Mạch lạc là yếu tố quan trọng quyết định chất văn bản của một văn bản. Bài viết này làm rõ biểu hiện mang tính đặc trưng của mạch lạc trong văn bản nghị luận là mạch lạc qua quan hệ lập luận ở một số phương diện là kiểu lập luận, đặc điểm của các thành phần lập luận và hiện tượng đa thanh.
Trang 11 ĐẶT VẤN ĐỀ
Mạch lạc là “sự nối kết có tính chất
hợp lí về mặt nghĩa và về mặt chức năng,
được trình bày trong quá trình triển khai
một văn bản (như một truyện kể, một cuộc
thoại, một bài nói hay bài viết ) nhằm tạo
ra những sự kiện nối kết với nhau hơn là
sự liên kết câu với câu” [1, tr 297] Mạch
lạc trong phân tích diễn ngôn được coi
là vấn đề cốt yếu có vai trò quyết định
“chất văn bản của văn bản” và nó được
thể hiện qua nhiều phương diện khác
nhau Trong văn bản nghị luận (VBNL),
mạch lạc qua quan hệ lập luận được coi
là biểu hiện mang tính đặc trưng Bài viết
này quan tâm đến mạch lạc trong quan hệ lập luận được thể hiện ở những phương diện nổi bật là kiểu lập luận, đặc điểm của các thành phần lập luận và hiện tượng đa thanh trong 326 VBNL
2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 2.1 Mạch lạc biểu hiện qua việc sử dụng kiểu lập luận phù hợp
2.1.1 Lập luận theo logic hình thức của luận cứ và kết luận
* Lập luận diễn dịch: Lập luận diễn dịch có 844/ 2.302 lập luận trong 326
VBNL Lập luận diễn dịch bao gồm cả tam đoạn luận
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA MẠCH LẠC TRONG QUAN HỆ
LẬP LUẬN Ở VĂN BẢN NGHỊ LUẬN TIẾNG VIỆT
Tống Thị Hường
Khoa Ngữ văn - Khoa học xã hội Email: huongtt@dhhp.edu.vn
Ngày nhận bài: 19/8/2019
Ngày PB đánh giá: 19/9/2019
Ngày duyệt đăng: 27/9/2019
TÓM TẮT: Mạch lạc là yếu tố quan trọng quyết định chất văn bản của một văn bản Bài viết này làm rõ
biểu hiện mang tính đặc trưng của mạch lạc trong văn bản nghị luận là mạch lạc qua quan hệ lập luận ở
một số phương diện là kiểu lập luận, đặc điểm của các thành phần lập luận và hiện tượng đa thanh
Từ khóa: mạch lạc, lập luận, văn bản nghị luận.
SOME CHARACTERISTICS OF COHERENCE IN REASONING RELATION
IN VIETNAMESE ARGUMENTATIVE WRITING ABSTRACT: Coherence is an important determinant of the text’s quality In this article, we clarify the
coherence characteristic manifestation in argumentative writing Through reasoning relation in some aspects, coherence is a kind of argument We also discuss the characteristics of argument components and the polyphonic phenomena in the article.
Keywords: coherence, argument, argumentative writing.
Trang 2Ví dụ 1: Tiếng Việt có những đặc sắc
của một thứ tiếng đẹp, một thứ tiếng hay
Nói thế có nghĩa là nói rằng: tiếng Việt là
một thứ tiếng hài hòa về mặt âm hưởng,
thanh điệu mà cũng rất tế nhị, uyển
chuyển trong cách đặt câu Nói thế cũng
có nghĩa là nói rằng: tiếng Việt có đầy đủ
khả năng để diễn đạt tình cảm, tư tưởng
của người Việt Nam và để thỏa mãn cho
yêu cầu của đời sống văn hóa nước nhà qua các thời kì lịch sử [6, SGK Ngữ văn
7, tập 2, tr 35]
Đoạn này được trích trong văn bản Sự
giàu đẹp của tiếng Việt của tác giả Đặng
Thai Mai Đoạn trích có ba câu, câu (1) là một nhận định - r, câu (2) và (3) là luận
cứ - p1 và p2 Cụ thể như sau:
p1: Hài hòa về mặt âm hưởng,
thanh điệu, tế nhị, uyển chuyển
trong cách đặt câu
p2: Có đầy đủ khả năng để diễn đạt tư tưởng, tình cảm của người Việt và để thỏa mãn cho yêu cầu của đời sống văn hóa nước nhà
R:Tiếng Việt là một ngôn ngữ đẹp và hay
Lập luận theo lối diễn dịch (trình tự
kết luận - luận cứ) thường phù hợp với
những lập luận đơn giản có các luận
cứ đồng hướng, với mục đích diễn giải,
phân tích, chứng minh Thêm nữa, tam
đoạn luận cũng phải được trình bày
theo cách diễn dịch
* Lập luận quy nạp: Trong ngữ liệu
326 VBNL, có 982/2.302 lập luận quy
nạp Lập luận quy nạp dựa trên logic tự
nhiên từ luận cứ đến kết luận, do đó kết
