1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tiểu luận nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong việc phát triển lý luận ở việt nam hiện nay

27 122 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 149 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tăng cường đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động “diễn biếnhòa bình” của các thế lực thù địch; chủ động ngăn chặn, phản bác các thôngtin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch”

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Trong cuộc tấn công, chống phá ta của các thế lực phản động trong vàngoài nước, chúng thường tập trung vào lĩnh vực tư tưởng, lý luận, bởi đây làlĩnh vực nhạy cảm, có tác động lâu dài và khó lường Với âm mưu xảo quyệt,các thế lực phản động liên tục và ráo riết tiến hành các hoạt động chống phátrên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, âm mưu thực hiện “diễn biến hòa bình"; thúcđẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng ta để đi đếntan rã, như sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước xãhội chủ nghĩa Đông Âu trước đây

Trước tình hình đó, Đảng ta chủ trương: “Đổi mới công tác tuyêntruyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên.Đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạođức, lối sống; ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyểnhóa” Tăng cường đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động “diễn biếnhòa bình” của các thế lực thù địch; chủ động ngăn chặn, phản bác các thôngtin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch”

Trong công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần,vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, lý luận nhận thức, vấn đề cải tạothực tiễn nền kinh tế luôn thu hút sự quan tâm của nhiều đối tượng

Ngày nay, triết học là một bộ phận không thể tách rời với sự phát triểncủa bất cứ hình thái kinh tế nào Những vấn đề triết học về lý luận nhận thức

và thực tiễn, phương pháp biện chứng luôn là cơ sở, là phương hướng, là tônchỉ cho hoạt động thực tiễn, xây dựng và phát triển xã hội Nếu xuất phát từmột lập trường triết học đúng đắn, con người có thể có được những cách giảiquyết phù hợp với các vấn dề do cuộc sống đặt ra Việc chấp nhận hay khôngchấp nhận một lập trường triết học nào đó sẽ không chỉ đơn thuần là sự chấpnhận một thế giới quan nhất định, một cách lý giải nhất định về thế giới, màcòn là sự chấp nhận một cơ sở phương pháp luận nhất định chỉ đạo cho hoạtđộng

Chúng ta biết rằng, triết học là một trong ba bộ phận cấu thành của chủnghĩa Mác Lênin đã chỉ rõ rằng chủ nghĩa duy vật biện chứng đó chính là triết

Trang 2

học của chủ nghĩa Mác Cho đến nay, chỉ có triết học Mác là mang tính ưuviệt hơn cả Trên cơ sở nền tảng triết học Mác - Lênin, Đảng và Nhà nước ta

đã học tập và tiếp thu tư tưởng tiến bộ, đề ra những mục tiêu, phương hướngchỉ đạo chính xác, đúng đắn để xây dựng và phát triển xã hội, phù hợp vớihoàn cảnh đất nước Mặc dù có những khiếm khuyết không thể tránh khỏisong chúng ta luôn đi đúng hướng trong cải tạo thực tiễn, phát triển kinh tế,từng bước đưa đất nước ta tiến kịp trình độ các nước trong khu vực và thế giới

về mọi mặt Chính những thành tựu của xây dựng chủ nghĩa xã hội và quamười năm đổi mới là minh chứng xác đáng cho vấn đề nêu trên Hoạt độngnhận thức và cải tạo thực tiễn cùng với sự nắm bắt các quy luật khách quantrong vận hành nền kinh tế ở nước ta là một vấn ềề còn nhiều xem xét và tranhcãi, nhất là trong quá trình đổi mới hiện nay.Vì vậy, em quyết định chọn đề tài

“Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong việc phát triển lý luận ở Việt Nam hiện nay”.

