Quả thật như vậy, nhìn lại lịch sử cuộc vận động giải phóng dân tộc Việt Nam từ khi người Pháp xâm lược cho đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 đặc biệt là giai đoạn 1930- 1945 dưới sự lãnh
Trang 11
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN
LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TRẦN XUÂN CHIẾN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG QUẦN CHÚNG TỪ NĂM 1930
ĐẾN NĂM 1939
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 56
Hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Hồng Tung
Hà Nội, 2008
Trang 22
MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài:
Một trong những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử là “quần chúng nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử nhân loại” Lịch sử dựng nước và giữ nước của nhân dân ta cũng chứng minh hùng hồn chân lý đó
Việt Nam là một quốc gia có vị trí địa lý chiến lược quan trọng nên ngay từ thuở bình minh của lịch sử nhân dân ta đã liên tiếp phải đương đầu với nhiều thế lực ngoại xâm lớn mạnh hơn mình rất nhiều lần Để giữ vững được độc lập cho đất nước và chủ quyền cho dân tộc,` cách duy nhất là phải củng cố khối đoàn kết toàn dân, huy động toàn thể nhân dân tham gia vào sự nghiệp dựng nước và giữ nước Đại Việt sử ký toàn thư có ghi việc tháng 6 năm 1300, vị tướng già Trần Quốc Tuấn ốm nặng, vua Trần ngự tới thăm, có hỏi về kế sách giữ nước nếu lại bị nước ngoài xâm lược, sau khi trình bày kinh nghiệm đánh giặc một cách rõ ràng và tỉ mỉ,
Trần Quốc Tuấn đã khẳng định: khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là
thượng sách giữ nước
Cũng trên lập trường thân dân, Nguyễn Trãi nhận thức rất rõ về vai trò và sức
mạnh của nhân dân Thay mặt vua Lê, trong Chiếu răn dạy Thái tử, ông viết: Mến
người có nhân là dân, mà chở thuyền và lật thuyền cũng là dân; thuyền bị lật mới tin rằng dân như nước
Những bài học kinh nghiệm của cha ông cũng như những nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin đã được vận dụng hết sức sáng tạo vào sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta do chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo
Tiếp thu chủ nghĩa Mác- Lênin ngay từ khi bắt đầu sáng lập ra Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, Hồ Chí Minh đã nêu ra một nguyên lý có tính chất dẫn đường cho toàn bộ sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam, đây là nguyên nhân của
mọi thắng lợi sau này của cách mạng Việt Nam, nguyên lý này là: công nông là gốc
cách mạng
Quả thật như vậy, nhìn lại lịch sử cuộc vận động giải phóng dân tộc Việt Nam
từ khi người Pháp xâm lược cho đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 đặc biệt là giai đoạn 1930- 1945 dưới sự lãnh đạo của Đảng chúng ta đều phát hiện ra một đặc điểm nổi trội, một sự khác biệt giữa phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam với phong trào giải phóng dân tộc ở các nước khác trong khu vực Đông nam Á đó là sự tham gia đông đảo tích cực của quần chúng nhân dân vào sự nghiệp cứu nước chung của toàn dân tộc
Trang 33
Ngay từ khi thực dân Pháp đặt chân vào xâm lược nước ta, chính nhờ sự tham gia của quần chúng nhân dân vào phong trào kháng chiến đã kìm chân địch và giáng cho địch những đòn nặng nề tại Đà Nẵng, 3 tỉnh miền Tây, 3 tỉnh miền Đông Nam kỳ của những lãnh tụ như Trương Định, Nguyễn Trung Trực chính là sức mạnh của quần chúng, tấm lòng cảm khái của quần chúng đã giữ Trương Định lại
