1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luật điều ước quốc tế một số vấn đề lý luận và thực tiễn

138 98 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 138
Dung lượng 4,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài này, chúng tôi chủ yếu sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây: Phương pháp phân tích, so sánh sự giống và khác nhau giữa các quy phạm c

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN THỨ NHẤT

PHẦN THỨ HAI

Chương 1 Lý luận cơ bản ve Luật điều ước quốc tẻ 1 Tổng quan về Luật điều ước quốc tế

2 Nguồn của luật Luật điều ước quốc t ế

3 Các bên của điều ước quốc tế

Chương 2 Pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài về điều ước quốc tê 1 Các vãn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam về điều ước quốc tế

2 Các văn bi-n quy phạm pháp luật của nước ngoai về điểu ước quỏc té

3 So sánh phạm pháp luật của Việt Nam và pháp luật của nước ngoài vé điều ước quốc t ế

4 Một số diều ước quốc tê song phưưng và đa phưuTig

I Thực trạng ký và thực hiện điều ước quốc tế sau khi han hành Pháp lènh về điều ước quốc tế nam 1998

Chương 3 Hoạt động điều ước quốc tê và kiến nghị nhầm thực thi pháp Luạt vể điều ước quoc tẻ 1 Ký, phê chuẩn, phê duyệt điều ước quốc tế

2 Gia nhập, bao lưu điều ước quốc tế

3 Thực hiện điều ước quốc tế

4 Các kiến nghị

PHẦN KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 3

ĐỂ TÀI GỒM HAI PHẨN

Phần thứ nhất: PHẦN t ó m TAT đ ề t à i

Phần thứ hai: PHẦN NỘI DUNG Đ Ể TÀI

Trang 4

Phần thứ nhất: PHÂN TÓ M TĂ T ĐÊ TÀI

Trang 5

PHẨN M ỏ Đ ẨU

1 Tính c ấ p thiết c ủ a đề tài.

Việt Nam đang thực hiện dân chủ hoá trong đời sống xã hội, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập kinh tế quốc tế, mơ rộng hợp tác song phương và đa phương, khai thông quan hệ với Quỹ tiền tệ thế giới(IM F), W B , Ngân hàng phát triển Châu Á (A D B ), tham gia vào Hiẹp hội ĐỏngNam Á (A S E A N ), Khu vực mậu dịch tự do (A F T A ), Diễn đàn hợp tác kinh têChâu Á-Thái Bình Dương (APEC), Diễn đàn hợp tác Á-Áu (A S E M ) và chuẩn bị gia nhập W T O Thêm vào đó, việc thực thi Hiệp dinh thương mại Việt Nam - Hoa K ỳ, quan hệ hợp tác trên cơ sở đôi bên cùng có lợi giữa V iệt Nam với rung Quốc, với các quốc gia Tây Âu, với Nhật Bản, Mỹ và với nhiều quốc gia khác trên thế giới đã thể hiện đường lối đối ngoại “m ở” và hợp tác quốc tế ngày càng

đa dạng him của nhà nước ta Điều đó đã được khẳng định trong các Nghị quyết của Đảng và trong các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước Việt Nam đã tham gia vào sinh hoạt cộng đồng quốc tế bằng đối thoai, hằng sự hiểu biết lẫn nhau, trên cơ sở những nguyên tắc và các quy phạm của luật quốc tế hiện đại Điều đó đã thể hiện bằng việc ký kết các văn bản pháp lý quốc tế quan trong với nước ngoài về kinh tế, về chính tri và các lĩnh vực hợp tác khác Đến nay, nước Id

đã lập quan hộ ngoại giao với hơn 167 nước, mở rộng quan hệ thương mại với trên 150 nước Trong điều kiện quan hệ quốc tế nhiều mặt đó việc ký kết các văn kiện pháp lý quốc tế tương ứng với từng lĩnh vực hoạt động đối ngoại của nhà nước là điều cần thiết Đ ể làm được điều đó, việc nghiên cứu pháp luật nước ngoài nói chung và luật điều ưức quốc tế nói riêng có vai trò rất quan trọng và quyêt định Irong bôi cảnh toàn cầu hoó hiện nay và tác động đến quá trình cải cách tư pháp của V iệt Nam hiện nay Chính vì vậy, việc chú trọng tới khâu hoàr thiện, chỉnh sửa, bổ sung, ban hành văn bản pháp luật và văn ban hướng dẫn thực hiện về điều ước quốc tế là cấp thiêl đối với Đảng và Nhà nước ta trong giai đoar còng nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước

Trang 6

Tầm quan trọng của các điẻu ước quốc tế về lĩnh vực hội nhập kinh tế quốc

tế đã được Ngh- quyết Đại hội Đang V III đă chỉ rõ “M ở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động tham gia vào các tổ chức quốc tế và khu vực, củng cố và nâng cao vị thế nước ta trên trường quốc tế” , Đại hội Đảng IX đã khẳng định “Phát huy cac

độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nliập kinh tê quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững”, Nghị quyết 07-N Q /TW ngày 2 7 1 1 2 0 0 1 của Bộ Chính trị về hội nhập kinh tế quốc tế đã tổng kết và xác định ‘ ’Đường lối đổi mới và chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng ta là nhất quán theo tinh thần phát huy cao độ nội lực, khai thác tối đa các nguồn lực bên ngoài để tạo thế lực mới cho công cuộc phát triển kinh tế xã hội, đưa nước ta tiến nhanh, tiến mạnh và vững chắc trong thế kỷ X X I ”

Hiến pháp của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa V iệt Nam năm 1992, điều

14 đã khẳng dịnh V iệt Nam thực hiện chính sách hoà hình, hữu nghị, mở rộng giao lưu và hợp tác với tất cả các nước trên thế giới, không phân biệt ch ế đệ chính trị và xã hội khác nhau trên cơ sở ký các điều ước quốc tế với các quốc gia

có liên quan

Xuất phát từ những quan điểm đó, điều ước quốc tế đã chiếm môt vị trí đặL biệt quan trọng trong hoạt động của các CƯ quan quyền lực của nhà nước ta thông qua điều ước mà nhà nước ta thể hiện và thực hiện đường lối và chính sách đối ngoại của mình nhằm bảo đảm quyền lợi, lợi ích dân tộc và an ninh quốc gia hoà bình và an ninh thế giới Ký kết và thực hiện các điều ước quốc tế là chức năng của nhà nước và trực tiếp có liên quan đến nhiều lĩnh vực trong nước và quốc tế

