Trước đây, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, Bộ luật Tố tụng dân sự BLTTDS năm 2004 đã có các quy định về thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế cũng như thẩm quyền của Tòa á
Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
Giải quyết vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại theo thủ tục xét xử sơ thẩm từ thực tiễn tòa án
nhân dân tỉnh Hà Nam
NGUYỄN DUY NINH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Giải quyết vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại theo thủ tục xét xử sơ thẩm từ thực tiễn tòa án
nhân dân tỉnh Hà Nam
NGUYỄN DUY NINH
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số : 8 38 01 07
Người hướng dẫn khoa học:PGS.TS VŨ THỊ LAN ANH
HÀ NỘI - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ, trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy, trung thực
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Duy Ninh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Được sự phân công của Khoa Sau đại học, Trường Đại học Mở Hà Nội và
sự đồng ý của giáo viên hướng dẫn PGS.TS Vũ Thị Lan Anh về đề tài luận văn:
"Giải quyết vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại theo thủ tục xét xử sơ thẩm từ
thực tiễn Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam" Để hoàn thành được luận văn này, tôi đã nhận
được rất nhiều sự quan tâm, động viên, giúp đỡ của quý thầy, cô giáo trong trường
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn tới các thầy, cô giáo của Trường Đại học Mở Hà Nội đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình tôi học tập, nghiên cứu tại Trường
Chân thành cảm ơn giáo viên hướng dẫn khoa học PGS.TS Vũ Thị Lan Anh
đã tận tình hướng dẫn tôi nghiên cứu thực hiện luận văn của mình
Xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Khoa đào tạo sau đại học, Trường Đại học Mở Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập Mặc dù đã có nhiều nỗ lực, cố gắng để thực hiện luận văn một cách hoàn chỉnh nhất, nhưng không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định mà tự bản thân không thể tự nhận thấy được Tôi rất mong nhận được sự góp ý của Quý thầy, cô giáo để luận văn được hoàn chỉnh hơn
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện luận văn, công trình nghiên cứu của mình
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Duy Ninh
Trang 5MỤC LỤC
Trang
DOANH THƯƠNG MẠI THEO THỦ TỤC XÉT XỬ SƠ THẨM
1.3.1 Khái niệm và đặc điểm giải quyết tranh chấp kinh doanh thương
1.3.2 Các tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm tranh chấp kinh doanh
KINH DOANH THƯƠNG MẠI THEO THỦ TỤC XÉT XỬ SƠ THẨM
2.2.3 Quy định về trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp kinh doanh
Trang 62.3 Thực trạng thi hành pháp luật trong giải quyết tranh chấp kinh doanh
2.3.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội và hệ thống tổ chức
KINH DOANH THƯƠNG MẠI THEO THỦ TỤC XÉT XỬ SƠ THẨM TẠI TÒA ÁN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH Ở
pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại theo thủ
chấp kinh doanh thương mại theo thủ tục xét xử sơ thẩm tại tòa án
3.3.1 Nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp
3.3.2 Chú trọng nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ và đạo đức
3.3.3 Thực hiện công khai hoá bản án và quy trình, thủ tục xét xử của
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn 30 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Việt Nam đã
và đang đạt được nhiều thành tựu to lớn Cùng với quá trình hội nhập quốc tế đã khiến các quan hệ kinh doanh thương mại (KDTM) của Việt Nam ngày càng gia tăng về số lượng cũng như tính chất phức tạp Theo đó, các tranh chấp KDTM cũng đang diễn ra với chiều hướng đa dạng, phức tạp Từ thực tiễn đó, đòi hỏi phải có một cơ chế hiệu quả để giải quyết các tranh chấp, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho các tổ chức, cá nhân có tranh chấp KDTM, đồng thời cũng là công
cụ để Nhà nước quản lý trật tự kinh tế - xã hội
Hiện nay, mặc dù có nhiều phương thức khác nhau trong giải quyết tranh chấp KDTM, trong đó tòa án chỉ là chọn lựa cuối cùng nhưng với vai trò là một thiết chế tài phán công, có nhiều lợi thế khi giải quyết các tranh chấp nên tòa án cũng được nhiều đương sự ưu tiên lựa chọn khi giải quyết các tranh chấp tranh chấp KDTM Trước đây, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2004 đã có các quy định về thủ tục giải quyết các vụ án kinh
tế cũng như thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp KDTM Tuy nhiên, các quy định đó sau một thời gian áp dụng đã bộc lộ nhiều hạn chế như: không phân biệt tranh chấp KDTM với tranh chấp dân sự, một số tranh chấp KDTM nhưng không được giải quyết theo thủ tục tố tụng kinh tế… Điều này ảnh hưởng tới chất lượng, hiệu quả xét xử các vụ án
Khi BLTTDS 2004 ra đời đã đánh dấu một bước tiến lớn của pháp luật tố tụng Việt Nam với nhiều tiến bộ, đã khắc phục được hầu hết các nhược điểm của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế trước đó Tuy nhiên quá trình áp dụng BLTTDS 2004 cũng đã bộc lộ những hạn chế vướng mắc, đòi hỏi cần được nghiên cứu để tìm ra giải pháp giải quyết khắc phục hạn chế nhằm nâng cao hiệu quả áp
Trang 9dụng của pháp luật Ngày 29/3/2011, BLTTDS sửa đổi BLTTDS 2004 ra đời đã quy định đầy đủ, có tính hệ thống hơn về thủ tục xét xử, các nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự, địa vị pháp lý của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng Đặc biệt, kể từ khi BLTTDS 2015 ra đời đã thể hiện sự hoàn thiện hơn các quy định của pháp luật về thẩm quyền, thủ tục xét xử của tòa án, đồng thời cũng đã thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về cải cách tư pháp, đặc biệt Nghị quyết số 48/NQ-TW; Nghị quyết số 49/NQ-TW; Kết luận 79/KL-TW; Kết luận 92/KL-TW của Bộ Chính trị đã quán triệt hoàn thiện các thủ tục tố tụng tư pháp, bảo đảm tính đồng bộ, dân chủ, công khai minh bạch, tôn trọng bảo vệ quyền con người, xác định rõ vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng, thực hiện tốt việc tranh tụng xem đó là khâu đột phá của hoạt động xét xử, tạo điều kiện cho các đương sự chủ động thu thập chứng cứ để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình
Cùng với quá trình phát triển của đất nước, hiện nay, trên địa bàn tỉnh Hà Nam
đã có nhiều doanh nghiệp được thành lập và đi vào hoạt động với nhiều ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh khác nhau thì bên cạnh quá trình hợp tác cũng diễn ra những xung đột về quyền và lợi ích giữa các chủ thể khi tham gia KDTM Khi các tranh chấp xảy ra, nó không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động KDTM của chính chủ thể đó mà còn gián tiếp tác động tiêu cực đến sự phát triển lành mạnh của nền kinh
tế Thực tiễn đã chứng minh tranh chấp KDTM phát sinh là điều tất yếu, vấn đề là phải có biện pháp giải quyết hợp lý những tranh chấp đó để giúp cho các chủ thể KDTM có được sự tin tưởng trong cơ chế điều hành, quản lý kinh tế của doanh nghiệp Chính vì thế, việc đổi mới và hoàn thiện hệ thống giải quyết tranh chấp KDTM, trong
đó có hoàn thiện pháp luật về thủ tục xét xử sơ thẩm của Tòa án trong giải quyết tranh chấp KDTM phù hợp với cơ chế thị trường không chỉ là đòi hỏi bức thiết của
xã hội mà còn là yêu cầu để đảm bảo thực hiện chức năng kinh tế của Nhà nước ta
Thời gian qua, Tòa án nhân dân (TAND) hai cấp tỉnh Hà Nam đã đạt được những kết quả nhất định trong việc xét xử các vụ án tranh chấp KDTM tuân thủ
Trang 10nghiêm các quy định về thủ tục xét xử Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức thực hiện vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc liên quan đến các quy định của pháp luật về thủ tục xét xử sơ thẩm Điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng, hiệu của giải quyết các vụ án tranh chấp kinh doanh trên địa bàn tỉnh
Xuất phát từ những lý do trên, tôi quyết định chọn nghiên cứu đề tài luận
văn thạc sĩ với chủ đề: "Giải quyết vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại theo thủ tục xét xử sơ thẩm từ thực tiễn tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam" với mong
