1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài chiến tranh trong tiểu thuyết việt nam giai đoạn 1975 1985

29 72 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 383,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC Tên đề tài : Đề tài chiến tranh trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1975 - 1985.. Sự hiện diện của

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS-TS LÝ HOÀI THU

Hà Nội 2008

Trang 3

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Tên đề tài :

Đề tài chiến tranh trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1975 - 1985

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 60 22 34

Ngày giao đề tài luận văn: 13/06/2007

Ngày hoàn thành luận văn: 08/08/2008

Người thực hiện:

Họ và tên : Vũ Thị Phương Nga

Lớp : Cao học Văn Khoá: 50

Hệ đào tạo không tập trung

Trang 4

LỜI CÁM ƠN

Tôi xin bầy tỏ sự biết ơn chân thành và sâu sắc đến các Thầy, Cô giáo công tác và giảng dạy tại khoa Văn học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc Gia Hà Nội đã tận tình truyền dạy kiến thức cho tôi trong suốt những năm học vừa qua

Đặc biệt cảm ơn Phó Giáo sư - Tiến sĩ Lý Hoài Thu đã tận tình chỉ bảo

và hướng dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành bản luận văn này

Xin cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành khoá học

Trang 5

MỤC LỤC Trang

LỜI CÁM ƠN 4

MỤC LỤC 5

PHẦN MỞ ĐẦU 7

1 Lí do chọn đề tài 7

2 Lịch sử vấn đề 9

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 15

3.1 Đối tượng nghiên cứu 15

3.2 Phạm vi nghiên cứu 15

4 Nhiệm vụ và đóng góp mới của luận văn 16

4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu 16

4.2 Đóng góp mới của luận văn 16

5 Phương pháp nghiên cứu 16

6 Kết cấu của luận văn 17

CHƯƠNG 1 : DIỆN MẠO VÀ CÁC KHUYNH HƯỚNG CỦA TIỂU THUYẾT VỀ ĐỀ TÀI CHIẾN TRANH GIAI ĐOẠN 1975 – 1985 18

1.1 Nhìn lại chặng đường của tiểu thuyết những năm chống Mĩ cứu nước

18 1.1.1 Sự mở rộng dung lượng phản ánh và qui mô của tiểu thuyết

18 1.1.2 Sự phát triển về chiều sâu nhận thức và phản ánh hiện thực chiến tranh 20

1.1.3 Cảm hứng ngợi ca mang đậm tính chất sử thi 22

1.2 Sự vận động của văn học Việt Nam những năm 1975 – 1985

25

1.2.1 Bối cảnh xã hội Việt Nam sau thời kì chiến tranh chống Mỹ

Trang 6

CHƯƠNG II: HIỆN THỰC CHIẾN TRANH VÀ HÌNH TƯỢNG

NGƯỜI LÍNH TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1975

– 1985

38

2.1 Hiện thực chiến tranh trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1975 –

1985 39 2.1.1 Hồi ức chiến tranh 40 2.1.2 Phân tích hiện thực chiến tranh 42 2.1.3 Chiến tranh với những vấn đề của cuộc sống

mới

48

2.2 Hình tượng người lính trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1975 –

1985 54 2.2.1 Sự chuyển dịch từ nhân vật lí tưởng tới nhân vật tích

thuyết

69

Trang 7

3.1.1 Từ cấu trúc lịch sử – sự kiện sang cấu trúc lịch sử – tâm

hồn

70

3.1.2 Từ cấu trúc đóng đến cấu trúc mở 76 3.2 Thời gian và Không gian nghệ thuật 82 3.2.1 Thời gian – Không gian liền mạch và mang tính thời

