MỞ ĐÀU1.Tính cấp thiết của đề tàỉ nghiên cứuTrẻ em là “tài sản hạnh phúc” của mỗỉ gia đình, là tương lai của dân tộc, của đất nước. Một thế hệ trẻ em được chăm sóc đầy đủ, sẽ hứa hẹn những chủ nhân tương lai của đất nước mạnh khỏe, sáng suốt. Nhận thức rất rõ về tầm quan trọng của việc tạo dựng nền tảng tốt đẹp cho trẻ em, trong những năm qua, cùng với việc xây dựng và phát triển kinh tế xã hội, công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm, tạo điều kiện đầu tư cả về kinh tế và pháp lý. Nhờ đó, cuộc sống và các quyền của trẻ em được thực hiện tốt hơn.Tuy nhiên, số lượng tình trạng trẻ em rơi vào hoàn cảnh khó khăn, hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em bị bạo hành, bị xâm hại về thể chất và tinh thần, bị taỉ nạn thương tích... vẫn còn cao. Đặc biệt, trong vài năm trở lại đây, tính chất nguy hiểm của những vụ việc liên quan đến bạo lực trẻ em xảy ra ngày càng tăng.Mặt trái của xã hội đang phát triển làm các nguy cơ có hại cho trẻ em cũng gia tăng: sự phát triển của công nghệ thông tin, khoa học; mối quan hệ trong gia đình bị nới lỏng, giá trị văn hóa gia đình bị suy giảm; sức ép của nền kinh tế thị trường, cạnh tranh lao động gay gắt kéo theo nhỉều hệ lụy: thời gian cha mẹ dành cho con cái thiếu thốn. Sự quan tâm của phụ huynh đôi khỉ chỉ dừng lạỉ ở trách nhiệm cung cấp tiền, mà quên đi việc phải dạy các em kỹ năng sống và bảo vệ các em trước những nguy hiểm ngoài xã hội. Thêm vào đó, nhu cầu kinh tế, văn hóa xuống cấp, hay đom giản là sự thiếu hiểu biết về Quyền trẻ em là một trong những nguyên nhân khiến con người bất chấp đạo đức, bất chấp pháp luật, gây tổn thương và bất lợi cho đối tượng chưa đủ khả năng phản kháng này.Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (LĐTBXH) là thành viên Chính phủ, là bộ đa ngành, đa lĩnh vực, thực hiện chức năng quản lý nhà nưởc về các lĩnh vực: việc làm, dạy nghề, lao động, tiền lương, tiền công, bảo hiểm xã hội (bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm thất nghiệp), an toàn lao động, người có công, bảo trợ xã hội, bảo vệ và chăm sóc trẻ em, bình đẳng giới, phòng, chống tệ nạn xã hội (sau đây gọi chung là lĩnh vực lao động, người có công và xã hội) trong phạm vi cả nước; quản lý nhà nước các dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ.Các đơn vị báo chí truyền thông của Bộ LĐTBXH đã góp phần tích cực vào việc tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em.Sau 5 năm thực hiện Chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em (20142015), trong điều kiện ngân sách chỉ mới đáp ứng được Ĩ4 so với kế hoạch nhưng về cơ bản các mục tiêu đặt ra của Chương trình đều đạt. “Nếu như trước đây, các vụ bạo hành, xâm hại trẻ em xảy ra người dân không biết báo ai, không biết quy trách nhiệm cho cơ quan nào, chỉ khi nào xảy ra thương tích thì cơ quan cồng an mới đến điều tra xử lý. Thì hiện nay, người dân đã biết địa chỉ để phản ánh, người dân được nhận thông tin phản hồi xử lý vụ việc và phân công trách nhiệm khi để xảy ra những vụ bạo hành, xâm hại trẻ em”.Tuy nhiên, hàng ngày, hàng giờ vấn nạn bạo lực trẻ em vẫn xảy ra, các trận đòn dã man, những lời nhục mạ... xâm hại trực tiếp đến sức khỏe, tinh thần của các em khiến cho các em luôn ở trong hoàn cảnh hoang mang, lo sợ, biến các em thành những trẻ em bất hạnh, trở nên chai sạn cảm xúc và bất chấp hay nhu nhược trong cuộc sống, khiến cho các em khó thích nghi với xã hội khi trưởng thành.Thực tiễn cho thấy, càng ngày yêu cầu của độc giả càng cao hơn, yêu cầu của nhiệm vụ tuyên truyền cũng cao hơn. Chất lượng các sản phẩm viết về vấn đề phòng, chống bạo lực trẻ em thời gian qua cũng còn nhiều vấn đề cần được khắc phục, nâng cao để hấp dẫn, thu hút được người xem hơn; các vấn đề về chất lượng nội dung, hình ảnh, đề tài, cách thể hiện bộc lộ một số hạn chế.Tác giả nhận thấy: việc nhận thức rõ ràng hơn về vai trò của phòng, chống bạo lực trẻ em trong tiến trình phát triển .bền vững của Việt Nam là rất cần thiết. Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là một trong những ưu tiên của Đảng và Nhà nước ta. Muốn làm tốt việc này, cần phải làm tốt công tác truyền thông. Các cơ quan báo ỉn của Bộ LĐTBXH đi đầu trong việc phản ánh tình hình bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em trong toàn quốc. Họ phải mổ xẻ sâu vấn đề phòng, chống bạo lực trẻ em; cần có một nghiên cứu sâu về nội dung, chất lượng.Với những lý do trên và mong muốn được góp phần của mình cho sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc trẻ em, tác giả luận văn chọn nội dung “Báo in cơ quan Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội với vấn đề phòng, chống bạo lực trẻ em”(Khảo sát Bảo Lao động và Xã hội, Tạp chỉ Lao động và Xã hội, Tạp chí Gia đình và Trẻ em, từ 2013 — 2015)làm đề tài nghiên cứu của mình.
Trang 1MỞ ĐÀU
1 Tính cấp thiết của đề tàỉ nghiên cứu
Trẻ em là “tài sản hạnh phúc” của mỗỉ gia đình, là tương lai của dân tộc, của đấtnước Một thế hệ trẻ em được chăm sóc đầy đủ, sẽ hứa hẹn những chủ nhân tương laicủa đất nước mạnh khỏe, sáng suốt Nhận thức rất rõ về tầm quan trọng của việc tạodựng nền tảng tốt đẹp cho trẻ em, trong những năm qua, cùng với việc xây dựng và pháttriển kinh tế xã hội, công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em được Đảng và Nhà nước đặc biệtquan tâm, tạo điều kiện đầu tư cả về kinh tế và pháp lý Nhờ đó, cuộc sống và các quyềncủa trẻ em được thực hiện tốt hơn
Tuy nhiên, số lượng tình trạng trẻ em rơi vào hoàn cảnh khó khăn, hoàn cảnh đặcbiệt, trẻ em bị bạo hành, bị xâm hại về thể chất và tinh thần, bị taỉ nạn thương tích vẫncòn cao Đặc biệt, trong vài năm trở lại đây, tính chất nguy hiểm của những vụ việc liênquan đến bạo lực trẻ em xảy ra ngày càng tăng
Mặt trái của xã hội đang phát triển làm các nguy cơ có hại cho trẻ em cũng giatăng: sự phát triển của công nghệ thông tin, khoa học; mối quan hệ trong gia đình bị nớilỏng, giá trị văn hóa gia đình bị suy giảm; sức ép của nền kinh tế thị trường, cạnh tranhlao động gay gắt kéo theo nhỉều hệ lụy: thời gian cha mẹ dành cho con cái thiếu thốn
Sự quan tâm của phụ huynh đôi khỉ chỉ dừng lạỉ ở trách nhiệm cung cấp tiền, mà quên
đi việc phải dạy các em kỹ năng sống và bảo vệ các em trước những nguy hiểm ngoài
xã hội Thêm vào đó, nhu cầu kinh tế, văn hóa xuống cấp, hay đom giản là sự thiếu hiểubiết về Quyền trẻ em là một trong những nguyên nhân khiến con người bất chấp đạođức, bất chấp pháp luật, gây tổn thương và bất lợi cho đối tượng chưa đủ khả năng phảnkháng này
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐTBXH) là thành viên Chính phủ, là
bộ đa ngành, đa lĩnh vực, thực hiện chức năng quản lý nhà nưởc về các lĩnh vực: việclàm, dạy nghề, lao động, tiền lương, tiền công, bảo hiểm xã hội (bảo hiểm xã hội bắtbuộc, bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm thất nghiệp), an toàn lao động, người cócông, bảo trợ xã hội, bảo vệ và chăm sóc trẻ em, bình đẳng giới, phòng, chống tệ nạn xã
Trang 2hội (sau đây gọi chung là lĩnh vực lao động, người có công và xã hội) trong phạm vi cảnước; quản lý nhà nước các dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản
lý nhà nước của Bộ
Các đơn vị báo chí truyền thông của Bộ LĐTBXH đã góp phần tích cực vào việctuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vềcông tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em
Sau 5 năm thực hiện Chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em (2014-2015), trongđiều kiện ngân sách chỉ mới đáp ứng được Ĩ4 so với kế hoạch nhưng về cơ bản các mụctiêu đặt ra của Chương trình đều đạt “Nếu như trước đây, các vụ bạo hành, xâm hại trẻ
em xảy ra người dân không biết báo ai, không biết quy trách nhiệm cho cơ quan nào,chỉ khi nào xảy ra thương tích thì cơ quan cồng an mới đến điều tra xử lý Thì hiện nay,người dân đã biết địa chỉ để phản ánh, người dân được nhận thông tin phản hồi xử lý vụviệc và phân công trách nhiệm khi để xảy ra những vụ bạo hành, xâm hại trẻ em”
Tuy nhiên, hàng ngày, hàng giờ vấn nạn bạo lực trẻ em vẫn xảy ra, các trận đòn
dã man, những lời nhục mạ xâm hại trực tiếp đến sức khỏe, tinh thần của các emkhiến cho các em luôn ở trong hoàn cảnh hoang mang, lo sợ, biến các em thành nhữngtrẻ em bất hạnh, trở nên chai sạn cảm xúc và bất chấp hay nhu nhược trong cuộc sống,khiến cho các em khó thích nghi với xã hội khi trưởng thành
Thực tiễn cho thấy, càng ngày yêu cầu của độc giả càng cao hơn, yêu cầu củanhiệm vụ tuyên truyền cũng cao hơn Chất lượng các sản phẩm viết về vấn đề phòng,chống bạo lực trẻ em thời gian qua cũng còn nhiều vấn đề cần được khắc phục, nângcao để hấp dẫn, thu hút được người xem hơn; các vấn đề về chất lượng nội dung, hìnhảnh, đề tài, cách thể hiện bộc lộ một số hạn chế
Tác giả nhận thấy: việc nhận thức rõ ràng hơn về vai trò của phòng, chống bạolực trẻ em trong tiến trình phát triển bền vững của Việt Nam là rất cần thiết Bảo vệ,chăm sóc và giáo dục trẻ em là một trong những ưu tiên của Đảng và Nhà nước ta.Muốn làm tốt việc này, cần phải làm tốt công tác truyền thông Các cơ quan báo ỉn của
Bộ LĐTBXH đi đầu trong việc phản ánh tình hình bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
Trang 3trong toàn quốc Họ phải mổ xẻ sâu vấn đề phòng, chống bạo lực trẻ em; cần có mộtnghiên cứu sâu về nội dung, chất lượng.
Với những lý do trên và mong muốn được góp phần của mình cho sự nghiệp
bảo vệ, chăm sóc trẻ em, tác giả luận văn chọn nội dung “Báo in cơ quan Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội với vấn đề phòng, chống bạo lực trẻ em”(Khảo sát Bảo Lao
động và Xã hội, Tạp chỉ Lao động và Xã hội, Tạp chí Gia đình và Trẻ em, từ 2013 — 2015)làm đề tài nghiên cứu của mình.
