Ở Trung Hoa cñ các nhà nghiên cứu đáng chö ý như Tào Thăng, Hứa Hanh, Ph÷ng Hữu Lan, Vưu S÷ng Hoa, Thiệu Vĩ Hoa … Họ đã đạt được rất nhiều thành tựu về cả nghiên cứu khoa học, lý luận cũ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN ANH NGUYÊN
TÌM HIỂU MỘT SỐ TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC
TRONG KINH DỊCH
LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2009 MỤC LỤC
Trang 2MỞ ĐẦU Trang
1
1 Tính cấp thiết của đề tài Trang
1
2 Tình hình nghiên cứu…… Trang
2
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn……… Trang
10
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
của luận văn… Trang
10
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
của luận văn Trang
11
6 Đóng góp của luận văn Trang
11
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn Trang
11
8 Kết cấu của luận văn Trang
11
CHƯƠNG 1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ
HÌNH THÀNH KINH DỊCH Trang
12
1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội Trung Quốc Trang
12
1.2 Tiền đề tư tưởng Trang
23
TRONG KINH DỊCH.……… Trang
38
2.1 Tư tưởng về con người………
Trang 32.2 Tư tưởng về đạo đức……… Trang
45
2.3 Quan niệm của Kinh Dịch
về sự tiến hóa xã hội con người…… Trang
60
2.4 Một số biểu hiện ảnh hưởng của Kinh Dịch
đối với các nhà tư tưởng Việt Nam Trang 68
KẾT LUẬN.……… Trang
83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……… Trang
86
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tư tưởng triết học Trung Quốc cổ đại cñ một giá trị rất lớn trong nền văn minh nhân loại Trong hệ thống tư tưởng triết học nổi tiếng đñ cñ những đñng gñp rất lớn về mặt định hướng hoạt động thực tiễn nhằm thích ứng, cải biến thực trạng xã hội đương thời; thöc đẩy sự phát triển xã hội tiến lên một tầm cao mới Những giá trị đñ đã cñ tầm ảnh hưởng sâu rộng tới tất cả các cá nhân và xã hội
Trên con đường đi tìm sự thích ứng của mỗi cá nhân trong việc khẳng định cái tói trong một cộng đồng, tập thể, xã hội; trong việc tu dưỡng đạo đức, đối nhân xử thế, trong việc dụng binh, nhận xét về thời thế cũng như việc chờ đợi thời cơ… Những vấn đề mà cuộc sống đang đặt ra trong bất cứ thời đại nào cũng cñ thể tìm hiểu được ít nhiều ở trong tư tưởng của cổ nhân Người xưa đã để lại cho chöng ta một nền tảng tri thức vó c÷ng phong phö trong đñ những tri thức về con người, xã hội là một phần vó c÷ng quan trọng và thực
sự qöy giá, thiết thực trong cuộc sống hóm nay Việc nghiên cứu một số tư tưởng triết học trong Kinh Dịch của luận văn cũng nhằm cố gắng làm rõ điều
đñ
Nghiên cứu Kinh Dịch thực chất là nghiên cứu những tư tưởng thể hiện trong đñ, nơi đây chứa đựng những tư tưởng về xã hội và con người nñi chung Ở Trung Hoa cñ các nhà nghiên cứu đáng chö ý như Tào Thăng, Hứa Hanh, Ph÷ng Hữu Lan, Vưu S÷ng Hoa, Thiệu Vĩ Hoa … Họ đã đạt được rất nhiều thành tựu về cả nghiên cứu khoa học, lý luận cũng như về chiêm bốc, độn giáp…
Ở Việt Nam, tình hình lịch sử - xã hội cñ những đặc điểm đặc th÷ so với các nước nên tình hình nghiên cứu Kinh Dịch cũng cñ những điểm khác biệt Với nước ta, nhu cầu về xử lý những vấn đề thiết thực của cuộc sống trong những thời điểm lịch sử nhất định được đề cao hơn so với việc nghiên cứu học thuật một cách thuần töy Do vậy, như học giả Nguyễn Hiến Lê nñi
Trang 5trong cuốn Kinh Dịch đạo của người quân tử là “Ở nước ta chưa có ai có thể
gọi là nhà Dịch học được”[46, 70] Tuy vậy, theo ý kiến của người thực hiện
luận văn thì các học giả chuyên về Dịch học ở Việt Nam chưa nhiều nhưng họ cũng đã ít nhiều đạt được những thành tựu nhất định, phần nhiều các nhà nghiên cứu Kinh Dịch để ứng dụng vào hoạt động thực tiễn xã hội, do vậy các tác phẩm nghiên cứu Kinh Dịch họ để lại khóng nhiều và rất tản mạn trong các ghi chép khác nhau; cần phải được sưu tầm và tập hợp trong một thời gian nhất định mới đạt được kết qủa
Trong hoàn cảnh như vậy, nếu việc nghiên cứu và học tập Kinh Dịch chỉ thuần töy dựa vào các bản dịch từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt thì chưa hẳn đã được trọn vẹn Cñ nhiều nguyên nhân như bản thân các tác phẩm nước ngoài chưa hẳn tất cả đã thể hiện được ý nghĩa của Kinh Dịch và việc dịch tất cả các tác phẩm đñ ra tiếng Việt là điều rất khñ khăn Đồng thời, những tác phẩm ở nước ngoài chưa hẳn là đã ph÷ hợp với chöng ta Do vậy, việc phải nghiên cứu Kinh Dịch một cách nghiêm töc và dựa trên tinh thần của người Việt Nam là một đòi hỏi thực sự cần thiết nếu như chöng ta muốn nắm được tinh thần của Dịch học và ứng dụng những tư tưởng tích cực của Dịch vào việc xử lý các vấn đề của cá nhân và xã hội ở Việt Nam Yêu cầu này đang được đặt ra một cách nghiêm töc, cñ như vậy chöng ta mới hi vọng
cñ thể cñ tiếng nñi riêng của mình trên diễn đàn học thuật và tư tưởng quốc tế
2 Tình hình nghiên cứu
Kinh Dịch là một loại sách được xếp vào hàng kinh điển của Nho gia,
đứng đầu trong Ngũ Kinh (Kinh Dịch, Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh
Xuân Thu) Việc nghiên cứu Kinh Dịch trong lịch sử đã đạt được rất nhiều
thành tựu với các nhà Dịch học tiêu biểu ở cả phương Tây và phương Đóng
Ở phương Tây, theo tìm hiểu trong các tư liệu chöng tói được biết cñ những nhà nghiên cứu về Kinh Dịch tiêu biểu như:
Meclatchie Rev với A translation of the Confuchian Yi Kinh, or the
Classic of Changes (Thượng Hải, 1876) Cuốn này cñ một điểm rất lạ là tác
Trang 6giả muốn đem những nghiên cứu về thần thoại để tìm hiểu những bí mật của Kinh Dịch Cuốn này cñ nhiều sự chö thích và phụ lục đính kèm
Legge J với The texts of Confucianism, Pt II, the Yi King (Oxford,
1899) Đây là một bản dịch sát và kỹ lưỡng bản Kinh Dịch in năm 1715 đời Khang Hy nhà Thanh Tuy nhiên, dịch giả khóng coi Kinh Dịch là một sách bñi, khóng tin món bñi Dịch, khóng cñ phần bàn về bñi Dịch và những chö thích của óng cũng còn sơ sài
Wilhem R với I Ging: das Buch der Wandlungen (Jena, 1924) Đây là
bản dịch đầy đủ, được nhiều người đọc ưa thích, bản này cñ lời giới thiệu rất hay và lời mở đầu sâu sắc của Tiến sỹ C Jung Tuy nhiên, cách sắp xếp các chương còn rắc rối, với những người mới đọc Dịch thì rất khñ theo dõi Sau
đñ, Baynes C lại dịch cuốn này ra tiếng Anh với nhan đề The I Ching or Book
of Changes (London, 1950) Từ bản I Ging: das Buch der Wandlungen của
Wilhem R, Tienne Perrot E đã dịch ra tiếng Pháp với tên gọi Yi King - Le
livre des transformations (Paris, 1971)
Blofeld J với The Book of Change (London, 1965) Đây là một bản
dịch Kinh Dịch khác của học giả người Anh Cuốn này nñi kỹ về cách bñi, tuy nhiên tác giả khóng dịch những lời chö thích của Khổng Tử về Kinh Dịch Tác giả muốn nñi nhiều về phần Dịch truyện
Siu R với The man of many qualities; A legacy of the I Ching
(Cambridge, 1968) Đây là một bản dịch mới nñi riêng về phần Dịch kinh thời
kỳ Chu Văn Vương và Chu Cóng Dịch giả trích dẫn trên 700 chỗ trong văn học thế giới để giải thích phần kinh đñ Trong tác phẩm này, tác giả nñi về cách bñi với những ý tưởng mới mẻ, hấp dẫn
Ngoài ra, các học giả phương Tây đã vận dụng Kinh Dịch vào khoa học
kỹ thuật, đáng chö ý là:
Leibniz, nhà triết học và toán học người Đức (1646 - 1716) là người đầu tiên nghĩ ra phép nhị phân thay cho phép thập phân bằng cách chỉ d÷ng hai con số: Số 1 làm dương và số 0 làm âm để mã máy tính điện tử Hai con
Trang 7số này mỗi nhñm 6 số và gồm 64 nhñm Khi cñ điện vào thì đèn bật là 1 và khi điện tắt là 0, cứ như thế truyền các tín hiệu
C Jung, người gốc Thụy Sĩ, sinh năm 1875, c÷ng với Freud tạo ra khoa
phân tâm học Ông là bạn của Wilhem R, người đã d÷ng Kinh Dịch để tìm
hiểu tiềm thức con người, trong đñ cñ cả việc bñi toán
Lưu Tử Hoa, một nhà bác học Trung Quốc ở Anh cũng nñi đã vận dụng
nguyên lý “Bát quái” từ năm 1930, tìm ra quỹ đạo hành tinh thứ 10 trong hệ
Mặt trời
Hai nhà vật lý học người Mỹ gốc Trung Quốc là Tsung Tao Lee (Lý Chính Đạo), giáo sư đại học Princeton và Tchen Ninh Ang (Dương Chấn Ninh), giáo sư đại học Columbia đã tuyên bố nhờ nghiên cứu Dịch học mà biết rằng, trong thế giới điện tử, phía trái và phía phải khóng như nhau, dương thì 9 mà âm thì 6, cñ tỷ số là 3/2 Hai óng chứng minh khi hạt nhân nguyên tử
nổ làm bắn ra những ly tử âm và ly tử dương, tia dương bắn xa hơn tia âm theo tỷ lệ 3/2 tạo ra định luật số chẵn, lẻ Hai óng đã được nhận giải Nobel Vật lý năm 1957
Và nhiều tác giả khác nữa
Hiện nay, trong giới học giả người Hoa, theo các tài liệu chöng tói thu thập được thì cñ các nhà nghiên cứu sau là đáng chö ý:
Cao Hanh và Lý Kính Trình trong những năm đầu nghiên cứu Kinh
Dịch đều khẳng định đñ là sách để xem bñi Với Chu Dịch cổ kinh kim chú,
Chu Dịch tạp luận, Cao Hanh đã giải thích “trinh cát” của lời hào thứ 4 (âm)
quẻ Thủy Địa Tỷ là “bói gặp lời hào này, thì tốt” (Phệ ngộ thử hào tắc cát); giải thích “gian trinh” ở lời hào thứ 3 (dương) quẻ Địa Thiên Thái là “Chiêm
vấn hoạn nạn chi sự, vị chi gian trinh” (bñi hỏi việc hoạn nạn, gọi là gian
trinh).v.v Löc đầu, cũng giống như Lý Kính Trình, qua quyển Chu Dịch cổ
kinh kim chú thể hiện rõ ràng lời nào của quẻ là c÷ng loại với giáp cốt bốc từ
Ông giải thích lời hào của một quẻ, vẫn chưa kết hợp lời quẻ với hình tượng quẻ, tên quẻ Nhưng về sau óng đã thay đổi ý kiến và cñ cách nhìn mới về
quan hệ giữa lời hào, lời quẻ và tượng quẻ, do đñ, cách giải thích chữ “trinh”
Trang 8cũng đã cñ thay đổi Ví dụ, trong bài Tư tưởng triết học của lời hào, lời quẻ
của Chu Dịch, óng đã giải thích lời hào thứ 3, quẻ Đại Söc: “Lương mã trục,
lợi gian trinh, nhật hàn dữ vệ, lợi hữu du vãng” là “Cưỡi ngựa tốt, (đi) xe chắc, thì không sợ con đường gian nan và xa xôi”, khóng giải thích chữ
“trinh” thành “chiêm” (xem, bñi) hoặc “chiêm vấn” (hỏi quẻ, xem bñi)
Tương tự Cao Hanh, Lý Kính Trình löc đầu giải thích chữ “trinh” ở Kinh Dịch là “chiêm” (xem, bñi), “chiêm” tức là “bốc vấn” (hỏi quẻ, xem bñi) Thực ra, “bốc vấn” (hỏi quẻ, xem bñi) là nghĩa gốc của chữ “trinh”, còn
“chính” là nghĩa mở rộng Về sau, khi viết Chu Dịch thông nghĩa óng thừa nhận: “Hiểu rõ tên quẻ và lời hào của quẻ hoàn toàn có liên quan với nhau,
trong đó đa số, mỗi quẻ đều có một trung tâm tư tưởng, tên quẻ là tiêu đề của nó” Điều đñ khẳng định sau này óng đã thay đổi cách nhìn nhận Ông đã dẫn
ra những từ “trinh cát, hối vong, vô cữu” cñ trong hào đều là thuyết minh và phán đoán sự lý Những lời hào của quẻ cũng “có chứa đựng tư tưởng tác
giả” Trên thực tế, hai óng đã cñ phương pháp nghiên cứu mới, löc đầu hai
óng quan niệm Kinh Dịch là sách thuần töy để xem bñi, nhưng về sau đã thay đổi ý kiến
Nhñm chỉnh lý Bạch thư ở mộ Mã Vương Đói đời Hán với Mã Vương
Đôi Bạch thư Chu Dịch lục thập tứ quái thích văn Trương Chính Long với Bạch thư lục thập tứ quái bạt Hào Lương với Bạch thư Chu Dịch đây là
các nhñm tác giả nghiên cứu về các văn bản Chu Dịch viết trên lụa được khai quật trên các ngói mộ cổ ở Trường Sa (Hồ Nam) và đã cñ những ý kiến nhận định khác nhau về việc tìm hiểu Kinh Dịch khác với cách nghiên cứu truyền thống
Vưu S÷ng Hoa với Mai hoa dịch tân biên Ông Vưu S÷ng Hoa muốn
đem những tri thức khoa học thời hiện đại để chö giải những luận điểm của học giả Thiệu Khang Tiết đời Tống Cuốn này đã được dịch giả Cao Hoàn Diên Khánh dịch ra tiếng Việt (1997)
Fung Yu Lan (Ph÷ng Hữu Lan) với A History of Chinese Philosophy
(1937) Hiện tác phẩm này đã được tác giả Lê Anh Minh dịch ra tiếng Việt
Trang 9với nhan đề Lịch sử Triết học Trung Quốc (2006) Đây là một tác phẩm
nghiên cứu rất cóng phu về lịch sử triết học Trung Quốc do chính một học giả người Trung Quốc viết, tác phẩm đã được giới nghiên cứu ở phương Tây đánh giá rất cao và trở thành tài liệu nghiên cứu chính thức về lịch sử triết học Trung Quốc trong các trường đại học ở phương Tây
Gần đây, học giả Thiệu Vĩ Hoa với nhiều tác phẩm về dự đoán, bốc
quẻ… đã gây những tiếng vang và cñ thể coi như đã tạo nên “cơn sốt Dịch
học” trên diễn đàn Dịch học quốc tế; một số tác phẩm của óng đã được dịch ra
tiếng Việt như: Dự đoán theo tứ trụ (2002), Chu Dịch với dự đoán học
(2003)… Tuy nhiên, các tác phẩm này phần nhiều đi về chiêm bốc, độn giáp nên trong phạm vi luận văn khóng cñ điều kiện khảo cứu sâu
Ở Việt Nam, trước năm 1975 đã cñ ba bản dịch bộ Chu Dịch ra chữ Quốc ngữ, đñ là:
Kinh Dịch của Ngó Tất Tố, tác giả dựa vào bản Chu Dịch đại toàn đời
Minh - là bộ đầy đủ hơn hết - để dịch ra tiếng Việt Bản dịch này của óng tuy khá đầy đủ, song nhiều chỗ dịch vẫn qöa khñ hiểu, do sử dụng nhiều từ Hán Việt cổ, đói khi óng cũng khóng dịch mà sử dụng luón phiên âm tiếng Hán Nếu người nào khóng biết tiếng Hán thì khñ mà cñ thể sử dụng được quyển của óng
Chu Dịch của cụ Phan Bội Châu, nguyên gốc là bản Dịch học chú giải
Mặc d÷ cụ Phan dịch quyển này từ những năm 30 của thế kỷ XX khi thực dân Pháp buộc cụ phải an trí ở Huế, song đến năm 1969 mới được Nhà sách Khai
Trí xuất bản với tên Chu Dịch Cụ Sào Nam uyên thâm Hán học, cuộc đời
được trải nghiệm qua nhiều phong ba h÷ng tráng, lại để nhiều năm nghiên cứu
về Dịch nên cả phần dịch và phần bình bộ Kinh Dịch của cụ đều hết sức cñ giá trị Cñ lẽ, đây vẫn là một trong những bộ Kinh Dịch đầy đủ và chan chứa nhiều tình cảm của người biên soạn nhất ở Việt Nam cho tới thời điểm này
Kinh Chu Dịch bản nghĩa của Nguyễn Duy Tinh Ngoài phần Kinh thì
Nguyễn Duy Tinh cũng dịch thêm phần Truyện (tức Thập dực), mà trong
cuốn của Ngó Tất Tố khóng cñ
Trang 10Gần đây, cñ một số tác giả khác dịch lại cuốn Chu Dịch song phần lớn
đã khóng vượt được những người đi trước Chỉ cñ cuốn Kinh Dịch đạo của
người quân tử của Nguyễn Hiến Lê là khá đầy đủ nhưng thực ra vẫn còn một
số chỗ tác giả dịch rất khñ hiểu, thậm chí d÷ng nguyên nghĩa đen của tiếng Hán khi dịch ra tiếng Việt nên khi diễn đạt các hào cñ phần gượng ép; ngoài
ra khi dịch tác giả d÷ng ngón ngữ khu vực Nam Bộ nên cũng gây một số khñ khăn cho các độc giả ở các địa phương khác
Tuy vậy, đã xuất hiện một số cuốn như Chu Dịch đại truyện của Lê Anh Minh, Kinh Dịch và cấu hình tư tưởng Trung Quốc của Dương Ngọc
Dũng và Lê Anh Minh giöp ích nhiều cho người đọc; đñ là các bản dịch đầy
đủ, hoàn thiện và cập nhật Ngoài việc căn cứ trên văn bản Hán cổ, các tác giả
- dịch giả còn đối sánh với nhiều bản dịch tiếng Trung Quốc hiện đại, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức… nên độ chính xác của văn bản rất cao
Chính vì cuốn Kinh Dịch cñ một nội dung rất phong phö, nhiều chiều, nên các tác phẩm nghiên cứu ở Việt Nam cũng cñ một nội dung rất khác nhau Những mảng tư tưởng được đề cập chủ yếu đến là bản thể luận, nhân sinh quan, tượng số, thuật bñi toán, độn giáp, v.v Ở đây chöng tói xin được phác thảo theo thứ tự thời gian những nét cơ bản về các tác phẩm được nhiều người biết đến nhất
Cuốn Chu Dịch của cụ Phan Bội Châu vừa là một bản dịch, vừa là tác
phẩm nghiên cứu cñ giá trị Nét đặc sắc trong chö giải của cụ khóng chỉ gñi
gọn trong các phần Phát đoan từ, Phàm lệ, Đề bạt từ mà còn đặc biệt được
thể hiện trong phần bình giảng của cụ đối với từng quẻ Những nội dung cụ đề cập về sự biến hña c÷ng những quy luật của âm dương trời đất, nhất là các nội dung liên quan đến triết lý sống của con người, tuy khóng dài dòng nhưng đã
“không khác gì dọn gai gốc mà thấy đường bằng, vẹt mây mù mà thấy mặt
trời, làm cho chân tướng triết học của Thánh hiền Đông phương bị che lấp mấy trăm đời, nay được bày tỏ một cách sáng suốt, giá trị của bản sách này không phải là ít” [13, 7 – 8]