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Chiến tranh là một đề tài lớn trong văn học từ trước tới nay Sự hiện diện của đề tài này trong văn học chính là sự phản ánh sinh động nhất bức tranh hiện thực cuộc sống trong những giai đoạn lịch sử đặc biệt của từng dân tộc và của cả loài người Soi chiếu vào cả hai nền văn học phương Tây và phương Đông chúng ta đủ thấy sự chi phối lớn lao của đề tài quen thuộc này Văn học phương Tây với hàng loạt tên tuổi tiêu biểu đã để lại cho văn học thế

giới những tác phẩm đồ sộ và có giá trị như Lep Tônxtôi với Chiến tranh và hoà bình, Sôlôkhốp với Sông Đông êm đềm, E.M Remarque với hàng loạt tác phẩm Mặt trận phía Tây vẫn yên tĩnh, Một thời để yêu, Một thời để chết, Đêm Lisbone, Ba người bạn, Khải hoàn môn và Hêmingway với Giã từ vũ khí, Chuông nguyện hồn ai Chỉ chừng đó cũng đủ để thấy đề tài chiến tranh

trong văn học phương Tây đã vươn tới đỉnh cao của nó

Tất nhiên sự lớn mạnh và những thành tựu của đề tài này trong văn học phương Đông cũng không hề thua kém Điển hình là văn học Trung Quốc với

những pho tiểu thuyết chương hồi nổi tiếng như : Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung, Thuỷ hử của Thi Nại Am Đây là những bức tranh rộng lớn, đồ

sộ và hoành tráng về hiện thực chiến tranh

Văn học Việt Nam không nằm ngoài quỹ đạo của văn học nhân loại Hình thành trong những bối cảnh lịch sử đặc biệt, một nghìn năm phong kiến phương Bắc đô hộ, hơn một trăm năm chịu sự áp bức bóc lột của thực dân Pháp và đế quốc Mĩ, văn học Việt Nam là tấm gương phản ánh trung thành và chân thực hiện thực cuộc sống của đất nước và con người trong nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước Đề tài chiến tranh trong văn học Việt Nam

tự nhiên và sinh động, từng bước trưởng thành qua mỗi chặng đường phát

Trang 9

triển của văn học dân tộc Ở mỗi chặng đường ấy, đề tài chiến tranh lại được tiếp cận và phản ánh từ những góc độ khác nhau, theo những cảm hứng khác nhau Đặc biệt, sau khi hoà bình và thống nhất đất nước (từ tháng 4 năm 1975), văn học vẫn không thôi viết về chiến tranh và càng hăng hái trong nhiệm vụ phản ánh đời sống con người thời hậu chiến Lúc này, người viết đã

có những “độ lùi” cần thiết để nhìn nhận về cuộc chiến, để thâm nhập sâu hơn vào đời sống tinh thần của người lính, vì vậy mà chiến tranh đã trở thành

“siêu đề tài, người lính trở thành siêu nhân vật, càng khám phá càng thấy những độ rung không mòn nhẵn” (Chu Lai – Người lính là một siêu nhân vật

– Báo Sài Gòn giải phóng thứ bảy, 18/ 4/2001)

Văn học Việt Nam sau 1975 đã có sự vận động và đổi mới trong cách tiếp cận và chiếm lĩnh mảng đề tài vốn đã trở nên quen thuộc - đề tài chiến tranh - để tạo nên diện mạo và những khuynh hướng mới mẻ cho dòng văn học thời hậu chiến, đặc biệt đã gặt hái nhiều thành tựu trong thời kì đổi mới (sau 1986) Chính vì thế, văn học (đặc biệt là tiểu thuyết) giai đoạn này không ngừng thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, phê bình, của các luận văn, luận án ở trong và ngoài nước Tuy nhiên, từ trước đến nay, bạn đọc và người nghiên cứu về đề tài chiến tranh trong tiểu thuyết Việt Nam hiện đại thường tập trung vào những thời kì lớn có tính chất ổn định như giai đoạn

1945 -1975; giai đoạn sau 1975 hoặc giai đoạn từ 1986 đến nay bởi ở những giai đoạn này, diện mạo và khuynh hướng văn học cũng như những thành tựu đạt được là đậm nét hơn cả Riêng giai đoạn từ 1975 đến 1985, một giai đoạn ngắn sau khi chiến tranh kết thúc và cũng là giai đoạn chuẩn bị cho công cuộc đổi mới (1986 ) lại chưa được quan tâm một cách đầy đủ