2 Lịch sử vấn đề nghiên cửu
Theo tìm hiểu còn giói hạn của tác giả luận văn, vấn đề về phòng, chống bạo lựctrẻ em được rất nhiều người quan tâm, tuy nhiên số ỉượng các công trình còn ít Ở mỗigóc độ, mỗi nhà khoa học đều có cách nhìn và tiếp cận vấn đề khác nhau
- Ở góc độ Sách, Giảo trình, Sách tham khảo
Jennings Bryant; Susan Thompson (2002), FUNDAMENTALS OF MEDIAEFFECTS (Nguyen tắc cơ bản của hiệu ứng truyền thông), Lon don: McGraw-HillHigher Education Cuốn sách là một văn bản học thuật hướng đến đối tượng là sinh viênđại học chuyên ngành truyền thông Cuốn sách được trình bày rõ ràng, hấp dẫn ngườiđọc với những hình ảnh minh họa sống động; trang bị cho người đọc những hiểu biết cơbản về lịch sử, cơ sở lý thuyết và tình hình hiện tại của hiệu ứng truyền thông Từnhững kiến thức nghiên cứu đó sẽ gỉúp cho người đọc có thể tiếp cận, đánh giá đúngvấn đề trong một môi trường truyền thông toàn cầu hiện nay Trong mỗi chương củacuốn sách, những vấn đề trọng tâm cần thiết để sinh viên hiểu rõ được in đậm và có thểxem trên trang web: www.mhhe.com / Bryant Trên trang web còn có các bài trìnhchiếu trên powerpoint và các câu hỏi thảo ỉưận Cuốn sách được chia thành 3 phần:Phần 1: Tổng quan và lịch sử: Nghiên cứu tổng quát về hiệu ứng truyền thông như: quátrình truyền thông, mô hình truyền thông, đánh giá sự ảnh hưởng của phương tiệntruyền thông; hiệu ứng truyền thông theo quan điểm lịch sử; lịch sử nghiên cứu khoahọc của các hiệu ứng truyền thông; sự quan tâm của xã hội về tác dụng của các phươngtiện truyền thông Phần 2: Cơ sở lý thuyết và khái niệm: bao gồm các khái niệm và lý
Trang 4thuyết làm cơ sở nghiên cứu hiệu quả các loại phương tiện truyền thông; phân tích lýthuyết nhận thức xã hội về sự tác động qua lại giữa môi trường, con người và hành viứng xử đối với truyền thông; sự ảnh hưởng của các mô hình và việc học tập thông quanội dung và mô hình truyền thông; ảnh hưởng của việc xem truyền hình, xem phim bạolực; học tập những mặt tích cực của các phương tiện thông tin đại chúng Trong phầnnày các tác giả còn nêu lên những hiệu ứng căn bản của truyền thông đó là quá trìnhnhận thức, xử lý thông tin, hành vi của con người và ảnh hưởng của môi trường; phântích nội dung bạo lực trên truyền hình, nội dung mạng lưới truyền hình; nghiên cứuchức năng xã hội của truyền thông đại chúng, phân tích thị hiếu khán giả; thiết lậpchương trình nghị sự và khả năng thuyết phục của truyền thông Phần 3: Nghiên cứuhiệu ứng truyền thông trên một số lĩnh vực Các tác giả trình bày một số phương pháp vànội dung nghiên cứu hiệu ứng truyền thông trên các khía cạnh khác nhau như: bạo lựctruyền hình, tình dục, tin tức, quảng cáo, phản ứng đáng lo ngại và hoảng sợ đối với nộidung truyền thông, hiệu ửng của chiến dịch truyền thông; ảnh hưởng của phương tiệntruyền thông đối với sức khỏe, trong lĩnh vực chính trị, xã hội; ảnh' hưởng của truyềnthông giải trí; giới thiệu các kỹ thuật công nghệ truyền thông hiện đại Nhìn chung cuốnsách là một tài liệu tham khảo nhằm giúp tác giả nhận biết được góc tiếp cận của truyềnthông và hiệu ứng của truyền thông để tác giả có một góc tiếp cận dưới cái nhìn về vấn
đề truyền thông phòng chống bạo lực trên báo in hiện nay
PGS, TS Nguyễn Văn Dững trong cuốn “Báo chí cho trẻ em ở nước ta hiện nay”thực hiện năm 2007 Tác giả đề cập đến báo chí cho trẻ em trên cơ sở khảo sát, nghiêncứu thực trạng báo chí cho trẻ em, phân tích kinh nghiệm thực tế, công trình này nhằmmục đích: - cấp một cái nhìn tổng quan về diện mạo báo chí cho trẻ em ở nước ta trongthời kỳ hội nhập phát triển; - Phân tích kinh nghiệm thực tế “ kể cả kinh nghiệm hay vàchưa hay, tốt và chưa tốt, làm báo cho nhóm công chúng - đối tượng đặc thù là trẻ em;Nêu lên những vấn đề cần quan tâm và bước đầu đề xuất giải pháp phát triển loại báochí này cũng như nâng cao năng lực và hiệu quả tác động của nó đối với xã hộỉ nóichung, nhóm công chúng đối tượng là trẻ em nói riêng Như vậy có thể nhận thấy dưới
Trang 5góc độ phòng chống bạo lực trẻ em vẫn đang bị bỏ ngỏ Đây cũng là vấn đề mà tác giảluận văn hướng tới mà không bị trùng lặp
PGS, TS Trần Thị Anh Đào (chủ biên ) với giáo trình “Quản lý chăm sóc sứckhỏe cộng đồng” xuất bản năm 2012 tại NXB Chính trị - Hành chính Đây là một giáotrình tham khảo hết sức quan trọng và ý nghĩa đối với luận văn Giáo trình gồm 5 phần,
10 chương Nội dung cuốn sách đi sâu vào phân tích những quan điểm, đường lối, chínhsách của Đảng về công tác chăm sóc sức khỏe của nhân dân Làm rõ những khái niệm,đối tượng, phương pháp và nhiệm vụ nghiên cứu môn học Đặc biệt là những kiến thức,
kỹ năng cơ bản về lãnh đạo, quản lý tham mưu cho lãnh đạo quản lý trên các lĩnh vực y
tế, dân số, trẻ em và thể dục thể thao Nhìn chung cuốn sách cũng đang bỏ ngố vẩn đềphòng chống bạo lực trẻ em
Tác giả Nguyễn Ngọc Oanh trong cuốn sách “Nhà bảo' với trẻ em - kiến thức và
kỹ năng” (Sách chuyên khảo) xuất bản 2014 Cuốn sách nghiên cứu về những thách
thức đặt ra đối với người làm báo về trẻ em Đó là những kiến thức và kỹ năng báo chí
về trẻ em bao gồm: quy trình tác nghiệp, kỹ năng báo chí ảnh hưởng đến chất lượng tácphẩm, sản phẩm báo chí về trẻ em, cũng như hỉệu quả tác động đến công chúng; kỹnăng làm báo và quy trình làm báo cho trẻ em
- Ở góc độ ỉuận án tỉến sĩ
Trong luận án tiến sĩ Nguyễn Ngọc Oanh với đề tài “Kỹ năng làm bảo cho trẻ
em hiện nay ” thực hiện năm 2009 Tác giả luận án bước đầu hình thành khung lý thuyết
về kỹ năng làm báo cho trẻ em, trên cở ấy khảo sát, phân tích kinh nghiệm thực tiễn tácnghiệp báo chí cho trẻ em để có thể nêu ra vấn đề, tìm kiếm giải pháp khuyến nghị cảithiện tình hình, nâng cao năng lực và hiệu quả tác động của báo chí cho trẻ em ở nước tahiện nay Nghiên cứu tính đặc thù và vai trò của kỹ năng làm báo cho trẻ em trong quytrình sáng tạo tác phẩm báo chí và tác động của nó đến công chúng báo chí là trẻ em.Trên cơ sở đó, đưa ra những đề xuất trong việc đào tạo kỹ năng làm báo cho trẻ em
Việc nghiên cứu cách thức nâng cao chất lượng, vai trò của các đơn vị báo in cơquan Bộ LĐTBXH là sự tiếp nối và kế thừa những nghiên cứu đã nêu trên, nhằm góp
Trang 6phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của các tác phẩm, sản phẩm của các đơn vị báochí chuyên ngành trong tuyên truyền vấn đề phòng, chống bạo lực trẻ em.
+ Ở góc độ luận văn Thạc sĩ
Tác giả Vũ Thị Thúy Huyền với đề tài “Báo chí với vấn đề phòng chống bạo lựctrẻ em hiện nay” (Khảo sát báo Giáo dục và Thời đại, báo Lao động và Xã hội, báoPháp luật Việt Nam, báo Hoa học trò và báo Thiểu niênTiền phong từ tháng 06/2011đến tháng 05/2012) thực hiện năm 2012 Luận văn tìm hiểu được những thành công vàhạn chế trong công tác tuyên truyền về phòng chống bạo lực đối với trẻ em trên các báoGiáo dục và Thời đại, báo Lao động và Xã hội, báo Pháp luật Việt Nam, báo Hoa họctrò và báo Thiếu niên Tiền phong Góp phần đưa ra vấn đề cần giải quyết nhằm nângcao chất lượng, hiệu quả tuyên truyền về phòng chống bạo lực đối với trẻ em trên báochí nói chung, ở những báo chuyên ngành nói riêng
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Bình với đề tài “Bảo in đồng bằng sông cửu long với vấn đề bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ và trẻ em hiện nay” (Khảo sát báo in 3
tỉnh: Long An, Kiên Giang và Sóc Trăng năm 2014) thực hiện năm 2015 bảo vệ tại cầnThơ - Học viện Báo chí và Tuyên truyền Luận vàn đưa ra được những khái quát hệthống những lý luận liên quan đến báo in và yêu cầu của vấn đề bảo vệ, CSSK cho phụ
nữ và trẻ em trên báo in vùng ĐBSCL đến với độc giả trong giai đoạn hiện nay; Chỉ ranhững điểm tích cực và hạn chế của vấn đề bảo vệ, CSSK cho phụ nữ và trẻ em trên báo
in ĐBSCL qua khảo sát báo in 3 tỉnh: Long An, Kiên Giang và Sóc Trăng; Đưa ra một
số khuyến nghị và giải pháp để làm tốt hơn nữa việc bảo vệ, CSSK cho phụ nữ và trẻ
em nhằm đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu tiếp nhận thông tin của độc giả báo inĐBSCL cũng như tâm lý tiếp nhận của họ
Trong luận văn thạc sĩ của tác giả Mai Thị Thúy An với đề tài “Sự tham gia của trẻ em trong các hoạt động truyền thông về quyền trẻ em” thực hiện năm 2013 Luận
văn trên cơ sở làm rõ những khái niệm về truyền thông có sự tham gia, quyền tham giacủa trẻ em, luận văn khảo sát và phân tích thực trạng sự tham gia của trẻ em, cách thứctriển khai dự án, tố chức sự kiện do Save the Children Việt Nam, ChildFund Việt Nam,
Trang 7Hội bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam thực hiện, từ năm 2008 - 2012 tại miền Bắc; Đề xuấtmột số kiến nghị, giải pháp góp phần thúc đẩy quyền tham gia của trẻ em và tăng hiệuquả quảng bá hình ảnh cho tổ chức.
Tác giả Vũ Văn Dũng trong luận văn “Sử dụng hình ảnh trẻ em trong phóng sựtruyền hình trên chương trình truyền hình vì trẻ em, đài truyền hình Việt Nam (Khảo sátchương trình Truyền hình Vì trẻ em phát sóng năm 2014 trên VTV1) năm 2015 Luậnvăn đánh giá việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong các phóng sự truyền hình trên chươngtrình Truyền hình Vì trẻ em; đề xuất các giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quảviệc sử dụng hình ảnh trẻ em trong phóng sự của chương trình truyền hình vì trẻ em,đảm bảo đúng pháp luật, không vi phạm đạo đức nghề nghiệp của Nhà báo, không gâytổn thương cho trẻ em và gia đình của trẻ, bảo vệ trẻ em trước sự xâm hại của truyềnthông
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3. L Mục đỉch nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn hệ thống báo in cơ quan BộLĐTBXH đối với vấn đề phòng, chống bạo lực trẻ em, luận văn chỉ ra thực trạng, đềxuất các giải pháp cụ thể nhằm tăng cường vai trò, tác động của báo in cơ quan BộLĐTBXH trong việc tuyên truyền phòng, chống bạo lực trẻ em hiện nay
Tìm hiểu thực trạng truyền thông của báo in Bộ LĐTBXH với vấn đề phòng,chống bạo lực trẻ em
Tìm ra vai trò ảnh hưởng của các cơ quan báo in chuyên trách thuộc BộLĐTBXH trong công tác phòng, chống bạo lực trẻ em
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận cơ bản về báo chí, phân tích, đánh giá các sảnphẩm, tác phẩm đã thực hiện từ 2013 đến 2015, ý kiến nhận xét của các chuyên gia, cácnhà quản lý công tác báo chí, công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em, từ đó sẽ đề xuất các giảipháp để nâng cao hiệu quả truyền thông vấn đề phòng, chống bạo lực trẻ em,
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ.mục đích trên, luận văn thực hiện những nhiệm vụ cụ thể sau đây:
Trang 8- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn của vấn đề phòng, chốngbạo ỉực trẻ em.
- Làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về xây dựng nội dung các tácphẩm báo chí tuyên truyền phòng, chống bạo lực ừẻ em
- Khảo sát Báo Lao động và Xã hội, Tạp chí Lao động và Xã hội, Tạp chíGia đình và Trẻ em về việc tuyên truyền phòng, chống bạo lực trẻ em từ tháng 01/2013đến tháng 12/2015
- Khảo sát một số ý kiến các chuyên gia, các nhà quản lý công tác báo chí,công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em về vai trò của cơ quan báo chí in Bộ LĐTBXH và chấtlượng nội đung, phương pháp tuyên truyền về phòng, chống bạo lực trẻ em
- Đề xuất một số kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hỉệu quảtuyên truyền các vấn đề phòng, chống bạo lực trẻ em của báo chí in Bộ LĐTBXH hiệnnay
5.5 Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ đề tài này, tác giả chỉ tập trung khảo sát, đánh giá những bàiviết liên quan đến việc phòng, chống bạo lực trẻ em thông qua các chuyên trang, chuyênmục cụ thể của hệ thống báo in cơ quan Bộ LĐTBXH Với thời lượng 03 năm (từ tháng01/2013 đến tháng 12/2015), với những tài liệu tin, bài thu thập liên quan đến vấn đềnghiên cứu là cơ sở nhận xét đánh giá khách quan chó đề tài nghiên cứu
4 Cơ sỏ* lí luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơsởlỷ luận
Đề tài dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vềbáo chí với vấn đề bảo vệ, chăm sóc trẻ em; những đường lối, chủ trương về bảo vệ,chăm sóc trẻ em của Đảng và Nhà nước Mặt khác còn được tiến hành nghiên cứu trên
cơ sở lý thuyết truyền thông và cơ sở lý luận báo chí Đe tài còn dựa vào cơ sở Luật Bảo
vệ chăm sóc trẻ em Yiệt Nam để nghiên cứu, đánh giá
- Kế thừa và tham khảo các kết quả nghiên cứu khoa học thuộc lĩnh vựcbáo chí của các tác giả đi trước
4,2 Phương pháp nghiên cứu
Trang 9- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: dùng để xem xét phân tích các thông tintrong tài liệu, trên cơ sở đó kế thừa những giá trị vốn có, sau đó rút ra những dữ ỉiệu để
so sánh, đối chiếu
- Thống kê các bài viết liên quan đến phòng, chống bạo lực trẻ em trên BáoLao động và Xã hội, Tạp chí Lao động và Xã hội, Tạp chí Gia đình và Trẻ em về việctuyên truyền phòng, chống bạo lực trẻ em từ tháng 01/2013 đến tháng 12/2015 Trên cơ
sở đó đánh giá, phân tích rõ hơn vai trò, vị trí của báo in cơ quan Bộ LĐTBXH với vấn
đề tuyên truyền phòng, chống bạo lực trẻ em
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Được thực hiện với những cán bộ là lãnhđạo, quản lý các cơ quan báo chí, chuyên gia, chuyên viên nghiên cứu các vấn đề liênquan đến BVCSTE
- Phương pháp điều tra định lượng bằng phiếu điều tra (anket): Tác giả luậnvăn tiến hành đỉều tra 200 người là công chúng báo in cơ quan Bộ LĐTBXH
- Phân tích, tổng hợp: Dùng để đánh giá những kết quả nghiên cứu, qua đó
đề xuất các giải pháp cần thiết
5 Đóng góp cửa đề tài
Đây là một tròng những công trình về công tác báo chí với vấn đề phòng, chốngbạo lực trẻ em hiện nay của Bộ LĐTBXH, cho nên đề tài, trước hết, có ích cho cán bộlãnh đạo theo dõi báo chí Tiếp theo, có ích cho các cán bộ, phóng viên, biên tập viên cóthể vận dụng lý luận về nội dung và phương pháp tuyên truyền phòng, chống bạo lực trẻ
em vào hoạt động thực tiễn Việc bản luận văn này chỉ ra sự thiếu đồng bộ, thiếu sự kếthọp giữa ba cơ quan báo chí của Bộ LĐTBXH có tác dụng nhắc nhở rất lớn
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1. về mặt lỷ luận
Trên phương diện lý luận, luận văn hệ thống hoá, góp phần bổ sung vào nền tảng
lý luận báo chí trong tuyên truyền phòng, chống bạo lực trẻ em Đó là những lý luận vềnội dung, chiến lược, phương pháp tuyên truyền trong thực hiện tuyên truyền phòng,chống bạo lực trẻ em
6.2. về thực tiễn
Trang 10Làm phong phú thêm những công trình nghiên cứu về phòng, chống bạo lực trẻ
em và nhất là việc phát huy vai ừò của báo in cơ quan Bộ LĐTBXH trong vấn đềphòng, chống bạo lực trẻ em Những hệ thống giải pháp và biện pháp thiết thực của đềtàỉ sẽ góp phần thực hiện tốt không chỉ công tác thông tin, tuyên truyền trên báo chí màcòn nâng cao nhận thức, ý thức của các tầng lớp nhân dân về vấn đề phòng, chống bạolực trẻ em
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục luận vănđược kết cấu thành 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận việc phòng, chống bạo lực trẻ em trên báo in Chương 2: Thực trạng báo in Bộ Lao động “ Thương binh và Xã hội với vấn đề phòng, chống bạo lực trẻ em
Chương 3: Khuyến nghị, giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả truyền thông vềphòng, chống bạo lực trẻ em cho báo in của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Trang 11Chương 1
Cơ SỞ LÝ LUẢN VIÊG PHÒNG, CHỐNG BAO LƯC TRẺ EM TRÊN
BÁO IN
1.1 CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ NGHIÊN cứư
1.1.1 Kháỉ nỉệm “báo ỉn” trong hệ thống báo chí
Trong hệ thống báo chí hiện nay có 4 loại hình: 1 Báo in (trên giấy); 2 Phátthanh; 3 Truyền hình; 4 Báo điện tử
Cơ quan chủ quản báo chí là tổ chức chính trị- xã hội, tổ chức xã hội nghềnghiệp có quyền xin phép thành lập cơ quan báo chí (báo in, phát thanh, truyềnhình, báo mạng điện tử)
Nhà báo là chủ thể trực tiếp hoạt động báo chí Nhà báo được phân chia ranhiều chức danh cụ thể trong mỗi loại hình tòa soạn báo chí
Sản phẩm báo chí là sản phẩm tổng hợp hoàn chỉnh (số báo, chương trìnhphát thanh, truyền hình)
Kênh chuyển tải là các loại hình báo chí như báo in, phát thanh, truyền hình,
Trang 12báo mạng điện tử.
Công chúng xã hội là quần thể dân cư nói chung hoặc nhóm đối tượng theonhững tiêu chí nhất định như tuổi, giới tính, nghề nghiệp đang chịu sự tác độnghoặc sản phẩm báo chí hướng vào để tác động, gây ảnh hưởng
Thực tiễn đời sống xã hội là tổng thể những gì đã và đang diễn ra trên cáclĩnh vực đời sống xã hội, bao gồm cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, ý thức xãhội và tồn tại xã hội, môi trường tự nhiên và môi trường xã hội
Hoạt động báo chí là hoạt động truyền thông đại chúng, hoạt động chính trị
-xã hội, hoạt động kinh tế - dịch vụ Trong cuốn giáo trình “Cơ sở ỉỷ luận báo chí”,
tác giả Nguyễn Văn Dững đã viết:
Báo chí là những kênh, những loại hình mang rõ nét nhất đặctrưng nhất tính chất của truyền thông đại chúng Bản chất của hoạtđộng này là hình thành dòng thông tin đại chúng, hương tác động vàođông đảo công chúng nhằm lôi kéo và tập hợp, giáo dục, thuyết phục
và tổ chức đông đảo nhân dân tham gia giải quyết các vấn đề kinh
tế-xã hội đang đặt ra theo định hướng chính trị nhất định; hoặc tạo lậpdiễn đàn xã hội rộng rãi, thu hút sự tham gia của đông đảo nhân dânvào bàn luận những vấn đề thiết thực, liên quan đến đời sống cộngđồng [3, tr 89]
Thể hiện bản chất hoạt động xã hội của mình, báo chí nóichung và các cơ quan báo chí nói riêng không chỉ tham gia giải quyếtcác vấn đề xã hội, đem lại lợi ích trước mắt và lâu dài cho cả cộngđồng, mà còn bảo đảm lợi ích cho báo chí, góp phần quảng bá thươnghiệu và mở rộng thị trường sản phẩm báo chí- truyền thông [12, tr.6]
Có thể thấy, các nhà báo với vai trò, sứ mệnh của nhà truyền thông, nhàchính trị, nhà kinh tế đã hòa vào dòng chảy của đời sống xã hội, thu thập, sàng lọc
Trang 13thông tin, chắt lấy thông tin có giá trị, ý nghĩa, sáng tạo tác phẩm báo chí và đăngtải trên báo chí, chuyển tải thông điệp đến công chúng Quá trình sáng tạo đó là quátrình lao động nghiêm túc, đầy trách nhiệm với con người và với xã hội.
Báo in (newspaper) gồm báo và tạp chí, là những ấn phẩm định kỳ chuyểntải nội dung thông tin mang tính thời sự và được phát hành rộng rãi trong xã hội
Một trong những đặc điểm quan trọng của báo in là chuyển tải nội dungthông tin qua văn bản in, gồm chữ in, hình vẽ, tranh ảnh, sơ đồ, biểu đồ Toàn bộnội dung thông tin của sản phẩm báo in xuất hiện đồng thời trước mắt người đọc, vìvậy, việc tiếp nhận thông tin của công chúng đối với báo in chỉ qua thị giác Báo in
có những đặc điểm ưu việt là: người đọc hoàn toàn chủ động trong việc tiếp nhậnthông tin (bố trí thời điểm đọc, lựa chọn trình tự đọc, tốc độ đọc, cách thức đọc );
sự tiếp nhận thông tin từ báo in là quá trình chủ động, đòi hỏi người đọc phải tậptrung cao độ, phải huy động sự làm việc tích cực của trí não; nguồn thông tin từbáo in bảo đảm sự chính xác và độ tin cậy cao, giúp người đọc có thể nhận thức sâusắc những mối quan hệ bên trong phức tạp và tế nhị của các vấn đề, sự kiện; việclưu giữ báo ỉn đơn giản và thuận lợi, do đó, báo in trở thành nguồn tư liệu mà ngưòiđọc có thể giữ lâu dài
Tuy nhiên, báo in cũng có những hạn chế nhất định, như: do chỉ xuất hiện ởmột thời điểm cụ thể, nhất định nên độ nhanh nhạy, tính cập nhật thời sự bị hạn chếhơn các loại hình báo chí khác; sự đơn điệu và khả năng giải mã tín hiệu thông tin
dễ làm suy giảm sự hứng thú của người đọc; phạm vi tác động thường bị giới hạntrong số những người biết chữ; việc phát hành báo in được thực hiện theo phươngpháp trao tay, do đó thường chậm và phụ thuộc vào điều kiện giao thông, vàophương tiện và con người
LU.2 Báo
Căn cứ vào định kỳ xuất bản, tính chất nội dung thông tin, hiện nay báo in ở
Trang 14nước ta có các loại: báo hàng ngày (là những tờ phát hành mỗi ngày một kỳ vàobuổi sáng hoặc buổi chiều); báo nhiều kỳ trong tuần (là những tờ báo phát hànhkhoảng 5-6 kỳ/tuần); báo một số kỳ trong tuần (là những tờ báo có số kỳ xuất bản
từ 2 - 4 kỳ trong tuần); báo tuần (là những tờ báo xuất bản định kỳ 1 kỳ/tuần); báonửa tháng (bán nguyệt san) hay hàng tháng (nguyệt san), chủ yếu là những ấnphẩm phụ xuất bản giữa tháng hoặc cuối tháng của các tờ báo hàng ngày, các tờbáo nhiều kỳ, một sổ kỳ trong tuần hoặc tuần báo
1.Ỉ.L3 Tạp chỉ
Trong cuốn Xuất bản tạp chí (bản dịch tiếng Việt, Khoa Xuất bản - Học việnBáo chí và Tuyên truyền, 2010), các học giả Trung Quốc đưa ra khái niệm, “Tạpchí có tên gọi cố định, có đánh số thứ tự theo quyển, kỳ hoặc năm tháng, nhân bảnbằng phương thức in ấn, đăng tải trên chất liệu giấy, là xuất bản phẩm liên tụcthành quyển [5, tr.32]
Cũng trong cuốn Xuất bản tạp chỉ (bản dịch tiếng Việt, Khoa Xuất bản - Học viện Báo chí và Tuyên truyền, 2010), công bố của tổ chức UNESCO, “Tất cả xuất bản phẩm có cùng một tỉêu đề, xuất bản liên tục định kỳ hoặc không định kỳ, mỗi năm ít nhất là trên ỉ kỳ (ỉ ỉần), mẽỉ kỳ đều ghi rõ số thứ tự và ghi rõ ngày tháng thì gọi là tạp chí” [5, tr.34]
Theo từ điển tiếng Việt của Vietlex (Trung tâm từ điển học) thì: “Tạp chỉ ỉà xuất bản phẩm định kỳ, thường có tính chất chuyên ngành, đăng nhiều bài do nhiều người viết, đóng thành tập, thường cổ khổ nhỏ hơn báo ”[32, vần T].