để nhận thanh kiếm Bình Tây đại nguyên soái chứ không phải là việc đi nhận chức lãnh binh ở An Giang, chính cảm khái những tấm gương chiến đấu anh dũng của quần chúng nhân dân mà Nguyễn Đình Chiểu đã viết nên những áng văn bất hủ
như Văn tế nghĩa sỹ Cần Giuộc hay Văn tế chiến sỹ trận vong lục tỉnh
Phong trào Cần Vương, do sự tham gia của đông đảo quần chúng nên Nguyễn Thiện Thuật, Phạm Bành, Đinh Công Tráng, Phan Đình Phùng mới có thể duy trì được sức bền của cuộc đấu tranh oanh liệt như ở Bãi Sậy, Ba Đình, Hương Sơn Chính sự che chở, tham gia tích cực của nhân dân đã giúp cho Hùm thiêng Yên Thế Đề Thám có thể giằng co với thực dân Pháp suốt 30 năm trời
Sang đầu thế kỷ XX, phong trào quần chúng đầu tiên đã làm nên một phong trào cách mạng có ảnh hưởng rất lớn đến tình hình trong nước, đó là phong trào biểu tình chống thuế của hàng vạn nông dân ở miền Trung, phong trào Duy Tân, Đông Kinh Nghĩa Thục Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, chính phong trào cách mạng của quần chúng đã làm chấn động toàn cõi Đông Dương, đặc biệt ở Việt Nam, đó
là cuộc biểu tình của quần chúng đòi xóa bản án của Phan Bội Châu, đòi để tang Phan Chu Trinh, bảo vệ nhà chí sỹ yêu nước Nguyễn An Ninh trong những năm
1925 – 1927 và phong trào đó đã tiến lên một bước mới khi nó được tiếp nhận, được dẫn đường bởi ánh sáng của của nghĩa Mác- Lê Nin do sự truyền bá của lãnh
tụ Nguyễn Ái Quốc Từ đây, phong trào công nhân, phong trào yêu nước Việt Nam
đã kết hợp chặt chẽ với chủ nghĩa Mác- Lê Nin, thúc đẩy phong trào cách mạng Việt Nam phát triển ngày một mạnh mẽ hơn, kết quả của nó, một mặt là sự ra đời của Đảng vào đầu năm 1930, mặt khác là cao trào cách mạng 1930-1931 đỉnh cao
là Xô viết Nghệ Tĩnh Trải qua một thời kỳ khó khăn đến những năm 1936- 1939 một cao trào vận động với sự tham gia của đông đảo quần chúng đã tạo ra một cao trào cách mạng duy nhất có ở xứ thuộc địa Việt Nam chứ không có ở xứ thuộc địa khác, đó là cuộc vận động vì các quyền dân sinh dân chủ, đây là những cuộc tập dượt lần lượt từ thấp đến cao, tập dượt cho sự hồi sinh mạnh mẽ của toàn dân tộc khi thời cơ đến đó là Cách mạng tháng Tám năm 1945 Cách mạng tháng Tám diễn
ra trong một thời gian ngắn với hình thái chủ yếu là biểu tình của hàng vạn quần chúng đã làm suy sụp chính quyền địch Một câu hỏi đặt ra: tại sao những chính đảng khác, những tổ chức yêu nước khác cũng được sự ủng không nhỏ của quần
Trang 44
chúng mà không thể duy trì được sức bền của phong trào quần chúng, và cuối cùng phong trào yêu nước của họ đã thất bại, trong khi Hồ Chí Minh và những người cộng sản đã thành công trong việc huy động được quần chúng tham gia phong trào
mà còn giác ngộ quần chúng, nhân bội sức mạnh quần chúng đi đến lật nhào ách thống trị của thực dân Pháp, của Nhật, phong kiến và tạo đà cho toàn dân tộc Việt Nam vượt qua hai cuộc trường chinh để đến thắng lợi cuối cùng Đó chính là bí quyết của Đảng với đường lối lãnh đạo sáng suốt với phương pháp cách mạng khoa học được chỉnh sửa tùy theo từng thời kỳ của thực tiễn, học được từ chính những sai lầm của mình để cuối cùng thành công trong cuộc vận động tuyên truyền, vận động tổ chức quần chúng đấu tranh Đó chính là những lý do khoa học cũng như thực tiễn, lý do lý luận cũng như học thuật để tôi chọn đề tài này làm luận văn thạc
sỹ của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Công tác vận động quần chúng là một nhiệm vụ đặc biệt mang tính chiến lược
