Đây là một vấn đề hết sức phức tạp, có liên quan đến nhiều yếu tố, nhiều mặt của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như: lao động, tư liệu lao động, đối tượng lao đ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU CHUYÊN GIA
LAO ĐỘNG VÀ KỸ THUẬT
HỌ VÀ TÊN TÁC GIẢ LUẬN VĂN
ĐỖ THANH LONG
HÀ NỘI – 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU CHUYÊN GIA
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập do chính tác giả thực hiện Các tài liệu, tư liệu và các số liệu thu thập từ thực tế cũng như kết quả phân tích sử dụng trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả nghiên cứu là quá trình lao động của tác giả, đề tài không trùng với bất
cứ đề tài nghiên cứu khoa học nào
Nếu có gì không đúng tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày tháng 12 năm 2017
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Đỗ Thanh Long
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và chân thành cảm ơn tới Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Chuyên gia Lao động và Kỹ thuật; Viện Đại học Mở đã tạo điều kiện giúp đỡ
để tôi hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn Thầy giáo GS.TS Nguyễn Kim Truy đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn Thầy đã đem đến cho tôi những kiến thức và giúp tôi có khả năng tổng hợp những tri thức khoa học, những kiến thức thực tiễn quản lý và phương pháp làm việc khoa học trong công tác
và nghiên cứu Thầy đã góp ý, chỉ bảo trong việc định hướng và hoàn thiện luận, không có sự giúp đỡ của Thầy luận văn này sẽ không thể hoàn thành
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo, các đồng nghiệp và các bạn học viên lớp Cao học 15M - QT62đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Xin trân trọng cảm ơn./
Hà Nội, ngày tháng 12 năm 2017
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Đỗ Thanh Long
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 1
3 Tổng quan nghiên cứu 2
3.1 Về nghiên cứu lý thuyết 2
3.2 Về nghiên cứu thực tiễn 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Đóng góp của luận văn 3
7 Nội dung của luận văn 3
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 5
1.1 Doanh nghiệp và hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp 5
1.1.1 Doanh nghiệp 5
1.1.2 Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp 7
1.2 Hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp 7
1.2.1 Khái niệm 7
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp 8
1.3 Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp 14
1.3.1 Mục đích và nhiệm vụ của phân tích 15
1.3.1.1 Mục đích 15
1.3.1.2 Nhiệm vụ 17
1.3.2 Phương pháp phân tích 19
1.3.2.1 Phương pháp so sánh: 19
1.3.2.2 Phương pháp chi tiết chỉ tiêu nghiên cứu 26
1.3.2.3 Phương pháp loại trừ 27
1.3.2.4 Phương pháp liên hệ 28
1.3.2.5 Các phương pháp phân tích khác 29
1.3.2.6 Tài liệu sử dụng trong phân tích 30
Trang 61.3.3 Hệ thống chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 30
1.3.3.1 Các chỉ tiêu tổng hợp 30
Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh 32
Lợi nhuận về hoạt động tài chính 33
Lợi nhuận hoạt động khác 33
1.3.3.2 Các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng các yếu tố 33
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 39
Chương 2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU CHUYÊN GIA LAO ĐỘNG VÀ KỸ THUẬT (IMS) 40
2.1 Giới thiệu Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Chuyên gia Lao động và Kỹ thuật (IMS) 40
2.1.1 Tư cách pháp nhân Công ty 40
2.1.2 Lịch sử hình thành của Công ty 40
2.1.3 Chức năng nhiệm vụ của Công ty 41
2.1.4 Tổ chức bộ máy hoạt động của Công ty 42
2.1.4.1 Tổ chức bộ máy 42
2.1.4.2 Hoạt động 42
2.1.5 Khái quát tình hình kinh doanh Công ty giai đoạn 2012 ÷2016 43
2.1.5.1 Về kinh doanh xuất khẩu lao động: 43
2.1.5.2 Về kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá: 43
2.1.5.3 Về kinh doanh cho thuê văn phòng: 44
2.2 Phân tích thực trạng quả hoạt động kinh doanh tại Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Chuyên gia Lao động và Kỹ thuật (IMS) 44
2.2.1 Các chỉ tiêu tổng hợp 44
2.2.1.1 Doanh thu và phân tích doanh thu 46
2.2.1.2 Lợi nhuận và phân tích lợi nhuận 54
2.2.2 Các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng các yếu tố 60
2.2.2.1 Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn 60
2.2.2.2 Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng lao động: 75
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 87
Trang 7Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU CHUYÊN GIA LAO ĐỘNG VÀ KỸ
THUẬT (IMS) 88
3.1 Một số giải pháp nhằm nâng cao kết quả hoạt động kinh doanh tại công ty 88
3.1.1 Về nguồn nhân lực 88
3.1.2 Về tăng doanh thu 89
3.1.3 Về quản lý chi phí 89
3.1.3.1 Quản lý chi phí sản xuất 89
3.1.3.2 Quản lý chi phí hoạt động 90
3.1.4 Về hoạt động Marketing 90
3.1.5 Về thị trường tiêu thụ 91
3.2 Kết luận và kiến nghị 91
3.2.1 Kết luận 91
3.2.2 Kiến nghị 92
3.2.2.1 Đối với Công ty 92
3.2.2.2 Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Chuyên gia Lao động và Kỹ
Doanh thu về bán hàng và cung cấp dịch vụ DT
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Kết quả kinh doanh chung Công ty 5 năm 2012 ÷ 2016 45 Bảng 2.2 Doanh thu HĐKD Công ty 5 năm 2012 ÷ 2016 46 Bảng 2.3 Lợi nhuận của Công ty 5 năm 2012 ÷ 2016 56 Bảng 2.4 Hiệu quả sử dụng vốn Công ty 5 năm 2012 ÷ 2016 61 Bảng 2.5 Hiệu quả sử dụng vốn cố định Công ty 2012 ÷ 2016 66 Bảng 2.6 Hiệu suất sử dụng vốn lưu động Công ty năm 2012 ÷ 2016 71 Bảng 2.7 Hiệu quả sử dụng lao động Công ty năm 2012 ÷ 2016 76 Bảng 2.8 Hiệu quả sử dụng chi phí 5 năm 2012 ÷ 2016 81 Biểu
Biểu 2.2 Tỷ trọng doanh thu theo thành phần năm 2012 49 Biểu 2.3 Tỷ trọng doanh thu theo thành phần năm 2013 49 Biểu 2.4 Tỷ trọng doanh thu theo thành phần năm 2014 50 Biểu 2.5 Tỷ trọng doanh thu theo thành phần năm 2015 50 Biểu 2.6 Tỷ trọng doanh thu theo thành phần năm 2016 51 Biểu 2.7 Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ 2012 ÷ 2016 52 Biểu 2.8 Doanh thu hoạt động tài chính 2012 ÷ 2016 53
Biểu 2.10 Lợi nhuận của Công ty 5 năm 2012 ÷ 2016 57 Biểu 2.11 Vòng quay toàn bộ vốn trong kỳ 2012 ÷ 2016 62 Biểu 2.12 Suất hao phí vốn trong kỳ giai đoạn 2012 ÷ 2016 62 Biểu 2.13 Tỷ lệ doanh lợi trên tổng vốn giai đoạn 2012 ÷ 2016 63 Biểu 2.14 Hiệu suất sử dụng vốn cố định 2012 ÷ 2016 67 Biểu 2.15 Suất hao phí vốn cố định 2012 ÷2016 67 Biểu 2.16 Tỷ lệ doanh lợi trên vốn cố định 2012 ÷ 2016 68 Biểu 2.17 Vòng quay vốn lưu động trong kỳ 2012 ÷ 2016 72 Biểu 2.18 Kỳ luân chuyển vốn lưu động trong kỳ 2012 ÷ 2016 72 Biểu 2.19 Tỷ lệ doanh lợi trên vốn lưu động trong kỳ 2012 ÷ 2016 73 Biểu 2.20 Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động trong kỳ 2012 ÷ 2016 73 Biểu 2.21 Biểu năng suất lao động 2012 ÷ 2016 77 Biểu 2.22 Kết quả sản xuất trên chi phí phương 2012 ÷ 2016 77 Biểu 2.23 Lợi nhuận bình quân một lao động 2012 ÷ 2016 78 Biểu 2.24 Chỉ tiêu doanh thu trên một đồng chi phí 2012 ÷ 2016 82 Biểu 2.25 Chỉ tiêu doanh lợi theo chi phí 2012 ÷ 2016 82
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay để tồn tại và phát triển đòi hỏi các doanh nghiệp phải biết cách kinh doanh và kinh doanh hiệu quả Kinh doanh có hiệu quả doanh nghiệp mới có thể tồn tại và phát triển, đứng vững và giành được thắng lợi trong môi trường cạnh tranh
Một trong những yếu tố quan trọng để đánh giá hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp là thông qua các chỉ số Tài chính và từ đó nắm được các nhân tố ảnh hưởng cũng như mức độ và xu hướng tác động của từng nhân tố đến kết quả kinh doanh Phân tích kinh doanh nghiên cứu toàn bộ hoạt động của một doanh nghiệp với mục đích sinh lợi Phân tích kinh doanh một cách toàn diện giúp các doanh nghiệp đánh giá đầy đủ và sâu sắc kết quả kinh doanh của mình Phân tích hoạt động kinh doanh giúp doanh nghiệp tìm ra các biện pháp sát thực để khắc phục thiếu sót, tăng cường các hoạt động kinh tế và quản lí doanh nghiệp nhằm tận dụng mọi khả năng tiềm tàng vào quá trình sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Xuất phát từ tầm quan trọng của việc phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh nên
em chọn nội dung “Phân tích hoạt động kinh doanh Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Chuyên gia Lao động và Kỹ thuật” làm đề tài tốt nghiệp
2 Mục đích nghiên cứu