Theo từ điển tiếng Việt (Nhà xuất bản Văn hóa thông tin) thì “Tạp chỉ là báo đóng tập, ra có kỳ (khôngphải hàng ngày), có nhiều mục [41, vần T].
Theo từ điển Hán Việt đành cho học sinh ( Nhà xuất bản Văn hóa thông tin)
thì: “Tạp chí được phân tách như sau: “Tạp: có nhiều loại trong đỏ chỉ sách ghì chép các sự kiện, bài viết Tạp chí: ỉà báo ra có kỳ hạn (nghĩa gốc là ghì chép ỉinh
Trang 15tỉnh) ” [39, vần T].
Tạp chỉ hàng tuần: Tên gọi khác: tuần san Được xuất bản định kỳ vào một
ngày trong tuần
Nguyệt san: Xuất bản mỗi tháng một số.
Quý san: mỗi quý (ba tháng) một số
Bán nỉên san: Nửa năm một kỳ
Niên san: CM một kỳ mỗi năm - các loại niên giám thống kê thuộc loại này.
Tại Việt Nam, có nhiều loại tạp chí xuất bản định kỳ không theo hướng phânloại ừên như: bán tuần báo (bi-weekly) với 2 -3 số mỗi tuần, bán nguyệt san (bi-monthly) in 2-3 kỳ mỗi tháng [40 vần T]
Tuy nhiên, trong thời đại bùng nổ thông tin ngày nay, đã xuất hiện các tạp chíđiện tử (trên website), tạp chí trên sóng phát thanh và truyền hình xuất bản định
kỳ (giờ, khung chương trình) và liên tục (tạp chí điện tử)
Như vậy, tất cả các định nghĩa trên đều chỉ ra các yếu tố hoặc đặc điểm cấuthành tạp chí Tham chiếu các định nghĩa trên và tình hình thực tế, có thể rút ra
khái niệm chung về tạp chí như sau: Tạp chỉ là một loại xuất bản phẩm định kỳ, có tên gọi ển định, cỏ kỳ hạn xuất bản trong khoảng thời gian nhất định (cỏ thể ỉà bản nguyệt san, ra hằng tháng, quỷ); cung cấp thông tin, kiến thức cho những đối tượng bạn đọc nhất định.
Như vậy, trước hết tạp chí là loại báo chí, được xuất bản định kỳ hoặc liêntục có tính chất chuyên biệt Có thể phân loại tạp chí theo các tiêu chí: Theo chứcnăng; Theo nhiệm vụ; Theo nội dung phản ánh (lĩnh vực và đối tượng phản ánh);Theo hình thức thông tin và thiết kế, trình bày ấn phẩm; chương trình); Theo đốitượng tiếp nhận (công chúng)
Xét về mặt đối tượng tiếp nhận, dù có sự khu biệt mang tính tương đối, songtrên thực tế luôn có sự giao thoa giữa các nhóm đối tượng Cụ thể một độc giả có
Trang 16thể đọc nhiều loại tạp chí, thuộc các nhóm khác nhau Nên sự phân định tạp chí
theo tiêu chí “đối tượng tiếp nhận ” cũng chỉ mang tính tương đối.
Xét về mặt nội dung phản ánh (bao gồm cả chức năng, nhiệm vụ, nội dungthông tin và hình thức thông tin), tựu chung lại có thể chia ra các loại Tạp chí intruyền thông và tạp chí điện tử, tạp chí trên sóng) thành ba nhóm chính:
“Nhóm thứ nhất, gồm các Tạp chí thông tin lý luận khoa học chuyên biệt(tạp chí khoa học chuyên ngành) Đây là các tạp chí thông tin về các lĩnh vựcchuyên biệt như: chính trị, chính trị xã hội, kinh tế Ví dụ: Tạp chí Cộng sản, Tạpchí Khoa giáo, Tạp chí Tài chính, Tạp chí Thanh Tra, Tạp chí Gia đình và Trẻ em
-Nhóm thứ hai, gồm các tạp chí thông tin chỉ dẫn - giải trí Tiêu đề của nhómcũng chỉ rõ nội dung phản ánh của nhóm tạp chí này Có thể kể một số tạp chítrong nhóm như: Tạp chí Thể thao, Thời trang trẻ, Tạp chí Ôtô-xe máy (AutoVietnam)
-Nhóm thứ ba, gồm các tạp chí thông tin tổng hợp (hay còn gọi là tạp chíthông tin xã hội) Ví dụ: Thế giới mới, Tri thức trẻ, Hà Nội ngày nay
1.1.2 Khái niệm về trẻ em
1.1.2 L Khái niệm “trẻ em ” và đặc điếm
Điều 1, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (2004, sửa đổi năm 2016)quy định: “Trẻ em là công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi” Theo quy định, trẻ
em có hai đặc trưng, một là “là công dân Việt Nam” và hai là độ tuồi được xác định
là “dưới 16”
Trong pháp luật quốc tế, độ tuổi trẻ em được sử dụng tương đối thống nhất
là dưới 18 Tuy nhiên, trong các Công ước quốc tế như Tuyên bố của Hội quốc liên
về quyền trẻ em (năm 1924), Tuyên bố của Liên hợp quốc về quyền trẻ em (năm1959), Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (năm 1968), Công ước 138 của Tổchức lao động quốc tế (ILO) về tuổi tối thiểu làm việc (năm 1976), Công ước của
Trang 17Liên hợp quốc về quyền trẻ em (năm 1989) đã khẳng định việc áp dụng độ tuổitrẻ em của mỗi quốc gia có thể khác nhau, tuỳ thuộc vào nội luật của mỗi nước.Song, các tố chức của Liên hợp quốc và quốc tế như UNICEF, UNFPA, ILO,ƯNESSCO đều xác định trẻ em là người dưới 18 tuổi Khái niệm “trẻ em” cũngđược quốc tế sử dụng thống nhất và đề cập trong nhiều văn bản.
Công ước quốc tế về quyền trẻ em còn giải thích định nghĩa “trẻ em” bằng
cách nhắc lại điều đã nêu trong Tuyên ngôn về Quyền trẻ em (năm 1959) “Trẻ em
do còn non nớt về thể chất và trí tuệ, cần phải được bảo vệ chăm sóc đặc biệt, kể
cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời
ở góc độ khoa học, “trẻ em” được định nghĩa tuỳ theo góc độ tiếp cận củatừng khoa học cụ thể, như trong triết học, “trẻ em” được xem xét trong mối quan
hệ biện chứng với sự phát triển xã hội nên ở mọi thời đại, tương lai của quốc gia,dân tộc đều tuỳ thuộc vào việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Đối vớichuyên ngành xã hội học, “trẻ em” được xác định là người có vị thể, vai trò xã hộikhác với người lớn, vì vậy, cần được xã hội quan tâm, tạo điều kiện sinh trưởng,nuôi dưỡng, bảo vệ, chăm sóc phát triển thành người lớn Trong tâm lý học, kháiniệm “trẻ em” được dùng để chỉ giai đoạn đầu của sự phát triển tâm lý - nhân cáchcon người
Trong thực tế có nhiều cách hiểu và vận dụng khác nhau khi xem xét, giảiquyết những vấn đề liên quan đến quyền và bổn phận của trẻ em Người ta thường
sử dụng cụm từ “trẻ em”, “trẻ con” hay “trẻ thơ” để chỉ những người ở một độ tuổinhất định trong giai đoạn đầu của cuộc đời Mặc dù còn có nhiều cách gọi tên hayvận dụng khác nhau nhưng chúng ta có thể thống nhất khái niệm trẻ em như sau:
“Trẻ em là một thuật ngữ nhằm chỉ một nhóm xã hội thuộc về một độ tuổi nhất định trong giai đoạn đầu của sự phát triển con người Đó là khoảng thời gian đã tồn tại từ khi ra đời cho đến năm 16 (theo pháp luật Việt Nam) hoặc năm 18 tuổi
Trang 18(theo pháp luật quốc tế) ”
í.1.3, Khái niệm “phòng, chống” và “phòng chống bạo lực” trệ em
1.1.3.1, Kháinỉệm “phòng, chổng”
Theo Đại từ điển tiếng Việt do Bộ Giáo dục và đào tạo, Trung tâm ngônngữ và văn hóa Việt Nam biên soạn (Nguyễn Như Ý chủ biên), nhà xuất bản Vănhóa thông tin, năm 1998 thì khái niệm rằng:
“Phòng là tìm cách ngăn ngừa, đối phó với điều không hay có thể xảy ra,gây tác hại cho mình”
“Chống là gây tác động, trợ lực ngược lại với hoạt động của ai hoặc của
_ r % _ ' y
cái gì
Trong khuôn khổ luận văn này khái niệm “phòng chống” được dùng theo nghĩa trên, nghĩa là ngăn ngừa và xử lý đối với bạo lực trẻ em
1.L3.2 Khái niệm “bạoỉực”
ở góc độ Chính trị học, bạo lực được hiểu như là một phương tiện để đạt
mục đích chính trị Theo Đại từ điển Tiếng Việt “bậo lực” là “sức mạnh dùng để trấn áp, chống ỉạỉ lực lượng đối lập hay lật đỡ chỉnh quyền ” [29, tr.l 13].
Tuy nhiên, không phải mọi bạo lực trong xã hội đều mang tính chính trị hayđược dùng vào việc lật đổ các đảng phái, phe cánh chính trị Trong cuộc sổng hàngngày, vì rất nhiều lý do người ta có thể dùng bạo lực để hành xử với nhau Chẳnghạn, để giải quyết sự bất hòa trong quan hệ, sự tranh chấp quyền lợi hoặc sự vachạm xe cộ ngoài đường, hay những mâu thuẫn về tình cảm, thậm chí thỏa thuậnkhông được người ta cũng có thể dùng bạo lực Hậu quả của nó có thể dẫn tói cắtđứt quan hệ, tổn thương về thể xác, tinh thần Như vậy, có thể coi bạo lực là mộthiện tượng xã hội, là một phương thức hành xử trong các mối quan hệ xã hội màdẫn đến hậu quả là làm tổn hại đến
tinh thần và thể xác của người khác
Trang 19ở góc độ xã hội học, bạo lực được quan niệm: “là' các hành vi có khuynhhướng hủy diệt như một phương tiện tối hậu để thực thi quyền lực trong khuôn khổquan hệ trên - dưới một chiều dựa trên ưu thế bên ngoài, không có sự thừa nhậncủa người yếu thế (violentia) Như vậy, bên cạnh thống trị có thiết chế hợp pháp,
nó là một hiện tượng ranh giới dưới hình thức biểu hiện của quyền lực, ở mức hạnchế hay lâu dài”
Tùy thuộc vào mức độ và khía cạnh nghiên cứu về bạo lực, các nhà khoahọc đã phân chia bạo lực trong xã hội thành nhiều nhóm khác nhau Đó có thể làbạo lực về chính trị, vũ trang, khủng bố, lật đổ hoặc bạo lực về kinh tế, tranh giànhlợi nhuận; bạo lực ở cấp độ giai cấp hoặc ở cấp độ các nhóm và tầng lớp xã hội;bạo lực trong phạm vi địa phương, khu vực, hoặc bạo lực trong phạm vi gia đình,bạo lực giữa cá nhân với cá nhân
Bạo lực cũng có thể chia làm hai loại:
- Bạo lực về tinh thần
- Bạo lực về thể xác
Bạo lực về tinh thần có các hình thức sau:
Bạo lực xã hội: là bạo lực làm bẽ mặt hoặc phớt lờ người khác ở những nơi
công cộng; không cho gặp gỡ bạn bè; không cư xử tốt với bạn bè; gây chuyện cãilộn; thay đổi nhân cách những người khác
Bạo ỉực về tình cảm/ỉời nói/tâm ỉỷ: đe dọa người khác, làm họ sợ hãi; phớt
lờ tình cảm hoặc cười giễu khi người khác cố nói cho anh ta/cô ta điều gì đó quantrọng; dọa nạt bằng lời nói; gọi tên để chế giễu; hét lên, cao giọng, lớn tiếng quáttháo với người khác; chế nhạo hoặc chỉ trích người khác; làm mất thanh thế củangười khác và gia đình họ; buộc tội sai, đổ oan, vu cáo người khác; bới móc và nói
ra những lỗi; nhận xét tiêu cực về ngoại hình của người khác; nói đùa theo kiểu ác
ý nhằm mục đích bới móc những khiếm
Trang 20khuyết của người khác.