luận rút ra mang sức thuyết phục Vì thế, đây
cũng là kiểu lập luận phổ biến trong VBNL
Ví dụ 2: Kiều không biết mấy lần nhìn
trăng nhưng cảnh trăng cũng mỗi lần một
khác: khi rạo rực yêu đương, khi gần gụi âu
yếm, khi bát ngát bao la, khi ám ảnh như một
lời trách móc, khi cô đơn, khi tàn tạ, khi mong manh Có thể nói thiên nhiên trong “Truyện Kiều” cũng là một nhân vật, một nhân vật vẫn thường kín đáo, lặng lẽ nhưng không mấy khi
không có mặt và luôn thấm đượm tình người
[7, tập I, tr 323]
Các thành phần trong lập luận ở ví dụ (2) có trình tự p, q - r Luận cứ p là Kiều
không biết mấy lần nhìn trăng, luận cứ q: nhưng cảnh trăng cũng mỗi lần một khác
(q cũng là một lập luận) Từ p và q ở câu
đầu (hình ảnh trăng trong Truyện Kiều),
Hoài Thanh khái quát và rút ra kết luận:
thiên nhiên trong “Truyện Kiều” cũng là một nhân vật, Lập luận này được hiểu
cụ thể như sau:
p: Kiều không biết mấy lần nhìn trăng
q (r): Trăng mỗi
lần một khác
q1: khi rạo rực yêu đương q2: khi gần gụi âu yếm q3: khi bát ngát bao la q4: khi ám ảnh
q5: khi cô đơn q6: khi tàn tạ q7: khi mong manh
R:Thiên nhiên trong"Truyện Kiều” cũng là một nhân vật
Trang 3Theo mô hình trên, các thành phần của
lập luận được hình dung cụ thể về nội dung
và vị trí Từ luận cứ về hình ảnh trăng
trong “Truyện Kiều” và các biểu hiện của
nó qua ánh mắt nàng Kiều, mà thực ra là
qua tâm trạng Kiều (khi rạo rực yêu đương,
khi gần gụi âu yếm, khi bát ngát bao la, )
mà kết luận Hoài Thanh rút ra mang sức
thuyết phục: thiên nhiên trong “Truyện
Kiều” cũng là một nhân vật, một nhân vật
vẫn thường kín đáo, lặng lẽ nhưng không
mấy khi không có mặt và luôn thấm đượm
tình người.
Một điểm đáng chú ý trong lập luận
quy nạp ở VBNL là sự xuất hiện của
những lập luận mang tính tranh luận phản
biện Đó là kiểu lập luận mà người viết
đưa ra luận cứ là một ý kiến, một nhận xét
(ý kiến hay nhận xét này có lí, đã được
chấp nhận), sau đó lại phản bác lại bằng
cách đưa ra các luận cứ ngược hướng,
trên cơ sở đó mà rút ra kết luận Kiểu lập
luận này còn được gọi là lập luận nêu
phản đề Lĩnh vực mà VBNL quan tâm là
các lĩnh vực đa dạng của cuộc sống nên
trong VBNL thường xuyên xảy ra sự tranh
luận giữa các quan điểm, ý kiến, trường
phái, Dưới đây là ví dụ về lập luận phản
biện trong văn bản nghị luận:
Ví dụ 3: Nguyễn Mộng Tuân, một
người bạn của Nguyễn Trãi, đã ca ngợi
Nguyễn Trãi như sau: “Gió thanh hây hẩy
gác vàng, người như một ông tiên ở trong
tòa ngọc, cái tài làm hay, làm đẹp cho
nước, từ xưa chưa có bao giờ ” Nguyễn
Trãi không phải là một ông tiên Nguyễn
Trãi là người đầu đội trời Việt Nam, chân
đạp đất Việt Nam, tâm hồn lộng gió của
thời đại lúc bấy giờ, thông cảm sâu xa với
nỗi lòng dân lúc bấy giờ, suốt đời tận tụy
cho một lí tưởng cao quý [7, tập I, tr 125]
Trong lập luận này, kết luận được
Phạm Văn Đồng hướng tới là: Nguyễn
Trãi là người đầu đội trời Việt Nam, chân đạp đất Việt Nam, tâm hồn lộng gió của thời đại lúc bấy giờ, suốt đời tận tụy cho một lí tưởng cao quý Để đi tới kết luận
này, tác giả không đi theo lối thông thường
là lấy dẫn chứng trong thơ văn và cuộc đời Nguyễn Trãi mà bằng cách đưa ra một ý kiến trái ngược Dĩ nhiên, ý kiến này hoàn
toàn có cơ sở, bởi đó là lời nhận xét của
Nguyễn Mộng Tuân - một người bạn của
Nguyễn Trãi Nguyễn Mộng Tuân đã ca ngợi Nguyễn Trãi như sau: “Gió thanh
hây hẩy gác vàng, người như một ông
tiên ở trong tòa ngọc, cái tài làm hay, làm đẹp cho nước, từ xưa chưa có bao giờ ”
Trong ý kiến này, Nguyễn Mộng Tuân muốn khẳng định vẻ đẹp của Nguyễn Trãi,
đó là thần thái, cốt cách của một ông tiên
ở trong tòa ngọc, thoát hẳn khỏi trần thế Lời nhận xét này của Nguyễn Mộng Tuân không phải không có lý Nhưng Phạm Văn Đồng đã phản biện lại ý kiến này của Nguyễn Mộng Tuân về Nguyễn Trãi và
khẳng định rằng Nguyễn Trãi không phải