Việt Nam là một quốc gia độc lập có chủ quyền và là chủ thể của luật quốc

tố hiện đại, đê tài sẽ tập chung nghiên cứu về điều ước quốc tế, về những vấn đc

lý luận và thưc tiễn, phân tích các mối quan hệ giữa các cơ quan quyền lực nhí nước trong việc ban hành, ký kết và thực hiện điều ước quốc tế V iệc hoạt độn£

Trang 7

có hiệu quả của các cơ quan này đã phản ánh chính sách đối ngoại, uy tín quốc gia của Việt Nam trên trường quốc tế.

Thực thi điều ước quốc tế không chỉ phụ thuộc vào điều kiện chính trị, kinh

tế xã hội trong nước, vào nền tảng pháp lý, vào các yếu tố khách quan khác mà còn phụ thuộc vào hộ thống các văn bản quy phạm pháp luật vì đó là cơ sở để cơ điều ước quốc tế đi vào cuộc sống

Đề tài sẽ nghiên cứu về kế thừa quốc tế, về những điều ước đã ký trong thời

kỳ pháp thuộc, về những công trình nghiên cứu của các nhà khoa học-luật quốc

tế ở trong và ngoài nước

Hiện nay, Luật về ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế đã được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khoá X I ngày 14.6.2005 và đã ban hành1 (gọi tất là Luật về điều ước quốc tế năm 2005), việc cải cách tư pháp đang được chú trọng, đặc biệt là việc sửa đổi, bổ sung, xây dựng và ban hành vãn hản pháp luật cho hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay X ét cả về mặt lý luận và thực tiễn thì việc lựa chọn đề tai này là cần thiết nhằm cung cấp thêm nguồn tư liệu cho công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học Xung quanh vấn để về luật điều ước quốc tế: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn đã được nhiều nhà khoa hoc trong

và ngoài nước nghiên cứu, nhưng chưa được nghiên cứu một cách độc lập và Loàn diện vấn đề này Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài này vá thông qua đó nhằm giúp cho các han sinh viên, học viên và những người quan tâm tìm hiểu thêm về luật quốc tế nói chung và luật về điều ước quốc tế nói riêng

Luật điều ước quốc tế là một ngành quan trọng nhất trong hệ thống pháp luật quốc tế, là cơ sở pháp lý để tạo ra nguồn của luật quốc tế, đặc biệt có ý nghĩa trong việc bảo vệ trật tự pháp luật quốc tế, đồng thời bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của xã hội và của công dân trung sinh hoạt cộng đổng quốc tế Tuy nhiên hiện nay việc nghiên cứu luật điều ước quốc tế trong khoa học luật quốc tê' còn nhiều vấn đé đòi hải phai tiếp tục nghiên cứu để chúng ta thấy rõ hơn vai trò điếu chỉnh

1 I.uậi này sc có hi6u lực vào ngày 0 1 /0 1 /2 0 0 6

3

Trang 8

các mối quan hộ quốc tế của đạo luật cơ bản nhất này đối với cộng đồng quốc tế, đồng thời để thực thi có hiệu quả phải tăng cường kiểm tra giám sát quốc tế việc

tự nguyện thực hiện các cam kết quốc tế (nguyên tắc pacta sunt servanda) từ phía các chủ thể của luật quốc tế

Do đó, việc nghiên cứu các quy định cua luật điều ước quốc tế, về việc thực hiện chúng trong thực tiễn và việc chuyển hoá các quy phạm luật quốc tế vào pháp luật của mỗi quốc gia mà trong đó có V iệt Nam la cần thiết trong giai đoạn cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế hiện nay

Các vấn đề đã trình bày trên đây chính là lý do luận chứng cho việc chúng

tôi quyết định lựa chọn đề tài M Luật điểu ước quốc tế: Một s ố ván đê lý luận và

học Quốc gia Hà Nội

2 M ụ c tiêu và p h ạm vi nghiên cứu của đề tài

Nghiên cứu về lý luận, thực tiễn ký và thực hiện điều ước quốc tế theo phap luật Việt Nam và có sự phân tích so sánh với pháp luật nước ngoài, đỏng thời bình luận và kiến nghị những giải pháp nhằm thực thi Luật vổ điểu ước quốc tế nàrn 2 0 0 5 của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Nghiên cứu các vãn bản quy phạm pháp luật của V iệt Nam và của một số nước trên thế giới về điều ước quốc tế và về luật điều ước quốc tố

3 Phương pháp nghiên cứu và các nguồn tư liệu.

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài này, chúng tôi chủ yếu sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây: Phương pháp phân tích, so sánh (sự giống và khác nhau giữa các quy phạm của phí p luật về điều ước quốc tế của Việt Nam VỚI pháp luật về điều ước quốc tế nước ngoài để từ đó rút ra những két luận cần thiết); Phưưng pháp tổng hợp (các quan điểm khoa học xung quanh các văn ban pháp luật về điều ước quốc tế); Phương pháp thống kê (một số các só liệu điều ước quốc tế song phương, khu vực, liên khu vực và toàn cầu mà Việt Nam

đã ký kốt tham gia hoặc gia nhập)

4

Trang 9

Tư liệu được dùng trong nghiên cứu và thực hiện đề tài là các ấn phẩm khoa hi>c, các tài liệu chính thức đã được đãng công bố trên các tạp chí, các chuyên san và trên các phương tiện thông tin khác, các công trinh khoa học trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài, các giáo trình đang được giảng dạy trong các trường đại học trơng và ngoài nước Ngoài ra, đề tài còn được nghiên cứu Irên cơ

sở các văn kiện của Đảng và Nhà nước về chính sách đối ngoại, về hội nhập kinh

tế khu vực và thế giới

4 Đóng góp củ a đề tài.

