chứng cứ”…

Thực tiễn 10 năm thi hành, BLTTDS năm 2004 đã bộc lộ nhiều vấn đề bất cập

và để khắc phục tình trạng này, ngày 29/3/2011 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật sửa đổi bổ sung BLTTDS, có hiệu lực từ 01/01/2012 Luật sửa đổi bổ sung BLTTDS đã sửa đổi các quy định của BLTTDS

2004 không còn phù hợp và bổ sung thêm nhiều quy định mới Cùng với Luật sửa đổi bổ sung BLTTDS nhiều văn bản hướng dẫn thi hành mới cũng đã được ban hành như Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ nhất “Những quy định chung” của BLTTDS đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi bổ sung BLTTDS; Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng thẩm

Trang 31

phán TAND tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm” của BLTTDS đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi bổ sung BLTTDS…

Đến năm 2015, để nâng cao hiệu quả giải quyết các vụ việc dân sự, phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, ngày 25/11/2015 Quốc hội nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII đã thông qua BLTTDS thay thế cho BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) Việc Nhà nước ban hành BLTTDS và các văn bản hướng dẫn thi hành đã góp phần làm cho pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam ngày càng hoàn thiện hơn

1.2 Quy định của pháp luật hiện hành về thủ tục sơ thẩm trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại

Theo quy định tại Điều 30 BLTTDS, Tòa án có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp “kinh doanh, thương mại” Các tranh chấp này bao gồm: Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận; Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận; Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty; Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty; Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật Quy định của BLTTDS về thẩm quyền giải quyết tranh chấp KDTM của tòa án đã tạo nhiều thuận lợi cho việc tòa án giải quyết các vụ

án KDTM đúng thẩm quyền

Trang 32

Tuy nhiên, đối chiếu với luật nội dung là Luật Thương mại thì tại khoản 1 Điều

3 Luật Thương mại chỉ quy định về hoạt động thương mại (không phải kinh doanh, thương mại) Về nguyên tắc luật nội dung quyết định luật hình thức, vậy khi xác định thẩm quyền của tòa thì tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh từ hoạt động KDTM hay có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại? Giữa hai văn bản pháp luật nội dung và hình thức chưa có sự thống nhất nên gây lúng túng cho việc áp dụng pháp luật Sự không thống nhất này cần được khắc phục trong công tác xây dựng văn bản pháp luật trong thời gian tới

Sau quy định về thẩm quyền thì quy định của pháp luật hiện hành về thủ tục

sơ thẩm trong giải quyết tranh chấp KDTM thể hiện chủ yếu qua BLTTDS Theo quy định của BLTTDS này thì thẩm quyền giải quyết các tranh chấp KDTM được quy định chung trong thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự của tòa án nói chung và thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm đối với tranh chấp KDTM của Tòa án được ghi nhận tại cụ thể tại Điều 30 BLTTDS Việc giải quyết theo thủ tục sơ thẩm các tranh chấp KDTM này được Tòa án thực hiện tương tự như giải quyết theo thủ tục sơ thẩm các tranh chấp dân sự, hôn nhân gia đình, lao động BLTTDS đã có những quy định chung về thủ tục sơ thẩm dân sự nên việc giải quyết các VAKDTM theo thủ tục sơ thẩm được thực hiện dựa trên các quy định này, theo một trình tự các bước như sau:

1.2.1 Nhận, xử lý và thụ lý đơn khởi kiện vụ án kinh doanh thương mại

* Nhận đơn khởi kiện

Trong tố tụng dân sự, có đơn khởi kiện của người có quyền khởi kiện thì mới

có thể có vụ án phát sinh tại tòa, vì vậy khởi kiện được coi là thủ tục đầu tiên trong

quy trình sơ thẩm Khởi kiện “là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức hoặc các chủ thể

khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nộp đơn yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay của người khác”14, vì thế khởi

14 Trường Đại học Luật Hà Nội (2017), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb.Công

an nhân dân, Hà Nội, tr.241

Trang 33

kiện vụ án KDTM chính là việc nộp đơn khởi kiện đến tòa án, yêu cầu tòa án giải quyết tranh chấp KDTM Khi có đơn khởi kiện, tòa án phải vào sổ nhận đơn khởi kiện và phải kiểm tra những vấn đề sau:

- Thứ nhất, Kiểm tra việc khởi kiện đã đáp ứng đầy đủ các điều kiện do pháp

luật quy định hay không, cụ thể là:

