Nhiễm khuẩn bệnh viện hay còn gọi là nhiễm khuẩn liên quan tới chăm sóc y tế đang là vấn đề y tế toàn cầu do làm tăng tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ tử vong, kéo dài ngày nằm viện và tăng chi phí điều trị. Kiểm soát nhiễm khuẩn là việc áp dụng đồng bộ các biện pháp nhằm ngăn ngừa sự lan truyền các tác nhân gây nhiễm khuẩn trong thực hành khám bệnh, chữa bệnh, là nội dung quan trọng nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc NB tại các cơ sở Khám bệnh, chữa bệnh. Trong các biện pháp Kiểm soát nhiễm khuẩn, VST từ lâu luôn được coi là biện pháp đơn giản và hiệu quả nhất trong chăm sóc và điều trị.Năm 2009 Tổ chức Y tế Thế giới đã phát động chiến dịch “Vệ sinh tay toàn cầu” và yêu cầu các nước thành viên cam kết tham gia thực hiện. Việt Nam là một trong số các nước đã ký cam kết tham gia chiến dịch này ngay từ năm đầu tiên sau khi phát động phong trào và năm nay là năm thứ 10 liên tiếp chúng ta tổ chức Lễ phát động “Bảo vệ sự sống: Hãy vệ sinh tay” trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh toàn quốc đúng vào ngày 55 hằng năm.Trong 10 năm qua, các cơ sở Khám bệnh, chữa bệnh đã có nhiều nỗ lực, cố gắng trong việc tăng cường nhận thức của NVYT, của NB, người nhà NB về tầm quan trọng của kiểm soát nhiễm khuẩn liên quan đến chăm sóc y tế. Tính đến ngày 1342015, Việt Nam đã có gần 500 BV ký cam kết tham gia chiến dịch VST với Bộ Y tế và đã có 73 BV đăng ký tham gia chiến dịch này trên website của WHO, là nước đứng hàng thứ 4 trong số 24 nước đăng ký hưởng ứng thuộc khu vực Châu Á Thái Bình Dương và chỉ đứng sau các nước Philippine (2033 BV), Úc (483 BV), Trung quốc (195 BV).Ngày 14102016, Bệnh viện Nội tiết Trung Ương tưng bừng tổ chức “Lễ phát động vệ sinh tay, Bệnh viện vệ sinh, Cơ sở y tế Xanh – Sạch – Đẹp Thân thiện với môi trường”. Tại lễ phát động tất cả các lãnh đạo khoa phòng của bệnh viện đã ký cam kết với bệnh viện về thực hiện vệ sinh tay. Sau gần 03 năm triển khai thực hiện, hiện chưa có nghiên cứu nào đánh giá hiệu quả công tác thực hành vệ sinh tay dành cho nhân viên y tế tại Bệnh viện. Vậy chúng tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu: “Thực trạng tuân thủ vệ sinh tay của nhân viên y tế và các yếu tố liên quan đến sự tuân thủ vệ sinh tay của nhân viên y tế tại các khoa lâm sàng và cận lâm sàng của Bệnh viện Nội tiết Trung Ương cơ sở Tứ Hiệp năm 2019”
Trang 1MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 2
ĐẶT VẤN ĐỀ 3
Chương 1 TỔNG QUAN 5
1.1 Mốc lịch sử của vệ sinh bàn tay 5
1.2 Nhiễm khuẩn bệnh viện 6
1.3 Mối liên quan giữa tuân thủ vệ sinh tay và tỉ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện 8
1.4 Tầm quan trọng vệ sinh tay 8
1.5 Định nghĩa sự tuân thủ vệ sinh tay 9
1.6 Một số nghiên cứu liên quan: 12
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
2.1 Đối tượng nghiên cứu 14
2.2 Phương pháp nghiên cứu 14
2.3 Biến số nghiên cứu: 14
2.4 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu 16
2.5 Xử lý số liệu 17
2.6 Đạo đức trong nghiên cứu 17
Chương 3: DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 19
3.1 Đặc điểm chung đối tượng nghiên cứu: 19
3.3 Một số yếu tố liên quan đến tuân thủ vệ sinh tay 23
TÀI LIỆU THAM KHẢO 27
PHỤ LỤC……… … ….…29
PHỤ LỤC 1 PHIẾU KHẢO SÁT THỰC HÀNH TUÂN THỦ VỆ SINH TAY 29
PHỤ LỤC 2 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TUÂN THỦ VST THƯỜNG QUY .32 PHỤ LỤC 3 DANH SÁCH NHÂN SỰ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI 33
PHỤ LỤC 4 BẢN ĐỒNG Ý THAM GIA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 34
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 2CDC Trung tâm kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhiễm khuẩn bệnh viện hay còn gọi là nhiễm khuẩn liên quan tới chăm sóc y tế đang
là vấn đề y tế toàn cầu do làm tăng tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ tử vong, kéo dài ngày nằm viện vàtăng chi phí điều trị Kiểm soát nhiễm khuẩn là việc áp dụng đồng bộ các biện pháp nhằm
Trang 3ngăn ngừa sự lan truyền các tác nhân gây nhiễm khuẩn trong thực hành khám bệnh, chữabệnh, là nội dung quan trọng nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc NB tại các cơ sở Khámbệnh, chữa bệnh Trong các biện pháp Kiểm soát nhiễm khuẩn, VST từ lâu luôn được coi làbiện pháp đơn giản và hiệu quả nhất trong chăm sóc và điều trị.