là một ông tiên mà Nguyễn Trãi là người đầu đội trời Việt Nam, chân đạp đất Việt Nam, tâm hồn lộng gió của thời đại lúc bấy giờ, suốt đời tận tụy cho một lí tưởng cao quý Thực vậy, tìm hiểu cuộc đời và thơ
văn Nguyễn Trãi, chúng ta cũng thấy nhận xét của Phạm Văn Đồng về Nguyễn Trãi
là hoàn toàn xác đáng Nguyễn Trãi luôn sống với cuộc đời thực của con người, của nhân dân, suốt đời đau đáu một tấm lòng nhân nghĩa, vì dân, vì nước “Đêm ngày cuồn cuộn nước triều Đông» Điều đáng nói đến ở đây là cách lập luận mang tính phản biện này làm cho kết luận được nói tới được nổi bật hơn, rõ hơn, sâu hơn Có thể hình dung lập luận này như sau:
Trang 4p (là một lập luận có trật tự: p - r):
Nguyễn Mộng Tuân, một người bạn của
Nguyễn Trãi, đã ca ngợi Nguyễn Trãi như
sau (p): “Gió thanh hây hẩy gác vàng,
người như một ông tiên ở trong tòa ngọc,
cái tài làm hay, làm đẹp cho nước, từ xưa
chưa có bao giờ (r)
q: Nguyễn Trãi không phải là một ông
tiên
R: Nguyễn Trãi là người đầu đội trời
Việt Nam, chân đạp đất Việt Nam, tâm hồn
lộng gió của thời đại lúc bấy giờ, suốt đời
tận tụy cho một lí tưởng cao quý.
Từ sự phân tích các lập luận được
tổ chức theo hướng quy nạp với trật tự
luận cứ - kết luận, có thể thấy rằng trong
VBNL, đối với các lập luận phức, lập luận
có luận cứ nghịch hướng, đặc biệt là các
lập luận mang tính phản biện thì lập luận
quy nạp là hình thức tổ chức phù hợp nhất,
hiệu quả nhất để kết luận rút ra mang tính
thuyết phục Giả sử thay đổi cách lập luận
trong các ví dụ 2 và ví dụ 3 sang lập luận
ngược lại là lập luận diễn dịch thì chắc
chắn kết luận sẽ không có sự hấp dẫn,
và kém thuyết phục hơn * Lập luận
phối hợp diễn dịch - quy nạp: Đây là kiểu
lập luận phối hợp cách trình bày kết luận
- luận cứ của diễn dịch và cách trình bày
luận cứ - kết luận của quy nạp Kiểu lập
luận này giống như một tiểu văn bản với
ba phần mở - thân - kết và có 476/ 2.302 lập
luận Tác giả nghị luận tổ chức các thành
phần của lập luận theo hướng này nhằm
mục đích một lần nữa khẳng định, kết luận
lại nhận xét, đánh giá đã đưa ra ban đầu
Ví dụ 4: Tiếng nói là người bảo vệ
quý báu nhất nền độc lập của các dân
tộc, là yếu tố quan trọng nhất giúp giải
phóng các dân tộc bị thống trị Nếu
người An Nam hãnh diện giữ gìn tiếng
nói của mình và ra sức làm cho tiếng nói
ấy phong phú hơn để có khả năng phổ biến tại An Nam các học thuyết đạo đức
và khoa học của châu Âu, việc giải phóng dân tộc An Nam chỉ còn là vấn đề thời gian Bất cứ người An Nam nào vứt bỏ tiếng nói của mình, thì cũng đương nhiên khước từ niềm hi vọng giải phóng giống
nòi [ ] Vì thế, đối với người An Nam
chúng ta, chối từ tiếng mẹ đẻ đồng nghĩa
với chối từ sự tự do của mình [6, SGK
Ngữ văn 11, tập 2, tr 90]
Ví dụ này trích trong văn bản Tiếng mẹ
đẻ - nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức của Võ An Ninh Đoạn trích này là
một lập luận, trong đó, câu (1) và (4) là kết luận (R), câu (2) là luận cứ (p), câu (3) là kết luận (r) được rút ra từ luận cứ (p) Lập luận trong đoạn trích được sắp xếp theo trình tự: Kết luận (R) - luận cứ (p -> r) - kết luận (R’), tức là theo mô hình phối hợp diễn dịch - quy nạp
2.1.2 Lập luận hàm ẩn
Trong VBNL, lập luận hàm ẩn được các tác giả nghị luận thường xuyên sử dụng với 951/ 2.302 lập luận Có hai loại hàm ẩn là hàm ẩn luận cứ và hàm ẩn kết luận Lập luận hàm ẩn luận cứ được sử dụng trong cả nghị luận xã hội và nghị luận văn học
Lập luận hàm ẩn kết luận thường xuất hiện trong VBNL Lập luận hàm ẩn kết luận xuất hiện khi tác giả nghị luận do ý nhị, không muốn áp đặt điều mình đánh giá (nhất là trường hợp đánh giá tiêu cực), không muốn gây sức ép trong việc kêu gọi thực hiện một hành động nào đó Kiểu lập luận này khiến cho người tiếp nhận phải tự suy nghĩ (suy ý) để rút ra kết luận phù hợp
Trang 5Ví dụ 5:
Xã tắc từ đây vững bền,
Giang sơn từ đây đổi mới.