Trang 3

NỘI DUNG

I PHẠM TRÙ THỰC TIỄN VÀ LÝ LUẬN THỰC TIỄN

1 Phạm trù thực tiễn

1.1 Khái niệm về thực tiễn

Thực tiễn: (theo quan điểm triết học Mác xít): Thực tiễn là toàn bộnhững hoạt động vật chất – cảm tính có mục đích, mang tính lịch sử - xã hộicủa con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội

1.2 Đặc trưng của thực tiễn

Thứ nhất, theo quan điểm của triết học Mác – Lênin, thực tiễn là hoạt

động gắn liền với con người, nhưng không phải là toàn bộ hoạt động của conngười mà chỉ là những hoạt động của vật chất – cảm tính, những hoạt động vậtchất cảm giác được Đó là hoạt động của con người, sử dụng những công cụvật chất, tác động vào những đối tượng vật chất làm biến đổi chúng theonhững mục đích nhất định

Thứ hai, thực tiễn là những hoạt động mang tính lịch sử- xã hội của con

người Hoạt động thực tiễn phải thông qua từng cá nhân, từng nhóm người,nhưng các cá nhân phải có quan hệ với nhau và không thể tách tời các quan hệ

xã hội Nghĩa là, thực tiễn chỉ diễn ra trong xã hội với sự tham gia của đôngđảo những con người trong xã hội Đồng thởi, thực tiễn cũng trải qua các giaiđoạn lịch sử phát triển cụ thể, chịu sự chi phối của ngững điều kiện lịch sử, cả

về đối tượng, phương tiện, cũng như mục đích hoạt động của con người

Thứ ba, thực tiễn là hoạt động có tính mục đích, tính hiện thực trực tiếp.

Thực tiễn phải hướng đến cải tạo thế giới, cải tạo tự nhiên và xã hội nhằmphục vụ con người, chứ không chỉ là hoạt động bản năng, bằng lòng vớinhững cái có sẵn trong tự nhiên Nói tới thực tiễn là nói tới hoạt động có tính

tự giác cao của con người, khác với hoạt động bản năng, thích nghi một cáchthụ độngcủa con vật với thế giới xung quanh

1.3 Các hình thức cơ bản của thực tiễn

Thực tiễn có ba hình thức cơ bản là: hoạt động sản xuất vật chất, hoạtđộng chính trị - xã hội và hoạt động thực nghiệm khoa học

Trang 4

Hoạt động sản xuất vật chất là hình thức hoạt động khởi nguyên, đầu

tiên, cơ bản nhất của hoạt động thực tiễn Đó là hoạt động mà con người trựctiếp tác động vào đối tượng vật chất, vào thế giới khách quan, nhằm tạo ra củacải vật chất Không có sản xuất vật chất con người và xã hội loài người khôngthể tồn tại, phát triển Không những thế, sản xuất vật chất còn là cơ sở cho sựnảy sinh, tồn tại và phát triển của các hình thức thực tiễn khác, cũng như tất cảcác hoạt động khác của con người Có thể nói, các hoạt động khác của conngười, suy cho cùng đều xuất phát từ hoạt động sản xuất vật chất

Hoạt động chính trị- xã hội là hoạt động của các tổ chúc, các cộng đồng

người khác nhau trong xã hội, thể hiện tính tự giác cao của con người nhằmbiến đổi, cải tạo xã hội, phát triển các thiết chế xã hội, các quan hệ xã hội, v.v.tạo ra môi trường xã hội thuận lợi, phù hợp với nhu cầu, lợi ích của chủ thể

Hoạt động thực nghiệm khoa học là hình thức đặc biệt của hoạt động

thực tiễn, được tiến hành trong những điều kiện không có sẵn trong tự nhiên,

mà do con người tạo ra gần giống hoặc lặp lại những trạng thái trong tự nhiên,nhằm tìm hiểu các quy luật biến đổi, phát triển của đối tượng nghiên cứu theomục đích dã đề ra Trong giai đoạn hiện nay, khoa học đóng một vai trò hếtsức to lớn đối với quá trình phát triển của xã hội thì hình thức thực tiễn nàyngày càng có vị ttri1 quan trọng trong hoạt động của con người

Ba hình thức cơ bản của thực tiễn nêu trên, có quan hệ chặt chẽ, tácđộng, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau Trong đó, hoạt động sản xuất vật chất đóngvai trò quan trọng, quyết định hoạt động chính trị - xã hội và thực nghiệmkhoa học Ngược lại, hoạt động chính trị - xã hội và thực nghiệm khoa học tácđộng trở lại hoạt động sản xuất vật chất Chính trị xã ho65u ổn định tạo điềukiện cho sản xuất phát triển, thực nghiệm khoa học phát triển thì năng suất,chất lượng, hiệu quả sản xuất sẽ được nâng cao