+ Bạo lực về thể xác có các hình thức:
Bạo lực về thân thể: bất cứ sự đụng chạm thân thể nào mà người khác
không,muốn; ngăn trở bằng bất cứ cách nào; ngăn lại không cho đi; giữ hoặc ômchặt khi người khác không muốn; bóp cổ, đá, đấm, tát, đánh
Bạo ỉực tình dục: bất cứ sự đụng chạm vào bất cứ chỗ nào trên cơ thể mà
người khác không muốn; bất cứ sự bình luận về tình dục không được yêu cầu, haynhững nhận xét khêu gợi nào nói ra với một người nào đó; cưỡng ép quan hệ tìnhdục; đối xử với người khác như một đối tượng tình dục; cưỡng ép xem sách báokhiêu dâm; thiếu sự riêng tư; đối xử thô lỗ; săn lùng một người nào đó vì mục đíchtình dục
Tóm lại, đa số các quan niệm về bạo lực có điểm chung là cho rằng bạo lựctồn tại chủ yếu dưới hai dạng: bạo lực về tỉnh thần và bạo lực về thể xác
Như vậy, Bạo lực ỉà tất cả những lời nói, cử chị hành động ỉàm tổn hại đến tinh thần và thể xác của người khác.
L7.5.5 Khải niệm về “phòng chống bạo ỉực trẻ em ”
Trẻ em là người nhỏ tuổi, sống phụ thuộc, phát triển chưa đầy đủ về cả mặtthể chất và trí tuệ nên rất dễ bị tổn thương, ảnh hưởng đến quá trình trưởng thànhnếu bị bạo lực, xâm hại Với rất nhiều nguyên nhân như tư tưởng độc đoán, giatrưởng, định kiến về giới, kinh tế, thất nghiệp, nghèo đói ngoài ra còn do sự thiếuhiểu biết của một bộ phận người dân về pháp luật, bình đẳng giới, đã dẫn đến tìnhtrạng gia tăng về bạo lực đối với trẻ em hiện nay Bên cạnh đó, nhận thức của xãhội hiện nay về BLTE vẫn còn nhiều hạn chế cũng là nguyên nhân dẫn tới thựctrạng này Hậu quả do nạn bạo hành gây ra, để lại cho trẻ là rất lớn Nạn nhân củabạo hành sẽ bị thương tích về mặt thể chất cũng như ảnh hưởng về sức khỏe, tinhthần Nhiều trẻ phải mang thương tật suốt quãng đời còn lại vềtinh thần, trẻ trở
Trang 21nên hoảng loạn, thiếu tự tin, thụ động, buồn rầu, lo sợ Dan đến tình trạng bị trầmcảm, trầm uất, ảnh hưởng không nhỏ về thần kinh: tâm thần, xa lánh mọi người nguy hiểm hơn là có thể ảnh hưởng đến tính mạng.
- Những biểu hiện của bạo lực đối với trẻ em
Theo Điều 2, Thông tư số: 23/2010/TT-BLĐTBXH Quy định quy trình canthiệp, trợ giúp trẻ em bị bạo lực, bị xâm hại tình dục của Bộ Lao động - Thươngbinh và Xã hội ngày 16 tháng 8 năm 2010 thì trẻ em bị bạo lực là nạn nhân của mộttrong các hành vi sau đây:
Lăng nhục, chửi mắng, xúc phạm nhân phẩm, danh dự, cô lập, xua đuổihoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý, gây tổn thương về tinh thần, ảnh hưởngđến sự phát triển của trẻ em; Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khácxâm hại đến sức khỏe, tính mạng của trẻ em; Đối xử tồi tệ, bắt nhịn ăn, nhịn uống,bắt chịu rét, mặc rách, không cho hoặc hạn chế vệ sinh cá nhân; bắt làm những việctrái với đạo đức xã hội; Cưỡng ép trẻ em lao động quá sức, quá thời gian quy định,làm công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với chất độc hại và những côngviệc trong các cơ sở kinh doanh dịch vụ dễ bị lợi dụng hoạt động mại dâm; là nạnnhân của một trong các hành vi dâm ô, giao cấu, cưỡng dâm, hiếp dâm
L L 3.4 Lợi ích của trè em trong truyền thông phòng chống bạo lực trẻ em
Trong những năm qua, Quốc hội, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản quy phạmpháp luật nhằm bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Trong đó, việc phòng, chốngbạo lực đối với trẻ em đang được chú trọng ở mọi cấp, mọi ngành, mọi tầng lớp xãhội vói mục đích tạo điều kiện và môi trường phát triển tốt đẹp nhất cho trẻ em.Tuy nhiên, các cơ quan quản lý nhận định, số lượng các vụ bạo hành thống kê đượcđưa ra mới chỉ là mảng nổi của tảng băng chìm mà thôi
Truyền thông các vấn đề liên quan đến phòng chống BLTE nhằmnâng caohiệu lực, hiệu quả phòng chống BLTE, tạo áp lực với các cơ quan của Quốc hội,
Trang 22các Đoàn đại biểu Quốc hội và các Đại biểu Quốc hộităng cường giám sát việc thựchiện Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em đối với các cơ quan quản lý Nhànước với các bộ, ngành hữu quan và chính quyền các địa phương nhằm bảo vệ lợiích chính đáng cho mọi trẻ em (ưu tiên nhóm trẻ em yếu thế trên cơ sở tiếp cậnquyền trẻ em)
Các cơ quan báo chí chính là cổng thông tin thu thập, kết nối giữa người dânvới các cơ quan liên quan trong việc xây dựng các điều ỉuật, chính sách nhằm đảmbảo quyền lợi cho trẻ em trong các tình huống điều tra, truy tố, xét xử nhạy cảm vớitrẻ em, tránh gây tổn thương thêm về tâm lý cho trẻ em là nạn nhân bị bạo lực, xâmhại trong quá trình tố tụng
Quan trọng nhất, truyền thông vấn đề phòng chống bạo lực trẻ em trên báochí nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng cho người dân, hướng tới tăng cường nhậnthức, trách nhiệm và ý thức tự giác thực hiện phòng chống bạo lực trẻ em trongnhân dân
1.1.4 Quy định của pháp ỉuật liên quan đến tác nghiệp báo chí về trẻ em
1.1.4.1 Mối quan hệ giữa trẻ em với bảo chỉ
Mối quan hệ giữa trẻ em và báo chí là mối quan hệ 2 chiều Trong nhiềutrường hợp, là mối quan hệ 3 chiều: Trẻ em - Báo chí - Người bảo hộ/người đạidiện theo pháp luật của Trẻ em Cụ thể, mối quan hệ giữa trẻ em với báo chí thểhiện qua các mặt sau đây:
- Trẻ em là đối tượng phản ánh của báo chí: Đây là mối quan hệ phổ biếnnhất báo chí hay gặp trong mối quan hệ với trẻ em, khi báo chí thực hiện chức năngthông tin của mình Thực tế trên các báo, đài hàng ngày, đề tài trực tiếp hoặc giántiếp liên quan đến trẻ em luôn tràn ngập, từ các vấn đề mặt phải, mặt tích cực nhưgiáo dục, chăm sóc, khám chữa bệnh, vui chơi giải trí đến các mặt tiêu cực như
Trang 23trẻ em, người chưa thành niên phạm tội, người tâm thần gây án, nhức nhối tệ nạn
xã hội, gắng nặng y tế, an sinh xã hội
- Trẻ em là đối tượng bảo vệ của báo chí: Tương ứng với các quy địnhpháp luật đặc thù về trẻ em, đây cũng là những đối tượng bảo vệ của báo chí, đượcbáo chí quan tâm thông tin với ý nghĩa tích cực, bảo vệ Ví dụ, báo chí lên án nạnbạo hành trẻ em, góp phần thay đổi nhận thức hành vi của một bộ phận phụ huynh,chính quyền và các tổ chức xã hội địa phương trong vấn đề này
- Trẻ em, người bảo hộ/người đại diện theo pháp luật của trẻ em tácđộng lại báo chí:
+ Xét ở góc độ tiêu cực, trẻ em ở đây trở thành “nạn nhân” của báo chí, bịbáo chí xâm phạm hình ảnh, đời tư, và/hoặc làm ảnh hưởng đến họ và gia đình họ
+ Xét ở góc độ tích cực, trẻ em tác động tích cực lại với báo chí và nhà báo,góp phần thay đổi nhận thức, hành vi, cách thông tin của báo chí đối với đối tượngtrẻ em
ỉ 1.4.2 Quy định của pháp ìuật liên quan đến phỏng vấn và khai thác thông tin từ trẻ em
Cả về pháp luật và đạo đức, khi phỏng vấn, khai thác và sử thông tin về trẻ
em (cả về góc độ tích cực, biểu dương hay tiêu cực, phê phán), nhà báo phải tôntrọng quyền riêng tư và được sự đồng ý của trẻ em và/hoặc người bảo trợ/đại diệnhợp pháp của trẻ em
LI.4.3 Đạo đức nghề nghiệp liên quan tác nghiệp báo chí về Trẻ em
* Nguyên tắc phỏng vấn Trẻ em
Quỹ Nhi đồng Liên hợp Quốc UNICEF đã đưa ra 6 chỉ dẫn cho nhà báo khiphỏng vấn trẻ em Theo nhóm tác giả, các nguyên tắc này có thể áp đụng được cảtrong phỏng vấn người yếu thế:
- Không gây tổn thương cho trẻ; tránh-những câu hỏi, thái độ hoặc lời
Trang 24bình luận thiên kiến, thiếu tế nhị về các giá trị văn hoá, khiến trẻ lâm vào tình thếkhó xử, làm trẻ mất thể diện hoặc làm cho trẻ nhớ lại những sự kiện đau đớn.
- Khi chọn trẻ để phỏng vấn, không phân biệt giới tính, chủng tộc, độtuổi, tôn giáo, địa vị, học vấn hoặc thể chất của trẻ
- Không dụng chuyện: Không yêu cầu trẻ kể một câu chuyện hoặcthực hiện một hành động mà không phải của trẻ
- Đảm bảo rằng trẻ hoặc người bảo hộ của trẻ biết họ đang tiếp xúc vớinhà báo Giải thích mục đích của cuộc phỏng vấn và mục đích sử dụng thông tin
- Xin phép trẻ và người bảo hộ của trẻ khi thực hiện tất cả các cuộcphỏng vấn, quay phim Trong một số trường họp, lời xin phép này cần được vănbản hoá cần đảm bảo rằng trẻ và người bảo hộ không bị cượng ép dưới bất kỳ hìnhthức nào và họ hiểu rằng họ là một phần của câu chuyện sẽ được phổ biến trênphạm vi khu yực hoặc quốc tế Việc xin phép phải được thực hiện bằng ngôn ngữcủa trẻ và nên để trẻ có cơ hội tham vấn ý kiến của người lớn, người mà trẻ tintưởng
- Chú ý tới địa điểm và cách thức phỏng vấn trẻ Hạn chế số ngườiphỏng vấn và phóng viên ảnh Hãy đảm bảo rằng trẻ được thoải mái và có thể kểcâu chuyện của mình mà không chịu bất kỳ áp lực nào từ bên ngoài, kể cả từ ngườiphỏng vấn
Nhiều văn bản pháp quy của Việt Nam và của Liên hợp quốcđã quy định rất
rõ ràng những vấn đề liên quan đến công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo đục trẻ em
* Nguyên tắc đưa tin về trẻ em
Đưa tin về Trẻ em có những thách thức riêng Trong một số trường hợp,việc đưa tin về trẻ em có thể khiến họ bị tổn thương, đẩy họ vào những tình huốngkhó xử, thậm chí khiến họ bị xa lánh hoặc trả thù
Đối với trẻ em, UNICEF đưa ra 6 nguyên tắc khi đưa tin để đảm bảo các nhà
Trang 25báo phục vụ lợi ích tốt nhất của cộng đồng trong khi không xâm phạm hoặc hạ thấpcác quyền của trẻ em Các nguyên tắc này, theo chúng tôi, trong nhiều trường hợpcũng áp đụng được với đưa tin về người yếu thế:
- Nhân phẩm và các quyền của trẻ em phải được tôn trọng trong mọitrường họp
- Khi phỏng vấn và đưa tin về trẻ em, cần đặc biệt chú ý đến quyềnriêng tư và bí mật của trẻ, chúng cần được lắng nghe, tham gia vào các quyết định
có ảnh hưởng tới chúng và được bảo yệ trước mọi hành vi lạm dụng và trừng phạt
- Lợi ích tốt nhất của mỗi trẻ em phải được ưu tiên trước bất kỳ lợi íchnào khác
- Trong quá trình xác định những lợi ích tốt nhất của trẻ, quyền đượclắng nghe của trẻ phải được tôn trọng phù hợp với độ tuổi và mức trưởng thành củachúng
- Những người hiểu rõ nhất hoàn cảnh của trẻ em và có khả năng đánhgiá chính xác nhất hoàn cảnh đó cần được tham vấn về những vấn đề chính trị, vănhoá, xã hội khi đưa tin về trẻ em
- Không đăng tải một câu chuyện hoặc hình ảnh có thể đưa trẻ, anh emhoặc bạn bè của trẻ vào tình huống khó khăn hoặc nguy hiểm ngay cả khi nhữngyếu tố nhận dạng đưực thay đổi, giấu đi hoặc không được sử dụng
RÕ ràng chúng ta cần một cái nhìn tinh tế, tỉnh táo và toàn diện hơn về diệnmạo trẻ em trên báo chí Họ là nhóm đối tượng dễ bị tổn thương về tinh thần, vìvậy khi phản ánh những vấn đề có tính nhạy cảm, báo chí cần thực sự chú ý tớingòi bút của mình
PGS TS Nguyễn Thị Trường Giang (Học viện Báo chí và Tuyên truyền) vớiviệc sưu tầm, dịch và công bố 100 bản quy tắc đạo'đức nghề báo trên thế giới cũnggiúpích rất nhiều cho bản luận văn
Trang 261.2 NHẬN DẠNG CÁC HÀNH VI BẠO Lực ĐỐI VỚI TRẺ EM
Bạo lực trẻ em bao gồm nhiều hành vi Có thể là những hành vi trực tiếp gâytổn hại đến thân thể trẻ như: Đánh đập lên thân thể, bắt quỳ, úp mặt vào tường,nhịn ăn, chửi mắng, miệt thị, khinh rẻ, chê bai Bạo hành cũng có thể là bắt trẻchứng kiến sự bạo hành người khác như: Cha mẹ đánh nhau, chửi nhau, người lớnđánh trẻ em, hành hạ súc vật trước mắt trẻ Cần nhấn mạnh rằng, những gì diễn ratrong quãng đời thơ ấu của trẻ, sẽ rất dễ lặp lại ở chính trẻ đó khi trưởng thành.Nghĩa là, hành vi bạo hành có thể tạo ra nhiều thế hệ nạn nhân Bạo hành có thểxuất phát từ hành vi của người thiếu đạo đức và độc ác, nhưng phần nhiều, bạohành xuất phát từ sự sai lầm của nhận thức
1.2.1 Nguyên nhân và hậu quả của bạo lực đốỉ vớì trẻ em
1.2.1.1. Nguyên nhân
- Phong tục, tập quán lạc hậu
Việt Nam là một nước Á Đông với tư tưởng gia trưởng còn nặng nề, điềunày có ảnh hưởng rất lớn tới vấn đề BLTE ở nước ta hiện nay Tính gia trườngđược chấp nhận trong gia đình và ngoài xã hội đã tạo ra một vị trí đặc biệt chonhững người đàn ông trong gia đình: họ có “quyền” quyết định những vấn đề quantrọng, quyết định thái độ ứng xử vói các thành viên khác, họ có quyền “dạy dỗ” vợcon theo ý mình Thậm chí, có người coi việc sử dụng bạo lực là ứng xử cần thiết
để đảm bảo hạnh phúc gia đình Đây là những yếu tố gây ra khó khăn rất lớn trongcông tác phòng, chống BLTE hiện nay
- Tâm lý của các thành viên trong gia đình, xã hội đối với vấn đề bạo
lực trẻ em
Khái niệm tâm lý được đề cập ở đây không phải là tâm lý xã hội nói chung
mà là tâm lý của từng thành viên trong gia đình, xã hội với tư cách là cha, mẹ, con,anh, chị, em, thầy, cô, người lớn tuổi với nhau và với vấn đề BLTE
Trang 27Cha mẹ luôn đành những tình cảm yêu thương, trân trọng cho con cái mình.Song quan niệm về giáo dục của phần đông người Việt vẫn là “yêu cho roi chovọt” Chính vì vậy, việc cha mẹ, người lớn tuổi hơn đánh đập, mắng mỏ con cáiđược coi là bình thường, thậm chí là cần thiết và không thể thiếu để dạy con thànhngười Những đứa trẻ phải chấp nhận sự giáo dục này, và cuối cùng cũng cảm thấy
đó là bình thường để chịu đựng Bên cạnh đó, nhiều bậc cha mẹ vẫn có suy nghĩcon cái là “của mình”, nên mình có quyền đối xử tùy ý, người khác không đượccan thiệp vào
Vóỉ các thành viên khác trong gia đình, xã hội do ảnh hưởng của nhiều yếu
tố văn hóa, sự áp đặt của những thành viên lán tuổi với các thành viên nhỏ hơn làkhá phố biến và thường xuyến vì quan niệm “khôn không đến trẻ, khỏe không đếngià” Trong xã hội hiện nay, điều này thường làm phát sinh tư tưởng chống đối ởgiới trẻ khiến các mói quan hệ trong gia đình, xã hội trở nên căng thẳng, dễ làmphát sinh BLTE
- Điều kiện kinh tế - xã hội
Điều kiện kinh tế xã hội luôn là yếu tố tác động mạnh tới các mối quan hệtrong gia đình và ngoài xã hội Kinh tế khó khăn thường gây nên sự căng thẳng,tranh chấp trong gia đình, là nhân tố đẫn tới các hành vi bạo lực về thể chất, tinhthần không đáng có việc thiếu thốn về vật chất cũng làm cho các thành viên tronggia đình không có điều kiện giao lưu, học tập, tiếp cận những tri thức tiến bộ cũngnhư không được định hướng về cách ứng xử trong gia đình, xã hội, khiến tình trạngbạo lực càng dễ có nguy cơ xảy ra Tuy nhiên, ở rất nhiều gia đình, dù điều kiện vậtchất đầy đủ nhưng vẫn có hiện tượng
BLTE Điều này có thể được lý giải như sau: khi kinh tế phát triển, các thành viêntrong gia đình có xu hướng thỏa mãn các lợi ích cá nhân mà thiếu đi sự quan tâmchăm sóc tới nhau; hoặc vì quá ham mê các lợi ích kinh tế mà phát sinh tranh chấp
Trang 28giữa những người thân trong gia đình Ở những gia đình này, bạo lực về tỉnh thần
có xu hướng phát triển hơn bạo lực về thể chất, kinh tế hay tình dục bởi vì nhữngnhu cầu này đều có thể được đáp ứng phần nào bằng tiền bạc
Bên cạnh đó, do ảnh hưởng của nhiều yếu tố văn hóa bên ngoài, xu hướngbạo lực có chiều hướng gia tăng trong xã hội Việt Nam: mọi người đều dễ dàng tìmđến việc sử dụng bạo lực để giải quyết các mâu thuẫn phát sinh Ngoài ra, sự suygiảm các giá trị truyền thống cũng làm gia tăng những hành vi BLTE vốn hiếm gặptrước đây
- Định kiến giới
Quan niệm trọng nam khinh nữ đã ăn sâu vào tiềm thức của người Việt Nam
từ hàng ngàn năm nay và thực sự đã và đang cướp đi nhiều quyền lợi chính đángcủa những đứa trẻ là nữ Những bé gái thường không có được sự tôn trọng xứngđáng trong gia đình, không được hưởng những quyền ỉợi về vật chất, về tinh thần
và thường xuyên phải chịu những tổn thương: bị đánh đập, bị xúc phạm danh dự,
bị cưỡng ép tình dục Ngay cả đối với một số gỉa đình quan niệm “con gái là conngười ta” cũng khiến nhiều bé gái bị thiệt thòi hơn so với bé ừai Sự bất bình đẳng
về giới này được cả xã hội chấp nhận, thậm chí cả chính những người phụ nữ cũngcoi đó là bình thường Điều này cũng là nguyên nhân trực tiếp nhất dẫn tới nạn bạohành với trẻ em nữ trong gia đình nhiều hơn trẻ em trai
- Trình độ dân trí
Những yếu tố tiêu cực ảnh hưởng tới việc phòng, chống BLTE nêu trên đều
có thể được giải quyết phàn nào bằng việc nâng cao trình độ dân trí Khi được tiếpxúc với những tri thức tiến bộ, được hiểu biết về quyền trẻ em, cũng như nhữngquy định của pháp luật về bảo vệ, chăm sóc trẻ em thì hành vi vi phạm trong lĩnhvực này sẽ giảm xuống Như đã phân tích ở trên, những yếu tố như tâm lý, phongtục tập quán,định kiến giới đã làm cho những người có hành vi BLTE, nạn nhân
Trang 29và những người xung quanh cho rằng hành vi đó là bình thường, không phải chịubất cứ trách nhiệm nào Chính vì vậy mà tình trạng BLTE vẫn phổ biến và khôngđược ngăn chặn một cách hiệu quả Nhưng nếu trình độ dân trí được nâng cao, kiếnthức pháp luật được cung cấp đầy đủ thì những hành vi bạo lực sẽ khó có cơ hộiphát triển: người có hành vi bạo lực biết tính chất sai trái của hành vi và những hậuquả có thể phải gánh chịu, sẽ phải cân nhắc kỹ càng; những người xung quanh,những cơ quan có thẩm quyền khi biết được nghĩa vụ và quyền lợi của mình sẽtham gia phòng, chống BLTE một cách tích cực, chủ động hơn.