Phân tích kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Chuyên gia Lao động và Kỹ thuật (IMS) dựa trên các chỉ tiêu tài chính để từ đó đánh giá chính xác thực trạng kết quả và hiệu quả hoạt động kinh doanh của Công ty
Căn cứ vào các kết quả do phân tích hoạt động kinh doanh của Công ty IMS từ đó tìm ra các yếu tố tác động đến kết quả kinh doanh và thấy được những nguyên nhân tác động, tồn tại hoặc hạn chế trong kinh doanh của Công ty Từ đó đánh giá chính xác tình trạng hiện tại của Công ty tìm ra điểm mạnh, điểm yếu để khắc phục những khiếm khuyết trong hoạt động, phát huy những mặt tích cực và dự đoán được tình hình phát triển của Doanh nghiệp trong tương lại và đề ra giải pháp hữu hiệu nâng
Trang 11cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của Công ty phù hợp với giai đoạn phát triển 2017
÷ 2020
3 Tổng quan nghiên cứu
Nghiên cứu về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp không còn xa lạ trong các giáo trình giảng dạy trong các nhà trường, hay những xuất bản trong và ngoài nước Trong thời kì phát triển kinh tế hiện nay, các công ty đại chúng xuất hiện rất nhiều và phổ biến đồng thời với sự phát triển mạnh mẽ thị trường chứng khoán như hiện nay thì việc công bố thông tin kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là điều tất yếu Phân tích kết quả kinh doanh dựa trên số liệu được công bố như Báo cáo tài chính hay Báo cáo kết quả kinh doanh, Bảng cân đối kế toán là công cụ để đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
3.1 Về nghiên cứu lý thuyết
Về nghiên cứu lý thuyết hiện nay có rất nhiều giáo trình tài liệu đã đề cập đến vấn đề này như “Giáo trình phân tích hoạt động kinh doanh” của Trường Đại học Kinh tế quốc dân hay “Giáo trình phân tích hoạt động Kinh doanh” của Trường Đại học kinh
tế Tp Hồ chí Minh , “Giáo trình “Phân tích hoạt động kinh doanh” của Viện Đại học Mở Hà nội cũng như các tài liệu giảng dạy khác trong quá trình học tập như Quản trị tài chính doanh nghiệp, Phân tích báo cáo tài chính
3.2 Về nghiên cứu thực tiễn
Đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu phân tích kết quả kinh doanh tại các Công
ty như: “Phân tích hoạt động kinh doanh của Công ty xăng dầu Hàng không Việt Nam” hay “Phân tích kết quả hoạt động kinh doanh tại Công ty Công ty Xăng dầu Vĩnh Long”; “Phân tích hoạt động kinh doanh của Công ty Bảo hiểm Việt Minh”
“Phân tích hoạt động kinh doanh của Công ty Cổ phần Dược TW Mediplantex giai đoạn 2008 – 2010” hay như Luận văn “Phân tích hoạt động kinh doanh Ngân hàng EximBank” – giai đoạn 2009 – 2012
Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu chuyên gia Lao động và Kỹ thuật (IMS) thành lập
từ những năm 80, cho đến nay đã trải qua hơn 30 năm hoạt động nhưng một công trình nghiên cứu đầy đủ và có hệ thống kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty
Trang 12hiện nay chưa được thực hiện Hiện nay, chưa có một công trình nghiên cứu được thực hiện tại Công ty để phân tích cụ thể kết quả kinh doanh trong từng giai đoạn Nhận thấy sự quan trọng và cấp thiết trong việc Phân tích hoạt động kinh doanh của Công ty, nhất là trong thời kì cạnh tranh rất quyết liệt trong nền kinh tế thị trường hiện nay, nên em đã chọn đề tài nói trên Qua đề tài này, luận văn sẽ phân tích cụ thể kết quả kinh doanh của Công ty trong giai đoạn hoạt động 5 năm gần đây, từ kết quả này sẽ làm rõ được những yếu tố tác động đến kết quả hoạt động kinh doanh và từ đó tìm ra nguyên nhân cũng như những giải pháp cụ thể trong hoạt động của Công ty giai đoạn tiếp theo
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: hoạt động kinh doanh Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Chuyên gia Lao động và Kỹ thuật giai đoạn 2012 ÷2016
- Phạm vi: do hoạt động Công ty Xuất nhập khẩu Chuyên gia Lao động và Kỹ thuật (IMS) bao gồm cả lĩnh vực xuất khẩu lao động và lĩnh vực kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hóa, tuy nhiên trong phạm vi giới hạn của đề tài phạm vi nghiên cứu sẽ là hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa của Công ty trong giai đoạn 2012 ÷2016
5 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng các phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp thu thập số liệu, phương pháp phân tích số liệu sơ cấp và thứ cấp, phương pháp so sánh và thay thế liên hoàn
6 Đóng góp của luận văn
Phân tích thực trạng về hiệu quả kinh doanh của Công ty tìm ra những tích cực và hạn chế từ đó làm rõ nguyên nhân, hiệu quả của Công ty; đề ra giải pháp cũng như biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty
7 Nội dung của luận văn
Bao gồm phần mở đầu và 3 chương với các phần chính sau đây:
Chương 1: Cơ sở lý luận phân tích hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp Chương 2: Phân tích hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của Công ty Cổ phần
Xuất nhập khẩu Chuyên gia Lao động và Kỹ thuật (IMS)
Trang 13Chương 3: Giải pháp nâng cao hoạt động kinh doanh của Công ty Cổ phần Xuất
nhập khẩu Chuyên gia Lao động và Kỹ thuật (IMS)
Trang 14Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÂN TÍCH
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
“Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình, đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi” Điều 4.16 Luật Doanh nghiệp năm 2014 của nước Cộng hòa
Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã chỉ rõ bản chất của kinh doanh Chính vì vậy, có thể khẳng định: mọi hoạt động mà doanh nghiệp tiến hành đều nhằm tới mục đích sinh lợi Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt nam cũng công nhận sự tồn tài lâu dài
và phát triển của các loại hình doanh nghiệp, bảo đảm sự bình đẳng trước pháp luật của các doanh nghiệp không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế, thừa nhận tính sinh lợi hợp pháp của hoạt động kinh doanh Để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh có hiệu quả, các nhà quản trị phải tiến hành các hoạt động kinh doanh Hoạt động quản trị kinh doanh được hiểu là các tổng hợp các hoạt động kế hoạch hóa,
tổ chức thực hiện và kiểm tra sự kết hợp giữa các yếu tố sản xuất sao cho hiệu quả nhất phục vụ cho mục tiêu phát triển của doanh nghiệp Trong quá trình tiến hành hoạt động quản trị kinh doanh, các nhà quản trị phải sử dụng rất nhiều công cụ khác nhau, trong đó có phân tích kinh doanh
Phân tích kinh doanh là thuật ngữ sử dụng để chỉ quá trình nghiên cứu toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp với mục đích sinh lợi Nói cách khác, phân tích kinh doanh
là việc phân chia các hoạt động, quá trình và kết quả kinh doanh ra thành các bộ phận cấu thành rồi dùng các phương pháp liên hệ, so sánh, đối chiếu và tổng hợp lại nhằm rút ra bản chất, tính quy luật và xu hướng vận động, phát triển của hiện tượng nghiên cứu, tính toán, truyền đạt và xác định yêu cầu cho việc thay đổi quá trình kinh doanh, trong đó chứa đựng các yêu cầu cụ thể cần thiết và đề xuất các giải pháp khả thi để đạt được mục đích kinh doanh
1.1 Doanh nghiệp và hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp
1.1.1 Doanh nghiệp
Các quan điểm về doanh nghiệp: Trong quá trình hình thành và phát triển kinh tế ở bất kỳ một quốc gia nào, doanh nghiệp cũng là một đơn vị cơ sở, một tế bào của cả
Trang 15nền kinh tế, là nơi trực tiếp tạo ra của cải vật chất cho xã hội, là nơi trực tiếp phối hợp các yếu tố sản xuất một cách hợp lý để tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ một cách có hiệu quả nhất Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và thông tin, các hình thức tổ chức doanh nghiệp ngày càng đa dạng, các loại sở hữu doanh nghiệp ngày càng phong phú Do đó nếu đứng trên các quan điểm khác nhau thì có các định nghĩa khác nhau về doanh nghiệp
Theo quan điểm của nhà tổ chức: Doanh nghiệp là tổng thể các phương tiện, máy móc, thiết bị và con người được tổ chức lại nhằm đạt được một mục đích
Theo quan điểm mục tiêu cơ bản cho mọi hoạt động của mọi doanh nghiệp là lợi nhuận: Doanh nghiệp là một tổ chức sản xuất, thông qua đó, trong khuôn khổ một số tài sản nhất định người ta kết hợp nhiều yếu tố sản xuất khác nhau nhằm tạo ra sản phẩm và dịch vụ để bán trên thị trường nhằm thu về một khoản chênh lệch giữa giá thành và giá bán sản phẩm