trong các phong trào cách mạng do Đảng ta lãnh đạo từ khi thành lập đến nay, đặc
biệt trong các giai đoạn cách mạng từ khi thành lập Đảng đến khi cách mạng tháng Tám thắng lợi, vì vậy, đã có nhiều công trình khoa học và tác phẩm lý luận của nhiều tác giả, bao gồm cả các nhà khoa học và các nhà lý luận, các nhà chính trị nghiên cứu về vấn đề này như:
* Nhóm công trình của các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà Nước:
- Hồ Chí Minh: Về liên minh công nông, Nxb Sự thật, HN, 1977.Gồm một số bài viết của Hồ chí Minh về vấn đề Liên minh công nông từ năm 1924 đến năm
1969, chia làm hai phần: Phần thứ nhất: từ năm 1924 đến năm 1954; Phần thứ hai:
từ 1954 đến năm 1969, Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh đến những cơ sở hình thành liên minh công nông, tầm quan trọng của liên minh công nông trong sự nghiệp cách mạng dân tộc, những kinh nghiệm xây dựng liên minh công nông trong các thời kỳ lịch sử…
- Tôn Đức Thắng: Về Mặt trận dân tộc thống nhất, Nxb Sự Thật, HN, 1977
Tác phẩm trình bày những phát biểu của đồng chí Tôn Đức Thắng về đường lối, chính sách của Đảng về công tác mặt trận dân tộc thống nhất, trong đó đáng chú ý
là sự nhấn mạnh tầm quan trọng công tác Mặt trận đối với sự nghiệp cách mạng, quá trình vận động sự tham gia đông đảo quần chúng trong các thời kỳ
- Võ Nguyên Giáp (chủ biên): Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng
Việt Nam, Nxb CTQG, Hà Nội, 2003 Trong nội dung “Tư tưởng Hồ Chí Minh về
chiến lược đại đoàn kết và chính sách mặt trận dân tộc thống nhất”, tác giả đã trình
Trang 55
bày một cách cơ bản những nội dung chủ yếu trong tư tưởng Hồ Chí Minh về sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, về chính sách Mặt trận dân tộc thống nhất và khẳng định đây là một chính sách rất quan trọng
* Nhóm công trình của các tổ chức, nhà nghiên cứu khoa học:
- Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương: Lịch sử Đảng Cộng Sản Việt Nam
(Sơ thảo), tập 1, Nxb Sự Thật, HN.1981 Tác phẩm trình bày có cơ bản, có hệ
thống sự ra đời và phát triển Đảng Cộng sản Việt Nam trong chặng đường lãnh đạo quần chúng đấu tranh từ năm 1920 đến năm 1954 Trong đó trình bày khái quát mục tiêu, hoạt động cụ thể của công tác vận động quần chúng của Đảng ta qua các giai đoạn cụ thể như : 1930- 1931; 1936- 1939…
- Tác giả Trần Văn Giàu trong một bộ sách viết về giai cấp công nhân Việt Nam
( Giai cấp công nhân Việt Nam, tập 1 Nxb Sử học Viện Sử Học, HN 1962 ; Giai
cấp công nhân Việt Nam, tập 2 Nxb Sử học Viện Sử Học, HN 1962; Giai cấp công nhân Việt Nam, tập 3 Nxb Sử học Viện Sử Học, HN 1963; Giai cấp công nhân Việt Nam - sự hình thành và sự phát triển của nó từ giai cấp” tự mình” đến giai cấp “cho mình”, Nxb Sự Thật, HN, 1958) đã cung cấp bức tranh sinh động về
quá trình hình thành và phát triển của giai cấp công nhân Việt Nam từ lúc mới hình thành, phát triển qua các giai đoạn lịch sử, những đặc trưng chủ yếu, những cống hiến to lớn của giai cấp công nhân Việt Nam đối với sự phát triển của phong trào cách mạng Việt Nam do Đảng ta lãnh đạo Đồng thời, tổng kết kinh nghiệm vận động, lãnh đạo giai cấp công nhân không chỉ đi đầu trong quá trình đấu tranh cách mạng mà còn là trụ cột cho sự đoàn kết rộng rãi của dân tộc Những cuốn sách này
là sự mở đầu tốt đẹp cho những công trình tiếp theo của những nhà khoa học Việt Nam nghiên cứu về giai cấp công nhân
- Tác giả Nguyễn Công Bình trong cuốn Mặt trận dân tộc thống nhất (Nxb