muốn phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành về thủ tục xét xử sơ thẩm của tòa án trong giải quyết các tranh chấp KDTM; từ đó chỉ ra những điểm hạn chế của các quy định này; đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện, nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về giải quyết các vụ án tranh chấp KDTM theo thủ tục xét xử sơ thẩm từ thực tiễn TAND tỉnh Hà Nam thời gian tới
2 Tổng quan nghiên cứu
Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường phát triển, cùng với mục tiêu lợi nhuận được đặt lên hàng đầu, hoạt động trong lĩnh vực KDTM thu hút rất nhiều chủ thể tham gia nhưng cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ, phát sinh nhiều tranh chấp Vì vậy, hiện nay vấn đề giải quyết tranh chấp KDTM luôn được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Các nhà nghiên cứu đi sâu vào phân tích những khía cạnh khác nhau về vấn đề này cũng như tập trung nghiên cứu về thủ tục xét xử sơ thẩm các vụ án tranh chấp KDTM của toàn án Cụ thể như sau:
Các bài viết nghiên cứu đề cập đến vấn đề giải quyết tranh chấp KDTM
theo pháp luật tố tụng dân sự bao gồm: "Một số kiến nghị nhằm thực thi có hiệu quả
các quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự" của Vũ Thị Hồng Vân, đăng trên Tạp chí Kiểm
sát số 15, năm 2007; "Thẩm quyền giải quyết kinh doanh theo Bộ luật Tố tụng dân
sự 2004", của Viên Thế Giang, đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 12,
năm 2005 ; Tiến sĩ Phan Chí Hiếu với bài viết: "Thẩm quyền giải quyết các tranh
chấp kinh doanh theo Bộ luật Tố tụng dân sự và các vấn đề đặt ra trong thực tiễn
Trang 11thi hành", đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 10, năm 2010; bài viết
"Thực tiễn áp dụng pháp luật trong giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án", của Triệu Thị Quỳnh Hoa, đăng trên Tạp chí TAND số 9/2012
Bên cạnh đó, có một số luận văn thạc sĩ cũng nghiên cứu về vấn đề này
như: Cao Thị Thanh Thủy (2012), Phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh
thương mại bằng trọng tài và tòa án dưới góc độ so sánh, Luận văn thạc sĩ Luật
học, Trường Đại học Luật Hà Nội; Hoàng Tố Nguyên (2013), Thẩm quyền của Tòa
án trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại ở Việt Nam hiện nay,
Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội; Tưởng Thị Lan
(2014), Thủ tục sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại- Thực tiễn giải quyết tại Tòa
án nhân dân huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường
Đại học Luật Hà Nội; Đào Thị Quỳnh Trang (2016), Pháp luật giải quyết tranh
chấp thương mại bằng tòa án và thực tiễn thi hành tại tỉnh Sơn La, Luận văn Thạc
sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội;
Tuy nhiên các công trình nghiên cứu trên chỉ đề cập dưới góc độ phương diện khác nhau giải quyết những vấn đề riêng biệt, cho đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách tập trung, đầy đủ vấn đề giải quyết vụ án tranh chấp KDTM theo thủ tục xét xử sơ thẩm từ thực tiễn TAND tỉnh Hà Nam
Kế thừa những công trình nghiên cứu về nội dung này, luận văn xin được đi sâu phân tích thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng về thủ tục xét xử sơ thẩm các vụ án tranh chấp KDTM từ thực tiễn tòa án tỉnh Hà Nam, từ đó đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn nữa hệ thống pháp luật hiện hành cũng như nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về giải quyết tranh chấp KDTM tại tòa án
trên địa bàn tỉnh Hà Nam
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích
Luận văn tập trung vào việc nghiên cứu và làm rõ các vấn đề lý luận về thủ tục xét xử sơ thẩm tại tòa án trong việc giải quyết tranh chấp KDTM Trên cơ sở đó,
Trang 12phân tích thực trạng các quy định của pháp luật hiện hành cũng như việc áp dụng các quy định pháp luật về thủ tục xét xử sơ thẩm tại tòa án trong giải quyết các tranh chấp KDTM từ thực tiễn tòa án tỉnh Hà Nam Từ đó, luận văn đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện quy định pháp luật về thủ tục xét xử sơ thẩm tại tòa án trong việc giải quyết tranh chấp KDTM ở tỉnh Hà Nam thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ
Trên cơ sở mục đích trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về giải quyết tranh chấp KDTM theo thủ tục xét xử sơ thẩm tại tòa án;
- Phân tích thực trạng quy định của pháp luật về giải quyết các tranh chấp KDTM theo thủ tục xét xử sơ thẩm tại tòa án hiện nay; đánh giá thực trạng giải quyết các tranh chấp KDTM theo thủ tục xét xử sơ thẩm từ thực tiễn tòa án tỉnh Hà Nam; chỉ ra những kết quả đạt được cũng như những bất cập, vướng mắc trong quá trình thực hiện và rút ra nguyên nhân của hạn chế đó
- Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện các quy định của pháp luật về thủ tục xét xử sơ thẩm tại tòa
án trong giải quyết các vụ án tranh chấp KDTM ở tỉnh Hà Nam thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng
Luận văn tập trung nghiên cứu những quy định pháp luật và thực tiễn xét xử
sơ thẩm tại tòa án trong việc giải quyết các vụ án tranh chấp KDTM ở tỉnh Hà Nam
4.2 Phạm vi
- Về không gian: trên địa bàn tỉnh Hà Nam
- Về thời gian: nghiên cứu thực trạng từ năm 2015 đến nay và đề xuất giải pháp đến năm 2025
5 Phương pháp nghiên cứu
Trang 13Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử kết hợp với các phương pháp chuyên ngành như: Phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp khảo sát thực tiễn.Trên cơ sở quan điểm của Đảng và Nhà nước về đường lối đổi mới đất nước, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN hiện nay, luận văn đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về thủ tục xét xử sơ thẩm tại tòa án trong việc giải quyết các vụ án tranh chấp KDTM
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về tranh chấp kinh doanh thương mại và
giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại theo thủ tục xét xử sơ thẩm tại tòa án
Chương 2: Thực trạng pháp luật về giải quyết các tranh chấp kinh doanh
thương mại theo thủ tục xét xử sơ thẩm tại tòa án và thực tiễn thi hành ở tỉnh Hà Nam
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết các tranh chấp kinh
doanh thương mại theo thủ tục xét xử sơ thẩm tại tòa án và nâng cao hiệu quả thi hành ở tỉnh Hà Nam
Trang 14Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI THEO THỦ TỤC XÉT XỬ SƠ THẨM TẠI TÒA ÁN
1.1 Khái quát về tranh chấp kinh doanh thương mại và giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm tranh chấp kinh doanh thương mại
1.1.1.1 Khái niệm tranh chấp kinh doanh thương mại
Hiện nay, trong khoa học pháp lý, các khái niệm như: tranh chấp kinh tế, tranh chấp thương mại hay tranh chấp KDTM thường được đề cập với nội hàm rộng, hẹp khác nhau Nhưng nhìn chung các khái niệm đều được hiểu là những xung đột, bất đồng về lợi ích, quyền lợi và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ KDTM
Ở Việt Nam, thuật ngữ tranh chấp KDTM mới chỉ xuất hiện khi đất nước tiến hành đổi mới nền kinh tế đến nay Trước đây, khi nền kinh tế Việt Nam còn mang nặng tính bao cấp, các mối quan hệ kinh tế mang tính tập thể và quốc hữu Các quan hệ kinh tế chủ yếu phát sinh giữa các chủ thể nằm trong sự quản lý của nhà nước, lúc này chưa có thuật ngữ "Tranh chấp kinh doanh thương mại" mà chỉ tồn tại thuật ngữ "Tranh chấp kinh tế"
"Tranh chấp kinh tế" theo tư duy cũ quy định tại Điều 12 của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994, bao gồm:
"Các tranh chấp về hợp đồng kinh tế giữa pháp nhân với pháp nhân, giữa pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh;
Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể công ty;
Các tranh chấp liên quan đến mua bán cổ phiếu, trái phiếu
Các tranh chấp khác theo quy định của pháp luật" [32]
Với quy định này, khái niệm "tranh chấp kinh tế" vẫn không bao quát hết các tranh chấp phát sinh trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, ví dụ như tranh
Trang 15chấp về hợp đồng có mục đích kinh doanh giữa hai doanh nghiệp tư nhân với nhau không được xem là tranh chấp kinh tế mà xem là tranh chấp dân sự Điều này dẫn đến không có sự phân biệt rõ ràng giữa tranh chấp kinh tế và tranh chấp dân sự
Hiện nay, ở Việt Nam chưa có cách hiểu chuẩn xác và thống nhất về tranh chấp KDTM Việc xác định phạm vi của tranh chấp được coi là tranh chấp KDTM chủ yếu căn cứ vào luật thực định