Theo quan điểm chức năng: Doanh nghiệp là một đơn vị sản xuất kinh doanh nhằm thực hiện một, hoặc một số, hoặc tất cả các công đoạn trong quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm, hoặc thực hiện các nhiệm vụ nhằm mục đích sinh lãi Theo quan điểm lý thuyết hệ thống: Doanh nghiệp là một bộ phận hợp thành trong hệ thống kinh tế, mỗi đơn vị trong hệ thống đó phải chịu sức tác động tương hỗ lẫn nhau, phải tuân thủ những điều kiện hoạt động mà nhà nước đặt ra cho hệ thống kinh tế đó nhằm phục vụ cho mục đích tiêu dùng của xã hội Mỗi định nghĩa nêu trên đều được phát biểu dựa trên các quan điểm khác nhau, nếu tổng hợp các định nghĩa của các quan điểm khác nhau đó sẽ khái niệm toàn diện hơn về doanh nghiệp
Định nghĩa doanh nghiệp: Doanh nghiệp là một đơn vị sản xuất kinh doanh được
tổ chức nhằm tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ đáp ứng yêu cầu tiêu dùng trên thị trường, thông qua đó để tối đa hóa lợi nhuận, trên cơ sở tôn trọng pháp luật nhà nước và quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng Và theo luật Doanh nghiệp 2014 thì
“Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”
Trang 161.1.2 Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
- Kinh doanh là việc dùng công sức và tiền của để tổ chức các hoạt động nhằm mục đích kiếm lời trên thị trường
- Kinh doanh là bỏ ra một số vốn ban đầu vào hoạt động trên thị trường để thu lại một lượng vốn lớn hơn sau một khoãng thời gian nào đấy
- Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình, đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi (điều 4.16 - Luật Doanh nghiệp 2014 )
Do đó ta có thể thấy, ngay cả trong các Bộ luật hiện hành thì mối quan hệ mật thiết giữa Doanh nghiệp và hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp luôn được điều chỉnh một cách rất chặt chẽ và cụ thể
1.2 Hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm
Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng nguồn nhân tài vật lực của doanh nghiệp để đạt được kết quả cao nhất trong quá trình kinh doanh với tổng chi phí thấp nhất Đây là một vấn đề hết sức phức tạp, có liên quan đến nhiều yếu tố, nhiều mặt của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như: lao động, tư liệu lao động, đối tượng lao động,…
Chỉ tiêu phản ánh tổng quát nhất hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp được xác định bằng công thức:
Hiệu quả hoạt động kinh doanh =
Kết quả đầu ra Yếu tố đầu vào Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng yếu tố đầu vào trong kỳ phân tích thì thu được bao nhiêu đồng kết quả đầu ra Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp càng lớn
Kết quả đầu ra được tính bằng các chỉ tiêu như: tổng giá trị sản lượng, doanh thu, lợi nhuận,…
Yếu tố đầu vào được tính bằng các chỉ tiêu: giá thành sản xuất, giá vốn hàng bán, giá thành toàn bộ, chỉ tiêu lao động, tư liệu, đối tượng lao động,…
Trang 171.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Sự thành công trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp chỉ xuất hiện khi doanh nghiệp biết kết hợp hài hòa các yếu tố bên trong với các yếu tố của môi trường bên ngoài Đây cũng chính là các yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động sản xuất kinh doanh, kết quả sản xuất kinh doanh và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Yếu tố bên ngoài doanh nghiệp
+ Yếu tố kinh tế:
Các yếu tố kinh tế có ảnh hưởng vô cùng to lớn đến kết quả cũng như hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Các yếu tố kinh tế bao gồm: tốc độ tăng trưởng GDP; lãi suất tiền vay, tiền gửi ngân hàng; tỷ lệ lạm phát; tỷ giá hối đoái; mức độ thất nghiệp; cán cân thanh toán; chính sách tài chính, tín dụng; kiểm soát về giá cả; mức tiền lương tối thiểu; các giai đoạn của chu kỳ kinh doanh; thu nhập bình quân đầu người Các yếu tố này quy định các phương thức và cách thức doanh nghiệp sử dụng nguồn lực của mình Sự thay đổi của các yếu tố trên đều tạo ra những cơ hội và nguy cơ đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Doanh nghiệp cần nghiên cứu, phân tích xem những yếu tố nào có ảnh hưởng nhiều nhất tới hoạt động kinh doanh, kết quả kinh doanh của mình để có những điều chỉnh chiến lược thích hợp Từ đó, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
+ Yếu tố chính trị và luật pháp:
Trong kinh doanh, các yếu tố chính trị và luật pháp ngày càng có ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước hiện nay là nền kinh tế phổ biến trên thế giới Để thành công trong kinh doanh, doanh nghiệp phải nghiên cứu, phân tích và dự báo về chính trị luật pháp cùng với xu hướng vận động của nó bao gồm:
* Sự ổn định về chính trị, đương lối ngoại giao, chính sách ngoại thương
* Sự hoàn thiện, minh bạch về hệ thống pháp luật
* Các luật về thuế, luật bảo vệ môi trường
* Kế hoạch, chiến lược phát triển của địa phương và nhà nước
Trang 18* Sự điều tiết và khuynh hướng can thiệp của Chính phủ vào đời sống xã hội
* Các quy định của Chính phủ về cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng
Thực tế cho thấy, những yếu tố chính trị và luật pháp ổn định, minh bạch sẽ tạo thuận lợi cho kinh doanh Từ đó, doanh nghiệp cũng kinh doanh một cách có hiệu quả hơn + Yếu tố văn hóa – xã hội:
Các yếu tố văn hóa có ảnh hưởng rộng rãi và sâu sắc đến hành vi của con người trong
cả lĩnh vực sản xuất và lĩnh vực tiêu dùng Các giá trị văn hóa cơ bản có tính bền vững cao Những yếu tố văn hóa bao gồm: Quan niệm đạo đức; xu hướng vận động dân số; sự di chuyển dân cư; thu nhập của người dân; tôn giáo, phong tục tập quán và đặc điểm tâm lý Các yếu tố văn hóa – xã hội này sẽ tạo ra những cơ hội và nguy cơ cho doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp cung ứng những mặt hàng liên quan tới nghề nghiệp, phong tục tập quán, tôn giáo, lễ tết…
+ Yếu tố cơ sở hạ tầng và điều kiện tự nhiên:
Cơ sở hạ tầng bao gồm: Hệ thống giao thông vận tải; hệ thống thông tin; hệ thống bến cảng, nhà kho… Cơ sở hạ tầng tốt là một điều kiện thuận lợi cho kinh doanh Ngược lại, cơ sở hạ tầng kém thì hoạt động kinh doanh sẽ gặp khó khăn hơn do một
số yếu tố gây ra chi phí cao hoặc rủi ro Cũng chính vì vậy mà hiệu quả sản xuất kinh doanh sẽ giảm
Điều kiện tự nhiên bao gồm: Sựu thiếu hụt các nguồn nguyên liệu thô, vật liệu qua chế biến, nguyên liệu tái sinh và không thể tái sinh; sự gia tăng chi phí năng lượng; ô nhiễm môi trường; thiên tai Tất cả những yếu tố này đều tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, do đó, ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
+ Yếu tố khoa học - công nghệ:
Việc ứng dụng những tiến bộ mới của khoa học – công nghệ trong hoạt động thương mại làm thay đổi nhanh chóng phương thức và cung cách phục vụ khách hàng như giao nhận, thanh toán, mua bán, đặt hàng, kiểm tra, kiểm kê… Việc chế tạo ra các sản phẩm mới, chất lượng cao, giá thành hạ, tiên tiến, phù hợp xu thế ảnh hưởng lớn đến hoạt động tiêu thu sản phẩm của doanh nghiệp Nó tác động trực tiếp lên doanh
Trang 19thu và lợi nhuận của doanh nghiệp, qua đó ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Các yếu tố khoa học – công nghệ chủ yếu bao gồm:
* Chi phí cho công tác nghiên cứu và phát triển từ ngân sách nhà nước, ngành kinh doanh và doanh nghiệp
* Đào tạo cán bộ công nhân viên nghiệp, kỹ thuật của doanh nghiệp
* Trang bị các phương tiện kỹ thuật mới, hiện đại trong kinh doanh và quản trị kinh doanh
* Tự động hóa và sử dụng người máy
* Áp dụng các hình thức kinh doanh tiên tiến, hiện đại
+ Đối thủ cạnh tranh:
Các đối thủ cạnh tranh hiện hữu quyết định đến tính chất và mức độ tranh đua, thủ thuật giành lợi thế ngành Số lượng đối thủ cạnh tranh càng nhiều khiến cho mức độ cạnh tranh càng gay gắt, giá cạnh tranh giảm khiến lợi nhuận giảm
* Có 3 nhân tố quan trọng tạo thành mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp kinh doanh cùng ngành là:
* Cơ cấu cạnh tranh
* Nhu cầu thị trường về mặt hàng kinh doanh
* Các rào cản ngăn chặn việc nhập ngành hoặc xuất ngành
+ Khách hàng:
Khách hàng là các cá nhân, nhóm người, doanh nghiệp có nhu cầu và có khả năng thanh toán về hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp mà chưa được đáp ứng và mong muốn được thỏa mãn
Thị trường hàng hóa – dịch vụ của doanh nghiệp là tập hợp các khách hàng rất đa dạng, khác nhau về lứa tuổi, giới tính, mức thu nhập, sở thích tiêu dùng… Mỗi nhóm khách hàng có đặc trưng riêng, phản ánh quá trình mua sắm của họ Khách hàng chỉ mua loại hàng hóa mà họ cần Trong môi trường cạnh tranh gay gắt, việc thu hút và giữ chân khách hàng là vấn đề sống còn của doanh nghiệp