Khoa học, Hà Nội, 1963) đã nghiên cứu một cách hệ thống quá trình tập hợp lực lượng dân tộc trước khi đảng của giai cấp công nhân ra đời, các hình thức mặt trận dân tộc thống nhất qua các thời kỳ lịch sử từ khi Đảng thành lập, thời kỳ vận động cách mạng tháng Tám, kháng chiến chống Pháp, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc sau năm 1954, kháng chiến chống Mỹ
- Uỷ Ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Lịch sử Mặt trận dân tộc
thống nhất Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, 2007 Gồm ba quyển,
Quyển 1: từ năm 1930 đến năm 1954; Quyển 2: từ năm 1954 đến năm 1975; Quyển 3: từ năm 1975 đến năm 2004 Đặc biệt, trong Quyển 1(1930-1954): trình bày lịch
sử Mặt trận từ khi thành lập (1930) đến khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng với quá trình đấu tranh gian khổ trong công tác vận động quần chúng cách mạng để thành
Trang 66
lập Mặt trận Dân tộc thống nhất, qua các phong trào Mặt trận, tiến tới thành lập Mặt trận Việt Minh, đoàn kết toàn dân làm Cách mạng tháng Tám thắng lợi, tiến hành 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, giải phóng hoàn toàn miền Bắc, làm cơ sở cho cuộc đấu tranh thống nhất đất nước sau này
- Ngoài ra còn nhiều bài viết của nhiều tác giả về công tác vận động quần chúng của Đảng trên các báo và tạp chí như:
+ Lê Mậu Hãn: Hồ Chí Minh hoàn thiện về đường lối chính trị và tổ chức cho
sự ra đời của Mặt trận dân tộc thống nhất ở Việt Nam, Nghiên cứu lịch sử, số 2,
1992 Tác giả đã trình bày một cách xác đáng những đánh giá của mình về quá trình Hồ Chí Minh cũng như Đảng ta khẳng định và hoàn thiện về đường lối chính trị và tổ chức cho sự ra đời của Mặt trận dân tộc thống nhất cho cách mạng Việt Nam Tiến trình này, theo tác giả, việc xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất được khởi nguồn từ năm 1930 và được hoàn thiện về chính trị và tổ chức vào năm 1941
+ Lê Mậu Hãn: Chủ nghĩa dân tộc truyền thống và tư tưởng độc lập tự do -
động lực, mục tiêu đại đoàn kết, đại thành công của cách mạng Việt Nam, Nghiên
cứu lịch sử, số 6, 1995 Tác giả khẳng định độc lập tự do là tư tưởng cách mạng vĩ
đại của Hồ Chí Minh có bệ đỡ của chủ nghĩa dân tộc truyền thống, phản ánh khát vọng của hiện tại và rọi sáng cả tương lai của dân tộc, chính là chìa khoá vạn năng, điểm hội tụ thắng lợi của chiến lược “đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; thành công, thành công, đại thành công.” Nội dung và hình thức tổ chức tập hợp lực lượng trong chiến lược đại đoàn kết của Đảng và Hồ Chí Minh được thực hiện phong phú qua các thời kỳ cách mạng của nhân dân Việt Nam
+ Phạm Hồng Tung: Lịch sử cuộc vận động vì các quyền dân sinh, dân chủ ở
Việt Nam(1936- 1939), Nxb CTQG, HN, 2008 Với nguồn tư liệu phong phú từ
các tài liệu trong nước và nước ngoài, tác giả đã trình bày một cách ngắn gọn nhưng đầy đủ về tất cả các cuộc vận động vì các quyền dân sinh, dân chủ trong thời
kỳ 1936- 1939, đặc biệt tác giả rất chú trọng trình bày về những diễn biến cách mạng tại các vùng nông thôn Công trình mang lại cách nhìn tổng quan nhưng cũng rất rõ ràng về những thành công cũng như những hạn chế của Đảng Cộng sản Đông Dương trong công tác vận động quần chúng thời kỳ đấu tranh dân chủ công khai 1936- 1939
+ Phạm Hồng Tung: Các cuộc vận động bầu cử và tranh cử trong cuộc đấu
tranh vì các quyền dân sinh, dân chủ (1936-1939), Nghiên cứu lịch sử, số 10 (366),
