Khái niệm công nghiệp hoá mang tính lịch sử, tức là luôn có sự thay đổi cùng với sự phát triển của nền sản xuất xã hội, của khoa học – công nghệ. Ở thế kỷ XVII, XVIII, khi cách mạng công nghiệp được tiến hành ở Tây Âu, công nghiệp hoá được hiểu là quá trình thay thế lao động thủ công bằng lao động sử dụng máy móc. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ bảy khoá VI và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: công nghiệp hoá, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế – xã hội từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học – công nghệ nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao. Như vậy, công nghiệp hoá theo tư tưởng mới là không bó hẹp trong phạm vi trình độ các lực lượng sản xuất đơn thuần, kỹ thuật đơn thuần để chuyển lao động thủ công thành lao động cơ khí như quan niệm trước đây. 2. Quan điểm của Đảng và quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa ở Việt Nam sau thời kỳ đổi mới Ở Việt Nam, chủ trương công nghiệp hoá lần đầu tiên được đưa ra tại Đại hội lần thứ III của Đảng (năm 1960), với quan điểm: xây dựng một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa cân đối, hiện đại, kết hợp công nghiệp với nông nghiệp, lấy công nghiệp nặng làm nền tảng, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, nhằm biến nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành một nước công nghiệp hiện đại. Quan điểm này tiếp tục được khẳng định tại Đại hội IV (1976), ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, kết hợp xây dựng công nghiệp và nông nghiệp cả nước thành một nền kinh tế công – nông nghiệp; vừa xây dựng kinh tế trung ương vừa phát triển kinh tế địa phương, kết hợp kinh tế trung ương với kinh tế địa phương trong một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất. Đại hội V (1982) lấy nông nghiệp làm mặt trận hàng đầu, ra sức phát triển công nghiệp sản xuất hàng tiêu dung; việc xây dựng và phát triển công nghiệp nặng trong giai đoạn này cần làm có mức độ, vừa sức, nhằm phục vụ thiết thực, có hiệu quả cho nông nghiệp và công nghiệp nhẹ. Đại hội lần thứ X của Đảng (năm 2006) tiếp tục khẳng định: “đẩy mạnh hơn nữa công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn, giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân”. II. TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN CỦA CÔNG NGHIỆP HÓA HIỆN ĐẠI HÓA 1. Công nghiệp hoá là xu hướng mang tính quy luật của các nước đi từ nền sản xuất nhỏ đi lên một nền sản xuất lớn Để có một xã hội như ngày nay không phải do tự nhiên mà có , nó do quá trình tính luỹ về lượng ngay từ khi loài người xuất hiện thì sản xuất thô sơ, đời sống không ổn định, cơ sở vật chất hầu như không có gì nhưng trải qua sự nỗ lực của con người tác động vào giới tự nhiên, cải biến nó thông qua lao động, trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử giời đây con người đã tạo ra được những thành công đáng kể. Thành tựu đạt được là do quy luật phát triển do tự thân vận động của con người trong toàn xã hội. Công nghiệp hoá chính là con đường và bước đi tất yếu để tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền sản xuất hiện đại. Có tiến hành công nghiệp hoá chúng ta mới có thể xây dựng được cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội ở nước ta; tiến hành tái sản xuất mở rộng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, mới tích luỹ về lượng mới để xây dựng thành công nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa; tăng cường phát triển lực lượng giai cấp công nhân; củng cố quốc phòng giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; góp phần xây dựng và phát triển nền văn hoá dân tộc, xây dựng con người mới ở Việt Nam. Như vậy công nghiệp hoá là xu hướng mang tính quy luật cả các nước đi từ một nền sản xuất nhỏ sang nền sản xuất lớn.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC
- -BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ
BỘ MÔN ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
HÀ NỘI – 2020
Trang 2M C L C Ụ Ụ
MỞ ĐẦU
CÔNG NGHIỆP HÓA HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM 1
1 Khái niệm 1
2 Quan điểm của Đảng và quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa ở Việt Nam sau thời kỳ đổi mới 1
II TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN CỦA CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA 2
1 Công nghiệp hoá là xu hướng mang tính quy luật của các nước đi từ nền sản xuất nhỏ đi lên một nền sản xuất lớn 2
2 Tính tất yếu phải tiến hành đồng thời công nghiệp hoá - hiện đại hoá của nước ta. 3
III NỘI DUNG CỦA QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA HIỆN ĐẠI HÓA 3
IV THỰC TRẠNG CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA VÀ ĐIỀU KIỆN THUẬN LỢI……… 4
1 Thực trạng công nghiệp hóa – hiện đại hóa tại Việt Nam hiện nay 4
2 Thuận lợi khi tiến hành công nghiệp hóa - hiện đại hóa tại Việt Nam hiện nay 5
V NHỮNG KHÓ KHĂN TRƯỚC MẮT VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC 6
1 Những trở ngại làm chậm công nghiệp hóa - hiện đại hóa hiện nay 6
2 Các giải pháp khắc phục nhằm thúc đẩy công nghiệp hóa – hiện đại hóa 7
KẾT LUẬN 8
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 9
Trang 3MỞ ĐẦU
Công nghiệp hóa thực chất là xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của Chủ nghĩa xã hội Đó không chỉ đơn giản là tăng thêm tốc độ và tỷ trọng của sản xuất công nghiệp trong nền kinh tế, mà là quá trình chuyển dịch cơ cấu gắn với đổi mới căn bản về công nghệ, tạo nền tảng cho sự tăng trưởng nhanh, hiệu quả cao và lâu bền của toàn bộ nền kinh tế quốc dân Trong 30 năm đổi mới, cơ cấu kinh tế của Việt Nam đã chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Sự hội nhập ngày càng sâu rộng và toàn diện của nền kinh tế đất nước vào kinh tế toàn cầu đã mang lại cho chúng ta những cơ hội vô cùng
to lớn nhưng cũng xen lẫn nhiều thách thức không hề nhỏ” Điều này được, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, nhấn mạnh tại hội thảo khoa học “Một số vấn đề lý luận-thực tiễn cốt yếu về công nghiệp hoá-hiện đại hoá trong quá trình đổi mới và phát triển ở Việt Nam”
Trang 4I LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA VÀ QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM
1 Khái niệm
Khái niệm công nghiệp hoá mang tính lịch sử, tức là luôn có sự thay đổi cùng với
sự phát triển của nền sản xuất xã hội, của khoa học – công nghệ Ở thế kỷ XVII, XVIII, khi cách mạng công nghiệp được tiến hành ở Tây Âu, công nghiệp hoá được hiểu là quá trình thay thế lao động thủ công bằng lao động sử dụng máy móc Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ bảy khoá VI và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: công nghiệp hoá, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế – xã hội từ
sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học – công nghệ nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao
Như vậy, công nghiệp hoá theo tư tưởng mới là không bó hẹp trong phạm vi trình
độ các lực lượng sản xuất đơn thuần, kỹ thuật đơn thuần để chuyển lao động thủ công thành lao động cơ khí như quan niệm trước đây
2 Quan điểm của Đảng và quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa ở Việt Nam sau thời kỳ đổi mới
Ở Việt Nam, chủ trương công nghiệp hoá lần đầu tiên được đưa ra tại Đại hội lần thứ III của Đảng (năm 1960), với quan điểm: xây dựng một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa cân đối, hiện đại, kết hợp công nghiệp với nông nghiệp, lấy công nghiệp nặng làm nền tảng,
ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, nhằm biến nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành một nước công nghiệp hiện đại Quan điểm này tiếp tục được khẳng định tại Đại hội IV (1976), ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, kết hợp xây dựng công nghiệp và nông nghiệp cả nước thành
Trang 5một nền kinh tế công – nông nghiệp; vừa xây dựng kinh tế trung ương vừa phát triển kinh
tế địa phương, kết hợp kinh tế trung ương với kinh tế địa phương trong một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất Đại hội V (1982) lấy nông nghiệp làm mặt trận hàng đầu, ra sức phát triển công nghiệp sản xuất hàng tiêu dung; việc xây dựng và phát triển công nghiệp nặng trong giai đoạn này cần làm có mức độ, vừa sức, nhằm phục vụ thiết thực, có hiệu quả cho nông nghiệp và công nghiệp nhẹ Đại hội lần thứ X của Đảng (năm 2006) tiếp tục khẳng định: “đẩy mạnh hơn nữa công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn, giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân”
II TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN CỦA CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA
1 Công nghiệp hoá là xu hướng mang tính quy luật của các nước đi từ nền sản xuất nhỏ đi lên một nền sản xuất lớn
Để có một xã hội như ngày nay không phải do tự nhiên mà có , nó do quá trình tính luỹ về lượng ngay từ khi loài người xuất hiện thì sản xuất thô sơ, đời sống không ổn định,
cơ sở vật chất hầu như không có gì nhưng trải qua sự nỗ lực của con người tác động vào giới tự nhiên, cải biến nó thông qua lao động, trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử giời đây con người đã tạo ra được những thành công đáng kể Thành tựu đạt được là do quy luật phát triển do tự thân vận động của con người trong toàn xã hội Công nghiệp hoá chính là con đường và bước đi tất yếu để tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền sản xuất hiện đại
Có tiến hành công nghiệp hoá chúng ta mới có thể xây dựng được cơ sở vật
chất-kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội ở nước ta; tiến hành tái sản xuất mở rộng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, mới tích luỹ về lượng mới để xây dựng thành công nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa; tăng cường phát triển lực lượng giai cấp công nhân; củng
cố quốc phòng giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; góp phần xây dựng và phát triển nền văn hoá dân tộc, xây dựng con người mới ở Việt Nam
Như vậy công nghiệp hoá là xu hướng mang tính quy luật cả các nước đi từ một nền sản xuất nhỏ sang nền sản xuất lớn
2 Tính tất yếu phải tiến hành đồng thời công nghiệp hoá - hiện đại hoá của nước ta.
Trang 6Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, nhiều nước dù thắng hay bại đều trở thành nước kiệt quệ đã trở thanh một trong những nguyên nhân cho bước khởi động của cuộc khoa học công nghệ hiện đại Có thể chia cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại thành hai giai đoạn
Giai đoạn thứ nhất bắt đầu từ những năm 40 đến giữa những năm 70 Giai đoạn này sử dụng khoa học kỹ thuật để hiện đại hoá các công cụ sản xuất, phát triển kinh tế theo hướng
mở rộng và tăng thêm các yếu tố sản xuất Thực chất đây là giai đoạn bắt đầu phát triển của lực lượng sản xuất cả về con người và công cụ sản xuất
Giai đoạn hai bắt đầu vào những năm 70 trở đi và cho đến nay vẫn đang tiếp tục rất mạnh
mẽ Giai đoạn này là thực hiện cuộc cách mạng với qui mô lớn và toàn diện trên lực lượng sản xuất trên cơ sở áp dụng các thành tựu khoa học - kỹ thuật, đổi mới toàn bộ bộ máy sản xuất hiện hành trên cơ sở sử dụng những phương tiện kỹ thuật về công nghệ mới khác hẳn
về nguyên tắc thay thế hàng loạt các thiết bị lạc hậu bằng các thiết bị hiện đại làm cho năng suất và chất lượng sản phẩm lên cao
Việt Nam là một nước có nền kinh tế nhỏ, còn non nớt chưa phù hợp với quan hệ sản xuất của xã hội chủ nghĩa Để có cơ sở kỹ thuật của nền sản xuất lớn, không còn con đường nào khác là công nghiệp hoá, cơ khí hoá cân đối và hiện đại trên trình độ khoa học
kỹ thuật phát triển cao Muốn vậy công nghiệp hoá, hiện đại hoá là phát triển tuần tự và phát triển nhảy vọt, cùng một lúc thực hiện hai cuộc cách mạng đó là chuyển lao động thô
xơ sang lao động bằng máy móc và chuyển lao động máy móc sang lao động tự động hoá
có sự chỉ đạo của Nhà nước theo định hướng XHCN
III NỘI DUNG CỦA QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA HIỆN ĐẠI HÓA
Củng cố và tăng cường địa vị chủ đạo của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, tiến tới xác lập địa vị thống trị của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân Tại đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII Đảng và chính phủ đã xác điịnh: “Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân ở nước ta là xây dựng chủ nghĩa xã hội chứ không phải xây dựng chủ nghĩa tư bản nhưng để nền kinh tế quốc dân
Trang 7phát triển theo hướng chủ nghĩa xã hội thì cùng với việc phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất thì đồng thời phải coi trọng việc xây dựng, hoàn thiện quan hệ sản xuất chủ nghĩa xã hội mà nền tảng là chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu, chỉ có như vậy mới có cơ
sở kinh tế để thực hiện quyền làm chủ của người lao động.”
Cần thực hiện trên tất cả các ngành của nền kinh tế quốc dân nhưng ngành được đặt lên vị trí hàng đầu là ngành công nghiệp, bởi đây là ngành chế tạo ra tư liệu sản xuất có có
ý nghĩa quan trọng, có phát triển và ổn định thì mới thúc đẩy những ngành khác phát triển theo Nước ta là một nước nông nghiệp có tới 80% dân số sống trong khu vực nông thôn nên để khắc phục tình trạng không có việc làm sau khi mùa vụ kết thúc, cần phát triển các ngành công nghiệp nhẹ và công nghiệp chế biến thực phẩm vừa giải quyết được việc làm cho người lao động vừa tạo thêm thu nhập giúp ổn định được đời sống
Quá trình Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá cũng là quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh
tế theo hướng hiện đại, hợp lý và hiệu quả hơn Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá nền kinh
tế quốc dân là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ lạc hậu sang một cơ cấu phù hợp hơn với xu hướng phát triển của nền sản xuất hiện đại Đó là xu hướng tỷ trọng giá trị sản phẩm công nghiệp ngày càng tăng, tỷ trọng giá trị sản phẩm nông nghiệp ngày càng giảm,
tỷ trọng giá trị sản phẩm dịch vụ ngày càng tăng, tổng giá trị sản phẩm nông – công nghiệp ngày càng giảm Sự phát triển của cơ sở vật chất kỹ thuật có mối quan hệ hữu cơ với quá trình phân công lao động xã hội, với quá trình hình thành các ngành kinh tế, các vùng sản xuất chuyên môn hóa, các thành phần kinh tế…
IV THỰC TRẠNG CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA VÀ ĐIỀU KIỆN THUẬN LỢI
1 Thực trạng công nghiệp hóa – hiện đại hóa tại Việt Nam hiện nay
Đến nay, việc thực hiện đường lối công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn đã đạt được những thành tựu đáng kể, tạo sự chuyển biến tích cực trong kinh tế nông thôn cũng như trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, đồng thời kéo theo nhiều đổi thay ở các lĩnh vực khác của đời sống xã hội nông thôn Có thể nói chúng ta đã
Trang 8chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế tương đối thành công, đó là tỉ trọng của khu vực nông nghiệp trong GDP giảm từ 38,1% năm 1986 xuống mực 18,4% năm 2013, trong khi tỷ trọng của khu vực công nghiệp đã tăng từ 28,9% lên 38,3% Đặc biệt trong quá trình thực hiện chiến lược phát triển đã hình thành một số vùng kinh tế trọng điểm giữ vai trò động lực tăng trưởng Nhiều khu công nghiệp khu chế xuất, khu công nghệ cao đã hình thành trong cả nước thu hút sự tham gia mạnh mẽ của các thành phầm kinh tế thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế Việc khai thác,
sử dụng tài nguyên quốc gia và bảo vệ môi trường gắn với yêu cầu phát triển bền vững được quan tâm và đem lại kết quả bước đầu Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển, nhất là hạ tầng giao thông, điện, thông tin, viễn thông, thủy lợi, hạ tầng đô thị, giáo dục, y
tế Đồng thời, hoạt động của thị trường bảo hiểm đã đóng góp tích cực vào việc ổn định sản xuất và đời sống dân cư, huy động vốn cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Thị trường bất động sản có bước phát triển nhanh chóng
2 Thuận lợi khi tiến hành công nghiệp hóa - hiện đại hóa tại Việt Nam hiện nay
Trong bối cảnh hiện nay, con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nước ta có thể rút ngắn thời gian nếu chúng ta sẵn sàng và chủ động hơn nữa trong thời gian cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang phát triển và lan tỏa mạnh mẽ Trên thế giới cách mạng khoa học công nghệ đang phát triển và trình độ ngày càng cao, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới, quốc tế hóa nền kinh tế và đời sống xã hội Đây là một thời cơ thuận lợi cho phép chúng ta có thể khai thác được những yếu tố nguồn lực bên ngoài và những yếu tố bên trong của đất nước có hiệu quả, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn
Sự thành công của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đòi hỏi ngoài môi trường chính trị ổn định Nước ta tiến hành công nghiệp hóa – hiện đại hóa trong một tình hình chính trị, xã hội ổn định, nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lí của Nhà nước, đã hình thành và bước đầu có bước phát triển
Trang 9Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên chiếm khoảng 58% dân số, khoảng trên 55 triệu lao động, trong đó tính đến năm 2018 lao động đã qua đào tạo chiếm 24% Như vậy
có thể thấy nguồn nhân lực là dồi dào Năng suất lao động của Việt Nam tính theo sức mua tương đương là thấp thứ nhì Đông Nam Á, sau Lào và chỉ hơn Campuchia Tăng trưởng về năng suất lao động bình quân giai đoạn 2010-2018, tính theo sức mua tương đương, khoảng 4,8%/năm, trong khi tăng trưởng kinh tế (GDP) bình quân giai đoạn này là 6,2%
Hội nhập kinh tế quốc tế được đẩy mạnh Việt Nam đã tham gia hội nhập trên tất cả các cấp độ, từng bước tham gia vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị cung ứng, đưa hoạt động của doanh nghiệp và nền kinh tế vào môi trường cạnh tranh toàn cầu Xuất khẩu tăng nhanh và là động lực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế Tốc độ tăng xuất khẩu bình quân thời kỳ 2001 - 2005 đạt 17,9%, thời kỳ 2006 - 2010 đạt 18,27% và thời kỳ 2011 - 2015 ước đạt 17,96% Thị trường xuất khẩu được mở rộng ra nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới Cơ cấu các ngành kinh tế đã có sự dịch chuyển tích cực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đến năm 2019 tỷ trọng ngành khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 34,49%
Phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội: Cùng với thúc đẩy tăng trưởng, Việt Nam cũng đã giải quyết có hiệu quả mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội
Việt Nam đã thiết lập được nhiều quan hệ đối tác chiến lược về kinh tế Tích cực xây dựng Cộng đồng ASEAN 2015 và hoàn thiện thị trường trong nước đầy đủ hơn theo cam kết WTO Cho đến nay đã có 59 quốc gia công nhận nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường, trong đó có các đối tác thương mại lớn của Việt Nam
V NHỮNG KHÓ KHĂN TRƯỚC MẮT VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC
1 Những trở ngại làm chậm công nghiệp hóa - hiện đại hóa hiện nay
Trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước ta đã đạt nhiều thành tựu Nhưng tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp, chưa tương xứng với khả năng Quy mô nền
Trang 10kinh tế nhỏ, bình quân thu nhập thấp, tái sản xuất chủ yếu theo chiều rộng chưa theo chiều sâu
Các nguồn lực của đất nước sử dụng chưa hiệu quả, nguồn lực trong dân chưa được phát huy Ngoài ra, còn tồn tại vấn đề về lỗ hổng rất lớn về pháp luật, “hàng rào” kỹ thuật chưa đủ mạnh để kiểm soát tình hình, thiếu minh bạch về quy định hàng Việt Nam đã đẩy người dân và doanh nghiệp vào thế rủi ro rất cao
Khoa học công nghệ phát triển còn chậm Các vùng kinh tế trọng điểm chưa phát huy được thế mạnh để đi nhanh vào cơ cấu kinh tế hiện đại Kinh tế vùng chưa có sự liên kết chặt chẽ, hiệu quả thấp và chưa được quan tâm đúng mức
2 Các giải pháp khắc phục nhằm thúc đẩy công nghiệp hóa – hiện đại hóa
Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn, giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân: Chuyển dịch mạnh cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng tạo ra giá trị gia tăng ngày càng cao, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường; thực hiện cơ khí hoá, điện khí hoá, thuỷ lợi hoá, đưa nhanh tiến bộ khoa học - kỹ thuật và công nghệ sinh học vào sản xuất; nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh phù hợp với từng vùng, từng địa phương; phát triển các khu nông nghiệp công nghệ cao, vùng trồng trọt và chăn nuôi tập trung, doanh nghiệp công nghiệp
và dịch vụ gắn với hình thành các ngành nghề, làng nghề, hợp tác xã, trang trại, tạo ra những sản phẩm có thị trường và hiệu quả kinh tế cao Thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới
Phát triển nhanh hơn công nghiệp, xây dựng và dịch vụ: Khuyến khích phát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chế tác, công nghiệp phần mềm và công nghiệp
hỗ trợ có lợi thế cạnh tranh, tạo nhiều sản phẩm xuất khẩu và thu hút nhiều lao động; phát triển một số khu kinh tế mở và đặc khu kinh tế Phát triển mạnh mẽ các ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, sản xuất tư liệu sản xuất quan trọng theo hướng hiện đại