+ Nhà cung cấp:
Trang 20Trong số những yếu tố đầu vào, vấn đề nguồn hàng của doanh nghiệp là vấn đề hết sức quan trọng Việc nghiên cứu, tìm hiểu các nguồn cung ứng với loại hàng hóa thích hợp với nhu cầu của khách hàng, chất lượng hàng hóa và khối lượng hàng hóa
có khả năng đáp ứng trong từng thời gian cũng như giá cả hàng hóa, chi phí vận chuyển hàng hóa từ nơi mua về đến doanh nghiệp cần được xem xét kỹ lưỡng để đảm bảo hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp
Nếu số lượng nhà cung ứng ít, nguồn hàng không nhiều, không có mặt hàng thay thế khác, nhà cung ứng có thể gây sức ép bằng cách tăng giá, giảm chất lương sản phẩm hoặc giảm mức độ dịch vụ đi kèm Còn khi nhà cung ứng nhiều, nguồn hàng phong phú, nhiều sản phẩm thay thế, doanh nghiệp có thể lựa chọn cho mình nhà cung ứng tốt nhất với giá cả phải chăng, chất lượng tốt Do đó, vấn đề quan trọng là phải đảm bảo ổn định nguồn hàng cho doanh nghiệp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiến hành hoạt động kinh doanh thuận lợi
+Sản phẩm thay thế:
Sản phẩm thay thế là sản phẩm hàng hóa của đối thủ cạnh tranh trong cùng ngành hoặc các ngành hoạt động kinh doanh có cùng chức năng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng giống nhau của khách hàng Sức ép của sản phẩm thay thế làm hạn chế tiềm năng lợi nhuận của ngành do mức giá cao nhất bị khống chế Để không bị mất thị phần, doanh nghiệp cần phải nghiên cứu, nắm bắt được giá cả của sản phẩm thay thế và dự báo giá cả của sản phẩm thay thế trong tương lai Doanh nghiệp cũng cần phải chú ý đến sản phẩm thay thế mới Các sản phẩm thay thế mới là kết quả của sự cải tiến hoặc bùng nổ công nghệ mới Do đó, muốn kinh doanh thành công, doanh nghiệp cần nắm được sự xuất hiện sản phẩm hàng hóa thay thế mới, giá cả của chúng để quyết định mức giá bán sản phẩm hàng hóa của mình với mức giá cạnh tranh (PGS TS Hoàng Minh Đường, PGS TS Nguyễn Thừa Lộc (2005) Giáo trình Quản trị doanh nghiệp thương mại tập 1, NXB Lao động – Xã hội
Yếu tố bên trong doanh nghiệp
+ Sản phẩm và lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp:
Trang 21Thị trường bán hàng là điều kiện tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Khách hàng đến với doanh nghiệp là do nhu cầu về hàng hóa – dịch vụ của doanh nghiệp, đòi hỏi
đủ về số lượng, tốt về chất lượng Doanh nghiệp khi kinh doanh phải lưu ý đến vòng đời sản phẩm Mặt khác, nguồn hàng và những yếu tố của thị trường đầu vào là điều kiện của thị trường đầu ra và quyết định chi phí của hoạt động kinh doanh Để ổn định hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp phải phát triển mạng lưới cơ sở vật chất, kho tàng… và các mối quan hệ kinh tế - kỹ thuật – thương mại với các đơn vị nguồn hàng để tạo nguồn hàng ổn định
+ Quản trị nhân sự và nguồn nhân lực của doanh nghiệp:
Quản trị nhân sự và nguồn nhân lực có vai trò quyết định đến thành công của doanh nghiệp Ở đây, chúng ta xem xét những vấn đề sau:
* Bộ máy lãnh đạo của doanh nghiệp, tài năng, trình độ chuyên môn và kinh nghiệm quản trị, đạo đức
* Trình độ tay nghề, sự thành thạo kỹ thuật, nghiệp vụ kinh doanh, ngoại ngữ của cán
bộ công nhân viên trong doanh nghiệp
* Mức thu nhập của cán bộ công nhân viên và giá trị các mối quan hệ lao động so vói toàn ngành và các đối thủ cạnh tranh khác
* Các chính sách của doanh nghiệp với cán bộ công nhân viên trong lao động nhằm động viên, khuyến khích người lao động nâng cao năng suất, kết quả và hiệu quả lao động
* Khả năng cân đối giữa mức độ sử dụng nhân công ở mức tối đa và mức tối thiểu
* Khả năng đáp ứng nhu cầu và yêu cầu của thị trường về nguồn nhân lực con người, tình hình thuyên chuyển cán bộ và mức độ bỏ việc…
* Mục tiêu của quản trị nhân sự và nguồn nhân lực là có chiến lược và kế hoạch phát triển nguồn nhân sự phù hợp với yêu cầu chiến lược của doanh nghiệp cả về ngắn hạn
và dài hạn
+ Quản trị tài chính – kế toán:
Trang 22* Từ chiến lược kinh doanh đến kế hoạch hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đều liên quan đến nguồn lực tài chính và hoạt động của bộ phận tài chính doanh nghiệp
* Các yếu tố tài chính kế toán thường được quan tâm ở doanh nghiệp là:
* Nguồn vốn doanh nghiệp và khả năng huy động vốn cho kinh doanh; cân đối giữa vốn cố định và vốn lưu động; vốn vay và vốn cổ phần
* Chi phí vốn trong quan hệ với toàn ngành và so với đối thủ cạnh tranh cho một đơn
vị hàng hóa
* Phân phối và sử dụng vốn cho các đơn vị phụ thuộc
* Kế hoạch tài chính doanh nghiệp, kế hoạch lợi nhuận và nộp thuế
* Tình hình vay, trả của doanh nghiệp
* Quy mô tài chính doanh nghiệp
* Hệ thống kế toán có hiệu quả
+ Văn hóa doanh nghiệp:
Văn hóa doanh nghiệp bao hàm các chuẩn mực, các giá trị, các nguyện vọng và triết
lý kinh doanh mà cấp lãnh đạo theo đuổi thông qua chương trình hành động của mình
Nó còn là tổng hợp các kinh nghiệm, tác phong và cách ứng xử trong công tác, sinh hoạt liên kết với nhau tạo thành phong cách ứng xử của doanh nghiệp Một doanh nghiệp có văn hóa mạnh sẽ tạo sự gắn kết, sẻ chia và cống hiến hết mình của các thành viên trong doanh nghiệp Từ đó, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp
+ Nghiên cứu và phát triển:
* Trong lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh, việc nghiên cứu và phát triển thường tập trung vào:
- Đổi mới sản phẩm, đa dạng hóa sản phẩm
* Nghiên cứu thị trường, máy móc, thiết bị để mua sắm, trang bị cho doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh
* Tổ chức đào tạo để nâng cao trình độ nghề nghiệp cho các cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp cả về kỹ thuật, nghiệp vụ, ngoại ngữ
Trang 23* Đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và phát triển sẽ giúp doanh nghiệp cải thiện kết quả sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
1.3 Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Phân tích hoạt động kinh doanh (Operating activities analyss) là việc nghiên cứu quá trình sản xuất kinh doanh, bằng những phương pháp riêng, kết hợp với các lý thuyết kinh tế và các phương pháp kỹ thuật khác nhằm đến việc phân tích, đánh giá tình hình kinh doanh và những nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh, phát hiện những quy luật của các mặt hoạt động trong doanh nghiệp dựa vào các dữ liệu lịch
sử, làm cơ sở cho các dự báo và hoạch định chính sách Phân tích hoạt động kinh doanh phân chia các hiện tượng, các quá trình và các kết quả hoạt động kinh doanh thành nhiều bộ phận cấu thành, trên cơ sở đó, dùng các phương pháp liên hệ, so sánh, đối chiếu và tổng hợp lại nhằm rút ra tính quy luật và xu hướng phát triển của các hiện tượng nghiên cứu Để quản lý doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường như hiện nay, đòi hỏi các doanh nghiệp không những phải tổ chức hạch toán kinh doanh một cách chính xác mà còn phải tích cực tổ chức công tác phân tích hoạt động kinh doanh Cùng với kế toán và các khoa học kinh tế khác, phân tích hoạt động kinh là một trong những công cụ đắc lực để quản lý và điều hành có hiệu quả các hoạt động của doanh nghiệp Tiền thân của phân tích hoạt động kinh doanh là công việc có tính xem xét đơn giản một số chỉ tiêu tổng quát dựa trên dữ liệu của bảng tổng kết tài sản – còn gọi là phân tích kế toán hay kế toán nội bộ Do sự đòi hỏi ngày càng cao của nhu cầu quản lý, sự mở rộng về quy mô cũng như xu hướng đi vào chiều sâu và chất lượng của các hoạt động doanh nghiệp, phân tích hoạt động kinh doanh với nội dung, đối tượng phạm vi và phương pháp nghiêu cứu riêng biệt, tất yếu trở thành một khoa học độc lập và ngày càng hoàn chỉnh Phân tích hoạt động kinh doanh hướng đến thị trường không phải nhằm xây dựng những kế hoạch một cách máy móc, cứng nhắc
mà là công cụ phục vụ cho những quyết định ngắn hạn và dài hạn, đòi hỏi chủ động, linh hoạt ngay cả đối với các mặt hoạt động hằng ngày của doanh nghiệp Mục tiêu của phân tích hoạt động kinh doanh vì thế tương đồng với các môn học mới xuất hiện chừng vài thập niên trở lại đây – chủ yếu ở các nước phát triển, như: kế toán quản trị
Trang 24– management accounting; phân tích báo cáo tài chính – the analysis of financial statements, quản trị tài chính – financial management
1.3.1 Mục đích và nhiệm vụ của phân tích
1.3.1.1 Mục đích