2006, tr 39-46 Tác giả đã góp phần làm sáng tỏ hơn một loại hình đấu tranh cách mạng sáng tạo, linh hoạt của Đảng ta, phù hợp của với hoàn cảnh lịch sử trong thời
Trang 77
kỳ đấu tranh vì các quyền dân sinh, dân chủ ở Việt Nam từ 1936- 1939, loại hình “ đấu tranh nghị trường” Chính thông qua các cuộc vận động bầu cử này đã vận động được sự tham gia của hàng triệu quần chúng vào phong trào do Đảng ta lãnh đạo Uy tín chính trị của Đảng do vậy được củng cố và tăng cường thêm
+ Phạm Hồng Tung: Về quyết định chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng
Cộng sản Đông Dương trong quá trình lãnh đạo cuộc vận động dân chủ 1936-1939
ở Việt Nam, Nghiên cứu lịch sử, số 2 (358), 2006, tr 3-14 Tác giả trình bày những
điều kiện khách quan và chủ quan cũng như quá trình chuyển hướng chỉ đạo chiến lược và sách lược của Đảng trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam thời kỳ 1936- 1939, từ đó làm sáng tỏ hơn vai trò lãnh đạo của Đảng, từ những thành công
và cả những hạn chế trong quá trình lãnh đạo cuộc vận động dân chủ sôi nổi, phong phú, được coi là cuộc “Tổng diễn tập lần thứ hai” cho thắng lợi của cách mạng tháng Tám năm 1945
Các tác giả nói trên dù là những nhà lãnh đạo hay những nhà khoa học đều đã cố gắng trình bày công trình của mình theo những cách thể hiện riêng biệt và để đạt được những hiệu quả ở những mức độ khác nhau Tuy nhiên, những tác phẩm của những nhà lãnh đạo thường nặng về chính trị vận động nên tính khoa học chưa thực
sự nổi bật, còn những công trình của những nhà khoa học thường chi tiết hóa trong những vấn đề nghiên cứu riêng Mặc dù đã có một số nghiên cứu đề cập ở mức độ khác nhau nhưng cho đến nay, nhìn chung, chưa có một công trình chuyên khảo nào nghiên cứu toàn diện về sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động quần
chúng từ 1930 đến 1939 Trong những năm gần đây, việc công bố bộ Văn kiện
Đảng Toàn tập đã cho phép nghiên cứu đầy đủ, cụ thể hơn về vấn đề này Đây là
một thuận lợi, một chỗ dựa rất căn bản của Luận văn
Kế thừa những kết quả nghiên cứu đó, luận văn sẽ làm rõ công tác vận động quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng ta với những thành công và hạn chế trong giai đoạn từ 1930 – 1939
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu:
Hệ thống hóa, làm sáng tỏ đường lối, chủ trương và biện pháp của Đảng trong lĩnh vực tuyên truyền, vận động, tổ chức và hướng dẫn quần chúng đấu tranh Trên cơ sở đó rút ra những nhận xét về sự thành công và chưa thành công của Đảng trong lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn công tác vận động quần chúng trong từng thời kỳ cách mạng cụ thể, đồng thời rút ra những bài học thiết thực cho công tác vận động quần chúng của Đảng và Nhà nước ta trong bối cảnh hiện nay của thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa
Trang 88
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích trên, luận văn cần giải quyết các vấn đề cơ bản sau:
- Làm rõ quá trình hình thành quan điểm đường lối và phương pháp vận động quần chúng của Đảng
- Làm rõ quá trình hiện thực hóa đường lối và phương pháp đó
- Trên cơ sở đó đánh giá khách quan những thành công và hạn chế của Đảng trong lãnh đạo công tác vận động quần chúng thời kỳ này, qua đó rút ra những bài học kinh nghiệm
4 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài giới hạn nghiên cứu trong quá trình hình thành, phát triển của chủ trương, quan điểm của Đảng về công tác vận động quần chúng và thực tiễn tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương đó trong giai đoạn 1930- 1939