Các kết quả nghiên cứu của đề tài này có thể được dùng làm tài liệu giảng dạy hoặc làm tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh, cũng như cho các cán bộ giảng dạy, những nhà nghiên cứu và những ai quan tâm đến luậl quốc tế nói chung và luật về điều ước quốc tế nói riêng

5 K ết cấu của đề tài.

Đề tài bao gồm: Phần mở đầu, Phần nội dung và Phần kết luận

Cuối đề tài là phụ lục và danh sách tài liệu được sử dụng trong quá trình Ihực hiện đề tài

PHẨN NỘI DUNG

Phần nội dung của đề tài được chia làm 3 chương:

Trong chương này tác giả nghiên cứu cơ sở lý luận chung của đề tài bao gồm các vấn đề: T hứ n h ấ t, về tổng quan luật điều ước quốc tế; T hứ h a i, về nguồn của luật điều ước quốc tế; T hứ ba, về các bên của điếu ước quốc tế

Oua đó, tác giả đã phân tích, tổng hợp và so sánh để độc giả hiểu thêm về điều ước quốc tế, về luật điều ước quốc tế Tổng hợp các văn bản pháp lý quốc tế

và quỗc gia là nguồn của luật điều ước quốc tế và đối tượng điều chỉnh của cácloại nguồn này Phân biệt các bên (hoặc chủ thể) của điều ước quốc tế, tức là sựkhác nhau giưa chủ thể pháp luật quốc gia và chủ thể pháp luât quốc Lố khi các chủ thể này tham gia vào quan hệ pháp luật quốc gia và quốc tế

Trang 10

Chương // P h áp luật Việt Nam và pháp luât nước ngoài về điểu ước

quốc tế.

Chương II nghiên cứu các vấn đề: T hứ nhất, về hệ thống các văn bản pháp luật của V iệt Nam điều chỉnh về quan hệ đối ngoại mà cụ thể là hoạt động điều ước như các hiến pháp, luật, pháp lệnh, nghị d nh và các điều khoản được quy định trong các vãn ban quy phạm pháp luật khác nhau nhưng điều chỉnh về chức năng đối ngoại, quan hệ điều ước quốc tế của nhà nước; T hư h ai, về hệ thống các vãn bản pháp luật của nước ngoài điều chỉnh về quan hệ điều ước; T h ứ ba, trên

cơ sỏ các văn bản quy phạm pháp luật trong và ngoài nước cùng với các văn bản quy phạm pháp luật quốc tế, tác gia đã phân tích, so sánh sự giông và khác nhau trong việc ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế và đưa ra các ví dụ trong thực tiễn hoạt động điều ước quốc tế để minh hoạ; T hứ tư, tổng kết một số điều ước song phương và đa phương mà Việt Nam đã ký kết trong thời gia qua, đồng thời phân tích mục đích và ý nghĩa thực tiễn của các điều ước đó; T hứ năm ,

là phân tích thực trạng việc ký kết và thực hiện điều ước quốc tế của nước ta trong thời gian qua, những việc đã làm tốt và những điều còn hạn ch ế cần nghiên cứu tiếp để ngày một hoàn thiện hơn

pháp luật về diều ước quốc tế.

Trong chương này nghiên cứu một số vấn đề chủ yếu sau đây: T hứ nhất,

về các ch ế định ký, phê chuẩn và phê duyệt điều ước quốc tế Phân tích thẩm quyền ký, phê chuẩn và phê duyệt điều ước của các cơ quan nhà nước cổ thẩm quyền theo luật định, so sánh với pháp luật nước ngoài và pháp luật quốc tế trong chế định tương đương Qua đó kết luận rằng mỗi quốc gia có quy định riêng, tất nhiên có dựa trên cơ sở pháp luật quốc tế, nhưng đề thể hiện quyền tự quyết trong các vãn ban pháp luật của mình; T hứ hai, về gia nhập và bảo lưu điều ước quốc

tế Dựa trên cơ sở pháp lý quốc tế và quốc gia, tác giả đã phân tích khi nào thì gia nhập và khi nào thì bao lưu điều ước và cơ quan nào có thẩm quyen thực hiện-

6

Trang 11

T h ứ b a, về việc thực hiện điều ước Nghiên cứu và so sánh nội dung các ván bản quy định việc thực hiện điều ước giữa V iệt Nam và nước ngoài dựa trên quy định của pháp luật quốc tế, việc cá c bên điều ước tir nguyện thực hiện điều ước theo tinh thần của nguyên tắc pacta sunt servanda; T h ứ tư, về cá c kiến nghị Trẽn cơ

sở nghiên cứu tổng quan đề tài này tác giả đã đưa ra m ột số kiến nghị liên quan đến quá trình ký kết và thực hiện điều ước quốc tế của V iệt Nam và đặc biệt là những kiến nghị đều nhằm mục đích nãng cao sự hiểu biết về luật về điều ước quốc tế, về thẩm quyền của các cơ quan nhà nước, về mối quan hệ công tác và việc phối kết hợp giữa cá c cơ quan quyền lực nhà nước trong quá trình ký kết và thực hiện điều ước quốc tế

PH Ầ N K Ế T LUẬN

Tác giả đã tập chung đánh giá những kết quả đã thu được trong tiến trình thực hiện đề tài, khẳng định việc nghiên cứu đề tài này là cần thiết đối với công tác đào lạo và nghiên cứu khoa học của một cơ sở đào tạo và cho rằng luât điều ước quốc tế luôn có vị trí, vai trò rất quan trong của trong hoạt động đối ngoai của quốc gia và góp phân không nhỏ trong quá trình xây dựng quy phạm pháp luật quốc tế vì hoà bình và an ninh thế giới

Đ ể hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học này, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ của Đại học Q uốc gia Hà Nội, của K h oa Luàt trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, của cá c nhà chuyên môn trong và ngoài K h oa đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để tác giả có co hội tiếp cận nghiên cứu và nghiên cứu thành công

đề tài này T ất nhiên, đề tài khó có thể tránh khỏi những hạn c h ế và thiếu sót, tác giả hy vọng nhận được sự phê bình, bình luận và góp ý của c á c nhà chuyên môn trong và ngoài K hoa để để tài được thực thi trong cu ộc sống

Chú nhiệm đề tài

TS L ê Văn Bính

Trang 12

P h ầ n thứ hai: PHÂN NÔI ['UNG ĐÊ TAI

Trang 13

Chương I: LÝ LU a N c ơ b ả n v ề l u ậ t đ i ể u ư ớ c q u ố c t ế

1 Tổng quan về luật điều ước quốc tế.

Điều ước quốc tế là thỏa thuận giữa hai, một số quốc gia hoặc giữa các chủ thể khác của luật quốc tế, có liên quan đến việc thiết lập, thay đổi hoặc tạm dừng các mối quan hộ giữa chúng với nhau về các quyền và nghĩa vụ: chính trị, kinh tế hoặc về các mối quan hệ khác Điều ước quốc tế là nguồn cơ bản của luật quốc tế

mà khái niộm của nó được hiểu là bao gồm tất cả các thỏa thuận quốc tế với các tên gọi khác nhau và với các loại (hình thức) khác nhau chẳng hạn như: điều ước, thỏa thuận, cồng ước, tuyên bố chung, cồng hàm, thỏa ước v.v Mặc dù, chúng

có các tên gọi khác nhau như vậy nhưng về bản chất pháp lý chúng đều có tên gọi chung là điều ước quốc tế Tức là, các điều ước quốc tế đều có gía trị pháp lý như nhau mà không phụ thuộc vào tên gọi Điều ước quốc tế có thể được ghi nhận trong một văn bản hoặc trong nhiều vãn bản liên quan với nhau Điều ước quốc tế đưoc ký kết với nhau theo dạng văn bản, còn văn bản thỏa thuận bằng miệng thường ít gặp trong thực tế của đời sống quốc tế Ví dụ, điều ước miệng (thoả thuận) năm 1946 giữa Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp và Trung Quốc về nguyên tắc phân chia công bằng các “ghế” để lựa chọn vào là thành viên không chính thức của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc Thoả thuận miệng này là bắt buộc và được xem như là một thoả thuận bằng văn bản1

Theo số lượng của các bên tham gia, điều ước quốc tế được chia thành điều ước quốc tế song phương và điều ước quốc tế đa phương, điều ước quốc tế khu vực, liên khu vực và điều ước quốc tế toàn cầu Điều ước quốc tế mà các quốc gia

có thể gia nhập (hoặc tham gia) thì gọi là điều ước mở, điều ước quốc tế mà trong nội dung của nó quy định việc hạn chế gia nhập (hoặc tham gia) vì một lý do nào

đó thì gọi là điều ước đóng, điều ước quốc tế có thể có hiệu lực pháp lý và cũng

có thể khổng có hiệu lực pháp lý - gọi là điều ước vô hiệu Điều ước quốc tế thường được soạn thảo theo các phần: phần giới thiệu quy định vể nguyên nhân và mục đích của điều ước, trong phần này đôi khi còn ghi nhận họ tên người có thẩm quyền và việc kiểm tra giấy uỷ quyền, tên gọi các quy phạm cu thể (ví dụ như,

1 P.A.K&iaMKapHH H K) H MmaHCB Meactynapo.iHoe n p a B O -M OKCMO 2004 -C 200-201

Trang 14

trong các điều ước về hoà bình đó là quy định về ngừng chiến tranh); phần nội dung bao gồm những điều khoản cụ thể quy định bản chất quan hệ của điều ước (tức là quyền và nghĩa vụ mà điều ước điều chỉnh); và phần các điều khoản cuối cùng quy định thời hiệu của điều ước, thủ tục kéo dài thời hiệu và các điều kiện

về phê chuẩn và phê duyệt của điều ước Điều ước quốc tế còn có thể có ca phần phụ lục để quy định những nội dung kèm theo có liên quan đến điều ước và đôi khi hiệu lực pháp lý của điều ước cũng được quy định trong phụ lục này Nhiều nhà khoa học luật quốc tế cho rằng đây là phần thứ tư của điều ưức quốc tế, thế nhưng để là một phần c ủa điều ước thì cần phải được quy định chính thức trong điều ước hoăc là trong phụ lục của nó Nhưng cũng có trường hợp phụ lục điều ước không phải là một phần của điều ước (ví dụ như, Phụ lục của điều ước quốc tế được ký kết giữa Đức và Nga về Hiệp ước không xâm phạm lẫn nhau năm 1939 được ký kết cùng với nó là một Nghi định thư bí mật bổ sung về các phạm vi ảnh hưởng của điều ước này ,í Châu Âu)1

Tất cả các phần để tạo nên một điều ước quốc tê kể trên không phải lúc nào cũng bảt buộc có trong cùng một điều ước và cũng không ảnh hưởng đến hiệu lực pháp lý của nó Điều ước quốc tế có thể không có phần giới thiệu, không có phần điều khoản cuối cùng, nhưng hiệu lực pháp lý của nó là bất buộc giong như điều ước có đủ các yếu tố nói trên

Theo truyền thống, nội dung điều ước quốc tế thường được chia thành các điều và đôi khi thành các chương (như Hiến chương Liên hợp quốc, Cóng ước Giơnevơ về bao vệ nạn nhân chiến tranh 1949) và thành các phần (như Công ước Bưu chính thế giới), điều ước quốc tế thường có một tên gọi Tất cả các điều đó nhằm làm đơn giản hoá và làm cho rễ hiểu hơn nội dung văn bản điều ước quốc

tế, đặc biệt rất hữu ích đối với điều ước quốc tê phức tạp và đối tượng quan hệ mà đicu ước điều chỉnh lớn

Như trên đã trình bày, luỳ thuộc vào số lưctng chủ thể (các bên) tham gia vào điều ước mà điều ước quốc tế được chia ra thành các loai điều ước quốc tế song phương và điều ước quốc tế đa phương Điểu ước quốc tế song phươnu thì

1 Sđd: -T r.200.

Trang 15

tuỳ theo đặc điểm, điều kiộn, hồn cảnh và mục đích ký kết mà điều ước được chia thành điều ước hai bên mà mỗi bên là một chủ thể (theo cách hiểu thơng thường về điều ước song phương) và điều ước hai bên mà trong đĩ ở một bên cĩ thể là một chủ thể tham gia cịn bên kia là một nhĩm chủ thể tham gia hoặc ở cả hai bên mỗi bên đều là một nhĩm chủ thể của luật quốc tế (ví dụ như: các điều ước về hồ bình năm 1917; dự thảo Hiệp ước của Liên Xơ về khơng xâm phạm lẫn nhau của các quốc gia-thành viên của Hiệp ước Vác-sa-va với các quốc gia

N ATO1

Trong các điều ước quốc tế đa phương, dựa trên cơ sở số lượng các thành viên tham gia để chúng ta phân biệt tính mở của điều ước Cĩ điều ước quốc tế đa phương với số lượng chủ thể tham gia hạn chế, co điều ước quốc tế đa phương cĩ tính chất khu vực, liên khu vực và cĩ điều ước mở trên phạm vi tồn cầu2 Điều ước quốc tế đa phương hạn chế (ví dụ như, Điều ưức Rơma về việc thành lập Cộng đồng kinh tế Châu Âu năm 1957, việc tham gia vào điều ước quĩc tế này chỉ được thực hiện với sự đồng ý của tất cả các thành viên của điều ước theo nội dung của Cơng ước Viên về luật điều ước quốc tế năm 1969 thì điều ước đa phương phải là điều ước mà nội dung của nĩ phải vì sự phát triển tiến bộ của luật quốc tế hoặc là đối tượng và mục đích của các điều ước quốc tê đĩ là đại diện cho quyền lợi chung của cộng đồng thế giới Điều đĩ đã được thể hiện trong tất cả các điều ước về đảm bảo hồ binh và an ninh thế giới (ví dụ, Điều ước quốc tế về khơng phổ biến vũ khí hạt nhân năm 1968; Điều ước quốc tế về vũ trụ; các Cơng ước như: Cơng ước Giơnevơ về bảo vệ nạn nhân chiến tranh năm 1949, Cơng ước Viên về luật hiển năm 1982, các Cơng ước về ngoại giao, về lãnh sự và về luật điều ước quốc tê Chính ngay tại Cơng ước Viên về luật diều ước quốc tế năm

1969 đã khẳng định điều ước quốc tế cần là điều ước mở để cho cộng đồng thế giới tham gia”)

Cần lưu ý rằng, nguyên tắc mở của điều ước quốc tế đa phương khống giành cho sự tham gia của các tổ chức quốc tế, tức là các tổ chức quốc tẽ chỉ tham

1 Ta.ia.iacp A H IIpaBO Hapo.im.rx /loronopoíỉ -M , 1 (>80 c 99

2 KopõoBa M A PacionpcHHL' cộepbi ICỈÍCTBHÍI HopM o õ m e ro MHoiocTopoHHeio ;ioronopa H 1,1- HO M ock

Vii-Ta 1983 - C 6 - 1 6 o TaioKC y.ibHHOBa H H O õm n e MHoiociopoHHHi ;mioBopn B conpcMeimux

M ew.TVHapoAHbrx OTHOLLieHHHV K n e u 1 9 8 1 , - C 1 7 3 - 1 8 7

Trang 16

gia vào điều ước đa phương này trong trường hợp mà nội dung của điều ước đó có điều khoản quy định V í dụ, Công ước Viên về luật điều ước quốc tê' giữa các quốc gia và các tổ chức quốc tế hcặc giữa các tổ chức quốc tế với nhau năm 19S6

có điều khoản quy định rằng bất kỳ tổ chức quốc tế nào có đủ khả năng pháp lý

để ký điều ước quốc tế thì đều có quyền gia nhập Công ước này và nguyện vọng

đó phải được thể hiộn trong các văn bản ra nhập (điều 84)

Đối tượng của điều ước quốc tế là rấi phong phú và thường tập trung vào 3 loại điều ước quốc tế cơ bản: loại điều ước về chính trị; loại điều ước về kinh tế và điều ước quốc tế chuyên ngành Điều ước quốc t ế về chính trị là các điều ước về liên minh, về sự giúp đỡ lẫn nhau, không tấn công lẫn nhau, về trung lập, các điều ước về hoà bình, các điều ước về các vấn để biên giới và lãnh thổ, các điều ước về giải trừ quân bị vv (ví dụ như, Hiến chương Liên hợp quốc; các điều ước về hoà bình năm 1947; Điểu ước về cấm thử vũ khí hạt nhân năm 1963; Điều ước Nam Cực năm 1959; Điều ước giữa Liên Xô và Mỹ về xoá bỏ tên lửa tám trung và tầm ngắn năm 1987; Điều ước về giải quyết vấn đề thống nhất nước Đức năm 1990)

thông hàng hoá; Điều ước về hợp tác khoa học kỹ thuật; Điều ước về tin dụng W (ví dụ như, Điều ước Rôma về hệ thống náng lượng chung năm 1957) Diều

nghiệp, về bảo vệ sức khoẻ, về giáo dục, về hợp tác khoa học, về tưưng trợ pháp lý

và về các vấn đề an sinh xã hội và các Công ước về lãnh sự w Trong số các điều ước quốc tế thuộc lĩnh vực này thì các Công ước đa phương về các lĩnh vực của luật quốc tế chiếm một vị trí đặc biệt Ví dụ như, Cổng ước Viên về quan hệ ngoại giao năm 1961; Công ước Viên về quan hệ lãnh sự năm 1963; Công ước Viên về luật điều ước quóc tế năm 1969 và năm 1986; Công ước về luật biển năm 19S2 và Công ước Giơnevơ về bảo vệ nạn nhân chiến tranh năm 1949

Đối tượng của điều ước quốc tế với sự tham gia của các tổ chức quốc tế là rất hẹp, mậc dù là chủ thể của luật quốc tế nhưng lại không thê ký với nhau một

số các điều ưưc về chính t' V í dụ như, điều ưỡc quốc tế về hữu nghị và giúp d ỡ

lẫn nhau; điều ước quốc tế về liên minh và hoà bình; điêu ước quốc lé về Irung

Trang 17

lập; điều ước quốc tế về trao đổi lãnh thổ Đối tượng của điều ước quốc tế với sự tham gia của các tổ chức quốc tế chủ yếu là về các vấn đề về kinh tế và các vấn đề

về chuyên ngành được quy định ngay trong cương lĩnh (điều ước thành lập) của tổ chức quốc tế đó

Điều ước quốc tế song phương và điều ước quốc tế đa phương trong một số hoàn cảnh nhất định có thể chuyển đổi (hoặc hoán đổi) vị trí cho nhau Đôi với điều ước song phương thì trong trường hợp khi mà có thêm nhiều các quốc gia khác xin ra nhập, và trong trường hợp ngược lại khi mà điều ước được ký kết như

là một điều ước đa phương theo cách hiểu thông thường, nhưng kết quả trong các thành viên tham gia điều ước lại được chia thành (hoặc hình thành) hai bên (hoặc

là hai nhóm) Điều ước quốc tế đa phương mà có tính chất phổ biến chung cho cộng đồng thì gọi là điều ước toàn cầu và có vị trí đặc biệt quan trọng Chính các điều ước quốc tế đó ngày nay đóng vai trò là vị trí mũi nhọn trong việc xây dựng (hoặc sáng tạo) ra các quy phạm bắt buộc chung của luật q ĩố c tế Điều ước quốc

tế song phương và đa phương là một phần quan trọng và khùng thể thiếu trong các quan hệ quốc tế, tính pháp lý được quy định ngay trong điều ước quốc tế do các quốc gia ký kết, chính xuất phát từ quan điểm công nhận chung đó mà bản chất pháp lý của diều ước quốc tế được xem là văn bản pháp luật quy định sự thoả thuận về ý chí giữa hai, nhiều quốc gia hoặc giữa các chủ thể của luật quốc tế với nhau

Cần lưu ý rằng, tổ chức quốc tế thường chỉ ký văn bản quốc tế với nhau ở 3 thể loại cơ bản: hiệp định, trao đổi công hàm (hoặc thông điệp) và nghị quyết Hiện nay, không có các tên gọi khác như là điều ước, công ước w nói như vậy thì điều đó không có nghĩa là sẽ không có trong tương lai

Điều ước quốc tế song phương phần lớn được xây dựng trên cơ sờ ngôn ngữ của các bên tham gia đàm phán, điều ước quốc tế đa phương có thể bằng một, hai hoặc nhiéu ngôn ngữ, thông thường điều ước quốc tế đã được ký kết, theo quy định chung là cần phải phê chuẩn hoặc phê duyệt, nó sẽ có hiệu lực sau khi ký kết hoặc là hiệu lực của điều ước quốc tế được quy định ngay chính trong văn han của điều ước quốc tê hoặc cũng có thê có hiệu lực sau khi các hên trao dổi còng hàm thư phê chuẩn hoặc là gửi công hàm để bảo lun ờ Liên h<rp quóc Điêu ước quỏc

Trang 18

tế được công bố tùy thuộc vào thoả thuận của các bên đàm phán và thông thường được đăng công bố ờ một phương tiện thông tin chính thức của Chính phủ (chang hạn như trên công báo, trong các chuyên san hoặc tuyển tập các văn bản pháp luật

w )

Như trên đã trình bày, căn cứ vào số lượng thành viên tham gia mà điều ước quốc tế được chia thành: điều ước quốc tế đa phương và điều ước quốc tê' song phương, nhưng trên thực tế thì số lượng văn bản pháp lý quốc tế song phương chiếm đa số Nhimg cùng với sự phát triển về hợp tác quốc tế ngày càng đa đạng

và phong phú vì sự phát triển chung của cả cộng đồng thế giới nhằm đảm bảo hoà bình và an ninh thế giới thì số lưíTng điều ước quốc tế đa phương và vai trò vị trí của nó trong cộng đồng quốc tế ngày một tang và chiếm vị trí không kém phần quan trọng Các nhà khoa học pháp lý quốc tế thì cho rãng chính các điều ước quốc tế đa phương đang ngày một chiếm vị trí quan trọng nhất

Trong pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới, việc công hố điều ước quốc tế thường được ban hành bằng hiệu lực của một đạo luât các quốc gia có thổ đăng ký điều ước quốc tế đã được ký kết ở Ban rhư ký của Liên hợp quốc và dược công bố ở tuyển tập văn bản của Liên hợp quốc Việc dừng hiệu lực của điều ước quốc tế phụ thuộc vào các nguyên nhân như: theo thời hạn được quy định ngay trong điều ước quốc tế, liên quan đến việc thực hiện các điều khoản của điều ước, theo sự thỏa thuận giữa các bên của điều ước, theo quy định phải hủy bỏ, điều ước cần phải xem xét lại, theo trinh tự hủy bỏ vv Trinh tự ký, thực hiện và hủy bo điều ước quốc tế được quy định trong luật quốc gia về điều ước quốc tế được xây đựng trên cơ sở các nguyên tắc, các quy phạm của luật quốc tế hoặc là luật điều ước điều chỉnh các quá trinh này

Là một ngành của luật quốc tế, luật điều ước quốc tế bao gồm tổng the các quy phạm pháp luât quốc tế điều chỉnh quan hệ giữa các quốc gia và các chủ thê khác của luật quốc tế về hoạt động điều ước quốc tế như: quá trình ký kèt, hiệu lực và chấm dứt hiệu lực của điều ước quốc tế

Hiện nay, luật điều ước quốc tế được điều chỉnh bởi các Cổng ước quốc tố phổ biến như: Công ước Viên về luật điều ước quốc 1C (ngày 23.5.1969); Công ước Viên về điều ước quốc té giữa các quốc gia và giữa các tổ chức quốc tố hoặs

Trang 19

là giữa các tổ chức quốc tế (ngày 21.3.1986); Công ước Viên về kế thừa của các quốc gia trong quan hộ với các điều ước quốc tế (ngày 23.8.1978) và Công ước Viên về kế thừa của các quốc gia trong quan hộ tài sản, hồ sơ tài liệu và công nợ quốc gia (ngày 08.4.1983) Các Công ước trên đều không có các điều khoản quy định về trách nhiộm pháp lý quốc tế của các quốc gia điều chỉnh các hành vi chiến tranh.

Công ước Viên về luật điều ước quốc tế năm 1969 quy định các khái niệm- thuật ngữ cơ bản của luật điều ước giữa các quốc gia Thuật ngữ “điều ước” có nghĩa là thỏa thuận ý chí giữa các quốc gia được ký kết giữa họ dưới dạng môt văn bản pháp lý quốc tế và do luật quốc tế điều chỉnh không phụ thuộc vào nội dung của nó được soạn thảo trong một, ha hoặc là nhiều văn ban có liên quan với nhau và cũng không phụ thuộc vào tên gọi cụ thể của điều ước Trong thực tiễn sinh hoạt quốc tế còn có điều ước quốc tế không ký kết dưới dạng văn bản gọi là điều ước miộng-drentment1

Chú dẫn thuật ngữ điều ước được quy định trong Công ước Viên điều chỉnh việc ký kết và thực hiện điều ước quốc tế giữa các quốc gia: Thứ nhất, chú dẩn các quy phạm của Công ước này có hiệu lực đối với các thành viên của Còng ước;

giẵ Công ước mà là tập quán quốc tế; Thứ ba, các quy phạm phát sinh từ trách nhiệm quốc tế của các quốc gia và các quy phạm xuất hiện từ các hành đóng quân

sự giữa các quốc gia

Các quy ph?m trong Công ước ngoài việc điều chỉnh các quan hệ quốc tế giữa các quốc gia với nhau trong phạm vi điều ước quốc tế, còn được ap dụng cho các bên tham gia điều ước là các chủ thể khác của luật quốc tế (các tổ chức quốc tế) Ngoài ra, Công ước còn được ap dụng cho bất kỳ điều ước nào kể cả các văn bản thành lập ra tổ chức và các điều ước trong phạm vi của tổ chức đỏ

1 Theo H oc thuyết cùa cá c nước phương ray thì (liéu ước micng íhoac thoả thuan m ieng; khòng (lươc xem la %an bản pháp lý có tính điểu ước Đieu ưưc miẻng đươc ký kổì dưới (iang ván bản hoac danp miêng khổng chiu hiẽu lực cùa nguyen tác tư nguyên Ihưc hỉín các cam kết quốc lẻ (lươL áp đung cho các môì quan hệ pháp luât song phương va da phương Ví du như: Điểu ước miiìng là điíu ước vẽ cá c quy tác the thưc Hỏi nghi lAn Ihứ [II CÌB Liôn hợpQ uởc vể lual biển clươc Đai hòi tlònp thOng qua ta? kỳ hop thư 2 1 6 9 của Dai hồi íỉõng ngà| 16.1 1 1 9 7 3

X e m : M ett/iy n ap ojH o e npaBo C ;i0Bapi,-ciipaB0HHHK -M H jỉrI>PA , 1 9 9 8 - C 6 0 -61

Trang 20

Trong sinh hoạt quốc tế ngày nay, có rất nhiều loại văn bản quốc tế khác nhau thường là kết quả của các cuộc gặp gỡ giữa các nguyên thủ quốc gia như tuyên bố chung, thông cáo chung của các chính phủ và của các nguyên thủ quốc gia cũng đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống quóc tế Nội dung các văn bản

đó đã ghi nhận các kết quả đàm phán và các điều ước quốc tế đã được ký kết giữa các nước với nhau về những vấn đề quan trọng như: chính trị, kinh tế, văn hoá và

an ninh quốc phòng w V í dụ như, trong chuyến thăm chính thức Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Hồ cẩ m Đào vào tháng 11 năm 2005 đã khẳng định quan hộ giữa hai nhà nước phải nâng lên một tầm cao mới, nhằm tác động tích cực đến hoà bình, ổn định, phát iriển và họp tác ở khu vực và trên thế giới Hai bên đã khẳng định trong tuyên bố chung về nhiều vấn đề quan trọng

như công tác phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền giữa hai nước và cho rằng cần hcrp tác tích cực với nhau để hoàn thành công việc này trên toàn tuyến biên giới và ký văn kiện mới về quy chế quản lý biên giới chậm nhất là vào năm 2008 Hai bên cũng đánh giá cao “Thoả thuận công tác địa chấn biển licn hơp ha bên tại khu vực thoả thuận ở biển Đông” do Công ty dầu khí ba nước Việt Nam, Trung Quốc và Philippines ký hồi tháng ba năm nay và cho rằng việc ký kết thoả thuận này là đóng góp quan trọng thực hiện “Tuyên bố về cách ứng xử của các bèn ở biển Đông (D O C )” 1 Riêng về lĩnh vực kinh tế, hai bên đã ký 14 thoả thuận hợp tác với trị giá trên một tỷ USD: Hiệp dịnh khung về việc Trung Quốc cấp cho Việt Nam khoản tín dụng ưu đãi 550 triệu nhân dân tệ để sử dụng cho dự án hiện đại hoá thông tin tín hiệu đường sắt đoạn Vinh-Thành phố Hồ Chí Minh, tuyến đường sắt Bắc-Nam do Công ty hữu hạn Tập đoàn Cục 6 đường sắt Trung Quốc thực thi; Thoả thuận về việc sử dụng tín dụng ưu đãi để xây dựng dự án hiện đại hoá thông tin đường sắt Hà Nội-Thái Nguyên, Hà Nội-Đồng Đăng, Hà Nội-Lào Cai; Hợp đồng giữa Công ty điện lực Việt Nam và Công ty lưới điện miền Nam Trung Quốc bán điện cho 6 tỉnh miền bắc Việt Nam w Đại diện các doanh nghiệp ngành điên lực Việt Nam và các ngân hàng và doanh nghiệp Trung Quốc đã ký kết nhicu thoả thuận hợp tác, cho vay và cung ứng tín dụng để thực hiện các dự án xây dựng