Mục đích của phân tích kinh doanh cũng chính là mục đích của kinh doanh: giúp doanh nghiệp tạo ra nhiều lợi nhuận, nâng cao hiệu quả kinh doanh Phân tích kinh doanh là một công cụ hữu hiệu nhằm đánh giá chính xác thực trạng kết quả và hiệu quả hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư, hoạt động tài chính trong mối quan hệ biện chứng giữa chúng Dựa vào thông tin do phân tích kinh doanh cung cấp, các nhà quản lí có căn cứ để đề ra các quyết định liên quan đến cung cấp, sản xuất, tiêu thụ, đầu tư hay huy động vốn Mặc khác, phân tích kinh doanh còn là một công cụ dự báo các điều kiện và kết quả, hiệu quả kinh doanh trong tương lại và là công cụ “chuẩn đoán bệnh” – xác định tình trạng hiện tại của doanh nghiệp – khi đánh giá các hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính mà doanh nghiệp tiến hành cũng như đánh giá chính xác các quyết định quản trị và các quyết định kinh doanh khác Có thể nói phân tích kinh doanh có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với công tác quản trị doanh nghiệp, là cơ sở và là căn cứ giúp các nhà quản trị doanh nghiệp khắc phục được những khuyết điểm trong hoạt động, phát huy những mặt tích cực và dự đoán được tình hình phát triển của doanh nghiệp trong tương lai Trên cơ sở đó, các nhà quản lý đề ra được những giải pháp hữu hiệu nhằm lựa chọn quyết định phương
án kinh doanh tối ưu sao cho hiệu quả đạt được là cao nhất
Môi trường kinh doanh ngày càng khốc liệt đang đòi hỏi các doanh nghiệp cần hoạt động chuyên nghiệp và bài bản hơn Để thành công, việc đầu tiên trước khi bắt đầu khởi nghiệp một doanh nghiệp là phải lập một kế hoạch kinh doanh hoàn chỉnh, từ khâu phát triển ý tưởng kinh doanh, nghiên cứu thị trường và tính khả thi của ý tưởng
đó, đến việc quản lý các hoạt động kinh doanh hàng ngày Việc cần thiết ban đầu là phải lập kế hoạch kinh doanh Kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng giống như bản đồ cho bạn đi du lịch một nước nào đó vậy Nếu như không có một kế hoạch kinh doanh tốt, cho dù doanh nghiệp có những ý tưởng kinh doanh vĩ đại đến
Trang 25mức nào thì cũng rất khó thành công, thậm chí còn thất bại nặng nề Các nhà quản trị doanh nghiệp sẽ phải trả lời những câu hỏi sau: Doanh nghiệp sẽ đạt được cái gì từ việc kinh doanh và làm thế nào để đo lường mức độ thành công của việc kinh doanh
Đó chính là mục tiêu mà các nhà quản lý doanh nghiệp đã đề ra Mục tiêu quan trọng nhất để thành công trong hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp là kinh doanh có hiệu quả (tối đa hoá lợi nhuận) Để đạt được mục tiêu của hoạt động sản xuất kinh doanh thì các nhà quản trị doanh nghiệp cần phải hiểu và nắm vững được mục tiêu cơ bản của phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh
Mục tiêu phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm nêu lên được ý nghĩa của những con số trong các tài liệu báo cáo, có nghĩa là làm cho các con số trong các báo cáo‘‘biết nói” để cho các đối tượng sử dụng tài liệu báo cáo đó hiểu được mục tiêu, tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, bởi vì:
- Qua phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh có thể đánh giá tổng hợp kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Phát hiện và khai thác các khả năng tiềm tàng trong hoạt động kinh doanh
- Là cơ sở để đề ra các quyết định kinh doanh đúng đắn có căn cứ khoa học và các giải pháp quan trọng trong việc phòng ngừa những rủi ro trong kinh doanh.Như vậy, nếu không có phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh thì các tài liệu của hạch toán
kế toán và thống kê được sẽ trở nên vô nghĩa, bởi vì tự bản thân chúng không thể đánh giá được tình hình và kết quả của các hoạt động trong kinh doanh.Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh không chỉ dừng lại ở việc so sánh các chỉ tiêu có sẵn trên các báo cáo kế toán, thống kê mà cần phải đi sâu xem xét nhiều lĩnh vực, nhiều khía cạnh khác nhau, vận dụng các phương pháp thích hợp để tính toán các chỉ tiêu cần thiết, qua đó đánh giá chính xác, đầy đủ để đưa ra kết luận sâu sắc sẽ là cơ sở để phát hiện và khai thác các khả năng tiềm tàng trong hoạt động sản xuất kinh doanh đồng thời là căn cứ để đề ra các quyết định kinh doanh đúng đắn và đây cũng là biện pháp quan trọng trong việc phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh
Trang 26kế hoạch của các chỉ tiêu chủ yếu trong quá trình sản xuất kinh doanh Đồng thời qua quá trình phân tích kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp có thể xem xét việc chấp hành các qui định, luật pháp và thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước Thông qua việc kiểm tra đánh giá doanh nghiệp có cơ sở định hướng để nghiên cứu
kỹ hơn các lĩnh vực sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp dự kiến sẽ phát triển trong
kỳ sau
- Xác định các nhân tố ảnh hưởng: Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đều chịu ảnh hưởng của các nhân tố, có nhân tố tác động tích cực đến chỉ tiêu phân tích và cũng có nhân tố tác động tiêu cực, do đó ta phải xác định trị số của nhân
tố và tìm nguyên nhân biến động của trị số nhân tố đó
- Đề xuất các biện pháp nhằm khai thác tiềm năng sẵn có: Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh không chỉ đánh giá chung, mà cũng không dừng lại ở bước xác định nhân tố và nguyên nhân, mà trên cơ sở đó phát hiện tiềm năng sẵn có, những lợi thế, khó khăn và rủi ro của doanh nghiệp, nhằm đề xuất những biện pháp để phát huy mặt mạnh, khắc phục mặt yếu trong quá trình kinh doanh
- Xây dựng phương án kinh doanh căn cứ vào các mục tiêu đã định: Quá trình kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh là để nhận biết tiến độ thực hiện, những nguyên nhân sai lệch và phát hiện những biến động tiếp theo Nếu kiểm tra đánh giá đúng đắn có tác dụng giúp doanh nghiệp tự điều chỉnh kế hoạch và đề ra các giải pháp tiến hành trong tương lai Định kỳ hay đột xuất các doanh nghiệp tiến hành kiểm tra, đánh giá các hoạt động sản xuất kinh doanh và căn cứ vào điều kiện tác
Trang 27động của nền kinh tế trong nước và thế giới có thể biết được doanh nghiệp đang đứng
ở vị thế nào trong nền kinh tế Trên cơ sở đó để lựa chọn, xây dựng hoặc điều chỉnh chiến lược kinh doanh cho phù hợp, đồng thời xem xét dự báo, dự đoán mục tiêu chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp có thích ứng với nhu cầu thị trường hay không
Là một công cụ quan trọng và hữu ích của quản lý, phân tích kinh doanh có nhiệm vụ cung cấp đầy đủ nhừng thông tin liên quan đến toàn bộ hoạt động mà doanh nghiệp tiến hành cả về kết quả và hiệu quả hoạt động giúp cho các nhà quản lý nẳm được thực trạng hoạt động của doanh nghiệp, xác định chính xác và chẩn đoảtì tình trạng hiện tại của doanh nghiệp Trên cơ sở đó, các nhà quản lý có căn cứ khoa học, tin cậy cho việc đề ra các quyết định kinh doanh hữu hiệu Để đạt được mục đích của minh, phân tích kirih doanh phải thực hiện tốt các nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
- Đánh giá khái quát kết quả và hiệu, quả đạt được trong kỳ: Để đánh giá khái quát kết quả và hiệu quả đạt được trong kỳ, các nhà phân tích sử dụng phưong pháp so sánh: So sánh kết quả và hiệu quả thực tế đạt được trong kỳ với mục tiêu kế hoạch đặt ra; so sánh kết quả và hiệu quả thực tế đạt được kỳ này với kết quả và hiệu quả thực tế đạt được kỳ trước hay so với kết quả và hiệu quả thực tế đạt được cùng kỳ năm trước Qua đó, đánh giá được mức độ thực hiện kế hoạch và tốc độ tăng trưỏng của doanh nghiệp Bên cạnh đó, các nhà phân tích còn so sánh kêt quả và hiệu quả thực tế đạt được trong kỳ của doanh nghiệp với kết quả và hiệu quả thực tế đạt được của các doanh nghiệp khác cùng ngành, cùng khu vực hay so với trị số kết quả và hiệu quả thực tế bình quân chung của ngành, của các doanh nghiệp khác Từ đó, xác định được vị trí hiện tại của doanh nghiệp (trung bình, cao hay yếu kém)
- Cung cấp thông tin kịp thời, đầy đủ, chính xác trên các mặt hoạt động của doanh nghiệp cả về kết quả, hiệu quả cũng như các nguyên nhân, các nhân tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố: Ngoài việc đánh giá khái quát kết quả và hiệu quả của các họạt động, phân tích kinh doanh còn có nhiệm vụ cung cấp kịp thời, đây
đủ và chính xác thông tin về kết quả, hiệu quả và các nguyên nhân, nhân tố ảnh hưởng đến tình hình hoạt động sản xuất - kinh doanh, hoạt động đầu tư, hoạt động tài chính
