- Thứ nhất, phải là công dân Việt Nam; - Thứ hai, về chế độ tuyển dụng: Viên chức phải là người được tuyển dụng trước hết theo vị trí việc làm; - Thứ ba, về nơi làm việc: Viên chức làm v
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Thanh Trà
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Vũ Trọng Hách, người hướng dẫn khoa học giúp tôi thực hiện luận văn này Sự hướng dẫn, góp ý tận tình và những câu hỏi hóc búa của thầy đã giúp tôi định hướng, quyết tâm và hoàn thành bản luận văn tốt hơn
Xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo lớp Cao học Luật Hiến Pháp và Luật Hành chính khóa 23 đã giúp tôi lĩnh hội những kiến thức cơ bản về lĩnh vực quan trọng này
Xin trân trọng cảm ơn Khoa Luật Đại học Quốc gia đã tiên phong tổ chức khóa học bổ ích và lý thú, các thầy cô giáo Khoa Luật, Phòng Đào tạo
và Bộ môn Luật Hiến pháp-Hành chính đã tạo điều kiện giúp đỡ trong suốt thời gian khóa học và thực hiện luận văn
Xin cảm ơn các bạn cơ quan đoàn thể Tỉnh Quảng Bình đã trao đổi thảo luận và cung cấp những thông tin tư liệu hữu ích liên quan đến đề tài luận văn
Cuối cùng, xin đặc biệt cảm ơn gia đình và những người bạn đã ủng hộ, động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 10/2019
Tác giả
Nguyễn Thanh Trà
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục bảng, hình
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TUYỂN DỤNG VIÊN CHỨC Ở CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 7
1.1 Những khái niệm cơ bản 7
1.1.1 Khái niệm viên chức 7
1.1.2 Khái niệm tuyển dụng viên chức 10
1.1.3 Khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập 12
1.1.4 Khái niệm thực hiện pháp luật về tuyển dụng viên chức 13
1.2 Nội dung và hình thức thực hiện pháp luật về tuyển dụng viên chức 14
1.2.1 Căn cứ tuyển dụng viên chức 15
1.2.2 Nguyên tắc tuyển dụng viên chức 18
1.2.3 Điều kiện dự tuyển viên chức 19
1.2.4 Thẩm quyền tuyển dụng viên chức 20
1.2.5 Phương thức tuyển dụng viên chức 21
1.2.6 Quy trình tổ chức thực hiện tuyển dụng viên chức 21
1.3 Vai trò của thực hiện pháp luật về hoạt động tuyển dụng viên chức ở các đơn vị sự nghiệp công lập 29
1.3.1 Thực hiện pháp luật về tuyển dụng viên chức là phương thức để đường lối, chính sách, pháp luật tuyển dụng viên chức đi vào thực tiễn đời sống xã hội 29
Trang 61.3.2 Thực hiện pháp luật về tuyển dụng viên chức đảm bảo mục tiêu
xây dựng đội ngũ viên chức phục vụ cho hoạt động các đơn vị
sự nghiệp công lập 30 1.3.3 Thực hiện pháp luật về tuyển dụng viên chức là cơ sở hoàn
thiện pháp luật về tuyển dụng viên chức 30
1.4 Những yếu tố ảnh bảo đảm đến việc thực hiện pháp luật về
tuyển dụng viên chức ở các đơn vị nghiệp công lập 32
1.4.1 Chủ trương đường lối,quan điểm nhận thức của Đảng và Nhà
nước ta ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật về tuyển dụng
viên chức ở các đơn vị sự nghiệp công lập 32 1.4.2 Mức độ hoàn thiện pháp luật về tuyển dụng viên chức ở các đơn
vị sự nghiệp công lập 34 1.4.3 Năng lực tổ chức và nguồn nhân lực về tuyển dụng viên chức ở
các đơn vị sự nghiệp công lập 35
Tiểu kết chương 1 38 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TUYỂN
DỤNG VIÊN CHỨC Ở CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG BÌNH 39 2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế- xã hội
ảnh hưởng đến tuyển dụng viên chức ở các đơn vị sự nghiệp
công lập trên địa bàn tỉnh Quảng Bình 39
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 39 2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 41
2.2 Thực tiễn thực hiện pháp luật về tuyển dụng viên chức ở các
ĐVSNCL trên địa bàn tỉnh Quảng Bình 42
2.2.1 Cơ sở pháp lý thực hiện pháp luật về tuyển dụng viên chức tại
tỉnh Quảng Bình 42 2.2.2 Thực trạng các đơn vị sự nghiệp công lập tại tỉnh Quảng Bình 43 2.2.3 Thực tiễn thực hiện pháp luật về tuyển dụng viên chức tại tỉnh
Quảng Bình 48
Trang 72.3 Những tác động trong việc thực hiện pháp luật đối với hoạt
động tuyển dụng viên chức ở các ĐVSNCL 65
2.3.1 Những tác động tích cực trong thực hiện pháp luật về tuyển dụng viên chức ở các ĐVSNCL từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình 65
2.3.2 Những hạn chế trong thực hiện pháp luật về tuyển dụng viên chức ở các ĐVSNCL từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình 67
2.4 Nguyên nhân của những ưu điểm và hạn chế trong thực hiện pháp luật về tuyển dụng viên chức viên chức ở các ĐVSNCL trên địa bàn tỉnh Quảng Bình hiện nay 76
2.4.1 Nguyên nhân của những ưu điểm 76
2.4.2 Nguyên nhân của những hạn chế 76
Tiểu kết chương 2 80
CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ TUYỂN DỤNG VIÊN CHỨC Ở CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG BÌNH 81
3.1 Quan điểm nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về tuyển dụng viên chức ở các ĐVSNCL 81
3.2 Giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về tuyển dụng viên chức ở các ĐVSNCL 83
3.2.1 Hoàn thiện hệ thống pháp luật về viên chức 83
3.2.2 Nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu ĐVSNCL trên địa bàn tỉnh Quảng Bình trong việc thực hiện công tác tuyển dụng 87
3.2.3 Thay đổi nhận thức của các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh Quảng Bình 88
3.2.4 Đổi mới hình thức tuyển dụng viên chức ở các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh Quảng Bình 92
Tiểu kết chương 3 95
KẾT LUẬN 96
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Chữ cái viết tắt/ kí hiệu Cụm từ viết tắt
Trang 9DANH MỤC BẢNG, HÌNH
Bảng 2.1 Kết quả công tác tuyển dụng viên chức ở các ĐVSNCL
trên địa bàn tỉnh Quảng Bình từ năm 2014- 2018 45 Hình 1.1 Quy trình tuyển dụng viên chức ở các ĐVSNCL 22
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Con người được xem là nguồn lực quý giá nhất và có tính quyết định của mọi thời đại Một đất nước muốn phát triển cần có rất nhiều các điều kiện cũng như các nguồn lực cần thiết khác nhau (cơ sở vật chất, tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học kĩ thuật, nguồn nhân lực), trong đó yếu tố nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng nhất và chi phối các yếu tố còn lại
Trong các văn kiện của Đảng và các chính sách của Nhà nước đều
khẳng định rằng: “Con người ở vị trí trung tâm trong toàn bộ chiến lược phát
triển kinh tế- xã hội, lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững”
Lịch sử loài người đã kiểm nghiệm và đi đến kết luận: Nguồn lực con người là lâu bền nhất, chủ yếu nhất trong sự phát triển của kinh tế- xã hội và sự tiến bộ của loài người Đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, khi nước ta đang gia nhập WTO và hòa nhập vào nền kinh tế thế giới thì việc phát triển nguồn nhân lực và thu hút nguồn nhân tài phục vụ cho sự phát triển là rất cần thiết
Trong hoạt động của nền hành chính, vấn đề xây dựng đội ngũ viên chức luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của cả nước nói chung cũng như trên địa bàn tỉnh Quảng Bình nói riêng Để có nguồn nhân lực đáp ứng trình độ chuyên môn hóa ngày càng cao và đạt hiệu quả tốt nhất, cần thực hiện đồng
bộ nhiều biện pháp quản lí nhân sự khác nhau Trong đó, tuyển dụng con người nói chung và tuyển dụng viên chức nói riêng đóng vai trò hết sức quan trọng Từ phạm vi quốc gia đến từng cơ quan, đơn vị của nhà nước hoặc các
tổ chức sản xuất, kinh doanh đều phải xây dựng kế hoạch, chiến lược thu hút nhân tài về làm việc Các ĐVSNCL trên địa bàn tỉnh Quảng Bình cũng không đứng ngoài hoạt động này
Để điều chỉnh hoạt động tuyển dụng, các cơ quan nhà nước đã ban
Trang 11hành nhiều VBQPPL Tuy nhiên, nhiều quy phạm tỏ ra không phù hợp với thực tế, hệ thống văn bản vẫn còn chắp vá, thiếu sự thống nhất Mặt khác, quan điểm, cơ chế quản lý các ĐVSNCL và đội ngũ nhân lực làm việc tại đây cũng có nhiều sự thay đổi đã tạo ra một sự bị động từ phía các đơn vị này