Ngoài ba hình thức cơ bản trên, hoạt động thực tiễn còn có những hìnhthức không cơ bản được thể hiện ở một số lĩnh vực khác nhau như gia1so dục,

y tế, nghệ thuật, thể thao,v.v

2 Phạm trù lý luận

2.1 Khái niệm lý luận

Trang 5

Hoạt động thực tiễn và hoạt động nhận thức là hai hoạt động đặc trưngcủa con người, giữa chúng có mối liên hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau,không ta1hc rời nhau Trong quá trình tác động vào thế giới, cải tạo thế giới,hoạt động nhận thức của con người cũng bắt đầu hình thành.

Nhận thức, theo quan điêm của triết học máccxit là quá trình con ngườirìm hiểu, phản ánh thế giới khách quan, nhưng đó không phải là sự phản ánhgiản đơn, thụ động mà là quá trình phản ánh biện chứng tích cực và sáng tạotrên cơ sở thực tiễn Đó là sự phản ánh có chọn lọc, chủ động có mục đích đểnắm bắt bản chất của hiện thực chứ không phải là sự sao chép nguyên xi Quaquá trình nhận thức biện chứng, còn hiểu biết riêng lẻ từng mặt, bề ngoài củađối tượng những hiểu biết kinh nghiệm, thông qua các thao tác của tư duy nhưphân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa… lý luận được nảy sinh,hình thành và phát triển

2.2 Đặc trưng của lý luân

Thứ nhất, lý luận là một hệ thống trí thức có tính logíc chặt chẽ, tính

khái quát cao và tính phổ biến; được thể hiện thông qua những khái niệm,phạm trù, nguyên lý, quy luật… phản ánh bản chất, tính tất yếu của sự vật,hiện tượng trong thế giới khách quan

Thứ hai, bản chất của lý luận là khái quát những trí thức kinh nghiệm

thực tiễn, cho nên không có trí thức kinh nghiệm thực tiễn thì lý luận khôngthể nảy sinh, hình thành và phát triển

Thứ ba, lý luận không dừng lại ở việc phản ánh hiện tượng, mà đi sâu

vào xem xét bản chất, mối liên hệ bên trong của sự vật, hiện tượng Do đó lýluận phản ánh được tính tất yếu, tính quy luật của sứ vật, hiện tượng, đưa ranhững dự báo xu hướng vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng

II NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1 Vai trò quyết định của thực tiễn đối với lý luận

Thứ nhất, thực tiễn là cơ sở của lý luận

Điều đó có nghĩa, thực tiễn là nền tảng, là điểm xuất phát của lý luận.Chính trên nền tảng của hoạt động thực tiễn con người mới có nhu cầu tìmhiểu, khám phá thế giới, hoạt động nhận thức, lý luận mới nảy sinh Thôngqua hoạt động thực tiễn, con người tác động vào sự vật làm cho chúng bộc lộ

Trang 6

biết về sự vật và khái quát những hiểu biết ấy dể hình thành, phát triển lý luận.Như vậy, chính nhở có hoạt động thực tiễn, lý luận mới ra đời, phát triển.Ph.Ăngghen đã từng nhấn mạnh: “…chính việc người ta biến đổi tự nhiên,chứ không phải chỉ một mình giới tự nhiên, với tính cách tự nhiên, là cơ sởchủ yếu nhất và trực tiếp nhất của tư duy con người đã phát triển song songvới việc người ta đã học cái biến tự nhiên”

Có thể nói, mọi hiểu biết của con người dù trực tiếp hay gián tiếp, đốivới người này hay người khác, thế hệ này hay thế hệ khác, ở trình độ kinhnghiệm hay lý luận,…suy cho cùng đều bắt nguồn từ thực tiễn Nếu không cóhoạt động thực tiễn, con người không thể có được lý luận khoa học, cáchmạng

Thứ hai, thực tiễn là động lực của lý luận

Thực tiễn luôn vận động, biến đổi và luôn đặt ra những nhu cầu, nhiệm

vụ, phương hướng mới cho lý luận, đòi hỏi lý luận phải giải quyết Vì thế, nóluôn bắt con ngưởi phải đi sâu nghiên cứu, mở rộng sự hiểu bết hiện có, đánhgiá kiểm tra lại kiến thức cũ, cách tiếp cận cũ, thậm chí phải thay thế những trithức cũ, lạc hậu bằng những tri thức mới Trên cơ sở đó, thực tiễn thúc đẩynhận thức, lý luận phát triển Đúng như Ph.Ăngghen đã nói, khi xã hội có nhucầu về kỹ thuật thì nó thúc đẩy khoa học phát triển hơn mười trường Đại học

Thực tiễn còn là cơ sở góp phần rèn luyện các giác quan và tư duy củacon người, làm cho chúng ta phát triển tinh tế hơn, hoàn thiện hơn, năng lực tưduy loogic không ngừng được củng cố và phát triển trên cơ sở đó, giúp conngười nhận thức đối tượng ngày cảng chính xác hơn, sâu sắc hơn, khái quát lýluận đúng đắn hơn

Thông qua hoạt động thực tiễn, con người còn chế tạo ra các công cụ,phương tiện, máy móc hiện đại, như kính hiển vi, kính thiên văn, tàu vũ trụ…góp phần hỗ trợ con người “nối dài” các giác quan trong quá trình khám pháchinh phục thế giới

Thứ ba, thực tiễn là mục đích của lý luận

Thực tiễn là đích cuối cùng lý luận phải hướng tới, phải giải quyết.Chính nhu cầu sống, nhu cầu sản xuất vật chất, cải tạo tự nhiên, xã hội buộccon người phải tìm hiểu, khám phá, nhận thức thế giới xung quanh Nghĩa là ,nhận thức con người ngay từ đầu đã bị quy định bởi nhu cẩu thực tiễn; ngược

Trang 7

lại kết quả của nhận thức, của lý luận sẽ phục vụ cho chính thực tiễn pháttriễn Lý luận không đáp ứng được mục đích thực tiễn đặt ra, lý luận đó sẽkhông có giá trị Những tri thức – kết quả của nhận thức, những lý luận – kếtquả của khái quát hóa kinh nghiệm thực tiễn chỉ có giá trị, có ý nghĩa đíchthực khi được vận dụng vào thực tiễn, phục vụ thực tiển; cụ thể là vận dụngvào hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động chính trị - xã hội và hoạt động thựcnghiệm khoa học phục vụ con người Lý luận có mục đích tự thân, nó chỉ cógiá trị khi thâm nhập vào thực tiễn, được vật chất hóa, biến tri thức khoa họcthành phương tiện ttrong việc biến đổi hiện thực.

Thứ tứ, thực tiễn là tiêu chuẩn kiểm tra của lý luận

Thông qua thực tiễn kiểm nghiệm, con người sẽ xác nhận được tri thức

là đúng hay sai, chân lý hay sai lầm Chỉ có thực tiễn mới là tiêu chuẩn kháchquan duy nhất để khẳng định chân lý, bác bỏ sai lầm Mọi sự biến đổi của sựnhận thức hay lý luận suy cho cùng không thể vượt ra ngoài sự kiểm tra củathực tiễn Con người có được những hiểu biết về thế giới thông qua hoạt độngthực tiễn Do vậy, chính thực tiễn là tiêu chuẩn, là thước đo giá trị của nhữngtri thức mà con người đã đạt được trong nhận thức Đồng thời, nó bổ sung,điều chỉnh, phát triển những tri thức lý luận đã có, làm cbo lý luận ngày càngđầy đủ hơn và sau sâu sắc hơn C Mác, trong luận cương về Phoiobac đãkhẳng định: “Vấn đề tìm hiểu xem tư duy của con người có thể đạt tới chân lýkhách quan không, hoàn toàn không phải là một vấn đề lý luận mà là một vấn

đề thực tiễn Chính trong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân lý,nghĩa là chứng minh tính hiện thực và sức mạnh, tính trần tục của tư duy củamình Sự tranh trãi về tính hiện thực hay tính không hiện thực của tư duy táchrời thực tiễn, là một vấn đề kinh viện thuần túy”

Tiêu chuẩn thực tiễn vừa có tính tuyệt đối, vừa có tính tương đối

Tính tuyệt đối của tiêu chuẩn thực tiễn thể hiện ở chỗ, nó là tiêu chuẩnkhách quan duy nhất có thể kiểm tra tính đúng, sai của lý luận, khẳng địnhchân lý, bác bỏ sai lầm Tất cả những tri thức chứ được thực tiễn kiểm tra, xácnhận đều không có cơ sở khẳng định tính đúng đắn của nó

Tính tương đối của tiêu chuẩn thực hiện ở chỗ, nó luôn vận động, biếnđổi, phát triển, do đó, với tư cách là tiêu chuẩn chân lý nó không cho phépngười ta xem bất kỳ một tri thức nào là bất di bất dịch, không thay đổi Vì vậy,

Trang 8

khi thực tiễn thay đổi thì nhận thức, lý luận cũng phải thay đổi theo cho phùhợp với thực tiễn mới Không có chân lý vĩnh viễn, bất di bất dịch; mọi trithức dù là đúng vẫn phải tiếp tục kiểm tra, để kịp thời bổ sung, phát triển Mặtkhác, thực tiễn ở mỗi lĩnh vực nhất định chỉ đủ sức kiểm tra những tri thức nảysinh trong phạm vi lĩnh vực đó.

Như vậy, thực tiễn không những là điểm xuất phát, là yếu tố đóng vaitrò quyết định đối với sự hình thành và phát triển của lý luận, mà còn là nơi lýluận phải luôn hướng tới để kiểm nghiệm tính đúng đắn của mình

2 Vai trò của lý luận đối với thực tiễn

Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nhắc nhở: “ thực tiễn không có lý luậnhướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng” Điều này có nghĩa rằng, lý luậnmặc dù do thực tiễn quyết định, nhưng bản thân quyết định, nhưng bản thân lýluận khi đã hình thành thì lại có một vai trò hết sức to lớn đối với thực tiễn.Vai trò của lý luận khoa học được thể hiện ở những điểm sau:

Thứ nhất, lý luận đóng vai trò là “kim chỉ nam” cho hoạt động thực tiễn.

Lý luận khoa học định hướng, chỉ đạo, soi sáng cho thực tiễn, vạch raphương hướng, phương pháp cho hoạt động thực tiễn nhằm biến đổi hiện thựckhách quan theo yêu cầu, mục đích phát triển của con người và xã hội Nếuthực tiễn không được chỉ đạo, soi đường, dẫn dắt bởi lý luận khoa học thì thựctiễn đó sẽ mất phương hướng, “ lúng túng như nhắm mắt mà đi”, rơi vào mòmẫm, vòng vo, có khi lại quay trở lại xuất phát điểm ban đầu, không hiệu quả,gây tốn kém, lãng phí thời gián, công sức

Thứ hai, lý luận thúc đẩy phong trào cách mạng nảy sinh, hình thành và

phát triển

Không có lý luận cách mạng không thể có phong trào cách mạng Lýluận khoa học, cách mạng góp phần giáo dục, thuyết phục, động viên, tậpquần chúng để tạo nên những phong trào hoạt động thực tiễn rộng lớn củađông đảo quần chúng Nhờ có lý luận khoa học, phong trào cách mạng củaquần chúng không còn mang tính tự phát, trở thành hoạt động , chủ động, tựgiác, tích cực C.Mác nhấn mạnh:… “lý luận cũng se4tro73 thành lực lượngvật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng”

Thứ ba, lý luận góp phần dự báo tương lai

Trang 9

Bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng luôn chứa đựng những tiền đề, mầmmống và khả năng phát triển trong tương lai của chúng Lý luận nếu phản ánhđúng bản chất, nắm được quy luật vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng.Như vậy,dự báo tương lai là kết quả của thao tác tư duy, như phân tích và tổnghợp, lo6gic và lịch sử…tức là quá trình nhận thức, phản ánh, phán đoán về sựvận động, biến đổi, phát triển của sự vật, hiện tượng Dự báo tương lai là mộttrong những nguyên nhân có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả hoạt động nhậnthức và thực tiễn của con người Khi con người ngày càng đi sâu khám phágiới tự nhiên vô cùng vô tận bằng những phương tiện khoa học hiện đại thìcàng cần có những dự báo Chính vì vậy, chức năng dự báo là một chức năngrất quan trọng của lý luận.