Xuất phát từ những lí do đó, chúng tôi chọn đề tài: “Đề tài chiến tranh trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1975 - 1985” với mục đích làm rõ những

Trang 10

nét mới trong diện mạo, khuynh hướng cũng như mảng hiện thực chiến tranh trong giai đoạn văn học có tính chất “giao thoa”, “bắc cầu” này

2 Lịch sử vấn đề

Văn học Việt Nam sau 1975 đã bước sang một chặng đường mới của tiến trình hiện đại hoá Trong đời sống văn học, văn xuôi đạt được nhiều thành công cả về số lượng và chất lượng sáng tác Cho nên không có gì lạ khi văn xuôi thời kì này trở thành đối tượng được nhiều người quan tâm nghiên cứu Dù trực tiếp hay gián tiếp, khi nhận định về văn xuôi nói chung và tiểu thuyết nói riêng, nhiều người đã quan tâm đến những sáng tác về đề tài chiến tranh

Tiểu thuyết về đề tài chiến tranh và người lính không nằm ngoài sự vận động chung của văn xuôi Trước khi bàn đến những ý kiến trực tiếp đề cập đến vấn đề chiến tranh và người lính trong tiểu thuyết, cần thiết phải kể đến những nhận định khái quát về sự vận động đổi mới của văn xuôi sau 1975 Nhìn chung, văn xuôi Việt Nam sau 1975 đã được phân tích ở những phương diện cơ bản, thể hiện quy luật phát triển cuả văn học và hầu hết các ý kiến nghiên cứu phê bình đều gặp nhau ở sự khẳng định thành tựu cách tân của văn

xuôi thời kì này Hà Xuân Trường nhận định: “có sự đổi mới thực sự trong

văn học” , “dư luận rộng rãi tập trung đánh giá mặt tích cực của văn học, chủ yếu là văn xuôi trong những năm gần đây Chính mặt tích cực đó đại diện cho

sự đổi mới văn học” (trả lời P.V Lễ tưởng niệm và hội thảo về Nguyễn Minh Châu, Văn nghệ Quân đội số 3/1994) Nguyên Ngọc viết: “Tình hình sáng tác

văn học hiện nay theo tôi có hai mặt: một mặt, mặt chính là rất tốt Sáng tác văn học của chúng ta đang hay dần lên Hình như sáng tác về đại thể đang chuyển lên một bình diện mới cao hơn, sâu sắc hơn, văn học hơn, người hơn Tính xã hội rất mạnh mẽ, nhiều khi đến gay gắt, tính nhân văn ngày càng sâu,

Trang 11

không dễ dãi, [105] Nguyễn Quang Thân hào hứng: “Chưa bao giờ văn xuôi phát triển mạnh như bây giờ”, “chưa bao giờ nhà văn được thành thật như bây

giờ”, [52] Bàn về văn học từ 1975 đến 1990, Hoàng Ngọc Hiến nhận xét:

“Điều đặc biệt quan trọng là trong mười lăm năm qua, kinh nghiệm văn học của người sáng tác cũng như công chúng văn học là một sự kinh nghiệm bừng tỉnh, rõ ràng là có một sự thay đổi trong thị hiếu và nhu cầu văn học.”, [45] Tính chất bước ngoặt của văn xuôi sau 1975 được đánh giá gắn với những vấn đề cụ thể hơn trong các bài viết của Nguyên Ngọc, Bích Thu, Vũ Tuấn Anh, Mai Hương v.v Nhà văn Nguyên Ngọc cho rằng văn học đã cố gắng rút khỏi đề tài số phận chung của cả cộng đồng dân tộc, đi đến hiện thực ngổn ngang và vì thế mà phạm vi quan tâm của văn học ngày càng rộng lớn, phong phú: “Cái tiểu vũ trụ lại chính là một vũ trụ rộng lớn khôn cùng”, [36]