Theo khoản 16, Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014 thì: "Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi" [20]
Khoản 1, Điều 3, Luật Thương mại năm 2005 định nghĩa: "Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch
vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác" [14]
Với cách định nghĩa trên hoạt động kinh doanh và hoạt động thương mại có nhiều nội hàm trùng nhau như về mục đích sinh lợi, về đầu tư, về cung ứng dịch vụ,
về tiêu thụ sản phẩm… Trên thực tế, khi xây dựng các quy định trong BLTTDS
2004, đã có nhiều tranh luận xung quanh nội hàm của hai thuật ngữ "Tranh chấp kinh doanh" và "Tranh chấp thương mại" Liệu đây là hai thuật ngữ khác biệt hay tương đương nhau? Có ý kiến thì cho rằng nội hàm của "Tranh chấp thương mại" hẹp hơn "Tranh chấp kinh doanh" và "Tranh chấp thương mại" chỉ là một dạng của
"Tranh chấp kinh doanh", nó phát sinh từ hoạt động kinh doanh và có quan hệ chặt chẽ với hoạt động kinh doanh Trong khi đó, có quan điểm cho rằng "Tranh chấp thương mại" rộng hơn "Tranh chấp kinh doanh", hoặc hai thuật ngữ là tương đương nhau trong bối cảnh Việt Nam hiện nay
Từ sự bất đồng giữa quan điểm dẫn tới việc BLTTDS 2004 đã dùng giải pháp dung hòa khi xây dựng các quy định trong Bộ luật đó là: Sử dụng ghép hai thuật ngữ "Tranh chấp kinh doanh thương mại"
Theo đó, có thể quan niệm tranh chấp KDTM là những mâu thuẫn, bất đồng giữa các chủ thể phát sinh trong hoạt động thực hiện liên tục một, một số hoặc toàn
Trang 16bộ quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm, cung ứng các dịch vụ trên thị trường, xúc tiến thương mại và các hoạt động sinh lợi khác Nói một cách ngắn gọn hơn, có thể định nghĩa tranh chấp KDTM là những mâu thuẫn, bất đồng về lợi ích giữa các chủ thể phát sinh trong hoạt động KDTM
Hiện nay, khái niệm về tranh chấp KDTM được đề cập đến trong khoản 1, Điều 30, BLTTDS năm 2015: "Tranh chấp kinh doanh thương mại là những tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận" [22]
Có thể thấy, các quan niệm trên đều có hạt nhân hợp lý của mình, vấn đề là
sử dụng thuật ngữ thống nhất trong tất cả các văn bản pháp luật Theo quan điểm
của tác giả: Tranh chấp KDTM là những tranh chấp, bất đồng, xung đột về quyền
và nghĩa vụ của các chủ thể có đăng ký kinh doanh phát sinh trong hoạt động KDTM vì mục đích lợi nhuận
1.1.1.2 Đặc điểm tranh chấp kinh doanh thương mại
Tranh chấp KDTM có nhiều loại khác nhau nhưng các tranh chấp KDTM đều có các đặc điểm chung là:
Về nội dung: là những tranh chấp phát sinh trong hoạt động KDTM như: mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, phân phối, đại diện, đại lý, ký gửi, thuê và cho thuê Các tranh chấp này luôn gắn liền với các hoạt động kinh tế, gắn liền với việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ kinh tế
Về chủ thể: các bên tranh chấp có đăng ký kinh doanh hoặc ít nhất một bên
có đăng ký kinh doanh Trong các tranh chấp KDTM chủ thể chủ yếu là các thương nhân, một số trường hợp có thể là cá nhân, chủ thể không phải là thương nhân như tranh chấp giữa công ty với thành viên của công ty
Về cách thức giải quyết các tranh chấp KDTM là do các bên tranh chấp tự định đoạt Bởi các bên tranh chấp có nhiều cách thức để lựa chọn giải quyết như: hòa giải, thương lượng, trọng tài thương mại, tòa án Việc lựa chọn các phương thức giải quyết nào là quyền của các bên nhưng vẫn phải đảm bảo tôn trọng lợi ích của nhau và lợi ích của nhà nước
Trang 17Về tính chất: các tranh chấp KDTM mang tính tài sản Có thể thấy, các tranh chấp KDTM thường mang yếu tố vật chất và có giá trị tài sản lớn, liên quan đến lợi ích của các bên Mức độ tranh chấp thường gay gắt, tính chất phức tạp Do
đó, nếu các tranh chấp KDTM không được giải quyết thì sẽ để lại hậu quả xấu cho các bên tranh chấp, thậm chí ảnh hưởng không tốt tới các chủ thể khác và nền kinh
tế của đất nước Vì vậy, giải quyết các tranh chấp KDTM hợp tình, hợp lý là một yêu cầu cấp thiết đối với sự phát triển kinh tế của đất nước
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại
1.1.2.1 Khái niệm giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại
Tranh chấp KDTM là hệ quả phát sinh từ các quan hệ KDTM, các quan hệ
có tính tài sản với mục đích kinh doanh, kiếm lời Khi tham gia các quan hệ KDTM, các chủ thể đều hướng đến mục đích cao nhất là lợi nhuận, lợi ích kinh tế Do vậy, tranh chấp KDTM phát sinh trên cơ sở sự xâm phạm đến quyền lợi kinh tế Các tranh chấp này thường có ảnh hưởng đến không những quyền lợi của các bên tranh chấp mà còn ảnh hưởng đến sản xuất, kinh doanh của cả cộng đồng kinh doanh Đây chính là phản ứng dây chuyền của tranh chấp KDTM và do vậy nếu nó không được giải quyết một cách khoa học, bảo đảm quyền lợi của các bên trong quan hệ tranh chấp thì có thể ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của nền kinh tế đất nước
Hoạt động KDTM có những đặc thù riêng cho nên khi tranh chấp xảy ra các bên tranh chấp luôn mong muốn nhanh chóng chấm dứt xung đột để bảo vệ hoặc khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp của mình
Theo đó, giải quyết tranh chấp KDTM là việc áp dụng các biện pháp cần thiết nhằm chấm dứt xung đột, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tranh chấp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh doanh, bảo
vệ trật tự kỷ cương xã hội [11, tr 287]
Việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp nói riêng cũng như mọi vấn đề liên quan đến quá trình giải quyết các tranh chấp trong kinh doanh nói chung dựa trên nguyên tắc quan trọng là quyền tự định đoạt của các bên Cơ quan nhà
Trang 18nước và Trọng tài thương mại can thiệp theo yêu cầu của các bên tranh chấp, kể cả khi Tòa án hoặc Trọng tài đã can thiệp trong quá trình tố tụng, quyền tự định đoạt biểu hiện bằng những hành vi đơn phương hoặc thỏa thuận của các bên luôn được ghi nhận và tôn trọng Quyền tự định đoạt của các bên được coi là một nội dung của quyền tự do kinh doanh và được pháp luật bảo hộ
1.1.2.2 Đặc điểm giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại
Giải quyết tranh chấp KDTM có các đặc điểm sau:
Một là, giải quyết tranh chấp KDTM là việc áp dụng các biện pháp để tháo
gỡ các xung đột, bế tắc về lợi ích kinh tế giữa các bên tranh chấp cho nên đặc điểm của giải quyết tranh chấp KDTM là khôi phục và duy trì quan hệ hợp tác, tín nhiệm giữa các bên trong kinh doanh Việc giải quyết các tranh chấp này giúp cho các bên chủ thể nhận thức rõ quyền và nghĩa vụ của mình, qua đó để họ tiếp tục và duy trì quan hệ hợp tác vì lợi ích của các bên và cộng đồng
Hai là, giải quyết tranh chấp KDTM giúp cho các bên giải quyết các tranh
chấp một cách nhanh chóng, kịp thời, hạn chế tối đa sự gián đoạn trong quá trình kinh doanh KDTM là những mối quan hệ mang đậm màu sắc kinh tế với yếu tố lợi nhuận luôn được đặt lên hàng đầu, một trong các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của các bên tranh chấp KDTM là quỹ thời gian Nếu như thời gian giải quyết tranh chấp kéo dài có thể ảnh hưởng đến hoạt động thương mại và làm mất đi lợi thế của hai bên tranh chấp hoặc ảnh hưởng đến bên thứ ba
Ba là, hoạt động KDTM thường mang tính chất dân sự, tự do, tự nguyện và
bình đẳng nên khi giải quyết tranh chấp KDTM luôn có sự tôn trọng quyền tự định đoạt của các bên về quyền lợi, nghĩa vụ cũng như phương thức, thời gian, địa điểm giải quyết tranh chấp KDTM Tuy nhiên, tùy từng phương thức giải quyết tranh chấp, quyền định đoạt của các bên tranh chấp được thể hiện ở các mức độ khác nhau
Bốn là, các tranh chấp KDTM thường xảy ra giữa các đối tác, các bạn hàng
của nhau, nhiều khi là đối tác chiến lược, bạn hàng lâu năm nên mặc dù các bên có
Trang 19tranh chấp về mặt lợi ích nhưng họ vẫn muốn hợp tác lâu dài với nhau, ràng buộc, nương tựa lẫn nhau Chính vì vậy, khi có tranh chấp KDTM, các bên lựa chọn thương lượng hoặc có thể hòa giải hay thông qua trọng tài thương mại để giải quyết Cuối cùng, không thể giải quyết được, các bên mới khởi kiện ra tòa án
1.1.3 Các phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại
Xuất phát từ quyền tự do kinh doanh, trong đó bao hàm quyền tự do lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp, các bên tranh chấp có quyền lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp phù hợp nhất cho mình Hiện nay, theo quy định của pháp luật, có 4 phương thức cơ bản thường được áp dụng để giải quyết các tranh chấp KDTM đó là: thương lượng, hòa giải, Trọng tài và Tòa án
Giải quyết tranh chấp KDTM bằng thương lượng: là hình thức giải quyết
tranh chấp KDTM được tiến hành giữa các bên (hoặc đại diện của các bên) tranh chấp, không cần đến vai trò của người thứ ba để cùng tìm ra và đi đến những thỏa thuận thống nhất bằng những giải pháp phù hợp với tất cả các bên nhằm chấm dứt những tranh chấp trong hoạt động KDTM Đây là biện pháp khá phổ biến, có tính chất đơn giản, ít tốn kém, không làm phương hại đến quan hệ hợp tác vốn có của các bên, giữ được bí mật kinh doanh lại không bị ràng buộc bởi các thủ tục pháp lý
Thương lượng đòi hỏi các bên phải có thiện chí, trung thực và hợp tác Tuy nhiên, hình thức thương lượng có một số nhược điểm sau: khó thực hiện nếu các bên mâu thuẫn không có thiện chí; giá trị pháp lý của biên bản thương lượng chưa được quy định cụ thể và không có giá trị cưỡng chế thi hành
Giải quyết tranh chấp KDTM bằng hòa giải: là phương thức giải quyết
tranh chấp KDTM có sự tham gia của bên thứ ba giữ vai trò trung gian hòa giải nhằm giúp cho các bên tranh chấp thu hẹp những bất đồng và đi đến giải pháp giải quyết vụ tranh chấp So với hình thức giải quyết tranh chấp bằng thương lượng, hòa giải có điểm khác biệt là có sự xuất hiện của bên thứ ba, với tư cách là người trung gian để giúp đỡ các bên tìm ra giải pháp Bên thứ ba (hay còn gọi là hòa giải viên)
do các bên tranh chấp thỏa thuận lựa chọn làm trung gian hòa giải không có quyền
Trang 20quyết định hay áp đặt ý chí của mình lên các bên tranh chấp Tuy nhiên, hòa giải viên là người am hiểu pháp luật, có kỹ năng hòa giải, có kiến thức chuyên môn liên quan đến lĩnh vực tranh chấp sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc giúp cho các bên tranh chấp tìm kiếm những giải pháp thích hợp cho việc giải quyết tranh chấp, còn giải pháp có đạt được hay không là do các bên tranh chấp quyết định
Giải quyết tranh chấp KDTM bằng Trọng tài: Đây là phương thức giải
quyết tranh chấp KDTM khá phổ biến, được nhiều nước trên thế giới áp dụng Đó là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động của Trọng tài viên (hoặc Hội đồng Trọng tài), với tư cách là bên thứ ba độc lập nhằm chấm dứt xung đột bằng việc đưa ra một phán quyết buộc các bên tranh chấp phải thực hiện Cơ sở làm phát sinh thẩm quyền của Trọng tài là sự thỏa thuận của các bên tranh chấp Điều 5, khoản 1 của Luật Trọng tài thương mại 2010 quy định: "Tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài nếu các bên có thỏa thuận Trọng tài Thỏa thuận Trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp" [16] Thỏa thuận Trọng tài phải được lập thành văn bản, có thể ghi trong hợp đồng chính hoặc bằng văn bản riêng
Ưu điểm của phương thức này là có tính linh hoạt, tạo quyền chủ động cho các bên, tiết kiệm được thời gian, có thể rút ngắn thủ tục tố tụng trọng tài và đảm bảo bí mật Trọng tài tiến hành giải quyết tranh chấp theo nguyên tắc xét xử không công khai hoặc xử kín Theo nguyên tắc này các bên có thể giữ được bí mật kinh doanh cũng như danh dự, uy tín của mình Giải quyết bằng trọng tài không bị giới hạn về mặt lãnh thổ do các bên có quyền lựa chọn bất kỳ trung tâm trọng tài nào để giải quyết tranh chấp cho mình Phán quyết của trọng tài có tính chung thẩm, đây là
ưu thế vượt trội so với thương lượng và hòa giải Sau khi trọng tài đưa ra phán quyết thì các bên không có quyền kháng cáo trước bất kỳ một tổ chức hay tòa án nào Tuy nhiên, nhược điểm của phương thức này đòi hỏi chi phí tương đối cao Phán quyết của Trọng tài cũng có thể được cưỡng chế thi hành bởi cơ quan thi hành
án như phán quyết của Tòa án
Giải quyết tranh chấp KDTM bằng Tòa án: là phương thức giải quyết tranh
Trang 21chấp tại cơ quan xét xử nhân danh quyền lực nhà nước, được tiến hành theo trình tự, thủ tục nghiêm ngặt, chặt chẽ và bản án hay quyết định của Tòa án về vụ tranh chấp nếu không có sự tự nguyện tuân thủ sẽ được đảm bảo thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước [31, tr 465] Tòa án là cơ quan tài phán duy nhất có quyền nhân danh quyền lực nhà nước tiến hành xét xử các vụ tranh chấp KDTM Đặc điểm này thể hiện vai trò của nhà nước trong việc tạo lập nên những thiết chế quyền lực nhằm giải quyết những mâu thuẫn bất đồng trong kinh doanh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong nền kinh tế, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh
Ưu điểm của phương thức giải quyết tranh chấp bằng tòa án là có tính cưỡng chế cao, nếu không chấp hành thì sẽ bị cưỡng chế So với phương thức giải quyết bằng trọng tài thì giải quyết bằng tòa án có ưu thế hơn hẳn về trình tự tố tụng chặt chẽ, tính khả thi của hiệu lực phán quyết Tuy nhiên, nhược điểm của phương thức này là thủ tục tại tòa án thiếu tính linh hoạt, do đã được pháp luật quy định chặt chẽ Bên cạnh đó, nguyên tắc xét xử công khai một mặt thể hiện tính tiến bộ, mang tính răn đe nhưng đôi khi lại là yếu tố cản trở đối với các bên khi bí mật kinh doanh
bị tiết lộ
Có thể thấy rằng mỗi phương thức giải quyết tranh chấp KDTM nói trên đều có những ưu nhược điểm riêng Khi xảy ra tranh chấp cần phải giải quyết thì các bên có quyền lựa chọn phương thức giải quyết phù hợp nhất Ở Việt Nam hiện nay, phương thức giải quyết tranh chấp KDTM bằng tòa án đang phát huy vai trò quan trọng và được các chủ thể lựa chọn để giải quyết tranh chấp
1.2 Khái quát về thủ tục xét xử sơ thẩm tại tòa án
1.2.1 Khái niệm thủ tục xét xử sơ thẩm
Theo Từ điển Tiếng Việt (1997) của Viện Ngôn ngữ học: "Thủ tục là những việc cụ thể phải làm theo một trật tự quy định để tiến hành một công việc có tính chất chính thức" [35, tr 972] Như vậy, mỗi công việc được thực hiện theo một thủ
Trang 22tục nhất định sẽ góp phần giải quyết công việc khoa học, mang lại hiệu quả cao
Về xét xử, chúng ta có thể hiểu khái quát nhất, đó không chỉ là việc kiểm tra lại các tài liệu, chứng cứ thu thập trong giai đoạn điều tra, truy tố và tuyên án
Mà xét xử là một hoạt động đặc biệt mang tính quyền lực nhà nước do Tòa án thực hiện, nhằm giải quyết những vụ án thuộc nhiều lĩnh vực như hình sự, dân sự, kinh
tế, hành chính…
Theo Từ điển Giải thích thuật ngữ Luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội, thì "Sơ thẩm được hiểu là lần đầu tiên đưa một vụ án ra xét xử tại Tòa án có thẩm quyền" Như vậy, xét xử sơ thẩm là lần xét xử đầu tiên của một vụ án theo thẩm quyền của từng cấp tòa án
Từ đó, có thể hiểu thủ tục xét xử sơ thẩm là những công việc mà tòa án cần phải làm theo một trình tự nhất định để xét xử lần đầu một vụ án giải quyết tranh chấp theo thẩm quyền của tòa án
Thủ tục xét xử sơ thẩm các vụ án thường qua các giai đoạn khác nhau: Giai đoạn thụ lý vụ án: là giai đoạn mở đầu cho toàn bộ quá trình giải quyết
vụ án tại Tòa án
Giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án được tính từ khi thụ lý vụ án cho đến khi Tòa án ra một trong các quyết định: Đưa vụ án ra xét xử; Tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án; hoặc đình chỉ việc giải quyết vụ án
Giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án được tính từ khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử cho đến khi Tòa án thực hiện xong các thủ tục sau phiên tòa sơ thẩm Trong giai đoạn này, Tòa án phải tiến hành các công việc: Chuẩn bị mở phiên tòa sơ thẩm; Tiến hành phiên tòa sơ thẩm; Thực hiện thủ tục sau phiên tòa sơ thẩm
1.2.2 Đặc điểm của thủ tục xét xử sơ thẩm
Thủ tục xét xử sơ thẩm mặc dù có nhiều công đoạn khác nhau nhưng đều có những đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, là thủ tục cơ bản của luật tố tụng, được tiến hành theo một trình
Trang 23tự, thủ tục nhất định, theo quy định của pháp luật, bao gồm các bước như: khởi kiện, thụ lý vụ án, chuẩn bị xét xử sơ thẩm và phiên tòa sơ thẩm
Thứ hai, xét về phương diện lý luận, thủ tục xét xử sơ thẩm là một dạng cụ
thể của thủ tục tư pháp, cho nên thủ tục xét xử sơ thẩm cũng được xác lập trên cơ sở những nguyên tắc chung của của thủ tục tư pháp như: Nguyên tắc thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập; Nguyên tắc khi xét xử hội thẩm nhân dân ngang quyền với thẩm phán; Nguyên tắc xét xử công khai; Các đương sự bình đẳng, được quyền tự mình hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho mình…
