Nội dung nghiên cứu Nội dung nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận cũng như hệ thống các quy định pháp luật, đặc biệt là quy định pháp luật hiện hành và t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ TUẤN ANH
CƢỠNG CHẾ TÀI SẢN LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở TRONG THI
HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ TUẤN ANH
CƯỠNG CHẾ TÀI SẢN LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở TRONG THI
HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự
Mã số: 8380101.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS HOÀNG THẾ ANH
HÀ NỘI - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả công bố nêu trong Luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành các môn học và thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết lời cam đoan này để đề nghị Khoa Luật xem xét
để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Lê Tuấn Anh
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CƯỠNG CHẾ TÀI SẢN LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 11
1.1 Khái niệm cưỡng chế 11
1.2 Khái niệm, đặc điểm cưỡng chế thi hành án dân sự 12
1.2.1 Khái niệm về cưỡng chế thi hành án dân sự 12
1.2.2 Đặc điểm của cưỡng chế thi hành án dân sự 14
1.3 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở trong thi hành án dân sự 19
1.3.1 Khái niệm 19
1.3.2 Đặc điểm của cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở 21
1.3.3 Phân biệt cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở trong thi hành án dân sự với cưỡng chế quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở trong cưỡng chế hành chính 24
1.3.4 Vai trò của cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở trong thi hành án dân sự 26
1.4 Nội dung pháp luật về cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở 28
1.4.1 Đối tượng áp dụng biện pháp cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở 28 1.4.2 Điều kiện áp dụng biện pháp cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất
Trang 5và quyền sở hữu nhà ở trong thi hành án dân sự ở Việt Nam 29 1.4.3 Thẩm quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế tài sản là quyền sử
dụng đất và quyền sở hữu nhà ở 33 1.4.4 Nguyên tắc áp dụng biện pháp cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng
đất và quyền sở hữu nhà ở trong thi hành án dân sự ở Việt Nam 34 1.4.5 Trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp cưỡng chế tài sản là quyền sử
dụng đất và quyền sở hữu nhà ở 36
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động cưỡng chế tài sản là
quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở 40
1.5.1 Chủ trương chính sách của Nhà nước về thi hành án dân sự và
cưỡng chế thi hành án dân sự 40 1.5.2 Điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội 42 1.5.3 Yếu tố phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa và ý thức chấp
hành pháp luật 43
Kết luận chương 1 47 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC
HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CƯỠNG CHẾ TÀI SẢN LÀ QUYỀN
SỬ DỤNG ĐẤT VÀ QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 48 2.1 Một số kết quả chủ yếu trong áp dụng biện pháp cưỡng chế
đối với tài sản là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam thời gian qua 48 2.2 Thực trạng pháp luật về cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng
đất và quyền sở hữu nhà ở trong thi hành án dân sự ở Việt Nam 51
2.2.1 Thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế tài sản
là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở 51 2.2.2 Điều kiện áp dụng biện pháp cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng
đất và quyền sở hữu nhà ở 53 2.2.3 Nguyên tắc áp dụng biện pháp cưỡng chế quyền sử dụng đất và
Trang 6quyền sở hữu nhà ở 54
2.2.4 Trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở 58
2.3 Ưu điểm và hạn chế 69
2.3.1 Ưu điểm 69
2.3.2 Những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong việc áp dụng biện pháp cưỡng chế quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở 70
2.3.3 Nguyên nhân 75
Kết luận chương 2 81
CHƯƠNG 3: NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CƯỠNG CHẾ TÀI SẢN LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở 82
3.1 Quan điểm về cưỡng chế thi hành án dân sự trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa 82
3.1.1 Áp dụng biện pháp cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở là biện pháp cuối cùng nghiêm khắc, cần thiết nhằm thi hành dứt điểm bản án, quyết định của Tòa án 82
3.1.2 Áp dụng biện pháp cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở phải gắn với xu thế dân chủ hóa và đảm bảo quyền con người 83
3.1.3 Áp dụng biện pháp cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở phải được tiến hành phù hợp, đồng bộ với yêu cầu về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa 84
3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà trong thi hành án dân sự ở Việt Nam 84
3.2.1 Về thể chế 85
3.2.2 Nâng cao chất lượng đội ngũ chấp hành viên 93
3.2.3 Tăng cường phối hợp giữa các cơ quan hữu quan 98
Trang 73.2.4 Tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật 103
Kết luận chương 3 107
KẾT LUẬN CHUNG 108
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 110
PHỤ LỤC 115
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Ở Việt Nam hiện nay, bên cạnh những tác động tích cực của sự phát triển nền kinh tế và xu hướng hội nhập quốc tế thì các quan hệ xã hội cũng có những diễn biến phức tạp Các tranh chấp, mâu thuẫn trong quan hệ dân sự, kinh tế phát sinh ngày càng nhiều đòi hỏi cần phải được giải quyết, nhằm bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan và tránh phát sinh thiệt hại Bên cạnh việc thỏa thuận, hòa giải thì trong nhiều trường hợp, cần có sự tham gia của Tòa án nhằm điều chỉnh hành vi và bảo vệ quyền lợi các chủ thể thông qua quyết định, bản án Tuy nhiên, không phải lúc nào các chủ thể trong quan hệ dân sự cũng tự nguyện thực hiện các nghĩa vụ của mình, khiến cho nhiều trường hợp các cơ quan hữu quan trong đó có cơ quan Thi hành án dân sự buộc phải sử dụng biện pháp cưỡng chế như một phương tiện để đảm bảo hiệu lực của các bản án, quyết định của Tòa án
Trong bối cảnh hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đang không ngừng đẩy mạnh việc thực hiện cải cách tư pháp, mục tiêu đến năm 2020 Một trong các vấn đề lớn trong cải cách hoạt động tư pháp là phải đảm bảo được công tác xét xử cũng như thực hiện triệt để bản án, quyết định của Tòa án Do đó, việc
bổ sung và hoàn thiện hệ thống các quy định pháp luật về thi hành án dân sự, trong đó có hoạt động cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở được đặt ra cấp thiết
Cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, các tranh chấp trong quan
hệ dân sự cũng ngày càng nhiều và phức tạp hơn, do đó yêu cầu thi hành án ngày càng tăng cao Mặc dù thi hành án dân sự chủ yếu dựa trên tinh thần tự nguyện, tự thỏa thuận hòa giải giữa các chủ thể có liên quan, nhưng trong nhiều trường hợp có chủ thể không tự nguyện thi hành án buộc cơ quan có thẩm quyền phải tiến hành cưỡng chế Hiện nay biện pháp cưỡng chế kê biên
Trang 9tài sản là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất, đặc biệt là cưỡng chế quyền
sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở vì đây là một trong những tài sản có giá trị nhất của con người, chỉ được áp dụng khi không còn cách nào khác để buộc đối tượng phải thi hành nghĩa vụ của mình theo bản án, quyết định của Tòa
án
Từ khi Luật thi hành án dân sự 2008 có hiệu lực và được sửa đổi bổ sung năm 2014, Nhà nước đã ban hành nhiều Nghị định, Thông tư hướng dẫn sửa đổi bổ sung theo hướng hoàn thiện hơn nhằm góp phần hỗ trợ cho việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn Hiện nay, hệ thống các quy định của pháp luật về cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở đã tương đối hoàn thiện, đáp ứng cơ bản yêu cầu của hoạt động thi hành án Tuy nhiên, bên cạnh đó các quy định pháp luật này còn nhiều điểm chưa phù hợp, còn nhiều bất cập, vướng mắc Nhiều quy định về thi hành án dân sự nói chung và cưỡng chế quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở còn chung chung, chưa thực sự hợp lý Mặt khác, sự thiếu thống nhất, thiếu đồng
bộ giữa Luật thi hành án dân sự và các văn bản có liên quan cũng làm ảnh hưởng đến quá trình thi hành án và hoạt động của cơ quan thi hành án và của chấp hành viên Các quy định về trình tự thủ tục cưỡng chế kê biên tài sản
về cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu của thi hành án, tuy nhiên vẫn còn một
số bất cập khi áp dụng trong thực tế Điều này khiến cho việc cưỡng chế thi hành án dân sự nói chung, cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất và quyền
sở hữu nhà ở nói riêng là một trong những hoạt động phức tạp và gặp nhiều khó khăn nhất trong công tác thi hành án dân sự Hệ quả là, trong nhiều năm trở lại đây vẫn tồn tại một số vụ việc chưa được thi hành, hoặc thi hành chưa hiệu quả gây tranh cãi trong dư luận, ảnh hưởng đến sự công bằng và nghiêm minh của pháp luật
Trong những năm qua, đã có nhiều nghiên cứu, bài viết khoa học về thi
Trang 10hành án dân sự ở Việt Nam, góp phần bổ sung cơ sở lý luận cũng như hoàn thiện áp dụng pháp luật về thi hành án trong thực tiễn Tuy nhiên, chỉ mới có
một số nghiên cứu như đề tài thạc sĩ Luật học “Kê biên quyền sử dụng đất, theo pháp luật thi hành án dân sự từ thực tiễn huyện Đan Phượng, thành phố
Hà Nội” của tác giả Lê Quang Tuấn (2016) là đề cập đến khía cạnh cưỡng
chế kê biên tài sản là quyền sử dụng đất Trong khi đó, cùng với quan hệ dân
sự đang ngày càng phát triển, các tranh chấp mâu thuẫn sẽ tiếp tục có chiều hướng tăng trong khi các quy định pháp luật còn nhiều bất cập, hạn chế Từ
đó đặt ra yêu cầu hoàn thiện đối với pháp luật thi hành án dân sự, nhằm giải quyết những khó khăn, bất cập đó
Từ những vấn đề trên, tác giả đã chọn đề tài thạc sĩ “Cưỡng chế tài sản
là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở trong thi hành án dân sự ở Việt Nam” là đề tài nghiên cứu của mình, nhằm mục đích tìm hiểu và đánh giá
một cách thấu đáo các khía cạnh của vấn đề này Thông qua việc khái quát đặc điểm, tính chất, vai trò và các nhân tố ảnh hưởng, đồng thời xem xét và đánh giá thực trạng của hoạt động này trong thi hành án dân sự ở Việt Nam,
từ đó đưa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm góp phần nhỏ vào việc giảm bớt số
vụ tranh chấp tồn đọng, cũng như tăng tính hiệu quả của hoạt động thi hành
án ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và trong tương lai
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Như đã đề cập trong phần trước, nghiên cứu về thi hành án dân sự nói chung và cưỡng chế kê biên tài sản trong thi hành án dân sự nói riêng có vai trò quan trọng không chỉ trong việc giải quyết các tranh chấp dân sự, kinh tế, giảm số vụ thi hành án tồn đọng, mà còn góp phần không nhỏ trong việc đẩy mạnh hiệu quả của hoạt động thi hành án dân sự, từ đó đảm bảo tính công bằng và nghiêm minh của pháp luật, đảm bảo quyền lợi và niềm tin của các tổ chức, cá nhân trong xã hội Trong những năm qua, đã có nhiều nghiên cứu
Trang 11khoa học có liên quan đến thi hành án dân sự nói chung và hoạt động cưỡng chế kê biên tài sản nói riêng
2.1 Nhóm các nghiên cứu chung về thi hành án dân sự
Mặc dù chỉ mới được quan tâm từ sau năm 1993 đến nay, nhưng việc nghiên cứu về thi hành án dân sự đã cho thấy ý nghĩa hết sức quan trọng Bởi hoạt động thi hành án dân sự trực tiếp nhằm vào việc thực thi pháp luật, đảm bảo cho quyết định của Tòa án và các cơ quan có liên quan được thực hiện, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan cũng như tính công bằng của pháp luật Trong những năm qua, đã có nhiều đề tài nghiên cứu khoa học về thi hành án điển hình như:
- Đề tài: "Giám sát thi hành án dân sự", Luận án Tiến sĩ Luật học tại
Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội của tác giả Hoàng Thế Anh, năm 2015;
- Luận án tiến sĩ Luật học “Pháp luật thi hành án dân sự trong cải cách tư pháp ở Việt Nam” của tác giả Chu Thị Hoa (2016)
- Luận án tiến sĩ Luật học “Quản lý Nhà nước đối với hoạt động thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Trương Công Lý (2017)
- Đề tài “Đề án kiện toàn mô hình tổ chức và đội ngũ cán bộ thi hành
án để thực hiện hiệu quả Luật thi hành án 2008” của tác giả Nguyễn Văn
của tác giả Nguyễn Văn Công (2012)
- Luận văn Thạc sĩ“Hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay” tại Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội của tác giả Trần
Mạnh Quân (2013)
- Luận văn Thạc sĩ “Pháp luật thi hành án dân sự, thực trạng và giải
Trang 12pháp, liên hệ thực tiễn ở tỉnh Hải Dương” tại Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà
Nội của tác giả Phạm Văn Hùng (2014)
- Luận văn Thạc sĩ “Thi hành án dân sự - qua thực tiễn tỉnh Bắc Ninh” tại
Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội của tác giả Lê Quỳnh Nga (2014)
- Luận văn Thạc sĩ “Thủ tục thi hành án dân sự trong pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam hiện nay” tại Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
của tác giả Bùi Thị Vân Anh (2016)
- Luận văn Thạc sĩ “Thi hành án dân sự từ thực tiễn thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên” của tác giả Đỗ Thị Vân Ngọc (2016)
- Luận văn Thạc sĩ “Thực tiễn thi hành án dân sự ở tỉnh Ninh Bình” tại
Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội của tác giả Nguyễn Thị Mai (2016)
Các nghiên cứu này đã góp phần xây dựng hệ thống lý luận về thi hành
án dân sự ở Việt Nam, là căn cứ để hoàn thiện pháp luật, cũng như bổ sung và
hỗ trợ cho các nghiên cứu trong tương lai
2.2 Nhóm các nghiên cứu có liên quan trực tiếp đến nội dung của
đề tài
Các vấn đề liên quan đến kê biên tài sản luôn là những vấn đề có tính nhạy cảm và phức tạp trong hoạt động thi hành án, cũng khiến cho cơ quan và các cán bộ thi hành án gặp nhiều khó khăn Do đó, nghiên cứu về vấn đề kê biên tài sản trong thi hành án có ý nghĩa thực tiễn và áp dụng rộng khắp trong thi hành án cả nước Là cơ sở để giải quyết các tranh chấp và vụ việc còn tồn đọng, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên Trong những năm qua,
đã có một số nghiên cứu hướng đến lĩnh vực này bao gồm:
- Luận văn Thạc sĩ Luật học“Biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản để thi hành án dân sự” tại Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội của tác giả Trần
Công Thịnh (2007)
- Đề tài nghiên cứu khoa học “Khảo sát khoa học về quy trình, thủ tục thi hành án các bản án có tài sản thi hành là bất động sản và các giải pháp
Trang 13nhằm đảm bảo tính thống nhất cho các quy trình này” của tác giả Đinh Thị
Mai Phương (2010)
- Luận văn Thạc sĩ Luật học “Bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự theo pháp luật Việt Nam” tại Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội của
tác giả Bùi Thị Thu Hiền (2014)
- Luận văn Thạc sĩ Luật học “Biện pháp cưỡng chế kê biên và xử lý tài sản của người phải thi hành án dân sự” tại Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà
Nội của tác giả Nguyễn Anh Tuấn (2015)
- Luận văn Thạc sĩ Luật học “Kê biên quyền sử dụng đất, theo pháp luật thi hành án dân sự từ thực tiễn huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội”
tại Viện Hàn Lâm Khoa học Xã hội - Viện Khoa học Xã hội của tác giả Lê Quang Tuấn (2016)
- Luận văn Thạc sĩ Luật học “Các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn thành phố Hà Nội” tại
Viện Hàn Lâm Khoa học Xã hội - Viện Khoa học Xã hội của tác giả Lê Xuân Tùng (2016)
- Luận văn Thạc sĩ Luật học “Cưỡng chế thi hành án dân sự thực tiễn ở tỉnh Nam Định” tại Viện Hàn Lâm Khoa học Xã hội - Viện Khoa học Xã hội
của tác giả Lương Ngọc Hưng (2018)
Trong bối cảnh cùng với sự phát triển của xã hội, vấn đề thi hành án ngày càng đa dạng, có tính chất khó khăn phức tạp cần phải giải quyết, thì các công trình nêu trên đều đã có nhiều đóng góp trong việc nghiên cứu các khía cạnh trong thi hành án dân sự của Việt Nam hiện nay Đây là căn cứ để tháo
gỡ những khó khăn tồn tại trong lĩnh vực thi hành án, có tác dụng hỗ trợ cơ quan thi hành án và cán bộ thi hành án trong việc giải quyết nhiều vấn đề còn tồn đọng Đồng thời, là cơ sở để các nghiên cứu khác trong lĩnh vực thi hành
án, trong đó có nghiên cứu về hoạt động cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng
Trang 14đất và quyền sở hữu nhà ở trong nội dung đề tài này, tiếp tục được triển khai
và đi vào chiều sâu
2.3 Đánh giá chung
Các đề tài khoa học, nghiên cứu khoa học kể trên đã góp phần hoàn thiện lý luận về thi hành án dân sự nói chung và thi hành án bằng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản nói riêng ở Việt Nam Đồng thời đưa ra nhiều giải pháp, kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả trong việc hoàn thiện các quy định của pháp luật, hoàn thiện việc áp dụng pháp luật về thi hành án dân sự và cưỡng chế kê biên tài sản trong thực tiễn Tuy nhiên, bên cạnh đó, các nghiên cứu này chủ yếu nghiên cứu vấn đề thi hành án dân sự nói chung, chứ chưa có nhiều đề tài đề cập đến các biện pháp cưỡng chế trong thi hành án dân sự Cưỡng chế kê biên tài sản là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở trong thi hành án dân sự là một biện pháp cưỡng chế quan trọng, được áp dụng nhiều trong thi hành án dân sự và do đó cần được quan tâm và cần phải tiếp tục được triển khai nghiên cứu sâu hơn
3 Mục đích nghiên cứu
3.1 Mục đích tổng quát
Thông qua việc nghiên cứu cơ sở lý luận của cưỡng chế thi hành án dân
sự nói chung và cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà nói riêng, từ đó chỉ ra được các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động này Đây là căn cứ để đi vào phân tích và đánh giá một cách toàn diện thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật trong hoạt động cưỡng chế kê biên tài sản
là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở Việt Nam hiện nay Từ đó rút ra kết luận về ưu, nhược điểm của hoạt động này và các nguyên nhân
3.2 Mục đích cụ thể
Nghiên cứu một cách toàn diện các vấn đề lý luận về cưỡng chế tài sản
là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở trong pháp luật Việt Nam
Từ những nội dung nghiên cứu ở Chương 1 và Chương 2, cùng với việc
Trang 15nhìn nhận một cách thấu đáo công tác thi hành án dân sự nói chung, và cưỡng chế thi hành án dân sự trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền hiện nay Từ đó đề ra các giải pháp áp dụng trong thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo
4 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những quy định của pháp luật dân
sự về cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở trong thi hành án dân sự ở Việt Nam
5 Nội dung, phạm vi, cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Nội dung nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề
lý luận cũng như hệ thống các quy định pháp luật, đặc biệt là quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn thực hiện pháp luật về thi hành án dân sự bằng biện pháp cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, từ đó đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật cũng như bảo vệ tốt hơn quyền lợi của các bên liên quan trong hoạt động thi hành án
5.2 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu đề tài luận văn là các quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về pháp luật, về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tiến hành cải cách bộ máy Nhà nước, hoàn thiện hệ thống pháp luật và nền tư pháp Đây là kim chỉ nam cho việc định hướng các phương pháp nghiên cứu của tác giả trong quá trình thực hiện luận văn
Để thực hiện việc nghiên cứu đề tài, luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phương pháp thống kê được sử dụng
Trang 16trong việc thống kê số liệu kết quả công tác thi hành án; phương pháp so sánh, phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp suy luận,… Trong quá trình nghiên cứu, các phương pháp này được vận dụng một cách linh hoạt và đan xen lẫn nhau để tạo ra kết quả nghiên cứu
5.3 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi thời gian của đề tài là pháp luật về thi hành án dân sự nói chung và cưỡng chế kê biên tài sản là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở nói riêng trong thi hành án dân sự từ năm 2015 đến năm 2017
Phạm vi không gian của đề tài là thi hành án dân sự bằng biện pháp cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà trên phạm vi toàn quốc từ năm 2015 đến năm 2017
6 Những đóng góp khoa học của luận văn
Luận văn hệ thống hóa, làm sáng tỏ lý luận và thực tiễn hoạt động cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở trong thi hành
án dân sự, phân tích các nhân tố ảnh hưởng cũng như đánh giá một cách toàn diện việc áp dụng trong thực tiễn
Luận văn nêu bật khái niệm, đặc điểm, vai trò, điều kiện áp dụng cũng như quá trình hình thành và phát triển của hoạt động cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở trong thi hành án dân sự ở Việt Nam
Luận văn đi sâu vào phân tích cụ thể từng khía cạnh của cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở bao gồm trường hợp áp dụng, thẩm quyền, điều kiện áp dụng, trình tự thủ tục, giải quyết khiếu nại tố cáo cũng như đánh giá về thực tiễn của hoạt động Đồng thời đánh giá một số kết quả chủ yếu của hoạt động này trong những năm qua
Luận văn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở trong giai đoạn
Trang 17tiếp theo
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về lý luận, luận văn góp phần làm rõ thêm khái niệm, đặc điểm, nội dung, ý nghĩa của hoạt động cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất và quyền
sở hữu nhà ở và cơ sở của hoạt động này Phân tích, đánh giá đúng thực trạng các quy định và thực tế áp dụng của hoạt động cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở trong những năm qua
Về thực tiễn, luận văn đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và những kinh nghiệm vận dụng những giải pháp đó trên thực tiễn ở Việt Nam trong thời gian tới
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm 3 chương:
- Chương 1: Một số vấn đề chung về cưỡng chế tài sản là quyền sử
dụng đất và quyền sở hữu nhà ở trong thi hành án dân sự
- Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về
cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở trong thi hành
án dân sự ở Việt Nam
- Chương 3: Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cưỡng chế tài sản
là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở trong thi hành án dân sự
Trang 18CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CƯỠNG CHẾ TÀI SẢN
LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở
TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
1.1 Khái niệm cưỡng chế
Trong từ điển chữ Nôm có giải nghĩa, cưỡng là thúc ép, buộc tuân theo
ý chí của mình [38, tr.381], chế là kìm giữ [38, tr.256] Như vậy cưỡng chế là
một từ ghép được tạo bởi hai từ có nghĩa nêu trên Cưỡng chế có thể được hiểu là thúc ép, buộc ai đó phải thực hiện theo Theo Cuốn từ điển tiếng Việt của
Viện Ngôn ngữ học, Nhà xuất bản Từ điển bách khoa năm 2012 thì: Cưỡng chế
là dùng quyền lực Nhà nước bắt phải tuân theo pháp luật” [40, tr.309] Trong tiếng Anh cưỡng chế là Coerce nghĩa là buộc ai phải làm cái gì [35, tr.284]
Về mặt thuật ngữ pháp lý, cưỡng chế là buộc cá nhân hoặc tổ chức phải phục tùng một mệnh lệnh, thực hiện một nghĩa vụ, trách nhiệm theo quyết định đã
có hiệu lực của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Cưỡng chế phải được tiến hành theo thủ tục, trình tự chặt chẽ, biện pháp sử dụng trong cưỡng chế là bạo lực về mặt vật chất và tinh thần, thường được áp dụng khi quyết định đã có hiệu lực không được thực hiện một cách tự nguyện [46] Theo cuốn Từ điển Luật học do Nhà xuất bản Từ điển bách khoa ấn hành năm 1999 thì cưỡng chế
là “những biện pháp bắt buộc cá nhân hay tổ chức phải thực hiện và phục tùng mệnh lệnh nhất định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền” Từ điển
Luật học do Nhà xuất bản Từ điển bách khoa và Nhà xuất bản Tư pháp ấn hành năm 2006 thì cưỡng chế là:
Buộc cá nhân hay tổ chức phải phục tùng một mệnh lệnh, thực hiện một nghĩa vụ, trách nhiệm theo quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Chỉ tổ chức hay cá nhân được pháp luật quy định mới
Trang 19được ra quyết định cưỡng chế, quyết định lực lượng cưỡng chế Cưỡng chế phải được tiến hành theo thủ tục, trình tự chặt chẽ Cá nhân hay tổ chức là đối tượng cưỡng chế có thể bị buộc phải làm hay không được làm một việc nhất định về quyền tài sản hay quyền nhân thân Biện pháp sử dụng trong cưỡng chế là bạo lực về mặt vật chất hoặc tinh thần, thường được áp dụng
khi quyết định đã có hiệu lực không được thực hiện một cách tự nguyện
Như vậy, mỗi quan niệm cưỡng chế đều có những nội dung khác nhau nhưng có thể thấy rằng các quan niệm đều có điểm chung là dùng quyền lực nhà nước, áp đặt ý chí của Nhà nước đối với tổ chức, cá nhân nhất định để buộc tổ chức, cá nhân đó phải thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định theo ý chí của Nhà nước Để bảo đảm thực thi pháp luật, ngoài phương thức giáo dục, thuyết phục mọi chủ thể tự giác tuân thủ, bất
kỳ Nhà nước nào cũng sử dụng sức mạnh cưỡng chế bằng pháp luật Cưỡng chế là khái niệm thuộc phạm trù Nhà nước và pháp luật, là hiện tượng gắn liền với Nhà nước Cưỡng chế khác với các biện pháp ngăn chặn hay đảm bảo ở chỗ toàn bộ quá trình áp dụng biện pháp cưỡng chế là việc buộc chủ thể không tự nguyện phải thực hiện nghĩa vụ của mình Biện pháp cưỡng chế
là biện pháp giải quyết mang tính bạo lực của Nhà nước, nhằm đảm bảo hiệu lực của bản án, quyết định được thi hành, đảm bảo tính công bằng, nghiêm minh của pháp luật
Như vậy, có thể hiểu khái niệm của cưỡng chế như sau: “Cưỡng chế là dùng quyền lực nhà nước buộc tổ chức, cá nhân nhất định phải tuân theo, bảo đảm cho quyền lực Nhà nước được thực hiện bởi biện pháp nhất định và do chủ thể có thẩm quyền tiến hành”
1.2 Khái niệm, đặc điểm cƣỡng chế thi hành án dân sự
1.2.1 Khái niệm về cưỡng chế thi hành án dân sự
Cưỡng chế gắn liền với hoạt động quản lý nhà nước và là một trong
Trang 20những phương pháp nghiêm khắc được sử dụng trong hoạt động quản lý nhà nước Trong nhà nước Pháp quyền, việc cưỡng chế nhằm mục đích thi hành pháp luật của Nhà nước, duy trì trật tự xã hội Nhà nước thực hiện cưỡng chế thông qua nhiều biện pháp cưỡng chế, những biện pháp cưỡng chế này được Nhà nước trao quyền cho các cơ quan Nhà nước khác nhau thực hiện như cưỡng chế hành chính, cưỡng chế trong hoạt động tố tụng của cơ quan điều tra và Tòa án và cưỡng chế thi hành án dân sự
Trong hoạt động thi hành án dân sự, cơ quan Thi hành án dân sự cũng được Nhà nước trao quyền cho sử dụng một số biện pháp cưỡng chế, quy định tại điều 71 Luật thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014 [25]
Giáo trình kỹ năng về thi hành án dân sự (phần chung) của Học viện Tư pháp, xuất bản năm 2012, đã nêu rõ cưỡng chế thi hành án dân sự là biện pháp cưỡng bức bắt buộc của cơ quan Thi hành án dân sự, do chấp hành viên quyết định theo thẩm quyền nhằm buộc người phải thi hành án phải thực hiện những hành vi hoặc nghĩa vụ về tài sản theo bản án, quyết định Cưỡng chế thi hành án dân sự được áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành và hết thời gian tự nguyện mà không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ theo nội dụng của bản án, quyết định của Tòa án hoặc trong trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc trốn tránh việc thi hành án [17, tr.216]
Theo tài liệu bồi dưỡng Chấp hành viên Trung cấp cũng định nghĩa cưỡng chế thi hành án dân sự là biện pháp sử dụng quyền lực Nhà nước để buộc người phải thi hành án phải thực hiện những hành vi hoặc nghĩa vụ về tài sản theo bản án, quyết định của Tòa án Biện pháp cưỡng chế do chấp hành viên quyết định trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành án [19, tr.420]
Cưỡng chế thi hành án dân sự có đặc trưng chung của cưỡng chế thi
Trang 21hành án nhưng cũng có đặc thù Cưỡng chế thi hành án dân sự bao giờ cũng
sử dụng quyền lực nhà nước để buộc cá nhân, tổ chức liên quan trực tiếp đến việc thực hiện bản án, quyết định, cho dù đó có thể là người được thi hành án, người phải thi hành án hay cá nhân, tổ chức khác có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án dân sự Nói đến cưỡng chế thi hành án dân sự là nói đến việc dùng quyền lực nhà nước để thi hành án dân sự Việc dùng quyền lực nhà nước trong cưỡng chế thi hành án dân sự phải thông qua chủ thể nhất định tiến hành bằng những biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự cụ thể Chủ thể tiến hành cưỡng chế thi hành án dân sự là chức danh cụ thể bởi vì tính chất đặc thù của thi hành án dân sự là do chức danh cụ thể tiến hành việc thi hành án dân sự, ở Việt Nam hiện nay đó là chấp hành viên và thừa phát lại Cưỡng chế thi hành án dân sự được đặt ra và tiến hành với mục đích cụ thể là
tổ chức thi hành việc thi hành án dân sự nhưng mục đích chung là thi hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định được thi hành theo thủ tục thi hành án dân
sự, bảo đảm hiệu lực thi hành của bản án, quyết định đó
Như vậy, từ những nhận định trên có thể định nghĩa: “Cưỡng chế thi hành án dân sự là việc chủ thể có thẩm quyền sử dụng quyền lực nhà nước thực hiện biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự đối với tổ chức, cá nhân nhằm bảo đảm thi hành trên thực tế quyền, nghĩa vụ đã được xác định trong bản án, quyết định được thi hành theo thủ tục thi hành án dân sự”
1.2.2 Đặc điểm của cưỡng chế thi hành án dân sự
Cưỡng chế thi hành án dân sự mang những đặc điểm sau:
Thứ nhất, cưỡng chế thi hành án dân sự mang tính quyền lực Cũng
như nhiều loại cưỡng chế khác (cưỡng chế hành chính, cưỡng chế thi hành án hình sự và cưỡng chế thi hành án hành chính), cưỡng chế thi hành án dân sự thể hiện quyền lực nhà nước, chỉ có cá nhân thuộc cơ quan chức năng của
Trang 22Nhà nước hoặc người thuộc tổ chức được Nhà nước trao quyền mới có thẩm
quyền tiến hành cưỡng chế Quyền lực nhà nước được thể hiện thông qua
cưỡng chế thi hành án dân sự bằng việc chủ thể có thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế buộc cá nhân, tổ chức nhất định phải chấp hành để thi hành bản án, quyết định được thi hành theo thủ tục thi hành án dân sự, nếu không chấp hành thì sẽ bị xử lý nghiêm bằng các phương thức như xử phạt hành chính, truy cứu trách nhiệm hình sự và bồi thường thiệt hại nếu có, hoặc các biện pháp buộc khắc phục hậu quả Cưỡng chế thi hành án dân sự bắt buộc các tổ chức, cá nhân tôn trọng và phối hợp thực hiện bản án, quyết định,
kể cả sử dụng lực lượng chuyên chính là cảnh sát để bảo vệ cưỡng chế thi hành án dân sự, trấn áp những cá nhân có hành vi chống đối cưỡng chế thi hành án dân sự Theo Luật thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014 và Nghị quyết số 107 2015 QH13 ngày 26 11 2015 của Quốc hội về thực hiện chế định Thừa phát lại thì điểm khác biệt quan trọng của cưỡng chế thi hành
án dân sự so với các loại hình cưỡng chế khác là chủ thể có thẩm quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế hay còn gọi là tiến hành cưỡng chế thi hành án dân
sự là chấp hành viên và thừa phát lại để thi hành bản án, quyết định Mặt khác, xuất phát từ bản chất của thi hành án dân sự là thi hành các bản án,
quyết định về “dân sự” chủ yếu của Tòa án - cơ quan tài phán nên đặc điểm
của cưỡng chế thi hành án dân sự là dùng quyền lực Nhà nước để bảo vệ và khôi phục các quyền về tài sản, các quyền về dân sự khác cho đương sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo bản án, quyết định có hiệu lực thi hành chủ yếu của Tòa án
Thứ hai, cưỡng chế thi hành án dân sự là biện pháp thi hành án dân sự
Biện pháp là cách làm, cách thức tiến hành, giải quyết một vấn đề cụ thể Bản
án, quyết định được thi hành có nhiều khoản, tùy từng trường hợp cụ thể có thể tổ chức thi hành một hoặc một số khoản trong bản án, quyết định theo yêu
Trang 23cầu của đương sự hoặc quy định của pháp luật Việc thi hành án dân sự được khởi động bằng quyết định thi hành án Mỗi quyết định thi hành án là một việc thi hành án dân sự Việc thi hành án dân sự được thực hiện trước hết bằng biện pháp tự nguyện thi hành án Biện pháp tự nguyện thi hành án luôn được khuyến khích, theo đó người phải thi hành án tự nguyện thực hiện nghĩa
vụ thi hành án trong thời hạn pháp luật quy định hoặc người phải thi hành án thỏa thuận được với người được thi hành án phương thức thực hiện việc thi hành án dân sự Tuy nhiên, trong trường hợp biện pháp tự nguyện không có kết quả thì phải có sự can thiệp của Nhà nước để buộc người phải thi hành án thực hiện nghĩa vụ thi hành án bằng việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự phù hợp Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân
sự trong trường hợp nhất định, kể cả áp dụng đối với người thứ ba để thi hành
án chính là một biện pháp thi hành án dân sự Có thể nói, ngoại trừ trường hợp đặc biệt, cưỡng chế thi hành án dân sự là biện pháp thi hành án dân sự chỉ được thực hiện sau khi đã động viên, thuyết phục người phải thi hành án tự nguyện thi hành án nhưng họ vẫn không tự nguyện thi hành án Trường hợp phải cưỡng chế thì phải thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật Vì vậy, tự nguyện thi hành án dân sự và cưỡng chế thi hành án dân sự là hai biện pháp thi hành án dân sự được pháp luật quy định nhưng biện pháp thi hành án dân sự thực hiện thông qua cưỡng chế thi hành án dân sự chỉ khi người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án, trừ trường hợp đặc biệt
do cần ngăn chặn hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc hành vi khác nhằm trốn tránh việc thi hành án dân sự
Thứ ba, cưỡng chế thi hành án dân sự áp dụng đối với nhiều đối tượng
Trong thi hành án hình sự, đối tượng phải thi hành án là cá nhân hoặc đại diện pháp nhân thương mại bị kết án (người phải thi hành án) theo bản án của Tòa
Trang 24án và nhằm mục đích trừng trị người phải thi hành án, đồng thời cải tạo, giáo dục họ trở thành người tốt, có ích cho xã hội Thế nhưng, trong thi hành án dân sự, đối tượng bị cưỡng chế không chỉ là người phải thi hành án mà còn được áp dụng đối với một số đối tượng khác như người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người bảo lãnh, Trong nhiều trường hợp, sự chuyển hóa người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia vào quá trình tố tụng trước khi thi hành án dân sự thành người được thi hành án hoặc người phải thi hành án do
họ được hưởng quyền hoặc phải thực hiện nghĩa vụ theo bản án, quyết định
đã có hiệu lực pháp luật, khi đó họ bị cưỡng chế thi hành án dân sự nếu họ thuộc đối tượng là người phải thi hành án hoặc người được thi hành án và tất nhiên họ phải chịu chi phí cưỡng chế thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật Đối tượng bị cưỡng chế thi hành án dân sự có thể là cá nhân hoặc
tổ chức, là người Việt Nam hoặc người nước ngoài, người đang quản lý tài sản hoặc không trực tiếp quản lý tài sản cưỡng chế thi hành án dân sự Thông thường thì đối tượng bị cưỡng chế thi hành án dân sự là người phải thi hành
án bởi họ phải thực hiện nghĩa vụ theo nội dung bản án, quyết định, đó có thể
là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trực tiếp đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án của đương sự hoặc là người thứ ba đang quản lý tài sản thi hành án dân sự mà không tự nguyện giao tài sản để xử
lý bảo đảm thi hành án dân sự hoặc không tự nguyện giao tài sản cho người mua được tài sản bán đấu giá, người nhận tài sản để thi hành án Việc thực hiện cưỡng chế thi hành án dân sự đối với đối tượng không phải là người phải thi hành án đòi hỏi phải thận trọng, tuân thủ đúng trình tự, thủ tục cưỡng chế thi hành án dân sự, bởi họ không mong muốn bị cưỡng chế thi hành án dân sự nhưng không thể thực hiện được sự tự nguyện thi hành án do họ không có nghĩa vụ thi hành án và có trường hợp họ bị thiệt hại nhất định từ việc cưỡng
Trang 25chế thi hành án dân sự, như trường hợp cưỡng chế tài sản của người phải thi hành án có chung với người khác hoặc tài sản của người phải thi hành án đang cho người khác thuê, mượn, nhận cầm cố, thế chấp đang trong thời hạn hợp đồng thuê, mượn, cầm cố, thế chấp tài sản Trong một số trường hợp, quyết định cưỡng chế thi hành án dân sự áp dụng trực tiếp đối với người phải thi hành
án nhưng việc thực hiện quyết định cưỡng chế thi hành án dân sự lại được tiến hành đối với người không phải là người phải thi hành án, có trường hợp chỉ là yêu cầu họ chuyển đồ đạc, di dời tài sản ra khỏi tài sản bị cưỡng chế thi hành
án dân sự của người phải thi hành án, tuy vậy họ vẫn là đối tượng bị cưỡng chế thi hành án dân sự mặc dù họ không phải là người phải thi hành án
Thứ tư, cưỡng chế thi hành án dân sự được áp dụng thông qua thực hiện quyết định có hiệu lực bắt buộc thi hành Cưỡng chế thi hành án dân sự
được thể hiện cụ thể bằng việc ban hành quyết định của người có thẩm quyền
áp dụng biện pháp cưỡng chế Tùy từng trường hợp cụ thể, người có thẩm quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế ra quyết định cưỡng chế thi hành án dân
sự Với tính chất là một văn bản áp dụng pháp luật, quyết định cưỡng chế thi hành án dân sự có giá trị bắt buộc thi hành đối với người bị cưỡng chế Quyết định cưỡng chế được ban hành trên cơ sở bản án, quyết định được thi hành theo thủ tục thi hành án dân sự và nhằm thi hành bản án, quyết định đó, vì vậy nếu quyết định cưỡng chế được ban hành mà không tổ chức thực hiện thì quyết định cưỡng chế thi hành án dân sự đó chưa được thực thi trên thực tế, chưa ban hành quyết định cưỡng chế thì cưỡng chế thi hành án dân sự chưa được áp dụng Tuy nhiên, xuất phát từ bản chất của cưỡng chế thi hành án dân
sự là dùng quyền lực nhà nước thì thông qua thực hiện quyết định có hiệu lực thi hành, cưỡng chế thi hành án dân sự là biện pháp hạn chế quyền tự chủ, định đoạt của chủ sở hữu, sử dụng tài sản nhằm đảm bảo khôi phục quyền và
Trang 26lợi ích hợp pháp của người được thi hành án theo bản án, quyết định có hiệu lực thi hành Chính vì vậy, cưỡng chế thi hành án dân sự không chỉ có ý nghĩa bảo đảm thi hành án mà còn là bảo vệ sự bình đẳng trước pháp luật giữa các đương sự, cá nhân, tổ chức có liên quan, là căn cứ quan trọng trong việc xử lý hành vi vi phạm của người phải thi hành án, đặc biệt là trong việc xử lý bằng trách nhiệm hình sự Theo quy định của pháp luật hình sự thì người nào có điều kiện mà không chấp hành bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mặc dù đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án Như vậy, bị áp dụng biện pháp cưỡng chế là yếu tố bắt buộc về mặt khách quan trong cấu thành tội không chấp hành án Quyết định cưỡng chế thi hành
án dân sự không chỉ có giá trị bắt buộc thi hành đối với người phải thi hành
án, mà tất cả những tổ chức, cá nhân có liên quan phải tôn trọng và thực hiện
1.3 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của cƣỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở trong thi hành án dân sự
1.3.1 Khái niệm
Cưỡng chế kê biên tài sản là một biện pháp cưỡng chế trong thi hành án
dân sự Theo Từ điển Hán Việt của Trần Văn Chánh viết, kê nghĩa là ghi chép lại, xem xét, biên nghĩa là sắp xếp, soạn lại Như vậy cụm từ kê biên có thể
hiểu là việc viết lại, ghi chép lại một cách có hệ thống những nội dung nào đó lại Tài sản được liệt kê trong Điều 105 Bộ Luật dân sự năm 2015 bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản Trên góc độ pháp lý, kê biên tài sản được hiểu là tạm thời cấm vận chuyển, chuyển đổi, định đoạt hoặc chuyển dịch tài sản của người vi phạm pháp luật Điều này có nghĩa khi kê biên một tài sản của một người nào đó thì quyền sở hữu tài sản của họ bị hạn chế, không được chuyển đổi, chuyển dịch, định đoạt tài sản kê biên đó Mặt khác tài sản bị kê biên phải là của người vi phạm pháp luật, nếu một người không vi
Trang 27phạm pháp luật thì sẽ không bị kê biên Kê biên tài sản thể hiện tính quyền lực của Nhà nước, nhằm răn đe người phải thi hành nghĩa vụ không tự nguyện thực
hiện nghĩa vụ Như vậy, có thể định nghĩa cưỡng chế kê biên tài sản là biện pháp cưỡng chế do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện nhằm đảm bảo cho việc thực hiện một nghĩa vụ tài sản đối với các cá nhân, tổ chức xâm hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân
Quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở là một trong các loại tài sản
có thể bị cưỡng chế kê biên để đảm bảo thi hành các bản án, quyết định do Tòa án tuyên hoặc của cơ quan có thẩm quyền theo quy định pháp luật Các bản án, quyết định đó bao gồm: Bản án, quyết định dân sự, phần tài sản và quyết định dân sự trong bản án hình sự, phần tài sản trong bản án, quyết định hành chính của Toà án, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành án của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh và quyết định của Trọng tài thương mại Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở là một trong những loại tài sản có giá trị nhất của con người, được pháp luật bảo vệ và công nhận Tuy nhiên, trong trường hợp bên có nghĩa vụ không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ theo bản án, quyết định của Tòa án hoặc
cơ quan có thẩm quyền khác và khi tài sản khác của người đó không đủ để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ đó thì buộc phải kê biên quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở
Do đó, có thể định nghĩa cưỡng chế quyền sử dụng đất và quyền sở hữu
nhà ở như sau: “Cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở trong thi hành án dân sự là biện pháp cưỡng chế với người phải thi hành án có điều kiện thi hành sau khi đã hết thời gian tự nguyện mà người phải thi hành
án không tự nguyện thi hành hoặc cần ngăn chặn người phải thi hành án tẩu tán tài sản, trốn tránh nghĩa vụ thi hành án, do Chấp hành viên tiến hành để xử
lý quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở của người phải thi hành án theo
Trang 28quy định của pháp luật nhằm thực hiện các nghĩa vụ của người phải thi hành
án theo Bản án, quyết định có hiệu lực thi hành”
1.3.2 Đặc điểm của cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất và quyền
sở hữu nhà ở
Cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở là một biện pháp trong thi hành án dân sự Cưỡng chế quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở mang đầy đủ các đặc điểm của cưỡng chế thi hành án dân sự, đồng thời mang một số đặc điểm riêng sau:
Thứ nhất, cưỡng chế quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở là một trong số các biện pháp cưỡng chế trong thi hành án dân sự Các biện pháp
cưỡng chế trong thi hành án dân sự bao gồm: (i) Khấu trừ tiền trong tài khoản, thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án; (ii) trừ vào thu nhập của người phải thi hành án; (iii) kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ; (iv) khai thác tài sản của người phải thi hành án; (v) buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ; (vi) buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực
hiện công việc nhất định Biện pháp kê biên tài sản là biện pháp có tính chất
nghiêm khắc hơn so với các biện pháp khác vì can thiệp trực tiếp vào quyền
sở hữu tài sản của người phải thi hành án Đồng thời, trong số các loại tài sản
có thể cưỡng chế thì cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở phức tạp và nhạy cảm hơn vì quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở là những quyền được pháp luật công nhận, quản lý và bảo vệ chặt chẽ thông qua việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở cho người dân và ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người phải thi hành án và gia đình của họ
Thứ hai, cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở mang tính nghiêm khắc nhất trong các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân
Trang 29sự Tính nghiêm khắc của cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở
hữu nhà ở thể hiện ở chỗ cơ quan Thi hành án dân sự đã tước bỏ quyền tự định đoạt đối với quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở của người phải thi hành án có nghĩa vụ trả tiền theo quyết định, bản án của Tòa án hoặc các quyết định khác theo quy định của pháp luật Quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở là những quyền có giá trị, ảnh hưởng lớn đối với con người Khi chấp hành viên ban hành quyết định cưỡng chế quyền sử dụng đất, thì kể từ thời điểm này người phải thi hành án không được tự mình chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, tặng cho, góp vốn và thừa kế quyền sử dụng đất
và quyền sở hữu nhà ở, nếu người phải thi hành muốn thực hiện các quyền trên phải thông qua chấp hành viên phụ trách vụ việc và phải được sự cho phép của chấp hành viên, đồng thời, phải làm theo những điều kiện theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự Việc hạn chế một số quyền này chấm dứt khi người phải thi hành án hoàn thành nghĩa vụ tài sản của mình đối với người được thi hành án, bằng quyết định giải tỏa kê biên quyền sử dụng đất của chấp hành viên, đến thời điểm này quyền sử dụng đất của người phải thi hành án mới không bị hạn chế giao dịch Tính nghiêm khắc của biện pháp này cũng thể hiện ở biện pháp cưỡng chế Khi chấp hành viên ban hành quyết định cưỡng chế, điều đó có nghĩa là chấp hành viên sẽ buộc người phải thi hành án thực hiện nghĩa vụ thi hành án dù không mong muốn Đồng thời hoạt động cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở cũng là một hoạt động cưỡng chế có tính chất công khai, có sự phối hợp của nhiều lực lượng chức năng, đồng thời có tính chất mạnh mẽ và răn đe cao đối với người phải thi hành án nói riêng và đối với xã hội nói chung Tính chất nghiêm khắc của cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở còn thể hiện ở chỗ, đây là biện pháp cuối cùng được áp dụng khi các biện pháp thông thường khác không đạt được hiệu quả Thực tế có nhiều tranh chấp được Tòa
Trang 30án giải quyết hiện nay có nghĩa vụ trả tiền, việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế khác như khấu trừ tài khoản, khai thác tài sản của người phải thi hành án,
kê biên, xử lý tài sản cầm cố,thế chấp, diễn ra không phổ biến, không mang lại hiệu quả cao, gây khó khăn cho chấp hành viên và hầu như không tương xứng với nghĩa vụ của người phải thi hành án Trong hoàn cảnh đó chấp hành viên phải áp dụng biện pháp cuối cùng trong cưỡng chế thi hành án là cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở Cuối cùng, tính nghiêm khắc của cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở thể hiện ở việc trong trường hợp cần thiết, biện pháp này có tác dụng ngăn chặn việc người phải thi hành án tẩu tán tài sản thi hành án Ngay cả khi đang trong thời gian tự nguyện thi hành án, nếu chấp hành viên phát hiện thấy người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc thực hiện các biện pháp khác nhằm trốn tránh nghĩa vụ phải thi hành án, thì chấp hành viên cũng có thể áp dụng ngay biện pháp kê biên quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở để ngăn chặn hành vi nhằm trốn tránh nghĩa vụ của người phải thi hành án Khi áp dụng biện pháp kê biên quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở chấp hành viên nhất thiết phải căn cứ vào các điều kiện nêu trên để áp dụng một cách tốt nhất trong công tác thi hành án của mình
đảm bảo được quyền, lợi ích của các chủ thể
Thứ ba, cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở
là một quá trình phức tạp hơn so với các biện pháp cưỡng chế khác Bất kỳ
một hoạt động nào trong quản lý nhà nước đều phải tuân thủ theo một thủ tục được quy định chặt chẽ Nếu cá nhân, cơ quan, tổ chức nào không tuân thủ theo thủ tục đó thì vi phạm pháp luật và họ sẽ bị chịu một chế tài tương ứng với những vi phạm đó Việc kê biên quyền sử dụng đất trong thi hành án dân
sự không nằm ngoài quy luật đó, chấp hành viên phải thực hiện các thủ tục chặt chẽ từ khi nhận hồ sơ thi hành án, lập hồ sơ thi hành án, xác minh điều
Trang 31kiện thi hành án, thông báo thi hành án, ra quyết định cưỡng chế quyền sử dụng đất, định giá quyền sử dụng đất, bán đấu giá quyền sử dụng đất, giao quyền sử dụng đất đến thanh toán tiền bán đấu giá đều phải theo một trình tự chặt chẽ do Luật Thi hành án dân sự và các văn bản dưới luật điều chỉnh Ngoài ra chấp hành viên còn phải tuân thủ theo các văn bản pháp luật liên quan đến thi hành án đó là Bộ Luật dân sự, Bộ Luật tố tụng dân sự, Luật Đất đai, Luật Hôn nhân gia đình, Luật Đấu giá Như vậy chấp hành viên kê biên quyền sử dụng đất phải thực hiện theo trình tự chặt chẽ do pháp luật quy định Đây cũng là một hoạt động rất nhạy cảm, nếu không được tiến hành một cách chặt chẽ và đúng đắn thì dễ dẫn đến tranh chấp và khiếu nại, làm tốn kém thời gian và tiền bạc
1.3.3 Phân biệt cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở trong thi hành án dân sự với cưỡng chế quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở trong cưỡng chế hành chính
Cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở trong thi hành án dân sự được quy định tại Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi
bổ sung năm 2014 và Nghị định 62 2015 NĐ-CP của Chính phủ ngày
18 7 2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật thi hành án dân sự Cưỡng chế quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở trong cưỡng chế hành chính được quy định tại thông tư 16 2010 TT-BTNMT của
Bộ Tài nguyên và Môi trường về quy định trình tự, thủ tục cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai ngày 26 8 2010
Về căn cứ pháp lý, cưỡng chế quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà
ở trong thi hành án dân sự phải căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án Trong khi đó cưỡng chế hành chính chỉ căn cứ vào quyết định hành chính của người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế hành chính để thực hiện cưỡng chế
Trang 32Về mục đích, mục đích của cưỡng chế quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở trong thi hành án dân sự là đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan tổ chức theo đúng nội dung của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật Mục đích của biện pháp cưỡng chế quyền sử dụng đất, quyền
sở hữu nhà ở trong hành chính là xử phạt hành chính cá nhân, tổ chức vi phạm pháp luật do phá hủy tài sản có giá trị tương đương Khôi phục lại các thiệt hại, lĩnh vực hành chính trong mối quan hệ về đất đai bị xâm hại
Về thẩm quyền, thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế thi hành án dân sự
là chấp hành viên và thừa phát lại, còn thẩm quyền của cưỡng chế hành chính
là người có thẩm quyền ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính như: Chủ tịch UBND các cấp, Chánh thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường, Chánh thanh tra Bộ Tài Nguyên và Môi trường
Về trình tự thủ tục, mỗi loại cưỡng chế đều có cách thức, trình tự, thủ tục tiến hành đặc thù ngoài những trình tự, thủ tục chung của quá trình cưỡng chế là: (i) Xác minh tài sản và điều kiện tài sản (ii) ra quyết định cưỡng chế
kê biên; (iii) thông báo và chuẩn bị; (iv) tiến hành kê biên và lập biên bản kê biên; (v) giao bảo quản tài sản kê biên; (vi) tiến hành định giá tài sản kê biên; (vii) đấu giá và chuyển giao quyền sử dụng tài sản kê biên đã đấu giá Nhưng bản chất của hai loại cưỡng chế là hoàn toàn khác nhau: Cưỡng chế hành chính là phương tiện đảm bảo cho việc thực hiện quyền lực nhà nước trong lĩnh vực hành pháp, bảo vệ các lợi ích hợp pháp của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân và tổ chức Còn hoạt động cưỡng chế thi hành án dân sự là sử dụng quyền lực nhà nước để buộc cá nhân, tổ chức liên quan trực tiếp đến việc thực hiện bản án, quyết định, cho dù đó có thể là người được thi hành án, người phải thi hành án hay người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án dân sự hoặc cá nhân, tổ chức khác
Như vậy, cưỡng chế quyền sử dụng đất trong lĩnh vực thi hành án dân
sự và trong lĩnh vực hành chính đều mang tính quyền lực nhà nước nhưng về
Trang 33bản chất thì cả hai loại cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở trong thi hành án dân sự với cưỡng chế quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở trong cưỡng chế hành chính đều mang những đặc trưng riêng
1.3.4 Vai trò của cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở trong thi hành án dân sự
Thứ nhất, cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà
ở trong thi hành án dân sự góp phần đảm bảo lợi ích của các chủ thể trong xã hội Hiện nay, sự phát triển của kinh tế xã hội đồng nghĩa với việc ngày càng
nảy sinh nhiều mâu thuẫn, tranh chấp trong các lĩnh vực của đời sống Hoạt động thi hành án dân sự nói chung và cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất
và quyền sở hữu nhà ở nói riêng có tác dụng tích cực trong việc đảm bảo quyền lợi của các bên liên quan, đồng thời đảm bảo tính công bằng và nghiêm minh của pháp luật Khi mà các biện pháp thi hành án dân sự thông thường đã không thể giải quyết được tranh chấp và đảm bảo quyền lợi các bên, chấp hành viên thông qua thực hiện biện pháp cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở sẽ có tác dụng thi hành triệt để bản án, quyết định của Tòa án Do đó, tránh cho việc phát sinh thêm mâu thuẫn và bức xúc trong
dư luận, cũng như bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan, đảm bảo trật tự và
an toàn xã hội
Mặt khác, cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà
ở là phương tiện có hiệu quả để đảm bảo việc thi hành Bản án, quyết định trong thi hành án dân sự Trong nhiều trường hợp người phải thi hành án có nghĩa vụ thi hành án lớn, và khi người phải thi hành án không chịu thực hiện nghĩa vụ thi hành án của mình đối với người được thi hành án, hoặc khi các biện pháp thi hành án khác không đạt được hiệu quả như trong bản án, quyết định của Tòa án thì việc thực hiện cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở là biện pháp cuối cùng nhằm đảm bảo việc thực hiện
Trang 34nghĩa vụ thi hành án của người thi hành án đạt được hiệu quả Hoặc trong trường hợp người phải thi hành án phải thi hành nhiều bản án, thực hiện nhiều nghĩa vụ thi hành án khác nhau thì việc áp dụng biện pháp cưỡng chế tài sản
là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở sẽ đảm bảo cho tất cả các bản án, quyết định của Tòa án được thực hiện Đồng thời, việc áp dụng biện pháp cưỡng chế quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở cũng đảm bảo quyền lợi các bên liên quan Khi người phải thi hành án có điều kiện thi hành án nhưng
vì lý do hoặc lợi ích cá nhân nào đó người phải thi hành án không muốn tự nguyện thi hành án, họ đưa ra nhiều lý do bất hợp pháp để tránh né hoặc kéo dài việc thực hiện nghĩa vụ của mình đối với người được thi hành án Trong trường hợp này chấp hành viên thực hiện biện pháp cưỡng chế quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở nhằm bảo đảm cho việc thi hành án diễn ra thuận lợi, đảm bảo cho lợi ích cả hai bên người phải thi hành án và người được thi hành án, bởi vì kể từ thời điểm chấp hành viên ra quyết định cưỡng chế quyền
sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở của người phải thi hành án thì các khoản
nợ có đến thời điểm này đều được bảo đảm thanh toán trước
Thứ hai, thông qua hoạt động cưỡng chế phát hiện những sai sót của bản án, quyết định của Tòa án Trong quá trình xét xử không phải bản án,
quyết định nào cũng hoàn toàn đúng Vì vậy, thông qua hoạt động cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở còn có tính chất kiểm tra lại bản án, quyết định, phát hiện những thiếu sót trong công tác xét xử của Tòa án đối với vụ việc cụ thể, từ đó đưa ra kiến nghị nhằm điều chỉnh cho phù hợp đồng thời rút kinh nghiệm nâng cao chất lượng xét xử, góp ý sửa đổi và
bổ sung các quy định của Luật, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng
cao hiệu quả quản lý của Nhà nước
Thứ ba, cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở góp phần nâng cao ý thức pháp luật của người dân Cưỡng chế tài sản là
Trang 35quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở là một biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc phải huy động nhiều lực lượng, liên quan đến nhiều ngành, cấp và được đưa lên thông tin đại chúng Vì vậy, thông qua công tác cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở nhằm răn đe những đối tượng phải thi hành án cố tình chây ỳ hoặc từ chối không thực hiện nghĩa vụ của mình Mặt khác, thông qua công tác cưỡng chế nhằm giáo dục ý thức pháp luật cho mỗi công dân hiểu biết thêm pháp luật về thi hành án dân sự, từ đó để họ tự điều chỉnh hành vi của mình trong những trường hợp tương tự và tuân thủ pháp luật nghiêm minh
1.4 Nội dung pháp luật về cƣỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất
ở khi không còn tài sản nào khác có giá trị để đảm bảo thi hành án Chấp hành viên là người có thẩm quyền tiến hành cưỡng chế quyền sử dụng đất của người phải thi hành án thuộc trường hợp được chuyển quyền sử dụng theo quy định của pháp luật về đất đai Như vậy, đối tượng tác động của cưỡng chế quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở chỉ bao gồm quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở được phép kê biên Bởi một số trường hợp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở không thể kê biên như đất, nhà ở công, các công trình phục vụ cộng đồng, vì mục đích từ thiện Những trường hợp này nếu cưỡng chế kê biên sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của Nhà nước, quyền lợi của cộng
Trang 36đồng nên không được phép kê biên Việc cưỡng chế kê biên nhà ở là nơi ở duy nhất của người phải thi hành án và gia đình chỉ được thực hiện sau khi xác định người đó không có các tài sản khác hoặc có nhưng không đủ để thi hành án, trừ trường hợp người phải thi hành án đồng ý kê biên nhà ở để thi hành án Khi cưỡng chế kê biên nhà ở phải kê biên cả quyền sử dụng đất gắn liền với nhà ở Như vậy mặc dù việc cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở là cần thiết để đảm bảo thi hành án, nhưng pháp luật vẫn thể hiện tính nhân văn, nhân đạo khi chỉ kê biên nhà ở, đất là nơi ở của người phải thi hành án trong trường hợp không còn cách nào khác Như vậy, việc xác định đối tượng cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở thể hiện quan điểm của pháp luật trong việc bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan, mà trước hết là quyền lợi của người được thi hành án Mặc dù quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở là những quyền sở hữu quan trọng nhất đối với con người, đặc biệt trong trường hợp đất, nhà ở đó là nơi ở duy nhất của người phải thi hành án Nhưng để bảo vệ quyền lợi các bên mà trước hết là quyền lợi của người được thi hành án, đảm bảo tính công bằng nghiêm minh của pháp luật và thi hành hiệu lực của bản án, quyết định thì có thể tiến hành kê biên tất cả các loại quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở thuộc sở hữu của người phải thi hành án, trừ những trường hợp không được chuyển quyền sử dụng theo quy định của pháp luật Do việc cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở động chạm đến những quyền lợi quan trọng của người phải thi hành án và những người có liên quan nên việc cưỡng chế thường có diễn biến vô cùng phức tạp, dễ dẫn đến tranh chấp, mâu thuẫn khiếu nại đòi hỏi chấp hành viên phải có những biện pháp xử lý đúng đắn, linh hoạt theo quy định của pháp luật và tình hình thực tế vụ việc
1.4.2 Điều kiện áp dụng biện pháp cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở trong thi hành án dân sự ở Việt Nam
Trang 37Điều kiện áp dụng biện pháp cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở đó là chủ thể thực hiện cưỡng chế thi hành án dân sự phải
là chấp hành viên là người duy nhất và trực tiếp ra quyết định cưỡng chế Chấp hành viên là chủ thể được pháp luật trao quyền ra quyết định và thực hiện cưỡng chế thi hành án dân sự Người phải thi hành án phải có điều kiện thi hành án Điều kiện bao gồm: Người phải thi hành án có tài sản có thể tiến hành thi hành án, người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án mặc dù
đã hết thời hạn tự nguyện Cụ thể là người phải thi hành án không thực hiện nghĩa vụ thi hành án hoặc thực hiện nghĩa vụ thi hành án chậm chạp, không
đủ khiến cho việc thi hành án không đạt hiệu quả trong khi đã hết thời gian tự nguyện thi hành án
Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế phải căn cứ vào nội dung, tính chất mức độ, nghĩa vụ thi hành án, điều kiện của người thi hành án, đề nghị của đương sự và tình hình thực tiễn ở địa phương Như đã đề cập trong các phần
trước, biện pháp cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà
ở là một biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc, có tính răn đe cao, do đó để áp dụng biện pháp này trong thi hành án dân sự, thì cần phải hội tụ đầy đủ các yếu tố theo quy định của pháp luật Chấp hành viên căn cứ vào nội dung, tính chất, mức độ của vụ việc để quyết định việc thi hành cưỡng chế trong trường hợp thấy cần thiết, khi việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế thông thường khác trong thi hành án không đạt được hiệu quả Do đó, việc tiến hành cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở là cần thiết Đồng thời, chấp hành viên cần xem xét đánh giá thái độ của người phải thi hành án đối với nghĩa vụ thi hành án Nếu người thi hành án có điều kiện thi hành án nhưng vẫn cố tình chậm trễ hoặc từ chối thi hành án, thì chấp hành viên phải
ra quyết định thi hành án cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở nhằm đảm bảo cho bản án, quyết định của Tòa án, quyền lợi của các
Trang 38bên liên quan Trong một số trường hợp, do các yếu tố bên ngoài tác động như tình hình kinh tế, xã hội của địa phương cần thi hành án có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động thi hành án, chấp hành viên có quyền quyết định thực hiện biện pháp cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở nhằm đảm
bảo quyền lợi của các bên liên quan
Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế sau khi đã hết thời gian tự nguyện thi hành án Trừ trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi
tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc trốn tránh việc thi hành án Chấp hành viên có quyền áp dụng ngay các biện pháp đảm bảo, cưỡng chế thi hành án Cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở là một biện pháp nghiêm khắc nhất để đảm bảo công tác thi hành án dân sự, nên nếu trong trường hợp vẫn có thể giải quyết vụ việc thông qua điều đình, hòa giải thì chấp hành viên sẽ chưa phải áp dụng biện pháp cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở Điều này thể hiện tính nhân đạo của Nhà nước, cũng như trách nhiệm và quan điểm linh hoạt của chấp hành viên Về bản chất, việc thi hành án dân sự nói chung, và cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở chỉ là nhằm đảm bảo quyền lợi của các bên, nên khi vẫn có thể tiến hành thỏa thuận hòa giải được thì chấp hành viên sẽ không áp dụng biện pháp cuối cùng này
Chỉ kê biên tài sản của người phải thi hành án khi có căn cứ khẳng định tài sản đó thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng của người phải thi hành
án và do họ đang quản lý sử dụng hoặc do người thứ ba giữ Điều kiện quan
trọng để chấp hành viên tổ chức thực hiện thi hành án nói chung và cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở nói riêng, là người phải thi hành án phải có tài sản là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở để thi hành án Để biết được người phải thi hành án có điều kiện thi hành án là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở hay không chấp hành viên phải tiến
Trang 39hành thủ tục xác minh điều kiện thi hành án Xác minh điều kiện thi hành án
là một trong vấn đề quan trọng nhất và là căn cứ để chấp hành viên tiến hành
tổ chức thi hành cũng như cưỡng chế Bởi chấp hành viên chỉ có thể tổ chức thi hành án khi đã xác định được người phải thi hành án có tài sản là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở Chấp hành viên phải tiến hành xác minh quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở kê biên, thu thập các thông tin về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở của người phải thi hành án sở hữu, nắm rõ các thông tin đối với quyền sử dụng đất sẽ tiến hành kê biên như: hiện trạng quyền sử dụng đất, đất đó thuộc quyền sử dụng chung với ai, đất đó có thuộc trường hợp được kê biên hay không, các giao dịch nào mà người phải thi án
đã hoặc đang thực hiện đối với đất đó, những người có liên quan đối với quyền sử dụng đất Kết quả của việc xác minh quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở sẽ kê biên là căn cứ để chấp hành viên lập kế hoạch cưỡng chế và xác định được các chủ thể có liên quan, từ đó chấp hành viên thực hiện các thủ tục cần thiết để đảm bảo quyền và lợi ích của những người liên quan trong quá trình tổ chức thực hiện kê biên quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở đó
để đảm bảo thi hành án Đối với trường hợp thi hành án theo đơn yêu cầu việc xác minh quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với kê biên được tiến hành trước khi nhận đơn yêu cầu thi hành án Đối với trường hợp chủ động thi hành án được tiến hành sau khi nhận bản án, quyết định lúc này chi phí xác minh do ngân sách Nhà nước chi trả Việc xác minh phải được lập thành biên bản, có xác nhận của Tổ trưởng tổ dân phố, Uỷ ban nhân dân, công an cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức nơi tiến hành xác minh Biên bản xác minh phải thể hiện đầy đủ kết quả xác minh
Chỉ cưỡng chế quyền sử dụng đất của người phải thi hành án thuộc trường hợp được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai Người phải thi hành án chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử
Trang 40dụng đất mà thuộc trường hợp được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai hoặc thuộc diện quy hoạch phải thu hồi đất nhưng chưa có quyết định thu hồi thì vẫn được kê biên, xử lý quyền sử dụng đất đó Quy định này để tránh những trường hợp người phải thi hành án viện dẫn chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc quyền sở hữu nhà
ở đối với đất hoặc nhà ở mà người đó sở hữu và thuộc diện được cấp giấy chứng nhận nhưng chưa được cấp, hoặc với đất và nhà ở thuộc diện thu hồi
mà chưa bị thu hồi, để chậm trễ trong việc thực hiện nghĩa vụ thi hành án Thì chấp hành viên có quyền đưa ra quyết định cưỡng chế quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở đối với trường hợp này
1.4.3 Thẩm quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở
Việc quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế, ra quyết định cưỡng chế và tổ chức thực hiện cưỡng chế quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở thuộc thẩm quyền của chấp hành viên được giao nhiệm vụ thi hành vụ việc thi hành án dân sự Chấp hành viên chính là người được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định, do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm Chấp hành viên được giao nhiệm vụ thi hành quyết định thi hành án của Thủ trưởng cơ quan Thi hành án ban hành và là người có thẩm quyền quyết định áp dụng các biện pháp cưỡng chế quyền sử dụng đất đối với vụ việc thi hành án đó Dựa trên kết quả sự không tự nguyện của người phải thi hành án và điều kiện về tài sản hiện có là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở của người phải thi hành án mà chấp hành viên ra quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế quyền sử dụng đất để đảm bảo thi hành nghĩa vụ theo bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền Cưỡng chế tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở được chấp hành viên quyết định khi đã hết thời gian tự nguyện thi hành của người phải thi hành án Nhưng