7.2.1.2 Hậu quả
Trước hết, bạo lực trẻ em em dù dưới bất kỳ hình thức nào, dù với lý do gì
và theo luận thuyết nào đều không thể chấp nhận được trong thời đại ngày nay Bạohành trước hết ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe thể chất của trẻ hoặc nguy hạihon, khiến trẻ có thể bị nguy hiểm đến tính mạng Bạo hành cũng làm trẻ không thểphát triển về thể chất một cách bình thường GS Nguyễn Viết Thiêm: “Bạo lực trẻ
em ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc hình thành và phát triển nhân cách của trẻ”Bạo hành cũng ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe tâm thần của trẻ Khi bị bạohành, có hai phản ứng ở trẻ thường xảy ra Nếu biểu hiện ra bên ngoài, trẻ có thểthay đổi tính nết Đang hiền lành, trẻ bỗng trở nên hung bạo, hay cáu gắt, khóc lóc,thậm chí đánh đập người khác hoặc độc ác với thú vật Loại thứ hai là cách phảnứng thu mình lại Trẻ trở nên lo lắng, buồn phiền, xa lánh mọi người, không thíchtiếp xúc và luôn mang cảm giác sợ sệt Tuy nhiên, điều đặc biệt lưu ý là việc bạolực trẻ em ảnh hưởng nghiêm trộng đến việc hình thành và phát triển nhâỉi cách củatrẻ Tất cả những hành động như đánh đập, vùi dập, khủng bố, làm nhục đều khiếnđứa trẻ thiếu tự tin, rụt rè, luôn trong trạng thái thảng thốt Bị bạo hành, trẻ (dạn,dần hình thành một nhân cách nhút nhát, tự ti, thiếu sự khẳng định mình Nếu suốtngày bị đánh đập, chửi bới, nhiếc móc, chắc chắn trẻ sẽ bị ảnh hưởng rất lớn tinh
Trang 30thần Một đứa trẻ không được yêu thương, làm sao biết yêu thương? Một đứa trẻchịu sự giáo dục bằng roi vọt dễ có hành vi độc ác khi trưởng thành Biểu hiện lúcnhỏ của trẻ có thể đơn giản là hung bạo, hay cáu gắt, khó tính, nhưng khi lớn lên,trẻ có thể trở thành một con người cục cằn, lỗ mãng và độc ác sống trong môitrường không lành mạnh, bị bạo hành hoặc chứng kiến sự bạo hành, trẻ sẽ có quanniệm sống lệch lạc, không biết tôn trọng người khác và cũng không biết tôn trọngchính bản thân mình Bạo hành cũng ảnh hưởng đến sự thành công trong tương laicủa trẻ Ví dụ, những cách giáo dục phản giáo dục, giáo dục sai phương pháp làmột tác nhân quan trọng khiến trẻ không thích đến trường, không thích đi học Khikhông thích học, trẻ không thể tiếp thu kiến thức Học kém, bị điểm thấp, bị tráchphạt từ gia đình đến nhà trường, trẻ trở nên kém tự tin, dần dẫn đến u lì, mụ mị đầu
óc, dễ bị những cám dỗ bên ngoài ảnh hưởng đến như: Kết bè đảng với những đứatrẻ giống mình, bỏ nhà đi lang thang, hút thuốc lá, thậm chí nghiện ma túy Càng
bị trách phạt, trẻ càng có nguy cơ rối loạn hành vi nhiều hơn Chỉ một cái tát của côgiáo đôi khi cũng là một vết thương khó phai mờ trong tâm trí của trẻ, khiến trẻ trởnên tự ti Cá biệt có trường họp còn làm thay đổi cả tính cách của một con người
Một tác hại cũng không thể không nhắc tới, đó là việc bạo hành, làm nhục có thể
khiến trẻ ừở nên mất lòng tự trọng Khi liên tục bị đánh đập, hành hạ hoặc bị làmnhục dưới mọi hình thức, trẻ trở nên mất lòng tự trọng, lì lợm, ngang bướng, vàkhông còn coi chuyện vi phạm lỗi là quan trọng Trẻ sẵn sàng không tôn ừọngngười khác, có những hành vi mà người có lòng tự trọng không bao 'giờ làm Trẻcũng trở nên vô cảm, không biết lên án những hành vi phi đạo đức của người khác
1.3 MỤC ĐÍCH, Ý NGHĨA CỦA VIỆC TRUYỀN THÔNG PHÒNG,
CHỐNG BẠO Lực TRẺ EM TRÊN BÁO IN CỦA BỘ LAO ĐỘNG
-THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
1.3.1 Mục đích của việc truyền thông phòng chổng bạo lực trẻ em
Trang 31Phòng, chống bạo lực trẻ em trên báo chí nhằm được những mục đích quan trọng như:
7.5.7 L Cải thiện khung pháp lý và chỉnh sách về bảo vệ trẻ em Kết quả này
bao gồm xây dựng được một khung pháp lý hoàn chỉnh về bảo vệ trẻ em, rà soátpháp luật về bảo vệ trẻ em Một số luật và chính sách quốc gia để giải quyết cácvấn đề về bảo vệ trẻ em đang được xây dụng và thực hiện (như Luật chống Bạo lựctrẻ em, Kế hoạch Hành động Quốc gia chống Buôn bán Người, Chương trình Hànhđộng Quốc gia về Trẻ em và AIDS và Quyết định hỗ trợ các nạn nhân của nạnbuôn bán người phục hồi và tái hòa nhập cộng đồng) Ngoài ra, còn cần cải thiệnchất lượng giáo dục về công tác xã hội được chuyên nghiệp hóa, đảm bảo các nhânviên xã hội có đủ năng lực làm việc với các gia đình và trẻ em dễ bị tổn thương.Đồng thời, nâng cao năng lực chuyên môn cho giáo viên, cán bộ y tế, công an, cán
bộ tư pháp và các đối tượng khác là những người làm việc nhiều và trực tiếp nhấtvới trẻ em dễ bị tổn thương sẽ gỉúp đối phó hiệu quả hơn nữa nạn lạm dụng, bóc lột
em là nạn nhân bị bỏ rơi, lạm dụng, buôn bán và bóc lột Đưa ‘tin về trung tâmphục hồi tại các tỉnh để hỗ trợ trẻ em đặc biệt là trẻ em nữ là nạn nhân của nạnbuôn bán người, bạo lực trẻ em và lạm dụng
Đưa tin bài về năng lực và cung cấp thêm các dịch vụ về hệ thống tư phápthân thiện với trẻ em Giúp đỡ cho cán bộ công an để điều tra các vụ việc liên quanđến trẻ em ở cấp trung ương và cấp tỉnh nhờ có các tài íiệu về điều tra thân thiện
Trang 321.3.2 Ỷ nghĩa của việc truyền thông phòng chống bạo lực trẻ emtrên báo in
cơ quan Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
7.3.2 L Cảnh báo cho xã hội biết về thực frang và hậu quả của bạo lựctrẻ em
Các phương tiện truyền thông đại chúng đều tham gia thể hiện đề tài BLTEnhưng báo chí đóng vai trò quan trọng nhất Bởi vì nó không những nhiều về sổlượng mà còn nhanh nhạy, kịp thời trong phản ánh Bản chất của báo chí là truyềntải, phản ánh những gì vừa diễn ra, đang diễn ra Báo chí bám sát cuộc sống, theosát cuộc sống để ghi lại và nhanh chóng làm thỏa mãn nhu cầu thông tin của côngchúng Vì thế báo chí là loại hình truyền thông nhanh nhạy nhất đem đến cho côngchúng kịp thời nhất những gì diễn ra trên thế giới và trong nước, những gì xảy raxung quanh chúng ta Định kỳ của báo in có khác định kỳ báo phát thanh và truyềnhình hay báo mạng điện tử, song tính nhanh nhạy và kịp thời của báo chí biểu hiện
ở chỗ, báo chí truyền tải thông điệp từ nơi phát, người phát đến công chúng tiếpnhận bằng con đường nhanh nhất Đối với phòng chống bạo lực trẻ em, báo chí lànguồn tin tức tin cậy kịp thời cảnh báo cho xã hội biết về thực trạng và hậu quả củabạo lực trẻ em
Trang 33Ví dụ: Trên một tờ báo đưa tin về bạo lực trẻ em có đoạn “Theo số ỉiệukhảo sát của Tổng cục Thống kê, cho thấy 74% trẻ em Việt Nam từ 2— 14 tuốitừng trải nghiệm một hình thức xử phạt bạo lực, có nghĩa ỉà đứa trẻ đỏ chịu ỉt nhấtmột hình thức xử phạt bạo lực về tinh thần hoặc thể xác do cha mẹ/người chăm sóchoặc thành viên gia đình gây ra Theo số ỉiệu của Bộ Công an, khoảng 1,800 trẻ emđược báo cáo là bị ỉạm dụng trong năm 2009 và 60% các em này bị ỉạm dụng tìnhdục Hơn 600 trẻ em bị buôn bán và bắt cóc trong cùng một năm.
Bạo lực gầy ra không chỉ những vết thươỉĩg về thể chất mà còn để lại nhữngvết sẹo tinh thần đỗi với trẻ em Nó ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất và tinh thầncủa các em, ỉàm tổn hại khả năng học tập và giao tiếp và làm suy yếu sự phát triểncủa trẻ [Tẩ chức Y tế Thế giới (WHO) (2Ồ14)Ỵ
1.3.2,2 Kêu gọi các ban, ngành, địa phương; tổ chức xã hội tham gia
phòng, chổng bạo lực trẻ em
Tác động của truyền thông báo chí trước hết là tạo lập dư luận trong xã hội,tức là khả năng xã hội hóa các thông tin Một sự kiện, một vấn đề liên quan đếnBLTE nào đó ở một làng quê,ởmột góc phố, ởmột không gian địa lý hạn hẹp nào
đó khi được đưa lên báo chí thì lập tức có ý nghĩa xã hội rộng rãi Mặt khác, ngượclại, bất cứ một sự kiện vấn đề nào trên khắp hành tinh, các vùng xa xôi hẻo lánhđều có thể đén với mỗi góc nhà, mỗi con người Đây là khả năng truyền tải, khơinguồn thông tin của báo chí Một hành vi bạo hành trong một gia đình nhỏ ở tậnmiền núi Tây Bắc Tổ quốc xa xôi có thể đến với bạn đọc khắp nước để xã hội lên
án, bày tỏ thái độ Báo chí thông tin và phân tích thông tin nhiều chiều, giúp côngchúng tiếp nhận có được cách nhìn rõ ràng về bản chất sự việc, từ đó có thái độ,ứng xử phù hợp với vấn đề, hoặc tham gia, vào cuộc đẩy lùi nạn bạo hành, bạo lựctrẻ em Báo chí còn có vai trò phản ánh dư luận xã hội Nhất là các vụ, việc BLTEđăng trên các phương tiện thông tin đại chúng, báo chí còn phản ánh dư luận xã hội
Trang 34vừa bức xúc, vừa gay gắt Tạo ra một sức mạnh xã hội không những có khả nănghạn chế những hành động phi nhân tính và phi đạo lý này mà nó còn tác động đếncác giớỉ quan chức, những người có trách nhiệm, các tổ chức trong xã hội cónhững hành động, những việc làm cụ thể để ngăn chặn nạn BLTE Trên cơ sở vaitrò khơi nguồn thông tin, vai trò phản ánh dư luận của xã hội, báo chí đi đến thựcthi vai trò định hướng và điều hòa dư luận xã hội, điều hòa tâm lý, tâm trạng xãhội Đây là vai trò có ý nghĩa quyết định hiệu quả tác động của báo chí.
Dù khơi nguồn, phản ánh như thế nào, cuối cùng báo chí cũng phải địnhhướng được dư luận xã hội, tức là định hướng được nhận thức tư tưởng của nhândân Vai trò khơi nguồn hay phản ánh đều chủ yếu nhằm vào việc định hướng dưluận xã hội, tức là hướng dẫn nhận thức cho công chúng, cho nhân dân Địnhhướng không chỉ là yêu cầu của nhà báo, nhà truyền thông, mà còn là yêu cầukhách quan của công chúng cần thống nhất nhận thức, thái độ và hành vi, cần bình
ổn đời sống tinh thần để khai thác, phát huy mọi nguồn lực vật chất xây dựng vàphát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống và chất lượng cuộc sống
Bằng cách tạo nên dư luận xã hội nói chung, dư luận xã hội về vấn đề BLTEnói riêng, báo chí thực hiện chức năng giám sát xã hội
Giám sát là sự theo dõi, phát hiện, cảnh báo những vấn đề mới nảy sinh,giúp xã hội đề phòng hay xử lý kịp thời, có hiệu quả Đối với xã hội hiện đại cácphương tiện truyền thông đại chúng cũng giống như người hoa tiêu trên con tàu Nóphát hiện và cảnh báo kịp thời những nguy hiếm có khả năng đe dọa con tàu giúpđoàn thủy thủ đề phòng đúng đắn, đưa con tàu vượt lên
Thực tế báo chí nước ta cho thấy đối với đề tài BLTE, chức năng giám sáthiểu theo khía cạnh trên đây là rất đúng nghĩa Bản chất của báo chí là truyền tảithông tin, thông tin để tạo dư luận, định hướng dư luận đồng thời tham gia giám sát
xã hội Kết quả hoạt động giám sát, kiểm tra của báo chí là nguồn thông tin quan
Trang 35trọng giúp các cơ quan Đảng và Nhà nước kịp thời có quyết định, biện pháp tíchcực, điều chỉnh hoạt động của các cơ quan, tổ chức cấp dưới Mặt khác, nguồnthông tin đó tiếp tục tác động tới các cơ quan, tổ chức có khuyết điểm, giúp họnhận thức được thiếu sót để tự điều chỉnh hoặc trong trường hợp khác sẽ tạo nên áplực xã hội buộc họ phải sửa chữa Vì vậy những hiện tượng về BLTE xảy ra trong
xã hội, báo chí thông tin không những để lên án, để bày tỏ thái độ mà còn cảnhbáo, kêu gọi toàn xã hội, các cơ quan chức năng, pháp luật tìm những biện pháp đểdần dần loại bỏ hiện tượng phi đạo lý và phi nhân tính đó