Năm 2009 Tổ chức Y tế Thế giới đã phát động chiến dịch “Vệ sinh tay toàn cầu” vàyêu cầu các nước thành viên cam kết tham gia thực hiện Việt Nam là một trong số các nước
đã ký cam kết tham gia chiến dịch này ngay từ năm đầu tiên sau khi phát động phong trào vànăm nay là năm thứ 10 liên tiếp chúng ta tổ chức Lễ phát động “Bảo vệ sự sống: Hãy vệsinh tay” trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh toàn quốc đúng vào ngày 5/5 hằng năm
Trong 10 năm qua, các cơ sở Khám bệnh, chữa bệnh đã có nhiều nỗ lực, cố gắngtrong việc tăng cường nhận thức của NVYT, của NB, người nhà NB về tầm quan trọng củakiểm soát nhiễm khuẩn liên quan đến chăm sóc y tế Tính đến ngày 13/4/2015, Việt Nam đã
có gần 500 BV ký cam kết tham gia chiến dịch VST với Bộ Y tế và đã có 73 BV đăng kýtham gia chiến dịch này trên website của WHO, là nước đứng hàng thứ 4 trong số 24 nướcđăng ký hưởng ứng thuộc khu vực Châu Á Thái Bình Dương và chỉ đứng sau các nướcPhilippine (2033 BV), Úc (483 BV), Trung quốc (195 BV)
Ngày 14/10/2016, Bệnh viện Nội tiết Trung Ương tưng bừng tổ chức “Lễ phát động
vệ sinh tay, Bệnh viện vệ sinh, Cơ sở y tế Xanh – Sạch – Đẹp - Thân thiện với môi trường”.Tại lễ phát động tất cả các lãnh đạo khoa phòng của bệnh viện đã ký cam kết với bệnh viện
về thực hiện vệ sinh tay Sau gần 03 năm triển khai thực hiện, hiện chưa có nghiên cứu nàođánh giá hiệu quả công tác thực hành vệ sinh tay dành cho nhân viên y tế tại Bệnh viện Vậy
chúng tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu: “Thực trạng tuân thủ vệ sinh tay của nhân
viên y tế và các yếu tố liên quan đến sự tuân thủ vệ sinh tay của nhân viên y tế tại các khoa lâm sàng và cận lâm sàng của Bệnh viện Nội tiết Trung Ương cơ sở Tứ Hiệp năm 2019” với mục tiêu:
1 Khảo sát tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay của nhân viên y tế tại Bệnh viện Nội tiêt TrungƯơng cơ sở Tứ Hiệp năm 2019
2 Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến tuân thủ vệ sinh tay của nhân viên y tế taị Bệnhviện Nội tiết Trung Ương cơ sở Tứ Hiệp năm 2019
Trang 4Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Mốc lịch sử của vệ sinh bàn tay
Trong suốt thế kỷ thứ XIX, ở Châu Âu và Mỹ, 25% bà mẹ sinh con tại bệnh viện đã tửvong do sốt hậu sản Nguyên nhân là do vi khuẩn Streptococcus pyogenes Năm 1843, bác sĩOliver Wendell Holmes (Mỹ) yêu cầu một bác sĩ của khoa sản (nơi ông làm việc) nghỉ việc
Trang 5một tháng sau 2 trường hợp bà mẹ tử vong mà ông cho rằng liên quan đến vệ sinh bàn taycủa bác sĩ đó Ý kiến của ông đã bị nhiều bác sĩ cùng thời phản đối.