+ Người khởi kiện phải có quyền khởi kiện

Theo quy định tại Điều 186 BLTTDS thì chủ thể khởi kiện là cá nhân, cơ quan,

tổ chức có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm hoặc tranh chấp Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 192 BLTTDS, chủ thể khởi kiện sẽ bị trả lại đơn khởi kiện nếu không có quyền khởi kiện, vì thế chủ thể khởi kiện không có quyền khởi kiện được hiểu là chủ thể khởi kiện đó không thuộc một trong các chủ thể mà Điều 186 BLTTDS quy định, tức chủ thể đó không có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm hoặc tranh chấp Như vậy để được nhận đơn khởi kiện thì người khởi kiện phải là chủ thể có quyền khởi kiện

+ Người khởi kiện chỉ được khởi kiện những tranh chấp KDTM thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Thuộc thẩm quyền của Tòa án phải là thuộc thẩm quyền theo loại việc, thuộc thẩm quyền theo cấp và thuộc thẩm quyền theo lãnh thổ Tòa án có thẩm quyền giải quyết theo loại việc tức là Tòa án có thẩm quyền giải quyết các vụ việc về KDTM được BLTTDS ghi nhận thuộc thẩm quyền của Tòa án tại Điều 30 BLTTDS15 Không chỉ đúng thẩm quyền theo loại việc, người khởi kiện phải khởi kiện đúng thẩm quyền theo cấp tòa án Thông thường tòa án cấp huyện có thẩm quyền sơ thẩm (Điều 35), trong một số trường hợp Tòa án cấp tỉnh có thẩm quyền sơ thẩm (khoản 3 Điều 35) Nếu người khởi kiện nộp đơn khởi kiện không đúng cấp tòa án thì bị sẽ bị trả lại đơn khởi kiện Sau khi khởi kiện đúng cấp tòa án có thẩm quyền, người khởi kiện còn phải kiện đúng tòa án có thẩm quyền theo lãnh thổ Thẩm quyền theo lãnh thổ được

15 Đọc Điều 30 BLTTDS

Trang 34

quy định tại Điều 39 BLTTDS, theo đó tòa án có thẩm quyền là tòa án nơi cư trú, làm việc của bị đơn Nếu bị đơn là pháp nhân thì tòa có thẩm quyền là tòa nơi bị đơn có trụ sở, trừ tranh chấp có đối tượng là bất động sản hoặc các bên tranh chấp thỏa thuận

là Tòa án nơi cư trú, làm việc, có trụ sở của nguyên đơn

+ Người khởi kiện chỉ được khởi kiện những vụ kiện KDTM chưa được giải quyết bằng một bản án hay quyết định của Tòa án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật trừ trường hợp có quy định khác của pháp luật

- Thứ hai, Kiểm tra xem người khởi kiện VAKDTM có khởi kiện theo đúng

hình thức mà pháp luật đã quy định hay không?

Theo quy định tại khoản 1 Điều 189 BLTTDS thì cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện phải làm đơn khởi kiện Đơn khởi kiện phải đảm bảo đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 4 Điều 189 BLTTDS Kèm theo đơn khởi kiện phải có các tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm Trường hợp vì lý do khách quan mà người khởi kiện không thể nộp đầy đủ các tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện thì họ phải nộp các tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm Người khởi kiện bổ sung hoặc giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ khác theo yêu cầu của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án

- Thứ ba, kiểm tra xem phương thức gửi đơn khởi kiện đến tòa án có đúng như

pháp luật quy định hay không?

Theo quy định tại Điều 190 BLTTDS, người khởi kiện có quyền lựa chọn một trong các phương thức như nộp trực tiếp đến tòa án có thẩm quyền, gửi qua đường bưu điện, gửi trực tuyến bằng hình thức điện tử qua công thông tin điện tử của Tòa

án Ngày khởi kiện được tính từ ngày đương sự nộp đơn tại Tòa án hoặc ngày được ghi trên dấu của tổ chức dịch vụ bưu chính nơi gửi Nếu gửi đơn bằng phương thức gửi trực tuyến thì ngày khởi kiện là ngày gửi đơn Trường hợp chuyển vụ án cho Tòa

Trang 35

án khác quy định tại Điều 41 BLTTDS thì ngày khởi kiện là ngày gửi đơn khởi kiện đến Tòa án trước đó đã thụ lý

* Xử lý đơn khởi kiện

Theo quy định tại khoản 1 Điều 191 BLTTDS, sau khi nhận đơn khởi kiện VAKDTM do người khởi kiện nộp thì Tòa án thông qua bộ phận tiếp nhận đơn phải ghi vào sổ nhận đơn Trường hợp Tòa án nhận đơn khởi kiện gửi bằng phương thức trực tuyến thì Tòa án in ra bản giấy và phải ghi vào sổ nhận đơn Trường hợp đơn khởi kiện được nộp trực tiếp thì Tòa án có trách nhiệm phải cấp ngay giấy xác nhận