BLTE phần nhiều là hành động của những cá nhân hoặc một nhóm người.Báo chí phản ánh, lên án, cảnh báo nhằm mục đích “tạo nên áp lực xã hội buộc họphải sửa chữa” Đối với các cơ quan, đoàn thể cũng phải có thái độ, biện pháp đốivới hành vi BLTE này Mục đích hàng đầu của báo chí trong hoạt động giám sát làcuộc đấu tranh chống các hiện tượng tỉêu cực trong đời sống xã hội, khẳng địnhbản chất ưu việt của chế độ ta, của xã hội ta Báo chí phản ánh, lên án nạn bạo hànhvới trẻ em là nhằm không những phê phán mà mong muốn loại bỏ khỏi đời sống xãhội những hiện tượng trái với bản chất của chế độ tốt đẹp của chúng ta Nó đã,đang và sẽ có hại cho hạnh phúc không những trong mỗi gia đình mà còn gây nêntình hình bất ổn
cho xã hội, vi phạm quyền sống của con người
1.3.2.3 Hạn chế và đi đến chẩm dứt bạo hành trẻ em ở gia đình, nhà trường
và xã hội
Thông tin của báo chí không bao giờ chỉ để thông tin Trong bản chất của
nó, thông tin bao giờ cũng mang tính khuynh hướng Bởi vì “tính khuynh hướng lànguyên tắc phổ biến, không thể chối bỏ của hoạt động báo chí một cách kháchquan, ngoài ý muốn của người làm báo” [19, tr.159] Báo chí thông tin những hành
vi BLTE không những chỉ để phê phán, lên án, bày tỏ thái độ nhân đạo của mình
Trang 36mà khuynh hướng cần đạt tới của nó là góp phần thực hiện nhiệm vụ giáo dục choquảng đại quần chúng Do tính chất đại chúng của báo chí, do sự truyền tải thôngtin nhanh nhạy của báo chí và do sức bao quát phản ánh toàn bộ những gì xảy ratrong xã hội đem lại cho báo chí tính giáo dục rất cao Nhiều nhà nghiến cứu, nhiềugiáo trình nhấn mạnh các chức năng tư tưởng, chức năng quản lý xã hội, chức năngvăn hóa, chức năng giải trí, kinh doanh, dịch vụ [18] nhưng thực ra, dẫu thựchiện chức năng nào thì tính chất giáo dục cho người tiếp nhận thông tin tồn tạikhách quan tự nhiên Bởi vì đến với thông tin đầu tiên là để thỏa mãn thông tinnhưng chính thông tin đó tác động đến con người Trong cuốn “Nghĩ về nghề báo”,Nhà báo Hữu Thọ có một suy nghĩ, băn khoăn rất đúng:
Tôi muốn nói về chuyện này vì e rằng khi nói đến “côngnghiệp hóa, hiện đại hóa” người ta lại chỉ lao vào viết về việc, vềmáy, về mặt công nghệ, chính sách Mà lại quên mất con người, cácmối quan hệ rất phong phú giữa con người với nhau trong việc thựchiện nhiệm vụ lịch sử trọng đại này [19, tr.203]
Cho nên nhiệm vụ giáo dục con người, bồi dưỡng xây dựng con người lànhiệm vụ rất quan trọng mà báo chí có khả năng thực hiện Việc đưa tin
bài, yụ việc BLTE cái đích cuối cùng là nhằm giáo dục mọi người
Tiễu kết chương 1Trong chương 1, luận văn đã giới thiệu khái quát về các khái niệm trungtâm liên quan đến vấn đề nghiên cứu; Mục đích, ý nghĩa của việc phòng chống bạolực trẻ em trên báo in cơ quan Bộ LĐTBXH; Quan điểm, chính sách của Đảng vàNhà nước về bảo vệ, chăm sóc trẻ em
Với tình yêu trách nhiệm đối với thế hệ tương lai, báo in cơ quan BộLĐTBXH là một trong những lực lượng đi đầu trong công tác phòng chống bạo lựctrẻ em thông tin kịp thời bằng những thực tế khách quan, khoa học; góp phần cảnh
Trang 37báo cho xã hội về thực trạng và hậu quả của bạo hành trẻ em; Kêu gọi các ban,ngành, địa phương, tổ chức xã hội tham gia phòng chống bạo lực trẻ em; Hạn chế
và đi đến chấm dứt bạo hành trẻ em ở gỉa đình, nhà trường, xã hội
Báo in cơ quan Bộ LĐTBXH trong thời gian qua đã có sự sâu sát trongthông tin vấn đề phòng chống bạo lực trẻ em, nhất là thời điểm hàng loạt các vụbạo hành trẻ em xảy ra liên tiếp, gây nên phẫn nộ trong dư luận xã hội Vai trò củabáo in cơ quan Bộ LĐTBXH như thế nào đối với vấn đề này, tác gỉả sẽ làm rõ ởchương 2
hình điển hình, biểu dương người tốt, việc tốt; đấu tranh với những vi phạm, nhữngbiểu hiện tham nhũng, tiêu cực trong lĩnh vực lao động, người có công và xã hộitheo quy định của pháp luật và phân công của Bộ Trao đổi lý luận, nghiệp vụ;thông tin về kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực lao động, người có công và xã hội
và các hoạt động khác của Bộ, ngành theo quy định của pháp luật và phân công củaBộ
Tạp chí LĐXH phát hành 02 số/tháng vào các ngày 01 và 16 hàng tháng
về cơ cấu tổ chức: nhân sự có tổng số 30 người, gồm 01 Tổng biên tập, 02Phó tổng biên tập, 4 phòng ban: Phòng Thư ký tòa soạn; Phòng Phóng viên; PhòngHành chính - Trị sự; Phòng Kế toán - Tài vụ; Văn phòng đại diện phía Nam tạithành phố Hồ Chí Minh
2.1.3 Tạp chí Gia đình và Trẻ em
Tạp chí Gia đình và Trẻ em, thành lập vào tháng 4 “1991 là một ấn phẩmnằm trong hệ thống báo chí của Trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ ChíMinh Ẩn phẩm này ra đời nhằm đáp ứng đòi hỏi khách quan trong sự nghiệp bảo
vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Sau đó, Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em đượcthành lập, ấn phẩm này được chuyển cho Ưỷ ban Với tên gọi “Vì Trẻ Thơ” Đếntháng 9/2007, thực hiện Nghị quyết của Quốc hội và Quyết định của Thủ tướng
Trang 38Chính phủ về giải thể Ưỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em, chuyển chức năng quản
lý Nhà nước về trẻ em sang Bộ Lao động “ Thương binh và Xã hội, Tạp chí Giađình và Trẻ em đã trở thành đơn vị thuộc Bộ LĐTBXH
Tạp chí Gia đình và Trẻ em có chức năng tuyên truyền đường lối, chủtrương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thông tin lý luận nghiệp vụ,thông tin về kết quả nghiên cứu, kiến thức khoa học, kinh nghiệm, tư vấn về côngtác bảo vệ, chăm sóc trẻ em
Tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, phápluật của Nhà nước về công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em Phổ biến các mô hình điểnhình, biểu dương người tốt, việc tốt; đấu tranh với những hành vi xâm phạm quyềntrẻ em, những biểu hiện tham nhũng, tiêu cực trong công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ
em và các lĩnh vực khác của Bộ theo quy định của pháp luật
Tạp chí Gia đình và Trẻ em phát hành 01 số/tuần vào thứ năm
Cơ cấu tổ chức của Tạp chí Gia đình và Trẻ em gồm 01 Tổng Biên tập và 01Phó Tổng Biên tập; và 04 phòng/ban chức năng: Ban Thư ký, Biên tập; PhòngHành chính - Trị sự - Kế toán; Phòng Phát hành và quảng cáo; Văn phòng Đại diệnphía Nam tại Tp.HCM
2.2 KẾT QUẢ KHẢO SÁT CÁC cơ QUAN BÁO IN CỦA BỘ LAOĐỘNG - THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
2.2.1 Báo Lao động và Xã hội với vấn đề phòng, chổng bạo lực trẻ em
2.2.1.1. Thông tin về các vụ việc về bạo lực trẻ em
Qua khảo sát thực tế các tin bài đưa tin về bạo lực trẻ em từ 1/2013 đến12/2015 không nhiều
Trong năm 2013 gồm những bài viết: “Lao động việc làm: Nhiều nguy cơ bịrình rập” ngày 13/1/2013 tác giả Linh Vân; “Sóc Trăng: Cô giáo dạy học sinh bằngroi” ngày 26/2/2013tác giả Xuân Hoàng; “Một số hình thức lao động trẻ em phổ
Trang 39bỉến” ngày 7/4/2013 tác giả Vân Khánh;“Trẻ em bị bỏ rơi ngày càng gia tăng”ngày 14/4/2013 tác giả Hà Văn; “Tủi hờn làm mẹ ở tuổi 12” ngày 7/5/2013 tác giả
Hà Văn Đạo; bài “Bản án dành cho đối tượng “yêu” bậy” ngày 30/5/2013 tác giảGia Ly; bài “Kẻ hàng xóm đồi bại”ngày 6/6/2013 tác giả Xuân Hoàng; bài “Giảicứu hơn 100 trẻ em bị bán làm gái mại dâm” ngày 1/8/2013 tác giảVăn Phương;bài “Chuyện buồn ở xã Tảo Hôn” ngày 18/8/2013 tác giả Gia Ly; bài “Trung QuốcNhức nhối vấn nạn bắt cóc, buôn bán trẻ em” ngày 6/10/2013 tác gỉả Phương Anh;bài “Man rợ hủ tục “là ngực phụ nữ”” ngày 6/10/2013 bài PV; bài “TP HCM:92.5% Trẻ em đường phố bị xâm hại tình dục” ngày 13/10/2013 tác giả KhánhVân; bài “Nạn nhân chủ yếu của bạo lực gia đình là phụ nữ” ngày 26/11/2013 tácgiả N.Síu; bài “Hàng triệu trẻ em trên thế giới chưa được đăng ký khai sinh” ngày15/12/2013 tác giả TT
Các bài viết trong năm 2013 có số lượng bài là 14 bài, những bài viết nàythể hiện thực trạng về vấn đề bạo lực trẻ em diễn ra trong năm Các bài viết đưađược nhiều khía cạnh của xã hội hiện nay Nếu nhóm theo từng nhóm bạo lực trẻ
em trong năm 2013 được chia ra như sau:
Nhóm về bạo ỉực thể chất: Sóc Trăng: Cô giáo dạy học sinh bằng roi tác;
Một số hình thức lao động trẻ em phổ biến; Trẻ em bị bỏ rơi ngày càng gia tăng;Tủi hòn làm mẹ ở tuổi 12; cần nghiêm trị kẻ hãm hiếp bé gái 13 tuổi; Man rợ hủ tục
“là ngực phụ nữ”; TP HCM: 92.5% Trẻ em đường phố bị xâm hại tình dục; Nạnnhân chủ yếu của bạo lực gia đình là phụ nữ; Hiếp dâm trẻ em lĩnh 12 tháng tù
Nhóm về bạo lực tinh thần: Trẻ em bị bỏ rơi ngày càng gia tăng; Tủi hờn
làm mẹ ở tuổi 12; Bản án dành cho đối tượng “yêu” bậy; Kẻ hàng xóm đồi bại;Giải cứu hơn 100 trẻ em bị bán làm gái mại dâm; Chuyện buồn ở xã Tảo Hôn;Trung Quốc Nhức nhối vấn nạn bắt có, buôn bán trẻ em; Man rợ hủ tục “là ngựcphụ nữ”; TP HCM: 92.5% Trẻ em đường phố bị xâm hại tình dục; Nạn nhân chủ
Trang 40yếu của bạo lực gia đình là phụ nữ; Hàng triệu trẻ em trên thế giới chưa được đăng
ký khai sinh; Nhỏm về xâm phạm quyền frẻ em: Lao động việc làm: Nhỉều nguy cơ
bị rình rập; Một số hình thức lao động trẻ em phổ biến; Trẻ em bị bỏ rơi ngày cànggia tăng; Chuyện buồn ở xã Tảo Hôn; Hàng triệu trẻ em trên thế giới chưa đượcđăng ký khai sinh
Năm 2014 qua khảo sát tác giả thông kê được 20 bài viết gồm: Hiếp dâm trẻ
em lĩnh 12 tháng tù ngày 25/2/2014 tác giả Xuân Hòa; bài “HCM: Tăng cườnggiám sát hoạt động nuôi, giữ trẻ” ngày 16/2/2014 tác giả Thanh Trúc; bải “Hoangmang vì trẻ bị bắt CÓ.C được cho ỉà để lấy nội tạng” ngày 18/2/2014 tác giả Hà YănĐạo; bài “Bạo lực trẻ em có thể diễn ra trong môi trường chăm sóc trẻ” ngày06/03/2014 tác giả Vân Khánh; bài“Cần sớm “vạch mặt” kẻ xâm hại trẻ em” ngày13/3/2014 tác giả Giang Sơn; bài “Gần 10% trẻ em phải lao động sớm” ngày16/3/2014tác giả Vân Khánh; bài “TP.HCM; Thêm một trẻ sơ sinh bị bắt cóc ởBệnh Viện” ngày 20/3/2014 tác giả Phương Anh; bài “Vụ “Bố đánh con thập tửnhất sinh” ở Bắc Ninh cháu bé tội nghiệp đã tử vong” ngày 20/3/2014 tác giả ChuLương; bài “Bà mẹ nhí mỏi mòn chờ cồng lý” ngày 23/3/2014 tác giả PhongNguyên; bài “Chồng hờ Trung Quốc “Lời ru thêm buồn” ngày 17/4/2014 tác giảNguyễn Khang; bài “Sẽ có tòa án chuyên trẻ trách về trẻ em” ngày 17/4/2014 tácgiả Vân Khánh; bài “Cần nghiêm trị kẻ hãm hiếp bé gái 13 tuổi”ngày 15/6/2014tác giả HT; bài ‘Thẻ đỏ với lao động trẻ em” ngày 15/6/2014 tác giả Vân Khánh;bàỉ “Bé gái bị mẹ đẻ, cha hờ đánh chấn thương sọ não” ngày 16/9/2014 tác giảVân khánh; bài “Chính quyền cơ sở chưa thể hiện rõ trách nhiệm” ngày 18/9/2014tác giả PV; bài “Phụ nữ trẻ em sống thời trung cổ” 5/10/2014 tác giả Th.L; bài
“Những mảnh đời trôi nổi ngày 28/10/2014, tác giả Chu lương; bài “Truy tố những
kẻ mua bán trẻ sơ sinh qua mạng” ngày 30/10/2015; bài “Cha dượng đánh gẫy tay,chân, chấn thương sọ não bé 6 tuổi” ngày 6/11/2014 tác giả PV; bài “Cần làm rõ