Vào những năm 1840, bác sĩ Ignaz Semmelweis (1818 - 1865) công tác tại Bệnh viện
đa khoa Vienne (Áo) khám phá ra sự khác biệt về tỷ lệ tử vong ở các bà mẹ sau sinh congiữa hai khoa Sản của bệnh viện Năm 1846, Semmelweis nghiên cứu và thấy rằng tại haikhoa Sản của bệnh viện, cùng thực hành một kỹ thuật rửa tay Khoa thứ nhất là khoa thựchành của sinh viên y khoa, nơi mà chỉ có các bác sĩ và sinh viên y khoa làm việc có tỷ lệ tửvong do sốt hậu sản là 13,10%, tỷ lệ này cao gấp gần 5 lần so với khoa thứ 2 là khoa hướngdẫn thực hành cho nữ hộ sinh (bao gồm các nữ hộ sinh và học sinh hộ sinh) có tỷ lệ tử vong
ở các bà mẹ sau sinh là 2,03% Ông quan sát và thấy rằng các bác sĩ và sinh viên y khoathường không rửa tay sau khi thăm khám mỗi bệnh nhân, thậm chí sau khi mổ tử thi bệnhnhân Ông cho rằng nguyên nhân sốt hậu sản là do bàn tay không rửa của các bác sĩ và cácsinh viên y khoa chứa tác nhân gây bệnh Ông đã đề xuất sử dụng dung dịch nước vôi trong(chứa chlorine) để rửa tay vào thời điểm chuyển tiếp sau mổ tử thi sang thăm khám bệnhnhân Tỷ lệ tử vong của các bà mẹ sau đó đã giảm từ 12,24 % xuống 2,38% Tuy nhiên, tạithời điểm đó, nhiều người cho rằng khuyến cáo rửa tay giữa những lần tiếp xúc với ngườibệnh của Semmelweis là quá nhiều và không bác sĩ nào chấp nhận đôi bàn tay của họ chính
là nguyên nhân gây tử vong hậu sản Một số người khác thì cho rằng kết quả nghiên cứu củaông là thiếu bằng chứng khoa học Năm 1849 ông bị sa thải khỏi bệnh viện Vienne và tớilàm việc ở khoa Sản Bệnh viện Pest's St Rochus ở Hungari (1851 – 1857) Tới năm 1860,Bệnh viện Viennevẫn coi ông ta là kẻ phản bội, mặc dù chính ông, khi còn làm việc tại bệnhviện đó, là người xoá tỷ lệ tử vong do sốt cao ở trẻ sơ sinh từ 35/101 trường hợp
Năm 1879, tại một hội thảo khoa học ở Paris, bác sĩ Louis Pasteur đã lên tiếng:
"Nguyên nhân gây tử vong ở những bà mẹ bị nhiễm trùng hậu sản chính là các bác sĩ đã sửdụng bàn tay khám các bà mẹ bị bệnh rồi khám các bà mẹ mạnh khoẻ" Sau đó, ông đã đưa
ra lý thuyết về "Mầm bệnh" và phương pháp tiệt khuẩn Pasteur được sử dụng tới ngày nay Trong những năm đó, khuyến cáo rửa tay đã gặp rất nhiều khó khăn bởi thiếu phươngtiện rửa tay, thiếu nước, sự gia tăng đề kháng kháng sinh của vi khuẩn trong khi đó nhânviên y tế rất thiếu kiến thức về vệ sinh bệnh viện Điều đó đã giải thích cho sự phản ứng củacác bác sĩ trước khuyến cáo rửa tay giữa những lần tiếp xúc với những bệnh nhân khác nhau,
họ cho rằng rửa tay như vậy là quá nhiều
Trang 6Năm 1992, một báo cáo khoa học của New Enland công bố kết quả nghiên cứu về rửatay tại khoa hồi sức cấp cứu Báo cáo cho thấy, mặc dù đã áp dụng những biện pháp giáodục và giám sát đặc biệt, nhưng tỷ lệ tuân thủ rửa tay ở cán bộ y tế chỉ xấp xỉ 30% và tỷ lệcao nhất chỉ đạt 48% Cũng năm đó CDC (Mỹ) cho biết tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện giaođộng từ 5 – 15% tại các bệnh viện, điều này dẫn đến nguy cơ nhiễm khuẩn trên nhân viên y
tế và năm 1993 đã có 11 nhân viên y tế mắc bệnh viêm gan A do không rửa tay sau khi tiếpxúc với 1 trong 2 bệnh nhân viêm gan A.[19]
1.2 Nhiễm khuẩn bệnh viện
1.2.1 Định nghĩa NKBV
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), NKBV là các nhiễm khuẩn xuất hiện sau 48h kể
từ khi bệnh nhân nhập viện và không hiện diện cũng như không ở giai đoạn ủ bệnh tại thờiđiểm nhập viện
1.2.2 Tác nhân gây NKBV
Nhiễm khuẩn bệnh viện gây ra bởi các vi khuẩn, vi rút, nấm và ký sinh trùng Trong
đó nhiễm trùng đường tiết niệu thông qua thủ thuật đặt dẫn lưu nước tiểu không đảm bảo vôkhuẩn là phổ biến nhất, đứng hàng thứ 2 là viêm phổi