Trang 28cũng như các thông tin về tình hình tài chính và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Các thông tin do phân tích kinh doanh bao gồm cả các thông tin chung cũng như các thông tin chi tiết, cụ thể về từng đối tượng, từng hoạt động, từng lĩnh vực thông tin
-Đề xuất các giải pháp để không ngừng nâng cao kết quả và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp: Không dừng lại ở việc đánh giá khái quát và cung cấp thông tin về các mặt hoạt động của doanh nghiệp, phân tích kinh doanh còn có nhiệm vụ chỉ rõ những tồn tại, những hạn chế trong quản lý; những tiềm năng chưa khai thác, sử dụng; các điều kiện vận dụng từng giải pháp và xu hướng tác động của từng giải pháp; Từ
đó, phân tích kinh doanh đề xuất các giải pháp và biện pháp cần thiết để động viên, khai thác các nguồn lực hiện có của doanh nghiệp một cách có hiệu quả
Trước hết, chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu muốn so sánh được phải bảo đảm thống nhất về nội dung kinh tế phảnánh, về phương pháp tính toán, về đơn vị đo lường Nội dung kinh tế phản ánh của chỉ tiêu thường có tính ổn định và được quy định thống nhất Tuy nhiên nói như vậy không có nghĩa là nội dung kinh tế mà chỉ tiêu phản ánh mang tính bất biến, không thay đổi theo tình hình phát triển cụ thể của nền kinh tế cùng với quá trình hội nhập kinh tế cũng như nhận thức trong từng thời
kỳ, nội dung kinh tế mà chỉ tiêu phản ánh có thể mở rộng hay thu hẹp Vì thế khi có
Trang 29sự thay đổi về nội dung phản ánh của chỉ tiêu, trước khi so sánh, cần tính lại trị số gốc của chỉ tiêu theo nội dung mới
Cũng như nội dung phản ánh, phương pháp tính toán của chỉ tiêu cũng không bất biến
mà có thể thay đổi theo thời gian, tùy thuộc vào nhận thức cũng như sự phát triển của nền kinh tế Cùng một chỉ tiêu nhưng có các phương pháp tính toán khác nhau giữa các thời kỳ; thậm chí, trong cùng một thời kỳ những giữa các ngành khác nhau cũng
áp dụng các phương pháp tính toán khác nhau Bởi vậy, khi so sánh, nếu có sự khác biệt về phương pháp tính toán, các nhà phân tích cần tính toán lại trị số của chỉ tiêu theo một phương pháp thống nhất rồi mới tiến hành so sánh
Bên cạnh nội dung phản ánh và phương pháp tính toán, một chỉ tiêu muốn so sánh được đòi hỏi phải thống nhất về đơn vị đo lường Đơn vị đo lường của chỉ tiêu thể hiện trị số cụ thể của chỉ tiêu bằng các thước đo tương ứng (giá trị, hiện vật, thời gian) Trước khi so sánh, cần quy đổi trị số của các chỉ tiêu về cùng một đơn vị đo lường như nhau
Ngoài việc thống nhất về nội dung phản ánh, về phương pháp tính toán và đơn vị đo lường, chỉ tiêu muốn so sánh được phải có gốc so sánh Gốc so sánh thường được xác định theo thời gian (thời kỳ, thời điểm) hoặc không gian thời gian hoặc cả không gian
và thời gian tùy thuộc vào điều kiện và mục đích phân tích cụ thể Kỳ hoặc điểm được chọn làm cơ sở so sánh (kỳ gốc, điểm gốc) được gọi chung là kỳ gốc; còn kỳ hoặc điểm được chọn để tiến hành phân tích (hay kỳ báo cáo) Trị số tương ứng của chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu ở kỳ gốc, kỳ phân tích được gọi là trị số chỉ tiêu nghiên cứu kỳ gốc, trị số chỉ tiêu nghiên cứu kỳ phân tích Tùy thuộc vào mục đích phân tích và điều kiện phân tích cụ thể mà gốc so sánh có thể được chọn khác nhau
Cụ thể:
- Gốc so sánh về mặt thời gian:
Về mặt thời gian, khi phân tích thường so sánh hiện tại với quá khứ nhằm đánh giá kết quả đạt được, mức độ và xu hướng tăng trưởng của chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu Do vậy, các nhà phân tích thường so sánh kết quả đạt được của chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu ở thực tế kỳ này với nhiệm vụ kế hoạch đặt ra (nhằm
Trang 30đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch của chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu) hay so kết quả đạt được ở thực tế kỳ trước (nhằm đánh giá mức độ đạt được của chỉ tiêu nghiên cứu) hoặc so với kết quả đạt được ở cùng kỳ này năm trước (nhằm đánh giá tiến độ thực hiện nhiệm vụ hay đánh giá mức độ đạt được của chỉ tiêu nghiên cứu trong cùng khoảng thời gian)
Ngoài ra, trong một số trường hợp, để xác định tốc độ và xu hướng hay nhịp điệu tăng trưởng của đối tượng nghiên cứu, gốc so sánh còn có thể được cố định tại một
kỳ cụ thể (so sánh định gốc) hay thay đổi liên tục ( so sánh liên hoàn) Khi so sánh định gốc, gốc so sánh được cố định trong khi kỳ phân tích được thay đổi liên tục, còn khi so sánh liên hoàn, kỳ gốc và kỳ phân tích được thay đổi liên tục
- Gốc so sánh về mặt không gian:
Về mặt không gian, khi phân tích thường so sánh từng bộ phận với tổng thể (để biết được mức độ phổ biến) hay so sánh trị số của chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu với trị số tương ứng của các đơn vị khác có cùng điều kiện tương đương hay so với
số bình quân ngành, bình quân khu vực (để biết được vị trí hiện tại của doanh nghiệp) hoặc so sánh với các bộ phận khác của cùng tổng thể (để biết được mức độ hơn kém)v.v
Để biểu thị kỳ gốc của chỉ tiêu nghiên cứu, trong các công thức xác định chỉ tiêu, người ta thường dùng chữ số “0” viết bên phải, phía dưới ký hiệu chỉ tiêu Tương tự, chữ số “1” sẽ được viết bên phải, phía dưới ký hiệu chỉ tiêu để chỉ kỳ phân tích Chẳng hạn, “p0i“ và “p1i” là ký kiệu chỉ giá bán (hoặc giá mua) đơn vị kỳ gốc và kỳ phân tích của mặt hàng i
Để phục vụ mục đích cụ thể của phân tích kinh doanh chúng ta tiến hành so sánh bằng các cách cụ thể dưới đây:
So sánh bằng số tuyệt đối:
Số tuyệt đối là con số dùng để phản ánh quy mô, khối lượng của đối tượng nghiên cứu (quy mô tổng thể hay quy mô từng bộ phận) trong điều kiện về thời gian và không gian cụ thể Bởi vậy, so sánh bằng số tuyệt đối sẽ cho biết khối lượng, quy mô mà
Trang 31doanh nghiệp đạt được vượt (+) hay hụt (-) của các chỉ tiêu kinh tế giữa kỳ phân tích với kỳ gốc biểu hiện bằng thước đo thích hợp (giá trị, hiện vật hay thời gian)
So sánh bằng số tương đối:
Số tương đối phản ánh kết cấu, mối quan hệ tỷ lệ, tốc độ phát triển, mức độ thực hiện
kế hoạch và mức độ phổ biến của các chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu trong điều kiện thời gian và không gian nhất định Bản thân số tương đối thể hiện kết quả của việc so sánh hai số tuyệt đối với nhau: so ssánh giữa hai chỉ tiêu cùng loại nhưng khác nhau về thời gian hoặc không gian; so sánh giữa hai chỉ tiêu khác loại nhưng có quan hệ với nhau Khi sử dụng số tương đối cần phải có sự kết hợp với số tuyệt đối thì mới phản ánh chính xác bản chất hiện tượng, quá trình nghiên cứu, bởi vì nhiều khi số tương đối có giá trị rất lớn nhưng ý nghĩa lại không đáng kể vì trị số tuyệt đối tương ứng rất nhỏ và ngược lại
Trong phân tích kinh doanh thường sử dụng các loại số tương đối sau:
- Số tương đối kế hoạch:
Số tương đối kế hoạch được sử dụng để phản ánh mức độ hay nhiệm vụ kế hoạch đặt
ra mà doanh nghiệp cần phải thực hiện Chẳng hạn chỉ tiêu “Tỷ lệ hạ giá thành của sản phẩm có thể so sánh được” phản ánh nhiệm vụ mà doanh nghiệp đặt ra trong kế hoạch về tốc độ hạ thấp giá thành của các sản phẩm so sánh
- Số tương đối phản ánh tình hình thực hiện kế hoạch hay mức độ đạt được của chỉ tiêu nghiên cứ so với kỳ gốc:
Số tương đối phản ánh tình hình thực hiện kế hoạch dùng để đánh giá việc thực hiện
kế hoạch (giữa thực hiện so với kế hoạch) và số tương đối phản ánh mức độ đạt được
so với kỳ gốc (thực hiện kỳ báo cáo so với thực hiện kỳ gốc) của chỉ tiêu nghiên cứu (phản ánh đối tượng nghiên cứu) có thể sử dụng dưới nhiều dạng (hay kỹ thuật so sánh) khác nhau như: so sánh giản đơn, so sánh liên hệ, so sánh kết hợp Mỗi một dạng (kỹ thuật) so sánh mang lại ý nghĩa khác nhau, phục vụ một mục đích quản lý khác nhau
+ Kỹ thuật so sánh giản đơn:
Trang 32Kỹ thuật so sánh bằng số tương đối ở dạng giản đơn thường chỉ có tác dụng đánh giá
sơ bộ tình hình thực hiện kế hoạch hay mức độ đạt được của chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu mà không phản ánh được chất lượng công tác Dạng giản đơn dùng
để đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch của chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu được xác định như sau:
Tỷ lệ % hoàn thành kế
hoạch của chỉ tiêu phản ánh
đối tượng nghiên cứu
=
Trị số chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu kỳ thực hiện
x 100 Trị số chỉ tiêu phản ánh đối
tượng nghiên cứu kỳ kế hoạch Dạng giản đơn dùng để đánh giá mức độ đạt được so với kỳ gốc (kỳ trước, năm trước, bình quân ngành, doanh nghiệp khác ) của chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu được xác định như sau:
Tỷ lệ % đạt được của chỉ tiêu
phản ánh đối tượng nghiên cứu
so với kỳ gốc
=
Trị số chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu kỳ phân tích
x 100 Trị số chỉ tiêu phản ánh đối
tượng nghiên cứu kỳ kế gốc + Kỹ thuật so sánh liên hệ:
Để đánh giá chính xác tình hình thực hiện kế hoạch (hay mức độ đạt được) của chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu; qua đó, nêu bật được chất lượng công tác, các nhà phân tích thường dùng kỹ thuật so sánh liên hệ bằng cách liên hệ tình hình thực hiện kế hoạch (hay mức độ đạt được) của chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu với tình hình thực hiện kế hoạch (hay mức độ đạt được) của một chỉ tiêu khác có liên quan Kỹ thuật sử dung số tương đối phản ánh tình hình thực hiện kế hoạch (hay mức
độ đạt được của chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu ở dạng liên hệ được xác định theo công thức:
Trang 33Tỷ lệ % hoàn thành kế
hoạch (hay mức độ đạt
được) của chỉ tiêu phản
ánh đối tượng nghiên
cứu trong quan hệ với
x
Tỷ lệ % hoàn thành
kế hoạch (hay mức
độ đạt được) của chỉ tiêu liên hệ + Kỹ thuật so sánh kết hợp:
Kỹ thuật so sánh bằng số tương đối ở dạng giản đơn hay dạng so sánh liên hệ chỉ mới
giúp đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch và chất lượng công tác mà chưa xác định
được quy mô (mức độ) biến động cụ thể của chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu
Do vậy, các nhà phân tích còn sử dụng kỹ thuật so sánh kết hợp để tính ra mức độ
biến động tương đối của chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu (thể hiện bằng số
tuyệt đối) Con số tuyệt đối này phản ánh chất lượng công tác (số tiết kiệm hay lãng
phí, số tăng hay giảm của chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu)
kỳ thực hiện
-
Trị số chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu kỳ kế hoạch x Tỷ lệ % hoàn thành
kế hoạch của chỉ tiêu liên hệ
- Số tương đối động thái:
Số tương đối động thái là số tương đối phản ánh trạng thái vận động theo thời gian
về mức độ của đối tượng nghiên cứu và được xác định bằng cách so sánh hai mức độ
của cùng một chỉ tiêu nào đó ở hai thời điểm hay ở hai thời kỳ khác nhau Trong hai
mức độ đó, mức độ ở tử số là mức độ cần nghiên cứu, phản ánh trị số của chỉ tiêu
nghiên cứu ở kỳ phân tích (còn gọi là mức độ kỳ báo cáo) và mức độ ở mẫu số là mức
độ dùng làm cơ sở so sánh, phản ánh trị số của chỉ tiêu nghiên cứu ở kỳ gốc (gọi là
mức độ kỳ gốc)
Trang 34Khi sử dụng số tương đối động thái, các nhà phân tích nắm được tốc độ, nhịp điệu và
xu hướng tăng trưởng theo thời gian của đối tượng nghiên cứu và được xác định bằng cách so sánh hai mức độ của cùng một chỉ tiêu nào đó ở hai thời điểm hay ở hai thời
kì khác nhau Trong hai mức độ đó, mức độ ở tử số là mức độ cần nghiên cứu, phản ánh trị số của chỉ tiêu nghiên cứu ở kỳ phân tích (còn gọi là mức độ kỳ báo cáo) và mức độ ở mẫu số là mức độ dùng làm cơ sở so sánh, phản ánh trị số của chỉ tiêu nghiên cứu ở kỳ gốc (gọi là mức độ kỳ gốc)
Khi sử dụng số tương đối động thái, các nhà phân tích nắm được tốc độ, nhịp điệu và
xu hướng tăng trưởng theo thời gian của đối tượng nghiên cứu Số tương đối động thái thường dùng dưới dạng 2 số: số tương đối định gốc và số tương đối liên hoàn
Số tương đối định gốc được sử dụng để xác định xu hướng phát triển (hay tăng trưởng) qua thời gian của đối tượng nghiên cứu Bằng cách cố định kỳ gốc (thường là kỳ đầu tiên của dãy số), thông qua việc xem xét biến động và trị số của chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu theo thời gian so với kỳ gốc cố định và sử dụng đồ thị (hoặc biểu đồ) để thể hiện kết quả so sánh, các nhà phân tích sẽ xác định chính xác tốc độ và xu hướng phát triển (hay tăng trưởng) của đối tượng nghiên cứu Số tương đối định gốc được xác định theo công thức yi/y0 (để xác định tốc độ và xu hướng phát triển) hay (yi – y0)/y0 (để xác định tốc độ và xu hướng tăng trưởng) của đối tượng nghiên cứu; trong đó, y0 là trị số chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu ở kỳ gốc (cố định), yi là trị số chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu ở kỳ phân tích (kỳ phân tích thay đổi theo thời gian: i=(1, n) )
Số tương đối liên hoàn được sử dụng để xác định tốc độ và nhịp điệu phát triển (hay tăng trưởng) qua thời gian của đối tượng nghiên cứu Bằng cách so sánh liên tục theo thời gian, thay đổi cả trị số kỳ gốc và kỳ phân tích, so sánh trị số kỳ phân tích của chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu với trị số kỳ gốc liền kề và thể hiện kết quả so sánh qua đồ thị, các nhà phân tích sẽ xác định chính xác tốc độ và nhịp điệu phát triển (hay tăng trưởng) theo thời gian của đối tượng nghiên cứu Số tương đối liên hoàn được xác định theo công thức y(i+1)/yi (để xác định tốc độ và nhịp điệu phát triển)hay
Trang 35[y(i+1) – yi]/yi (để xác định tốc độ và nhịp điệu tăng trưởng) của đối tượng nghiên cứu; trong đó yi là trị số chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu (i=(1, n)
- Số tương đối kết cấu:
Số tương đối kết cấu phản ánh tỷ trọng của từng bộ phận chiếm trong tổng thể Thông qua số tương đối kết cấu, các nhà phân tích chỉ rõ: trong một tổng thể, từng bộ phận cấu thành chiếm tỷ trọng bao nhiêu %
Tỷ trọng của bộ phận
i chiếm trong tổng thể =
Trị số của bộ phận
x 100 Trị số của tổng thể
- Số tương đối hiệu suất:
Số tương đối hiệu suất (hay hiệu quả) được sử dụng để phản ánh tổng quát chất lượng kinh doanh Khi sử dụng số tương đối hiệu suất, các nhà phân tích tiến hành so sánh tổng thể phản ánh chất lượng với tổng thể phản ánh số lượng hoặc ngược lại
Số tương đối hiệu
Trị số chỉ tiêu chất lượng
x 100 Trị số chỉ tiêu số lượng
So sánh bằng số bình quân:
Để phản ánh đặc điểm chung nhất, phổ biến và điển hình nhất trong các điều kiện thời gian và không gian cụ thể của 1 tổ, 1 bộ phận, 1 đơn vị, người ta tính ra số bình quân bằng cách san bằng mọi chênh lệch về trị số của chỉ tiêu, bỏ qua những đặc trưng cá biệt Số bình quân còn dùng để phản ánh đặc điểm của những đối tượng nghiên cứu khác nhau về quy mô hay dùng để đánh giá mức độ đồng đều của các đơn
vị tổng thể Do vậy, khi so sánh bằng số bình quân, các nhà quản lý sẽ biết được mức
độ mà đơn vị đạt được so với bình quân chung của tổng thể, của ngành Ví dụ: Năng suất lao động bình quân, tiền lương bình quân, số ngày làm việc bình quân của một công nhân sản xuất
1.3.2.2 Phương pháp chi tiết chỉ tiêu nghiên cứu
Mọi quá trình kinh doanh và kết quả kinh doanh đều có thể và cần thiết chi tiết theo nhiều hướng khác nhau nhằm đánh giá chính xác kết quả đạt được Bởi vậy, khi phân tích, có thể chi tiết phản ánh đối tượng nghiên cứu theo các hướng khác nhau như: theo bộ phận cấu thành, theo thời gian và theo địa điểm phát sinh Sau đó, mới tiến
Trang 36hành xem xét, so sánh mức độ đạt được của từng bộ phận (kỳ phân tích so với kỳ gốc) và mức độ ảnh hưởng của từng bộ phận đến tổng thể cũng như xem xét tiến độ thực hiện và kết quả đạt được trong từng thời gian hay mức độ đóng góp của từng bộ phận vào kết quả chung
Việc xem xét chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu theo bộ phận cấu thành giúp các nhà quản lý đánh giá được chính xác vai trò và vị trí của từng bộ phận trong việc hình thành kết quả và hiệu quả kinh doanh chung Tương tự bằng việc xem xét chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu theo thời gian, các nhà quản lý sẽ có những quyết định kịp thời, sát thực với tính hình cụ thể để chỉ đạo sát sao tiến độ kinh doanh cũng như giải quyết các tình huống bất trắc phát sinh Việc xem xét chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu theo không gian sẽ là căn cứ quan trọng dể các nhà quản lý ra quyết định liên quan đến việc xác định địa bàn kinh doanh, đánh giá đúng kết quả thực hiện hạch toán kinh doanh nội bộ, phát hiện các điển hình tiên tiến
Chẳng hạn khi phân tích chỉ tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp, có thể chi tiết lợi nhuận theo các bộ phận cấu thành (lợi nhuận bán hàng, lợi nhuận hoạt động tài chính và lợi nhuận khác) hay chi tiết lợi nhuận theo thời gian trong năm (tháng, quý) hoặc chi tiết lợi nhuận theo địa điểm (lợi nhuận của từng đơn vị trực thuộc; lợi nhuận từng quầy hàng, lợi nhuận từng khu vực )