Nguyễn Minh Châu, người đã có được những thành công nổi bật ở thể loại tiểu thuyết sử thi trước 1975 cũng đồng thời là nguời nhạy bén với xu thế đổi mới và mạnh bạo với những thể nghiệm văn xuôi hiện đại Dưới góc độ lý luận phê bình, ông cũng là một trong những người có công đầu trong thời điểm chuyển mình có tính chất bước ngoặt khi đưa ra vấn đề nóng bỏng, đầy

tính thời sự bức xúc của nhu cầu đổi mới Trong bài viết Viết về chiến tranh

[19], sau khi đưa ra những nhận định về đặc điểm cơ bản của văn học 1945 –

1975 trong việc khai thác hiện thực chiến tranh và hình tượng người lính, chỉ

ra sự hạn chế của các tác phẩm viết về chiến tranh giai đoạn này là “một chiều, theo hướng tích cực, những mặt xấu được giấu đi trên trang sách”, Nguyễn Minh Châu đặt ra vấn đề thể hiện “con người” trong văn học, kêu gọi những cái nhìn mới, chân thực hơn về chiến tranh, đào sâu chất nhân văn,

nhân bản từ đề tài chiến tranh Luận đề đổi mới của Nguyễn Minh Châu tiếp

Trang 12

tục được đẩy lên mức gay gắt trong bài viết “Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh hoạ”, [19].

Bàn về văn xuôi chiến tranh, Đinh Xuân Dũng đã có những nhận định xác đáng khi chỉ ra “sự xuất hiện tính đa dạng của phuơng thức khái quát hiện thực chiến tranh và tính đa thanh của việc đánh giá hiện thực” của văn xuôi sau 1975; đồng thời nói đến sự “khái quát vĩ mô” và “khái quát vi mô” đối với đề tài chiến tranh như là hai khuynh hướng cùng song tồn Tất nhiên sự song hành hai khuynh hướng này giảm dần kể từ đầu thập kỉ 80, “khái quát vĩ mô” dần nhường chỗ cho “khái quát vi mô”, văn xuôi viết về chiến tranh hướng tới những số phận cá nhân, những biến động phức tạp tinh vi của thế giới tinh thần, [25]

Bích Thu đã phân tích sự vận động đổi mới theo từng chặng và cho rằng văn học từ sau 1975 có thể chia thành hai giai đoạn: Từ 1975 đến 1986 văn học vẫn phát triển theo quán tính cũ, đầu những năm 80 văn học đã có một số tín hiệu đổi mới nhưng phải từ 1986 trở đi văn học mới khởi sắc và đổi mới ở nhiều lĩnh vực Nhà nghiên cứu cũng khẳng định về sự chuyển mình từ

tư duy sử thi sang tư duy tiểu thuyết; theo đó, đề tài chiến tranh cách mạng, lịch sử và dân tộc dần dần nhường chỗ cho đề tài thế sự - đời tư, [145] Vũ

Tuấn Anh trong bài viết Văn học đổi mới và phát triển [1], đã đưa ra nhận

định tính chất dân chủ hoá như một xu hướng vận động của văn học sau 1975

và chỉ ra rằng chủ nghĩa nhân đạo cộng sản và chủ nghĩa yêu nước là những thước đo cơ bản nhằm đánh giá văn học suốt một thời gian dài được vận dụng một cách uyển chuyển và mở rộng hơn, chủ nghĩa nhân văn cũng tạo ra một động lực mạnh mẽ thúc đẩy những thể nghiệm nghệ thuật theo khuynh hướng dân chủ hoá

Trang 13

Khi nhận xét về tiểu thuyết Đất trắng (Nguyễn Trọng Oánh), nhà phê bình Đặng Quốc Nhật nhận xét: “Đất trắng gợi ra cho chúng ta những suy

nghĩ mới cho tiểu thuyết về đề tài chiến tranh lúc này Ở đây người đọc thấy được sự dữ dội của cuộc chiến đấu giữa ta và địch, những thiệt hại nặng nề của ta, những vùng đất trắng, sự chịu đựng đế mức ghê gớm, cái giá của chiến công và chiến thắng cuối cùng.” Có lẽ nhận xét này không chỉ đúng với