1.2.3 Tình hình NKBV hiện nay
Trên thế giới
Bất kỳ nơi nào trên thế giới, các nước phát triển cũng như các nước nghèo đều phảiđối diện với NKBV Theo nghiên cứu của WHO tại 55 bệnh viện của 14 nước trên các châulục, khoảng 8,7% bệnh nhân nội trú mắc NKBV
Tại Việt Nam
Theo nghiên cứu của Nguyễn Việt Hùng và cộng sự thực hiện năm 2006 – 2007 tại
62 bệnh viện khu vực phía Bắc đại diện các tuyến: Trung ương, tỉnh/Thành phố vàQuận/Huyện cho thấy, tỉ lệ NKBV trung bình là 7,8% Trong đó các bệnh viện tuyến TW có
tỉ lệ NKBV là 5,4%; các BV tuyến tỉnh/thành phố có tỉ lệ NKBV là 8,3% cao hơn tỉ lệNKBV ở các BV tuyến quận/huyện là 6,4% Tác nhân gây NKBV hàng đầu là Pseudomonasaeruginosa, tiếp đó là Acinetobacte baumani và nấm Candida [11]
1.2.4 Hậu quả của Nhiễm khuẩn bệnh viện
Trang 7Nhiễm khuẩn bệnh viện gây ra những hậu quả nặng nề với bệnh nhân cũng như cácNVYT Các hậu quả của NKBV bao gồm:
1.2.4.1 Tăng chi phí và tăng ngày điều trị
Tại Việt Nam, thông tin tại Đại hội Hội Kiểm soát nhiễm khuẩn Hà Nội năm 2008 chothấy, mỗi NKBV làm kéo dài thời gian nằm viện trung bình từ 9,4 đến 24,3 ngày và làmtăng chi phí điều trị trung bình từ 2 - 32,3 triệu đồng [7] Đây quả là một số tiền lớn so vớimức thu nhập trung bình của người dân tại thời điểm năm 2008 mới là 1024 USD tươngđương gần 16 triệu đồng [8] Các bệnh nhân mắc NKBV đòi hỏi nhu cầu chăm sóc và điềutrị cao hơn do đó làm tăng thêm áp lực công việc cho các NVYT vốn đã làm việc trong tìnhtrạng quá tải
1.2.4.2 Tăng sự kháng thuốc của vi sinh vật
Nhiễm khuẩn bệnh viện không những gây hậu quả nặng nề về mặt lâm sàng, kinh tế
mà còn là nguyên nhân làm tăng sự kháng thuốc của vi sinh vật, làm xuất hiện những chủng
vi khuẩn đa kháng kháng sinh (ví dụ như MRSA – tụ cầu kháng kháng sinh Methicillin) lànguyên nhân dẫn đến tử vong trong các bệnh viện Tại Hoa Kỳ, tháng 10/2010, CDC công
bố số người chết do MRSA đã vượt quá số người chết vì bệnh AIDS Trong số các bệnhviện được khảo sát, MRSA được tìm thấy ở 176 bệnh nhân, chiếm tỷ lệ 45%, trong đó 7,7%
bị lây khi đang nằm viện
1.2.4.3 Các hậu quả khác
NKBV còn làm tăng tỉ lệ tử vong và tăng các biến chứng cho người bệnh NKBVkhông chỉ gây biến chứng nặng nề cho bệnh nhân, là nguy cơ lây nhiễm cho NVYT, NKBVcòn làm giảm chất lượng điều trị và uy tín của bệnh viện
1.3 Mối liên quan giữa tuân thủ vệ sinh tay và tỉ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện
NKBV lây truyền qua một số con đường, tuy nhiên việc lây truyền thông qua bàn taycủa NVYT là phổ biến nhất NKBV gây ra những hậu quả vô cùng nghiêm trọng không chỉvới bệnh nhân mà còn đối với các NVYT Sự tuân thủ vệ sinh tay của NVYT (như rửa tayvới nước và xà phòng, rửa tay với dung dịch sát khuẩn tay chứa cồn) được coi là biện phápđơn giản và hiệu quả nhất để phòng ngừa hiệu quả NKBV VST đúng cách sẽ làm loại bỏhầu hết lớp vi sinh vật gây ra NKBV cho bệnh nhân Nhiều nghiên cứu cũng khẳng định vệ
Trang 8trên 20,000 cơ hội rửa tay của NVYT tại một BV đã cho thấy: khi tỉ lệ tuân thủ vệ sinh taycủa nhân viên y tế tăng từ 48% (1994) lên 66% (1997) thì tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện giảm
từ 16,9% (1994) xuống còn 6,9% (1997) Tại Việt Nam, can thiệp làm tăng sự tuân thủ vệsinh tay của NVYT cũng mang lại hiệu quả tích cực trong việc làm giảm tỉ lệ NKBV [11]
1.4 Tầm quan trọng vệ sinh tay
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, rửa tay được coi là liều vắc xin tự chế, rất đơn giản, dễthực hiện, hiệu quả về chi phí cũng như có thể cứu sống hàng triệu người
Những năm gần đây, Bộ Y tế đã phát động phong trào vệ sinh bàn tay ở cả bệnh viện
và cộng đồng Theo nhiều báo cáo của các chuyên gia kiểm soát nhiễm khuẩn trong và ngoàinước thì các bệnh truyền nhiễm đã và đang diễn ra trong cộng đồng hoàn toàn có thể phòngngừa được bằng cách giữ gìn vệ sinh, trong đó có rửa tay bằng xà phòng là biện pháp cơ bảnnhất Theo đó, chỉ một động tác rửa tay sạch đã làm giảm tới 35% khả năng lây truyền vikhuẩn gây bệnh tiêu chảy làm tử vong hàng triệu người mỗi năm trên thế giới Việc rửa taycũng có thể làm giảm rủi ro nhiễm khuẩn tiêu chảy tới 47%, nhiễm khuẩn đường hô hấp tới
19 – 45% Các nghiên cứu cho thấy, bàn tay của một người có thể mang tới 4,6 triệu mầmbệnh [19]
Vệ sinh tay (VST) là làm sạch tay bằng nước với xà phòng có hay không có chất sátkhuẩn và sát khuẩn tay với dung dịch có chứa cồn
Vệ sinh tay (VST) là cách hiệu quả nhất để ngăn chặn lây lan của vi sinh vật, giảmthiểu vi khuẩn cư trú trên tay trong hoạt động chuyên môn hàng ngày [12]
Vệ sinh tay là nội dung cơ bản của phòng ngừa chuẩn và là biện pháp hiệu quả nhấttrong kiểm soát sự lây truyền tác nhân gây bệnh trong các cơ sở khám bệnh chữa bệnh
1.5 Định nghĩa sự tuân thủ vệ sinh tay
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), khi NVYT có thực hiện chăm sóc NB, sẽ có 5thời điểm (5 cơ hội) mà người NVYT bắt buộc phải vệ sinh:
1.VST trước khi tiếp xúc với NB: NVYT phải rửa sạch bàn tay trước khi tiếp xúc NB
để bảo vệ NB trước những tác hại của vi khuẩn do bàn tay của NVYT có thể mang lại.2.VST trước khi làm bất cứ thao tác nào đòi hỏi sự vô khuẩn khi chăm sóc NB: rửasạch bàn tay ngay lập tức trước một vài công việc được thực hiện vô khuẩn để bảo vệ NBtrước những tác hại của vi khuẩn, bao gồm các mầm bệnh ở bản thân NB, hoặc do lây từ cơthể NVYT
Trang 93.VST sau khi tiếp xúc với NB: rửa sạch bàn tay ngay sau khi phơi nhiễm với yếu tốnguy cơ từ chất dịch tiết cơ thể (sau khi tháo bỏ găng tay) mục đích để bảo vệ chính bảnthân NVYT và môi trường chăm sóc y tế từ các mầm bệnh có hại ở NB.
4.VST sau khi có nghi ngờ phơi nhiễm với máu và dịch cơ thể: rửa sạch bàn tay củamình sau khi tiếp xúc với bệnh nhân và khu vực xung quanh bệnh nhân khi NVYT rời khỏikhu vực đó, để bảo vệ chính bản thân mình và môi trường chăm sóc y tế từ các mầm bệnh
có hại ở bệnh nhân
5.VST sau khi đụng chạm vào khu vực xung quanh người bệnh (dụng cụ, máy móc, đồvật…): rửa sạch bàn tay sau khi tiếp xúc một vài đồ vật hoặc máy móc xung quanh bệnhnhân, khi NVYT rời khỏi khu vực đó để bảo vệ chính bản thân mình và môi trường chămsóc y tế từ các mầm bệnh có hại ở bệnh nhân
Và khi NVYT thực hiện vệ sinh tay ở 5 thời điểm này thì được gọi là có tuân thủ vệsinh tay Tuy nhiên, nếu tại thời điểm quan sát đối tượng không thực hiện kỹ thuật vô khuẩntrên người bệnh và không nghi ngờ hoặc tiếp xúc máu, dịch tiết thì có thể không thực hiệnVST tại thời điểm 2 và/hoặc 4 vẫn được xem là tuân thủ vệ sinh tay
Trang 10Hình 1.1 Năm thời điểm VST (Theo WHO)Nội dung năm thời điểm VST hình 1.1 như sau:
1 Trước khi tiếp xúc với người bệnh
2 Trước khi tiến hành một thủ thuật vô khuẩn
3 Sau khi tiếp xúc, phơi nhiễm với dung dịch cơ thể (máu, dịch tiết )
4 Sau khi tiếp xúc với người bệnh
5 Sau khi tiếp xúc, đụng chạm vào các vật dụng xung quanh người bệnh
Trang 11Tại sao phải VST? [21]
Bàn tay là con đường chính của việc lây truyền mầm bệnh trong quá trình chăm sócsức khỏe
Hàng ngàn người chết mỗi năm trên toàn thế giới từ bệnh nhiễm trùng trong quá trìnhchăm sóc sức khỏe
Ai cần VST?