Như vậy, thực tiễn và lý luận không tách rời nhau, giũa chúng có sự liên

hệ, xâm nhập, tạo điều kiện cho nhau cùng phát triển Vì thế, trong hoạt độngnhận thức và hoạt động thực tiễn, chúng ta phải quán triệt nguyên tắc thốngnhất giữa lý luận và thực tiễn Đây là nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác-le6nin Quán triệt nguyên tắc này có ý nghĩa rất quan trọng đối với công cuộcđổi mới ờ nước ta hiện nay

III VAI TRÒ NGUYÊN TẮC THÔNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN

VÀ THỰC TIỄN VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN LÝ LUẬN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Hoạt động thực tiễn là cơ sở, là nguồn gốc, là động lực, là mục đích, làtiêu chuẩn của nhận thức

1.Thực tiễn là cơ sở, nguồn gốc của nhận thức

Trong hoạt động thực tiễn, con người làm biến đổi thế giới khách quan,bắt các sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan phải bộc lộ những thuộctính và quy luật của chúng Trong quá trình hoạt động thực tiễn luôn luôn nảysinh các vấn đề đòi hỏi con người phải giải đáp và do đó nhận thức được hìnhthành Như vậy, qua hoạt động thực tiễn mà con người tự hoàn thiện và pháttriển thế giới quan( tạo điều kiện cho nhận thức cao hơn)

Qua hoạt động thực tiễn, não bộ con người cũng ngày càng phát triểnhơn, các giác quan ngày càng hoàn thiện hơn

Thực tiễn là nguồn tri thức, đồng thời cũng là đối tượng của nhận thức

Trang 10

Chính hoạt động thực tiễn đã đặt ra các nhu cầu cho nhận thức, tạo racác phương tiện hiện đại giúp con người đi sâu tìm hiểu tự nhiên.

Thư nhất, Thực tiễn là động lực của nhận thức

Ngay từ đầu, nhận thức đã bắt nguồn từ thực tiễn, do thực tiễn quy định Mỗibước phát triển của thực tiễn lại luôn luôn đặt ra những vấn đề mới cho nhậnthức, thúc đẩy nhận thức tiếp tục phát triển Như vậy thực tiễn trang bị nhữngphương tiện mới, đặt ra những nhu cầu cấp bách hơn, nó rà soát sự nhận thức.Thực tiễn lắp đi lắp lại nhiều lần, các tài liệu thu thập được phong phú, nhiều

vẻ, con người mới phân biệt được đâu là mối quan hệ ngẫu nhiên bề ngoài,đâu là mối liên hệ bản chất, những quy luật vận động và phát triển của sự vật

Thứ hai,Thực tiễn là mục đích của nhận thức

Những tri thức khoa học chỉ có ý nghĩa thực tiễn khi nó được vận dụng vàothực tiễn Mục đích cuối cùng của nhận thức không phải là bản thân các trithức mà là nhằm cải tạo hiện thức khách quan, đáp ứng những nhu cầu vậtchất và tinh thần xã hội Sự hình thành và phát triển của nhận thức là bắtnguồn từ thực tiễn, do yêu cầu của thực tiễn

Nhận thức chỉ trở về hoàn thành chức năng của mình khi nó chỉ đạohoạt động thực tiễn, giúp cho hoạt động thực tiễn có hiệu quả hơn Chỉ cóthông qua hoạt động thực tiễn, thì tri thức con người mới thể hiện được sứcmạnh của mình, sự hiểu biết của con người mới có ý nghĩa

Thứ ba, Thực tiễn là tiêu chuẩn của nhận thức

Bằng thực tiễn mà kiểm chứng nhận thức đúng hay sai Khi nhận thức đúngthì nó phục vụ thực tiễn phát triển và ngược lại

Thứ tư,Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý

a) Chân lý

Là những tri thức phản ánh đúng đắn thế giới khách quan được thực tiễnkhẳng định ( nội dung khách quan, có ý nghĩa giá trị đối với đời sống conngười)

Chân lý mang tính khách quan, nó không phụ thuộc vào số đông (ví dụ:chân lý tôn giáo)

Chân lý mang tính hai mặt ( tuyệt đối và tương đối ) vì tính hai mặttrong quá trình nhận thức của nhân loại

Trang 11

b) Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý

Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, tiêu chuẩn để kiểmtra chân lý không phải là ý thức tư tưởng, tư duy mà là thực tiễn Bởi vì chỉ cóthông qua hoạt động thực tiễn, tri thức mới trở lại tác động vào thế giới vậtchất, qua đó nó được ”hiện thực hoá”, “vật chất hơn” thành các khách thể cảmtính Từ đó mới có căn cứ để đánh giá nhận thức của con người đúng hay sai,

có đạt tới chân lý hay không

Thực tiễn có rất nhiều hình thức khác nhau, nên nhận thức của con người cũngđược kiểm tra thông qua rất nhiều hình thức khác nhau

+Thực tiễn của xã hội luôn luôn vận động và phát triển

+Thực tiễn trong mỗi giai đoạn lịch sử đều có giới hạn Nó không thểchứng minh hay bác bỏ hoàn toàn một tri thức nào đó của con người mà nóđược thực tiễn tiếp theo chứng minh, bổ sung thêm

Như vậy tiêu chuẩn thực tiễn cũng mang tính chất biện chứng và nhưvậy mới có khả năng kiểm tra một cách chính xác sự phát triển biện chứng củanhận thức

c) Ý nghĩa:

Thực tiễn lớn nhất ở nước ta hiện nay là thực tiễn xây dựng nền kinh tếthị trường mới, nền văn hoá mới đậm đà bản sắc dân tộc và chế độ xã hội mới:công bằng, bình đẳng, tién bộ

Trong lĩnh vực kinh tế, đường lối, chính sách hay các giải pháp kinh tế

cụ thể muốn biết đúng hay sai đều phải thông qua vận dụng chúng trong sảnxuất, kinh doanh cũng như quản lý các quá trình đó Đường lối chính sáchcũng như các giải pháp kinh tế chỉ đúng khi chúng mang lại hiệu quả kinh tế,thúc đẩy sản xuất phát triển, nâng cao năng suất lao động, làm cho dân giàu,nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh

Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội sau những bước tiến và nhữngthành tựu to lớn mang lại ý nghĩa lịch sử, giờ đây lại đặt ra nhiều vấn đề cầngiải quyết Những hoạt động nghiên cứu lý luận chính là nhằm tìm ra lời giảiđáp cho những vấn đề của giai đoạn cách mạng hiện nay Công cuộc đổi mới ởnước ta vừa là mục tiêu, vừa là động lực mạnh mẽ thúc đẩy hoạt động nhậnthức nói chung và công tác lý luận nói riêng, nhất định sẽ đem lại cho chúng ta

Trang 12

những hiểu biết mới, phong phú hơn và cụ thể hơn về mô hình chủ nghĩa xãhội, về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta

2 Mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn

2.1 Lý luận

a Khái niệm: Là một hệ thống những tri thức được khái quát từ thực

tiễn Nó phản ánh những quy luật, của từng lĩnh vực trong hiện thực kháchquan

b Đặc điểm: Lý luận mang tính hệ thống, nó ra đời trên cơ sở đáp ứng

nhu cầu của xã hội nên bất kỳ một lý luận nào cũng mang tính mục đích vàứng dụng

Nó mang tính hệ thống cao, tổ chức có khoa học

2.2 Mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn

Được thể hiện bằng mối quan hệ giữa nhận thức và thực tiễn GIữa lýluận và thực tiễn thống nhất biện chứng với nhau Sự thống nhất đó bắt nguồn

từ chỗ: chúng đều là hoạt động của con người, đều nhằm mục đích cải tạo tựnhiên và cải tạo xã hội để thoả mãn nhu cầu của con người

a) Lý luận bắt nguồn từ thực tiễn

Lý luận dựa trên nhu cầu của thực tiễn và lấy được chất liệu của thựctiễn Thực tiễn là hoạt động cơ bản nhất của con người, quyết định sự tồn tại

và phát triển xã hội Lý luận không có mục đích tự nó mà mục đích cuối cùng

là phục vụ thực tiễn Sức sống của lý luận chính là luôn luôn gắn liền với thựctiễn, phục vụ cho yêu cầu của thực tiến

b) Lý luận mở đường và hướng dẫn hoạt động của thực tiễn

Ví dụ: lý luận Mác - Lênin hướng dẫn con đường đấu tranh của giai cấp

vô sản Sự thành công hay thất bại của hoạt động thực tiễn là tuỳ thuộcvào nó được hướng dẫn bởi lý luận nào, có khoa học hay không? Sự phát triểncủa lý luận là do yêu cầu của thực tiễn, điều đó cũng nói lên thực tiễn khôngtách rời lý luận, không thể thiếu sự hướng dẫn của lý luận

Vai trò của lý luận khoa học là ở chỗ: nó đưa lại cho thực tiễn các trithức đúng đắn về các quy luật vận động, phát triển của hiện thực khách quan,

từ đó mới có cơ sở để định ra mục tiêu và phương pháp đúng đắn cho hoạtđộng thực tiễn

Trang 13

Quan hệ lý luận và thực tiễn mang tính chất phức tạp, quan hệ đó có thể

là thống nhất hoặc mâu thuẫn đối lập

c) Lý luận và thực tiễn là thống nhất

Lý luận và thực tiễn thống nhất khi giai cấp thống trị còn mang tinhthần tiến bộ và còn giữ sứ mệnh lịch sử Khi lý luận và thực tiễn thống nhất thìchúng sẽ tăng cường lẫn nhau và phát huy vai trò của nhau Sự thống nhất đó

là một trong những nguyên lý căn bản của triết học Mác- Lênin

d) Sự mâu thuẫn của lý luận và thực tiễn

Xảy ra khi giai cấp thống trị trở nên phản động, lỗi thời, lạc hậu Khimâu thuẫn nảy sinh, chúng sẽ làm giảm ảnh hưởng của nhau Điều đó dẫn đếnmọi đường lối, chính sách xã hội trở nên lạc hậu và phản động

*Ý nghĩa:

Cần phải tăng cường, phát huy vai trò của lý luận đối với xã hội, đặcbiệt là lý luận xã hội mà quan trọng là lý luận Mác - Lênin và các lý luận vềkinh tế

Trước chủ nghĩa Mác, trong lý luận nhận thức, phạm trù thực tiễn hầunhư không có chỗ đứng nào Nhiều người còn hình dung thực tiễn với bộ mặtxấu xí của con buôn (Phơ-Bách) Trong “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinhnghiệm phê phán”, sau khi phê phán E Ma Khơ và một số ngươi khác đã ”cốgạt thực tiễn ra khỏi lý luận nhận thức, coi thực tiễn như một cái gì khôngđáng nghiên cứu về mặt nhận thức luận, đã ”đem cái tiêu chuẩn thực tiễn làcái giúp cho mỗi người phân biệt được ảo tưởng với hiện thực đặt ra ngoàigiới hạn của khoa học, của lý luận nhận thức để dọn chỗ cho chủ nghĩa duytâm và thuyết bất khả tri”

V.I.Lênin đã khẳng định: quan điểm về đời sống, về thực tiễn phải làquan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức (“V.I.Lênin toàn tập”– 1980)

Chính vì sự quan trọng của mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn nênđối với nước ta trong giai đoạn này cần đảm bảo sự thống nhất giữa lý luận vàhoạt động Hiện nay, nước ta đang tiến hành đổi mới một cách toàn diện cácmặt của đời sống xã hội, mà trong đó đổi mới kinh tế là trung tâm Đổi mới từnền kinh tế tập trung quan liêu sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của

Ngày đăng: 14/05/2020, 14:37

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w