Thứ ba, là thủ tục tố tụng đầu tiên giải quyết tranh chấp của các bên đương
sự nên phán quyết của tòa án trong bản án quyết định không phải là phán quyết cuối cùng, đương sự vẫn có quyền kháng cáo Viện kiểm sát vẫn có quyền kháng nghị bản án quyết định theo thủ tục phúc thẩm Trong trường hợp bản án quyết định sơ thẩm có hiệu lực mà bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm thì vụ án có thể bị xét xử lại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm
1.3 Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại theo thủ tục xét xử
sơ thẩm tại tòa án
1.3.1 Khái niệm và đặc điểm giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại theo thủ tục xét xử sơ thẩm
1.3.1.1 Khái niệm giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại theo thủ tục xét xử sơ thẩm tại tòa án
Trong lĩnh vực dân sự, khi các tranh chấp dân sự xảy ra, đương sự khởi kiện và được tòa án thụ lý giải quyết thì được gọi là vụ án dân sự Những tranh chấp
về quyền và nghĩa vụ giữa các bên phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự; hôn nhân, gia đình; KDTM và lao động được quy định tại điều 26, 28, 30 và 32 BLTTDS
2015 do cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện mà được tòa án thụ lý giải quyết được gọi là vụ án dân sự, được điều chỉnh theo thủ tục tố tụng dân sự
Như vậy, thủ tục giải quyết vụ án tranh chấp KDTM là một trong các thủ
Trang 24tục của tố tụng dân sự Theo đó, các tranh chấp về KDTM được quy định tại Điều 30, BLTTDS 2015 được tòa án thụ lý giải quyết được gọi là các vụ án KDTM
Trên cơ sở đó có thể hiểu, giải quyết tranh chấp KDTM theo thủ tục xét xử
sơ thẩm tại tòa án là thủ tục tố tụng dân sự xét xử cấp đầu tiên giải quyết vụ án tranh chấp KDTM được tòa án có thẩm quyền áp dụng để giải quyết các tranh chấp KDTM bao gồm: thủ tục khởi kiện và thụ lý, chuẩn bị xét xử sơ thẩm và xét xử sơ thẩm vụ án KDTM
1.3.1.2 Đặc điểm giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại theo thủ tục xét xử sơ thẩm
Bên cạnh những đặc điểm chung của thủ tục xét xử sơ thẩm thì khi giải quyết các tranh chấp KDTM các thủ tục xét xử sơ thẩm tại tòa án còn mang những đặc điểm riêng sau:
Một là, chủ thể khởi kiện vụ án KDTM chủ yếu là cá nhân, tổ chức được
các cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (trừ một số trường hợp pháp luật có quy định khác) Căn cứ theo BLTTDS 2015, các chủ thể khởi kiện ở đây được hiểu là các chủ thể được phép tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự theo quy định của pháp luật (gọi chung là người khởi kiện), đều có mục đích chung là lợi nhuận, bao gồm hai loại là cá nhân và cơ quan, tổ chức
Hai là, các tài liệu, chứng cứ phải nộp kèm theo đơn khởi kiện Kèm theo đơn
khởi kiện, người khởi kiện phải có tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm Tuy nhiên, trong các vụ án KDTM do các chủ thể khởi kiện chủ yếu là các cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh nên khi nộp đơn khởi kiện, người khởi kiện thường nộp kèm theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; Điều lệ hoạt động, các quyết định nhân sự để chứng minh tư cách chủ thể của mình
Ba là, về hình thức đơn khởi kiện Tuân thủ đúng hình thức theo quy định
tại Điều 189 BLTTDS 2015 Đối với các vụ án KDTM cần lưu ý đến người đứng tên trong đơn khởi kiện Đương sự trong các tranh chấp KDTM thường là các chủ thể kinh doanh như: công ty nhà nước (chưa chuyển đổi), công ty trách nhiệm hữu
Trang 25hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã hoặc hộ kinh doanh Dó đó, người ký đơn khởi kiện vụ án KDTM là người đại diện theo pháp luật của pháp nhân, là chủ doanh nghiệp hay chủ hộ kinh doanh Người đại diện theo pháp luật có thể ủy quyền cho người khác ký đơn khởi kiện và tham gia tố tụng tại tòa án Khi
đó, tòa án cần kiểm tra việc ủy quyền ký đơn khởi kiện và tham gia tố tụng đó có đúng phạm vi ủy quyền và đúng quy định của pháp luật hay không Ngoài ra, đương
sự là công ty thì đơn khởi kiện phải đóng dấu công ty ở cuối đơn
Thứ tư, về thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án KDTM Xuất phát từ yêu cầu của
sản xuất kinh doanh nên thời hạn giải quyết các vụ án tranh chấp KDTM được pháp luật quy định ngắn hơn thời hạn xử lý các vụ án dân sự khác
Thứ năm, về án phí trong các vụ án KDTM thường có mức khởi điểm cao
hơn so với mức án phí của các vụ án dân sự khác (hôn nhân gia đình, lao động )
Án phí dân sự là số tiền đương sự phải nộp cho nhà nước khi vụ án dân sự được tòa án giải quyết Án phí gồm có các loại: án phí hình sự sơ thẩm và phúc thẩm,
án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm, án phí hành chính sơ thẩm và phúc thẩm Đối với việc giải quyết các vụ án tranh chấp KDTM không có trường hợp nào được miễn phí và mức án phí phải nộp thường cao hơn mức khởi điểm của các vụ án dân sự khác
Mức án phí hiện nay thực hiện theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành về án phí và lệ phí Tòa
án Theo đó, án phí gồm 02 loại: Được áp dụng cố định mức tiền: Án phí hình sự, hành chính, dân sự sơ thẩm không có giá ngạch, dân sự phúc thẩm hoặc tính theo % giá trị tranh chấp hoặc tài sản tranh chấp Đặc biệt, nếu giải quyết vụ án tranh chấp KDTM theo thủ tục rút gọn thì mức án phí chỉ được tính bằng 50% so với bình thường Ngoài ra, mức tính tạm ứng án phí cũng được tính dựa theo giá tài sản Trong đó, giá tài sản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định được ưu tiên đầu tiên trong việc làm cơ sở để tạm thu án phí (Xem thêm phụ lục 1)
Trang 261.3.2 Các tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm tranh chấp kinh doanh thương mại
Hiện nay, trước yêu cầu của cải cách hệ thống tư pháp, Tòa án Việt Nam đang có những thay đổi mạnh mẽ về thẩm quyền cũng như thủ tục xét xử nhằm đảm bảo tranh chấp được giải quyết nhanh chóng, công bằng và đúng pháp luật Điều 3, Luật
tổ chức TAND năm 2014 (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/6/2015 và thay thế cho Luật Tổ chức TAND 2002) quy định, TAND ở nước ta gồm bốn cấp: Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC); các TAND cấp cao; các TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; các TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương Ngoài ra còn có các Tòa án quân sự xét xử các vụ án liên quan đến quân sự
Mỗi cấp tòa án sẽ có thẩm quyền xét xử khác nhau, trong đó:
Tòa án nhân dân tối cao là Tòa án cấp cao nhất trong hệ thống Tòa án Việt Nam TANDTC sẽ không có thẩm quyền xét xử mà chỉ thực hiện quyền giám đốc thẩm hoặc tái thẩm đối với những bản án, quyết định của tất cả các Tòa án cấp dưới
đã có hiệu lực pháp luật và bị kháng nghị
Tòa án nhân dân cấp cao sẽ tiến hành xét xử phúc thẩm đối với các bản án, quyết định chưa có hiệu lực do Tòa cấp tỉnh ra theo thủ tục sơ thẩm mà bị kháng cáo, kháng nghị Bên cạnh đó, Tòa cấp cao còn có thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm những bản án, quyết định của Tòa cấp tỉnh và Tòa cấp huyện
Có thể thấy, TANDTC và TAND cấp cao không xét xử sơ thẩm các vụ án
về tranh chấp KDTM mà chỉ xét xử phúc thẩm hoặc thực hiện quyền giám đốc thẩm, tái thẩm
Theo đó, ở Việt Nam chỉ có TAND cấp tỉnh và cấp huyện có thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ án tranh chấp KDTM Trước đây, theo quy định tại Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế thì việc phân định thẩm quyền giữa TAND cấp huyện và TAND cấp tỉnh trong giải quyết các tranh chấp KDTM dựa vào giá trị của tranh chấp đó Tuy nhiên, không phải mọi tranh chấp KDTM đều có thể xác định được giá trị tranh chấp một cách dễ dàng, điều đó dẫn tới việc khó xác định được
Trang 27thẩm quyền của Tòa án Vì vậy, BLTTDS 2015 không dựa vào giá trị của tranh chấp để phân định thẩm quyền của TAND cấp huyện và TAND cấp tỉnh, việc phân định giữa Tòa án cấp Tỉnh và Tòa án cấp huyện dựa vào nhiều cơ sở khác nhau để phân định Cụ thể:
Theo quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 35 BLTTDS 2015 thì: TAND cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm các tranh chấp KDTM được quy định tại Khoản 1 Điều 30 Bộ luật này Đó là: Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau
và đều có mục đích lợi nhuận [22], bao gồm các tranh chấp phát sinh trong hoạt động: Mua bán hàng hóa; Cung ứng dịch vụ; Phân phối; Đại diện, đại lý; Ký gửi; Thuê, cho thuê, thuê mua; Xây dựng; Tư vấn, kỹ thuật; Vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đờng sắt, đường bộ, đường thủy nội địa; Vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường hàng không, đường biển; Mua bán cổ phiếu, trái phiếu và giấy tờ
có giá khác; Đầu tư, tài chính, ngân hàng; Bảo hiểm; Thăm dò, khai thác
Tuy nhiên, những tranh chấp nói trên mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan Lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án nước ngoài không thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND cấp huyện
Với tinh thần cải cách tư pháp nhằm tăng cường thẩm quyền cho Tòa án cấp huyện đã giao toàn bộ các tranh chấp KDTM quy định tại khoản 1 Điều 30 BLTTDS 2015 cho Tòa án cấp huyện mà không phân biệt tính phức tạp, độ khó của từng loại tranh chấp.Như vậy thẩm quyền của Tòa án cấp huyện trong việc giải quyết án KDTM được mở rộng hơn rất nhiều so với trước đây
Tòa án cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm các tranh chấp KDTM được quy định tại điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 37 BLTTDS 2015 Theo đó, TAND cấp tỉnh có thẩm quyền xét xử những tranh chấp KDTM quy định tại Điều 30 của Bộ luật này, trừ những tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND cấp huyện Đồng thời, theo khoản 2 Điều 37 BLTTDS 2015: TAND cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ
Trang 28thẩm những vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND cấp huyện quy định tại Điều 35 của Bộ luật này mà TAND cấp tỉnh tự mình lấy lên để giải quyết khi xét thấy cần thiết hoặc theo đề nghị của TAND cấp huyện [22]
Những tranh chấp KDTM thuộc thẩm quyền sơ thẩm của Tòa án cấp huyện nhưng Tòa án cấp tỉnh thấy cần thiết và lấy lên để giải quyết: Thông thường Tòa án cấp tỉnh có thể lấy những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp huyện để giải quyết trong những trường hợp việc vận dụng chính sách pháp luật có nhiều khó khăn phức tạp, việc điều tra thu tập chứng cứ gặp khó khăn hoặc phải giám định phức tạp, đương sự trong vụ án là cán bộ chủ chốt ở địa phương, những người có uy tín trong tôn giáo mà xét thấy việc xét xử của Tòa án cấp huyện không có lợi về chính trị, hoặc vụ việc có liên quan đến cán bộ công chức của Tòa án cấp huyện Theo yêu cầu của đương sự Tòa án cấp tỉnh cũng có thể lấy vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp huyện lên để xét xử nếu có lý do chính đáng Để cụ thể hóa vấn đề trên Hội đồng thẩm phán TANDTC đã ban hành Nghị quyết số 05/2012 ngày 03/12/2012 hướng dẫn thi hành các quy định trong phần thứ hai "Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm" của BLTTDS tại điểm 1.3 Mục 1 phần II đó là:
"Những vụ án có tính chất phức tạp" được hiểu là những vụ án có nhiều đương sự, có liên quan đến nhiều lĩnh vực, vụ án có nhiều tài liệu, có các chứng cứ mâu thuẫn với nhau cần có thêm thời gian để nghiên cứu tổng hợp các tài liệu có trong hồ sơ vụ án hoặc tham khảo ý kiến cơ quan chuyên môn, phải giám định kỹ thuật phức tạp, những vụ án mà đương sự là người nước ngoài đang ở nước ngoài hoặc người Việt Nam đang cư trú, học tập làm việc ở nước ngoài, tài sản ở nước ngoài cần phải có thời gian ủy thác tư pháp cho cơ quan lãnh sự, ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án nước ngoài [29]
"Lý do chính đáng" được hiểu là các sự kiện xảy ra một cách khách quan, không lường trước được như: cần phải có sự thay đổi, phân công lại người tiến hành
tố tụng, vụ án có tính chất phức tập đã được xét xử nhiều lần ở nhiều cấp Tòa án khác nhau nên không còn đủ thẩm phán để tiến hành xét xử vụ án đó mà phải
Trang 29chuyển vụ án cho Tòa án cấp trên xét xử hoặc phải biệt phái thẩm phán từ Tòa án khác đến nên cản trở Tòa án tiến hành phiên tòa trong thời hạn quy định [29]
Theo hướng dẫn tại khoản 5, Điều 7, Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng thẩm phán TANDTC thì trong trường hợp sau sẽ không thay đổi thẩm quyền của Tòa án, đó là trường hợp vụ án đã được Tòa án cấp huyện thụ lý giải quyết đúng thẩm quyền, nếu trong quá trình giải quyết mới có sự thay đổi như có đương sự ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án nước ngoài theo Điều 412, BLTTDS
2015 thì tòa án cấp huyện đã thụ lý tiếp tục giải quyết vụ án đó Và ngược lại, đối với những vụ án đã được Tòa án cấp tỉnh thụ lý giải quyết đúng thẩm quyền mà trong quá trình giải quyết có sự thay đổi như không còn đương sự ở nước ngoài, không phải ủy thác cho cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án nước ngoài thì Tòa án cấp tỉnh đã thụ lý tiếp tục giải quyết vụ việc đó
Như vậy, thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ án tranh chấp KDTM hiện nay thuộc về TAND cấp huyện và TAND cấp tỉnh (cụ thể là Tòa kinh tế, TAND cấp tỉnh) Việc xây dựng các quy định về phân định thẩm quyền sơ thẩm các tranh chấp KDTM giữa Tòa án cấp huyện và Tòa án cấp tỉnh được dựa trên các tiêu chí đơn giản hay phức tạp của vụ án, trình độ chuyên môn, kỹ thuật và kinh nghiệm của Thẩm phán, yếu tố nước ngoài cần phải có điều kiện để liên lạc, xác minh hay đảm bảo tính khách quan của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp
Kết luận chương 1
Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của Việt Nam hiện nay khi các quan hệ kinh tế càng phát triển thì những tranh chấp về KDTM xảy ra ngày càng nhiều Những tranh chấp đó là các xung đột về lợi ích giữa các chủ thể xảy ra trong các quan hệ KDTM Để giải quyết tranh chấp KDTM có nhiều cách thức khác nhau như: thương lượng, hòa giải, thông qua trọng tài thương mại hoặc thông qua tòa án Nhưng trong các phương thức đó thì giải quyết tranh chấp KDTM bằng tòa
án vẫn là một cơ chế giải quyết hiệu quả nhất, được nhiều chủ thể lựa chọn Giai
Trang 30đoạn xét xử ban đầu các vụ án KDTM của tòa án chính là giai đoạn sơ thẩm Trong giai đoạn này, Tòa án phải tiến hành các công việc: Chuẩn bị mở phiên tòa sơ thẩm; Tiến hành phiên tòa sơ thẩm; Thực hiện thủ tục sau phiên tòa sơ thẩm Các thủ tục xét xử sơ thẩm của tòa án trong giải quyết các vụ án KDTM phải tuân theo trình tự, quy định của pháp luật, đặc biệt là quy định của BLTTDS 2015 Các thủ tục này, ngoài những đặc điểm chung của thủ tục xét xử sơ thẩm các vụ án dân sự còn mang những đặc điểm riêng về: chủ thể khởi kiện, việc cung cấp chứng cứ, hình thức đơn khởi kiện, thời hạn chuẩn bị xét xử, án phí Chính vì vậy, trong quá trình xét xử các
vụ án tranh chấp KDTM theo thủ tục sơ thẩm, các TAND cấp huyện và cấp tỉnh phải tuân thủ các quy định của pháp luật hiện hành về thủ tục xét xử sơ thẩm tại tòa
án để không ngừng nâng cao hiệu quả xét xử các vụ án KDTM, góp phần ổn định tình hình kinh tế, xã hội của địa phương
Trang 31Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
KINH DOANH THƯƠNG MẠI THEO THỦ TỤC XÉT XỬ SƠ THẨM TẠI TÒA ÁN VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH Ở TỈNH HÀ NAM
2.1 Hệ thống các quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại theo thủ tục xét xử sơ thẩm tại tòa án
Các quy định của pháp luật về giải quyết các tranh chấp KDTM theo thủ tục xét xử sơ thẩm tại tòa án được quy định tại nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau nhưng nhìn chung được quy định rõ nhất trong pháp luật tố tụng dân sự và có quá trình phát triển lâu dài, ngày càng hoàn thiện hơn Cụ thể như sau:
Từ ngày đầu thành lập, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật, trong đó có nhiều văn bản chứa đựng các quy phạm tố tụng dân sự đáng chú ý là Sắc lệnh số 47/SL ngày 10/10/1945 quy định các Tòa án ở nước ta vẫn áp dụng Bộ dân sự tố tụng Bắc kì 1917, Bộ hộ sự tố tụng Trung Kì 1942, Bộ dân sự tố tụng Nam kì 1910 để giải quyết tranh chấp về dân sự nói chung cũng như tranh chấp kinh doanh thương mại nói riêng Đáng chú ý là Sắc lệnh số 51/SL ngày 17/4/1946, tại điều 6 quy định Tòa sơ cấp có quyền xét xử chung thẩm và sơ thẩm với các việc thương sự Tòa sơ cấp có thẩm quyền xét xử chung thẩm đối với các việc kiện thương sự về động sản mà giá ngạch do nguyên đơn định không quá 150 đồng; những việc kiện về các khoản lệ phí đã phát sinh ra trước tòa án áy không cứ giá ngạch nào Xét xử sơ thẩm những việc dân sự hay thương sự về động sản mà giá ngạch do nguyên đơn định trên 150 đồng, nhưng dưới 450 đồng Tại Điều 11 quy định: Tòa án đệ nhị cấp cũng có thẩm quyền có quyền xét xử sơ thẩm và chung thẩm vụ việc thương sự Trong đó, xét xử sơ thẩm đối với những việc kiện về động sản mà giá ngạch trên 750 đồng; những việc kiện không thể định trước được giá ngạch; những việc kiện có quan hệ đến thân phận hay căn cước của người, hoặc về vấn đề tế tự