trường hợp của tiểu thuyết Đất trắng mà còn là đặc điểm nội dung của đa số

các tiểu thuyết mười năm đầu sau 1975

Trong bài viết Chiến tranh trong các tác phẩm văn chương được giải,

[79]; Tôn Phương Lan đã nhận xét: “văn học viết về đề tài chiến tranh trong những năm chiến tranh ít nói về buồn vui của cuộc sống thường nhật, ít nói về những đau thương, mất mát, hi sinh trên chiến trường, ít quan tâm đến số phận con người mà tập trung quan tâm đến số phận đất nước Sau chiến tranh, văn học viết về đề tài này mới có “xu hướng viết về sự thật của đời sống, viết

về những khó khăn, ác liệt, những sai lầm, vấp ngã, thiếu sót của người lính trong chiến tranh cũng như trước sự cám dỗ của cuộc sống đời thường”; hiện thực chiến tranh đã đựơc nhìn nhận qua thế giới nội tâm, những số phận cá nhân con người

Ở một tầng bậc khác, nhà văn Hồ Phương xem quá trình vận động của văn học về chiến tranh sau 1975 như là “sự trở về của nguyên lí: Văn học là nhân học” Theo ông, văn học sau 1975 chủ yếu là khám phá và biểu hiện tâm hồn, tính cách, sức sống của con người qua những số phận rất khác nhau trong muôn vàn sự kiện xảy ra trong cuộc sống”; và “Để đi sâu vào số phận con người, không ít tác giả đã đi sâu viết về các bi kịch cá nhân nằm trong bi kịch chung của dân tộc trong cuộc chiến Qua những bi kịch ấy, tính cách và bản ngã của con người đã được bộc lộ rõ”, “càng đi sâu vào con nguời, văn

Trang 14

học ta càng gần tới bản chất cuộc sống, do đó tính nhân văn cũng cao hơn”,

[124] Nhà văn Xuân Thiều, trong bài viết Mấy suy nghĩ về mảng văn học chiến tranh cách mạng [125], nhận định: “Nhân dân ta đã trải qua nửa thế kỉ

chiến tranh, nên sự biến động xã hội sẽ vô cùng lớn lao Nó chi phối số phận từng con người, cả trong chiến tranh và thời hậu chiến Nó vẫn là một vấn đề lớn của con người Việt Nam không chỉ trong quá khứ mà còn cả trong hiện tại

và cả tương lai nữa” Ông cũng phê phán cái nhìn cực đoan, đối lập giữa văn học thời chiến với văn học thời bình; những nhận định về văn học thời chiến tranh được ông rút ra từ chính thực tiễn sáng tác của mình đã tỏ ra giàu sức thuyết phục Nhà văn cũng rất sắc sảo khi đưa ra nhận xét về những tác phẩm viết về chiến tranh của những cây bút cổ vũ hết mình cho công cuộc đổi mới:

“Những tác phẩm viết về chiến tranh của họ đã khác trước kia, ngòi bút nhà văn đã dấn sâu đến tận cùng hiện thực chiến tranh, đào sâu vào tính cách Việt Nam, tâm hồn Việt Nam, phát hiện những vẻ đẹp khác nhau, tái hiện lại khuôn mặt chiến tranh đúng như nó vốn có” Bài viết của Xuân Thiều đã phân tích khá toàn diện và sâu sắc những vấn đề của văn học viết về đề tài chiến tranh trong mối tương quan giữa trước và sau 1975

Nhận xét về giai đoạn văn học 1975 – 1985, Hà Xuân Trường đã khẳng định “Nền văn học của chúng ta đang vươn tới Mười năm qua là mười năm thử thách đối với bản chất xã hội chủ nghiã của nền văn học nước ta” Và chúng ta đã vượt qua “mười năm thử thách” bằng những tác phẩm văn học bước đầu manh nha cho một dòng văn học đổi mới

Đúng như Giáo sư Phan Cự Đệ đã tự tin khi đánh giá: “Văn xuôi chúng ta đang bước vào một chặng đường mới với những thành tựu đáng phấn khởi

Nó đang tập trung giải quyết hàng loạt vấn đề mới của chủ nghĩa xã hội trong chặng đường đầu tiên của thời kì quá độ, đồng thời trang trải món nợ tinh

Ngày đăng: 13/05/2020, 20:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w