và loại trừ mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến sự biến động giữa kỳ phân tích
so với kì gốc của đối tượng Trong thực tế, phương pháp loại trừ được sử dụng trong phân tích dưới hai dạng: dạng thay thế liên hoàn (phương pháp thay thế liên hoàn) và dạng số chêch lệch (gọi là phương pháp số chênh lệch)
Về cơ bản, điều kiện vận dụng, qui trình vận dụng (trình tự vận dụng) phương pháp thay thế liên hoàn và phương pháp số chênh lệch giống nhau Điểm khác biệt giữa
Trang 37chúng là cách thức xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố và phạm vi áp dụng của từng phương pháp Cụ thể, điều kiện vận dụng và quy trình vận dụng của phương pháp loại trừ gồm các bước công việc sau:
Bước 1 Xác định chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu
Tùy theo mục đích và nội dung nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu của phân tích kinh doanh có thể được thể hiện qua các chỉ tiêu phản ánh khác nhau Bởi vậy, trong bước này, các nhà phân tích phải xác định được chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu Chẳng hạn, khi nghiên cứu kết quả tiêu thụ, lợi nhuận gộp về tiêu thụ, doanh thu thuần về tiêu thụ, tổng doanh thu tiêu thụ, sản lượng tiêu thụ Tùy theo mục đích nghiên cứu, các nhà phân tích sẽ lựa chọn và xác định chỉ tiêu phù hợp phản ánh kết quả tiêu thụ trong số các chỉ tiêu đã nêu
Bước 2 Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu Kết quả và hiệu quả kinh doanh cụ thể chịu ảnh hưởng của rất nhiều nguyên nhân và nhân tố khác nhau Bởi vậy, chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu cũng chịu ảnh hưởng của các nhân tố tác động tương ứng Số lượng nhân tố ảnh hưởng có thể mở rộng hay thu hẹp tùy thuộc vào mục đích phân tích và nguồn tài liệu phân tích Ví dụ
về mặt quy mô, chỉ tiêu “ Tổng giá trị sản xuất năm” của doanh nghiệp ảnh hưởng bới các nhân tố khác nhau như:
- Số lượng công nhân sản xuất bình quân năm và năng suất lao động bình quân năm một công nhân sản xuất
- Số lượng công nhân sản xuất bình quân năm, số ngày lao động bình quân năm một công nhân sản xuất và năng suất lao động bình quân ngày một công nhân
- Số lượng công nhân sản xuất bình quân năm, số ngày lao động bình quân năm một công nhân sản xuất, số giờ lao động bình quân ngày một công nhân sản xuất và năng suất lao động bình quân giờ một công nhân sản xuất
1.3.2.4 Phương pháp liên hệ
Trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hình thành rất nhiều mối quan hệ cân đối về lượng giữa hai mặt của các yếu tố và quá trình kinh doanh như: quan hệ cân đối giữa tổng tài sản và nguồn tài sản; giữa thu, chi và kết quả; giữa mua
Trang 38sắm và sử dụng vật tư… dẫn đến sự cân bằng cả về mức chênh lệch về lượng giữa chúng Dựa vào mối quan hệ cân đối này, chúng ta sẽ xác định được ảnh hưởng của các nhân tố đến sự biến động của chỉ tiêu phản ánh đối tượng phân tích
Trong phương pháp liên hệ cân đối, mối quan hệ giữa các nhân tố thường là quan hệ dạng tổng số hoặc hiệu số hoặc kết hợp tổng số với hiệu số và tích số hay thương số Trong mối quan hệ cân đối này, các nhân tố đứng độc lập, tách biệt với nhau và cùng tác động đồng thời đến sự biến động của chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu Giả sử Q là chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu
a, b, c, d lần lượt là các nhân tố ảnh hưởng đến Q thông qua phương trình kinh tế:
Q = a - b – c + d Mức ảnh hưởng của từng nhân tố a, b, c, d đến sự biến động giữa kỳ phân tích so với
kỳ gốc của chỉ tiêu Q được xác định như sau:
∆a = a1 - a0
∆b = - (b1 - b0)
∆c = - (c1 - c0)
∆d = d1 - d0 1.3.2.5 Các phương pháp phân tích khác
Trong phân tích kinh doanh, người ta còn sử dụng một số phương pháp khác như: phương pháp liên hệ trực tuyến, phương pháp liên hệ phi tuyến, phương pháp Dupont, phương pháp xác định giá trị theo thời gian của tiền, phương pháp hồi qui, phương pháp chỉ số, phương pháp đồ thị, phương pháp toán kinh tế…
- Liên hệ trực tuyến là mối liên hệ theo một hướng xác định giữa các chỉ tiêu phân tích, liên hệ phi tuyến là mối liên hệ giữa các chỉ tiêu mà mức độ liên hệ không xác định, chiều hướng liên hệ không rõ ràng, luôn luôn biến đổi Dựa vào các mối liên hệ này, các nhà phân tích xây dựng các phương trình hoặc hàm số thể hiện mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng với chỉ tiêu nghiên cứu, từ đó xem xét mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến sự biến động giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc của chỉ tiêu nghiên cứu
Trang 39- Phương pháp Dupont là phương pháp phân tích dựa trên mối quan hệ tương hỗ giữa các chỉ tiêu tài chính, từ đó biến đổi một chỉ tiêu tổng hợp thành hàm số của một loạt các biến số
- Phương pháp xác định theo giá trị thời gian của tiền: thường được sử dụng để phân tích các dự án đầu tư
- Phương pháp hồi qui là phương pháp toán được sử dụng chủ yếu để ước lượng, dự báo các sự kiện xảy ra trong tương lai trên cơ sở nghiên cứu những dữ liệu phản ánh các sự kiện diễn ra trong quá khứ để tìm ra qui luật về mối quan hệ giữa
1.3.2.6 Tài liệu sử dụng trong phân tích
Số liệu từ Báo cáo tài chínhhàng năm đã được kiểm toán, Báo cáo hội đồng quản trị,
và số liệu từ phòng Tổ chức hành chính, phòng Tài chính kế toán các năm 2012 ÷
2016
1.3.3 Hệ thống chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
1.3.3.1 Các chỉ tiêu tổng hợp
a Doanh thu và phân tích doanh thu
Doanh thu là phần giá trị mà công ty thu được trong quá trình hoạt động kinh doanh bằng việc bán sản phẩm hàng hóa của mình Doanh thu là một trong những chỉ tiêu quan trọng phản ánh quá trình hoạt động kinh doanh của đơn vị ở một thời điểm cần phân tích
Doanh thu gồm có doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, doanh thu hoạt động tài chính và thu nhập khác
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: Là trị giá sản phẩm hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp đã xác định bán ra trong kỳ và được xác định bằng công thức: Doanh thu = Σqi* pi
Trong đó: qi: Khối lượng sản phẩm hàng hóa và cung cấp dịch vụ loại i mà doanh nghiệp đã tiêu thụ trong kỳ, tính bằng đơn vị hiện vật
pi: Giá bán đơn vị sản phẩm hàng hóa loại i i= 1, n
n: Số lượng mặt hàng sản phẩm hàng hóa mà doanh nghiệp đã tiêu thụ trong kỳ
Trang 40Doanh thu hoạt động tài chính: Là các khoản thu nhập thuộc hoạt động tài chính của doanh nghiệp, gồm: hoạt động góp vốn liên doanh; hoạt động đầu tư mua, bán chứng khoán ngắn hạn và dài hạn; thu lãi tiền gửi, tiền cho vay; thu lãi bán ngoại tệ; các hoạt động đầu tư khác
Thu nhập khác: Là các khoản thu nhập từ các hoạt động ngoài hoạt động kinh doanh chính và hoạt động tài chính của doanh nghiệp như: thu về nhượng bán, thanh lý tài sản cố định; thu tiền phạt vi phạm hợp đồng; thu các khoản nợ khó đòi đã xử lý xoá sổ; thu tiền bảo hiểm bồi thường,…
b Lợi nhuận và phân tích lợi nhuận
Lợi nhuận là biểu hiện bằng tiền của sản phẩm thặng dư do kết quả lao động của công nhân mang lại
Lợi nhuận là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp biểu hiện kết quả của quá trình sản xuất kinh doanh Nó phản ánh đầy đủ các mặt số lượng và chất lượng hoạt động của doanh nghiệp, phản ánh kết quả việc sử dụng các yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất như lao động, vật tư, tài sản cố định
Lợi nhuận là nguồn vốn quan trọng để tái sản xuất mở rộng toàn bộ nền kinh tế quốc dân và doanh nghiệp Bởi vì lợi nhuận là nguồn hình thành nên thu nhập của ngân sách Nhà nước, thông qua việc đánh thuế thu nhập doanh nghiệp, trên cơ sở đó giúp cho Nhà nước phát triển nền kinh tế xã hội Một bộ phận khác của lợi nhuận được để lại doanh nghiệp thành lập các quỹ, tạo điều kiện mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao đời sống cán bộ công nhân viên
Lợi nhuận là đòn bẩy kinh tế quan trọng, có tác dụng khuyến khích người lao động
và các doanh nghiệp ra sức phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, trên cơ sở của chính sách phân phối đúng đắn
Lợi nhuận là chỉ tiêu kinh tế đặc biệt quan trọng, vì vậy phân tích tình hình lợi nhuận
có ý nghĩa là một nội dung trọng tâm của phân tích hoạt động kinh doanh, chỉ có phân tích tình hình lợi nhuận mới đề ra các biện pháp nhằm không ngừng nâng cao lợi nhuận, thúc đẩy sự tăng trưởng của doanh nghiệp
Với ý nghĩa quan trọng như trên, nhiệm vụ của phân tích tình hình lợi nhuận bao gồm: