1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu vấn đề giáo dục dân số kế hoạch hoá gia đình cho sinh viên sư phạm thông qua giáo dục giới tính

123 75 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 10,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

l i m hiểu thực trạng nhận thức, thái độ của sinh viên đại học sư phạm về giới lính, về DS-KHH gia dinh, về một số nội dung, hiện pháp của giáo dục giới tính và giáo dục DS-KHH gia dinh

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HOC NGOẠI NGÌ

ĐẾ TÀI NGHIÊN c ứ u KHOA HỌC

C Ấ P ĐẠI HỌC QUỐC GIA

NĂM 1 9 9 9

NGHIÊN cú u VẤN ĐỀ

.MẢ SÒ: ỌN.99.09 CHUYÊN NGÀNH: GIÁO DUC HOC

CHU N H ỈỆ M Đ Ế TÀI:

TS PHAN BÍCH NGỌC - ĐẠI HỌC NGOẠI NGŨ

Trang 2

DẺ TÀI NGHIÊN c ứ u KHOA HỌC CẤP ĐẠI HỌC QUỐC GIA

N Ă M 1999

NGHỈÊN CỨU VÂN ĐÊ

MẢ SÒ: (>N.99.(W

á i \ CI - Ắ C

( HUYÊN NGÂNII: (ilÁ O DỤC IKK

( MU NHIỆM OI: I ẢI:

TS PH A N BÍCH N G ỌC - t)Ai HỌC NGOAI N<;u'

NHUNG NGUỜÍ PHỐI llỢP T H U MIỆN:

TS DƯƠIMG DIỆU HOA - ĐH s ir PHẠM MÀ NÔI

THS NGUYỄN THỊ THANG ĐH n g o ạ i NCtl ỉ

t)AI HOC QUỐC (ilA HA NỘI

I RUỒNG ĐAI íl()( NGOẠI NCrỉ

HANOI 2002

Trang 3

MỤC IẠỈC

Mỏ đầu

1 Lí do chọn dề tài

1.1 Tam quan trọng cùa giáo dục giới tính, giáo dục dàn sô'

1.2 Vai trò của giáo dục giới tính, giáo dục dàn số

1.3 Giáo dục giới tính đối với sinh viên sư phạm

2 Mục đích nghiên cứu

3 Khách thổ và dôi tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

3.2 Đối lượng nghiên cứu

4 Giả thuyết khoa học

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Kê thừa và xây dựng một hệ thống lí luận về giáo (lục giới tính, DS-KHH gia đình có giá trị chỉ đạo cho việc nghiên cứu (tề lài

5.2 l i m hiểu thực trạng nhận thức, thái độ của sinh viên đại học sư phạm

về giới lính, về DS-KHH gia dinh, về một số nội dung, hiện pháp của giáo dục giới tính và giáo dục DS-KHH gia dinh trong trường sư phạm

5.3 Đề xu Át một số biện pháp giáo dục giới tính và giáo dục DS KHH gia đình cho sinh viên sư phạm

6 Phạm vi nghiên cứu

7 Phương pháp nghiên cứu

7 1 Phương pháp nghiên cứu lí luận

7.2 Phương pháp diều tra bằng An két

7.3 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

7.4 Phương pháp dạy thử nghiệm

Chương 1 - Cơ sở lí luận của vấn đề giáo dục giới tính, giáo dục

(lân số và sức klioẻ sinh sản

1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Giáo dục giới tính, giáo dục dủn số trên thế giới

1.1.2 Giáo dục giới tính, giáo dục dân số ở Việt Nam

1.2 Một số khái niệm cơ bản về giáo dục giới tính, giáo dục (lân số1.2.1 Khái niệm về giới

1.2.2 Khái niệm về giới tính

1.2.3 Khái niệm về tình dục

Trang 4

1.2.4 Khái niệm về giáo dục giới tính, giáo dục dân sỏ 101.3 Mục đích, nhiệm vụ, nội dung, nguyên tắc giáo dục giới lính, 12giáo dục dân sô

1.3.1 Mục đích giáo dục giới tính, giáo dục dân sô 121.3.2 Nhiệm vụ của giáo dục giới tính, giáo dục dân số 121.3.3 Nội dung của giáo dục giới tính, giáo dục dân số 131.3.4 Những nguyên tắc giáo đục giới tính, giáo dục dân số 131.4 Ý nghĩa của giáo dục giới tính, giáo dục dân số trong sự phát 15 triển nhân cách và trong đời sống xã hội

1.4.1 Giáo đục giới tính, giáo dục dân sô góp phần giải quyết mau 15thuẫn giữa sự dậy thì sớm của thanh niên với yêu cầu kết hôn muộn

nhằm hạn chế gia tăng dân số

1.4.2 Giáo dục giới tính, giáo dục dân số góp phẩn ngăn ngừa hiện 16 tượng có thai ngoài ý muốn

1.4.3 Giáo dục giới tính, giáo dục dân số góp phần hạn chế hiện 16tượng li hôn, đảm bảo sự bền vững và hạnh phúc gia đình

1.4.4 Giáo dục giới tính, giáo dục dân số là phương tiện hữu hiệu 17ngăn ngừa sự lây lan bệnh tình đục

1.4.5 Giáo đục giới tính, giáo dục dân số góp phần nâng cao ch fit ISlưựng giống nòi

1.4.6 Giáo dục giới tính, giáo dục dân số góp phán nâng cao ciiât 18lượng cuộc sống

] 4.7 Giáo dục giới tính có ảnh hưởng trực tiếp đốn giáo dục dân số i 81.4.8 Giáo dục giới tính, giáo dục dân sô góp phần phát triển nhím 19cách toàn diện

1.5.4 Hậu quả của các bệnh lây lan qua đường tình dục 2 1

Trang 5

2.2.1 Thực trạng kiến thức của sinh viên sư phạm vé các vấn (lé có 24liên quan đốn giới tính

2.2.2 Thái độ của sinh viên về tình dục-tình yêu-hôn nliAn 492.2.3 Thực trạng các biện pháp giáo dục giới tính, giáo dục dân số 52

cho sinh viên các trường sư phạm ngoại ngữ

2.3 Đánh giá của giáo viên, cán bộ quản lí về nhận thức giới tính 69giáo dục giới tính-giáo dục dân số của sinh viên sư phạm

cho sinh viên SƯ phạm

3.1 Mộl số biện pháp giáo dục giới tính, giáo dục dân số cho sinlì 72viên đại học sư phạm hiện nay

3.1.1 Những cơ sở xác định biện pháp giáo dục giới tính, giáo dục 72dân số cho sinh viên đại học sư phạm

3.1.2 Một số biện pháp giáo dục giới tính, giáo dục dân số cho sinh 75viên sư phạm

3.1.3 Các biện pháp giáo dục giới tính, giáo dục dân số ngoài giờ lên 79lớp

3.2 Thiết k ế khung chương trình giáo dục giới tính, giáo dục dân số 85với tư cách là phân môn độc lập, thời lượng 2 DVHT (30 tiết)

Phụ lục 1 - Vài nét về giới tính và giáo dục giới tính trong văn hoá 91truyền thống Việt Nam

Phụ lục 2 - Nội dung thực nghiệm tình yêu-hôn nliAn-gia dinh 95Các bài báo đã công bố của tác giá có liên quan đến (tề tài 102

Trang 6

MỎ ĐẦU

1 Lí do chọn để tài.

/ / Tấm quan trọng của giáo dục giói tính, giáo dục dờn sò.

Dàn sô kế hoạch hoá (DS-KHH) lừ lâu đã trở thành vấn đổ được thê giới quan tâm, ở nước la DS-KHH gia đình là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đất nước, trở thành nhiệm vụ chính trị của các cấp uỷ Đang, cư quan nhà nước ở mọi ngành, mọi cấp Ngành giáo dục, nơi tập trung lực lượng chủ yếu thanh thiếu niên của cả nước đã sớm nhận thức (lược tầm quan trụng của công tác DS-KHH gia dinh đã từng bước đưa công tác này vào (rong nhà trường nliằni nâng cao nhận thức cho cán bộ, sinh viên, học sinh đối với những vân đổ cụ the của công tác DS-KHH gia đình Tuy nhiên đối với đặc thù của từng cấp học, nội dung, phương pháp, hình thức tiến hành công tác DS-KHH gia đình phải có sự phù hợp với từng độ tuổi, giới tính của các em

Trong vài 1 hạp niên gần đây, nhiều công trình nghiên cứu về l;im lí học, uiáo dục học cho thấy, gia tốc phát triển của lie cm rất nhanh Điều này biểu hiện thông qua sự trưởng thành và chín niuồi nhanh cả về mặt sinh lí giới IÍI1Ỉ1

(tuổi đậy thì phát triển sớm hơn) và sự phát triển của tílin lí giới lính (nhu cầu quail hệ giới tính phát triển, quan hệ với hạn hò khác giới, ứng xử với bạn kluíc giới) Từ đó, các em có những hành vi giới tính Trong klti đó, nhận tluíc vé xã hội, về bán thân của các em chưa cao, do đỏ diều này dã gày ra những anil hưởng không tốt đến xã hội

Trên thực tế đã xẩy ra những hành vi giới lính (táng liếc Vì thê, trong các chương Irìnli giáo dục dân số, chăm sóc sức khoe sinh san ngày càng ý thức, chú V tới vai trò của giáo dục giới tính Đứng trước llìử tlìácíi lớn lao của

sự gia lăng dân số, Đảng và Nhà nước ta dã coi "Công tác Dân Số-Kế hoạch hóa gia đình là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đftl nước, là một trong những vãn đề kinh tế-xã hội hàng đáu của nước ta, là một yếu tố cơ bản đê nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và toàn xã hội"

1.2 Vai trờ của giáo dục giói tính, giáo dục dân sỏ.

Mộl trong những mục tiêu của chính sách dân số hướng vào việc hạ thấp

tỉ lệ sinh và mức độ thành công của nó phẩn lớn dược quyết định bới sự thay đổi nhận thức của con người đối với hôn nhân, gia đình và việc sinh con Chính

vì vây, giáo dục dân số nói chung và giáo dục giới tính nói riêng cỏ vai trò to lớn trong việc giải quyết nhiệm vụ này Giáo dục giới tính là một chương trình

nh ằm c u n g c ấ p n h ữ n g kiến thức thích hợp về giới tính của Iigười dưới g ó c đ ộ

sinh lí học, tâm lí học, văn hóa-xã hội và dạo đức Giáo dục giới tính lập trung

sự chú ý một cách có chọn lọc về cá thể, với các chủ đề về tự biết mình, vé các quan liệ cá nhân, vé quá trình phát triển giới tính và các hoạt động tình dục cũng như sinh sán

Trang 7

Trong số những tri thức về giới tính học, những hiểu biết về sinh hoạt tình dục giữ vai trò đặc biệt, vì một trong những nền tảng của gia dinh bổn vững chính là hạnh phúc và sự thỏa mãn của vợ chồng trong quan hệ tình dục

ớ những độ tuổi nhất định, việc không thỏa mãn tình dục do những nguycn nhân khác nhau có thể gây ra xung đột vự chồng Ngược lại việc thỏa mãn tình đục quá sớm và ở ngoài hôn nhân có thể gây nên những hậu quả tai hại cho tâm

lí, dạo đức, sức khỏe, hạnh phúc của con người Vấn dề tình dục, do dó, không chỉ là vấn đề sinh lí, tâm lí, đạo đức mà còn là vấn đề xã hội to lớn, liên quan tới tất cả mọi người, vì vậy cần dược coi trọng đúng mức Với ý nghĩa dó, giáo dục giới tính được xem là cốt lõi của công tác giáo dục dân số, vì nó không chỉ góp phàn tạo khả năng giảm tỉ lệ sinh mà còn trả lại những giá trị đích tỉ lực cho con người, mang lại hạnh phúc cho cá nhân, cho gia ctìnli và cộng đồng xã hội

Ngày nay giáo dục giới tính có vai trò to lớn trong việc phát ti icii nhân cách toàn vẹn của con người Do ảnh hưởng của bùng nổ thông tin, của thời mở cửa , một bộ phận lớn thanh thiếu niên có những biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống và quan hệ nam nữ Một trong những nguyên nhân chủ yếu là do nhiều em thiếu hiểu biết về lĩnh vực đời sống giới tính, lình dục "Việc các cm thiếu nicn thiếu hiểu biết về vấn đề giới tính thường dÃn tới những tàn hi kịch đau lòng trong dời sống" [21], hoặc "Sự thiếu hiểu biết về những vân đề giới tính, đời sống tình dục cũng như các vấn đề khác đều nguy hiểm và tổn hại cho sức khỏe và tủm lí, đạo đức con người" [21] Vì thế, để giúp các em có được hành vi đúng đắn, làm chủ được hành vi của mình, diều cần thiết là phải tiến hành giáo dục giới tính

Xuất phát từ những lí do trên đây, cho phép khẳng dinh việc đưa giáo dục giới tính vào nhà trường SƯ phạm là đòi hỏi khách quan, cấp bách và (in ctó cần sớm được triển khai, trước hết ở các trường sư phạm Chính vì vây, việc nghiên cứu đề tài này là cần thiết

1.3 Giáo dục giói tính đôi với sinh viên sư phạm

Mục tiêu của việc giáo dục giới tính là cung cấp tri thức, tác dỏng đến thái độ và hình thành hành vi giới tính cho đông đảo các tầng lớp học sinh, sinh viên đang học trong các trường phổ thông và chuyên nghiệp Tuy nhiên, vấn đề

có tính chiến lược là phải xác định được những lực lượng nòng cốt, xung kích mang lại hiệu quả cao nhất Trong số rất ít các lực lượng đó, phai kể đến đội ngũ giáo viên

Giáo viên, đặc biệt là giáo viên phổ thông trung học, đông đảo về số lượng

I lơn nữa, do tính chất nghề nghiệp, đối tưựng tiếp xúc thường xuyên với ho là tầng lớp thanh, thiếu niên học sinh (đối tượng chủ yếu của giáo dục giới tính) Uy tín, sức thuyết phục của giáo viên đối với học sinh rất lớn Do dó, trong chiến lược giáo dục giới tính cho thế hệ trẻ, cần phải coi trọng đội ngũ giáo viên, với tư cách

la chủ thể của công tác giáo dục giới tính trong nhà trường

Như vậy, giáo dục giới tính trong nhà trường sư phạm cỏ tính hai mặt: Một mặt, sinh viên sư phạm phải được coi là chính đối tượng của công tác giáo dục giới tính Bơi vì, sinh viên đại học là những người thông minh, lài nhạy

Trang 8

cam với những cái tốt đẹp của cuộc sống Tuy nhiên, do nhiều yếu lố khác nhau, các tệ nạn xã hội dã xâm nhập vào các trường (lại học và trung học chuyên nghiệp Thực trạng này đã ảnh hưởng tới một bộ phận sinh viên thiếu ý chí và thiếu hiểu biết, vì vậy đã có hiện tượng "tình yêu thời mở cưa" rồỊ

sau đó, hậu quả là số sinh viên, học sinh nạo, hút thai khôRg p h ả ríĩ.^

Trước cuộc sống ở đô thị, sinh viên nói chung và sinh viên các trường đại học, cao đẳng sư phạm nói riêng, nhất là nữ sinh viên rất dễ bị cuộc sống

ồn ào, mới lạ lôi cuốn, chạy theo lối sống thực dụng và những cám (lồ vẻ vật

chất, dẫn đến sự sa ngã Hơn nữa, Ỉ1Ọ sống xa nhà, xa tình thương yêu đùm bọc của gia đình, gặp những bế tắc trong cuộc sống, nhiều em do sự giáo (lục phiến diện nên khi trưởng thành dã bị khủng hoảng về lình cảm hay tinh thrill, dần tới những sai lẩm đáng tiếc

Mặt khác, với tư cách là chủ thể của còng tác giáo dục giới tính trong nhà trường phổ thông sau này, họ phải được cung cấp những tri thức, kĩ năng

về công tác giáo dục giới tính cho thanh thiếu niên Đây chính là mục liêu chủ yếu của giáo dục giới tính trong các trường sư phạm Chính khía cạnh thứ hai này làm cho công tác giáo dục giới tính trong trường sư phạm có tính đặc thù

và rất quan trọng trong sự nghiệp giáo dục giới tính của toàn xã hội Điều này càng trơ nên cấp bách trong điều kiện hiện nay khi công tác giáo dục giới tính

đã được triển khai ở các trường phổ thông trung học, nhưng ở các trường sư

phạm cổng tác này còn chưa dược thực hiện theo tiling quy IÌ1Ô và tiìni vóc cua nỏ

Xuât phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn "Nghiên cứu vấn đề giáo dục Dàn Số-Kế hoạch hoá gia dinh cho sinh viên sư phạm thông qua giáo dục giới tính"

2 Mục đích nghiên CỨU/,

Xác đinh nôi dung và biện pháp giáo dục giới tính cho sinh viên sư pham nhằm trang bị cho họ các kienìEức cơ bảnve giơi tính, tình yêu và hôn nhân, qua đó giúp họ có thái độ và hành vi đúng đối với vấn đề Dân Số-Kế hoạch hoá gia đình

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu.

3.1 K hách th ể nghiên cứu.

Q uá trình giáo dục giới tính, Dân Số-Kế hoạch hoá gia đình cho sinh viên sư phạm

3.2 Đ ô i tượng nghiên cứu.

Nội dung, đặc điểm, hiện trạng, nguycn nhân, yếu tó và các biện pháp giáo dục giới tính, Dân Số-Kế hoạch hoá gia đình phù hợp với sinh viên sư phạm

4 Giả thuyết khoa học.

Trên cơ sở phát hiện, làm rõ nội dung, đặc điểm, nguyên nliAn, hiện trạng giáo dục giới tính DS-KHH gia đình có thể xác lập được hộ thõng biện pháp giáo dục giới tính và Dân Số-Kế hoạch hoá gia đình một cách hợp lí cho

3

Trang 9

-sinh viên sư phạm và góp phần nàng cao chất lưựng đào tạo toàn diện của nhà trường, trước hết là phục vụ cho công tác Dân Số-Kế hoạch hoá gia dinh - một chủ tnrơng lớn của Đảng và Nhà nước ta.

5 Nhiệm vụ nghiên cứu.

5.1 K ế thừa và xây dựng một hệ thống lí luận về giáo dục giới tính, DS-KHH gia đình có giá trị chỉ đạo cho việc nghiên cứu đề tài

5.2 Tìm hiểu thực trạng nhận thức, thái độ của sinh viên đại học sư phạm về giới tính, về DS-KHH gia đình, vé một số nội dung, biện pháp của giáo dục giới tính và giáo dục DS-KHH gia đình trong trường sư phạm

5.3 Đề xuất một số biện pháp giáo dục giới tính và giáo dục DS-KHM gia đình cho sinh viên sư phạm

6 Phạm vi nghiên cứu.

* Trong công trình này, chúng tôi nghiên cứu giới tính và giáo dục giới tính chủ yếu theo góc độ giáo dục DS-KHH gia đình Vì vậy, về nội dung, đề tài giới hạn trong phạm vi tìm hiểu nhận thức, thái độ, nguyện vọng của sinh viên vé một số nội đung tri thức giới tính, dân số

* Đề xuất những hiện pháp và hình thức bồi dưỡng cho sinh viên về những vấn đề trên

7 Phương pliáp nghiên cứu.

Để thực hiện mục đích và giải quyết các nhiệm vụ trên, chúng tỏi dã sử dụng phối hựp hệ thống các phương pháp nghiên cứu sau:

7.1 Phương p h á p nghiên cứu lí luận.

Phương pháp nghiên cứu lí luận, phương pháp nghiên cứu sán phẩm hoạt dộng Đọc sách, tham khảo tài liệu và các công trình nghiên cứu liên quan đến giới tính và giáo dục giới tính, sử dụng làm tiền đề cho việc xây dựng cơ sờ lí luận của việc đưa giáo dục giới tính, giáo dục dân số vào nhà trường sư phạm

7.2 Phương p h áp điểu tra bằng An két.

Đổ đánh giá thực trạng nhận thức, thái độ, nguyện vọng và các biện

pháp, hìn h thức dưa g iá o d ụ c g iớ i tính, g iá o dục dân s ố v à o nhà trường SƯ

phạm Đây là phương pháp chính

7.3 P hương p h áp tổng kết kinh nghiệm.

Phương pháp tổng kết kinh nghiệm sử dụng tại dây nhằm tổng kết, đánh giá, xác định các biện pháp giáo dục giới tính, giáo dục dân số trong trường sư phạm hiện nay

7.4 Phương p h áp dạy thú nghiệm.

Trang 10

Tiến hành dạy thử một sô nội dung dế phần nào khẳng định tính kh;’i thi của hìnli thức, biện pháp giáo dục giới tính, giáo dục dân số Tiến hành tổ chức

tư vấn giáo dục giới tính, giáo dục dân số cho sinh viên ở trường sư phạm

7.7 Phương ph áp toán thông kê.

Để xỉr lí số liệu điều tra có định lượng chính xác cho nội dung, biện pháp giáo dục nhằm nâng cao tính thuyết phục của vấn đề nghiên cứu

8 Nhííììg dóng góp của để tài.

s l Về lí luận.

Nghiên cứu của đề tài góp phần làm sáng tỏ hơn những vấn đề lí luận về giới tính, giáo dục giới tính, giáo dục dân số và mối quan hệ giữa giáo dục giới tính, giáo dục ílcìn số với sự hình thành và phát triển nhân cách toàn diện của người sinh viên sư phạm, người giáo viên tương lai Xác định một số biện pháp

có hiệu quả trong việc giáo dục giới tính, , giáo dục dân số cho sinh viên sư pliạm trong điều kiện hiện nay

8.2 Về thực tiễn.

Đánh giá dược thực trạng việc sử dụng biện pháp giáo dục giới lính, giáo dục dân số cho sinh viên sư phạm Biên soạn tài liệu hướng dẫn việc sử dụng biện pháp và nội dung giáo dục giới tính, giáo dục dân số cho sinh viên sư phạm

5

Trang 11

-CHƯƠNG 1

C ơ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ GIÁO DỤC GIỚI TÍNH,

GỈ ÁO DỤC DÂN SỐ VÀ SÚC KHOẺ SINH SẢN

1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu.

1.1.1 G iáo dục giói tính, giáo dục dân s ố trên th ế giói.

Giáo dục giới tính, giáo dục dân số là vấn dề dược nhiều nước chau Âu quan tâm nghiên cứu từ rất sớm

Ở Thụy Điển vấn đề giáo dục giới tính, giáo dục dân số đã được đặt ra từ năm 1921 Ngay từ đó, Thụy Điển đã coi tình dục là một quyền tự do của con người, là quyền bình đẳng nam nữ, là trách nhiệm đạo đức công dân đối với xã hội Năm 1933, Thụy Điển thành lập "Hiệp hội quốc gia giáo đục tình đục" Mục tiêu của Hiệp hội này là: Thông tin phổ biến kiến thức về giới tính nói chung và tình dục nói riêng; sản xuất và hán thuốc tránh thai, dụng cụ tránh thai

Vấn đề giáo dục giới tính, giáo dục dân số trong giai đoạn nà\ gắn với phong trào "Phấn đấu vì những cải cách tình dục" Những người tham gia phong trào này đã nêu lên hàng loạt đòi hỏi tiến bộ như: hình đẳng nam nữ, giải phóng hôn nhân khỏi quyền lực nhà thờ, tự do li hôn, sử dụng CMC hiện pháp phòng tránh thai, giáo dục tình dục trcn cơ sứ khoa học

Năm 1942, Bộ Giáo dục Thụy Điên quyết định dưa thí điểm giạo dục tình dục vào nhà trường và đến năm 1956 thì dạy phổ cập trong tất cà các loại trường từ tiểu học đến trung học

Sau Thụy Điển là các nước ở Đông Âu như Đức, Ba Lan, Nam Tư, Hungari, Tiệp Khắc và các nước Tây Âu, Bắc Âu khác Hầu hết các nước này đều coi hoạt động tình dục là một nội dung lành mạnh của đời sống COI1 người,

vì th ế họ quan niệm: cần nói rõ cho mọi người biết những quy luật hoạt động của tình dục Chương trình giáo dục giới tính, giáo dục dân số của họ rất da (lạng, các trường có thể tự chọn vấn đề phù hợp với đối tưựng học để giang dạy Nhà nước lận dụng các phưưng tiện truyền thông để tiến hành giáo dục giới lính Sau đó nhiều nước châu Mỹ La tinh, vùng Caribê cũng hắt đầu quan tâm giáo dục tình dục, giáo dục dân số

Tuy nhiên, cần thấy rằng từ năm 1960 trở về trước, vấn đề giáo (lục giới tính, giáo dục dân số mới chỉ được quan tâm ở một số nước châu Au, châu Mỹ Đối với nhiều nước chcìu Ả, giáo dục giới tính còn là lĩnh vực "cấm kị", xuất phát từ những quan điểm phong kiến và tôn giáo Trong khi đó, các nước này là những vùng dân số tăng nhanh nhất thế giới Từ thập niên 50 trở lại đây, tốc độ dân số ngày càng gia tăng nhanh chóng ở các quốc gia nghèo, tức là "(V những nước ít được trang bị để đáp ứng nhu cáu của những công dân mới ra đời và để đầu tư cho tương lai" (nhận định của Tiến sĩ Nafis Sadik - Giám đốc cliàp hành

Trang 12

Quỹ Dân sô' Liên hiệp quốc) Năm 1948, Julian Hixlev Tổng (ỉiám dốc UNESCO đã nhắc nhở các quốc gia rằng: "Dân số quá dỏng có thể íinlì hướng mạnh mẽ tới nền văn minh tương lai Bằng cách này hay cách khác, phái cân bằng dan sổ với các nguồn tài nguyên hoặc là để cho nền văn minh bị tàn lụi di" Bởi vì dân số càng tăng thì số lượng người nghèo, thiếu ăn, nùi chữ, đau

ốm bệnh tật không có phương tiện chữa chạy sẽ tăng lên và chất lượng cuộc sống sẽ ngày càng giảm thấp

Trái lại, ở những quốc gia phát triển, dân số không tăng, thậm chí có những nước còn giảm sút như OxtrAylia, Cộng hòa Liên bang Đức, Đan Mạch,

Bỉ, Italia Tại những nước này, tỉ lệ sinh đẻ bình quân chỉ từ 1,4 đến 1.5%, mức thấp nhất của thời đại Tinh trạng đẻ ít, dân sô già, thiếu sức lao động trẻ, đã làm cho một phẩn sản xuất công nghiệp bị sút kém, sức sống xã hội suy giảm Thực trạng đó đòi hỏi Nhà nước phải có những chính sách khuyến khích sinh

dỏ dành cho các cặp vợ chồng trẻ

Như vậy, các nước phát triển và chưa phát triển, dù dứng ở hai cực dân

số đối lập nhau, song đều có nhu cầu về nâng cao chất lượng cuộc sống của mỗi cá nhân và sự văn minh của toàn xã hội

Năm 1968, Đại hội đồng Liên hiệp quốc bắt đáu có những hoạt động về giáo dục dân số trong từng khu vực Ngành khoa học về giáo dục dân sò ra đời

và phát triển, làm nảy sinh yêu cẩu về giáo dục giới tính trong dân số

Năm 1973, Hội thảo quốc tế về giáo dục tình dục trong các nước nói tiếng Pháp Năiiì 1974, Hội nghị quốc tế về tình dục ở Giơnevơ đã tháo luận về

sự cẩn thiết phải đưa tình dục học vào trong chưưng trình giảng dạy ở các

ngành giáo dục, y tế Năm 1977, Hội thảo quốc tế ở Vacsava (Ba Lan) của các nước xã hội chủ nghĩa về kế hoạch hóa gia đình, giáo dục tình dục, hôn nhân

và gia đình Năm 1984, Hội nghị quốc tế ở Mêhicô về kế hoạch hóa gia đình và giáo dục giới tính, giáo dục dân số

Trong những năm 1984, 1986, các hội nghị UNESCO khu VỊIC đã làm sáng tỏ những yêu cầu về giáo dục đời sống gia đình và giáo dục giới lính, giáo dục dân số trong quá trình giáo dục dân số ở các nước khu vực châu Á-Thái Bình Dương Nội dung và phương pháp giáo dục giới tính, giáo dục dân so ở các nước có thể có những khía cạnh khác nhau, vì mỗi dân tộc đều có những phong tục, tập quán dân tộc, những định hướng giá trị về tình dục, về con trai, con gái v.v khác nhau Nhưng tất cả đều thống nhất ý kiến về tầm quan trọng

và sự cần thiết phải giáo dục giới tính cho thế hệ trẻ, giúp người học làm chủ quá trình sinh sản của mình một cách khoa học và phù hợp với tiến hộ xã hội

1.1.2 G iáo dục giói tính, giáo dục dán sô ỏ Việt Nam.

Nhận thức về giới có từ rất sớm trong văn hoá truyền ihống Việt Nam Khảo cứu truyền thuyết, ca dao, dân ca, nghệ thuật, kháo cổ của các dân tộc Thái, Lô Lô, Mèo, Tày, Nùng, Khơ me, Chàm (xem Phụ lục số I ) cho thấy, ngay từ thời xa xưa, ông cha ta đã có quan niệm về giới "Trời - Cha" "Mẹ - Đất" Trời - Đất như một cặp Nam - Nữ Trong nền văn hoá Chàm có những

7

Trang 13

-tượng thờ hằng đá thể hiện quan niệm rất rõ về dặc điểm giới và giới linh.

Nhận thức về giới và giáo dục giới tính trong văn lioá còn đưực Ihể hiện trong các phong tục, đặc hiệt là trong các lễ hội cổ truyền của nhiều địa phương Nói chung, tổ tiên người Việt đã có quan niệm tương đối dày đủ về các yêu tố tâm-sinh lí của vấn đề giới tính, khá cỏi Ỉ11Ở phóng khoáng vé tình dục, coi đổ là hành động tự nhiên, cần thiết để bảo tồn và phát triển nòi giống,

có quan hệ đến sự phồn thịnh và hạnh phúc của quốc gia, dân tộc

Sau khi tiếp nhận ảnh hưởng văn hoá Hán với Nho giáo là cốt lõi, chữ LÊ dược đề cao Dần dần khía cạnh tâm lí-xã hội của giới tính đưực khai thác nhằm phục vụ lợi ích cùa giai cấp phong kiến, tạo nên sự bất bình dẳng về giới Hàng rào lẽ giáo dược dựng lên, ngăn chặn một cách giá lạo sự tiếp xúc giữa những người khác giới Những chuyện liên quan đến khía cạnh sinh lí cua giới tính và tình dục trở thành điều cấm kị đối với lớp trỏ Đại hộ pliận xã hội (lược hướng dân bởi những lời thuyết giáo đạo đức "Trung, Hiếu, Tiết hạnh", phục vụ cho quAn quyền (quyền của nhà vua), phụ quyền (quyền của ông bò) và nam quyền (quyền của đàn ông) Giáo dục giới tính, giáo dục dân số với ý nghĩa chân chính của I1Ó bị "né tránh"

Ngày nay, Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà I1ƯỚC Việt Nam đã coi giáo dục đAn số là nhiệm vụ thuộc "Chiến lược con người" Hàng loạt chú Irương được thực hiện nhằm xã hội hóa công tác giáo dục dân số một cáclì lum hiệu, trong đó có chủ trương thực hiện khuyến nghị của Hội nghị tư vấn khu vực về

giáo dục (lAn số năm 1986 ở Bangkok gồm 4 điểm: giáo dục đời sống gia đình;

giáo dục giới tính; giáo dục tuổi già; giáo dục về đô thị hóa

Thời gian gần đày, cùng với giáo dục dân số, giáo dục giới tính hắt đầu được quan tâm Ngày 24-12-1984 Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đổng đã kí Chỉ thị 176a, nội dung Chỉ thị có đoạn viết: "Bộ Giáo dục, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Tổng cục Dạy nghề phổi hợp với các tổ chức liên quan xây dựng chương trình chính klioá nhằm bồi dưỡng cho học sinh những kiến thức khoa học về giới tính, về hôn nhân và gia dinh, về nuôi và dạy con" Ngay sau đó, năm 1985, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp dã phối hợp với Công đoàn ngành đại học tổ chức hội thảo về giáo dục giới lính, giáo dục dân số cho sinh viên các trường đại học, tổ chức hai lớp tập huấn về giáo dục giới tính, giáo dục dân số cho một số cán hộ Đoàn, cán bộ tuyên huấn, cán

bộ giáo vụ các trường đại học và trung học chuyên nghiệp ở các tỉnh phía Bắc tại Hà Nội và các trường đại học và trung học chuyên nghiệp ở các tỉnh phía Nam tại thành phố Hồ Chí Minh Qua tập huấn mọi người đều nhận thức phải nhanh chóng đưa giáo dục giới tính, giáo dục dân số vào nhà trường dại học, cung cấp cho thanh niên, sinh viên những kiến thức về đặc điểm tâm-sinh lí giới tính về tình yêu, hôn nhân và gia đình, chuẩn bị cho họ hành trang hước vào đời Tuy nhiên, công tác giáo dục giới tính, giáo dục dân số ở các trường đại học cũng chỉ mới dừng lại trong một số buổi sinh hoạt Câu lạc hộ thanh niên, sinh viên Điều kiện kinh phí nghiên cứu khoa học chưa cho phép triển

Trang 14

khai xây dựng chương trình giáo dục giới tính, giáo dục dân số mọt cách hệ thống, khoa học như mọi người mong muốn.

Bắt đáu từ năm 1988, một đề án có quy mô to lớn nghiên cứu về giáo dục giới tính, giáo dục dân sô và dân số kế hoạch hoá gia đình cho học sinh, để

án V1E/88/P09, dã được tiến hành Đế án do Bộ Giáo dục, Trường Cán hộ quán

lí, Viện Khoa học giáo dục Việt Nam thực hiện với sự chỉ đạo và tham gia trực tiếp của các nhà khoa học trong và ngoài ngành giáo dục Đc án dã xây dựng chương trình, sách giáo khoa và giảng dạy thí điểm thành công ử 19 lính thành trong cả nước

1.2 Một sỏ khái niệin cơ bản về giáo dục giới tính, giáo dục CỈÍÌI1 so

ỉ 2.1 K hái niệm về giói.

Trong các lĩnh vực khoa học xã hội, giới là khái niệm có phạm vi rộng,

dược dùng trong quá trình phân lớp các nhóm người trong x ã liội dựa trcn các

tiêu chí nhất định như theo nghề nghiệp (giới trí thức, tiểu thương ), ihco lứa tuổi (giới trẻ, giới già ) Tuy nhiên, trong giáo dục dân số, khái niệm "giới" được hiểu với nghĩa hẹp hơn Theo tài liệu "Giáo dục dân số trong trường trung học và chuyên nghiệp dạy nghề" thì "giới" là thuật ngữ dùng dể chí cá nhân nào đó thuộc phái nam hay nữ 111 trang 86J Còn tlico "Tài liệu hướng dẫn giảng dạy giáo dục dân số và sức khoẻ sinh sản cho các trường Irung học chuyên nghiệp" thì "nói đến giới là nói đến sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới xét về mặt xã hội (giới là một phạm trù xã hội)" 12 3 1

1.2.2 Khới niệm vê giới tính.

Giới tính ià khái niệm chỉ tập hợp những đặc điểm, lính chất riêng biệt

và những trải nghiệm của cá nhân về những tính chất đó, tạo nên sự khác nhau giữa nam và nữ Ví dụ: đàn ông - to khoẻ, bộc trực, cứng rắn; phụ nữ - nhỏ yếu, kín đáo, dịu dàng

Giới tính hình thành từ hai nguồn gốc:

* Nguồn gốc sinh học: nam với nhiễm sắc thể XY, nữ là XX Nhiễm sắc thể quy định tính trạng nam nữ là Y và X Cấu tạo cơ thể, nội tiết, tiìm sinh lí bắt nguồn từ đó

* Nguồn gốc xã hội: tình cám, ý thức được hình thành qua giao tiếp dưới ánh hưởng của giáo dục, xã hội Có người là dàn ông nhưng tính đàn hà và ngưực lại Mỗi xã hội có sự phân công lao động riêng, có quan niệm VC giới tính theo những chuẩn mực đạo đức và văn hoá nhất định

Như vậy, giới tính là hành vi, tâm lí, đạo đức theo kiểu nam hoặc nữ, chịu anh hưởng của xã hội hay một nền văn hoá nào đó, vì vậy nó thay đổi theo thời dại [36]

1.2.3 K hái niệm về tình dục.

Tinh dục (désir sexuel) là sự phát triển tự nhiên và tất yếu của giới tính con người Khi con người đến tuổi dậy thì (tuyến và cơ quan sinh (lục phát triển) thì sự ham muốn khoái lạc tập trung vào một dối lượng khác Ịiiới, kèm

9

Trang 15

-theo những lình cảm tốt dẹp Tinh yêu là sự nảy I1Ở trên cơ sớ những lình cảm này và trên mối quan hệ tình dục.

Ilnh dục là động lực sán có, tình dục là sự thay đổi về chất và tình dục trơ thành Iihu cẩu không thê thiếu Bất cứ cuộc hôn nhân nào cũng chứa dựng yếu tố: tinh thần, vật chất và tình dục Tinh dục nhằm hai mục đích: sinh sản và thoả mãn nhu cáu sinh lí Nó chịu ảnh hưởng bên trong bởi hệ thần kinh và nội tiết, chịu ảnh hưởng hên ngoài bởi các chuẩn mực đạo đức xã hôi các quan điểm về ban thể, giới tính, tình yêu, hôn nhân và gia đình

1.2.4 K h ái niệm vé giáo dục giói tính, giáo dục (Ìrìỉì sỏ.

Có nhiều định nghĩa về giáo dục giới tính, giáo dục chill số

ì 2.4.ì Đ ịnh nghĩa của A.G Khoricôva và ỉ).lị Kèìêxôp.

Theo A.G Khoricôva và D.B Kêlêxôp: "Giáo dục giới tínlì là quá trình hướng vào việc vạch ra những nét, những phẩm chất, những đặc trưng và khuynh hướng phát triển của nhân cách nhằm xác định thái độ xã hội cần thiết của con người đối với những người thuộc giới khác"

Định nghĩa này cho thấy phạm vi của giáo dục giới tính không chỉ bó

hẹp ở việc giáo dục mối quan hệ giữa nam và nữ mà còn bao gồm ca việc giáo

dục những mối quan hệ nam-nữ trong đời sống xã hội như học tập, lao động, Iighí ngơi giải trí , giáo dục cho con người biết rèn luyện những pliâni chất giới tính Iihằm phát huy "thế mạnh" của giới mình

1.2.4.2 Định nẹlỉĩa của "Rách khoa toàn thư Y học p h ổ thông" do Pcíì òpxki chủ biên.

Theo "Bách khoa toàn thư Y học phổ thông" do Pêtrôpxki chủ hiên thì:

"Giáo dục giới tính là hệ thống các biện pháp y khoa và sư phạm nhằm giáo dục cho nhi đồng, thiếu niên và thanh niên có thái độ đúng đắn đối với các vấn

để giới tính" Định nghĩa không chỉ đề cập đến giáo dục giới tính dưới góc độ giáo dục học mà còn ở góc độ y học

ì 2.4.3 Định nghĩa của "Từ điển bách khoa về giáo d ụ c".

Theo "Từ điển bách khoa về giáo dục" thì "Giáo dục giới lính là giáo dục

về chức năng làm một con người có giới tính Điều quan trọng là đề cập vấn dề giới tính một cách công khai và đầy đủ trong lớp học, từ nhà trẻ đến đại học, giúp cho học sinh cảm thấy an toàn và tự do trong việc biểu lộ các cảm xúc liên quan đến đời sống giới tính" Định nghĩa này nêu bật được bản chất của công tác giáo dục giới tính Đó là sự định hướng cho thế hệ trẻ cách sống đúng đắn của con người có giới tính Việc giúp cho thế hệ trẻ "làm một người có giới tính" là điều hết sức cần thiết trong cuộc sống Nhiều người không nhận thức dược việc thiếu "nữ tính" của phụ nữ hoặc "nam tính" của đàn ông là một tai hại Những "tính nam, tính nữ" này không thể hình thành một cách tự nhiên mà phải trải qua quá trình được giáo dục, được rèn luyện mới có Ngay chức năng

mà thiên nhiên đã han cho người đàn ông là truyền giống và người dàn bà là

Trang 16

sinli (1c cũng cần dược giải thích làm sáng tỏ cơ sớ khoa học của sự diễn hiến

cỏ tính quy luật của hành vi tình dục, nhằm mang lại sự "an toàn và tự do" cho con người Con người chỉ cảm thấy "tự do" khi đã nắm vững được cái "tất yếu", nắm vững những quy luật phát triển sinh lí, tâm lí của con người Định nghĩa còn đề cập đến vai trò của các cơ quan giáo dục, đặc biệt là của nhà trường, nơi

có đầy đủ điều kiện thuận lợi để truyền thụ cho các thế hệ trẻ những kiến thức

về giới tính một cách có hệ thống

ỉ 2.4.4 Dịnlỉ nghĩa của D.N ì.xaev và V.E Kagan.

Theo D.N Ixaev và V.E Kagan thì giáo dục giới tính, giáo dục dân số cần được hiểu theo hai nghĩa

Trước hết, theo nghĩa rộng, thuật ngữ giáo dục giới tính, giáo dục dân số chỉ sự ánh hưởng của môi trường đến sự phát triển tâm lí tình dục và sự hình thành cá nhan Mồi trường hao quanh con người lại là một thực thê cực kì nhiều mặt và cơ động hoàn toàn không phải bao giờ cũng hoạch clịnli (tược hay mong muốn được những ảnh hướng của nó "Các nhà giáo dục không ngừng than phiền rằng, hoàn cảnh làm hỏng mọi công việc của họ" ị I2|

Giáo dục giới tính, giáo dục dân số là một bộ phận hợp thành của giáo dục học (lại cương "Giáo dục phải đảm bảo sự phát triển tự đo và vui sướng của mọi thể hiện tăng trưởng của con người từ hầu vú mẹ đến clìiêc giường chung vợ chồng" ị 4]

Theo nghĩa hẹp hơn, giáo dục giới tính, giáo (lục dân số là một quá trình tác động có hệ thống, được hoạch định và thực hiện một cách có ý (hức hướng lới kết quá cuối cùng xác dinh vào sự phát triển tám lí và thổ chất cùa em trai (dàn ông) và em gái (đàn bà) với mục đích tối ưu hóa sự phát triển nhan cách

và hoạt động của chúng trong mọi lĩnh vực của đời sống, có licn qiiíHi tới các mối quan hệ của hai giới Theo nghĩa này, giáo dục giới tính, giáo dục dàn sò cũng như giáo dục nói chung đòi hỏi phải có những mục đích lự giác, những chương trình và phương pháp tương ứng với các mục đích đó và những người

1 hực thi có trách nhiệm cụ thể Nhiệm vụ cơ bản của nhà giáo dục là phối hợp một cách tối ƯU các nỗ lực tích cực của mìnli với cuộc sống thực Điều này đòi hỏi phải cổ sự phân biệt, bên cạnh giáo dục giới lính, giáo dục dân số theo nghĩa chặt chẽ của từ này còn có những mặt khác liên hệ qua lại với 11Ổ, là xã hội hóa giới tính

Xã hội hóa giới tínli là "một quá trình chứa dựng trong mình, mọt mặt là

sự lĩnh hội kinh nghiệm xã hội có liên quan với giới theo mức độ gia nhập vào môi trường xã hội, vào hệ thống các mối quan hệ xã hội của những người thuộc giới nam và giới nữ, mặt khác, dó là sự tích cực tái tạo của cá nhân về hệ thống các quan hệ qua lại của hai giới trong quá trình hoạt động và gia nhập vào những mối quan hệ dó" 11]

Quá trình xã hội hóa giới tính có tính chất hai mặt: một mặt là cá nhân thụ dộng tiếp nhận và ghi nhớ cái mà xã hội và nén văn hóa đòi hói và inặt khác, cá nhân chú trọng vận dụng tích cực cái dã tiếp nhận (tược và cãi tổ nó

Trang 17

tlieo những tâm thế và định hướng giá trị riêng của mình.

Giáo dục giới tính, giáo dục dân số và xã hội hóa giới tính kliòiig (loi lập với nhau mà chúng thống nhất với nhau, tuy kỉiòng dồng nhai với nhím

T óm lại: Giáo dục giới tính, giáo dục dân số là một bộ phận quan trọng

của phức hợp các vấn đề giáo dục con người phát triển toàn diện Giáo dục giới tính, giáo đục dân số nhằm bồi dưỡng cho thế hệ trẻ những; hiểu b id cán thiết

về giới tính, hình thành cho họ những phẩm chat giới tính của giới mình cũng như giúp họ có thái độ và kĩ năng giao tiếp, ứng xử lịch sự văn minh Irong quan

hệ với người khác giới trong hoạt động và trong đời sống xã hội Giáo dục giới tính, giáo dục dân sô' hướng chủ yếu vào thế hệ trẻ trước hôn nhím, l ạ i nhiều nước, giáo dục giới lính, giáo dục dAn số đưực tiến hành từ lứa tuổi mầu giáo

và được đặc biệt quan tâm ờ giai đoạn dậy thì và ở tuổi thanh nicn.

1.3 Mục đích, nhiệm vụ, nội dung, nguyên tắc giáo dục giới tính, giáo dục dân số.

1.3.1 M ục đích giáo dục giói tính, giáo dục dân sò.

"Mục đích của giáo dục giới tính là nhằm hình thành ớ người học sự hiểu biết đúng đắn về bán chất các tiêu chuẩn và tâm thế dạt) đức trong lĩnh vực quan hệ của hai giới và nhu cầu hành động theo các liêu chuẩn và làm lliế dó trong tất cá mọi lĩnh vực hoạt động” [13J

Điều đó có nghĩa là giáo dục giới tính, giáo dục dân số làm cho người học:1/ Hiểu được ý nghĩa xã hội chứa đựng trong các mối quan hệ giữa mình với người khác giới;

2/ Biết cách tìm được lối giải quyết đúng đắn các vấn đề đạo (lức cụ thể, xuất hiện trong lĩnh vực các quan hệ, theo tinh thần của dạo đức xã hội;

3/ Kiên định trước ảnh hưởng của tư tưởng cổ vũ cho tính phóng (lãng về tình dục và thái độ hưởng thụ đối với người khác giới, coi thường các giá trị đạo đức

1.3.2 N hiệm vụ của giáo dục gió i tính, giáo dục dân số.

Giáo dục giới tính, giáo dục dân số có một số nhiệm vụ chủ yêu như sau:

ỉ 3.2.1 Giúp cho th ế hệ trẻ có hiểu biết nhất íỉịiili về ý ứ i tính và có kĩ năng xây dipìg các quan hệ của mình với người khác trên cơ sở lính tỉêh những dạc (liếm ý ó i tính của họ Hình thành và giáo dục một s ố phẩm chất đạo (Ịức ýíri tính (biết yên

thương, quan tâm đến người thân xung quanh, có V thức trácli lìhiệm và tòn 11'Ọ11}>

mọi người, mong muôn đem lại diều tốt lành cho người khác ).

1.3.2.2 Giáo dục cho tliơnlì thiếu niên nguyện vọng muốn có một i>ia (lìnlt hạnh phúc, khỏe mạnh, ít con ( ì hoặc 2 con) và có thái íỉộ tự Sịiác, có trách nhiệm đ ỏ i với việc nuôi dưỡng và giáo (lục COI1 cái.

ì 3.2.3 Giáo dục thái độ có trách nhiệm dối với sức khoe của mình và d id người khác Biết d ể phòng tác hại của các mòi quan hệ lình dục quá sớm và V thức không chấp nhận thái độ vô trách nhiệm, nhẹ dạ trong lĩnh vực ({IKIIÌ hệ llìíhtì kín nhất vói nạười khác giới.

Trang 18

1.3.3 N ội dung của giáo dục giói tính, giáo dục dân số.

Theo các lác giả D.N Lxacr, V.E Kagan, thì "tất cá cái gì giáo due nhân

cách lành mạnh và hoàn chỉnh của người phụ nữ và người đàn ông, góp phần

làm cho họ nhận thức và thể nghiệm một cách phù hựp các đặc điểm sinh lí và

tâm lí của mình, tương ứng với các chuẩn mực đạo đức xã hội đang tồn tại

trong cộng dồng và nhờ đó mà thiết lập được các quan hệ tối ưu với ngirời khác

thuộc giới mình và thuộc giới đối lập trong mọi lĩnh vực của đời sống (dời sống

xã hội và sản xuất, vợ chồng, cha mẹ, hạn bè, hoạt động trong lúc nhàn rỗi

•V.V ) đều tạo thành nội dung c ủ a g i á o d ụ c giới tính, g i á o d ụ c (lân s ố ị 3, 5].

Nội dung giáo dục giới tính, giáo dục dân số được cụ thể hóa (tòi với từng

lứa tuổi Các tác giả như D.N Lxaer, V.E Kagan, Trần Trọng Thủy, Nguyễn

Thành Thống, Nguyễn Thị Đoan, Nguyễn Văn Lê Ị 10] cho rằng, nội tiling giáo

dục giới tính, giáo dục dân số cho lứa tuổi sinh viên bao gồm những mặt sau:

I/ Những kiến thức cơ ban về tình dục học

2/ Những kiến thức về lình bạn, tình yêu

3/ Những kiến thức về các bệnh lây lan qua con đường sinh dục

4/ Những hiểu biết về sinh sản và cơ sớ khoa học của việc sinh cỉẻ có kế

hoạch

Theo Đặng Quốc Bảo, Đặng Vũ Hoạt và các cộng sự thì nội (lung giáo

(lục giới tính, giáo dục dân số được quy về các mặt chính như sau:

I Những đặc điểm tâm lí và sinh lí của các cm trai và em gííi cua các fhanh niên nam và thanh lũr, đàn ông và đàn bà Ỷ nghĩa của các dặc điểm đó

(lối với các mối quan hệ qua lại của họ đối với những người khác cùng giới hay

khác giới trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người

+ Gia (lình và các mối quan hệ trong gia đình

+ Sự sinh đẻ và giáo dục con cái, sự kế tục của các thế hệ

+ Vấn đề vệ sinh giới tính (trong đó có vấn dề AIDS và các bệnh lày lan

qua đường tình dục (f 11], trang 89)

Tóm lại, giáo dục giới tính, giáo dục dân số có thể cIlia ra thành ba nội

dung:

* Giáo dục tâm lí nhân cách các đặc điểm tâm lí (hành vi, dạo (lức, phép

ứng xử của từng người): thái độ đối với vợ (chồng), với con và với các thành

viên khác trong xã hội

* Giáo dục sinh lí, đời sống sinh sản: đặc điểm và những điều cần biết về vấn

đề sinh lí, giới tính về hôn nhân và đời sống vợ chồng cho mỗi lứa tuổi, mỗi giới

* Giáo dục xã hội: nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi của từng giới đối

với xã hội và ngược lại

1.3.4 N hững nguyên tắc giáo dục g ió i tính, giáo dục dàn sò.

Trên cơ sở phân tích khoa học và thực tiễn giáo dục giới tính, giáo đục

dân số, các nhà nghiên cứu đã vạch ra một số nguyên tắc giáo dục giới lính,

giáo dục dân số

13

Trang 19

-1.3.4.1 Tính khoa học:

Việc giáo dục giới tính, giáo dục dân số phải dựa trên các cơ so' khoa học vững chắc, nếu khổng nó sẽ mang tính chất kinh nghiệm và chủ quan của các nhà giáo dục

/ 3.4.2 Tính tư tưởng:

Tính tư tưởng đòi hỏi phải kết hợp giáo dục giới tính, giáo dục (lân số với giáo dục đạo đức công dân, và phải thiết lập mối quan hệ làm phong phú lẫn nhau giữa hứng thú cá nhân và xã hội với mục đích, phương tiện giáo dục giới lính, giáo dục dân số

ì 3 4 3 Tính hiện thực:

Tính hiện thực việc giáo dục giới tính, giáo dục dân số phái dược xây dựng trên cơ sở hiểu biết thực tế về sự phân hóa giới tính, về những khác biệt giới tính và tình dục của con người

Ị 3.4.4 Tính tích cực:

Tính tích cực kết hựp giữa chủ đạo định hướng của các nhà sư phạm với chủ động tích cực nhận thức của người học

1.3.4.5 Tạo (lựm> những V nghĩa cá nhân và vỡ hội:

T hế hệ trẻ đang lớn lên không chỉ cẩn nhận biết về giới tính và các quan

hệ của hai giới, mà còn cần phải trau dồi thái độ xúc cám của cá nhàn đối với chúng, thái độ này được đối chiếu với ý nghĩa xã hội của những thể hiện này hay khác của giới

1.3.4.10 Tính till cậy:

Trang 20

Tính tin cậy đòi hỏi phải có thái độ nghiêm lúc (lõi với những nmg (tồng

và hứng thú của trẻ và sẩn sàng hiểu trẻ, loại trừ sư ngờ vực, kiểu "suy đoán tội lỗi" của trẻ em qua một vài biểu hiện về giới tính của Ire

1.3.4.1 / Tính thuần khiết:

Tính thuần khiết nguyên tắc này đòi hỏi không được quy nít giới tính chỉ

về mặt dạo (tức của nó, nhưng phải chống lại thái độ tám thường vò liêm si' hoặc khêu gợi dục tính khi trình hày các tài liệu vé giới tính và các mòi quan

hệ của hai giới

/ 3.4.12 Tính thành thục:

Tính thành thục đòi hỏi giáo viên luôn tự nhiên và thoái mái, không bị xẩu

hổ, không tạo ra những tình liuông căng thẳng cho cả người dạy và người học

1.4 Ý ngliĩíi của giáo dục giới tính, giáo dục dàn số (rong sự pliỉít triển nhân ciích và trong đời sông xã hội.

Mục đích của chúng ta là đào tạo những con người phát triển toàn diện, có khá năng xây dựng cuộc sống tốt dẹp cho bản thân, gia đình và xã hội Dưới góc độ dân số và phát triển, giáo dục giới tính góp phần thực hiện mục tiêu trên Cụ lliể:

Ị.4.1 G iáo dục giói tính, giáo dục dân s ố g óp pliần giải quyết man thuần íỊÌữa sụ dậy thì sớm của thanh niên vói yêu cẩu kết hôn muộn nhằm hơn c h ế ạia tăng dân số.

Theo các nhà khoa học, trong 50 năm qua, cứ 10 năm, luổi dậy thì của con người lại SỚĨT1 4 tháng Từ đó xuất hiện khoảng cách khá lớn giữa chín muồi sinh dục và trưởng thành xã hội Mặt khác, chính sách dân sô đòi hôi nâng cao độ tuổi kết hôn đã đẩy khoảng cách này xa thêm, mâu thuẫn giữa nhu CÀU tình dục và điều kiện thỏa mãn vốn có Irở nên gay gắt hơn Petmpxki khẳng định "sự phát dục kích thích, phát triển sự quan tâm đến giới khác, làm xuất hiện những cảm giác, tình cảm và rung động" Nhiều công trình nghiên cứu khác cho thấy, ngay ở tuổi thiếu niên, các cm dã quan tâm tới những quan

hệ bạn khác giới, quan hệ tình yêu, tình dục Điều đó ảnh hương lớn đến dời sống giới tính của các em Trong bài viết về giáo dục giới tính, giáo dục dân số,

A x Makarenkô viết: "chúng ta phải giáo dục con em chúng ta làm sao dể các cin có thái độ đối với tình yêu như đối với một tình cám nghiêm lúc và sâu nặng, để các em sẽ được hưởng khoái cảm và hạnh phúc của mình trong khuôn khổ gia đình" [ 11 Ị Giáo dục giới tính giúp các em có thái độ lỏn trọng các đặc điểm giới tính đặc thù của bạn cùng tuổi khác giới, coi đó là hoàn toàn tự nhiên; hình thành ở các em niềm tin và sự cần thiết phải có phong cách ứng xử riêng và những cơ sở nội tại của phong cách đó, điều này tạo nên sự kiên định đối với những ánh hưởng bất ngừ, để từ đó xây dựng tình han chàn tỈKinli và

lình y ê u c h â n chính.

Hình thành tình dục là một việc làm cần thiết dối với con người khổng

15

Trang 21

-chỉ vào tuổi dậy thì, mà còn vào thời gian sau khi lập gia đình Một trong những nhân tố hình thành tính dục là khá năng biết íự kiềm chế sinh (lục, nó có thể giúp cho con người tăng them tình cảm và hiểu sâu sác hơn ý nghĩa, nội dung của hôn nhân Như vậy giáo dục giới tính, giáo dục dân số đáp ứng được nlìững quy luật phát triển tâm sinh lí, đặc biệt là đời sống tình dục và sự trưởng thành nhân cách.

1.4.2 G iáo dục giói tính, giáo dục dân sô góp phần ngăn ngừa hiệìì tượng có

th ai ngoài ý muôn.

Đíìy là một hiện tưựng được nhiều người quan tâm, đặc hiệt với các cô gái trẻ

vì nó không chỉ làm gián đoạn việc học hành, tan vỡ dự định tương lai mà còn đe dọa ngay cả tính mạng các em ƠIO dù việc này được kết thúc bằng hôn nhân, nạo phá thai hay đẻ nuôi con thì vẫn dể lại cho các em gái nhũng nỗi thống khổ lớn lao, những hậu quả nặng nề về mọi mặt tâm lí, sức khỏe, kinh tế v.v

Một hậu quả đáng quan tâm trong trường hợp này là các biến chứng đe dọa sức khỏe và tính mạng các cô gái trẻ cao gấp 4-Ì-5 lần so với người mẹ trên

20 tuổi Tỉ lệ tai biến (rách cổ tử cung, viêm, thủng tử cung, vô sinh, tử vong)

do nạo thai khi chưa sinh đẻ lần nào không phải là nhỏ Bên cạnh đổ lí lệ mắc bệnh và chết ở trẻ sơ sinh - con các bà mẹ quá trẻ - rất cao, gấp 2+3 lÀn so với con các bà mẹ trên 20 tuổi

Kết quả điều tra của đề án VIE/88/P09 năm ỉ 987 ờ một quân nội thành (khoảng 26 vạn dân) cho biết tổng số nạo thai ớ các cô gái trẻ từ 174-22 tuổi là 4^ 2 0 trường hợp, trong đó 14% là học sinh, sinh viên Một phần là hậu qua của việc thiếu hiểu biết kiến thức về giới tính, về đời sống tình dục, về hổn nhân, gia đình, làm cho con người dễ mắc vào vòng tội lỗi Nếu ớ lliời kì thanh niên, các em được hình thành những phẩm chất như trung thực, khiêm tốn, tòn trọng,

tự hào thì người lớn chẳng phải lo ngại gì về sự trong sạch trong các mối quan

hệ của họ V.G Belinxki đã từng nhận xct rằng, sự trong sạch về đạo (lức hoàn toàn không phải là ở chỗ chẳng biết gì mà ở chỗ giữ gìn được đức hạnh khi có

Ở Pháp, trong vòng 12 tháng gần đây có 4,7% phán bội vự chồng Trong

số những người chưa lập gia đình tới 15% có mối quan hộ đa phương, 19% thừa nhận trong những năm chung sống vợ chổng, ít nhất một lần ngoại tình Cũng qua điều tra, trong những năm 60, đàn ông phản hội vợ vào năm thứ 1 I

Trang 22

của cuộc sống gia đình, 30 năm sau (1990) sau 5 năm CÒ11 phụ nữ chung thúy giám từ 14 năm còn 4 năm Lí do có sự thay lòng đổi dạ đó:

Ở nước ta, tình trạng này cũng không sáng sủa hơn Năm 1992 có 27.753

vụ li hôn, năm 1993 có cơ còn tăng hơn [19], đặc biệt ở các cặp vợ chồng trẻ dưới 30 tuổi, tỉ lệ này rất cao: năm 1987 là 36% Số liệu của tòa án nhân dAn quận Ba Đình cho biết trong 3 năm 1988-1991 ở quận Ba Đình cứ 3 cặp kết hôn có 1 cặp li hôn Ị 19]

Theo phân tích của các nhà xã hội học và của cán bộ tòa án thì nguyên nhân chủ yếu do mâu thuẫn tính cách vợ chồng 42,65%, do thiếu hiếu biết cần thiết về văn hóa tình dục trước khi bước vào hôn nhân và thiếu hiểu biết để có thể xây dựng gia đình hạnh phúc 21,69% Trong cuộc sống, không chỉ biết yêu

mà còn phải biết gìn giữ và củng cố nó Muốn củng cố tình yêu trong hôn nhân thì phải biến nó thành niềm vui bất tận, sự khoái lạc không bao giờ vơi cạn do quan hệ vợ chồng, trong đó có quan hệ tình dục mang lại Tại sao người ta lại c thẹn, tự kiềm chế trong khi có thể bằng tình cảm và bằng tất cả thân thể mình, mang lại cho người bạn đời niềm vui sướng, khoái lạc cao độ nhất? v ỉ Lênin nói: "Cái mà chủ nghĩa cộng sản cần mang đến không plìải là chủ nghĩa khổ hạnh, mà là niềm vui sướng, là tinh thẩn sảng khoái, mà có dược điều này cũng nhờ sự tràn đầy cuộc sống yêu đưưng" [7] Sinh hoạt tình dục hình lỉurờng và lành mạnh của vợ chổng khổng chỉ làm thỏa mãn những nhu cầu tình dục của hai người, mà ở mức độ cao, nó góp phẩn duy trì sự bền vững gia dinh - đó là điều kiện đảm bảo cho cuộc sống hôn nhân hạnh phúc và cũng là mục tiêu của giáo dục giới tính

1.4.4 Giáo dục gió i tínhy giáo dục dân sỏ là phương tiện hữu hiệu ngàn ngừa sự lây lan bệnh tình dục.

Bệnh dịch AIDS vẫn đang âm thầm lan tới với bất cứ ai ở bất cứ nơi nào nếu người dó buông thả trong quan hệ tình dục Vi rút HIV được biết đến vào những năm 80, giờ đã xâm nhập vào CƯ thể 15 triệu người Đó chưa phải là con

số cuối cùng, vì mỗi ngày có thêm 4.000 người nhiễm vi rút đó trên khắp thế giới Hiện nay, toàn thế giới có gần 1 triệu trẻ em nhiễm HIV do mẹ truyền sang Đến năm 2000, con số sẽ là 4,5 triệu và thêm 10 triệu trẻ em mồ côi vì cha mẹ chết bởi AIDS [22]

Trước tình hình như vậy, vừa qua thành phố NiuOóc ra quyết định tất cả các học sinh phải nhận bản thông tin về bệnh AIDS ngay cả từ cấp tiểu học Các nhà nghiên cứu đã chứng minh: Việc giáo dục giới tính cho trẻ không hề dãn đến đời sống tình dục sớm hoặc đồi trụy mà trái lại, nó còn giúp cho sự trao đổi thông tin phong phú giữa phụ huynh, thầy cô và học sinh "Việc giáo dục giới tính từ sớm cho học sinh cấp II phải được xem là một trong các ưu tiên

17

Trang 23

-hàng đáu" Ở Việt Nam, tính đến đầu tháng 11-1993, phát hiện 1.026 người nhiễm HIV ở 26 tỉnh (theo ước tính con số đó là từ 10.000 đến 100.000 người),

có 2K người mắc bệnh AIDS và 13 người đã chết [33]

Kinh hoàng bởi tính chất dữ dội và hiểm độc của AIDS, chúng ta cũng không bỏ rơi sự tồn tại của những kẻ thù khác cũng rất nguy hiểm đó là lậu và giang mai Tiến sĩ y học D v Kolexop nhận xét "Cần phải nhấn mạnh rằng bản thân sự tổn tại của các tác nhân gây bệnh giang mai và lậu là điểu kiện đầu tiên, cần thiết, nhưng vãn chưa phải là điều kiện đày đủ để lây lan các bệnh này Điều kiện thứ hai là sự vô trách nhiệm và bừa hãi trong các quan hộ tình dục Chính cội nguồn cái ác là ở đây " [4) Vì thế, giáo dục giới tính cổ tác dụng nhắc nhở cho mỗi người những nguy hại nếu không biết làm chủ bản năng tình dục, thức tỉnh trách nhiệm cá nhân đối với hán thân và đối với người khác giới, tạo ra cuộc sống lành mạnh tốt đẹp

1.4.5 G iáo dục giói tính, giáo dục dân sỏ góp phần nâng cao chất lượng

g iô n g nòi.

Nếu giáo dục giới tính, giáo dục dân số được tiến hành một cách đúng đắn ngay từ tuổi còn thơ thì sẽ hình thành cíưực ở trẻ cm thái độ tôn trọng đối với sự sinh đẻ, đối với bản thân sự ra đời một con người, đối với sự vất va của người mẹ khi sinh đẻ và nuôi dạy con cái Dạy cho thế hệ trẻ hiểu rằng: sinh ra một COI1 người đó là kết quả của nhu cầu hoạt động tình dục của hai cá nhân: nam (đàn ông) và nữ (đàn bà), là tình yêu của hai người khác giới, là yêu cầu cùa gia dinh, giòng họ đáp ứng nhu cầu bảo toàn nòi giống

Giáo dục giới tính, giáo dục dân số giúp thê hệ trẻ nắm vững những tri thức về tác hại của các bệnh nhiễm khuẩn theo con dường tình dục đến sức khoẻ thể chất và trí tuệ trẻ em sơ sinh Cung cấp cho người học cách thức vệ sinh phòng bệnh lây lan đó (lậu, giang mai, đặc biệt là bệnh AIDS - căn bệnh nguy hiểm chết người), để giữ gìn sức khỏe bản thân, sức khỏe người khác và của con cháu tương lai

ì 4.6 Giáo dục giói tính, giáo dục dân sô góp phẩn nâng cao chơi ỉượng cuộc sồng.

Giáo dục giới tính, giáo dục dân số được thực hiện một cách đúng đắn sẽ góp phần hình thành cho trẻ có những hành vi ứng xử tốt đẹp trong quan hộ bạn

bè khác giới, phát huy được những phẩm chất giới tính truyền thống đế bổ sung cho nhau trong công việc và trong đời sống gia đình sau này Từ đây giúp cho thế hệ trẻ có những hiểu biết về văn hóa tình dục để tạo nên sự hòa ỉiợp trong dời sống vợ chồng, giúp cho thế Ỉ1Ộ trẻ nhìn thấy trong tình yêu đôi lứa không chỉ quan hệ mới, nghĩa vụ mới mà còn niềm vui và hạnh phúc do chính đôi lứa tạo dựng lên hàng ngày Đó chính là hiệu quá của giáo dục giới tính, giáo dục dân số đối với chất lượng cuộc sống của con người

1.4.7 G iáo dục giói tính có ảnh hưởng trực tiếp đến giáo dục dân sô.

Với tư cách là một mặt của giáo dục dân số, giáo dục giới tính có ảnh

Trang 24

hướng to lớn đến công tác giáo dục (Jân số Tinh trạng gia tăng dân số (lang là mối quan tâm lo ngại của nhiều nước Nạn bùng nổ dân số này phần lớn lại là

do sự thiếu hiểu biết nhiều vấn đề của giới tính (cơ chế sinh sản, kết hỏn sớm ) hoặc do những quan niệm sai lầm về dời sống giới tính, dời sống gia đình ("Trời sinh voi trời sinh cỏ")

Việc trang bị những tri thức về giới tính sẽ giúp cho con người làm chù được vấn (lé sinh đẻ (tránh đẻ khi chưa cần, chỉ đẻ vào thời điểm thích hợp ),

từ đó họ sẽ tham gia tích cực vào việc thực hiện kế hoạch hóa gia đìnli

Giáo dục giới tính, giáo dục dan số còn góp phần nâng cao chất lượng đời sống gia đình, làm cho các gia đình hạnh phúc hơn, êm ấm hơn Trên thực

tế, nhiều gia đình lục đục, ngoại tình đã có nguyên nhân sâu xa là vợ chồng không thỏa mãn trong sinh hoạt tình dục, do ít hiểu biết về cấu tạo cũng như vận hành này của bộ não và do chưa thoát khỏi định kiến cổ hủ, coi đó là chuyện bẩn thỉu, xấu xa Trong tác phẩm "Sự hỗn hợp sinh lí" bác sĩ Lauren Chaberac viết: "Có chắc chắn 90% các cặp vợ chồng không hiểu bict gì về các vấn đề yêu dương và đã bị đau khổ không ít về sự ngu dốt đó Họ làm cái bổn phận vợ chồng như sự tiến phát tự nhiên, chỉ cốt làm dịu sự đòi hỏi của xác thịt

và sự thích thú của họ cũng chỉ ngang với một miếng ăn khi đói, một ngụm nước khi khát, và một cái ghế ngồi khi mỏi mệt"

Còn bác sĩ Eutanche Chesser - một nhà y học chuyên khảo cứu về hôn nhân - cũng nhận định rằng "Có hàng ngàn cặp vợ chồng về tâm lí rất hiểu nhau, cùng một lí tưởng cao cả theo đuổi trong cuộc sống, nhưng Víìn thất hại trong sự xây dựng hạnh phúc chỉ vì họ không biết kĩ thuật yêu dương" 'ITieo số liệu thống kê xã hội học của Viên Tâm lí, tỉ lệ người chồng không đáp ứng đày (iủ nhu cầu của vợ chiếm 21,69%, vợ chồng nhiều lẩn từ chối gần gíìi chiếm 44,3% Do đó, việc giáo dục giới tính đúng đắn sẽ rất cần thiết cho các quan hệ

vợ chồng hòa hợp - yếu tô quan trọng của một gia đình vẹn toàn giá trị Chỉ khi

có dời sống hạnh phúc, con người và các gia đình (tế b à o của xã hội) mới đóng góp tốt nhất cho xã hội

Như vậy, giáo dục giới tính, một mặt, góp phần tạo nên những thuận lợi

cơ bản cho kế hoạch hóa dân số, mặt khác, mang lại khả năng nâng c ao chất lượng cuộc sống con người, do đó nó là một bộ phận quan trọng, thiết yếu của công lác giáo dục dân số

1.4.8 Giảo dục giói tính, giáo dục dân s ố góp phần phái triển nhàn cách toàn diện.

Giáo dục giới tính, giáo dục dân số là một bộ phận của toàn bộ công tác giáo dục nhân cách con người, vì thế nó không tách rời quá trình giáo dục chung Nhiều phẩm chất nhân cách quan hệ mật thiết với giới tính, hoặc cũng chính là những đặc điểm giới tính và ngược lại

Chính việc thiếu hiểu biết kiến thức về giới tính, về dời sống tình (lục, về hỏn nhân, gia đình, làm cho con người dễ mắc vào vòng tội lõi, làm cho cuộc sống gia dinh không được hạnh phúc và do đó hạn chế khá năng dóng góp vào việc xây dựng và phát triển xã hội

19

Trang 25

-Theo J.U Kusmiruk và A.p Secbakov "Chính việc thiếu kicn thức về những vấn đề này cũng giống như tình trạng dốt nát khác, lại là điều nguy hiểm

và có phương hại đến tâm lí, đạo đức con người" Nhiéu vân cíề của giới tính ánh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của nhân cách "Tinh yêu thực sự là điều kiện quan trọng nhất của sự nảy nở và phát triển nhân cách con người"

Giáo dục giới tính, giáo dục dân số là hệ thống các biện pháp V khoa và sư phạm nhằm giáo dục cho mỗi người hay từng giới có thái độ đúng với các vấn đề giới tính Giáo dục giới tính, giáo dục dân số cốt tạo điểu kiện cho sự phát Iriên hài hoà của thế hệ trẻ, cho sự hình thành đầy đủ giá trị chức năng sinh sán cho việc nâng cao nhũng kiến (hức về tình đục học, góp phần cùng cố hôn nhân và gia đình

Ớ tuổi dậy thì, giáo dục giới tính, giáo dục dân số giúp các cm diều khiển có ý thức các vấn đề tình dục; ở tuổi thành niên, giúp cho mọi người kiến tạo được hôn nhân gia đình hạnh phúc, lành mạnh, thích hợp với xfi hội mà mình dang sống

Giáo dục giới tính, giáo dục dân số góp phần quan trọng trong phát liiên nluìn cách, giúp cho thế hệ trẻ chuẩn bị tốt hành trang vào dời, giáo dục họ Irớ thành

những COI1 người giàu về trí tuệ, phong phú về tinh thần, lành mạnh troim lối sống,

san sàng kế tục sự nghiệp cha anh, mang hết khả năng cống hiên cho đất nước, cho nhím díìn vì sự trường tồn và phát triển của dân tộc Vì thế, giáo dục giới lính, giáo dục dAn số có V nghĩa to lớn trong việc thực hiện mục đích giáo dục là giúp cho thế

hệ trẻ làm chủ đưực văn hóa đạo đức trong lĩnh vực các quan hộ qua lại giữa hai giới, giáo dục họ có được nhu cẩu và nguyện vọng tuân theo những chuẩn mực đạo đức của xã hội, gìn giữ và phát huy những tinh hoa trong truyền thống văn hoá của dàn lộc trong quan hệ, ứng xử giới tính Có thể nói, giáo dục giới tính, giáo dục liAn số góp phẩn quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách toàn diện, vì thế

11Ó góp phần quan trọng đối với việc xây dựng một xã hội tốt dẹp

1.5.1 H oạt động tình dục (cả ngoài hôn nhăn)

Hoạt động tình dục (cả ngoài hôn nhân): có xu hướng sớm hưn tnrớc do hộ phận sinh sán trưởng thành sớm hơn Tuổi có kinh sớm hơn, nhung tuổi lấy chồng lại muộn hem trước nhiều Con người được tự do hơn trong một xã hội phát trièn

1.5.2 Tính ch ất của hoạt động tình dục.

Do tính chất của hoạt động tình dục không dự định trước, đầy tính ngẫu nhiên, nên hâu quả là thai nghén ngoài ý muốn và mắc bệnh lây qua đường tình

Trang 26

dục Kết thúc của thai nghén ngoài ý muốn là: phá thai, phái dành (lê <lc cỏ khi kết liễu cuộc đời con gái bằng tự tử.

1.5.3 H ậu quả của thai nghén vị thành niên

Hậu quá của thai nghén vị thành niên rất lớn Em gái có thai pli;ii bỏ học Học vấn kém sẽ làm cho em không có cơ may có nghề nghiệp tốt và dược làm việc

có lương cao Hiệu suất lao động thấp sẽ làm em khổ suốt đời Nếu dể đe: tử vong

mẹ và con caogấp 10 lần so với sinh đẻ ở tuổi lớn hơn ([9], trang 36-38)

1.5.4 H ậu quả của các bệnh lây lan qua đường tình dục

Hậu quả của các bệnh lay lan qua đường tình dục: tôn kém VC tiền bạc, nguy hại về sức khoẻ, cũng có thể gây nên vô sinh Lậu nam giới có thể làm hẹp niệu đạo gây khó đái lâu dài; bệnh giang mai vừa khó chữa vừa có thể truyền sang cho thai Nhiễm H1V lứa tuổi trẻ từ 15-4-24 chiếm 50% và đang cổ khả năng tăng lên nữa

1.5.5 Dịch vụ SKSS của vị thành niên m ang nhiều đặc điêrn:

- Cẩn có thông tin đầy đủ, tư vấn hiệu qua

- Cần tôn trọng tính riêng tư, kín đáo, tin cậy

- Cần sự thương yêu và tôn trọng các em

- Cần có dịch vụ KHHGĐ kèm theo

- Cần kết hợp các loại hình sinh hoạt văn hoá, vui chơi với giáo đục SKSS vị thành niên

1.5.6 Vấn dê cốt lỗi SKSS vị thành niên.

Giáo dục tình dục học Mục đích để cho mọi hoạt động tình dục cua lưúa tuổi trẻ đều có ý thức, có trách nhiệm, an toàn và lành mạnh Đây cũng là mộl khía cạnh quan trọng trong việc hình thành và xây dựng nhan cách con người

xã hội chủ nghĩa

Tóm lại:

Theo kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới thì giáo dục giới tính là một trong những vấn đề khó khăn nhất của khoa học giáo dục con người, vì I1Ó đụng chạm đến hệ thống quan điểm, niềm tin, tập quán đã hình thành từ hlu đời của con người trong xã hội, đụng chạm đến hệ thống giá trị tinh thân mà con người đã chấp nhận trải qua hàng ngàn năm, đến tình cảm sâu kín, (ỉcn bán năng sinh sản của con n g ư ờ i

Ớ nước ta hiện nay, giáo dục giới tính còn rất mới Vì vậy, càng nhiều khó khăn Nhận thức của nhiều người chưa thống nhất, còn bị cản trở bới các quan niệm, phong tục, tập quán cũ Yêu cầu nội dung giáo dục giới tính chưa (lược xác định cụ thể, thống nhất Do bùng nổ thông tin, công tác giáo (lục giới tính cũng như các vấn để môi trường, dân số, ma tuý, HIV/AIDS đòi hói phai lồng ghép, tích hựp vào các môn học trong nhà trường Nhưng chúng la hiện còn đang lúng túng tìm kiếm các giải pháp lổng ghép các hoạt động này Trong

21

Trang 27

-khi đó, dụi ngũ giáo viên chưa được trang bị đáy đu nhạn 1 hức, thái (tộ và năng lực cần thiết để triển khai cồng tác giáo dục giới lính nói l iêng, việc Ị ích hợp các hoạt dộng giáo dục trong nhà trường nói chung Chính vì lẽ (ló, Mini Irong những vấn đề cần quan tâm là nghiên cứu, tìm ra các hiện pháp tác tỉộng nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục giới tính, giáo dục dân số trong nhà trường, (rước hết là các trường sư phạm.

Trang 28

CHƯƠNG 2

THỤC T RẠNG GIÁO D ỤC GIỚI TÍNH,

GIÁO DỤC DÂN SỐ ở TRƯỜNG s ư PHẠM

2.1 Khao sát thực trạng.

2.1.1 Vài nét về địa bàn khảo sát.

Việc khảo sát thực trạng giáo dục giới tính, giáo dục dân số được tiến hành tại các trường: Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học Ngoại ngữ (thuộc Đại học Ọuốc gia Hà Nội), Đại học Sir phạm Huế, Đại học Sư phạm Quy Nhơn, Đại học Sir phạm Thái Nguyên, Cao đẳng Sư phạm Hà Nội, Cao đẳng Sư phạm Huế

và Cao đẳng Sư phạm Quy Nhơn

Tnrờng Đại học Sư phạm Hà Nội và trường Đại học Ngoại ngũ (thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội) đào tạo cán bộ giảng dạy có trình độ đại học thạc sĩ

và tiến sĩ cho nền giáo dục quốc dân

Trường Đại học Sư phạm Huế và trường Đại học Sư phạm Quy Nhơn (lào tạo giáo viên phổ Ihông trung học cho các tỉnh miền Trung

Trường Đại học Sư phạm Việt Bắc đào tạo cán bộ giáng dạy có trình độ đại học, giáo viên phổ thông trung học cho các tỉnh miền núi phía Bắc

Các trường Cao đẳng Sư phạm Việt Bắc, Cao đẳng Sir phạm Hà Nội, Cao (lẳng Sư phạm Huế và Cao đẳng Sư phạm Quy Nhơn đào tạo các giáo viên trung học

cư sở và tiểu học có trình độ cao đẳng cho các tỉnh, thành miền Bắc, miền Trung

Đay là các trường đại học, cao dẳng sư phạm lớn Ư miền Bác và miền Trung Do vậy việc xây dựng các biện pháp, nội dung giáo dục giới tính, giáo dục dân số cho sinh viên sư phạm là rất quan trọng và cẩn thiết Đề lài này, chúng tôi chưa có điều kiện để thăm dò, điều tra nghiên cứu ử trường Đại học

Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh và các trường Cao đẳng Sư phạm các lỉnh phía Nam Tuy nhiên, nếu kết quả nghiên cứu thành công cũng có thể áp dụng (lược cho tất cả các trường sư phạm trong cả nước

2.1.2 M ục đích khảo sát.

Việc khảo sát thực trạng được tiến hành ở cả các trường (tại học và cao đẳng sư phạm vì mục đích nhằm đánh giá thực trạng hiểu biết của sinh vicn sư phạm nói chung, sinh viện đại học sư phạm nói riêng về giới lính và giáo dục giới tính, DS-KHH gia đình Trên cơ sở đó, chúng tối tiến hành xác lạp, xây dựng cơ sở thực tiễn có tính phổ quát (trong các trường sir phạm) và cụ thể (các trường đại học sư phạm) cho việc đề xuất các biện pháp giáo dục giới tính, giáo dục DS-KHH gia đình ở các trường đại học sư phạm

2.1.3 Đ ôi tượng khảo sát.

Trong quá trình nghiên cứu các vấn để liên quan tới nội dung dề tài, chúng lôi

dã tiến hành trao đổi trực tiếp với 20 cán bộ lãnh dạo, 200 cán bộ giang dạy, chủ yếu

2 3

Trang 29

-là cán bộ giáng dạy các bộ môn Tâm lí - Giáo dục học, cùng 2500 sinh viên của năm trường đại học sư phạm và bốn trường cao đẳng sư phạm ~ ~~— "

2.1.4 Yêu cầu nội dung khảo sát.

Nội dung khảo sát là nội dung chủ yếu cua giáo dục giới lính, giáo đục dàn số và giáo dục sức khoẻ sinh sản trong nhà trường hiện nay, cụ the:

* Nhận thức của giáo viên và sinh viên sư phạm về giáo dục giới tính, giáo dục dân số

* Nhận thức của giáo viên và sinh viên sư phạm về sức klioỏ sinh sán

* Mức độ chấp nhạn về giáo dục giới tính, giáo dục dân số, giáo dục sức khoe sinh sán trong trường sư phạm

* Những nguyên nhân ảnh hưởng đến sự nhận thức, thái độ nguyện vọng về giáo dục giới tính, giáo dục dân số, giáo dục sức khoẻ si nil sản của sinh viên sư phạm

Những nội dung nêu trên được cụ thể hoá trong quá í rình nghiên CIÍII thành những vấn đề sau:

* 14 vấn đề thuộc các lĩnh vực tình bạn, tình yêu, hôn nhân, tudi trướng thành sinh dục, cơ chế sinh sản nhằm khai thác vốn hiểu biết của sinh viên về giới tính, sức khoẻ sinh sản

* 13 quan niệm khác nhau về tình yêu, tình dục gia đình, sức khoe sinh sản dể thăm dò ihái độ của sinh viên về giới lính và sức khoẻ sinh sail

* 5 vấn đề có liên quan tới lĩnh vực giáo dục giới tính, giáo dục sức klioc sinh sản trong trường sư phạm nhằm thăm dò nhu cẩu của sinh viên về hoạt (lỏng này của nhà trường cũng như ý kiến của giáo viên và sinh viên ve những yếu lố ảnh hưởng tới nhận thức, thái độ, nguyện vọng vé giáo dục giới lính, giáo dục dân số, giáo dục sức khoẻ sinh sản của sinh viên sư phạm

2.1.5 Phương ph áp ktìảo sát.

_ S ư dụng ba loại phiếu câu hỏi cho ha loại dổi tirơnn (lãníulao lnrờnu dại họe

sư phạm, ouTFKTglangrtl^sniTrVicn )T<cTl 1 ựp với trao đổi, phỏng vấn trực liế p

2.1.6 Thời gian khảo sát.

Năm học 1999-2000

2.2.1 Thực trạng kiến thức của sinh viên sư phạm vé các vấn đề có liên quan đến gió i (inh.

2.2.1 ì H iể n biết của sinh viên sư phạm vé khái lìiệni iỊÌỚi tính.

Chúng tôi bắt đầu công trình nghiên cứu của mình bằng việc tìm hiểu thực trạng kiến thức của sinh viên sư phạm về khái niệm giới tính Vân đề đặt

ra trước sinh viên đưực khảo sát: giới tính là gì?

Như đã biết, giới tính là một khái niệm phức tạp có nhiều cách hiểu khác nhau Hiểu một cách tổng quát nhất thì: "Giới tính là trú cả những đặc điểm

Trang 30

riêng hiệt tạo nên sự khác nhau giữa nam và nữ" Các nliíì khoa học (tã kháng định có hai nguồn gốc quy định những đặc điểm giới tính của con người: Nguồn gốc sinh học và nguồn gốc xã hội Một mặt, giới tính của con người do các tế bào sản sinh quyết định, theo 1A.I Kusmiruk và A.F Serbakov thì chính các tuyến sinh dục tạo nên giới lính di truyền, mặt khác các đặc điểm sinh học chưa đủ để quyết định giới tính Những đặc điểm vế giải phẫu và sinh lí của cơ thể chí là tiền đề, là cơ sở vật chất tạo nên sự khác biệt giới tính mà thôi Có thể nói, giới tính của con người còn do các mối quan hệ xã hội chi phối Theo Eveỉiine, Sullerot, chuyên gia nổi tiếng của Liên hiệp quốc, thì việc nghiên cứu những dặc điểm giới tính con người phải được xem xét trên ba bình diện: Cơ thể (sinh học); Cá nhân (tâm lí học); Xã hội (xã hội học) Nhiều tác giá khác (Curille Kouperaik, Royer Laraen, Norbert Bischop, John Money) dã khẳng định sự khác biệt giới tính về sinh lí, tâm lí và xã hội.

Qua khảo sát, thăm dò hiểu biết chung của sinh viên về giới tính, cho thấy 88,90% số sinh viên có nhận thức đúng về những nội dung cơ ban của khái niệm này: họ hiểu giới tính là những đặc điểm tạo nên sự khác biệt giữa nam và nữ Trong khi đó, còn 11,1% số sinh viên có nhận thức chưa đúng, với những cách quan niệm khác nhau:

* Hoặc cho giới tính là chuyện vợ chồng;

* Hoặc cho giới tính là chuyện yêu đương;

* Hoặc cho giới tính là quan hệ tình dục giữa nam và nữ

Phân tích kết quả khảo sát thực tế, chúng tôi nhận tlìấy có sự khác nhau không lớn về mức độ nhận thức khái niệm giới ở sinh viên sư phạm thuộc các khu vực, các loại hình đào tạo khác nhau

+ Số sinh viên sư phạm thuộc khu vực đô thị lớn (Hà Nội, Huế) có nhận thức đúng nhiều hơn sinh viên khu vực miền núi Tuy nhiên, sự hơn kém này không rõ Cụ thể: 90,33% sinh viên sư phạm Hà Nội; 88,4% sinh viên sư phạm Việt Bắc (miền núi) và 87,9% sinh viên sư phạm miền Trung có nhận thức (lúng về khái niệm giới tính

+ Không có sự phân biệt đáng kể trong việc nhận thức chung VC khái niệm giới tính giữa khôi sinh viên ĐHSP và khối sinh viên CĐSP (88,33% sinhviên ĐHSP, 90,23% sinh viên CĐSP có nhân thức đúng về khái niệm giới tính)

+ Điều đáng lưu ý là có sự khác biệt rõ ràng về mức độ hiểu biết khái niệm giới tính giữa sinh viên nữ và nam ở đây, nữ sinh viên sư phạm có nhạn thức đúng hơn so với nam sinh viên Cụ thể:

- 92,6% nữ sinh viên ĐHSP và 82,4% nam sinh viên ĐHSP;

- 91,4% nữ sinh viên CĐSP và 84,6% nam sinh viên CĐSP có nhện thức (lúng về khái niệm giới tính

2.2.1.2 Nhận thức của sinh viên sư phạm vê' các đặc (ỉicm giải phần sinh lí liên (ỊIUIII tói íỊÌỚi tính.

Điều quan trọng là phái đánh giá được mức độ liiêu biết của sinh viên về các vấn dề có liên quan tới giai phãu-sinh lí giới tính, vì đây chính là một trong

25

Trang 31

-những nội dung chủ yếu của giáo dục giới tính trong nhà trường Đò’ lliực hiện nhiệm vụ này, chúng tôi tập trung tìm hiểu các kliía cạnh: hiểu biốl cua sinh viên về cấu tạo cơ quan sinh dục nam, nữ; về tuổi trưởng thành sinh dục và về

sự thụ thai Dưới đây là kết quả khảo sát các nội dung trên:

2.2 ỉ 2.1 Hiểu biết của sinh viên về cấu tạo co' (ỊIKIÌÌ sinlì (lục nam, nữ.

Kết quả khảo sát thực tế của chúng tôi về sự hiểu biếl của sinh viên vế cấu tạo cơ quan sinh dục nam, nữ được lập hợp trong bảng 2 1 Số liệu till! được

ở bảng 2.1 cho thấy: đa số sinh viên đã cớ hiểu biết nhất định về cấu tạo cơ quan sinh dục nam-nữ Số sinh viên hiểu biết sai hoặc chưa biết cliiốm tí lệ khổng cao

Bảng 2.1 Hiểu biết về cấu tạo cơ quan sinh dục nam-nữ

Tuy nhiên, nhìn vào bảng 2.1 ta thấy, trong các bộ phận được liỏi, không

có bộ phận nào có tất cả sinh viên trả lời đúng

* Một số bộ phận có ít sinh viên biết (hoặc không trả lời nhiều) như bộ phận thứ 7, 14

* Số ý kiến không trả lời khá nhiều, điều này chứng tỏ sinh viên không

nắm chắc nên không dám trả lời, điển hình là bộ phận thứ 3: 2 6 ,2 4 °/(; bộ phận

thứ 7: 70,96%; bộ phận thứ 16: 41,48%; bộ phận thứ ì 7: 41,95%

* Đối với các bộ phận của cơ quan sinh dục nam, sinh viên còn lúng túng, yê'u kém ử các bộ phận thứ 3, 4, 6, 7

Trang 32

* Còn đối với các bộ phận của cơ quan sinh dục nữ, sinh vièn không trá lời, hiểu rất iơ mơ, mư hổ về các hộ phận thứ 13, 14, 16, 17.

+ Nhìn chung, không có sự khác biệt nhiều lắm về sự hiểu biếl câu tạo

CƯ quan sinh dục nam-nữ giữa sinh viên sư phạm ở các khu vực: Hà Nội, Việt

Bắc và H uế - Quy Nhưn Kết quả cho thấy nhiều hộ phận sinh dục nam-nữ

dược sinh viên ở cả ba khu vực có hiểu biết đúng Một số lliuậl ngữ ít dùng

trong sinh hoạt như: quy đầu, bao quy đầu, niêm đạo, âm vật, môi lớn môi bé

thì sinh viên ở cả ba khu vực đều có những biểu hiện sai hoặc chưa hiểu biết

Kết quả thăm dò cũng cho ta thấy không có sự khác hiệt, chênh lệch

nhiều lắm về sự hiểu biết của sinh viên đại học sư phạm và cao dẳng sư phạm

vé cấu tạo cơ quan sinh dục nam-nữ, tuy ở khối đại học sư phạm có cao hơn,

trội hơn chút ít

2.2 ì 2.2 Hiểu biết của sinh viên về độ tuổi tníởng thành sinh (Inc.

Các công trình nghiên cứu sinh lí học, tâm lí-giáo dục học đã xác định dược

thời điểm trưởng thành sinh dục (tuổi dậy thì, tuổi phát dục và tuổi chín muồi sinh

dục) T dân gian vẫn lưu truyền "Gái thập tam, nam thập lục", điều đó phán ánh gần

đúng luổi trưởng thành sinh dục của người con gái và COI1 trai Ngày nay, do gia tốc

phát triên của thanh, thicu niên và dưới ảnh hướng của các điều kiện sống khác

nhau, tuổi trưởng thành sinh dục được xác định trong khoảng 12 luổi ± 10 tháng đèn

16 tuổi dối với nữ và 13 tuổi đến 17 tuổi đối với nam

Việc hiểu biết tuổi trưởng thành sinh dục là vấn đề có ý nghĩa thiết (hực

trong giao tiếp, trong quan hệ tình bạn, tình ycu và hôn nhân Vì vậy, nó dược

coi là một nội dung của giáo dục giới tính Kháo sát thực lế hiểu biết của sinh

viên sư phạm về tuổi trưởng thành sinh dục, cho thấy kết quả như Iron bàng

2.2.

Từ những kết quả thu dược, chúng tôi có thể rút ra một số nhận xél sau:

T h ứ nhất: ý kiến của sinh viên về vấn đề tuổi trưởng thành sinh dục của

nam và nữ rất phân tán, trải rộng từ 12 tuổi đến >23 tuổi Điều này chứng tỏ

hiểu biết của sinh viên về tuổi trưởng thành sinh dục chưa chính xác, cụ thể

T h ứ hai: Trong tất cả các độ tuổi mà sinh viên cho đó la tuổi trưởng

thành sinh dục thì:

1 - Ở con gái: Số ý kiến tập trung nhiều nhất là vào độ tuổi 16f 17 và số

ý kiến ít nhất từ tuổi 20 trở đi Hiểu đúng độ tuổi trường thành sinh dục chí cỏ

khoáng 1/6 số ý kiến, họ cho rằng đó là tuổi 124-13 Có một số lại cho rằng tuổi

204-23 là lúc trưởng thành sinh dục ở con gái

2 - ở con trai: Số ý kiến tập trung nhiều nhất ở hai độ tuổi 16 T 17 và

184-19 Số ý kiến cho rằng tuổi từ 2CH-23 cũng khổng ít

Như vậy, về vấn đề này, ý kiến của sinh viên có sự hiểu biết khác nhau,

không tập trung vào một độ tuổi nào nhất định

2 7

Trang 33

-Thứ ba: Sinh viên thành phố (thành thị) quan niệm tuổi trướng thành

sinh dục muộn hưn so với sinh viên nòng thôn và miền núi Khói sinh viên ĐHSP và khối sinh viên CĐSP có hiểu hiện chênh lệch nhưng không dáng kể

Bảng 2.2 Hiểu biết của sinh viên về độ tuổi trưởng thành sinh (lục

Tóm lại: Vấn đề này sinh viên hiểu còn rất mơ hổ, các cm chưa liicu khái

niệm trưởng thành sinh dục là gì? Đa số các em còn lãn lộn với sự trưởng thành

Trang 34

các phẩm chat lain lí-xã hội Điều này anil hướng nhiều (lèn hành vi ứng xứ, quan hệ khác giới của sinh viên, dặc biệt là trong lĩnh vực tình dục, tình yêu.

2.2.1.2.3 Hiển biết của sinh viên về thời kì thụ lìiai tlieo chu kì kinh nguyệt ở

nữ và quá trình thụ thai.

Để hiểu rõ hưn thực trạng hiểu biết cua sinh vicn sư phạm về các đặc điểm giai phẫu-sinh lí có liên quan đến giới tính, chúng tôi thăm đo sự hiên biết của sinh viên về thời kì thụ thai của người phụ nữ theo chu kì kinh nguyệt Theo chúng tôi, sự hiểu biết này là cần thiết đối với thanh niên và người trướng thành Nổ đặc biệt có ý nghĩa trong quan hệ tình dục và kế hoạch hoá gia đình

Bảng 2.3 Hiểu biết của sinh viên về thời kì dễ thụ thai

thôn

CĐ 71 (35,50) 64(32,09) 2(1,00) 63(31,50) 129(64,50)

ĐU 165(51,66) 57(27,50) 5(1,66) 73 (24,33) 135(45,00)

X 226 (45,20) 121 (2420) 7(1,40 136(27,20) 264(52,80)Thành

thị

CĐ 123 (62,50) 28(14,00) 35(17,50) 12(6,00) 75 (37,50)ĐII 175 (58,33) 52 (14,00) 32 (10,66) 33 (11,00) 117(39,00)

X 300(60,00) 80(16,00) 67 (13,40) 45 (9,00) 192 (38,40)X

CD 261 (43,50) 161 (26,83) 37 (6,16) 138(23,00) 336 (56,(X))

ĐH 470(52,22) 172(19,11) 96 (10,66) 154(17,11) 322(35,77)

X 731 (48,73) 333(22,20) 133 (8,86) 292(12,80) 758 (50,53)

Để tìm hiểu vấn đề này, chúng tôi yêu cẩu sinh viên cho biết ý kiến về thời

kì dễ thụ thai nhất của người phụ nữ theo 5 giai đoạn của chu kì kinh nguyệt: I

Đang có kinh; 2 Đẩu vòng kinh; 3 Cuối vòng kinh; 4 Giữa vòng kinh; 5 Vừa

sạch kinh, v ề lí thuyết, khoa học đã xác định, thời kì dễ thụ thai nhất là giai đoạn giữa vòng kinh Nếu sinh viên nào nêu được giai đoạn đó, chứng tỏ sinh viên dó đã hiểu đúng thời kì dễ thụ thai nhất Kết quả nghiên cứu được thể hiện ở hang 2.3

Hiểu biết về thời kì dẻ thụ thai là điều tương đối "kín dáo" và "tê nhị" vì hầu hết sinh viên chưa trải qua thời kì có thai và sinh đẻ Tuy nhiên, những hiểu biết này sinh viên cần phai biết và có thể có được nhờ nhiều nguồn thông tin khác nhau như sách vở, phim ảnh, tài liệu hoặc qua kinh nghiêm của những người đã có vợ, có chổng

Nhận xét chung được rút ra từ kết quá nghiên cứu là: Gần một nửa số ý kiến dược hỏi đã có hiểu biết đúng chiếm 48,73%, còn lại là hiểu sai, trong dỏ

có hai nữ sinh trả lời "dễ thụ thai vào thời kì đang có kinh" chiếm 0,22% - số

2 9

Trang 35

-n ữ s i -n h -n a y c h ứ -n g l ỏ h ọ c h ư a đ ư ợ c t r a -n g bị -n h ữ -n g k i ế -n t h ứ c s ư i l i u m VC g i á o

(lục giới lính Con số trả lời sai này gÀn đúng với thực trạng (lieu tra cua khói

si nil viên sư phạm cũng như khối dại học và trung học cluiycn nghiệp (Sò liệu diều tra của Mạc Văn Trang) Ị3 4 1-

- Những V kiến tra lời sai thường tập tiling ớ câu 2: Đầu vòn tỉ kinh - 22.20%: câu 5: Vừa sạch kinli - 12,80%; một sô ít cho rằng dẻ thụ thai vào cuối vòng kinh: 8,86% (câu 3)

Xét tlieo kliu vực:

- Số sinh viên khu vực thành thị hiểu đúng cao hơn hẳn so vơi số sinh

viên khu vực nồng thôn và miền núi, còn sổ sinh vicn hiểu đúng (V hai khu vực này tương đương nhau (60% so với 45,20% và 41 %)

Ngược lại, ở khu vực miền núi sỏ sinh viên hiểu sai về thời kì dỗ thụ thai nhiều hơn so với nông thôn và thành thị, tLIV nhiên giữa miền núi và nông thôn có tỉ lệ gần tương đương (58,40% và 52,80% so với 38,40%) Đ;Ịc biệt ờ

câu 5, nông thôn có tỉ lệ khá cao 27,20% trong khi dó ờ thành thị chỉ có 4%.

* Xét theo khôi:

Nhìn chung, khối dại học có nhiều sinh viên hiểu bi CM tiling hơn về lliời

kì dễ thụ thai so với khối cao (lẳng (52,22% so với 43,50%) Số sinh viên của khối cao dẳng hiểu biết sai về llìời kì dỗ thụ thai cao hơn nhiều so với khối dại học (56% và 35,77%)

Nhìn chung, nữ sinh vicn hiểu biết (túng hơn nam sinh viên về lliời kì dỏ ỉlụi thai Cụ thể:

- 52,3% nữ sinh viên và 37,2% nam sinh viên cỏ hiểu biết tiling về Iliời

kì dễ thụ thai

- 47,7% nữ sinh viên và 62,8% nam sinh vicn có hiểu biết sai VI' thời kì tie thụ thai

Tóm lại: Gần một nửa sô' sinh vicn dược thăm dò (48,73% trên lổng số

2100 sinh viên) hiểu biết đúng và quá nửa số sinh viên hiểu biết sai (50,53%)

về thời kì dỗ thụ thai Trong số đó, sinh viên khu vực thành thị hiểu biết tiling nhiều hơn so với sinh viên khu vực nông thôn và miền núi

Để hiểu rõ hơn mức độ hiểu biết của sinh viên sư phạm VC khá Măng có thai của người phụ nữ, chúng tôi yêu cầu số sinh viên được diều tra I11Ô tà trình

lự quá trình thụ thai từ khi tinh trùng dược phóng vào âm đạo (tốn thời kì hợp lử làm tổ trong dạ con Trình tự hợp lí diễn ra qua 5 bước lìlnr sau: I l inh trùng tlưực phỏng vào Am đạo; 2 Tinh trùng từ âm đạo ngirực lên dạ con (lể lìm gặp trứng; 3 Tinh trùng kết hựp với tế bào trứng; 4 Hựp tử di chuyển vào (l;i con dể làm tổ; 5 Hợp tử làm tổ trong dạ con Trong quá trình làm trắc nghiệm, sinh vicn 11ỈÌO không nêu đúng trình tự trên được coi là hiểu chưa đúng quá trình lliụ thai Kêt CỊIUÍ trắc nghiệm được tập hợp trong bang 2.4

Cũng như lliời kì dễ thụ thai, trình tự quá trình thụ thai ớ cơ lltr người phụ nữ diễn ra theo inột trình tự tự nhiên của sự tạo nên mầm mống mọt thai nhi Việc hiểu biết về trình tự thụ thai là diều rất cần thiết và hổ ích cho sinh

Trang 36

viên sư phạm vì sẽ giúp họ sau này chủ động chăm sóc và hao vệ thai nhi Qua

số liệu điều tra cho thấy sinh viên đã có nhiều hiểu biết tương đối lót vé mật này qua nhiều con đường tiếp nhận thông tin: tài liệu, sách báo Cụ thể: 62,40% số ý kiến sinh viên có hiểu biết đúng và 30,86% số ý kiến sinh viên hiểu biết sai, có 6,66% sinh viên không trả lời dược câu này

Bang 2.4 Hiểu biết của sinh viên về trình tự quá trình thụ thai

nông thôn - thành thị, thì số sinh viên hiểu đúng được tăng dẩn về số lượng,

ụ thể là: 49%; 64,40% và 73,80% Ngược lại, số hiểu biết sai về trình tự (|iiá

rình thụ thai cũng giảm dần: 47,4%; 24,60% và 20,60%

Số sinh viên không trá lời được tập trung nhiều ở nông lliồn 12,8% và íì nhất

V miền núi 3,6% Sinh viên khối đại học sư phạm hiểu biết đúng về trình tự quá trình

hụ thai hơn sinh viên khối cao dẳng sư phạm (68,22% lớn hơn 53,33%) Ngược lại

;ố sinh viên khối cao đẳng sư phạm hiểu sai nhiều hơn về trình tự quá trình thụ thai

;o với sinh viên khối đại học sư phạm, đó là 40,16% so với 24,66%

Tóm lại: Quá nửa số sinh viên được hỏi về trình tự thụ thai có hiểu biết

lúng Đặc biệt có sự chênh lệch rõ rệt về nhận thức giữa ha khu vực: miền núi,

lông thôn, thành thị (số nhận thức đúng tăng dần theo thứ tự ở ha khu vực (rên).

1.2.1.3 Nliận thức của sinh viên sư phạm vê biện pháp phồng ngừa thụ thai.

Rõ ràng là việc giáo dục giới tính, giáo dục dân số không chỉ dừng lại ở mức

•ung cấp cho người học hiểu biết về các đặc điểm sinh lí giới tính mà còn phải trang hị

'ho họ các tri thức biện pháp phòng ngừa thụ thai Trên thực tế, đó là một trong những

ũải pháp lìíai hiệu của công tác kế hoạch hoá gia đinh Vì vậy, trong đề tài nghiên cứu

•ủa mình, chúng tôi đặt ra nhiệm vụ phát hiện thực trạng hiểu biêt của sinh viên sư phạm

'ề các biện pháp phòng ngừa thụ thai, từ đó xác lập cơ sở thực tiễn cho việc hình thành

ác biện pháp giáo dục giới tính, giáo dục dân số sau này cho sinh viên

31

Trang 37

-Bang 2.5 Hiểu biết vé các biện pháp tránh thai và sứ dung hiên pháp trán 11 thai.

6025,50

5\

25,50

2110,50Miền núi Đại học 142

47,33

13043,33

10133,66

13545,00

1 17 39,00

9331,(.)()

40,80

18537,00

14629,20

19539,00

16833,60

1 14 22,80Cao đẳng 85

42,50

7236,00

4924,50

7336,50

6532,50

3517,50Nông thôn Đại học 161

53.66

15351,00

12140,33

1 1237,33

14446,00

10234,00

49,20

22545,00

17034,00

18561,66

20668,66

13727,40Cao đẳng 92

46,00

8140,50

5728,50

8743,50

6934,50

4120,50Thành thị Đại học 175

58,33

14749,00

13244,00

16555,00

12541,66

1 15 38.33

53,40

22845,60 18937,80

25250,40

19438,80

156 31,20Cao đẳng 239

36,86

208234,66

15125,16

22036,66 18530,83

9716,16

53,10

43047,77

35439,33

41245,77

38342,55

n o34,44

47,80

63842,53

50533,66

63242,13

56837,86

40727,13

Cao đẳng 138

69,00

14572,50 15577,50

14070,00

ĩ 49 74,50

17989,50Mien núi Đại học 158

52,66

170

16555,00

18364,00

20769,00

59,20

hT ĩ 563,00

35470,80

30561,00

33266,40

38677,20Cao đẳng 115

57,50

12864,00 15175,50

12763,50

135 67,50

16582,50Nông thôn Đại học 139

46,33

147

49, (X)

17959,66

188 62,66

15953,00

19866,00

50,80

27555,00

33066,00

31563,00

29458,80

36372,60Cao đẳng 108

54,00

11959,50

143 71,50

11356,50

12160,50

15979,50Thành thị Đại học 125

41,66

15351,00

16856,00

13545,00

17558,33

185 61,66

46,60

27254,40

31162,20

24849,60

29659,20

34468,80Cao đẳng 316

60,16

39265,33

44974,83

38063,33

40567,50

50383,83

46,88

47052,22

54660,66

48854,22

51757,44

59064.44

52,20

86257,46

99566,33

8687,86

92261,46

ĩ 093 72.86

Trang 38

Trong công tác tuyên truyền vận động sinh đẻ cổ kê hoạch, các hiện pháp tránh thai được sử dụng phổ biến là: I Đặt vòng; 2 Thắt ống đần linh và cắt buồng trứng; 3 Tính lịch theo vòng kinh; 4 Dùng bao cao su (capot); 5 Dùng thuốc tránh thai; 6 Xuất tinh ngoài âm đạo Kết quả thăm dò hiểu biết

các biện pháp trên của sinh viên được thể hiện trong hảng 5.

Nhận xét chung: Nhìn chung, sinh viên được thăm dò cho V kiến vồ "sư hiểu

biết các hiện pháp tránh thai và sử dụng biện pháp tránh thai" thể hiện sự hiểu biết không nhiều lắm về các biện pháp tránh thai, tỉ lệ phẩn trăm mức độ chưa biết về các biện pháp tránh thai nhiều hưn là tỉ lệ phần trăm đã biết Cụ thể là:

* 47,8% sinh viên có biết và 52,2% chưa biết biện pháp đặt vòng

* 42,53% sinh viên có biết và 57,46% chưa biết hiện pháp thắt ỏng dẫn tinh và biện pháp cắt buồng trứng

* 33,66% sinh viên có biết và 66,33% chưa biết biện pháp tính lịch tlìeo vòng kinh

* 42,13% sinh viên có biết và 57,86% chưa biết biện pháp dìm ụ lúi caosu

* 37,86% sinh viên có biết và 61,46% chưa biết biện pháp uống thuốc Iránh thai

* 27,13% sinh viên có biết và 72,86% chưa biết hiện pháp xuất tinh ngoài âm đạo

Nlur vậy, các biện pháp tránh thai phổ biến như: đặt vòng, uống thuốc tlánh thái, dùng túi cao su thì có nhiều sinh viên biết hơn, còn các hiện pháp khác như: thắt ống dẫn tinh, thắt ống dãn trứng, tính lịch theo vòng kinh, xuất tinh bên ngoài âm đạo, ít sinh viên biết hơn

Một số ít sinh viên đã dùng một vài biện pháp Tuy nhiên, số này chiếm

tí lệ % không đáng kể (từ 0,3% - 0,5%)

* Xét theo khu vực: Những tư liệu nghiên cứu thực tê cũng cho lliíìỵ hầu

như không có sự khác biệt lớn về số lượng sinh viên hiểu biết các biện pháp ngừa thai thuộc các khu vực thành thị - nông thôn - miền núi Cụ thể tỉ lệ phần trăm xếp theo thứ tự lần lượt các khu vực trên là 41,2% - 40,8% - 33,78% Ngược lại việc chưa biết về các biện pháp tránh thai của sinh viên lại tăng dần lên theo trình tự sắp xếp các khu vực thành thị - nông thôn - miền núi, đó là: 55,13% - 61,33% và 66,31%

* Xét theo góc độ khối đại học và cao dẳng thì tình hình có khác: Nhìn

chung, số sinh viên trả lời có biết các biện pháp tránh thai ở khối ĐHSP có tỉ lệ lớn hơn khối CĐSP Chẳng hạn:

* 53,16% số ý kiến sinh viên ĐHSP và 39,83% số ý kiến sinh viên CĐSP trả lời biết biện pháp đặt vòng tránh thai

* 47,77% số ý kiến sinh viên ĐHSP và 34,66% số ý kiến sinh vicn CĐSP trả lời biết biện pháp thắt ống dãn tinh

* 39,33% số ý kiến sinh viên ĐHSP và 25,16% số ý kiến sinh viên CĐSP trả lời biết biện pháp tính lịch theo vòng kinh

33

Trang 39

-* 45,77% số ý kiến sinh viên ĐHSP và 36,66% số ý kiên sinh vicn CĐSP trá lời biết hiện pháp uống thuốc tránh thai.

* 42,55% số ý kiến sinh viên ĐHSP và 29,50% sô ý kiến sinh viên CĐSP

trả lời biết biện pháp dùng túi cao su

* 34,44% số ý kiến sinh viên ĐHSP và 16,16% sô ý kiến sinh viên CĐSP trả lời biết biện pháp cắt buồng trứng

Để hiểu rõ hơn mức độ nhận thức của sinh viên về biện pháp ngừa thai, chúng tôi sử dụng mẫu điều tra SP1 để thăm dò sinh viên

Kết quả thu được như sau:

* 71,2% số ý kiến sinh viên cho rằng nên tính vòng kinli để tránh thai;

* 62,9% số ý kiến sinh viên cho rằng nên dùng bao cao su để tránh thai;

* 60,1% số ý kiến sinh viên cho rằng nên dùng thuốcđể tránh thai;

* 59,8% số ý kiến sinh viên cho rằng nên đặt vòng để tránh thai:

* 22,5% số ý kiến sinh viên cho rằng không quan hệ tình dục đê tránh (hai;

* 9,2% số ý kiến sinh viên cho rằng nôn thắt ống dần linh để tránh thai;

* 0,5% số ý kiến sinh viên cho rằng nôn cắt buồng trứng để Inínli thai.Qua số liệu trên, ta thấy rõ là sinh viên cũng hiểu biết rõ các hiện pháptránh thái có hiệu quả là: tính vòng kinh (dây là biện pháp có số V kiến sinh viên tán thành cao nhất), dùng bao cao su, dùng thuốc, đặt vòng

Chi' có 22,5% số ý kiến sinh viên cho rằng không quan hệ tình dục Thực

ra biện pháp tránh thai "hiệu nghiệm" nhất là không có quan hệ tình dục, song khi đã trở thành vợ chồng của nhau thì dùng biện pháp "không có quan hệ tình dục" là điều rất khó khăn và vô cùng bất hợp lí, vì nó trái với quy luật tự nhiên của con người Vì thế, khi đã là vợ chồng rồi thì chỉ có thể không có quan hệ

tình dục khi người phụ nữ ở vào thời kì "không an toàn" - thời kì dễ dàng thụ

thai theo vòng kinh Bởi vậy, hiện nay "biện pháp kĩ thuật" có tính chất chú yếu phổ biến trong việc ngừa thai là các biện pháp nêu trên

* Xót theo khu vực: Nhìn chung có sự khác biệt nhưng không nhiều lắm

về sự hiểu biết các biện pháp ngừa thai cơ bản như: tính vòng kinh, dùng hao cao su, đặt vòng, dùng thuốc v.v Cụ thể là:

* 7,2% số ý kiến sinh viên khu vực Hà Nội; 68,7% số ý kiến sinh viên khu vực Việt Bắc và 66,9% số ý kiến sinh viên khu vực miền Trung cho lằng nên tính vòng kinh

* 62,5% số ý kiến sinh viên khu vực Hà Nội; 61,57% số ý kiến sinh viên

khu vực Việt Bắc và 62,6% số ý kiến sinh viên klni vực miền Trung cho rằng nên dùng bao cao su

* 54,7% số ý kiến sinh viên khu vực Hà Nội; 57,27% số ý kiến sinh viên khu vực Việt Bắc và 52,5% số ý kiến sinh viên khu vực miền Trung cho rằng nên đặt vòng

* 63,8% số ý kiến sinh viên khu vực Hà Nội; 55,4% số ý kiến sinh viên khu vực Việt Bắc và 52,7% số ý kiến sinh viên kill! vực miền Trung cho rằng nên dùng thuốc

Trang 40

Đặc biệt dối với hiện pháp "không quan hệ tình dục" thì ờ các kill! vực

có sự chênh lệch rõ rệt, chỉ có 7,8% số ý kiến sinh viên í ỉ à Nội (lồng ý Trong

khi đó có 33,8% số ý kiến sinh viên khu vực Việt Bắc và 35.7% số ý kiến sinh

viên khu vực miền Trung đồng ý với hiện pháp trên

Qua kết quả thăm dò, với số liệu cụ the trên ta llìấy sinh viên klui vựcViệt Bắc và sinh viên klui vực miền Trung có quan niệm "chặt chẽ", "phong kiến" hơn trong việc dùng biện pháp tâm - sinh lí để ngừa có thai, còn sinh viên khu vực Hà Nội đồng ý với các biện pháp có tính chất "kì thuật", "hiện dại" nhiều hơn trong việc phòng ngừa thai, v ề các biện pháp ngừa thai như "llìál ống dãn tinh" và mổ thôi đẻ (cắt buồng trứng) thì số ý kiến của cả b;i khu vực đều chiêm tỉ lệ thấp và sự khác biệt nhau không đáng kể

* Không có sự khác biệt nhiều về vốn hiểu biết của sinh viên kliôi ĐHSP

và khối CĐSP vể các biện pháp cơ bản để ngừa tránh thai Sinh viên ớ cá hai khối đều cho rằng nên dùng bốn biện pháp cơ bản để ngừa tránh thai, đó là: Tính vòng kinh; dùng bao cao su; dùng thuốc; đặt vòng

Những tư liệu nêu trên chứng tỏ, về mặt nhận thức, sinh viên SƯ phạm dã biết các biện pháp phòng ngừa thụ thai hiện đang đưực dùng phổ hiến ĐAy có thể là một thuận lợi cho công tác giáo dục dân số trong nhà tnrờng

2 2 ì 4 Nhận tlìức của sinh viên sư phạm về các hệnlì lây truyền (/ 11(1 dường tình dục và cách phòng ngửa.

* H iểu biết của sinh viên s ư p h ạ m vê c á c bệnh lây truyền q u a IỈII‘ÒH(Ị tình

dục Gắn hữu cơ với việc sinh hoạt tình dục và sinh con là vân đề các bệnh lây

truyền qua đường tình dục Đây là một trong năm loại bệnh thưởng gặp nhất trên toàn cầu Hàng năm có khoảng 300 triệu người mới mắc phải loại bênh này [241

Vì vậy, hiểu tác hại, cơ chế lây lan các bệnh tình dục và biết cách phòng ngừa là một trong những mục tiêu chủ yếu của giáo dục giới tính Vấn đề đặt ra là sinh viên sư phạm hiểu biết các bệnh này như thế nào và cách phòng ngừa chúng

Ngày nay, y học thế giới đã xác định được khá nhiều bệnh lây ti uyền qua đường tình dục: giang mai, lâu, hạ cam, viêm niệu đạo do Gilamydia, II hạt bẹn, AIDS, écpet sinh dục, sùi mào gà sinh dục, trùng roi âm đạo, candidia âm đạo, hột xoài, viêm âm đạo do vi khuẩn, viêm gan B, 11 mém lây, cái ghẻ lận mu

Nhằm kiểm tra hiểu biết của sinh viên sư phạm về các bênh lày truyền qua đường tình dục, chúng tôi chọn ba loại phổ biến nhất trong số các bệnh nêu trên: giang mai, lậu và siđa Đổng thời nêu xcn kẽ chúng với một loại bệnh có liên quan tới cơ quan sinh dục: đái dắt, nước tiểu vàng đục, viêm da vùng cơ quan sinh dục, sa dạ con, khí hư, viêm đường tiết niệu v.v

Các bệnh ncu trên được xếp theo thứ tự: 1 Đái dắt; 4 Lậu; 7 Nước tiểu vàng dục; 2 Giang mai; 5 Khí hư; 8 Viêm đường tiết niệu; 3 Sa dạ con; 6 Siđa; 9 Viêm da vùng cơ quan sinh dục

Trong số 9 bệnh được kể ra chỉ có 3 bệnh: lậu, giang mai và Silla là bệnh lây qua đường tình dục Yêu cầu đối với sinh viên là phái chỉ ra dược 3 bệnh đó

35

Ngày đăng: 13/05/2020, 21:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w