NVYT trong nghiên cứu này là những người làm trong Bệnh viện có trực tiếp chămsóc và điều trị cho người bệnh, họ là những Bác sĩ, Điều dưỡng, Kỹ thuật viên, Hộ lý
Bác sĩ: là người duy trì phục hồi sức khỏe con người bằng cách nghiên cứu, chẩn đoán
và chữa trị bệnh tật và thương tật dựa trên kiến thức về cơ thể con người [3]
Điều đưỡng: là một nghề nghiệp trong hệ thống y tế nhằm bảo vệ, nâng cao, tối ưu vềsức khỏe và các khả năng; dự phòng bệnh và sang thương; xoa dịu nỗi đau qua chẩn đoán vàđiều trị đáp ứng con người; tăng cường chăm sóc các cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội.[3]
Kỹ thuật viên: làm việc tại khoa cận lâm sàng tiếp xúc với các mẫu bệnh phẩm và tiếpxúc trực tiếp với NB nên cần phải VST
Hộ lý: là người dọn dẹp vệ sinh chung và tiếp xúc với NB, chất thải của NB, các mẫu bệnh phẩm nên cẩn phải VST
Bảng 1.1 Phân biệt VST bằng xà phòng và sát khuẩn tay nhanh[2]
VST bằng xà phòng Sát khuẩn tay nhanh
Mục đích Loại bỏ chất bẩn và vi sinh vật thườngtrú trên tay Giảm vi khuẩn thường trú
Áp dụng khi không có điều kiện rửa tay bằng nước và xà phòng nhưng chỉ khi tay không thấy rõ vết bẩn
Thời gian 20 giây – 30 giây 20 giây – 30 giây
Trang 121.6 Một số nghiên cứu liên quan:
Một số nghiên cứu trên thế giới:
Một nghiên cứu về “Đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành VST giữa các NVYT tạibệnh viện Đại học Ain Shams tại Cairo năm 2006” cho thấy trong 2.189 cơ hội, các bác sĩ
có sự tuân thủ quy trình VST cao hơn đáng kể (37,5%) so với nhóm khác của NVYT (P =0,000) Loại phổ biến nhất của thực hành VST trong NVYT là VST thường quy (64,2%) và
ít nhất là rửa tay sát trùng (3,9%) Hầu hết các Điều dưỡng (97,3%) cho rằng thực hiện VSTtheo đúng quy định chuyên môn và công việc này luôn được giám sát liên tục thì có thể cảithiện thực hành VST Thực hiện chương trình can thiệp nhiều mặt về hành vi VST với giámsát liên tục và thông tin phản hồi hiệu quả, bên cạnh tăng nguồn cung cấp trang thiết bị cầnthiết cho VST và quy định về quy trình VST thì sẽ cải thiện được sự tuân thủ VST ở NVYT[13]
Những yếu tố (kiến thức, thái độ, khả năng cung cấp xà phòng, dung dịch VST nhanh,khăn lau tay, nơi đặt bồn rửa tay không thuận tiện…) có thể ảnh hưởng đến việc VST đãđược xác định trong những nghiên cứu dịch tễ học đồng thời có những yếu tố gián tiếp gây
ra như là lý do thiếu sự hướng dẫn thông tin đầy đủ về VST Những yếu tố nguy cơ từ khôngtuân thủ quy trình VST thì đã được xác định trong một vài nghiên cứu quan sát và can thiệp
để cải thiện việc tham gia VST [12], [16], [17], [23]
Trong một nghiên cứu về VST đăng trên tạp chí Lancet, kết quả cho biết 25% NVYTcho rằng việc rửa tay hàng ngày có liên quan đến viêm da, và hơn 85% các bệnh lý về da cóliên quan đến VST và được y văn cập nhật như dùng các sản phẩm VST (xà phòng, dungdịch sát khuẩn tay nhanh) không thích hợp da tay thường xuyên và lặp đi lặp lại, là nguyênnhân cơ bản của việc gây dị ứng da mạn tính ở những NVYT có tiếp xúc chất sát trùng choVST [18]
Một số nghiên cứu trong nước
Theo nghiên cứu của BV Nhi Trung ương năm 2010 kết quả sự tuân thủ vệ sinh tayban đầu tại 03 khoa HSTC của BV Nhi Trung ương tăng từ 33,3% lên 55,8% và sau cùngtăng 61,9%, theo đó tỉ lệ NKBV cũng giảm từ 11,5% xuống 6,77% và 3,69% sự thay đổi có
ý nghĩa thống kê với p < 0,05 [5]
Nghiên cứu của BV Nhi đồng 1 năm 2012 cho thấy tỷ lệ tuân thủ VST của NVYT là62% Có sự khác nhau giữa 5 cơ hội phải rửa tay khi chăm sóc người bệnh Việc rửa tay với cồnđược lựa chọn nhiều hơn so với xà bông và nước 52% so với 48% Khoa có sự tuân thủ rửa tay
Trang 13cao là Hồi sức tích cực sơ sinh (90%) và Sơ sinh (85%) NVYT có sự tuân thủ rửa tay cao là Kỹthuật viên, Bảo mẫu > 70% Khối Bác sĩ và Sinh viên thực tập tuân thủ VST kém chỉ chiếm 41– 43% Nghiên cứu của BV Nhi đồng 1 Buổi chiều có sự tuân thủ rửa taycao hơn buổi sáng66% so với 60% [7].
Nghiên cứu của BV Nhi đồng 2 năm 2013 Tỉ lệ tuân thủ rửa tay chung 55,3%, 3 khoa
có tỉ lệ rửa tay cao nhất: ngoại thần kinh(73,8%), sơ sinh(72,6%), ung bướu huyếthọc(71,4%), thấp nhất là nội tổng hợp (31%).Về chức danh thì điều dưỡng có tỉ lệ rủa taycao nhất 62,8% Theo năm thời điểm rửa tay của WHO thì tỉ lệ tuân thủ rửa tay lần lượt là:48,9%trước khi tiếp xúc NB, 54,3%trước khi làm thủ thuật, 73,3% sau nguy cơ phơi nhiễmvới dịch tiết, 59,7%sau khi tiếp xúc NB, 48,7%sau khi tiếp xúc môi trường xung quanh NB.Trong số NVYT tuân thủ rửa tay thì 61,8% thực hành rửa tay đúng theo qui trình.Tỉ lệ tuânthủ rửa tay giữa các đối tượng khác biệt có ý nghĩa thống kê: 45,8% ở bácsĩ, 62,8% ở điềudưỡng/ kỹ thuật viên, 38,1% ở hộ lý và 20% ở đối tượng khác.[6]
Tại Bệnh viện Nhi đồng Cần Thơ năm 2013 tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay đúng quy trìnhcòn rất thấp chỉ đạt 38,75%, đa số NVYT khi thực hiện rửa tay đã bỏ qua bước 4 và 5( trên50%), một số thì không đảm bảo thời gian(16,25%).[9]
Nhìn chung tại Việt Nam đã có một số nghiên cứu về tuân thủ VST của một số bệnhviện và kết quả cho thấy tỷ lệ tuân thủ VST còn thấp (40 - 75%).Các yếu tố ảnh hưởng đếnVST theo khảo sát cho thấy gồm: NB đông/ công việc nhiều, thời điểm rửa tay quá nhiều,
thiếu nước hoặc địa điểm rửa tay không thuận lợi, s ản phẩm rửa tay gây kích ứng da, dùng một đôi găng chăm sóc cho nhiều người bệnh, liên quan đến nhận thức và thói quen, sự
kiểm tra của người quản lý chưa thường xuyên [1 0 ]
Trang 14Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
NVYT của các khoa lâm sàng, cận lâm sàng Bệnh viện Nội tiết Trung Ương cơ sở TứHiệp
2.1.1 Tiêu chuẩn chọn mẫu: NVYT trực tiếp tham gia chăm sóc, điều trị, tiếp xúc với
người bệnh
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ: NVYT không đồng ý tham gia nghiên cứu.
2.1.3 Cỡ mẫu nghiên cứu:
Chọn mẫu toàn bộ các nhân viên y tế làm việc tại các khoa lâm sàng, cận lâm sàngBệnh viện Nội tiết Trung Ương cơ sở Tứ Hiệp có hoạt động chăm sóc người bệnh Số lượngNVYT tại các khoa là ……người, do đó cỡ mẫu dự kiến là … mẫu
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích
2.2.2 Thời gian thực hiện: Hai tháng ( từ tháng 04 đến hết tháng 05 năm 2019).
2.2.3 Địa điểm thực hiện: Các khoa lâm sàng, cận lâm sàng Bệnh viện Nội tiết Trung
Ương cơ sở Tứ Hiệp
2.3 Biến số nghiên cứu:
- Đặc tính mẫu nghiên cứu:
Tuổi: lấy năm hiện tại trừ đi năm sinh
Giới tính: có hai giá trị là nam hoặc nữ
Nghề nghiệp (chuyên môn): gồm 4 giá trị là: bác sĩ, điều đưỡng, kỹ thuật viên và hộ lý.Thâm niên công tác: là thời gian kể từ khi công tác trong ngành, có 3 giá trị: < 2 năm, từ 2 –
5 năm và trên 5 năm
Trang 15Khối công tác: được phân chia thành 3 khối như sau:
1 Khối cận lâm sàng
Hóa sinhHuyết học và chẩn đoán tế bàoChẩn đoán hình ảnh – Thăm dò chức năng
2 Khối Nội
Khám bệnhĐiều trị tích cực
Y học hạt nhânDinh dưỡng lâm sàng và tiết chếĐiều trị theo yêu cầu
Đái tháo đườngNội tiết người lớnBệnh lý tuyến giápNội chung
Tim mạch và Rối loạn chuyển hóa
Y học cổ truyền
3 Khối Ngoại
Gây mê – Hồi sứcPhẫu thuật tuyến giápNgoại chung
Điều trị Kỹ thuật caoThận – Tiết niệuChăm sóc bàn chân
Trang 16- Các thời điểm vệ sinh tay: có 5 thời điểm
+ Trước khi tiếp xúc trực tiếp với mỗi NB
+ Trước khi thực hiện mỗi thủ thuật sạch/vô khuẩn
+ Ngay sau mỗi khi tiếp xúc với máu, dịch cơ thể
+ Sau khi tiếp xúc trực tiếp với mỗi NB
+ Sau tiếp xúc với bề mặt đồ dùng, vật dụng trong buồng bệnh
- Các phương pháp vệ sinh tay: Tại mỗi thời điểm VST có 3 giá trị là: sát khuẩn tay nhanh,
rửa bằng xà phòng với nước và không rửa tay
- Thời gian vệ sinh tay: có 2 giá trị là < 20 giây và ≥ 20 giây
- Thực hành quy trình vệ sinh tay: có 6 giá trị tương ứng với các bước trong quy trình vệ
sinh tay bao gồm:
Bước 1: Chà 2 lòng bàn tay vào nhau
Bước 2: Chà lòng bàn tay này lên mu bàn tay kia và ngược lại
Bước 3: Chà 2 lòng bàn tay vào nhau, miết mạnh các ngón tay vào các kẽ ngón
Bước 4: Chà mu các ngón tay này lên lòng bàn tay kia và ngược lại (mu tay để khum khớpvới lòng bàn tay)
Bước 5: Chà ngón cái của bàn tay này vào lòng bàn tay kia và ngược lại (lòng bàn tay ômlấy ngón cái)
Bước 6: Chà các đầu ngón tay này vào lòng bàn tay kia và ngược lại
- Tuân thủ VST: Đối tượng được xác định tuân thủ rửa tay khi thực hiện rửa tay nhanh
hoặc bằng xà phòng với nước tại 5 thời điểm mà cán bộ khảo sát được.
2.4 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu
2.4.1 Công cụ thu thập số liệu:
Phiếu khảo sát tuân thủ vệ sinh tay và phiếu khảo sát phương tiện VST: được lập bởinhóm nghiên cứu (dựa theo bộ công cụ giám sát vệ sinh tay, ban hành kèm theo Quyết địnhsố: 3916/QĐ-BYT ngày 28/8/2017 của Bộ trưởng Bộ Y tế)
2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu
Trang 17Người thực hiện quan sát chính là nghiên cứu viên (nhóm thực hiện đề tài) được tậphuấn về phương pháp nghiên cứu và không bị chi phối bởi khoa nghiên cứu Người thựchiện quan sát kết hợp các hoạt động khác của bệnh viện (quan sát, kiểm tra vệ sinh buồngbệnh; trao đổi thông tin với lãnh đạo khoa, ) để quan sát các thời điểm VST của đối tượng
nghiên cứu, tránh để đối tượng nghiên cứu biết mình bị quan sát
2.4.3 Sai số và cách xử lý
Trong quá trình thu thập thông tin, những sai số có thể xảy ra là sai số chọn (quan sátthừa hoặc thiếu đối tượng nghiên cứu) và sai số thông tin (do đối tượng nghiên cứu biết bịquan sát nên tuân thủ các thời điểm VST và sai lầm trong khi nhập liệu)
Để hạn chế những sai số trên, cần có những biện pháp:
Lập danh sách tất cả các NVYT tại các khoa được nghiên cứu với các thông tin cơ bản
và mã hóa Khi kết thúc quá trình quan sát, nghiên cứu viên sẽ đánh dấu tên (đã được mãhóa) theo danh danh sách lập sẵn để tránh nhầm lẫn
Nghiên cứu viên phải trung thực, khách quan; không thông báo trước thời điểm quansát; không vì mối quan hệ cá nhân mà làm sai lệch kết quả quan sát
Mỗi nghiên cứu viên chỉ quan sát 01 NVYT tại một thời điểm Kết thúc phần quan sátNVYT đó sẽ chuyển sang quan sát NVYT tiếp theo
Số liệu được nhập đôi để kiểm tra tính chính xác của bộ số liệu
Có điều tra thử 10 đối tượng để điều chỉnh bố cục, văn phạm bộ câu hỏi cho phù hợp
2.5 Xử lý số liệu
Số liệu sau khi thu thập về sẽ được nhập bằng phần mềm Epidata 3.1 và phân tích sốliệu bằng phần mềm SPSS 16.0
2.6 Đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu này được xem xét trên các khía cạnh nhằm giảm sự ảnh hưởng đến mức
tối đa việc vi phạm đạo đức như:
Đề cương nghiên cứu được thông qua Hội đồng khoa học của Bệnh viện Nội tiết TrungƯơng