Kiền khôn bĩ rồi lại thái,
Nhật nguyệt hối rồi lại minh.
Muôn thuở nền thái bình vững chắc,
Ngàn thu vết nhục nhã sạch làu.
[6, tập 2, tr 22]
Đoạn trích này là một tam đoạn luận
Tam đoạn luận này được phân tích như sau:
Đại tiền đề
(p1) Trời đất tối rồi lại sáng
Tiểu tiền đề
(p2) - ẩn Đất nước mất tự do, chìm trong xương
máu sẽ đến ngày được hưởng thái bình - nhờ lấy gốc là nhân nghĩa Kết luận (r) Đại Việt muôn thuở
vững bền Trong lập luận này, đại tiền đề nêu ra
quy luật của đất trời, của tự nhiên: kiền
khôn bĩ rồi lại thái; nhật nguyệt hối rồi
lại minh Tiểu tiền đề: đất nước mất tự do,
chìm trong xương máu sẽ đến ngày được
hưởng thái bình là luận cứ ẩn Tuy nhiên,
điều cần nói đến trong lập luận này là
nếu như đại tiền đề là quy luật logic của
tự nhiên thì tiểu tiền đề cũng là quy luật
nhưng đó lại là quy luật của chính nghĩa,
của lẽ thường: đất nước mất tự do, chìm
trong nô lệ nhưng nhờ dân tộc Đại Việt
luôn luôn lấy nhân nghĩa làm gốc (Việc
nhân nghĩa cốt ở yên dân/ Quân điếu
phạt trước lo trừ bạo Và Đem đại nghĩa
để thắng hung tàn/ lấy chí nhân để thay
cường bạo) nên dĩ nhiên Đại Việt được
độc lập, thái bình Kết luận được rút ra
cũng dựa trên quy luật của cuộc sống, đó
là quy luật đại nghĩa sẽ thắng hung tàn,
do vậy mà: Đại Việt mãi mãi vững bền -
Muôn thuở nền thái bình vững chắc, còn giặc Minh tàn bạo sẽ thất bại thảm hại,
đó cũng là hệ quả tất yếu: chính nghĩa sẽ
thắng phi nghĩa Lập luận tam đoạn luận
này chính là tư tưởng chủ đạo xuyên suốt toàn bài cáo, là kết luận mà Nguyễn Trãi muốn công bố rộng khắp cho bốn phương đều biết
2.2 Mạch lạc biểu hiện qua đặc điểm của các thành phần lập luận
Nghiên cứu đặc điểm của các thành phần lập luận, bài viết chú ý đến hình thức ngôn ngữ thể hiện luận cứ và kết luận theo cấu tạo ngữ pháp và theo mục đích nói
2.2.1 Đặc điểm của luận cứ
Về hình thức thể hiện luận cứ, xét theo mục đích nói, luận cứ có thể là câu tường thuật, câu nghi vấn, câu cầu khiến và câu cảm thán, xét theo cấu tạo ngữ pháp, luận
cứ có thể là thành phần câu, có thể là câu đơn, câu ghép, câu phức, câu đặc biệt, câu tỉnh lược, câu dưới bậc, Đặc điểm này của luận cứ chỉ có trong văn bản nghệ thuật, VBNL mà không có trong văn bản hành chính, văn bản khoa học
Ví dụ 6: Nguyễn Du bất mãn với chế
độ quan liêu phong kiến, nhưng vẫn quyến luyến với ý thức hệ nhà nho: trung, hiếu, tiết, nghĩa Mâu thuẫn giữa chữ tài chữ mệnh? Nguyễn Du giải quyết bằng chữ tâm! Vấn đề luyến ái? Cô Kiều quả đã có
can đảm nghe lời gọi của trái tim và và bất chấp cả khuôn phép lễ giáo và tôn pháp của đạo Khổng Nhưng tinh thần tranh đấu của Kiều chưa phải là ý thức tranh đấu của
chủ nghĩa nữ quyền Vấn đề hôn nhân?
“Truyện Kiều” có những đoạn hùng hồn
để tố khổ cho những người đàn bà lâm vào
“cái kiếp lấy chồng chung” Nhưng tố khổ chưa phải giải quyết vấn đề nữ quyền Vấn
Trang 6đề hạnh phúc? Cảnh đoàn viên của cô
Kiều trong đoạn “Hậu Kim Trọng” chỉ là
tia sáng dìu dịu, hắt hiu trước bàn thờ cửa
Phật, đâu phải là thức ăn của cõi người
[7, tập I, tr 350]
Ví dụ này được trích trong văn bản
Đặc sắc của văn học cổ điển Việt Nam
qua nội dung “Truyện Kiều” của tác giả
Đặng Thai Mai Câu đầu tiên là một nhận
định (kết luận): Nguyễn Du ( ) vẫn quyến
luyến với ý thức hệ nhà nho: trung, hiếu,
tiết, nghĩa Các câu tiếp theo dễ dàng nhận
ra được đó là các luận cứ nhờ vào hình
thức biểu hiện có cấu trúc ngữ pháp giống
nhau, đó là các câu hỏi: 1) Mâu thuẫn giữa
chữ tài chữ mệnh; 2) Vấn đề luyến ái?; 3)
Vấn đề hôn nhân?; 4) Vấn đề hạnh phúc?
Việc sử dụng hình thức thể hiện luận cứ
bằng câu hỏi như trên (sau đó tác giả lại tự
trả lời) đem lại cách diễn đạt đa dạng, sinh
động cho lập luận, tạo nên sự chú ý, sức
hấp dẫn cho lập luận
2.2.2 Đặc điểm của kết luận trong lập luận
của văn bản nghị luận
Kết luận trong VBNL có hai cấp độ,
cấp độ văn bản và cấp độ đoạn văn, bài
viết chỉ tập trung nói đến hình thức thể
hiện kết luận ở cấp độ đoạn văn Ở cấp độ
này, kết luận cũng có hình thức ngôn ngữ
biểu hiện phong phú
Về cấu tạo ngữ pháp, kết luận có thể
là câu đơn, câu phức, câu ghép, câu tỉnh
lược
Ví dụ 7: Nếu như “Vũ Như Tô” là vở
kịch tiêu biểu của Nguyễn Huy Tưởng
trước Cách mạng thì sau 1945, “Bắc Sơn”
là vở kịch có giá trị nhất của anh.
“Bắc Sơn” ra đời năm 1946 đánh dấu
một bước ngoặt quan trọng trong phong
trào kịch nói cách mạng Lúc bấy giờ, nền
văn nghệ cách mạng của chúng ta hãy còn quá non trẻ Tình hìnhh sáng tác kịch nói lại càng chậm chạp nghèo nàn hơn ( )
[7, tập V, tr 67]
Kết luận trong ví dụ 7 là một câu ghép chính phụ, vế phụ là nội dung của phần
đi trước, vế chính nêu nhận định, mở ra
nội dung của các câu đi sau: Nếu như “Vũ
Như Tô” là vở kịch tiêu biểu của Nguyễn Huy Tưởng trước Cách mạng thì sau
1945, “Bắc Sơn” là vở kịch có giá trị nhất của anh Các câu tiếp theo là luận cứ.
Về mục đích nói, để đạt đích thuyết phục, VBNL được phép sử dụng đa dạng các kiểu câu để thể hiện rõ ràng hành động nói và thái độ cảm xúc của tác giả Vì thế, kết luận được thể hiện qua mục đích nói cũng rất phong phú Đáng chú ý là có trường hợp kết luận được thể hiện dưới hình thức câu cảm thán
Ví dụ 8: Sao mà Tế Hanh yêu trăng
đến thế! Trong thơ anh hầu như chỗ nào cũng vời vợi ánh trăng Trăng trong thơ anh là trăng đẹp dịu dàng, trăng của sự thơ mộng, trăng của tuổi trẻ, trăng của tình yêu Trăng luôn luôn là bầu bạn của anh Khi anh ngắm trăng trong bức tranh toàn cảnh rộng lớn ở nông trường cà phê
“rộng mênh mông, trăng lên trăng lặn vẫn không ra ngoài” Khi anh say sưa với cảnh trăng “Tây Hồ mơ mộng bến Hàng Châu” Khi qua công trường gỗ anh liên tưởng ngay nhà cửa đẹp đẽ sẽ mọc lên với cảnh “trăng sáng gọi bên thềm” Khi anh nghe tin “Liên Xô anh cả của chúng ta mở đường” vào thăm vũ trụ, anh nghĩ ngay đến tương lai:
“Con tàu vượt vạn tầng mây Mặt trăng xinh đẹp mai này là ga” [7, tập IV, tr 106-107]
Trang 7Ở ví dụ 8, kết luận là một câu cảm
thán: Sao mà Tế Hanh yêu trăng đến thế!
Với hình thức thể hiện này, kết luận không
chỉ khái quát vấn đề mà còn báo hiệu tình
cảm dạt dào, tha thiết của nhà thơ Tế Hanh
với trăng ở những câu sau, đồng thời chứa
đựng cả sự đồng cảm sâu sắc của tác giả
nghị luận với nhà thơ Các câu tiếp theo là
luận cứ, minh chứng cho câu đầu tiên
Khi cần đanh thép, thể hiện một thái
độ dứt khoát, một tình cảm mãnh liệt thì
kiểu câu trần thuật khẳng định hoặc phủ
định lại rất thích hợp Đoạn trích trong
Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ
Chủ tịch dưới đây là một ví dụ:
Ví dụ 9: Chúng ta muốn hòa bình,
chúng ta phải nhân nhượng Nhưng chúng
ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng
lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta
một lần nữa!
Không! Chúng ta thà hi sinh tất cả,
chứ nhất định không chịu mất nước, nhất
định không chịu làm nô lệ [8, tr.100]
Lập luận trên là lập luận quy nạp Kết
luận R được thể hiện qua hai câu: Không!