Luật Viên chức đã được quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 15/11/2010, là luật đầu tiên điều chỉnh riêng về nhóm đối tượng viên chức, đã có không ít tác động đến bộ máy nhà nước từ trung ương đến địa phương bởi những quy định mới liên quan đến nguồn nhân lực sẽ vô hình dung tác động đến cơ cấu của tổ chức bộ máy Việc ban hành luật viên chức chứa đựng hy vọng sẽ tạo ra sự thay đổi tích cực trong pháp luật về viên chức
và các ĐVSNCL Với vấn đề tuyển dụng viên chức, luật mới chỉ dừng lại ở những quy định cơ bản, nội dung cụ thể còn đang chờ đợi ở những văn bản dưới luật, một số quy định còn tạo sự băn khoăn trong dư luận Vì vậy, cần có những nghiên cứu thực tế, khách quan về các vấn đề liên quan đến viên chức trong đó có mảng tuyển dụng làm cơ sở cho việc nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động này Vì vậy tôi lựa chọn và mong muốn được nghiên cứu
chuyên sâu, toàn diện đề tài “Thực hiện pháp luật về tuyển dụng viên chức ở
các đơn vị sự nghiệp công lập – từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình” Mong rằng
khóa luận sẽ góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng tuyển dụng viên chức nhằm tìm kiếm nguồn nhân lực có “chất” trong các ĐVSNCL trên địa bàn tỉnh Quảng Bình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Tuyển chọn nhân lực chuyên môn có chất lượng vào làm việc tại các cơ quan, đơn vị của nhà nước là công việc quan trọng mà mọi tổ chức đều phải chú trọng thực hiện bởi con người là nguồn lực quý giá nhất, quyết định sự tồn tại và phát triển của một tổ chức Trong những năm qua có rất nhiều luận văn, luận án, công trình nghiên cứu khoa học tập trung xoay quanh vấn đề
Trang 12tuyển dụng nhân lực nhưng chủ yếu tập trung vào nghiên cứu nhóm đối tượng công chức hoặc có nghiên cứu về viên chức trong nhóm cán bộ, công chức Một số đề tài, công trình nghiên cứu tiêu biểu như sau:
- “Sự điều chỉnh của pháp luật về viên chức” của GS.TS Phạm Hồng Thái;
- Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Quốc Hiệp, “Hoàn thiện pháp luật
về tuyển chọn công chức ở nước ta”;
- “Một số kiến nghị về xây dựng cơ chế tuyển dụng công chức theo mô
hình công vụ việc làm ở nước ta”, của tác giả Đào Thị Thanh;
- “Một số suy nghĩ về việc xây dựng Luật Viên chức”, Vũ Khoan -
Nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ;
- “Một số vấn đề về tuyển chọn, sử dụng và đãi ngộ nhân tài”, tác giả
Trần Văn Quảng;
- “Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ công chức” của
TS Thang Văn Phúc và TS Nguyễn Minh Phương (đồng chủ biên);
- “Kinh nghiệm thi tuyển công chức của một số nước trên thế giới”, tác
giả Trần Thị Minh Châu;
- “Viên chức và những vấn đề cần chú ý khi xây dựng Luật Viên chức”,
tác giả Văn Tất Thu;
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu ở trên đều tập trung phân tích, nghiên cứu về cán bộ công chức, viên chức ở nhiều khía cạnh khác nhau Do mục đích nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của mỗi công trình là khác nhau nên chưa đi sâu nghiên cứu về vấn đề tuyển dụng viên chức và đặc biệt là nghiên cứu về hoạt động tuyển dụng viên chức ở các ĐVSNCL trên địa bàn tỉnh Quảng Bình đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu, luận văn này hy vọng sẽ có những đóng góp nhất định trong việc nghiên cứu về tuyển dụng viên chức nói chung và việc thực hiện về pháp luật tuyển dụng viên chức ở các ĐVSNCL trên địa bàn tỉnh Quảng Bình nói riêng
Trang 133 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Đề tài tập trung nghiên cứu tìm hiểu về quy định của pháp luật hiện hành tuyển dụng viên chức ở các ĐVSNCL, tìm hiểu thực trạng tuyển dụng viên chức ở các ĐVSNCL trên địa bàn tỉnh Quảng Bình và đưa ra một số kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật, nâng cao hiệu quả hoạt động tuyển dụng viên chức ở các ĐVSNCL trên địa bàn tỉnh Quảng Bình
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn sẽ giải quyết các nhiệm vụ cụ thể sau:
- Một là, nghiên cứu cơ sở lý luận hoàn thiện pháp luật viên chức trong các ĐVSNCL, cụ thể như: Khái niệm, nội dung, đặc điểm và vai trò của pháp luật về viên chức trong các ĐVSNCL; các yếu tố ảnh hưởng đến việc hoàn thiện pháp luật về viên chức trong các ĐVSNCL
- Hai là, nghiên cứu thực trạng pháp luật về viên chức trong các ĐVSNCL ở Quảng Bình hiện nay, cụ thể: phân tích, đánh giá thực trạng, những kết quả đạt được, những bất cập, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế của pháp luật về viên chức trong các ĐVSNCL- từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình
- Ba là, trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận, thực tiễn như nêu ở các mục trên, luận văn đề xuất những quan điểm và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về viên chức trong các ĐVSNCL- từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những quy định của pháp luật hiện hành
của Việt Nam về viên chức trong các ĐVSNCL- từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Luận văn nghiên cứu pháp luật về viên chức trong
các ĐVSNCL - từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình
Trang 14Phạm vi thời gian: Thời gian nghiên cứu của đề tài tập trung vào giai đoạn từ năm 2014-2018
Phạm vi về nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu những quy định của pháp luật về tuyển dụng viên chức ở các ĐVSNCL nói chung cũng như việc tuyển dụng viên chức ở các ĐVSNCL từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình nói riêng
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở lí luận khoa học và các phương pháp nghiên cứu của Chủ nghĩa Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng những quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về hoàn thiện hệ thống pháp luật
và áp dụng pháp luật, đặc biệt là trong lĩnh vực cải cách tư pháp
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đề tài kết hợp nhuần nhuyễn nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau để làm rõ nội dung vấn đề
Khoá luận cũng sử dụng phương pháp nghiên cứu thực tiễn để làm sáng
tỏ các vấn đề liên quan đến tuyển dụng viên chức ở các ĐVSNCL trên địa bàn tỉnh Quảng Bình
Phương pháp so sánh được sử dụng khi tìm hiểu sự khác biệt giữa tuyển dụng viên chức với các đối tượng khác, khác biệt giữa tuyển dụng viên chức ở nước ta với một số nước trên thế giới nhằm đối chiếu và hoàn thiện pháp luật Việt Nam về tuyển dụng viên chức Phương pháp thống kê cũng được sử dụng
để tìm hiểu số lượng viên chức được tuyển dụng tại một số ĐVSNCL
Phương pháp phân tích tổng hợp vừa đảm bảo tính khái quát của vấn đề được nghiên cứu vừa đảm bảo tính chuyên sâu ở mỗi nội dung liên quan đến tuyển dụng viên chức ở các ĐVSNCL trên địa bàn tỉnh Quảng Bình
6 Ý nghĩa của luận văn
Ý nghĩa lý luận: Thông qua việc làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về viên chức ở các ĐVSNCL, Luận văn khẳng định
Trang 15sự cần thiết của việc hoàn thiện pháp luật về viên chức ở các ĐVSNCL Hoàn thiện pháp luật về viên chức ở các ĐVSNCL góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam dưới góc độ bảo đảm tính toàn diện, bảo đảm mọi lĩnh vực
xã hội, mọi quan hệ xã hội quan trọng đều được điều chỉnh bằng pháp luật
Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn góp phần đóng góp ý kiến, đánh giá của cá nhân về những thành tựu, những hạn chế, khuyết thiếu của pháp luật về viên chức ở các ĐVSNCL- từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình Từ đó đóng góp những
đề xuất, kiến nghị của cá nhân nhằm hoàn thiện pháp luật về viên chức ở các ĐVSNCL- từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình Đây cũng là nguồn tài liệu tham khảo cho các cơ quan quản lý trong việc hoạch định chính sách, xây dựng kế hoạch, lộ trình hoàn thiện pháp luật về viên chức ở các ĐVSNCL
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được cấu trúc làm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận thực hiện pháp luật về tuyển dụng viên chức ở
các đơn vị sự nghiệp công lập
Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về tuyển dụng viên chức ở
các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh Quảng Bình
Chương 3: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật về tuyển dụng
viên chức ở các đơn vị sự nghiệp công lập- từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TUYỂN DỤNG VIÊN CHỨC Ở CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP
1.1 Những khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm viên chức
Trải qua thời kỳ dài của lịch sử xây dựng đất nước trong hòa bình, nước
ta đã quen với việc sử dụng thuật ngữ cán bộ, công nhân, viên chức Đây là cụm từ chỉ những người làm việc trong hệ thống chính trị, thực hiện các hoạt động sự nghiệp và các hoạt động sản xuất kinh doanh do Nhà nước tổ chức Trước năm 2003, Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998 (sau đây gọi là Pháp lệnh năm 1998) không hề đề cập đến viên chức như một đội ngũ nhân sự độc lập trong các đơn vị, tổ chức mà mặc nhiên quan niệm công chức giống viên chức Vì vậy quan niệm về viên chức thời điểm này chưa được chính thức đưa
ra tại văn bản luật Tuy nhiên trên phương diện lý luận đã có khá nhiều ý kiến khoa học khác nhau quan niệm về viên chức
Khái niệm viên chức được sử dụng trong các VBQPPL thay đổi theo từng thời kỳ tuỳ thuộc vào quan điểm của nhà nước về đội ngũ này Hiến pháp 1992 sử dụng cụm từ “cán bộ, viên chức” để chỉ chung những người làm việc tại các cơ quan nhà nước, ĐVSNCL (Điều 8) Theo đó, viên chức là một khái niệm rất rộng, “có khi dùng để chỉ một phạm vi rộng lớn những người làm việc trong cả bộ máy, tổ chức nhà nước” [5, tr.27]
Viên chức theo cách hiểu ở trên không được sử dụng nguyên nghĩa trong các VBQPPL có hiệu lực thấp hơn Tại Pháp lệnh Cán bộ, công chức ban hành năm 1998, cụm từ được sử dụng là “cán bộ, công chức” Khi Pháp lệnh được sửa đổi, bổ sung năm 2003, lần đầu tiên viên chức được tách riêng thành một nhóm, phân biệt với công chức Điểm d, điều 1 Pháp lệnh quy định
Trang 17viên chức là “những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc được giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội” Theo quy định này, viên chức là một nhóm nhỏ thuộc một tập hợp lớn hơn là cán bộ, công chức Hai đối tượng công chức và viên chức tiếp tục có sự thay đổi tại hai đạo luật mới ban hành là Luật Cán bộ, công chức 2008 và Luật Viên chức 2010 Luật Viên chức được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 15 tháng 11 năm 2010 Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2012 Điều 2 quy định: “Viên chức
là công dân Việt Nam, được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn
vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”
Viên chức là người thực hiện các công việc hoặc nhiệm vụ có yêu cầu
về năng lực, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ trong các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc các lĩnh vực: giáo dục, đào tạo, y tế, khoa học, công nghệ, văn hóa, thể dục thể thao, du lịch, lao động - thương binh và xã hội, thông tin - truyền thông, tài nguyên - môi trường, dịch vụ như bác sĩ, giáo viên, giảng viên đại học , hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật
Như vậy, đồng thời với việc Luật Cán bộ, công chức phân định “cán bộ”
và “công chức”, Luật Viên chức cũng đã làm rõ được khái niệm viên chức, phân biệt viên chức với cán bộ và công chức Sự khác biệt cơ bản của viên chức so với cán bộ, công chức, đó chính là chế độ tuyển dụng gắn với vị trí việc làm, thông qua chế độ hợp đồng làm việc và tiền lương được hưởng từ quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp công lập Lao động của viên chức không mang tính quyền lực công, chỉ thuần túy là hoạt động nghề nghiệp mang tính chuyên môn, nghiệp
vụ, vì vậy, Luật Viên chức đã làm rõ: “Hoạt động nghề nghiệp của viên chức là
Trang 18việc thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ trong đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật về viên chức và các pháp luật có liên quan”
Điểm khác biệt cơ bản của viên chức so với công chức là viên chức được tuyển dụng gắn với vị trí việc làm, thông qua chế độ hợp đồng làm việc
và tiền lương được hưởng từ quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp công lập Còn Công chức được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là
sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn
vị sự nghiệp công lập, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; trừ công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật
Mặc dù đã xây dựng được hai đạo luật quan trọng điều chỉnh về hai nhóm đối tượng nhưng khái niệm viên chức và đối tượng được coi là viên chức vẫn chưa đạt được sự nhất trí cao của những nhà quản lý và các nhà nghiên cứu Việc đưa người đứng đầu ĐVSNCL từ đối tượng viên chức sang công chức là điều gây băn khoăn nhất Đáng tiếc là điều này xảy ra khi Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức đã được nghiên cứu, soạn thảo khá kỹ lưỡng sau khi rút ra nhiều kinh nghiệm từ thực tiễn quản lý công chức và viên chức hàng chục năm qua Điều này khiến cho việc ban hành các quy định về tuyển dụng cũng như quản lý, sử dụng viên chức gặp phải một số điểm phức tạp không đáng có
Qua các định nghĩa trên, có thể nhận thấy được những đặc điểm cơ bản của viên chức như sau:
Trang 19- Thứ nhất, phải là công dân Việt Nam;
- Thứ hai, về chế độ tuyển dụng: Viên chức phải là người được tuyển dụng trước hết theo vị trí việc làm;
- Thứ ba, về nơi làm việc: Viên chức làm việc tại ĐVSNCL theo khoản
1 điều 9 Luật Viên chức năm 2010 được hiểu là “…tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước” [21]
- Thứ tư, về thời gian làm việc: Thời gian làm việc của viên chức được tính kể từ khi được tuyển dụng, Hợp đồng làm việc được ký kết giữa viên chức và ĐVSNCL có hiệu lực cho đến khi chấm dứt hợp đồng làm việc hoặc
đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định của Bộ luật Lao động;
- Thứ năm, về chế độ lao động: viên chức làm việc theo chế độ Hợp đồng làm việc và hưởng lương từ quỹ lương của ĐVSNCL theo quy định của pháp luật Điều đó có nghĩa giữa viên chức và bên tuyển dụng có sự thỏa thuận
về vị trí việc làm, tiền lương, chế độ đãi ngộ, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên Hợp đồng làm việc là cơ sở pháp lí để sau này xử lý các việc liên liên quan đến việc vi phạm quyền hay các vấn đề khác phát sinh giữa hai bên
1.1.2 Khái niệm tuyển dụng viên chức
Hiểu một cách đơn giản thì tuyển dụng là lựa chọn người để làm những công việc nhất định Tuyển dụng phải theo nguyên tắc cạnh tranh giữa các ứng viên, như vậy mới đúng nghĩa là "tuyển" [6] Tuyển dụng viên chức có những điểm khác biệt so với tuyển dụng nhân lực tại các đơn vị ngoài công lập Cùng là việc lựa chọn người xứng đáng nhất, phù hợp nhất nhưng tiêu chuẩn, phương thức tuyển dụng ở hai khu vực khác nhau Tuyển dụng nhân lực tại khu vực ngoài công lập không nhất thiết phải theo một khuôn phép được quy định sẵn, đơn vị tuyển dụng có thể tự đặt ra tiêu chuẩn đối với ứng
Trang 20viên dự tuyển, kết quả cuối cùng mà họ mong muốn là lựa chọn được người phù hợp nhất cho công việc Đây cũng là mục đích trong tuyển dụng viên chức, tuy nhiên việc tuyển dụng phải tuân theo những quy định tại các VBQPPL; điều kiện, phương thức, thủ tục tuyển dụng có sự chặt chẽ hơn Điều này được lý giải bởi viên chức là người làm việc trong các ĐVSNCL, các đơn vị này thực hiện hoạt động nhằm phục vụ công tác quản lý nhà nước,
sử dụng ngân sách nhà nước trong các hoạt động nên việc tuyển dụng phải theo những quy định chặt chẽ
Tuyển dụng viên chức trên cơ sở các quy định của pháp luật hành chính, tuy nhiên cũng không được trái với các quy định của pháp luật lao động Xét cho cùng, viên chức cũng là người lao động, làm việc cho đối tượng sử dụng lao động đặc biệt Vì vậy, những quy định về độ tuổi tuyển dụng, thủ tục tuyển dụng, hợp đồng làm việc cũng phải dựa trên cơ sở những nguyên tắc của pháp luật lao động
Tuyển dụng được viên chức xứng đáng, có năng lực cũng chính là việc
sử dụng hợp lý, có hiệu quả các nguồn lực mà nhà nước đầu tư cho các đơn vị
sự nghiệp Hiện nhà nước vẫn đang cấp một lượng ngân sách khá lớn cho việc trả lương và thanh toán các hoạt động liên quan tới đội ngũ viên chức Một viên chức có năng lực, đảm nhiệm tốt công việc chuyên môn sẽ làm giảm bớt biên chế tại các vị trí việc làm, tạo điều kiện tiết kiệm nguồn lực để đầu tư vào các hoạt động khác
Xây dựng nguồn nhân lực luôn là nhiệm vụ quan trọng của bất kỳ một
cơ quan, đơn vị nào Ngoài việc nâng cao chất lượng đội ngũ hiện có, bổ sung những viên chức mới có chất lượng là điều cần thiết Do đó, tuyển dụng viên chức phải được xây dựng như một hoạt động mang tính chiến lược dài hạn
Tóm lại, tuyển dụng viên chức là việc lựa chọn những công dân Việt Nam
có năng lực, phẩm chất, trình độ làm công tác chuyên môn tại các ĐVSNCL,
Trang 21việc tuyển dụng được thực hiện qua ký kết hợp đồng làm việc theo vị trí việc làm mà đơn vị yêu cầu Đây là công việc có tầm quan trọng đặc biệt, ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của một đơn vị, bên cạnh đó còn tác động tới công tác quản lý của nhà nước đối với các ĐVSNCL và đội ngũ viên chức
1.1.3 Khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập
Để xây dựng một cơ chế quản lý hiệu quả đối với các ĐVSNCL, trước tiên phải xây dựng khái niệm đúng đắn, hoàn chỉnh về ĐVSNCL, mang đầy
đủ những đặc điểm về tính chất hoạt động, phương thức quản lý Trong những năm qua, các cơ quan nhà nước đã ban hành nhiều VBQPPL có liên quan đến ĐVSNCL nhưng lại không đưa ra khái niệm về các đơn vị này, cho tới khi Luật Viên chức ra đời Điều 9, khoản 1 Luật Viên chức quy định: “Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có
tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước” Hiện nay, hoạt động cung cấp các dịch vụ công thiết yếu không còn là độc quyền của các ĐVSNCL mà có sự bình đẳng về quyền giữa các đơn vị trong và ngoài công lập Điểm khác biệt giữa ĐVSNCL và các đơn vị khác là được thành lập bởi những cơ quan có thẩm quyền của nhà nước, tổ chức chính trị,
tổ chức chính trị - xã hội
Phần lớn các ĐVSNCL chỉ thực hiện cung cấp một loại hình dịch vụ công bởi đó là mục đích chính khi thành lập Một số đơn vị khác cung cấp một số loại hình dịch vụ nhưng vẫn tập trung vào một lĩnh vực chủ yếu Ví dụ: một trường đại học y được thành lập với hoạt động chủ yếu là đào tạo nhân lực y tế, bên cạnh đó cũng thực hiện việc nghiên cứu khoa học và khám chữa bệnh, một viện nghiên cứu bên cạnh hoạt động nghiên cứu cũng
có thể đảm nhiệm việc đào tạo một số trình độ Dịch vụ công mà các đơn vị này cung cấp có đặc điểm là “không thu tiền hoặc có thu tiền nhưng không
Trang 22đặt mục tiêu lợi nhuận lên trên hết” [18, tr.16 - 17] Với mục đích chuyển giao quyền tự chủ mạnh mẽ hơn, Luật Viên chức 2010 chia thành 2 loại: ĐVSNCL được giao quyền tự chủ hoàn toàn và ĐVSNCL chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn
Phần lớn lao động làm việc tại các ĐVSNCL được gọi là viên chức Tuy các đơn vị này hoạt động trên các lĩnh vực, các địa phương khác nhau nhưng đội ngũ viên chức đều được điều chỉnh chung bằng các VBQPPL, đều phải đạt được những tiêu chuẩn nhất định, có những quyền lợi, nghĩa vụ giống nhau
1.1.4 Khái niệm thực hiện pháp luật về tuyển dụng viên chức
Pháp luật là hệ thống các quy tắc do Nhà nước ban hành và bảo đảm thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là yếu tố điều chỉnh các quan
hệ xã hội Nhà nước cộng hoà xã hội Việt Nam là nhà nước pháp quyền XHCN là nhà nước của dân, do dân và vì dân, do đó pháp luật thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và đông đảo nhân dân lao động
Thực hiện pháp luật là hành vi (hành động hay không hành động) có mục đích của cá nhân, tổ chức nhằm hiện thực hóa các quy định của pháp luật làm cho chúng đi vào đời sống, trở thành hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật
Pháp luật về tuyển dụng viên chức là tổng thể các quy phạm pháp luật do chủ thể có thẩm quyền ban hành và được bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội trong quá trình lựa chọn người có đủ các điều kiện, tiêu chuẩn vào làm viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập
Pháp luật giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác tuyển dụng viên chức [12]
Pháp luật quy định các quy tắc xử sự mà con người phải thực hiện khi tham gia vào quy trình tuyển dụng; quy định các chế tài để buộc các cá nhân,
tổ chức phải thực hiện đầy đủ các đòi hỏi của pháp luật trong việc tổ chức tuyển dụng và tham gia dự tuyển; quy định chức năng, nhiệm vụ quyền hạn
Trang 23của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tuyển dụng Pháp luật về tuyển dụng viên chức tại nước ta dần được xây dựng, hoàn thiện qua từng thời kỳ Hiến pháp năm 1992 là cơ sở pháp lý cho việc ban hành các VBQPPL liên quan đến viên chức Hiến pháp không quy định việc tuyển dụng nhưng Điều 8 đã quy định trách nhiệm của viên chức trong thực hiện nhiệm vụ [3] Đây là cơ
sở cho việc xây dựng điều kiện, tiêu chuẩn đối với người được tuyển dụng làm viên chức
Quản lý nhà nước bằng pháp luật đòi hỏi Nhà nước phải ban hành pháp luật Nếu pháp luật ban hành nhiều nhưng ít đi vào cuộc sống, hiệu quả điều chỉnh của các quy phạm pháp luật không cao, chứng tỏ quản lý nhà nước kém hiệu quả Do đó, xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật là đòi hỏi khách quan của quản lý nhà nước, tăng cường pháp chế, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam
Căn cứ vào nội dung trên, ta có thể hiểu một cách khái quát về khái niệm “thực hiện pháp luật về tuyển dụng viên chức” như sau:
Thực hiện pháp luật về tuyển dụng viên chức là quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật về tuyển dụng viên chức đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật về tuyển dụng viên chức, nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong thực hiện pháp luật về tuyển dụng viên chức qua đó tuyển chọn được đội ngũ viên chức có phẩm chất, trình độ chuyên môn, chất lượng cao, phù hợp, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động, chất lượng cung cấp dịch vụ công của các đơn vị sự nghiệp công lập
1.2 Nội dung và hình thức thực hiện pháp luật về tuyển dụng viên chức
Tuyển dụng viên chức để đảm bảo mục tiêu cần phải được thực hiện trên cơ sở các nguyên tắc và chế định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành
Trang 24Hệ thống các VBQPPL về tuyển dụng viên chức chính là công cụ để các cơ quan, tổ chức được giao thẩm quyền tuyển dụng viên chức triển khai việc tổ chức, thực hiện tuyển dụng viên chức theo quy định [14]
Pháp luật về tuyển dụng viên chức trước hết phải được xác định là hệ thống những VBQPPL quy định những nội dung liên quan đến tuyển dụng viên chức, bao gồm: luật, pháp lệnh, nghị định, thông tư quy định về tuyển dụng viên chức Một trong những yếu tố quyết định đến chất lượng đội ngũ viên chức là việc chấp hành nghiêm chỉnh các VBQPPL về tuyển dụng viên chức Vì vậy, chất lượng của hệ thống thể chế về tuyển dụng viên chức phải được đảm bảo hoàn thiện, thống nhất, khả thi đáp ứng yêu cầu giải quyết các vấn đề thực tiễn trong tuyển dụng viên chức Việc quy định các nội dung tuyển dụng viên chức và tổ chức thực hiện tuyển dụng viên chức phải đảm bảo phù hợp với hệ thống chính trị ở nước ta, mặt khác phải đảm bảo được yếu tố chuyên nghiệp của đội ngũ viên chức, đạt mục tiêu xây dựng đội ngũ viên chức có đủ phẩm chất, năng lực, trình độ đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước và hội nhập quốc tế
Pháp luật về tuyển dụng viên chức bao gồm những nội dung chính sau đây:
1.2.1 Căn cứ tuyển dụng viên chức
Điều 20 Luật Viên chức quy định việc tuyển dụng viên chức phải căn
cứ vào 04 yếu tố, gồm: nhu cầu công việc, vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và quỹ tiền lương của ĐVSNCL
Thứ nhất, nhu cầu công việc:
Nhu cầu công việc là những đòi hỏi, yêu cầu của các công việc cụ thể
mà ĐVSNCL thực hiện Công việc cụ thể ở đây có thể là những công việc có tính chất thường xuyên, liên tục, ổn định, lâu dài, lặp đi lặp lại có tính chu kỳ như công việc lãnh đạo, quản lý, điều hành; công việc thực thi, thừa hành mang tính chuyên môn, nghiệp vụ hoặc những công việc có tính thời vụ, đột
Trang 25xuất [13] Muốn xác định được nhu cầu công việc thì cần phải tiến hành phân tích công việc nhằm nắm được bản chất của công việc, từ đó có thể biết được
vị trí nào còn thiếu, khối lượng công việc, điều kiện tiến hành, các nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn khi thực hiện công việc và các phẩm chất, kỹ năng người viên chức cần thiết phải có để thực hiện công việc đó Trên cơ sở những nội dung này, các ĐVSNCL xác định số lượng viên chức cần tuyển dụng, các điều kiện về phẩm chất, trình độ, năng lực của người tham gia dự tuyển để có thể tuyển chọn đúng người cho công việc Nếu việc tuyển dụng viên chức không dựa trên nhu cầu công việc sẽ dẫn đến tình trạng dư thừa nhân sự, gây lãng phí cả nhân lực và vật lực
Thứ hai, vị trí việc làm:
Vị trí việc làm là công việc hoặc nhiệm vụ gắn với chức danh nghề nghiệp hoặc chức vụ quản lý tương ứng, là căn cứ xác định số lượng người làm việc, cơ cấu viên chức để thực hiện việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức trong ĐVSNCL
Có thể hiểu vị trí việc làm là “một vị trí hoặc một chỗ làm việc trong ĐVSNCL mà tại đó người viên chức thực hiện một công việc hoặc một nhiệm
vụ có tính ổn định, lâu dài, thường xuyên, lặp đi lặp lại có tên gọi cụ thể theo chức danh nghề nghiệp hoặc chức vụ quản lý và được gắn liền với quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ đơn vị đó” [13]
Nguyên tắc để xác định vị trí việc làm là phải tuân thủ quy định của pháp luật về quản lý viên chức; phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của ĐVSNCL; phải gắn với chức danh nghề nghiệp, chức vụ quản lý tương ứng và phải bảo đảm tính khoa học, khách quan, công khai, minh bạch, phù hợp với thực tiễn
Có 05 yếu tố là căn cứ để xác định vị trí việc làm, bao gồm: Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và công việc thực tế của ĐVSNCL; Tính chất, đặc điểm,
Trang 26nhu cầu công việc của ĐVSNCL; Mức độ phức tạp, quy mô công việc; phạm
vi, đối tượng phục vụ; quy trình quản lý chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định của luật chuyên ngành; Mức độ hiện đại hóa công sở, trang thiết bị, phương tiện làm việc và ứng dụng công nghệ thông tin; Thực trạng bố trí, sử dụng viên chức của ĐVSNCL Vị trí việc làm được thể hiện dưới hình thức bản mô
tả công việc, khung năng lực, chức danh nghề nghiệp tương ứng, số lượng người làm việc, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp sẽ là căn cứ để các ĐVSNCL xác định các vấn đề cơ bản như: chỉ tiêu tuyển dụng của từng vị trí việc làm; các điều kiện riêng đối với người đăng ký dự tuyển; hình thức và nội dung thi chuyên môn, nghiệp vụ chuyên ngành [10]
Thứ ba, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp:
Chức danh nghề nghiệp là tên gọi thể hiện trình độ, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của viên chức trong từng lĩnh vực nghề nghiệp; được sử dụng làm căn cứ để thực hiện công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức
Tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp là yêu cầu về phẩm chất, trình độ, năng lực cần có để thực hiện công việc, nhiệm vụ được dùng để: phân loại, quy hoạch, nâng hạng viên chức; đánh giá viên chức; đào tạo, bồi dưỡng viên chức; tuyển dụng, bố trí, đề bạt và thuyên chuyển, sắp xếp lại viên chức theo
vị trí việc làm; là mục tiêu phấn đấu của viên chức; là cơ sở để trả lương, thù lao và thực hiện các chế độ, chính sách khác đối với viên chức Các yêu cầu
về tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp phải phù hợp đối với mỗi vị trí việc làm
và phải phải gắn với vai trò, chức năng, nhiệm vụ của ĐVSNCL Có thể hiểu các yêu cầu này là khung tiêu chuẩn năng lực chức danh
Bộ quản lý viên chức chuyên ngành căn cứ yêu cầu, đặc điểm, tính chất của hoạt động nghề nghiệp, chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan xây dựng, ban hành Bộ tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp của viên chức thuộc ngành, lĩnh vực sự nghiệp được giao quản lý [1]
Trang 27Kết cấu chung của tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp, bao gồm: Tên và hạng của chức danh nghề nghiệp; Nhiệm vụ: liệt kê chi tiết và cụ thể những công việc phải thực hiện có mức độ phức tạp phù hợp với hạng chức danh nghề nghiệp; Tiêu chuẩn về đạo đức nghề nghiệp; Tiêu chuẩn về trình độ đào tạo, bồi dưỡng; Tiêu chuẩn về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ Tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp là cơ sở để ĐVSNCL xác định: các điều kiện đối với người đăng ký dự tuyển, nội dung thi các môn như tin học văn phòng và ngoại ngữ
Thứ tư, quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp công lập:
Quỹ tiền lương của ĐVSNCL bao gồm tất cả các khoản tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp có tính chất tiền lương Viên chức được hưởng lương từ quỹ lương của ĐVSNCL, được trả lương tương xứng với vị trí việc làm, chức danh nghề nghiệp, chức vụ quản lý và kết quả thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ được giao Vì vậy, ĐVSNCL phải bảo đảm quỹ tiền lương của mình bảo đảm được nguồn thu nhập, chế độ đãi ngộ công bằng, xứng đáng với trình độ, năng lực của viên chức cũng như hiệu quả hoạt động của đơn vị
1.2.2 Nguyên tắc tuyển dụng viên chức
Tại Điều 21 của Luật viên chức, 5 nguyên tắc của tuyển dụng viên chức
đã được liệt kê bao gồm: Bảo đảm công khai, minh bạch, công bằng, khách quan và đúng pháp luật; Bảo đảm tính cạnh tranh Tuyển chọn đúng người đáp ứng yêu cầu của vị trí việc làm; Đề cao trách nhiệm của người đứng đầu ĐVSNCL; Ưu tiên người có tài năng, người có công với cách mạng, người
dân tộc thiểu số
Nguyên tắc tuyển dụng viên chức là các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo do Nhà nước đặt ra và yêu cầu phải được thực thi trong suốt quá trình hoạt động nhằm đạt hiệu quả trong công tác tuyển dụng viên chức Các nguyên tắc này
là nền tảng pháp lý chỉ đạo, định hướng cho toàn bộ các hoạt động trong quá trình tuyển dụng viên chức và là căn cứ pháp lý để xác định tính hợp pháp của
các hành vi do các chủ thể tham gia tuyển dụng viên chức thực hiện
Trang 28Các nguyên tắc tuyển dụng viên chức có mối quan hệ hữu cơ chặt chẽ với nhau, nguyên tắc này dựa trên cơ sở nguyên tắc kia và là nền tảng cho nguyên tắc khác, chúng không độc lập, mâu thuẫn mà hỗ trợ, bổ sung cho nhau tạo thành một thể thống nhất điều chỉnh các hoạt động trong quá trình tuyển dụng viên chức Bên cạnh đó, việc tuân thủ các nguyên tắc này còn có ý nghĩa rất lớn đối với công tác tuyển dụng viên chức tại các ĐVSNCL, góp phần áp dụng thống nhất pháp luật của các ĐVSNCL trong phạm vi cả nước Qua đó, bảo đảm tính ổn định trong chính sách quản lý nguồn nhân lực và tình trạng nhân lực nói chung của các ĐVSNCL
1.2.3 Điều kiện dự tuyển viên chức
Điều kiện của người dự tuyển viên chức là những yêu cầu, đòi hỏi mà đối tượng muốn dự tuyển viên chức phải đáp ứng Điều kiện tuyển dụng viên chức phải thể hiện được tính công bằng, bình đẳng của các ứng viên khi tham gia tuyển dụng viên chức, đồng thời bảo đảm thu hút được sự tham gia đông đảo của người dân Người dự tuyển viên chức phải đáp ứng các điều kiện chung quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e khoản 1 Điều 22 Luật Viên chức
và điều kiện riêng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 22 Luật Viên chức Điều kiện chung là điều kiện bắt buộc mà bất cứ công dân nào muốn trở thành viên chức đều phải hội đủ Điều kiện riêng là điều kiện gắn với vị trí việc làm, thể hiện tính chất, đặc điểm riêng của các lĩnh vực dịch vụ công và mang tính chuyên môn, nghiệp vụ cụ thể Theo đó, người dự tuyển viên chức phải đáp ứng các điều kiện sau: a) Có quốc tịch Việt Nam và cư trú tại Việt Nam; b)
Từ đủ 18 tuổi trở lên Đối với một số lĩnh vực hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao, tuổi dự tuyển có thể thấp hơn theo quy định của pháp luật; đồng thời, phải có sự đồng ý bằng văn bản của người đại diện theo pháp luật; c) Có đơn đăng ký dự tuyển; d) Có lý lịch rõ ràng; đ) Có văn bằng, chứng chỉ đào tạo, chứng chỉ hành nghề hoặc có năng khiếu kỹ năng phù hợp với vị trí
Trang 29việc làm; e) Đủ sức khoẻ để thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ; g) Đáp ứng các điều kiện khác theo yêu cầu của vị trí việc làm do ĐVSNCL xác định
nhưng không được trái với quy định của pháp luật [21]
Ngoài ra, Luật viên chức cũng có quy định về những đối tượng ở trong những tình trạng sau đây không được đăng ký dự tuyển viên chức để đảm bảo việc tuyển dụng hiệu quả, thu hút được những người phù hợp có sức khỏe, có trình độ chuyên môn và phẩm chất đạo đức: Mất năng lực hành vi dân sự hoặc
bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đang chấp hành bản án, quyết định về hình sự của Tòa án; đang bị áp dụng biện pháp
xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng
1.2.4 Thẩm quyền tuyển dụng viên chức
Đối với ĐVSNCL được giao quyền tự chủ: Điều 24 Luật Viên chức quy định người đứng đầu ĐVSNCL được giao quyền tự chủ sẽ tổ chức thực hiện việc tuyển dụng viên chức, quyết định tuyển dụng viên chức qua thi tuyển hoặc xét tuyển Điều này nhằm bảo đảm quyền chủ động và đề cao trách nhiệm của người đứng đầu ĐVSNCL, cũng như tiếp tục đổi mới cơ chế hoạt động của các ĐVSNCL theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm;
Đối với ĐVSNCL chưa được giao quyền tự chủ thì cơ quan có thẩm quyền quản lý ĐVSNCL thực hiện việc tuyển dụng hoặc phân cấp cho người đứng đầu ĐVSNCL thực hiện [21]; Cả hai trường hợp đều phải thành lập Hội đồng tuyển dụng viên chức với cơ cấu thành viên, nhiệm vụ, quyền hạn được quy định cụ thể trong các văn bản hướng dẫn Luật Viên chức có những quy định khác nhau về thẩm quyền tuyển dụng viên chức phù hợp với đặc thù của từng loại ĐVSNCL Tuy nhiên, giữa chúng vẫn tồn tại một điểm chung, cụ thể: chịu trách nhiệm tuyển dụng viên chức là một hội đồng làm việc theo nguyên tắc tập thể, biểu quyết theo đa số và tự giải thể sau khi hoàn thành
Trang 30nhiệm vụ Quy định này một mặt tuân thủ nghiêm túc các nguyên tắc cơ bản trong hệ thống quản lý điều hành nói chung (tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, thiểu số phục tùng đa số), mặt khác tạo cơ chế bảo đảm người dự tuyển
sẽ được nhìn nhận, phân tích, đánh giá đa chiều dưới các góc độ chuyên môn khác nhau của từng thành viên trong hội đồng, theo đó người trúng tuyển sẽ được lựa chọn một cách khách quan Đồng thời đây còn là cơ sở để hạn chế đến mức tối đa tình trạng lạm dụng quyền hạn cá nhân trong quá trình tuyển dụng, đặc biệt là ở các vị trí có quyền chi phối như Chủ tịch Hội đồng Bên cạnh đó, các quy định về Chủ tịch Hội đồng và Phó Chủ tịch Hội đồng tuyển dụng thể hiện rõ nguyên tắc đề cao trách nhiệm của người đứng đầu ĐVSNCL, điều này tạo điều kiện cho các đơn vị được chủ động hơn trong việc tuyển chọn nguồn nhân sự
1.2.5 Phương thức tuyển dụng viên chức
Việc tuyển dụng viên chức được thực hiện thông qua thi tuyển hoặc xét tuyển (gồm xét tuyển thường và xét tuyển đặc cách) Mỗi hình thức đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng Việc lựa chọn phương thức tuyển dụng
là do người đứng đầu đơn vị sự nghiệp căn cứ vào tình hình cụ thể để quyết định và chịu trách nhiệm về quyết định của mình Trong khi đó, hình thức tuyển dụng công chức được thực hiện chặt chẽ hơn và thường phải thông qua thi tuyển Luật Viên chức quy định đa dạng các hình thức tuyển dụng nhằm tạo ra sự linh hoạt trong việc lựa chọn hình thức tuyển dụng phù hợp với điều kiện cũng như nhu cầu ở từng giai đoạn của đơn vị mình cho các ĐVSNCL, qua đó góp phần thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của đơn vị sự nghiệp công lập và phát huy thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu
1.2.6 Quy trình tổ chức thực hiện tuyển dụng viên chức
Quy trình tổ chức thử chức tuyển dụng viên chức thực chất là một thủ tục hành chính gồm nhiều bước, được quy định tại mục 4 Nghị định số
Trang 3129/2012/NĐ-CP Theo quy định tại khoản 4 Điều 5 Nghị định này thì hàng năm, ĐVSNCL xây dựng kế hoạch tuyển dụng viên chức trình cấp có thẩm
quyền phê duyệt hoặc quyết định theo thẩm quyền để tổ chức thực hiện
Hình 1.1: Quy trình tuyển dụng viên chức ở các ĐVSNCL
1.2.6.1 Thông báo tuyển dụng và lập kế hoạch tuyển dụng
Xác định chỉ tiêu, nhu cầu cần tuyển dụng
Xác định nhu cầu tuyển dụng nhằm giúp xác định đúng nhân lực trước mắt và lâu dài cho đơn vị tuyển dụng Các cấp quản lý cần biết rõ ràng cần bao
Trang 32nhiêu nhân sự? Ở vị trí nào? Và yêu cầu về trình độ chuyên môn của nhân sự đó
ra sao? Căn cứ vào nhu cầu của đơn vị mình để có thể xác định nhu cầu tuyển dụng một cách chính xác nhất sau đó tiến hành mở cuộc họp công khai để xác định nhu cầu tuyển dụng Điều 20 Luật Viên chức 2010 quy định rõ: “Việc tuyển dụng viên chức phải căn cứ vào nhu cầu công việc, vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp công lập”
Xem xét, phê duyệt nhu cầu tuyển dụng
Dựa trên đề án vị trí việc làm, chỉ tiêu tuyển dụng, biên bản họp của
đơn vị và dựa trên Thẩm quyền tuyển dụng viên chức theo Điều 5 Nghị đinh
số 03/NĐHN-BNV ngày 21/05/2019 về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức để người có thẩm quyền tại các đơn vị sự nghiệp công lập xem xét và phê duyệt nhu cầu tuyển dụng và dựa trên cơ sở đó mà Bộ nội vụ sẽ ban hành
nội quy, quy chế thi tuyển, xét tuyển viên chức cho phù hợp
Lập kế hoạch, thông báo tuyển dụng
Để tiến hành tuyển dụng có hiệu quả thì việc lập kế hoạch là rất quan trọng và cần thiết Việc lập kế hoạch tốt sẽ giúp cho việc tuyển dụng có d được định hướng, các bước thực hiện cụ thể và tránh được các việc diễn biến khó kiểm soát;
Nội dung của kế hoạch tuyển dụng: Căn cứ pháp lý, mục đích, yêu cầu của việc tuyển dụng; thời gian dự kiến tuyển dụng; số lượng và vị trí việc làm cần tuyển; hình thức và nội dung thi tuyển; tổ chức thực hiện và kinh phí thực hiện tuyển dụng
Việc thông báo tuyển dụng viên chức phải được đăng tải ít nhất 01 (một) lần trên một trong các phương tiện thông tin đại chúng (báo viết, báo
nói, báo hình); đăng trên trang thông tin điện tử của đơn vị sự nghiệp công lập
và niêm yết công khai
Trang 331.2.6.2 Tổ chức tuyển dụng
Tiếp nhận và sàng lọc hồ sơ đăng ký dự tuyển
Thời hạn nhận hồ sơ của người đăng ký dự tuyển ít nhất là 20 ngày làm việc kể từ ngày thông báo tuyển dụng công khai trên phương tiện thông tin đại chúng Chậm nhất 10 ngày làm việc trước ngày tổ chức tuyển dụng, cơ quan, đơn vị có thẩm quyền tuyển dụng viên chức phải lập danh sách người
đủ điều kiện dự tuyển để niêm yết công khai tại trụ sở làm việc và thông báo
trên trang điện tử của đơn vị (nếu có);
Trong quá trình tiếp nhận hồ sơ Hội đồng tuyển dụng có nhiệm vụ đón tiếp các ứng viên, quan sát phong thái, cử chỉ của ứng viên và xem xét hồ sơ của ứng viên, từ đó loại bỏ các ứng viên có hồ sơ không phù hợp;
Điều kiện đăng ký dự tuyển viên chức được quy định tại Điều 4 Nghị định số 03/NĐHN-BNV ngày 21/05/2019 về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức;
Ngoài ra quy định của pháp luật Việt Nam cũng quy định rõ các trường hợp không được đăng ký dự tuyển viên chức, đó là:
- Mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;
- Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đang chấp hành bản án, quyết định về hình sự của Tòa án; đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng
Từ các cơ sở đó, việc nghiên cứu hồ sơ của các ứng viên được bắt đầu bằng việc nghiên cứu lý lịch, hồ sơ cá nhân, so sánh với bản tiêu chuẩn công việc của ứng viên đến thời điểm tuyển dụng Khi nghiên cứu hồ sơ cần tìm những điểm không rõ rang hay không nhất quán để xem xét kỹ hơn Từ đó, làm bản báo cáo đánh giá từng ứng viên dựa trên kết quả điều tra và nghiên cứu hồ sơ;
Hội đồng tiếp nhận hồ sơ cần có thái độ niềm nở và lịch sự khi tiếp đón
Trang 34ứng viên để tạo ấn tượng ban đầu tốt đẹp về tổ chức Khi quyết định loại bỏ ứng viên hay không cần được Hội đồng tuyển dụng hội ý thống nhất
Thành lập hội đồng tuyển dụng, ban thƣ ký và ban giúp việc
Để đảm bảo cho việc tuyển dụng được tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục và có thể lựa chọn ra các ứng viên xuất sắc cần phải thành lập Hội đồng tuyển dụng, ban thư ký sao cho có đủ thẩm quyền quyết định Hội đồng tuyển dụng là những người có khả năng nhìn nhận, đánh giá con người, có chuyên môn, nghiệp vụ cũng như kinh nghiệm lâu năm trong ngành, nghề tại đơn vị để đảm bảo tuyển chọn đúng người, đúng việc, đúng quy trình Hội đồng tuyển
dụng sẽ là bộ phận quyết định, điều hành xuyên suốt quá trình tuyển dụng [5];
Cần kiểm tra toàn bộ hồ sơ của ứng viên tham gia dự tuyển từ đó lập danh sách trích ngang hồ sơ đăng ký dự tuyển;
Sau khi có danh sách trích ngang ứng viên dự tuyển, Hội đồng tuyển dụng cần tổ chức họp để thông qua danh sách ứng viên đủ điêu kiện đăng ký
dự tuyển và thời gian, địa điểm tổ chức tuyển dụng trước ngày tuyển dụng ít nhất là 15 ngày theo đúng quy định của pháp luật;
Trước ngày tuyển dụng ít nhất 05 (năm) ngày làm việc Hội đồng tuyển dụng cần đề xuất các thành viên của Ban giúp việc từ đó ra quyết định thành lập các Ban.Ban giúp việc của Hội đồng tuyển dụng được quy định tại Khoản
3 Điều 6 Nghị đinh số 03/NĐHN-BNV ngày 21/05/2019 về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức;
Đối với thi tuyển: Thành lập Ban đề thi, Ban coi thi, Ban phách, Ban chấm thi, Ban chấm phúc khảo, Ban kiểm tra sát hạch khi tổ chức thực hiện phỏng vấn tại vòng 2;
Đối với xét tuyển: Thành lập Ban kiểm tra Phiếu đăng ký dự tuyển, Ban kiểm tra sát hạch để thực hiện phỏng vấn hoặc thực hành tại vòng 2;
Từ đó Hội đồng tuyển dụng sẽ tổ chức thu phí dự tuyển và sử dụng phí
Trang 35dự tuyển theo quy định; tổ chức thi; chấm thi; chấm điểm phỏng vấn hoặc thực hành; kiểm tra phiếu đăng ký dự tuyển khi xét tuyển;
Và chậm nhất là 10 ngày sau ngày tổ chức chấm thi xong, hội đồng tuyển dụng phải báo cáo người đứng đầu cơ quan, đơn vị có thẩm quyền tuyển dụng viên chức kết quả thi tuyển hoặc xét tuyển để xem xét, quyết định công nhận kết quả thi tuyển hoặc xét tuyển Giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quá trình tổ chức thi tuyển hoặc xét tuyển
1.2.6.3 Tổ chức tuyển dụng, chấm điểm, báo cáo kết quả
Sau khi kết thúc tổ chức thi tuyển hoặc xét tuyển Hội đồng tuyển dụng viên chức phải tổ chức chấm thi hoặc tổ chức tổng hợp kết quả xét tuyển và báo cáo với người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng viên chức theo quy định tại Điều 16 Nghị đinh số 03/NĐHN-BNV ngày 21/05/2019 về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức;
Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được báo cáo kết quả thi tuyển hoặc xét tuyển của Hội đồng tuyển dụng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị có thẩm quyền tuyển dụng viên chức phải niêm yết công khai kết quả thi tuyển hoặc xét tuyển tại trụ sở làm việc và trên trang thông tin điện tử của
cơ quan, đơn vị có thẩm quyền tuyển dụng viên chức (nếu có);
Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày niêm yết công khai kết quả thi tuyển, người dự tuyển có quyền gửi đơn đề nghị phúc khảo kết quả thi tuyển Người đứng đầu cơ quan, đơn vị có thẩm quyền tuyển dụng viên chức giao Hội đồng tuyển dụng tổ chức chấm phúc khảo trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn nhận đơn phúc khảo;
Sau khi thực hiện các công việc trên, người đứng đầu cơ quan, đơn vị
có thẩm quyền tuyển dụng viên chức phê duyệt kết quả tuyển dụng;
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày có quyết định phê duyệt kết quả tuyển dụng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị có thẩm quyền tuyển dụng viên
Trang 36chức phải gửi thông báo công nhận kết quả trúng tuyển bằng văn bản tới người dự tuyển qua đường bưu điện theo địa chỉ mà người dự tuyển đã đăng
ký và thông báo công khai trên trang tin điện tử của cơ quan, đơn vị có thẩm quyền tuyển dụng viên chức (nếu có) Nội dung thông báo phải ghi rõ thời gian và địa điểm người trúng tuyển đến ký hợp đồng làm việc
Thông báo kết quả tuyển dụng
Sau khi thực hiện xong các bước tuyển dụng theo đúng quy trình đề ra thì hội đồng tuyển dụng sẽ thống nhất và đi đến quyết định tuyển dụng đối với các ứng viên đã đăng ký dự tuyển Cơ sở ra quyết định tuyển dụng được quy định rõ tại Điều 17 Nghị đinh số 03/NĐHN-BNV ngày 21/05/2019 về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức;
Chậm nhất là 10 ngày sau ngày nhận được báo cáo kết quả vòng 2 của Hội đồng tuyển dụng, cơ quan, đơn vị có thẩm quyền tuyển dụng viên chức phải niêm yết công khai kết quả thi tuyển hoặc xét tuyển, danh sách dự kiến người trúng tuyển tại trụ sở làm việc và trên trang thông tin điện tử của cơ quan, đơn vị có thẩm quyền tuyển dụng viên chức; gửi thông báo kết quả thi tuyển hoặc xét tuyển bằng văn bản tới người dự tuyển theo địa chỉ mà người
dự tuyển đã đăng ký;
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày niêm yết công khai kết quả vòng 2, người dự tuyển có quyền gửi đơn đề nghị phúc khảo kết quả thi trong trường hợp thi vòng 2 bằng hình thức thi viết Người đứng đầu cơ quan, đơn vị có thẩm quyền tuyển dụng viên chức có trách nhiệm tổ chức chấm phúc khảo và công bố kết quả chấm phúc khảo chậm nhất là 15 ngày sau ngày hết thời hạn nhận đơn phúc khảo theo quy định tại khoản này;
Sau khi thực hiện các quy định người đứng đầu cơ quan, đơn vị có thẩm quyền tuyển dụng viên chức phê duyệt kết quả tuyển dụng và gửi thông báo công nhận kết quả trúng tuyển bằng văn bản tới người dự tuyển theo địa
Trang 37chỉ mà người dự tuyển đã đăng ký Nội dung thông báo phải ghi rõ thời hạn người trúng tuyển phải đến cơ quan, đơn vị có thẩm quyền tuyển dụng viên chức để xuất trình bản chính các văn bằng, chứng chỉ, kết quả học tập, đối tượng ưu tiên theo yêu cầu của vị trí tuyển dụng để hoàn thiện hồ sơ dự tuyển theo quy định và ký hợp đồng làm việc Trường hợp người trúng tuyển không hoàn thiện đủ hồ sơ dự tuyển theo quy định hoặc có hành vi gian lận trong việc kê khai Phiếu đăng ký dự tuyển hoặc cơ quan, đơn vị có thẩm quyền tuyển dụng viên chức phát hiện người trúng tuyển sử dụng văn bằng, chứng chỉ không đúng quy định thì người đứng đầu cơ quan, đơn vị có thẩm quyền tuyển dụng viên chức ra quyết định hủy kết quả trúng tuyển và có văn bản báo cáo người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền quản lý viên chức Trường hợp
có hành vi gian lận trong việc kê khai Phiếu đăng ký dự tuyển hoặc cơ quan, đơn vị có thẩm quyền tuyển dụng viên chức phát hiện người trúng tuyển sử dụng văn bằng, chứng chỉ không đúng quy định thì cơ quan, đơn vị có thẩm quyền tuyển dụng thông báo công khai trên phương tiện thông tin đại chúng hoặc trên trang thông tin điện tử của cơ quan, đơn vị và không tiếp nhận Phiếu đăng ký dự tuyển trong một kỳ tuyển dụng tiếp theo
Lưu hồ sơ
Công tác xây dựng và quản lý hồ sơ viên chức được thực hiện thống nhất, khoa học, phản ánh được đầy đủ, chính xác thông tin của từng người từ khi được tuyển dụng cho đến khi không còn làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập Công tác xây dựng và quản lý hồ sơ viên chức được thực hiện thống nhất, khoa học, phản ánh được đầy đủ, chính xác thông tin của từng người từ khi được tuyển dụng cho đến khi không còn làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập Viên chức có trách nhiệm kê khai đầy đủ, rõ ràng, chính xác và chịu trách nhiệm về tính trung thực của những thông tin trong hồ sơ do mình kê
Trang 38khai, cung cấp Những thông tin do viên chức kê khai phải được cơ quan quản
lý hồ sơ viên chức xác nhận, đóng dấu và đưa vào hồ sơ quản lý;
Xây dựng hồ sơ, thành phần hồ sơ viên chức được quy định rõ tại Điều
10 Thông tư 07/2019/TT-BNV ngày 01 tháng 6 năm 2019 “Quy định về chế
độ báo cáo thống kê và quản lý hồ sơ viên chức”
1.3 Vai trò của thực hiện pháp luật về hoạt động tuyển dụng viên chức ở các đơn vị sự nghiệp công lập
Xuất phát từ khái niệm và nội dung thực hiện pháp luật về tuyển dụng viên chức ở các đơn vị sự nghiệp công lập, có thể thấy thực hiện pháp luật về tuyển dụng viên chức có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội Cụ thể:
1.3.1 Thực hiện pháp luật về tuyển dụng viên chức là phương thức để đường lối, chính sách, pháp luật tuyển dụng viên chức đi vào thực tiễn đời sống xã hội
Thực hiện pháp luật tuyển dụng viên chức là cách thức, biện pháp cơ bản, có hiệu lực, hiệu quả nhất để đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, cụ thể là chế độ tuyển dụng viên chức được thể hiện trong các quy phạm pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành hiện thực trong thực tiễn
Ở nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Sự lãnh đạo đó được thực hiện bằng việc đề ra đường lối, chủ trương, chính sách Nhà nước thể chế hóa chủ trương, đường lối lãnh đạo của Đảng đối với việc thực hiện tuyển dụng viên chức thành pháp luật Nội dung pháp luật tuyển dụng viên chức là chủ trương, quan điểm, chính sách của Đảng đối tuyển dụng viên chức [16] Do vậy, thực hiện pháp luật về tuyển dụng viên chức là cách thức
cơ bản, có hiệu lực, hiệu quả nhất để chủ trương, chính sách đi vào cuộc sống
và phát huy hiệu quả trong điều chỉnh các quan hệ xã hội và đến với các chủ thể; giúp họ nắm bắt đầy đủ và thực hiện tốt hơn chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước
Trang 391.3.2 Thực hiện pháp luật về tuyển dụng viên chức đảm bảo mục tiêu xây dựng đội ngũ viên chức phục vụ cho hoạt động các đơn vị sự nghiệp công lập
Thực hiện pháp luật về tuyển dụng viên chức là một trong những phương tiện thực hiện mục tiêu của Nhà nước ta là xây dựng đội ngũ viên chức có phẩm chất, tiến tới nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ, đổi mới hoạt động các ĐVSNCL; là phương thức đề cao trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền trong bảo đảm tuyển dụng viên chức được thực hiện minh bạch, khách quan, công bằng, đúng pháp luật Vì vậy, các cơ quan, cán
bộ, công chức, công dân phải nghiêm chỉnh tuân thủ, chấp hành và thực hiện đúng pháp luật; tích cực phòng ngừa, đấu tranh và chống các hành vi vi phạm pháp luật, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể, đặc biệt là của các ĐVSNCL, công dân tham gia dự tuyển viên chức Thực hiện pháp luật tuyển dụng viên chức là phương thức đề cao hơn nữa trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền trong bảo đảm cho pháp luật được thực thi nghiêm chỉnh, thống nhất; giúp công tác tuyển dụng viên chức được tiến hành đảm bảo đúng các nguyên tắc, nội dung, quy trình đã được quy định
1.3.3 Thực hiện pháp luật về tuyển dụng viên chức là cơ sở hoàn thiện pháp luật về tuyển dụng viên chức
Một trong những hoạt động quản lý của nhà nước là tham gia vào quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở thực tiễn quản lý và đạo luật gốc, đó là Hiến pháp Vì vậy, cần triển khai thực hiện có hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, làm cho các chủ thể pháp luật tham gia vào quan hệ pháp luật về tuyển dụng viên chức tự giác thực hiện các quy định của pháp luật trong hoạt động thực tế, biến những quy định của pháp luật trở thành hành vi thực tế của các chủ thể pháp luật [19, tr.25-27] Thực hiện pháp luật về tuyển dụng viên chức trở thành thực tiễn kiểm nghiệm sự hoàn thiện của pháp luật tuyển dụng viên chức Bởi thông qua các hình thức
Trang 40thực hiện pháp luật, hệ thống pháp luật về tuyển dụng viên chức còn đồng thời bộc lộ những mâu thuẫn, chồng chéo, chưa phù hợp Trên cơ sở đó, ta mới đặt ra được những vấn đề, những yêu cầu về sự sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện pháp luật, qua đó có thể đảm bảo được chất lượng và hiệu quả công tác xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung, pháp luật về tuyển dụng viên chức nói riêng
Thực hiện pháp luật về tuyển dụng viên chức là biện pháp phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật về tuyển dụng viên chức và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa
Thực hiện pháp luật về tuyển dụng viên chức giúp các chủ thể nhận thức được giới hạn hành vi bị nghiêm cấm, nhờ đó, mỗi chủ thể sẽ tự giác và chủ động thực thi quyền, nghĩa vụ; không vi phạm quyền lợi hợp pháp của Nhà nước và chủ thể khác Khi phát hiện chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật tuyển dụng viên chức thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị
xử lý kỷ luật, xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự
Việc xác định vai trò, tầm quan trọng của công tác thực hiện pháp luật
về tuyển dụng viên chức nhằm giúp các nhà quản lý nhận thức rõ sự cần thiết,
ý nghĩa của công tác thực hiện pháp luật về tuyển dụng viên chức, từ đó chủ động có các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thực hiện pháp luật về tuyển dụng viên chức, đưa pháp luật về tuyển dụng viên chức vào thực tiễn cuộc sống, nâng cao chất lượng hoạt động cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe, văn hóa, giáo dục, công nghệ… cho nhân dân, đáp ứng yêu cầu của nhà nước và địa phương trong thời kỳ hội nhập
Phần lớn công chức, viên chức đã nhận thức rõ hơn về trách nhiệm của mình, không ngừng phấn đấu học tập, lao động, sáng tạo, phát huy khả năng, trí tuệ để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; đồng thời có ý thức, trách nhiệm cao trong việc phục vụ nhân dân, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo chủ chốt, người