đã nhận đơn cho người khởi kiện Đối với trường hợp nhận đơn qua dịch vụ bưu chính thì trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận đơn, Tòa án phải gửi thông báo nhận đơn cho người khởi kiện Nếu đơn khởi kiện nộp bằng phương thức gửi trực tuyến thì Tòa án phải thông báo ngay việc nhận đơn cho người khởi kiện qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có)

Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đơn khởi kiện, Chánh án Tòa

án phân công một Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày được phân công, Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện và có một trong các quyết định sau đây:

+ Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện:

Theo quy định tại Điều 193 BLTTDS thì trong trường hợp đơn khởi kiện không có đủ các nội dung quy định tại khoản 4 Điều 189 BLTTDS thì Thẩm phán thông báo bằng văn bản nêu rõ những vấn đề cần sửa đổi, bổ sung cho người khởi kiện để họ sửa đổi, bổ sung trong thời hạn do Thẩm phán ấn định nhưng không quá

01 tháng; trường hợp đặc biệt có thể gia hạn nhưng không quá 15 ngày Văn bản thông báo có thể giao trực tiếp, gửi trực tuyến hoặc gửi cho người khởi kiện qua dịch

vụ bưu chính và phải ghi chú vào sổ nhận đơn để theo dõi Sau khi nhận được văn bản yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện, nếu người khởi kiện sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo đúng quy định tại khoản 4 Điều 189 thì Thẩm phán tiếp tục tiến hành thủ tục thụ lý vụ án Ngược lại, nếu không sửa đổi, bổ sung theo yêu cầu thì

Trang 36

Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ nộp kèm theo đơn khởi kiện

+ Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án KDTM theo quy định tại Điều 195 BLTTDS Trường hợp đơn khởi kiện đã đáp ứng đầy đủ các điều kiện khởi kiện thì Thẩm phán phải thông báo ngay cho người khởi kiện biết để họ đến Tòa án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí trong trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng án phí Thẩm phán có trách nhiệm dự tính số tiền tạm ứng án phí, ghi vào giấy báo và giao cho người khởi kiện để họ nộp tiền tạm ứng án phí Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được giấy báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí và nộp lại cho Tòa án biên lai thu tạm ứng án phí Thẩm phán chỉ thụ

lý vụ án khi người khởi kiện nộp cho Tòa án biên lai thu tạm ứng án phí Đối với trường hợp người khởi kiện được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí Thẩm phán phải thụ lý vụ án khi nhận được đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo

+ Chuyển đơn khởi kiện VAKDTM cho Tòa án có thẩm quyền:

Theo quy định tại Điều 191 BLTTDS, trường hợp tranh chấp KDTM không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án đã nhận đơn khởi kiện mà thuộc thẩm quyền của một tòa án khác giải quyết thì Thẩm phán được phân công xem xét đơn khởi kiện phải chuyển đơn cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện biết về việc chuyển đơn khởi kiện

+ Trả lại đơn khởi kiện tranh chấp KDTM

Sau khi xem xét đơn khởi kiện vụ án KDTM, nếu nhận thấy đơn khởi kiện thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 192 BLTTDS như người khởi kiện không có quyền khởi kiện hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự; chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật… thì Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện

Trang 37

Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản trả lại đơn khởi kiện, người khởi kiện có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện Ngay sau khi nhận được khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án phải phân công một Thẩm phán khác xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải mở phiên họp xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị Phiên họp xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị có sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát cùng cấp và đương sự có khiếu nại Trường hợp đương sự vắng mặt thì Thẩm phán vẫn tiến hành phiên họp Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc trả lại đơn khởi kiện, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát và đương sự có khiếu nại tại phiên họp, Thẩm phán phải ra một trong các quyết định như giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kiện và thông báo cho đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp; nhận lại đơn khởi kiện

và tài liệu, chứng cứ kèm theo để tiến hành việc thụ lý vụ án Trong thời hạn 10 ngày,

kể từ ngày nhận được quyết định trả lời khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện của Thẩm phán, người khởi kiện có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp xem xét, giải quyết Việc giải quyết khiếu nại quyết định trả lời lời khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện của Chánh án Tòa án cấp trên quy định tại khoản 6 và khoản 7 Điều 194 BLTTDS

* Thụ lý đơn khởi kiện

Ngay sau khi người khởi kiện nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí thì Thẩm phán phải vào sổ thụ lý vụ án Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán phải thông báo bằng văn bản cho nguyên đơn, bị đơn, cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án, cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý vụ án Thông báo về việc thụ lý vụ