Trang 32Giai đoạn 1950 đến 1960 các tranh chấp từ hoạt động kinh tế được giải quyết tại tòa Thủ tục xét xử sơ thẩm tại tòa được quy định tại Nghị định số 735-TTg ngày 10/1956 Nghị định này ban hành Điều lệ tạm thời về hoạt động kinh tế
Sau năm 1960, theo quyết định tại Nghị định số 20/TTg ngày 04/01/1960 của Thủ tướng Chính phủ, các tranh chấp KDTM được giải quyết bằng trọng tài kinh
tế, chính vì thế, Tòa án không có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp KDTM nữa
Đến ngày 16/3/1994 với sự ra đời của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ
án kinh tế 1994 đã đánh dấu bước phát triển mới về thủ tục giải quyết các tranh chấp kinh tế tại tòa án trong giai đoạn đổi mới đất nước Theo đó, tại điều 1 của Pháp lệnh đã khẳng định: "cá nhân, pháp nhân, theo thủ tục do pháp luật quy định,
có quyền khởi kiện vụ án kinh tế để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình" Để cụ thể hóa thủ tục giải quyết các tranh chấp kinh tế thì ngoài phần quy định chung, pháp lệnh đã quy định về thẩm quyền của tòa án; hội đồng xét
xử, thay đổi thẩm phán, hội thẩm, kiểm sát viên, thư ký tòa án, người giám định, người phiên dịch; người tham gia tố tụng; án phí; khởi kiện, thụ lý vụ án; chuẩn bị xét xử; phiên tòa sơ thẩm Thời gian đầu, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế đã phát huy hiệu quả rất đáng kể trong việc giải quyết các tranh chấp kinh tế phát sinh trong xã hội Tuy nhiên, sau một thời gian áp dụng, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế đã không còn phù hợp khi các quan hệ KDTM phát triển
một cách mạnh mẽ
Trước yêu cầu đó, BLTTDS năm 2004 được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam thông qua ngày 15/6/2004 thay thế Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế ngày 06/3/1994 BLTTDS 2004 đã quy định cụ thể về thủ tục giải quyết các tranh chấp KDTM như: Những tranh chấp về kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án (điều 29); Thẩm quyền của tòa án các cấp (điều 33 đến điều 38); về cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; thành phần giải quyết vụ án; người tham gia tố tụng; chứng minh và chứng cứ; án phí và các lệ phí; thời hạn tố tụng đặc biệt, tại phần thứ hai của BLTTDS 2004 quy định
Trang 33rất rõ về thủ tục giải quyết vụ án tại tòa án cấp sơ thẩm (từ chương XII đến chương XIV) Ngoài ra, thủ tục xét xử sơ thẩm các vụ án KDTM giai đoạn này còn được hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31/3/2005 được Hội đồng thẩm phán TANDTC ban hành Thông qua hai văn bản này, thủ tục xét xử sơ thẩm các tranh chấp KDTM được quy định tương đối đầy đủ, thống nhất, tạo hành lang pháp lý để Tòa án các cấp giải quyết tranh chấp kịp thời, đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình
Sau thời gian áp dụng các quy định của BLTTDS 2004 cùng với sự hướng dẫn giải thích của Hội đồng thẩm phán TANDTC tại Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP, một số quy định đã bộc lộ hạn chế, khiến cho việc giải quyết tranh chấp cũng gặp khó khăn Những hạn chế này cần phải được sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện hơn nữa pháp luật về tố tụng dân sự Ngày 29/3/2011, Quốc hội đã ban hành Luật số 65/2011/QH12 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS 2004, đã sửa đổi, bổ sung một số quy định liên quan đến thủ tục xét xử sơ thẩm các tranh chấp KDTM như: thẩm quyền của tòa án, người tham gia tố tụng, chứng minh và chứng cứ, thời hiệu khởi kiện, phiên tòa sơ thẩm
Bên cạnh đó, Hội đồng thẩm phán TANDTC đã ban hành Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ hai "Thủ tục giải quyết vụ án tại tòa án cấp sơ thẩm của BLTTDS sửa đổi, bổ sung Trong đó, hướng dẫn cụ thể các thủ tục về: quyền khởi kiện, phạm vi khởi kiện, hình thức, nội dung đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện, thời hạn chuẩn bị xét xử, biên bản hòa giải, biên bản phiên tòa
Ngày 25/11/2015, BLTTDS 2015 được thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016 đã đánh dấu việc hoàn thiện hơn nữa pháp luật về tố tụng dân sự cho phù hợp với thực tiễn đất nước BLTTDS 2015 đã điều chỉnh, bổ sung một số quy định về thủ tục giải quyết vụ án KDTM tại Tòa án cấp sơ thẩm Chẳng hạn như: Điều 30, 31 quy định những tranh chấp và yêu cầu về kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; phần thứ hai (từ Điều 186 đến Điều 269) về thủ
Trang 34tục giải quyết vụ án tại tòa án cấp sơ thẩm Trong đó, quy định rõ thủ tục khởi kiện, xác định ngày khởi kiện; bổ sung căn cứ tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án; sửa đổi căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án, thủ tục thay đổi tư cách đương sự trong trường hợp nguyên đơn rút đơn khởi kiện hoặc đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt mà không có đơn xin vắng mặt khi giải quyết như có phản tố của bị đơn hoặc có yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; bổ sung quy định về phiên họp chuẩn bị xét xử nhằm công khai, minh bạch chứng cứ, giải quyết các yêu cầu, đề nghị của đương sự về thu thập chứng cứ, triệu tập người tham gia tố tụng, thời gian mở phiên tòa và các vấn đề có liên quan khác đến việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự
Đồng thời, các cơ quan chức năng đã ban hành một loạt các văn bản để hướng dẫn cụ thể hơn việc thực hiện thủ tục xét xử sơ thẩm các tranh chấp KDTM như: Nghị quyết 01/2017/NQ-HĐTP biểu mẫu trong tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa; Thông tư liên tịch 02/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC quy định việc phối hợp giữa Viện kiểm sát nhân dân và TAND trong việc thi hành một số quy định của BLTTDS; Nghị quyết 04/2016/NQ-HĐTP hướng dẫn quy định của BLTTDS 92/2015/QH13, Luật tố tụng hành chính 93/2015/QH13 về gửi, nhận đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ và cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng bằng phương tiện điện tử do Hội đồng Thẩm phán TANDTC ban hành; Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP hướng dẫn quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 BLTTDS 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án
Tóm lại, hiện nay các quy định của pháp luật về thủ tục xét xử sơ thẩm tại tòa án các tranh chấp KDTM được quy định và hướng dẫn tại nhiều văn bản khác nhau, ngày càng cụ thể, hoàn thiện hơn, tạo hành lang pháp lý cho hoạt động xét xử các vụ án KDTM được thuận lợi Tuy nhiên, do quy định ở nhiều văn bản khác nhau nên cũng gây khó khăn cho việc thống nhất thực hiện trong thực tiễn
Trang 352.2 Các quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại theo thủ tục xét xử sơ thẩm tại tòa án
2.2.1 Quy định về nguyên tắc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại
Tòa án là cơ quan tài phán của nhà nước, tiến hành áp dụng pháp luật trong trường hợp các bên xảy ra tranh chấp KDTM theo thẩm quyền được quy định tại BLTTDS Trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của của mình, Tòa áncần phải tuân thủ các nguyên tắc, thủ tục do pháp luật quy định để đảm bảo hiệu quả xét xử, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho các bên tham gia Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp KDTM tại tòa án bao gồm:
2.2.1.1 Nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của các đương sự
Nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của các đương sự xuất phát từ nguyên tắc đảm bảo quyền tự do kinh doanh (Điều 33, Hiến pháp 2013) và được ghi nhận tại Điều 5, BLTTDS 2015:
"1 Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó
2 Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội."