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác quần chúng, các văn kiện, nghị quyết về công tác vận động quần chúng nói riêng và các văn kiện, nghị quyết chỉ đạo cách mạng của Đảng nói chung trong giai đoạn từ 1930- 1939
5.2 Đề tài thuộc vấn đề lịch sử nên phương pháp nghiên cứu chủ yếu là các phương pháp nghiên cứu của khoa học lịch sử và lôgic Ngoài ra luận văn còn phối hợp sử dụng các cách tiếp cận khác của khoa học chính trị, phương pháp phân tích, đồng đại, lịch đại, tổng hợp, so sánh, khái quát, rút ra kết luận để làm rõ hơn hai phương pháp trên
6 Kết cấu luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn có 3 chương, 7 tiết
Chương 1: Công tác vận động quần chúng của Đảng những năm 1930
-1935
1.1 Bối cảnh lịch sử và các vấn đề đặt ra đối với công tác quần chúng của Đảng
1.2 Công tác vận động quần chúng của Đảng những năm 1930 - 1931 1.3 Công tác vận động quần chúng của Đảng những năm 1932 - 1935 Chương 2: Công tác vận động quần chúng của Đảng những năm 1936-1939 2.1 Chủ trương của Đảng về công tác vận động quần chúng trong tình hình mới
2.2 Quá trình tổ chức thực hiện công tác quần chúng giai đọan 1936-1939 Chương 3: Ý nghĩa và kinh nghiệm
Trang 99
3.1 Ý nghĩa
3.2 Một số kinh nghiệm
Trang 10
10
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương: Những sự kiện lịch sử Đảng, tập
1( 1920- 1945 ), Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1976
2 Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương: Lịch sử Đảng Cộng Sản Việt
Nam (Sơ thảo), tập 1, Nxb Sự Thật, HN, 1981
3 Nguyễn Khánh Bật ( Chủ biên ): Những bài giảng về tưởng Hồ Chí Minh,
Nxb CTQG, HN, 1999
4 Nguyễn Công Bình: Mặt trận dân tộc thống nhất trong cách mạng Việt
Nam, Nxb Khoa học, Hà Nội, 1963
5 Nguyễn Công Bình: Một số vấn đề về lịch sử giai cấp công nhân Việt Nam,
Nxb Lao Động, Hà Nội, 1974
6 Nguyễn Công Bình: Tìm hiểu giai cấp tư sản Việt Nam thời Pháp thuộc,
Nxb Văn- Sử- Địa, Hà Nội, 1959
7 Bộ Giáo Dục và Đào Tạo: Giáo trình lịch sử Đảng Cộng Sản Việt Nam
(Dùng trong các trường Đại học), Nxb CTQG, HN, 2006
8 Trường Chinh: Chủ Tịch Hồ Chí Minh lãnh tụ kính yêu của giai cấp công
nhân và nhân dân Việt Nam, Nxb CTQG, HN, 1980
9 Trường Chinh: Tiến lên dưới lá cờ của Đảng, Nxb Sự Thật, HN, 1963
10 Lê Duẩn: Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng vì độc lập, tự do vì chủ nghĩa xã hội
tiến lên dành những thắng lợi mới, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1976
11 Lê Duẩn: Giai cấp công nhân và liên minh công nông, Nxb Sự Thật, HN,
1976
12 Lê Duẩn: Giai cấp vô sản với vấn đề nông dân trong cách mạng Việt Nam,
Nxb Sự thật, HN, 1965
13 Lê Duẩn: Toàn tập, Nxb Sự Thật, HN,1987
14 Đảng CSVN: Trích văn kiện Đảng, tập 1, Nxb SGK Mác-Lênin, HN, 1979
15 Đảng CSVN: Văn kiện Đảng, toàn tập, tập 1, Nxb CTQG, HN, 2005
16 Đảng CSVN: Văn kiện Đảng, toàn tập, tập 2, Nxb CTQG, HN, 2005
17 Đảng CSVN: Văn kiện Đảng, toàn tập, tập 3, Nxb CTQG, HN, 2005
18 Đảng CSVN: Văn kiện Đảng, toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, HN, 1999
19 Đảng CSVN: Văn kiện Đảng, toàn tập , tập 5, Nxb CTQG, HN, 2002
20 Đảng CSVN: Văn kiện Đảng, toàn tập, tập 6, Nxb CTQG, HN, 2000
21 Đảng CSVN: Văn kiện Đảng (1920-1945), tập 1, Nxb CTQG, HN, 2000
22 Võ Nguyên Giáp ( chủ biên ): Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách