1. Tính cấp thiết của đề tài Hoạt động tín dụng tại các TCTD là một trong những hoạt động kinh doanh chứa đựng nhiều rủi ro nhất, đặc biệt là trong giai đoạn nền kinh tế có nhiều biến động hiện nay. Những vụ phá sản đó đều có mối liên hệ đến sự tăng trưởng nóng của hoạt động tín dụng, trong khi các cơ chế quản trị để có thể quản lý và kiểm soát được rủi ro chưa được thiết lập đầy đủ và hiệu quả. Các CTTC hay các TCTD nói chung đều chịu một áp lực rất lớn trong việc nhận biết các rủi ro mà mình đang phải đối mặt và phải lý giải được cách thức làm thế nào để kiểm soát các rủi ro này ở mức độ chấp nhận được. Cùng với sự phát triển của khung quản trị rủi ro, KTNB đang dần được xem là một công cụ hữu hiệu để một ngân hàng kiểm soát các rủi ro của mình thông qua cả chức năng đảm bảo và chức năng tư vấn cho ban giám đốc và cho các chủ sở hữu. Tổng công ty Tài chính CP Dầu khí Việt Nam (PVFC) đang phải chịu sức ép cạnh tranh rất lớn không chỉ từ các ngân hàng thương mại mà còn từ các Công ty tài chính thuộc các Tập đoàn kinh tế. Để tồn tại và phát triển bền vững hướng tới chiến lược trở thành NHTMCP vào năm 2020, Tổng Công ty cổ phần Tài chính Dầu khí Việt Nam phải tìm cách đứng vững trong thị trường cạnh tranh quyết liệt, phải đảm bảo kinh doanh hiệu quả, đóng góp cho nền kinh tế. Hoạt động tín dụng là hoạt động mang lại doanh thu lớn nhất của PVFC, nhưng đây cũng là hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất, quyết định sự sống còn của PVFC. Một trong những giải pháp để thúc đẩy được sự phát triển bền vững của Tổng Công ty cổ phần Tài chính Dầu khí Việt Nam đó chính là hoàn thiện kiểm toán nội bộ nhằm hạn chế rủi ro, ngăn ngừa các sai sót, gian lận, bảo toàn vốn và tài sản. Kiểm toán nội bộ hoạt động tín dụng tại Tổng Công ty cổ phần Tài chính Dầu khí Việt Nam những năm qua đã thể hiện được vai trò là công cụ, chức năng của quản trị, giúp TCT đối phó được với những rủi ro về thị trường, rủi ro hoạt động. Tuy nhiên, kiểm toán nội bộ vẫn còn nhiều bất cập như: phương pháp kiểm toán còn hạn hẹp, chất lượng kiểm toán chưa cao, chưa có chiến lược rõ ràng cho KTNB,… Xuất phát từ tầm quan trọng của kiểm toán nội bộ và thực tiễn khách quan tại Tổng Công ty cổ phần Tài chính Dầu khí Việt Nam, tác giả đã chọn đề tài “Hoàn thiện kiểm toán hoạt động tín dụng của KTNB tại Tổng Công ty CP Tài Chính Dầu khí Việt Nam (PVFC)” để làm chủ đề cho luận văn thạc sỹ kinh tế của mình. 2. Mục tiêu nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu một cách khoa học về bản chất, chức năng, vai trò của CTTC trong nền kinh tế cùng với hệ thống hóa những lý luận chung về KTNB, luận văn hướng đến những mục tiêu cụ thể sau: - Làm rõ bản chất, vai trò, chức năng của KTNB trong TCTD nói chung và trong CTTC nói riêng. - Sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học phân tích thực trạng kiểm toán nội bộ hoạt động tín dụng tại PVFC để khẳng định những ưu nhược điểm và những nguyên nhân tồn tại của KTNB. - Đưa ra phương hướng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện kiểm toán nội bộ hoạt động tín dụng nhằm nâng cao vai trò và hiệu quả KTNB trong đơn vị. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn là KTNB hoạt động tín dụng trong CTTC và được xem xét trên hai nội dung chính là tổ chức bộ máy kiểm toán và tổ chức công tác kiểm toán. Đây là hai mặt có quan hệ chặt chẽ ảnh hưởng qua lại với nhau trong tổng thể thống nhất là KTNB. Hai nội dung chính được cụ thể hóa trên hai khía cạnh sau: Một là, những vấn đề lý luận có hệ thống và toàn diện về tổ chức KTNB trong TCTD đồng thời phát triển lý luận về tổ chức KTNB trong các CTTC. Hai là, khía cạnh thực tiễn: Mô tả, phân tích, đánh giá một cách có hệ thống thực trạng tổ chức bộ máy và tổ chức công tác KTNB tại PVFC. Trên cơ sở đó, tác giả phân tích các tồn tại của KTNB hoạt động tín dụng, đồng thời đưa ra phương hướng và giải pháp khả thi theo hai nội dung trên nhằm hoàn thiện KTNB hoạt động tín dụng tại PVFC. 3.2 Phạm vi nghiên cứu Luận văn tập trung vào nghiên cứu KTNB hoạt động tín dụng tại PVFC với phạm vi khảo sát từ năm 2012-2014. 4. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện kiểm toán hoạt động tín dụng của KTNB tại PVFC” này là loại nghiên cứu ứng dụng thuộc lĩnh vực kinh tế, cho nên, về phương pháp luận thì các phương pháp của đề tài được hình thành trên nguyên lý của triết học duy vật biện chứng Mac Lê-nin. Trong luận văn tác giả sử dụng phương pháp luận khoa học duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp tiếp cận hệ thống, phương pháp nghiên cứu định tính, nghiên cứu định lượng. Phương pháp tiếp cận hệ thống: Tác giả nhìn tổng thể KTNB là một hệ thống, trong đó mọi yếu tố của hệ thống có tác động và ảnh hưởng qua lại với nhau. Cụ thể, tổ chức công tác KTNB và tổ chức bộ máy nội bộ là hai nội dung chính của KTNB. Hai nội dung này không thể tách rời, có quan hệ liên kết chặt chẽ và hình thành nên tổng thể. Trong quá trình nghiên cứu, ngoài phương pháp tiếp cận hệ thống, tác giả sử dụng kết hợp phương pháp tiếp cận lịch sử. Phương pháp tiếp cận lịch sử cho thấy quá trình hình thành, phát triển và tiếp tục hoàn thiện những lý thuyết về KTNB phù hợp với từng giai đoạn phát triển, đồng thời thấy được quá trình hình thành phát triển của KTNB trong bản thân đơn vị nghiên cứu. 5. Kết cấu đề tài nghiên cứu Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của đề tài đ¬ược phân bổ thành 3 chư¬ơng: Chương 1: Cơ sở lý luận chung về kiểm toán nội bộ hoạt động tín dụng tại các công ty tài chính Chương 2: Thực trạng kiểm toán nội bộ hoạt động tín dụng tại Tổng Công ty Cổ phần Tài Chính Dầu khí Việt Nam Chương 3: Giải pháp hoàn thiện kiểm toán nội bộ hoạt động tín dụng tại Tổng Công ty cổ phần Tài Chính Dầu khí Việt Nam
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH DOANH VÀ CÔNG NGHỆ HÀ NỘI
Người hướng dẫn khoa học:
TS NGUYỄN ĐĂNG HUY
HÀ NỘI - 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trịnh Ngọc Điệp
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM TOÁN NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI CÁC CÔNG TY TÀI CHÍNH 4
1.1 Tổng quan về kiểm toán 4
1.1.1 Khái niệm kiểm toán 4
1.1.2 Vai trò của kiểm toán 5
1.2.Tổng quan về kiểm toán nội bộ tại các Công ty Tài chính 6
1.2.1 Khái niệm kiểm toán nội bộ 6
1.2.2.Cơ cấu tổ chức thực hiện kiểm toán nội bộ 8
1.2.3 Chức năng kiểm toán nội bộ 8
1.2.4.Vai trò kiểm toán nội bộ 9
1.2.5 Nội dung thực hiện KTNB tại các Công ty Tài chính 11
1.3 Phương pháp kiểm toán nội bộ hoạt động tín dụng của Công ty Tài chính 11
1.3.1 Các phương pháp tiếp cận đối với KTNB hoạt động tín dụng tại CTTC 11
1.3.2 Các phương pháp kiểm toán đối với KTNB hoạt động tín dụng của CTTC 17 1.3.3 Quy trình KTNB hoạt động tín dụng của Công ty Tài chính 26
1.3.4 Nhân tố ảnh hưởng đến KTNB của Công ty Tài chính 35
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KIỂM TOÁN NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN TÀI CHÍNH DẦU KHÍ VIỆT NAM 38
2.1 Tổng quan về Tổng công ty Cổ phần Tài chính Dầu khí Việt Nam 38
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển Tổng công ty Cổ phần Tài chính Dầu khí Việt Nam 38
2.1.2 Tình hình tài sản và kết quả hoạt động kinh doanh của PVFC giai đoạn 2012- 2014 39
Trang 42.1.3 Những kết quả đạt được 40
2.2 Thực trạng kiểm toán nội bộ hoạt động tín dụng tại PVFC 42
2.2.1 Tổ chức bộ máy KTNB tại PVFC 42
2.2.2 Thực trạng hoạt động tín dụng tại PVFC 43
2.2.3 Ảnh hưởng của thực trạng hoạt động tín dụng PVFC đến việc tổ chức thực hiện KTNB hoạt động tín dụng 52
2.2.4 Phương pháp kiểm toán nội bộ hoạt động tín dụng tại PVFC 54
2.3 Đánh giá về kiểm toán nội bộ hoạt động tín dụng tại PVFC 68
2.3.1 Những kết quả đạt được trong kiểm toán hoạt động tín dụng của PVFC 68 2.3.2 Những hạn chế của kiểm toán nội bộ hoạt động tín dụng tại PVFC 72
2.3.3 Nguyên nhân của các hạn chế 76
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KIỂM TOÁN NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN TÀI CHÍNH DẦU KHÍ VIỆT NAM 80
3.1 Định hướng phát triển PVFC trong giai đoạn 2016- 2020 80
3.1.1 Định hướng phát triển chung của PVFC trong giai đoạn 2016- 2020 80
3.1.2 Mục tiêu phát triển giai đoạn 2016- 2020 81
3.1.3 Định hướng phát triển hoạt động tín dụng PVFC giai đoạn 2016- 2020 82 3.1.4 Định hướng phát triển hoạt động KTNB tại PVFC 83
3.2 Giải pháp hoàn thiện kiểm toán nội bộ hoạt động tín dụng tại Tổng công ty cổ phần Tài chính Dầu khí Việt Nam 84
3.2.1 Nhóm giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác KTNB hoạt động tín dụng 84 3.2.2 Nhóm giải pháp về con người 99
3.2.3 Tăng cường áp dụng công nghệ thông tin cho hoạt động KTNB 102
3.2.4 Quy hoạch, hệ thống hóa các chính sách tín dụng của PVFC 102
3.3 Kiến nghị 103
Trang 5KẾT LUẬN 105
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Ban TGĐ Ban Tổng Giám đốc
IIA Viện Kiểm toán viên nội bộ (Institute of Internal Auditor)
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ BẢNG
Bảng 2.1: Các chỉ tiêu tài chính từ 2012 -2014 39
Bảng 2.2: Cơ cấu TD theo thời hạn vay 44
Bảng 2.3: Cơ cấu TD theo loại hình cho vay 45
Bảng 2.4: Cơ cấu TD theo phương thức cho vay 45
Bảng 2.5: Cơ cấu TD theo lĩnh vực ngành nghề 46
Bảng 2.6: Cơ cấu TD theo TSĐB 47
Bảng 2.7: Cơ cấu TD theo đối tượng KH trong/ngoài ngành 47
Bảng 2.8: Chi tiết các nhóm nợ tại PVFC từ 2012 -2014 48
Bảng 2.9: Tình hình nợ nhóm 2-5 từ năm 2012 đến 2014 48
Bảng 2.10: Nợ xấu tại PVFC năm 2012- 2014 50
Bảng 3.1: Dự kiến các chỉ tiêu kinh doanh chủ yếu 2015 -2020 81
Bảng 3.2: Định hướng cơ cấu Tín dụng 2016-2020 82
Bảng 3.3: Minh họa bảng chấm điểm rủi ro tín dụng 85
Bảng 3.4: Minh họa bảng kế hoạch kiểm toán năm theo định hướng rủi ro 89
Bảng 3.5: Minh họa hồ sơ rủi ro tín dụng của đơn vị kinh doanh tại PVFC 90
SƠ ĐỒ Sơ đồ 1.1: Mô hình KTNB 8
Sơ đồ 1.2: Quy trình kiểm toán nội bộ 27
Sơ đồ 2.1: Tổ chức bộ máy KTNB PVFC 42
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động tín dụng tại các TCTD là một trong những hoạt động kinh doanhchứa đựng nhiều rủi ro nhất, đặc biệt là trong giai đoạn nền kinh tế có nhiều biếnđộng hiện nay Những vụ phá sản đó đều có mối liên hệ đến sự tăng trưởng nóngcủa hoạt động tín dụng, trong khi các cơ chế quản trị để có thể quản lý và kiểm soátđược rủi ro chưa được thiết lập đầy đủ và hiệu quả Các CTTC hay các TCTD nóichung đều chịu một áp lực rất lớn trong việc nhận biết các rủi ro mà mình đang phảiđối mặt và phải lý giải được cách thức làm thế nào để kiểm soát các rủi ro này ởmức độ chấp nhận được Cùng với sự phát triển của khung quản trị rủi ro, KTNBđang dần được xem là một công cụ hữu hiệu để một ngân hàng kiểm soát các rủi rocủa mình thông qua cả chức năng đảm bảo và chức năng tư vấn cho ban giám đốc
và cho các chủ sở hữu
Tổng công ty Tài chính CP Dầu khí Việt Nam (PVFC) đang phải chịu sức épcạnh tranh rất lớn không chỉ từ các ngân hàng thương mại mà còn từ các Công ty tàichính thuộc các Tập đoàn kinh tế Để tồn tại và phát triển bền vững hướng tới chiếnlược trở thành NHTMCP vào năm 2020, Tổng Công ty cổ phần Tài chính Dầu khíViệt Nam phải tìm cách đứng vững trong thị trường cạnh tranh quyết liệt, phải đảmbảo kinh doanh hiệu quả, đóng góp cho nền kinh tế Hoạt động tín dụng là hoạtđộng mang lại doanh thu lớn nhất của PVFC, nhưng đây cũng là hoạt động tiềm ẩnnhiều rủi ro nhất, quyết định sự sống còn của PVFC Một trong những giải pháp đểthúc đẩy được sự phát triển bền vững của Tổng Công ty cổ phần Tài chính Dầu khíViệt Nam đó chính là hoàn thiện kiểm toán nội bộ nhằm hạn chế rủi ro, ngăn ngừacác sai sót, gian lận, bảo toàn vốn và tài sản
Kiểm toán nội bộ hoạt động tín dụng tại Tổng Công ty cổ phần Tài chính Dầukhí Việt Nam những năm qua đã thể hiện được vai trò là công cụ, chức năng củaquản trị, giúp TCT đối phó được với những rủi ro về thị trường, rủi ro hoạt động.Tuy nhiên, kiểm toán nội bộ vẫn còn nhiều bất cập như: phương pháp kiểm toán cònhạn hẹp, chất lượng kiểm toán chưa cao, chưa có chiến lược rõ ràng cho KTNB,…
Trang 9Xuất phát từ tầm quan trọng của kiểm toán nội bộ và thực tiễn khách quan tại
Tổng Công ty cổ phần Tài chính Dầu khí Việt Nam, tác giả đã chọn đề tài “Hoàn thiện
kiểm toán hoạt động tín dụng của KTNB tại Tổng Công ty CP Tài Chính Dầu khí Việt Nam (PVFC)” để làm chủ đề cho luận văn thạc sỹ kinh tế của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu một cách khoa học về bản chất, chức năng, vai trò củaCTTC trong nền kinh tế cùng với hệ thống hóa những lý luận chung về KTNB, luậnvăn hướng đến những mục tiêu cụ thể sau:
- Làm rõ bản chất, vai trò, chức năng của KTNB trong TCTD nói chung vàtrong CTTC nói riêng
- Sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học phân tích thực trạng kiểmtoán nội bộ hoạt động tín dụng tại PVFC để khẳng định những ưu nhược điểm vànhững nguyên nhân tồn tại của KTNB
- Đưa ra phương hướng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện kiểm toán nội bộhoạt động tín dụng nhằm nâng cao vai trò và hiệu quả KTNB trong đơn vị
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là KTNB hoạt động tín dụng trong CTTC
và được xem xét trên hai nội dung chính là tổ chức bộ máy kiểm toán và tổ chứccông tác kiểm toán Đây là hai mặt có quan hệ chặt chẽ ảnh hưởng qua lại với nhautrong tổng thể thống nhất là KTNB Hai nội dung chính được cụ thể hóa trên haikhía cạnh sau:
Một là, những vấn đề lý luận có hệ thống và toàn diện về tổ chức KTNB trongTCTD đồng thời phát triển lý luận về tổ chức KTNB trong các CTTC
Hai là, khía cạnh thực tiễn: Mô tả, phân tích, đánh giá một cách có hệ thốngthực trạng tổ chức bộ máy và tổ chức công tác KTNB tại PVFC Trên cơ sở đó, tácgiả phân tích các tồn tại của KTNB hoạt động tín dụng, đồng thời đưa ra phươnghướng và giải pháp khả thi theo hai nội dung trên nhằm hoàn thiện KTNB hoạtđộng tín dụng tại PVFC
Trang 103.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung vào nghiên cứu KTNB hoạt động tín dụng tại PVFC vớiphạm vi khảo sát từ năm 2012-2014
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện kiểm toán hoạt động tín dụng củaKTNB tại PVFC” này là loại nghiên cứu ứng dụng thuộc lĩnh vực kinh tế, cho nên,
về phương pháp luận thì các phương pháp của đề tài được hình thành trên nguyên lýcủa triết học duy vật biện chứng Mac Lê-nin
Trong luận văn tác giả sử dụng phương pháp luận khoa học duy vật biệnchứng, duy vật lịch sử, phương pháp tiếp cận hệ thống, phương pháp nghiên cứuđịnh tính, nghiên cứu định lượng
Phương pháp tiếp cận hệ thống: Tác giả nhìn tổng thể KTNB là một hệ thống,trong đó mọi yếu tố của hệ thống có tác động và ảnh hưởng qua lại với nhau Cụthể, tổ chức công tác KTNB và tổ chức bộ máy nội bộ là hai nội dung chính củaKTNB Hai nội dung này không thể tách rời, có quan hệ liên kết chặt chẽ và hìnhthành nên tổng thể Trong quá trình nghiên cứu, ngoài phương pháp tiếp cận hệthống, tác giả sử dụng kết hợp phương pháp tiếp cận lịch sử Phương pháp tiếp cậnlịch sử cho thấy quá trình hình thành, phát triển và tiếp tục hoàn thiện những lýthuyết về KTNB phù hợp với từng giai đoạn phát triển, đồng thời thấy được quátrình hình thành phát triển của KTNB trong bản thân đơn vị nghiên cứu
5 Kết cấu đề tài nghiên cứu
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dungcủa đề tài được phân bổ thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về kiểm toán nội bộ hoạt động tín dụng tại
các công ty tài chính
Chương 2: Thực trạng kiểm toán nội bộ hoạt động tín dụng tại Tổng Công
ty Cổ phần Tài Chính Dầu khí Việt Nam
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện kiểm toán nội bộ hoạt động tín dụng tại
Tổng Công ty cổ phần Tài Chính Dầu khí Việt Nam
Trang 11CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM TOÁN NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI CÁC CÔNG TY TÀI CHÍNH
1.1 Tổng quan về kiểm toán
1.1.1 Khái niệm kiểm toán
Thuật ngữ “kiểm toán” thực sự mới xuất hiện và được sử dụng ở nước ta từhơn một chục năm cuối thế kỷ XX Trong quá trình đó cách hiểu và cách dùng kháiniệm này chưa được thống nhất Có thể khái quát các cách hiểu về kiểm toán theo 3quan điểm chính như sau:
Quan điểm thứ nhất: Kiểm toán được đồng nghĩa với kiểm tra kế toán, một
chức năng của bản thân kế toán, một thuộc tính cố hữu của kế toán Nội dung củahoạt động này là rà soát các thông tin kế toán, chứng từ kế toán và tổng hợp cân đối
kế toán Thực ra, đây là một chức năng vốn có của bản thân kế toán Quan điểm nàychỉ tồn tại vào những năm đầu của thời kỳ đổi mới, thời kỳ chúng ta bắt đầu chuyển
từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hộichủ nghĩa có sự điều tiết của Nhà nước
Quan điểm thứ hai: Là quan điểm theo các tác giả Alvin A.Arens và James
K.Loebbecker: “Kiểm toán là quá trình các chuyên gia độc lập có thẩm quyền thuthập và đánh giá các bằng chứng về các thông tin có thể định lượng được của mộtđơn vị cụ thể, nhằm mục đích xác nhận và báo cáo về mức độ phù hợp giữa các thôngtin với các chuẩn mực đã được thiết lập” Đây là quan điểm phát sinh cùng với sự rađời của cơ chế thị trường và được sử dụng trước tiên tại các nước sớm có nền kinh tếthị trường phát triển
Quan điểm thứ ba: Trong thời kỳ nền kinh tế thị trường đã phát triển mạnh mẽ,
người quan tâm đến thông tin kinh tế - tài chính của đơn vị không chỉ có Nhà nước
mà còn có cả các chủ thể khác trong nền kinh tế Hơn nữa, đôi khi đối tượng kiểmtoán không chỉ là các thông tin mang tính định lượng Chính vì vậy, theo quan điểmnày, kiểm toán có phạm vi rất rộng, bao gồm: kiểm toán quy tắc (kiểm toán tuânthủ), kiểm toán hoạt động, kiểm toán báo cáo tài chính
Trang 12Từ những quan điểm trên, chúng ta có thể hiểu khái niệm về kiểm toán như sau:
Kiểm toán là quá trình các chuyên gia độc lập, có thẩm quyền thu thập và đánh giá các bằng chứng về những thông tin có thể định lượng của một tổ chức, nhằm xác định và báo cáo về mức độ phù hợp của những thông tin đó với các tiêu chuẩn
đã được thiết lập; kiểm toán còn đánh giá tính hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực, các hoạt động; hiệu lực của các chính sách và quyết định quản lý 1.1.2 Vai trò của kiểm toán
Chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường thực hiện chủ trương đa dạng hóa cáchình thức sở hữu, các thành phần kinh tế được mở rộng và ngày càng đóng vai tròquan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của đất nước Trong điều kiện nền kinh
tế như vậy, thông tin tài chính của doanh nghiệp không chỉ để báo cáo cho các cơquan quản lý nhà nước để kiểm tra và xét duyệt mà nay các thông tin này cần chonhiều người, được nhiều đối tượng quan tâm, khai thác sử dụng cho các quyết địnhkinh tế Tuy ở nhiều góc độ khác nhau nhưng tất cả các đối tượng này đều có cùngnguyện vọng là có được các thông tin có độ chính xác cao, tin cậy và trung thực.Việc các quy định mang tính pháp lý bắt buộc các thông tin tài chính trước khicông bố phải được kiểm toán, điều này thể hiện rõ nét vai trò của kiểm toán nhằmđưa ra các quyết định hiệu quả và hợp lí trong quá trình đổi mới nền kinh tế
Trong các quan hệ kinh tế nhờ có kiểm toán mà các doanh nghiệp đã tìm đượctiếng nói chung đó là sự tin cậy lẫn nhau, sự thẳng thắn, trung thực trình bày về tìnhhình tài chính của mình Đây là yếu tố hết sức quan trọng để đánh giá, lựa chọn đốitác kinh doanh Đặc biệt trong quan hệ hợp tác kinh doanh với nước ngoài, nếu nhàđầu tư nước ngoài muốn tìm hiểu về hoạt động kinh doanh và đánh giá tình hình củamột doanh nghiệp trước khi đầu tư, hợp tác kinh doanh thì chi phí cho cuộc kiểmtoán sẽ hiệu quả và rẻ hơn nhiều so với chi phí mà hai bên phải bỏ ra để đàm phán
tự chứng minh về khả năng tài chính của mình Đồng thời ý kiến khách quan củakiểm toán luôn đáng tin cậy hơn Ngay cả khi các công ty có vốn đầu tư nước ngoàiđược thành lập thì nhu cầu kiểm toán của các công ty này là tất yếu bởi yêu cầuquản lí của các đối tác nước ngoài trong doanh nghiệp
Trang 13Hoạt động kiểm toán còn thu hút được lực lượng lớn các lao động có trình độchuyên môn nghiệp vụ cao và đặc biệt là lực lượng chuyên gia tư vấn nước ngoàilàm việc tại các công ty kiểm toán quốc tế.
Kiểm toán thực hiện kiểm tra tính trung thực hợp lí hợp pháp của thông tintrong hoạt động kinh tế, tài chính làm lành mạnh hoá các quan hệ tài chính, cungcấp các thông tin trung thực cho quản lí vĩ mô trong nền kinh tế
Với bên thứ ba, kiểm toán đã giúp PVFC, các công ty tài chính, các nhà đầu tư,các cổ đông, đối tác… có đủ thông tin tin cậy, bằng chứng xác đáng để đưa ra quyếtđịnh có đầu tư, liên quan đến đơn vị được kiểm toán
1.2 Tổng quan về kiểm toán nội bộ tại các Công ty Tài chính
1.2.1 Khái niệm kiểm toán nội bộ
Hiện có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm KTNB trên thế giới TheoLiên đoàn kế toán quốc tế IFAC thì khái niệm KTNB được đưa ra như sau: “KTNB
là một hoạt động được lập ra trong một đơn vị kinh tế, như một loại dịch vụ cho đơn
vị đó, có chức năng kiểm tra, đánh giá và giám sát tính thích hợp và hiệu quả của hệthống kế toán và KTNB”
Theo định nghĩa tại QĐ số 37/2006/QĐ-NHNN ngày 01/08/2006 của NHNN:
"KTNB là hoạt động kiểm tra, rà soát, đánh giá một cách độc lập, khách quan đối với
hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ; đánh giá độc lập về tính thích hợp và sự tuân thủcác chính sách, thủ tục quy trình đã được thiết lập trong tổ chức tín dụng, thông qua
đó đơn vị thực hiện KTNB đưa ra các kiến nghị, tư vấn nhằm nâng cao hiệu lực, hiệuquả hoạt động của các hệ thống, các quy trình, quy định, góp phần đảm bảo tổ chứctín dụng hoạt động an toàn, hiệu quả, đúng pháp luật”
KTNB tại CTTC được hiểu là quá trình hoạt động một cách có tổ chức, có kỷluật và độc lập của những người có thẩm quyền trong CTTC nhằm kiểm tra, đánh giá
về chất lượng và độ tin cậy của các thông tin tài chính và phi tài chính của CTTC,đồng thời đưa ra kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của công tác quản lí rủi ro, kiểmsoát nội bộ và quản trị điều hành của CTTC
Trang 14KTNB là một bộ phận quan trọng cấu thành hệ thống cơ chế kiểm tra, giám sátnội bộ trong CTTC Vì vậy, KTNB tại các CTTC sẽ không bị bó hẹp phạm vi hoạtđộng kinh doanh trong một công việc, bộ phận nào mà phải mở rộng phạm vi nghiêncứu ra tới tất cả loại hình nghiệp vụ mà các CTTC đã, đang và sẽ thực hiện Có nhưvậy KTNB mới hướng công việc của mình vào cải thiện và nâng cao chất lượng hoạtđộng, tăng cường sức mạnh cho cơ chế kiểm soát nội bộ phát huy hiệu quả.
KTNB nằm ngoài quy trình, độc lập và tách rời với quy trình nghiệp vụ, khôngchịu trách nhiệm về tình hình, kết quả hoạt động của nghiệp vụ đó mà chỉ có tráchnhiệm kiểm tra và đánh giá một cách khách quan xem quy trình nghiệp vụ đó haytoàn hệ thống đã vận hành an toàn, hiệu quả hay chưa, thông tin đưa ra có chính xáchay không? Từ đó rút ra được các điểm yếu cần phải khắc phục, đưa ra ý kiến nhậnxét, tư vấn để hoàn thiện quy trình, nhắc nhở các cán bộ nhân viên có ý thức tuântheo những chuẩn mực, quy định đã đề ra
Như vậy, khi mới ra đời KTNB chỉ đóng vai trò chống gian lận, sai sót, nhưnghiện nay, KTNB đã mở rộng phạm vi hoạt động bao gồm cả việc tư vấn cho tổ chứcnhằm tăng thêm giá trị và cải thiện hoạt động của doanh nghiệp Một thực tế đã đượcthừa nhận trong thời gian qua là công tác KTNB đã góp phần nâng cao hiệu quả quảntrị điều hành hoạt động của các TCTD Để đạt được kết quả trên, các TCTD nóichung và CTTC nói riêng cần có đội ngũ KTV không chỉ giỏi về chuyên môn nghiệp
vụ mà còn cần có đạo đức nghề nghiệp tốt Bởi vậy, các CTTC phải có chính sáchtuyển dụng, chính sách đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực khoa học, hợp lý để cóđược đội ngũ cán bộ, nhân viên có năng lực chuyên môn tốt, có ý thức kỷ luật, có tínhchuyên nghiệp cao Với đặc thù riêng của hoạt động CTTC thì mỗi nhân viên tại cácCTTC đều có trách nhiệm kiểm tra, tự kiểm tra theo quy trình nghiệp vụ, theo quyđịnh mà các CTTC đã thiết lập, đề cao ý thức chấp hành trong mọi thao tác nghiệp
vụ Trong hoạt động kiểm toán thì KTV nội bộ còn phải thực hiện quy tắc đạo đứcnghề nghiệp, đó là tính trung thực, tính khách quan, có năng lực chuyên môn, tínhbảo mật trong thực hiện nhiệm vụ
Trang 151.2.2 Cơ cấu tổ chức thực hiện kiểm toán nội bộ
KTNB thường được tổ chức theo mô hình sau:
Sơ đồ 1.1: Mô hình KTNB
Theo mô hình này, Ban kiểm soát do đại hội đồng cổ đông lựa chọn, có chứcnăng giám sát hoạt động của HĐQT và bộ máy điều hành trong việc quản lý, điềuhành công ty, kiểm tra tính hợp lý hợp pháp và mức độ cẩn trọng trong quản lý,điều hành kinh doanh, tổ chức kế toán Ban kiểm soát có trách nhiệm điều hànhhoạt động của bộ phận kiểm toán
Mô hình này được các áp dụng ở hầu hết các quốc gia phát triển và áp dụngvới các đơn vị có quy mô lớn KTNB làm việc cho ban kiểm soát, ban kiểm soátđộc lập với hội đồng quản trị Với mô hình này, KTNB là một bộ phận độc lập và
có thể phát huy cao vai trò của mình trong tổ chức Tuy nhiên điều kiện tiên quyết
để phát huy ưu việt là chất lượng đội ngũ kiểm toán viên phải tốt: KTNB được tổchức thống nhất tập trung tại Hội sở và tổ chức tại các khu vực (nếu có) do HĐQTquyết định, trực thuộc và chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Ban kiểm soát Đứng đầu bộphận KTNB là Trưởng KTNB
1.2.3 Chức năng kiểm toán nội bộ
Chức năng đánh giá: KTNB thông qua kiểm tra để thực hiện đánh giá tính đúng
đắn, trung thực và hợp pháp của các số liệu, thông tin, tài liệu được kiểm tra
Chức năng xác nhận: Thông qua kiểm tra, đánh giá, KTNB xác nhận thực trạng
Trang 16của các thông tin đã kiểm tra về tính đúng đắn, trung thực và hợp pháp của các thôngtin đó.
Chức năng kiểm tra: Là việc KTNB sử dụng các biện pháp kỹ thuật để xem xét,
đối chiếu mức độ trung thực của các thông tin, tài liệu và tính hợp pháp của việc thựchiện các nghiệp vụ hay lập các bản khai tài chính
Chức năng tư vấn: Trên cơ sở những phát hiện trong quá trình kiểm tra, đánh
giá, KTNB đề xuất và tư vấn giải pháp để khắc phục sai sót và hoàn thiện hệ thốngkiểm soát nội bộ, tư vấn các chốt chặn kiểm soát trong quy trình xử lý công việc,giúp CTTC đạt được mục tiêu kinh doanh một cách an toàn và hiệu quả
1.2.4 Vai trò kiểm toán nội bộ
Thứ nhất, KTNB là công cụ hữu hiệu nhằm giảm thiểu chi phí cho đơn vị.
Cũng giống như hầu hết các DN khác, các CTTC trong giai đoạn cạnh tranh khốcliệt nhằm theo đuổi mục tiêu tăng trưởng nóng nên đôi khi đã không cân bằng được
ba mục tiêu bắt buộc của phát triển bền vững là tăng trưởng, hiệu quả và kiểm soát.Việc đánh giá hiệu quả của các hoạt động, của các tác động cụ thể sẽ giúp cácCTTC giảm thiểu được sự lãng phí nguồn lực, tối đa hóa lợi ích KTNB sẽ là một
bộ phận có vai trò to lớn trong việc điều chỉnh hoạt động của các CTTC, luôn nằmtrong sự cân bằng của ba mục tiêu tăng trưởng, hiệu quả, kiểm soát
Thứ hai, KTNB giữ vai trò là phương thức quản lý hiệu quả, nhằm hỗ trợ việc thực hiện trách nhiệm của nhà quản lý Nhà quản lý ở các cấp độ khác nhau thực
hiện nhiệm vụ và quyền hạn của mình với mức độ trách nhiệm khác nhau Tổnggiám đốc là người định hướng các hoạt động, đưa ra các quyết định mang tính chiếnlược và đề ra các mục tiêu tổng quát trong doanh nghiệp Đồng thời tổng giám đốcphải chịu trách nhiệm về kết quả công việc của cấp dưới của mình Công việc quản
lý thường được tiến hành theo nguyên tắc cấp dưới báo cáo công việc cho cấp quản
lý cao hơn Tuy nhiên, các báo cáo này thường được thực hiện theo cách nhìn nhậncủa người quản lý cấp dưới, không theo cách nhìn nhận của người quản lý cấp cao.Hơn nữa xung đột về lợi ích tiềm ẩn trong bản thân mối quan hệ giữa chủ sở hữuvới người quản lý, giữa nhà quản lý cấp cao và cấp thấp hơn dẫn đến việc quản lý
Trang 17cấp thấp hơn luôn không báo cáo một cách toàn diện công việc thực hiện Chủ sởhữu hay nhà quản lý cần một người đóng vai trò tham mưu nhằm mục đích đánh giá
về quy trình thực hiện, thủ tục kiểm soát và hiệu quả hoạt động Người tham mưu
Thứ tư, KTNB là phương thức giúp phát hiện và cải tiến những điểm yếu trong hệ thống quản lý của doanh nghiệp Thông qua phương thức này, Ban giám
đốc và Hội đồng quản trị có thể kiểm soát tốt hơn, quản lý rủi ro tốt hơn KTNBluôn phải đánh giá tính hiệu quả của hoạt động và đánh giá năng lực của nhà quản
lý trong từng hoạt động KTNB chỉ ra những kết quả cũng như những hạn chế trong
hệ thống và đưa ra các đề xuất hoàn thiện
Thứ năm, KTNB giúp cân bằng và điều hòa những xung đột về lợi ích thường
có giữa các cổ đông và các nhà quản lý Sự tách rời giữa chủ sở hữu (các cổ đông)
và nhà quản lý (TGĐ, giám đốc) không tránh khỏi những xung đột về lợi ích giữa
họ Nhà quản lý sẽ có những mục tiêu riêng, thông thường mục tiêu đó thường đặt
họ trong sự cân nhắc giữa lợi ích cá nhân và lợi ích của tổ chức Khi đó KTNB bằngcách nhìn nhận, đánh giá một cách chuyên nghiệp và khách quan sẽ cung cấp chohội đồng quản trị về mức độ hoàn thành công việc của các nhà quản lý Từ đóKTNB giúp cân bằng và điều hòa những xung đột về lợi ích của hai bên
Như vậy, có thể nói KTNB có vai trò như một phương thức hữu hiệu của nhàquản lý, một chức năng của quản lý nhằm tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh vàtăng cường năng lực của hoạt động quản lý và kiểm soát Với vai trò này, KTNB là
Trang 18yếu tố cần đối với mọi doanh nghiệp ở mọi quy mô hoạt động Đối với các CTTC,KTNB càng thể hiện rõ vai trò của mình.
1.2.5 Nội dung thực hiện KTNB tại các Công ty Tài chính
Nội dung chính của hoạt động KTNB là kiểm tra, đánh giá tính đầy đủ, hiệulực và hiệu quả của hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ Tùy theo quy mô, mức
độ rủi ro cũng như yêu cầu cụ thể của từng CTTC, KTNB có thể rà soát, đánhgiá những nội dung sau:
- Mức độ đầy đủ, tính hiệu lực và hiệu quả của hệ thống kiểm tra, kiểm soátnội bộ
- Tính đầy đủ, kịp thời, trung thực và mức độ chính xác của hệ thống hạch toán
kế toán và các báo cáo tài chính
- Cơ chế, quy định, quy trình quản trị, điều hành, tác nghiệp của CTTC
- Việc áp dụng, tính hiệu lực, hiệu quả của các quy trình nhận dạng, phươngpháp đo lường và quản lý rủi ro, phương pháp đánh giá vốn
- Các biện pháp đảm bảo an toàn tài sản
- Cơ chế đảm bảo sự tuân thủ các quy định của pháp luật, quy định về các tỷ lệbảo đảm an toàn trong hoạt động của CTTC, các quy định nội bộ, các quy trình, quytắc tác nghiệp, quy tắc đạo đức nghề nghiệp
- Đánh giá tính kinh tế và hiệu quả các các hoạt động, tính kinh tế và hiệu quảcủa việc sử dụng các nguồn lực, qua đó xác định mức độ phù hợp giữa kết quả hoạtđộng đạt được và mục tiêu hoạt động đề ra
- Thực hiện các nội dung khác có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ củaKTNB, theo yêu cầu của Ban Kiểm toán, của Hội đồng quản trị
1.3 Phương pháp kiểm toán nội bộ hoạt động tín dụng của Công ty Tài chính 1.3.1 Các phương pháp tiếp cận đối với KTNB hoạt động tín dụng tại CTTC
Trước khi tổ chức các hoạt động KTNB cụ thể, cần nghiên cứu phương pháp tiếpcận đối với các nội dung được kiểm toán, vì đây là yếu tố ảnh hưởng tổng quát đếncách thức tiến hành các hoạt động kiểm toán Việc xác định phương pháp tiếp cận phùhợp là điều kiện quan trọng để đảm bảo hiệu quả hoạt động của KTNB tại các CTTC
Trang 19Theo Phil Griffiths, khi xem xét sự phát triển của KTNB, cụ thể là về cáchthức tiếp cận của KTNB đối với các nội dung được kiểm toán, có thể chia thành bốngiai đoạn phát triển (4 phương pháp tiếp cận) như sau:
Giai đoạn 1: Truyền thống
Cách tiếp cận đầu tiên và truyền thống nhất là cách tiếp cận chi tiết, nặngnhọc, nội dung kiểm toán chú trọng vào các hoạt động tài chính, chủ yếu mang tínhtuân thủ và bao gồm việc rà soát một số lượng rất lớn các giao dịch Thực tế trongmột số ngân hàng và CTTC, cách kiểm toán như vậy được gọi là các cuộc kiểm tra.Hiện nay phần lớn các bộ phận kiểm toán hiện đại trên thế giới không còn thực hiệncách tiếp cận tốn nhiều thời gian như vậy
Giai đoạn 2: Tiếp cận hệ thống
Giai đoạn phát triển tiếp theo của KTNB là cách tiếp cận hệ thống.Thay vìviệc chú trọng vào các địa điểm, giao dịch riêng rẽ, thì KTNB tiếp cận theo các chutrình và hệ thống trong toàn bộ tổ chức Cách tiếp cận hệ thống quan tâm đến tínhđầy đủ của các thủ tục kiểm soát hơn là việc rà soát một số lượng lớn các giao dịchđơn lẻ Đây là cách tiếp cận được đánh giá là mang tính tổng thể và xây dựng hơn
so với cách tiếp cận truyền thống
Như vậy, trong kiểm toán hoạt động, phạm vi của các rủi ro sẽ rộng hơn,không chỉ liên quan đến các thông tin kế toán, mà bao trùm lên toàn bộ các hoạtđộng của tổ chức do kiểm toán hoạt động chú trọng đánh giá tính hiệu quả và tínhhiệu lực của các qui trình kiểm soát Khi đó, KTV cần đánh giá toàn bộ các rủi rotrong hoạt động của đơn vị, từ đó xác định các thủ tục kiểm soát cần thực hiện Trên
cơ sở so sánh các thủ tục kiểm soát cần thực hiện với thực tế hoạt động của đơn vị,KTV có thể đưa ra đánh giá về tính hiệu lực và tính hiệu quả của các qui trình kiểmsoát hiện tại của tổ chức
Giai đoạn 3: Định hướng rủi ro
Đây là cách tiếp cận hiện đại đối với KTNB KTNB hiện đại được coi là cóthể kiểm toán bất cứ hoạt động nào trong tổ chức Phương pháp tiếp cận theo rủi rođược sử dụng, chú trọng vào các hoạt động/giao dịch quan trọng với tổ chức/hoạt
Trang 20động Phương pháp tiếp cận theo định hướng rủi ro quan tâm tới các mục tiêu của tổchức và các rủi ro ảnh hưởng tới các mục tiêu đó, hơn là bản thân các thủ tục kiểmsoát như trong phương pháp tiếp cận hệ thống Mối quan tâm bây giờ là toàn bộ kếtcấu của tổ chức chứ không phải là các hệ thống riêng biệt, với mục đích là xác địnhcác lĩnh vực mà trách nhiệm không được xác định rõ ràng, ví dụ như nơi có sự đanxen, chồng chéo giữa các chức năng Đây là các vấn đề mà các bộ phận kiểm toáncần hướng tới.
Giai đoạn 4: Hướng tới tương lai, hiện đại, tiên tiến
Giai đoạn phát triển này còn mang tính tiên tiến hơn nữa:
- Tìm kiếm và tiếp nhận các yêu cầu từ các bộ phận, đặc biệt là các nhiệm vụmang tính tư vấn
- Được coi là người đưa ra giải pháp hơn là người chỉ ra các vấn đề
- Hoạt động với tư cách là một đối tác, thậm chí là cố vấn cho tổ chức Đây làmột vai trò tích cực và là kết quả tất yếu của cách tiếp cận dựa trên rủi ro
Trong các phương pháp tiếp cận như đã nêu, phương pháp tiếp cận theo địnhhướng rủi ro là phương pháp đang được KTNB trên thế giới sử dụng rộng rãi hiệnnay Theo đó, KTNB xuất phát từ việc xác định, đánh giá các rủi ro của tổ chức đểxây dựng kế hoạch kiểm toán và lựa chọn các thủ tục kiểm toán nhằm đưa ra sựđảm bảo cho ban lãnh đạo về tính hiệu quả và tính hiệu lực của các qui trình quản lýrủi ro của tổ chức
Điểm khác biệt giữa phương pháp tiếp cận hệ thống và phương pháp tiếp cậntrên cơ sở đánh giá rủi ro là ở chỗ phương pháp tiếp cận rủi ro không xuất phát từcác thủ tục kiểm soát, mà xuất phát từ mục tiêu của tổ chức và các rủi ro ảnh hưởngtới mục tiêu đặt ra, từ đó đánh giá các hoạt động kiểm soát nhằm quản lý các rủi ro
đó, từ chỗ đánh giá “liệu các thủ tục kiểm soát có đầy đủ và hiệu lực hay không?”sang đánh giá “rủi ro được kiểm soát tới mức độ nào?”
Có thể thấy đây là phương pháp tiếp cận phù hợp với hoạt động của cácCTTC Hoạt động của CTTC chứa đựng nhiều rủi ro đặc biệt là hoạt động tín dụng,
có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động của công ty Đồng thời, điều kiện
Trang 21môi trường kinh tế, pháp lý thường xuyên thay đổi và các sản phẩm dịch vụ mớitrong hoạt động tín dụng liên tục được phát triển Nếu KTNB chỉ quan tâm tới bảnthân các thủ tục kiểm soát mà không chú trọng đánh giá rủi ro thường xuyên thì cóthể sẽ không nhận biết được các thay đổi từ môi trường hoạt động và không kịp thờinhận biết sự lỗi thời của các hoạt động kiểm soát.
Theo IIA, cách thức thực hiện kiểm toán trên cơ sở định hướng rủi ro củaKTNB có thể khác nhau, phụ thuộc vào trình độ phát triển của qui trình quản lý rủi
ro hiện tại của tổ chức Tại các tổ chức đã xây dựng được những qui trình quản lýrủi ro đầy đủ, KTNB dựa vào các đánh giá rủi ro hiện có của tổ chức để xây dựng
kế hoạch kiểm toán Ngược lại, nếu bản thân tổ chức chưa xây dựng được các quitrình quản lý rủi ro đầy đủ, KTNB có thể thực hiện các đánh giá của bản thân mìnhvới sự tham gia của ban quản lý đơn vị để làm cơ sở xác định các thủ tục kiểm toáncần thiết Tại các tổ chức này, KTNB có thể thực hiện chức năng tư vấn cho tổ chứctrong việc xây dựng qui trình quản lý rủi ro, bao gồm nhận dạng, đo lường và quản
lý rủi ro phù hợp
Như vậy, về cơ bản, cách thức áp dụng phương pháp tiếp cận rủi ro có thể được
áp dụng khác nhau tuỳ thuộc vào mức độ phát triển của qui trình quản lý rủi ro tíndụng tại các CTTC Tuy nhiên, điểm xuất phát của phương pháp tiếp cận này đều bắtđầu từ việc nghiên cứu các mục tiêu của CTTC Do các mục tiêu của mỗi công ty cóthể thay đổi theo từng thời kỳ, nên việc nghiên cứu các mục tiêu và các rủi ro phátsinh cần được thực hiện thường xuyên tại các CTTC Điều kiện để KTNB áp dụngphương pháp tiếp cận trên cơ sở định hướng rủi ro là: thứ nhất, KTV phải có hiểu biếtsâu sắc về các mục tiêu và các rủi ro mà CTTC phải đối mặt; thứ hai, các CTTC phảithiết lập được tương đối đầy đủ hồ sơ các rủi ro, trong đó có đánh giá về khả năng vàmức ảnh hưởng của các loại rủi ro cũng như biện pháp xử lý các rủi ro đó
Về việc vận dụng phương pháp tiếp cận theo định hướng rủi ro trong kiểmtoán hoạt động tín dụng có thể được áp dụng trong toàn bộ quá trình kiểm toán,không chỉ đối với việc lập kế hoạch kiểm toán hàng năm, mà còn trong toàn bộ quitrình kiểm toán
Trang 22Khi lập kế hoạch kiểm toán năm, kết quả đánh giá rủi ro sẽ là căn cứ để trưởng
bộ phận KTNB làm việc với Ban kiểm soát, TGĐ và HĐQT trong việc xác địnhmức độ ưu tiên đối với các đối tượng kiểm toán Các đối tượng kiểm toán sẽ đượcxếp hạng theo thứ tự rủi ro từ cao đến thấp, trong đó những đối tượng kiểm toánđược xác định là có rủi ro cao sẽ được ưu tiên tập trung nhiều nguồn lực, thời gianhơn để thực hiện kiểm toán, được kiểm toán trước và được kiểm toán thường xuyênhơn các đối tượng có rủi ro thấp Kế hoạch KTNB phải được xây dựng dựa trên kếtquả đánh giá rủi ro, và phải được thay đổi, cập nhật, điều chỉnh phù hợp với cácdiễn biến của các rủi ro đi kèm trong hoạt động của các đơn vị
Để xây dựng kế hoạch kiểm toán và lựa chọn đối tượng cụ thể của kiểm toán,KTNB có thể chấm điểm rủi ro cho các bộ phận bằng việc xây dựng mô hình đánhgiá rủi ro tín dụng Các mô hình đánh giá rủi ro cần cân nhắc tất cả các nhân tố ảnhhưởng đến rủi ro, và hạn chế yếu tố chủ quan trong quá trình đánh giá Các nhân tốảnh hưởng đến rủi ro có thể chia thành các nhóm như các nhân tố ảnh hưởng đến rủi
ro tiềm tàng (ví dụ qui mô, đặc điểm của nghiệp vụ, tính phức tạp của các qui địnhpháp lý…), và các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro kiểm soát (như kinh nghiệm của lãnhđạo bộ phận, mức độ đầy đủ của các thủ tục kiểm soát…) Dựa trên kết quả chấmđiểm rủi ro, KTNB xác định tần suất kiểm toán đối với các đơn vị được kiểm toán
Bộ phận KTNB cần phải xác định, phân tích, đánh giá những rủi ro và xây dựng
hồ sơ rủi ro cho hoạt động tín dụng tại công ty Hồ sơ rủi ro bao gồm toàn bộ các loạirủi ro, tác động có thể có của các loại rủi ro đó đối với hoạt động của công ty và khảnăng xảy ra rủi ro Dựa trên đánh giá về tác động, khả năng xảy ra của các rủi ro,từng loại rủi ro được phân loại thành các mức rủi ro cao, trung bình hoặc thấp
Khi thực hiện đánh giá rủi ro, bộ phận KTNB có thể sử dụng các công cụ như
ma trận rủi ro, mô hình chấm điểm rủi ro cho các đối tượng kiểm toán để làm cơ sởlập kế hoạch kiểm toán
Khi đánh giá từng rủi ro đơn lẻ, KTNB thường đánh giá rủi ro theo hai tiêuchí: khả năng xảy ra rủi ro và tác động của rủi ro đến hoạt động của đơn vị Hai tiêuchí này có thể được xác định trên các mức độ khác nhau (cao, thấp, trung bình) hoặc
Trang 23trên thang điểm (ví dụ từ 1 – 5) cho mỗi tiêu chí Sau đó tổng điểm của mỗi rủi ro
có thể được xác định bằng tổng hoặc tích số của hai tiêu chí trên để làm cơ sở xếphạng rủi ro
Trong quá trình thực hiện kiểm toán hoạt động tín dụng, KTV dựa trên việcxác định và đánh giá rủi ro cụ thể tại từng bộ phận nghiệp vụ để xác định thủ tụckiểm toán phù hợp Ví dụ, khi thực hiện kiểm toán nghiệp vụ tín dụng tại CTTC,KTV cần xác định các rủi ro cụ thể trong qui trình nghiệp vụ và đánh giá sự thíchhợp của thủ tục kiểm soát và các biện pháp giảm thiểu rủi ro mà đơn vị được kiểmtoán đang áp dụng để hạn chế ảnh hưởng của các rủi ro này, từ đó đề xuất các kiếnnghị để hoàn thiện qui trình nghiệp vụ Do vậy, việc xác định đầy đủ các rủi ro tạitừng bộ phận nghiệp vụ là rất quan trọng để có thể áp dụng phương pháp tiếp cậnrủi ro có hiệu quả
Phương pháp tiếp cận dựa trên rủi ro có thể được áp dụng trong tất cả các loạihình kiểm toán Cho dù thực hiện loại hình kiểm toán nào, KTNB cũng cần dựa trên
cơ sở đánh giá rủi ro để lập kế hoạch kiểm toán, ưu tiên thực hiện kiểm toán cáchoạt động rủi ro nhất đối với tổ chức KTV cần đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếutrong các cơ sở dẫn liệu đối với từng loại nghiệp vụ, số dư khoản mục hoặc các giảitrình liên quan
Ví dụ, khi kiểm toán nghiệp vụ tín dụng tại CTTC, KTV đánh giá rủi ro có saisót trọng yếu liên quan đến việc thẩm định cấp tín dụng, KTV cần mở rộng phạm vicác thủ tục kiểm tra chi tiết trên các khoản tín dụng để thu thập đầy đủ bằng chứngthích hợp về các rủi ro liên quan đến các thủ tục thẩm định cấp tín dụng
Có thể nhận thấy những ưu điểm của phương pháp tiếp cận dựa trên cơ sởđánh giá rủi ro theo những nội dung sau:
Thứ nhất, KTV chủ động trong việc nhận diện, đánh giá rủi ro và thiết kế các
thủ tục kiểm toán trên cơ sở đánh giá rủi ro ngay từ khi bắt đầu cuộc kiểm toán.Điều này giúp tăng cường vai trò của KTNB với tư cách là một sự trợ giúp để tổchức hoàn thành mục tiêu của mình trong việc đưa ra sự đảm bảo về tính hiệu quả
và tính hiệu lực của các qui trình hoạt động, đặc biệt là trong môi trường kinh doanhnhiều biến động, các rủi ro ngày càng đa dạng và thể hiện trong nhiều hình thái
Trang 24khác nhau, các thủ tục kiểm soát có xu hướng lạc hậu theo thời gian;
Thứ hai, tăng tính hiệu quả của KTNB Bằng việc chấm điểm các rủi ro và xác
định tần suất kiểm toán trên cơ sở mức độ rủi ro giúp KTNB phân bổ các nguồn lựcKTNB một cách hiệu quả nhất Trọng tâm của hoạt động KTNB được đặt vàonhững lĩnh vực nhiều rủi ro nhất đối với tổ chức Nó không chỉ giúp xác định cácrủi ro chưa được kiểm soát đầy đủ, mà còn giúp xác định các rủi ro không đáng kểđã bị kiểm soát quá mức, gây lãng phí nguồn lực của tổ chức
Thứ ba, giúp tăng cường mối quan hệ giữa KTNB với các nhà quản lý Với
cách tiếp cận này, KTNB và các nhà quản lý cùng xuất phát từ mục tiêu của tổchức, các mối đe dọa đối với việc đạt được mục tiêu, từ đó xác định cách thức kiểmsoát các rủi ro Điều này giúp nâng cao ý nghĩa của hoạt động KTNB và cải thiện sựhợp tác giữa KTNB với các nhà quản lý
Từ những phân tích trên có thể thấy, phương pháp tiếp cận theo rủi ro là mộtphương pháp tiếp cận ưu việt, giúp KTV nhận biết được các rủi ro và xác định cáclĩnh vực cần ưu tiên Phương pháp tiếp cận này đặc biệt phù hợp với các CTTC, làloại hình doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nhạy cảm, rủi ro
1.3.2 Các phương pháp kiểm toán đối với KTNB hoạt động tín dụng của CTTC
Trên cơ sở xác định phương pháp tiếp cận kiểm toán như đã nêu ở phần trên,KTNB tiến hành kiểm toán Quá trình KTNB thực chất là quá trình áp dụng cácphương pháp kỹ thuật, nghiệp vụ vào việc kiểm tra thực tế nhằm thu thập các bằngchứng kiểm toán đầy đủ và thích hợp làm cơ sở cho các ý kiến nhận xét về cácthông tin được kiểm toán thông qua việc tuân thủ các phương pháp kiểm toán củaKiểm toán viên khi tác nghiệp
Có thể chia hệ thống phương pháp KTNB hoạt động tín dụng tại CTTC thànhhai loại là phương pháp kiểm toán cơ bản và phương pháp kiểm toán tuân thủ đượcnêu dưới đây
1.3.2.1 Phương pháp kiểm toán cơ bản
Phương pháp kiểm toán cơ bản là các phương pháp được thiết kế và sử dụngnhằm mục đích thu thập các bằng chứng có liên quan đến các dữ liệu do hệ thống kếtoán xử lý và cung cấp
Trang 25Đặc trưng cơ bản của phương pháp này là việc tiến hành các thử nghiệm, cácđánh giá đều được dựa vào các số liệu, các thông tin trong báo cáo tài chính và hệthống kế toán của đơn vị Vì vậy phương pháp kiểm toán cơ bản còn được gọi là cácbước kiểm nghiệm theo số liệu
Phương pháp kiểm toán cơ bản bao gồm các bước:
Phương pháp phân tích đánh giá tổng quát:
Phương pháp này là việc phân tích các số liệu, thông tin, các tỷ suất quantrọng, qua đó tìm ra những xu hướng, biến động, để phát hiện ra những thay đổitrọng yếu, những biến động bất thường và tìm ra các mối quan hệ có mâu thuẫn vớicác thông tin liên quan khác hoặc có sự chênh lệch lớn so với giá trị đã dự kiến, tìm
ra những khoản mục, nội dung có rủi ro lớn Phương pháp phân tích bao gồm những
so sánh chủ yếu sau:
- Phân tích so sánh về lượng trên cùng một chỉ tiêu (còn gọi là phân tíchngang) phương pháp này đơn giản nhưng không thể hiện mối quan hệ giữa các chỉtiêu Ví dụ như:
+ So sánh số liệu kỳ này với kỳ trước hoặc giữa các kỳ với nhau
+ So sánh số liệu thực tế với số liệu kế hoạch, số liệu dự toán
+ Phân tích một số liệu kỳ này thành các số liệu chi tiết để so sánh
So sánh số liệu giữa các đơn vị thành viên với nhau, hoặc so sánh giữa cácchỉ tiêu của đơn vị với các chỉ tiêu bình quân trong ngành
- Phân tích tỷ suất (còn gọi là phân tích dọc) bằng cách so sánh, xác định tỷ lệtương quan giữa các chỉ tiêu, các khoản mục khác nhau Tuỳ theo kiến thức và kinhnghiệm nghề nghiệp, kiểm toán viên có thể tính toán, phân tích nhiều mặt một số tỷsuất cần thiết cho việc nhận xét của mình
Kỹ thuật phân tích dọc còn có thể sử dụng để nghiên cứu các mối quan hệ giữathông tin tài chính và những thông tin phi tài chính Các thông tin phi tài chính làcác dữ liệu kinh tế kỹ thuật do các hệ thống hạch toán nghiệp vụ, thống kê cungcấp Giữa các thông tin này với các thông tin tài chính có những quan hệ nhất định.Dựa trên một quan hệ hợp lý giữa chúng, kiểm toán viên có thể phát hiện nhiều sai
Trang 26sót và những vấn đề bất thường Chẳng hạn, có thể so sánh quan hệ giữa chi phí tiềnlương và số lượng lao động của doanh nghiệp, so sánh giữa số tồn kho của một sốloại vật tư với khả năng chứa đựng của hệ thống kho tàng trong đơn vị
- Khi thực hiện phương pháp phân tích, cần tiến hành các bước nội dungcông việc như xây dựng mục tiêu cụ thể cho việc áp dụng phương pháp phân tích,giúp thiết kế các thể thức phân tích thích hợp, hiệu quả Thiết kế các hình thức phântích gồm 3 nội dung:
- Tiến trình phân tích bao gồm nội dung công việc sau:
+ Dựa trên thiết kế các hình thức phân tích, tiến hành tính toán, so sánh sốliệu, thông tin nhằm phát hiện những sai sót và giao động bất thường
+ Xếp loại các kết quả nghiên cứu theo nguyên tắc quyết định;
+ Tiến hành các thủ tục tiếp theo (thảo luận với Ban lãnh đạo, điều tra tiếphoặc không điều tra )
- Phân tích đánh giá tổng quát là phương pháp kiểm toán có hiệu quả cao vìthời gian ít, chi phí thấp mà nhiều tác dụng Kỹ thuật phân tích thường được cáckiểm toán viên cấp cao tiến hành và thường là kỹ thuật được áp dụng đầu tiên chomọi cuộc kiểm toán Trong một số trường hợp, kiểm toán viên có thể chỉ cần ápdụng phương pháp phân tích là đã có thể rút ra những nhận xét cần thiết mà khôngcần áp dụng thêm thủ tục kiểm toán nào khác Tuy nhiên, cần lưu ý:
+ Mối quan hệ bản chất giữa các chỉ tiêu được so sánh, các chỉ tiêu này phảiđồng nhất về nội dung phương pháp tính, giữa chúng phải có mối quan hệ nhất địnhvới nhau
+ Những khoản mục hoặc chỉ tiêu trọng yếu không chỉ sử dụng phương pháp
Trang 27phân tích mà cần kết hợp với các phương pháp khác để tìm bằng chứng kiểm toánthích hợp.
+ Cần thận trọng khi sử dụng phương pháp phân tích trong trường hợp hệthống kiểm soát nội bộ đơn vị yếu kém
Phương pháp phương trình:
Là phương pháp dựa trên các cân đối (phương trình) kế toán và các cân đốikhác để kiểm toán các mối quan hệ nội tại của các yếu tố cấu thành quan hệ cân đối
đó Các bước tiến hành phương pháp này như sau:
- Chuẩn bị xác lập các chỉ tiêu có quan hệ cân đối cần kiểm toán và xác địnhphạm vi, nguồn tài liệu, chứng từ cần thu thập
- Thực hiện thu thập các tài liệu, chứng từ tương ứng với nội dung của cáccân đối và tổng hợp đối chiếu lên bảng cân đối thử để tìm ra những quan hệ kinh tế,tài chính bị mất cân đối hoặc có những biểu hiện bất thường khác
- Sau khi thu thập bằng chứng bằng phương pháp cân đối, thực hiện cácbước sau:
+ Phân tích, tìm nguyên nhân của những mất cân đối hoặc những biểu hiệnbất thường
+ Kết luận về tính chính xác của các tài liệu, số liệu hoặc mở rộng phạm vi,điều chỉnh phương pháp thu thập bằng chứng kiểm toán khác để tìm nguyên nhânhoặc kết luận và những sai sót vi phạm của đơn vị được kiểm toán
Phương pháp kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ và các số dư tài khoản:
- Đây là phương pháp kiểm toán nhằm kiểm tra và ghi chép từng loại hoạtđộng kinh doanh của đơn vị Phương pháp này thích hợp để kiểm tra các đơn vị cóquy mô nhỏ, các loại nghiệp vụ có tính chất không phức tạp, hoặc những bộ phận,những khoản mục “nhạy cảm” trong kinh doanh (như tiền mặt, chứng khoán, cácloại vật tư, hàng hoá quý hiếm )
- Phương pháp này không thích hợp với quy mô hoạt động và khối lượnggiao dịch nhiều Đối với các trường hợp này, kiểm toán viên không kiểm tra chi tiếttoàn bộ các nghiệp vụ và các số dư tài khoản mà thực hiện kiểm tra chi tiết chủ yếu
Trang 28dựa trên cơ sở chọn mẫu một số nghiệp vụ cùng loại, trong đó kỹ thuật lấy mẫukiểm toán không những được sử dụng để thử nghiệm chi tiết các nghiệp vụ và số dưtài khoản mà còn được dùng để thử nghiệm chi tiết các loại kiểm soát của đơn vị, đó
là phương pháp kiểm toán tuân thủ
1.3.2.2 Phương pháp kiểm toán tuân thủ
Phương pháp kiểm toán tuân thủ là các thủ tục và kỹ thuật kiểm toán đượcthiết lập để thu thập các bằng chứng về tính đầy đủ và hiệu quả của hệ thống kiểmsoát nội bộ đơn vị
Đặc trưng của phương pháp kiểm toán tuân thủ:
+ Các thử nghiệm và kiểm tra đều dựa vào các quy chế kiểm soát trong hệthống kiểm soát nội bộ của đơn vị Nếu hệ thống kiểm soát nội bộ được đánh giá làmạnh, là hiệu quả và kiểm soát viên có thể tin tưởng thì công việc kiểm toán cầndựa vào các quy chế kiểm soát
+ Công việc kiểm toán được dựa vào hệ thống kiểm soát nội bộ nên phươngpháp kiểm toán tuân thủ còn được gọi là bước kiểm nghiệm dựa vào kiểm soát.Tuỳ thuộc mức thoả mãn về kiểm soát, kiểm toán viên có thể áp dụng cácphương pháp kiểm toán tuân thủ cụ thể sau:
Phương pháp thực nghiệm (trắc nghiệm):
Đây là phương pháp tái diễn các hoạt động hay nghiệp vụ để xác minh lại kếtquả của một quá trình, một sự việc đã qua, hoặc sử dụng thủ pháp kỹ thuật nghiệp
vụ để tiến hành các phép thử nhằm xác định một cách khách quan chất lượng côngviệc, mức độ chi phí Các bước thực nghiệm tiến hành như sau:
+ Chuẩn bị thực nghiệm gồm: xác định mục đích, nội dung của thực nghiệm,chuẩn bị các điều kiện về nhân lực, phương tiện, dụng cụ, vật tư thực nghiệm và cácphương tiện đo lường, đánh giá và xây dựng quy trình thực nghiệm
+ Tiến hành thực nghiệm gồm thực hiện các quy trình thực nghiệm đã được xâydựng, thống kê, tính toán, đo lường các chỉ tiêu, thông số, kết quả của quá trình thựcnghiệm So sánh số liệu, thông tin được rút ra từ thực nghiệm với các số liệu thông tintrong sổ sách, chứng từ tìm ra các sai lệch giữa hai loại số liệu và thông tin trên
Trang 29+ Phân tích và tìm nguyên nhân những sai lệch giữa số liệu, thông tin giữathực nghiệm và sổ sách, kết luận về những số liệu, thông tin đảm bảo chính xác trên
sổ sách hoặc mở rộng, điều chỉnh phương pháp kiểm toán để tìm nguyên nhân hoặckết luận về những sai sót, vi phạm của đơn vị liên quan đến những sai lệch trên sổsách, chứng từ
- Các thử nghiệm chi tiết đối với kiểm soát:
+ Là các thử nghiệm được tiến hành để thu thập bằng chứng về sự hữu hiệucủa các quy chế kiểm soát và các bước kiểm soát, làm cơ sở cho việc thiết kếphương pháp kiểm toán cơ bản, việc tiến hành hay không tiến hành các thử nghiệmchi tiết về kiểm soát phụ thuộc vào việc đánh giá lại rủi ro kiểm soát sau khi đã ápdụng kỹ thuật kiểm tra hệ thống
+ Nếu mức độ rủi ro kiểm soát được đánh giá là không cao hoặc kiểm toánviên xét thấy có thể giảm được rủi ro kiểm soát đã đánh giá sơ bộ khi lập kế hoạchxuống một mức thấp hơn, kiểm toán viên sẽ tiến hành các thử nghiệm chi tiết vềkiểm soát cần thiết để có được bằng chứng về sự hữu hiệu tương ứng của kiểm soátnội bộ Đây là cơ sở để kiểm toán viên giới hạn phạm vi của các thử nghiệm cơ bảnphải tiến hành (nhất là các thử nghiệm chi tiết về nghiệp vụ và số dư tài khoản) đốivới các khoản mục liên quan
+ Ngược lại, nếu mức rủi ro kiểm soát được đánh giá ở mức cao và xét thấykhông có khả năng giảm được trong thực tế, kiểm toán viên sẽ không thực hiện cácthử nghiệm chi tiết về kiểm soát mà phải tiến hành ngay các thử nghiệm cơ bản ởmức độ phù hợp
Đây là giai đoạn mà công việc mang tính chủ quan, tuỳ thuộc vào bản lĩnhnghề nghiệp và sự xét đoán của kiểm toán viên
+ Các thử nghiệm chi tiết đối với kiểm soát (kiểm soát độc lập và quản lý,kiểm soát xử lý, kiểm soát để bảo vệ tài sản) chủ yếu cũng được thực hiện trên cơ
sở kiểm tra mẫu các quy chế kiểm soát nội bộ
Ngoài ra, phương pháp này còn kết hợp với các biện pháp quan sát trực tiếp,phỏng vấn và kiểm tra đối chiếu để bổ sung cho kỹ thuật lấy mẫu kiểm toán
Trang 30 Phương pháp kiểm tra, đối chiếu:
Đây là phương pháp thu thập bằng chứng thông qua việc xem xét, rà soát,đối chiếu giữa các tài liệu, số liệu liên quan đến nhau, bao gồm:
- Đối chiếu trực tiếp: Là việc đối chiếu về mặt lượng của cùng một chỉ tiêutrên các nguồn tài liệu khác nhau như các chứng từ kế toán để tìm ra các sai sótgian lận
- Đối chiếu logic: Là việc nghiên cứu các mối quan hệ bản chất giữa các chỉtiêu có mối quan hệ với nhau thông qua việc xem xét mức biến động tương ứng về
tỷ số của các chỉ tiêu có quan hệ kinh tế trực tiếp, song có thể ở mức biến động khácnhau và có thể theo các hướng khác nhau
Hai phương pháp đối chiếu này thường được kết hợp chặt chẽ nhau trong quátrình kiểm toán
- Các nguồn tài liệu để đối chiếu, so sánh:
+ Đối chiếu trên các sổ sách kế toán
+ Đối chiếu trên sổ kế toán với số liệu kiểm kê thực tế
+ Đối chiếu trên số kế hoạch với thực hiện
+ Đối chiếu trên quyết định với thực hiện
- Hai loại kiểm tra, đối chiếu (kiểm tra vật chất và kiểm tra tài liệu)
Kiểm tra, đối chiếu vật chất là quá trình kiểm kê hoặc tham gia kiểm kê tài sảnhữu hình của kiểm toán viên như kiểm kê hàng tồn kho, kiểm kê tài sản cố định hữuhình, kiểm kê tiền mặt tồn quỹ, khi thu thập bằng chứng theo phương pháp kiểm travật chất Theo đó cần lưu ý:
+ Chưa đủ bằng chứng để chứng minh tài sản hiện có thuộc quyền sở hữu của ai.+ Chưa đủ căn cứ phán xét chất lượng, tình trạng kỹ thuật, mức độ hao mòn,tính lỗi thời của tài sản
+ Để đảm bảo hiệu quả của công tác kiểm kê, cần căn cứ vào tính chất củacác loại vật tư, tài sản cần kiểm kê, số lượng giá trị, đặc tính kinh tế, kỹ thuật đểlựa chọn một loại hình kiểm kê tối ưu (kiểm kê toàn diện, kiểm kê điển hình hoặckiểm kê chọn mẫu)
Trang 31Các bước kiểm kê được tiến hành như sau:
+ Chuẩn bị kiểm kê bao gồm xác định đối tượng kiểm kê, quy mô thời gian,loại hình kiểm kê và chuẩn bị các điều kiện cho kiểm kê: cán bộ nhân viên, chuyêngia kỹ thuật các phương tiện kỹ thuật và đo lường
+ Thực hiện kiểm kê bao gồm thực hiện cân, đong, đo đếm và ghi chép sốlượng, giá trị, chất lượng, phân biệt theo từng mã cân hoặc lô vật tư tài sản và tổnghợp hệ thống số liệu kiểm kê theo từng khoản mục tập hợp lại các chứng từ kiểm
kê (phiếu kiểm kê), đồng thời so sánh đối chiếu các số liệu kiểm kê với số liệu trêncác sổ sánh kế toán, tìm ra những sai lệch giữa hai số liệu trên
+ Các công việc sau kiểm kê gồm phân tích, tìm nguyên nhân của những sailệch về vật tư, tài sản giữa số liệu kiểm kê và số liệu trên sổ sách, kết luận nhữngchỉ tiêu đảm bảo được sự chính xác, hoặc mở rộng phạm vi điều chỉnh, phươngpháp kiểm toán để tìm nguyên nhân hoặc kết luận về những sai sót, vi phạm củađơn vị liên quan đến những sai lệch về vật tư, tài sản (cả về phản ánh trên sổ sách,
tổ chức quản lý, bảo quản sử dụng)
- Kiểm tra, đối chiếu tài liệu:
Là quá trình soát xét của kiểm toán viên thông qua việc kiểm tra, đối chiếu cácchứng từ, tài liệu, sổ kế toán, các văn bản có liên quan đến báo cáo tài chính Khithực hiện cần lưu ý:
+ Độ tin cậy của tài liệu chứng minh phụ thuộc vào nguồn gốc của tài liệu,nếu sự độc lập của tài liệu thu thập được đối với đơn vị được kiểm toán càng cao thì
độ tin cậy của tài liệu chứng minh càng cao
+ Đề phòng các tài liệu thu thập được bị nguồn cung cấp xuyên tạc, sửa chữa,tẩy xoá hoặc giả mạo làm mất tính trung thực, khách quan của tài liệu, do vậy cầnphải có sự kiểm tra, xác minh thông qua các phương pháp khác
Các bước áp dụng phương pháp kiểm tra đối chiếu tài liệu như sau:
+ Chuẩn bị đối chiếu gồm: xác định chỉ tiêu cần đối chiếu, thu thập các tàiliệu và chứng từ gắn với các chỉ tiêu đã xác định cần phải đối chiếu
+ Thực hiện kiểm tra đối chiếu gồm: soát xét các tài liệu, chứng từ, tính toán
Trang 32và tiến hành so sánh đối chiếu trực tiếp hay đối chiếu logic, tổng hợp các chỉ tiêu đãđối chiếu, chỉ ra các sai lệch về các chỉ tiêu.
+ Các công việc sau kiểm tra đối chiếu gồm phân tích, tìm nguyên nhân củanhững sai lệch và kết luận về những chỉ tiêu đảm bảo được chính xác hoặc mở rộngphạm vi, điều chỉnh phương pháp để tìm nguyên nhân hoặc kết luận về những saisót vi phạm của đơn vị liên quan đến các chỉ tiêu có sai lệch
- Phải kết hợp với các phương pháp khác
- Quan sát thực tế sẽ cung cấp bằng chứng có độ tin cậy cao nhưng bằng chứng
đó không thể hiện tính chắc chắn ở các thời điểm khác ngoài thời điểm quan sát
Phương pháp thẩm tra và xác nhận:
Là phương pháp thu thập các bản xác nhận của những người có trách nhiệmhoặc liên quan đến công việc và nội dung kiểm toán ở trong hay ngoài đơn vị kiểmtoán như xác nhận của người bán và người phải trả, xác nhận của khách hàng về số
dư tiền gửi tại TCTD, xác nhận của người tạm ứng về số dư trên tài khoản tạmứng Khi thực hiện cần lưu ý không phải tất cả các đối tượng hoặc tình huống đềucần bằng chứng xác nhận, các xác nhận chủ yếu là các khoản phải thu, phải trả, tiềngửi TCTD, tài sản ký quỹ thế chấp
- Các bằng chứng thu thập được thông qua phương pháp thẩm tra, xác nhận
để có đủ độ tin cậy thì phải đảm bảo các yêu cầu:
+ Thông tin cần xác nhận phải theo yêu cầu của kiểm toán viên
+ Sự xác nhận phải thực hiện bằng văn bản
+ Sự độc lập của người xác nhận thông tin
+ Kiểm toán viên phải kiểm soát được toàn bộ quá trình thu thập, xác nhậnbằng chứng
Trang 33Phương pháp phỏng vấn:
Là phương pháp thu thập thông tin của kiểm toán viên thông qua việc trao đổi,phỏng vấn những người trong và ngoài đơn vị kiểm toán có liên quan nội dungkiểm toán Việc phỏng vấn có thể được thực hiện dưới dạng vấn đáp hoặc văn bản
kỹ thuật Trong đó cần lưu ý :
- Trước khi phỏng vấn cần xác định mục đích, nội dung, đối tượng, thời gian,địa điểm phỏng vấn
- Khi thực hiện phỏng vấn cần coi trọng kỹ thuật đặt câu hỏi, câu hỏi gọn, rõnội dung và mục đích cần đạt được Ghi chép hoặc ghi lại bằng chứng (phản ứng,ghi âm, thu thập thêm chứng cứ )
- Chú ý đến sự khách quan và hiểu biết của người được phỏng vấn để cónhững kết luận đúng đắn phục vụ tốt cho mục đích kiểm toán
Phương pháp tính toán:
Là việc kiểm tra tính chính xác về mặt toán học của số liệu chứng từ, sổ kếtoán, báo cáo tài chính và các tài liệu liên quan khác hay việc thực hiện các tínhtoán độc lập của kiểm toán viên
1.3.3 Quy trình KTNB hoạt động tín dụng của Công ty Tài chính
Xây dựng và thực thi quy trình KTNB bao gồm các bước công việc theo trình
tự, thủ tục phù hợp với diễn biến khách quan của hoạt động KTNB, nhằm địnhhướng cho toàn bộ hoạt động KTNB cũng như cho một cuộc KTNB, đồng thời làm
cơ sở cho việc quản lý hoạt động KTNB
Quy trình KTNB thường được xây dựng để áp dụng chung cho kiểm toántất cả các hoạt động Kiểm toán từng hoạt động cụ thể thường có bộ hướng dẫnchi tiết riêng về các thủ tục kiểm toán để KTV thực hiện Vì vậy sẽ không có quytrình riêng cho KTNB hoạt động tín dụng mà áp dụng chung theo quy trìnhKTNB Thông thường quy trình chung của KTNB gồm các bước cơ bản theo sơ
đồ sau:
Trang 34Sơ đồ 1.2: Quy trình kiểm toán nội bộ
Giai đoạn 1: Lập kế hoạch KTNB:
Kế hoạch KTNB được lập với hai cấp độ:
ro hơn, giúp cho các cuộc kiểm toán được thực hiện một cách hiệu quả, tiết kiệmthời gian chi phí và đạt được mục tiêu đề ra
Kế hoạch kiểm toán năm bao gồm các định hướng cơ bản, nội dung trọng tâm
và phương pháp tiếp cận chung của các cuộc KTNB trong năm, xác định đối tượngkiểm toán cũng như tần suất thực hiện kiểm toán tại các đối tượng cụ thể
Khi lập kế hoạch kiểm toán năm, KTNB thực hiện các công việc sau đây:
Thứ nhất: Thống nhất mục tiêu kiểm toán
Việc xác định mục tiêu kiểm toán có ý nghĩa rất quan trọng trong qui trình lập
kế hoạch kiểm toán Mục tiêu kiểm toán sẽ quyết định phương pháp và thủ tục kiểmtoán cần tiến hành, nhân lực và thời gian dự kiến cho cuộc kiểm toán Công việcnày đòi hỏi KTNB phải có hiểu biết rõ ràng về các mục tiêu và những yêu cầu củanhà quản lý Mục tiêu kiểm toán có thể xác định ở các mức độ khác nhau, và thayđổi trong từng trường hợp cụ thể Mục tiêu kiểm toán có thể là đánh giá tính tuânthủ trong từng đơn vị, hoặc ở mức độ cao hơn là đề xuất giải pháp cải tiến các hoạtđộng cụ thể
Giai đoạn 1
Lập kế hoạch kiểm
toán nội bộ
Giai đoạn 2Thực hiện kiểm toán nội bộ
Giai đoạn 3Lập báo cáo kiểm toán nội bộ
Giai đoạn 4Theo dõi sau kiểm
toán
Trang 35Mục tiêu kiểm toán được xác định trên cơ sở:
- Đánh giá rủi ro và đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của các Ban, Phòng tạiHội sở chính, các Đơn vị thành viên
- Kết quả kiểm toán độc lập, KTNB lần trước
- Mục tiêu, định hướng hoạt động của Công ty trong năm
- Các thông tin tổng quan tác động đến hoạt động CTTC
- Mục tiêu, định hướng phát triển của KTNB
- Các yêu cầu khác của Hội đồng Quản trị
Khi xây dựng mục tiêu kiểm toán, cần quan tâm đến ngân sách cho hoạt độngkiểm toán và nguồn nhân lực KTNB Nếu yêu cầu của các nhà quản lý vượt xa sovới ngân sách và nguồn nhân lực hiện có của KTNB, thì trưởng bộ phận KTNB cầntrao đổi với các nhà quản lý để xác định mục tiêu phù hợp, đồng thời xây dựng kếhoạch phát triển nguồn lực KTNB về cả chất lượng cũng như số lượng để có thể đápứng các yêu cầu quản lý
Thứ hai: Xác định cách thức tổ chức kiểm toán
Sau khi thống nhất mục tiêu, KTNB xác định cách thức tổ chức kiểm toán.Những nội dung cần quan tâm khi xác định cách thức tổ chức kiểm toán là: bố trínhân sự, phạm vi và các thủ tục kiểm toán, cách thức báo cáo phát hiện kiểm toán,mức độ, phạm vi thực hiện các hoạt động kiểm toán và thời gian thực hiện
Thứ ba: Thu thập thông tin tổng quan tác động đến hoạt động CTTC
Thu thập thông tin tổng quan tác động đến hoạt động CTTC đối tượng kiểmtoán là cơ sở để lập kế hoạch kiểm toán KTV cần thu thập các thông tin về môitrường kinh doanh tác động đến các lĩnh vực hoạt động chủ yếu của CTTC như cácbiến động của môi trường kinh tế vĩ mô, tỷ giá, lãi suất, các thay đổi trong môitrường pháp lý như các qui định của chính phủ, NHNN, những thay đổi nội bộ ảnhhưởng đến hoạt động của toàn hệ thống, kết quả hoạt động kinh doanh của công ty,thông tin về chiến lược, hoạt động của các đối thủ cạnh tranh Khi môi trường kinh
tế, pháp lý có những biến động lớn, KTNB cần chú trọng đánh giá ảnh hưởng củacác yếu tố này tới hoạt động của CTTC
Trang 36Thứ tư: Đánh giá rủi ro
Mục tiêu của việc đánh giá rủi ro là nhằm lập kế hoạch kiểm toán trên cơ sởnhận thức và đánh giá các rủi ro lớn nhất Thông qua đánh giá rủi ro, thời giankiểm toán, nhân sự kiểm toán và phạm vi kiểm toán sẽ được ước tính một cách rõràng, có cơ sở Các nguồn lực kiểm toán sẽ được ưu tiên tập trung cho các lĩnhvực nhiều rủi ro
Như đã trình bày ở trên, để xây dựng kế hoạch kiểm toán trên cơ sở địnhhướng rủi ro, KTNB tại các CTTC cần xây dựng mô hình đánh giá rủi ro phù hợp.KTNB có thể thực hiện đánh giá, chấm điểm rủi ro của các qui trình nghiệp vụtheo các tiêu chí về qui mô, mức độ phức tạp, trình độ kinh nghiệm của lãnh đạo cũngnhư nhân viên của các bộ phận…, từ đó xếp hạng mức độ rủi ro của từng qui trình
Thứ năm: Lập kế hoạch kiểm toán năm
Dựa trên kết quả đánh giá rủi ro, KTNB lập kế hoạch kiểm toán, trong đó xácđịnh đối tượng, tần suất và nhân sự cho các cuộc kiểm toán Những qui trình nghiệp
vụ được đánh giá là có mức rủi ro cao cần được kiểm toán thường xuyên, ví dụ tốithiểu 6 tháng/lần Ngoài kết quả đánh giá rủi ro, KTNB có thể dựa vào một số yếu
tố khác để lập kế hoạch, chẳng hạn các vấn đề đã được phát hiện trong lần kiểmtoán trước, các yêu cầu cụ thể của cấp quản lý hoặc BKS, hoặc của cơ quan giámsát hoạt động ngân hàng
Bên cạnh đó, kế hoạch kiểm toán năm phải dự phòng quỹ thời gian để thựchiện các cuộc kiểm toán đột xuất khi có yêu cầu của Ban Kiểm soát, của Hội đồngQuản trị hoặc khi có các thông tin về dấu hiệu sai phạm nghiêm trọng, dấu hiệu rủi
ro cao ở các đối tượng kiểm toán
Kế hoạch từng cuộc KTNB:
Kế hoạch từng cuộc kiểm toán là kế hoạch kiểm toán được lập các cuộc kiểmtoán tại từng bộ phận, nghiệp vụ trong CTTC (bao gồm cả cuộc kiểm toán đột xuất vàkiểm toán định kỳ theo kế hoạch) nhằm chỉ đạo tổ chức thực hiện các hoạt động cụthể của cuộc kiểm toán Căn cứ để xây dựng kế hoạch cuộc kiểm toán là kế hoạchkiểm toán năm được phê duyệt và đặc điểm của bộ phận, đơn vị được kiểm toán
Trang 37Giai đoạn này gồm các nội dung sau:
Thứ nhất: Thực hiện nghiên cứu sơ bộ.
Trước khi bắt đầu công việc ở một đơn vị cụ thể, KTV cần thực hiện quá trìnhthẩm tra tình hình chung tại đơn vị và một số tài liệu liên quan Những vấn đề đượcnghiên cứu trong bước này bao gồm:
- Tiến hành thẩm tra hồ sơ kiểm toán và báo cáo kết quả kiểm toán các năm trước
- Tìm hiểu tình hình tổ chức của đơn vị, tiếp xúc và phỏng vấn nhân viên
- Tìm hiểu hệ thống KSNB của đơn vị, bao gồm việc mô tả, phân tích và đánhgiá hệ thống KSNB, qua đó đánh giá rủi ro kiểm soát
Thứ hai: Lập kế hoạch cuộc kiểm toán và thiết kế chương trình kiểm toán.
Dựa vào kết quả nghiên cứu sơ bộ, KTV xác định bản chất và nội dung côngviệc KTNB phải thực hiện và xây dựng kế hoạch cuộc kiểm toán Nội dung kếhoạch cuộc kiểm toán là sự cụ thể hóa kế hoạch KTNB năm về thời gian, côngviệc, nhân sự, phạm vi và mục tiêu kiểm toán Trên cơ sở kế hoạch cuộc kiểmtoán, KTV tiến hành thiết kế chương trình KTNB đối với từng đối tượng kiểmtoán Chương trình kiểm toán là toàn bộ các chỉ dẫn cho KTV tham gia vào côngviệc kiểm toán, là căn cứ phân công, ghi chép theo dõi kiểm tra tình hình thực hiệnkiểm toán Chương trình kiểm toán là căn cứ để đánh giá chất lượng công việckiểm toán và là minh chứng pháp lý để chứng minh công việc kiểm toán đã đượcthực hiện một cách phù hợp Chương trình kiểm toán xác định nội dung, lịch trình
và phạm vi của các thủ tục kiểm toán cần thực hiện, trong đó quan trọng nhất lànội dung các thủ tục kiểm toán đối với từng phần hành kiểm toán
Giai đoạn 2: Thực hiện kiểm toán:
Thực hiện KTNB là quá trình thực hiện đồng bộ các công việc đã xác địnhtrong kế hoạch, chương trình KTNB Bằng việc áp dụng các phương pháp kiểmtoán thích hợp, KTV thu thập và phân tích các bằng chứng kiểm toán làm cơ sởchứng minh cho kết quả kiểm toán từ các nguồn khác nhau
Ngoài hoạt động trung tâm của giai đoạn thực hiện kiểm toán là thu thập bằngchứng kiểm toán để đưa ra các phát hiện kiểm toán thì hai nhiệm vụ hết sức quan
Trang 38trọng trong giai đoạn này là hoạt động kiểm tra, soát xét kiểm toán và hoạt độngtổng hợp, phân tích các bằng chứng kiểm toán và các phát hiện kiểm toán Trongquá trình thực hiện kiểm toán, kế hoạch kiểm toán có thể phải điều chỉnh:
Ví dụ: Khi rủi ro thực tế là cao hơn đánh giá ban đầu của KTV Trong nhữngtrường hợp cần thiết, khi rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát ở mức cao, KTV cầntiến hành thêm các thử nghiệm mở rộng Việc tăng cường các thử nghiệm mở rộng
có thể làm thay đổi mục tiêu và phạm vi của cuộc kiểm toán và trong trường hợpnày, KTV phải điều chỉnh kế hoạch kiểm toán như: bổ sung số lượng KTV, thờigian kiểm toán nếu cần thiết Những công việc chủ yếu được thực hiện trong giaiđoạn này bao gồm:
Một là, thu thập và ghi chép bằng chứng kiểm toán:
KTV áp dụng các phương pháp kiểm toán để thu thập bằng chứng về đốitượng được kiểm toán Các phương pháp thu thập bằng chứng kiểm toán có thểđược chia thành phương pháp kiểm toán tuân thủ và phương pháp kiểm toán cơ bảnnhư đã trình bày ở trên
Trong quá trình kiểm toán, KTV phải thường xuyên ghi chép các thông tin thuthập được để làm cơ sở đưa ra ý kiến kiểm toán Việc ghi chép phải được tập hợptrên các giấy tờ làm việc và hồ sơ kiểm toán Định kỳ, KTV có thể tổng hợp các kếtquả kiểm toán và báo cáo tiến độ thực hiện kế hoạch KTNB với trưởng đoàn kiểmtoán để soát xét Bảng kê tổng hợp là công cụ giúp KTV nắm được tiến trình thựchiện, xác định kết quả kiểm toán đã đạt được và định hướng công việc cần tiếp tụcthực hiện
Hai là, phân tích và đánh giá bằng chứng kiểm toán
Trong quá trình thu thập bằng chứng kiểm toán, KTV cần phân tích, đánh giáxem liệu các thông tin thu thập được có phải là các phát hiện kiểm toán không,nguyên nhân của các sai phạm được phát hiện…
Để đưa ra kết luận, KTV cần xem xét các thông tin với các tiêu chuẩn đã đượcthiết lập như: các chuẩn mực, luật lệ, chính sách hay thủ tục mà khách thể kiểm toánphải tuân thủ Khi phát hiện những điểm không hợp lý, không tuân thủ qui định,
Trang 39KTNB cần đánh giá ảnh hưởng của sai phạm và tìm hiểu nguyên nhân để có cơ sởđưa ra đề xuất, kiến nghị với đơn vị được kiểm toán Các kiến nghị của KTNB cóthể theo hướng chấp nhận thực trạng và khắc phục, hoặc có thể là xây dựng mớihoàn toàn các chính sách, thủ tục để đảm bảo hiệu quả hoạt động.
Ba là, các nội dung kiểm toán của KTNB tại CTTC
Nội dung chính của hoạt động KTNB tại các CTTC bao gồm rà soát, đánh giácác nội dung như hệ thống thông tin tài chính; tính đầy đủ, kịp thời, trung thực vàmức độ chính xác của các BCTC; tính hiệu lực và hiệu quả của các qui trình nhậndạng, đo lường và quản lý rủi ro; sự tuân thủ các qui định của pháp luật, qui định về
tỷ lệ an toàn, các qui định nội bộ; đánh giá tính kinh tế và hiệu quả của các hoạtđộng, tính kinh tế của việc sử dụng nguồn lực…
Các nội dung kiểm toán khi thực hiện KTNB hoạt động tín dụng của CTTC
KTNB nghiệp vụ tín dụng là một trong những nội dung quan trọng nhất, phứctạp nhất, và được ưu tiên hàng đầu khi tiến hành kiểm toán các hoạt động của cácTCTD nói chung, CTTC nói riêng Lý do là vì qui mô hoạt động tín dụng thườngchiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản của một CTTC, thu nhập từ hoạt động tín dụngcũng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu nhập, và qui trình tín dụng cũng đòi hỏi các
kỹ thuật phức tạp, bao quát để phát hiện các rủi ro tín dụng – loại rủi ro thườngxuyên và lớn nhất của một CTTC
Do vậy, khi thực hiện kiểm toán nghiệp vụ tín dụng, KTV cần đánh giá tínhhiệu quả và tính hiệu lực của qui trình nghiệp vụ tín dụng trong việc hạn chế, giảmthiểu rủi ro tín dụng, cụ thể là đánh giá sự hợp lý của các qui trình thẩm định tíndụng, các chỉ tiêu, thông tin được phân tích thẩm định là gì, có đầy đủ hay không;qui trình phê duyệt các khoản vay có chặt chẽ, có phân cấp phê duyệt theo giá trịkhoản vay không; có các qui định về phân bổ hạn mức tín dụng cho các nhómkhách hàng, ngành nghề nhất định hay không; việc theo dõi, giám sát khoản vay cóđược thực hiện thường xuyên liên tục hay không… Để thực hiện được các phân tíchnày, KTV cần nắm rõ qui trình nghiệp vụ đang được áp dụng, đồng thời phải cóhiểu biết về các thông lệ tiên tiến được áp dụng trong qui trình phân tích
Trang 40Ngoài việc đánh giá sự hợp lý của các qui trình nghiệp vụ, KTV cũng cầnđánh giá tính tuân thủ trong hoạt động tín dụng của đơn vị được kiểm toán, baogồm tuân thủ các qui định của cơ quan nhà nước và của bản thân CTTC Trongthực tế, các cơ quan nhà nước như chính phủ, NHNN có rất nhiều qui định liênquan đến hoạt động tín dụng để phục vụ cho chính sách kinh tế vĩ mô mà cácTCTD phải tuân thủ, ví dụ giới hạn tốc độ tăng trưởng tín dụng, giới hạn cho vaymột lĩnh vực cụ thể của nền kinh tế (như cho vay chứng khoán, bất động sản),giới hạn lãi suất cho vay…
- Đối với việc đánh giá tính tuân thủ, KTV cần hệ thống tất cả các qui địnhhiện hành có liên quan đến hoạt động tín dụng của CTTC và đối chiếu với các báocáo từ bộ phận nghiệp vụ KTV có thể lựa chọn một số khoản vay và kiểm tra vào
hồ sơ vay vốn để đánh giá tính tuân thủ trong việc thực hiện qui trình của các cán
bộ tín dụng Đối với các số liệu kế toán, KTV cần kiểm tra tính chính xác trung thựccủa các số liệu kế toán bao gồm dư nợ, nợ quá hạn, lãi suất cho vay, mức trích lập
dự phòng giữa các sổ chi tiết, sổ tổng hợp, chứng từ giải ngân, hồ sơ vay vốn, đốichiếu dư nợ với khách hàng
- Đối với kiểm toán hoạt động đánh giá hiệu quả khoản vay, KTNB cầnđánh giá mức tăng trưởng của dư nợ tín dụng, thu nhập lãi trong kỳ so với mứcbình quân của ngành, mức chênh lệch lãi suất đầu vào –đầu ra, phân tích tỷ lệ nợquá hạn, nợ xấu, …
Giai đoạn 3: Lập báo cáo KTNB:
Kết thúc quá trình kiểm toán, đoàn kiểm toán cần lập báo cáo KTNB với haicông việc chủ yếu sau:
Tổng hợp kết quả kiểm toán:
Trước hết, trưởng đoàn kiểm toán phải khái quát kết quả thực hiện kiểm tra,
xác nhận, đánh giá thực trạng đối tượng kiểm toán trên cơ sở rà soát toàn bộ hồ sơkiểm toán Trưởng đoàn phối hợp với các KTV trong đoàn tổng hợp và đưa ra đánhgiá Nếu trong quá trình thu thập bằng chứng có nhiều thông tin trái ngược nhau,trưởng đoàn kiểm toán cần chỉ đạo KTV tiến hành các thủ tục kiểm toán bổ sung để