Chúng ta thà hi sinh tất cả, chứ nhất định
không chịu mất nước, nhất định không
chịu làm nô lệ “Không!” là câu đặc biệt
phủ định có tác dụng tỏ rõ thái độ, quan
điểm rõ ràng, dứt khoát của ta đối với thực
dân Pháp, đồng thời hàm ý thể hiện quyết
tâm bảo vệ độc lập chủ quyền Dưới hình
thức câu ghép khẳng định có cặp “thà
chứ”, kết luận càng được thể hiện một
cách rõ ràng, đanh thép hơn Hình thức
cú pháp thể hiện kết luận ở ví dụ này rõ
ràng có vai trò quan trọng trong việc thể
hiện rõ nội dung và tình cảm, thái độ của
tác giả, tạo được sự đồng lòng nhất trí
trong hơn hai mươi triệu đồng bào ta lúc
bấy giờ
Có thể nói, ngôn ngữ thể hiện luận cứ
và kết luận hết sức đa dạng xét theo cả mục đích nói lẫn cấu trúc cú pháp Tùy theo nội dung lập luận mà tác giả lựa chọn hình thức của luận cứ và kết luận sao cho phù hợp Hình thức thể hiện các thành phần của lập luận như các ví dụ dẫn trên đây đã thỏa mãn, đáp ứng được yêu cầu về đặc điểm ngôn ngữ và đặc trưng về tính lập luận chặt chẽ, tính truyền cảm mạnh
mẽ của thể loại nghị luận, và như vậy các lập luận đó đã mạch lạc, đem lại sức hấp dẫn của VBNL
2.3 Hiện tượng đa thanh trong lập luận
ở văn bản nghị luận
Một đặc điểm nổi bật rất dễ nhận biết trong lập luận ở VBNL là hiện tượng đa thanh Đa thanh trong lập luận ở VBNL thể hiện rõ quan điểm của tác giả nhằm mục đích tạo ấn tượng, tăng sức thuyết phục cho lập luận, thể hiện ở việc tác giả (thuyết ngôn) thường dẫn một câu nói, một quan điểm, của chủ ngôn vào trong lập luận, lời của chủ ngôn có thể là đồng hướng hoặc nghịch hướng trong lập luận nào đó
2.3.1 Hiện tượng đa thanh trong lập luận đồng hướng
Trong văn bản nghị luận, lời của chủ ngôn thường là những câu tục ngữ, châm ngôn, những chân lý đã được thừa nhận, những quan điểm chính trị, những câu nói của những nhân vật nổi tiếng, những nhận định về một vấn đề, một tác gia, một tác phẩm hay một nhân vật văn học nào đó Những nhận định này của chủ ngôn chính
là luận cứ đồng hướng với các luận cứ khác trong lập luận, được thuyết ngôn đưa vào để tăng tính xác thực cho luận cứ và tính thuyết phục cho kết luận
Trang 8Trong các văn bản nghị luận xã hội,
lập luận đa thanh thường gặp khi tác
giả dẫn luận cứ là một câu châm ngôn,
tục ngữ, một chân lý được thừa nhận,
một câu chuyện về tấm gương đạo lý,
hoặc là lời của một nhân vật nổi tiếng
nào đó Các văn bản như Hịch tướng sĩ,
Bình Ngô đại cáo, Chiếu dời đô, Chiếu
cầu hiền, Tuyên ngôn độc lập, Chuẩn bị
hành trang vào thế kỷ mới đều có lập
luận đa thanh
Ví dụ 10: “Tất cả mọi người sinh ra
đều có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ
những quyền không ai có thể xâm phạm
được; trong những quyền ấy, có quyền
được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu
hạnh phúc” Lời nói bất hủ ấy ở trong bản
“Tuyên ngôn độc lập” năm 1776 của nước
Mĩ Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: tất cả
các dân tộc trên thế giới sinh ra đều bình
đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống,
quyền sung sướng và quyền tự do
Bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân
quyền của Cách mạng Pháp năm 1791
cũng nói: “Người ta sinh ra tự do và bình
đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được
tự do và bình đẳng về quyền lợi”.