án phải có các nội dung chính quy định tại khoản 2 Điều 196 BLTTDS Trường hợp nguyên đơn có đơn yêu cầu Tòa án hỗ trợ trong việc gửi tài liệu, chứng cứ thì kèm theo thông báo về việc thụ lý vụ án, Tòa án gửi cho bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa

vụ liên quan bản sao tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp

Trang 38

Sau khi thụ lý vụ án, trên cơ sở báo cáo thụ lý vụ án của Thẩm phán được phân công thụ lý vụ án, Chánh án Tòa án quyết định phân công Thẩm phán giải quyết vụ

án bảo đảm nguyên tắc vô tư, khách quan, ngẫu nhiên trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án Đối với vụ án phức tạp, việc giải quyết có thể phải kéo dài thì Chánh án Tòa án phân công Thẩm phán dự khuyết để bảo đảm xét xử đúng thời hạn theo quy định của Bộ luật này Trong quá trình giải quyết vụ án, nếu Thẩm phán được phân công không thể tiếp tục tiến hành được nhiệm vụ thì Chánh án Tòa

án phân công Thẩm phán khác tiếp tục nhiệm vụ; trường hợp đang xét xử mà không

có Thẩm phán dự khuyết thì vụ án phải được xét xử lại từ đầu và Tòa án phải thông báo cho đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp (Điều 197 BLTTDS)

1.2.2 Chuẩn bị xét xử và hòa giải vụ án kinh doanh thương mại

- Thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án kinh doanh thương mại

Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 203 BLTTDS thì thời hạn chuẩn bị xét

xử đối với VAKDTM (trừ những vụ án được xét xử theo thủ tục rút gọn) là 02 tháng

kể từ ngày thụ lý vụ án Đối với những vụ án có tính chấp phức tạp hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 01 tháng Như vậy thời hạn tối đa để tòa

án chuẩn bị xét xử đối với VAKDTM thông thường là 03 tháng Trường hợp có quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét xử được tính lại kể

từ ngày quyết định tiếp tục giải quyết vụ án của Tòa án có hiệu lực pháp luật

- Các công việc cần chuẩn bị

+ Lập hồ sơ vụ án và xác minh, thu thập chứng cứ trong vụ án kinh doanh thương mại

Sau khi thụ lý vụ án, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án phải tiến hành lập hồ sơ vụ án bao gồm đơn khởi kiện và toàn bộ tài liệu, chứng cứ của đương

sự, người tham gia tố tụng khác; tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập liên quan đến

Trang 39

vụ án; văn bản tố tụng của Tòa án, Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án Trong tố tụng dân sự thì các đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình nên sau khi lập hồ sơ vụ án mà nhận thấy tài liệu, chứng cứ đã được giao nộp chưa bảo đảm đủ cơ sở để giải quyết vụ án thì Thẩm phán yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ Nếu đương sự không giao nộp hoặc giao nộp không đầy đủ tài liệu, chứng cứ do Tòa án yêu cầu mà không có lý do chính đáng thì khi xét

xử Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ mà đương sự đã giao nộp hoặc Tòa án đã thu thập để giải quyết vụ án

Trong trường hợp đương sự không thể tự mình thu thập được chứng cứ để cung cấp cho Tòa án và có yêu cầu thì Tòa án có thể áp dụng các biện pháp thu thập chứng cứ do pháp luật quy định để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án được đúng đắn Việc thu thập chứng cứ của Tòa án được thực hiện theo quy định tại các điều từ Điều

97 đến Điều 106 BLTTDS, cụ thể Tòa án có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp thu thập tài liệu, chứng cứ như lấy lời khai của đương sự, người làm chứng; đối chất; xem xét, thẩm định tại chỗ; trưng cầu giám định, yêu cầu giám định; định giá tài sản, thẩm định giá tài sản; ủy thác thu thập chứng cứ; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ Trường hợp đương sự đã áp dụng các biện pháp cần thiết

để thu thập tài liệu, chứng cứ mà vẫn không thể tự mình thu thập được thì có thể đề nghị Tòa án ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp cho mình hoặc đề nghị Tòa án tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự đúng đắn Đương sự yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ phải làm đơn ghi rõ vấn đề cần chứng minh; tài liệu, chứng cứ cần thu thập; lý do mình không tự thu thập được; họ, tên, địa chỉ của cá nhân, tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ tài liệu, chứng cứ cần thu thập Trường hợp có yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Tòa

án ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án

+ Tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ:

Ngày đăng: 15/05/2020, 09:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w