Đây là nguyên tắc rất căn bản của tố tụng vụ án tranh chấp KDTM Trên cơ
sở đảm bảo quyền tự do kinh doanh, nhà nước không can thiệp vào hoạt động kinh doanh của các chủ thể nếu họ hoạt động theo quy định của pháp luật Khi có tranh chấp KDTM xảy xa, tòa án chỉ tham gia giải quyết khi đương sự yêu cầu Các cá nhân, pháp nhân có quyền khởi kiện vụ án tranh chấp KDTM theo thủ tục do pháp luật quy định, có quyền khởi kiện các tranh chấp KDTM để yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
Nguyên tắc này được thể hiện xuyên suốt trong các giai đoạn của quá trình
tố tụng: các đương sự có thể quyết định khởi kiện hoặc không khởi kiện; trong quá
Trang 36trình giải quyết vụ việc, đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi các yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, không trái quy định của pháp luật và đạo đức xã hội Nguyên tắc này không chỉ dừng lại ở việc giải quyết thủ tục xét xử sơ thẩm, phúc thẩm mà còn được thể hiện trong cả quá trình thi hành bản án, khi quyết định của tòa án có hiệu lực pháp lý
2.2.1.2 Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật
Quyền bình đẳng trước pháp luật là một trong các quyền cơ bản của công dân, của người kinh doanh được quy định tại Điều 16, Hiến pháp 2013 Điều 51, Hiến pháp 2013 có quy định cụ thể về các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế Pháp luật công nhận quyền bình đẳng của các chủ thể khi họ tham gia quan hệ sản xuất, kinh doanh Cụ thể hơn, trong Điều 8, BLTTDS 2015 cũng quy định rất rõ về quyền bình đẳng của các đương sự:
"1 Trong tố tụng dân sự mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, địa vị xã hội
Mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân đều bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng trước Tòa án
2 Tòa án có trách nhiệm bảo đảm nguyên tắc bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong tố tụng dân sự"
Có thể thấy, việc cụ thể hóa quyền bình đẳng của các đương sự trong pháp luật tố tụng vụ án KDTM có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì nó còn thể hiện sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, khi các doanh nghiệp, chủ thể kinh doanh tham gia tố tụng thì không phân biệt loại hình doanh nghiệp gì, thuộc thành phần kinh tế nào thì các bên đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự
2.2.1.3 Nguyên tắc tòa án không tiến hành điều tra mà chỉ xác minh, thu thập chứng cứ
Nguyên tắc tòa án không tiến hành điều tra mà chỉ xác minh, thu thập chứng cứ được thể hiện tại khoản 2, Điều 6 BLTTDS 2015: "2 Tòa án có trách
Trang 37nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ và chỉ tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ trong những trường hợp do Bộ luật này quy định"
Nguyên tắc này thể hiện bản chất dân sự trong việc giải quyết các vụ án tranh chấp KDTM Khác với thủ tục giải quyết các vụ án hình sự, khi giải quyết các
vụ án tranh chấp KDTM, tòa án chủ yếu căn cứ vào chứng cứ mà các đương sự cung cấp Các đương sự có nghĩa vụ cung cấp các chứng cứ và chứng minh để bảo
vệ quyền lợi của mình Tòa sẽ nghe các bên trình bày và xác minh các chứng cứ do các bên cung cấp Các bên có quyền và nghĩa vụ trình bày những gì họ cho là cần thiết Tòa không bắt buộc phải thu thập chứng cứ mà chỉ tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ khi cần thiết để làm rõ thêm yêu cầu của các bên, đảm bảo cho việc giải quyết các vụ án tranh chấp KDTM được chính xác
Theo quy định của BLTTDS 2015, tòa án chỉ tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ trong một số trường hợp sau:
"Thẩm phán chỉ tiến hành lấy lời khai của đương sự khi đương sự chưa có bản khai hoặc nội dung bản khai chưa đầy đủ, rõ ràng." (Khoản 1, Điều 98, BLTTDS 2015)
"Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Thẩm phán tiến hành lấy lời khai của người làm chứng tại trụ sở Tòa án hoặc ngoài trụ sở Tòa án." (Khoản 1, Điều 99, BLTTDS 2015)
"Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy có mâu thuẫn trong lời khai của các đương sự, người làm chứng, Thẩm phán tiến hành đối chất giữa các đương
sự với nhau, giữa đương sự với người làm chứng hoặc giữa những người làm chứng với nhau." (Khoản 1, Điều 100, BLTTDS 2015)
2.2.1.4 Nguyên tắc hòa giải
Nguyên tắc hòa giải được quy định tại Điều 10, BLTTDS 2015: "Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này"
Bản chất các quan hệ kinh tế được thiết lập trên cơ sở tự nguyện và quyền
tự do định đoạt của các đương sự Do đó, việc giải quyết các tranh chấp phát sinh từ
Trang 38các quan hệ này được thực hiện theo những biện pháp nhất định, trong đó, hòa giải
là nguyên tắc rất quan trọng và bắt buộc trong tố tụng dân sự
Hòa giải có ý nghĩa hết sức quan trọng, được thực hiện nhằm phát huy truyền thống đoàn kết, tương trợ giữa các bên tham gia quan hệ kinh tế, nâng cao kết quả giải quyết các tranh chấp KDTM Việc thực hiện tốt thủ tục hòa giải sẽ hạn chế những tốn kém về tiền bạc, thời gian của nhà nước cũng như của công dân, hạn chế những khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực tư pháp BLTTDS 2015 cũng quy định
cụ thể việc hòa giải được thực hiện ở tất cả các giai đoạn sơ thẩm, phúc thẩm, từ khi chuẩn bị xét xử đến khi bắt đầu xét xử tại phiên tòa Đối với những vụ án đòi hỏi bồi thường do gây thiệt hại đến tài sản nhà nước hoặc những vụ án kinh tế phát sinh
từ giao dịch trái pháp luật trái đạo đức xã hội thì tòa án không được hòa giải
Hòa giải là thủ tục bắt buộc khi giải quyết các vụ án kinh tế, đặc biệt ở cấp
sơ thẩm Việc hòa giải chủ yếu phụ thuộc vào kỹ năng, kinh nghiệm của các thẩm phán Thẩm phán phải làm rõ đúng, sai giữa các bên để giải quyết hài hòa lợi nhuận, tiến tới sự nhân nhượng, hợp tác giữa các đương sự
2.2.1.5 Nguyên tắc giải quyết vụ án nhanh chóng, kịp thời
Để đáp ứng yêu cầu của hoạt động KDTM, tòa án phải giải quyết các vụ án tranh chấp KDTM nhanh chóng, kịp thời, dứt điểm nhưng phải đúng theo quy định của pháp luật BLTTDS hiện hành có quy định cụ thể về thời hạn ở các giai đoạn tố tụng như: thời hạn thụ lý, thời hạn thu thập chứng cứ và đưa vụ việc ra xét xử, thời hạn ban hành quyết định, bản án, thời hạn kháng cáo, khiếu nại và giải quyết theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm
Trang 39Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 02 tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này và không quá 01 tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản này
Trường hợp có quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét xử được tính lại kể từ ngày quyết định tiếp tục giải quyết vụ án của Tòa
án có hiệu lực pháp luật
4 Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa; trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là 02 tháng"
2.2.1.6 Nguyên tắc xét xử công khai
Nguyên tắc xét xử công khai là một trong những nguyên tắc dân chủ của hoạt động xét xử Điều 103, Hiến pháp 2013 khẳng định: "Tòa án nhân dân xét xử công khai" Nguyên tắc này được cụ thể trong khoản 2, Điều 15, BLTTDS 2015: "2 Tòa
án xét xử công khai Trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người chưa thành niên hoặc giữ bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ thì Tòa án có thể xét xử kín"
Theo quy định này, về nguyên tắc, tòa án phải xét xử công khai trong hoạt động xét xử của mình Tuy nhiên trong một số trường hợp đặc biệt cần giữ gìn bí mật kinh doanh cho đương sự, tòa án có thể xét xử kín theo yêu cầu chính đáng của đương sự Bí mật của đương sự trong tranh chấp KDTM thường là các bí quyết kinh doanh như: phát minh, sáng chế có liên quan trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh Nếu các bí mật đó bị tiết lộ sẽ làm cho doanh nghiệp gặp khó khăn, thậm chí
là giải thể, phá sản, nên đương sự có quyền yêu cầu tòa án xử kín Mặc dù kết quả giải quyết các tranh chấp KDTM như thế nào nhưng việc xử kín cũng góp phần làm cho uy tín, bí mật kinh doanh của các doanh nghiệp không bị ảnh hưởng nhiều Vì vậy, đây là quy định phù hợp với yêu cầu của thực tiễn
Trang 402.2.2 Quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại
2.2.2.1 Thẩm quyền của tòa án theo vụ việc
Thẩm quyền dân sự theo vụ việc của Tòa án là thẩm quyền của Tòa án trong việc thụ lý giải quyết các vụ việc theo thủ tục tố tụng dân sự Theo quy định tại Điều 30, BLTTDS 2015 thì những loại việc tranh chấp KDTM thuộc thẩm quyền của Tòa án được chia thành bốn nhóm:
Nhóm 1: Tranh chấp phát sinh trong hoạt động KDTM giữa các cá nhân,
tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau
Không phải mọi tranh chấp phát sinh giữa cá nhân, tổ chức phát sinh từ hoạt động KDTM đều thuộc thẩm quyền dân sự của Tòa án Các tranh chấp này sẽ thuộc thẩm quyền của Tòa án khi có đầy đủ ba điều kiện:
Một là, các tranh chấp này phát sinh từ hoạt động KDTM phải có mục đích
lợi nhuận Dấu hiệu "Mục đích lợi nhuận" của tổ chức, cá nhân trong hoạt động KDTM được quy định trong Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng thẩm phán
Hai là, các tranh chấp phát sinh giữa cá nhân, tổ chức với nhau, đồng thời
các cá nhân tổ chức phải là cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật Tức là, các cá nhân, tổ chức đã được các cơ quan có thẩm quyền đăng ký kinh doanh cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật
Ba là, các tranh chấp thuộc các lĩnh vực được quy định tại khoản 1 Điều 30
BLTTDS, đó là:
Mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, phân phối, đại diện, đại lý, ký gửi, thuê, cho thuê, thuê mua, xây dựng, tư vấn, kỹ thuật, vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường sắt, đường bộ, đường thủy nội địa; vận chuyển hành khách, hàng hóa bằng đường hàng không, đường biển, mua bán cổ phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá khác; đầu tư, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, thăm dò, khai thác