Đó là những lẽ phải không ai chối cãi
được [8, tr 85]
Lập luận trên là một tam đoạn luận, có
đại tiền đề, tiểu tiền đề và kết luận hàm
ẩn Các thành phần của lập luận được hiểu
như sau:
Đại tiền đề: Tất cả các dân tộc trên thế
giới đều bình đẳng, có quyền sống, quyền
tự do (Hai bản Tuyên ngôn của Pháp và
Mĩ đã công nhận)
Tiểu tiền đề (hàm ẩn): Việt Nam là một
dân tộc (một quốc gia) như tất cả các dân
tộc (quốc gia) khác trên thế giới
Kết luận (hàm ẩn): Việt Nam phải
được công nhận và được hưởng quyền tự
do, bình đẳng như các dân tộc (quốc gia) khác trên thế giới
Tính đa thanh của lập luận này được thể hiện ở việc lựa chọn luận cứ (mà mỗi luận
cứ lại là một lập luận) Hai luận cứ (đồng thời là hai lập luận) trên đều có cùng cách lập luận: từ luận cứ là một chân lý đã biết,
đã được thừa nhận để rút ra kết luận Cả hai luận cứ đều có (p) là lời của chủ ngôn
(bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mĩ và bản Tuyên ngôn nhân quyền
và dân quyền của Cách mạng Pháp năm
1791), được tác giả (thuyết ngôn) Hồ Chí Minh lựa chọn, sắp xếp hợp lý, logic, do
đó, các kết luận trong hai lập luận trên có giá trị thuyết phục rất cao vì nó được rút ra trên cơ sở những dẫn chứng xác thực, hơn nữa lại là những chân lý, lẽ phải đã được thừa nhận Rõ ràng, việc sử dụng luận cứ được viện dẫn trong ví dụ trên đã tạo được
sự chặt chẽ, logic trong lập luận, tăng sức thuyết phục cho kết luận
Các văn bản nghị luận thời trung đại
như Hịch tướng sĩ, Bình Ngô đại cáo,
Chiếu dời đô, Chiếu cầu hiền, thường mở
đầu bằng các từ ngữ: từng/ thường nghe,
xưa Đây chính là cách dẫn lời chủ ngôn
vào trong lập luận Lời của chủ ngôn trong những văn bản này thường là những câu chuyện lịch sử, những tấm gương đạo đức, những câu nói của người xưa,
Ví dụ 11: Ta thường nghe: Kỉ Tín đem
mình chết thay, cứu thoát cho Cao Đế; Do
Vu chìa lưng chịu giáo che chở cho Chiêu Vương; Dự Nhượng nuốt than để báo thù cho chủ; Thân Khoái chặt tay để cứu nạn cho nước; Kính Đức, một chàng tuổi trẻ, thân phò Thái Tông thoát khỏi vòng vây Thế Sung, [6, SGK Ngữ văn 8, tập 2, tr.55]
Trang 9Các đoạn trích về lập luận ở các ví dụ
trên đều dẫn lời của chủ ngôn Lời của chủ
ngôn trở thành những luận cứ đáng tin
cậy, là cơ sở vững chắc cho kết luận bởi đó
là những điều đã được thừa nhận là đúng
và được ghi lại, được lưu truyền trong sử
sách, trong dân gian Và vì thế, kết luận
rút ra dựa trên những luận cứ kiểu này sẽ
giàu sức thuyết phục vì hợp với lẽ thường
Trong các văn bản nghị luận văn học,
chủ ngôn có thể là một nhà nghiên cứu,
phê bình, một nhân vật nổi tiếng, hoặc một
người nào đó mà không cần chỉ đích danh,
và nhiều khi đó chính là lời của đối tượng
được đề cập tới Lập luận đa thanh được
nhận biết qua sự xuất hiện của danh từ
riêng hoặc các từ/ tổ hợp từ đứng đầu như:
có người/ người ta/ nhiều người/có bạn/
nhiều bạn đọc và phê bình, cho rằng/
nhận xét/ nói, hoặc dưới con mắt/ dưới
cái nhìn của
Ví dụ 12: Go-rơ-ki nói: “Khi đọc
Tôn-xtôi ta có cảm giác là các nhân vật
có thật, có xương, có thịt ta tưởng như
nhìn thấy họ trước mắt ta, ta lấy tay sờ họ
được” Chúng ta đọc “Truyện Kiều” đều
có chung một cảm giác ấy Một bà cụ nông
dân một hôm nói với tôi: “Nước Nam mình
đẹp nhất có con Kiều Mà khổ nhất cũng
con Kiều Thương nó quá” Những nhà
nho hoặc khinh ghét Kiều như Nguyễn
Công Trứ, Huỳnh Thúc Kháng, hoặc yêu
mến Kiều như Mộng Liên Đường, Chu
Mạnh Trinh cũng đều xem Kiều là người
có thật Mộng Liên Đường viết: “Dẫu đời
xa, người khuất không được mục kích tận
nơi, nhưng lời văn tả ra hình như máu
chảy đầu ngọn bút, nước mắt thấm ở trên
tờ giấy, khiến ai đọc đến cũng phải thấm
thía ngậm ngùi, đau đớn như đứt ruột”
Còn Chu Mạnh Trinh thì có thể nói là
không những say “Truyện Kiều”, say văn chương “Truyện Kiều” mà chính là say nàng Kiều y như say một giai nhân có thật Con người ấy từ lâu đã sống trong lòng hàng triệu người và được quý trọng, được âu yếm, được yêu mến đến say mê Kiều đã từ tiểu thuyết đi vào cuộc đời và nhiều khi người ta đã quên không còn nhớ Kiều là người trong tiểu thuyết.[7, tập I,
tr.320]
Đây là một lập luận có tính đa thanh rất
rõ Lời của các chủ ngôn được thuyết ngôn (Hoài Thanh) dẫn hết sức phong phú: có lời của chủ ngôn trong nước (bà cụ nông dân, Mộng Liên Đường, Chu Mạnh Trinh), có lời của chủ ngôn ngoài nước (Go-rơ-ki);
có chủ ngôn là người bình dân (bà cụ nông dân), có chủ ngôn là người nổi tiếng (Go-rơ-ki, Mộng Liên Đường và Chu Mạnh Trinh) Lời của các chủ ngôn chính là các dẫn chứng xác thực, sinh động và giàu sức thuyết phục để thuyết ngôn hướng đến kết
luận: Kiều đã từ tiểu thuyết đi vào cuộc
đời và nhiều khi người ta đã quên không còn nhớ Kiều là người trong tiểu thuyết bởi vì Kiều là nhân vật được xây dựng bởi một nghệ sĩ đại tài - Nguyễn Du Rõ ràng,
lập luận đa thanh khiến cho ngôn ngữ lập luận chặt chẽ mà vẫn sinh động, giàu cảm xúc; kết luận mang sức thuyết phục cao bởi nó được dẫn dắt bằng lý lẽ rõ ràng, sắc bén, logic, được chứng minh bằng dẫn chứng vô cùng sinh động nhưng xác đáng, tin cậy
Bên cạnh đó, điểm đáng chú ý trong lập luận đa thanh giọng chồng giọng ở văn bản nghị luận văn học là trường hợp chủ ngôn chính là nhà văn, nhà thơ, nhân vật văn học được nói tới Đây là lập luận
đa thanh thường gặp nhất trong văn bản nghị luận văn học, bởi lẽ khi bàn về một
Trang 10tác gia, một tác phẩm hay vấn đề, nhân
vật văn học nào đó thì tác giả nghị luận
phải cảm, phải thấu hiểu từ tư tưởng, quan
điểm sáng tác đến thành công và hạn chế
của tác giả văn học, do đó, việc dẫn lời của
chủ ngôn và coi đó là bằng chứng xác thực
là một thao tác bắt buộc phải có trong văn
bản nghị luận văn học
Ví dụ 13: Nhưng cái sức mạnh lớn
nhất của thơ Tố Hữu chính là quả tim anh
Tố Hữu rất ít làm thơ tình Nhưng thơ anh
là thơ của một tình nhân Anh đã nói các
vấn đề bằng trái tim của một người say
đắm Anh nói về Bác:
“Chiều nay gió lộng nắng hanh,
Nắng thơm rơm mới đồng quê gặt
mùa”( )
Anh viết về miền Nam:
“Ôi miền Nam vì sao mỗi lúc,
Một câu hò cũng đậm trong tim.
[7, tập III, tr.235]
Lập luận trong ví dụ 13 được tổ chức
theo lối diễn dịch, kết luận nằm ở câu đầu,
luận cứ ở các câu sau Tính đa thanh của
lập luận thể hiện ở chỗ các luận cứ đều
lấy dẫn chứng trong các tác phẩm của Tố
Hữu, nói cách khác thì phần được trích
dẫn sau dấu hai chấm chính là lời của chủ
ngôn Thuyết ngôn trong lập luận kiểu này
làm nhiệm vụ dẫn dắt lời của chủ ngôn sao
cho hợp lý, logic để làm luận cứ tin cậy
phục vụ cho kết luận
2.3.2 Hiện tượng đa thanh trong lập
luận nghịch hướng
Trong lập luận, thường xuất hiện sự
tranh luận phản biện Tính phản biện
trong lập luận làm cho vấn đề bàn luận
được nhìn đa chiều, ở nhiều góc độ, do đó
kết luận rút ra mang tính thuyết phục hơn
Trong lập luận phản biện, phải có ít nhất
hai luận cứ, trong đó một luận cứ của chủ ngôn, một luận cứ của thuyết ngôn Nếu một lập luận có hai quan điểm trái ngược, xung đột nhau thì kết luận rút ra sẽ dựa vào luận cứ có hiệu lực lập luận mạnh, và
đó là luận cứ của thuyết ngôn
Ví dụ 14: Nguyên Ngọc coi “Sông
Đà” như một cuốn tiểu thuyết và cho Nguyễn Tuân “đã nâng thể tùy bút, thể
văn sở trường của anh lên một bước mới
tạo thành như là một thứ ‘tùy bút tiểu
thuyết”(Báo “Văn học” số 113, tr 10) Có thể và có thật như vậy không?
Trước cách mạng, bên cạnh những tùy bút, Nguyễn Tuân cũng đã có thể viết truyện dài, truyện ngắn (như “Thiếu quê hương”, “Nhà bác Nguyễn”) Nhưng Nguyễn Tuân đã không thành công Tiểu thuyết của anh vẫn mang nặng tính chất tùy bút: nhân vật không rõ nét, nhà văn luôn xen vào để phát biểu cảm nghĩ cá nhân Sau cách mạng, không biết có phải
do rút được kinh nghiệm cũ mà Nguyễn Tuân không viết tiểu thuyết không? Có thể sau này anh sẽ thành công trong thể tài
đó Nhưng cho đến nay, Nguyễn Tuân vẫn nổi bật là một nhà viết tùy bút Và “Sông Đà” cũng là một tập tùy bút không hơn
không kém [7, tập V, tr 149]
Trong lập luận này, thuyết ngôn (Nam Mộc) muốn rút ra kết luận (r): “Sông Đà” là một tập tùy bút Đầu tiên, thuyết
ngôn dẫn lời của chủ ngôn Nguyên Ngọc
Nhưng ngay sau đó, Nam Mộc lại đặt câu
hỏi: Có thể và có thật như vậy không? Câu
hỏi này có tác dụng định hướng lập luận,
nó thể hiện sự hoài nghi về nhận xét của
Nguyên Ngọc: “Sông Đà” như một cuốn
tiểu thuyết - một thứ “tùy bút tiểu thuyết”
Nhận xét của chủ ngôn được thuyết ngôn dẫn ra với mục đích không phải là tìm