1 Pháp luâl Viẽt Nam Sô 2 6 3 (2 7 3 3 ), ngày 0 3 1 1 2 0 0 5 , -Tr.3.

Trang 21

các nhà máy điện như nhiệt điên Sơn Động, nhiệt điên Hải Phòng 1 và 2, nhiệt điện Qu ưig Ninh1 w Mặt khác, từ lâu điều ước quốc tế đã được công nhận là văn bản pháp lý quốc tế có tính chất phổ biển và được áp dụng như là phương tiện pháp lý điều chỉnh các mối quan hệ giữa các chủ thể luật quốc tế khi tham gia vào quan hộ pháp luật quốc tế.

Công ước Viên về luât điều ước quốc rể năm 1969 đã quy định “Việc tăng nhanh số lượng của các điều ước quốc tế-nguổn cơ bản của luật quốc tê như là một phương tiện đặc biột quan trọng, tạo điều kiên cho sự phát triển hợp tác hoà bình giữa các dân tộc” Để điều chỉnh các mối quan hệ quốc tế đó, mỗi quốc gia cần xây dựng cho mình một hệ thống văn bản pháp luật riêng điều chỉnh về lĩnh

vực quan hệ điều ước quốc tế, mà trước hết chúng cần được quy định ngay trong

Hiến pháp và sau đó là trong các văn bản luật và dưới luật của quốc gia

Quá trình xây dựng điều ước quốc tế rất phức tạp, lâu dài và theo nhiều giai đoạn, nhiều quy phạm của luật điều ước quốc tế thường có nguồn gốc pháp luật từ quy trình này2

Để tạo điều kiên cho việc nghiên cứu luật điều ước quốc tế, chúng ta cân tiếp cận và hiểu biết về một số từ ngữ, các khái niệm hoặc thuật ngữ mà chúng ta

sẽ gặp trong quá trình nghiên cứu đề tài như: uỷ quyền trong luật điểu ước quốc tế; các hành vi pháp lý của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có liên quan đến việc ký điều ước, ký tắt, các hành vi phê chuan, phê duyệt; trao đổi thư phê chuẩn, phê duyệt, trao đổi công hàm; các hành vi pháp lý liên quan đến việc gia nhập, bảo lưu, đình chỉ, tạm đình chỉ, huỷ bỏ hiệu lực của điều ước w Việc giải thích các từ ngữ được dùng trong hoạt động điều ước quốc tế và do luật điều ước quốc

tế điều chỉnh đều dựa trên cơ sở các từ và thuật ngữ quy định tại Công ước Viên

về luật điều ước quốc tế năm 1969 và Cóng ước Viên về điều ước quoc tế giữa các quốc gia và các tổ chức quốc tế và giữa các tổ chức quốc tế với nhau năm 1986 ngoài ra chúng còn được cụ thể hoá các văn bản quốc nội về điều ước quốc tế của mỗi quốc gia Ví dụ, các khoản từ “a” đến “h” điều 2 Luật Liên bang Nga về diều ước quốc tế năm 1995; các khoản từ 1 đến 9 điếu 2 Pháp lệnh về điều ươc quốc tế

1 Diên đàn Doanh nphiêp Sô' 88 0 4 1 1 2 0 0 5 - 1 r.9.

1 Có [hè xem thêm T vhxhh r M Teopiw MOK/ivHapojuoro npana -M , 1970, -C 129-113

Trang 22

năm 1998 và trong Luật về điều ước quốc tế năm 2005 của Việt Nam quy định về các khái niộm: thế nào là điều ước quốc tế ma Cộng hoà hội chủ nghĩa Việt Nam

ký kết hoặc gia nhập với một hoặc nhiều quốc gia, với các tổ chức quốc tê hoặc với các chủ thể khác của pháp luật quốc tế; quy đ)nh cơ sở pháp lý của các tên gọi khác nhau như hiệp ước, công ước, hiệp định, định ước, thoả thuận, nghị định thư, bản ghi nhớ, công hàm trao đổi hoặc văn kiộn khác; giải thích thế nào là giấy uỷ quyền và giấy uỷ nhiộm; quy định các hành vi về: ký kết, ký, ký tắt, phê chuẩn, phê duyệt, trao đổi văn kiên tạo thành điều ước quốc tế, gia nhập, bảo lưu, chấm dứt hiệu lực, từ bỏ hoặc rút khỏi điều ước, tạm đình chỉ thực hiện điều ước va giải thích thế nào là bên ký kết nước ngoài và trên hết luật đã quy định các hành vi nói trên đều là các hành vi pháp lý do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện Mặc dù, từ và thuật ngữ trong pháp luật của mỗi quốc gia về cơ bản đều dựa trên

cơ sở các Công ước Viên nêu trên, nhưng trong văn bản của các quốc gia vần thể hiện tính chủ quyén của mình khi ban hành các văn bản pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này

Viộc ký kết, gia nhập và thực hiộn điều ước quốc tế cùa Việt Nam phái tuân thủ theo các nguyên tắc sau: 1) Tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vcn lãnh thổ quôc gia, cấm sử dụng hoặc đe đoạ sử dụng vũ lực, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, binh đẳng, cùng có lợi và những nguyên tắc cơ bản khác của luật quốc tế; 2) Phải phù hợp với các quy định của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; 3) Phù hợp với lợi ích quốc gia, với đường lối đối ngoại của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; 4) Điều ước nhân danh Chính phủ không được Irái với điều ước nhấn danh Nhà nước; 5) Điều ước quốc tế có quy định trái hoặc chưa được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, u ỷ ban Thường vụ Quốc hội, điều ước quốc tế mà đe thưc hiên cần sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hôi, uỷ han Thường vụ Quốc hội phải được trình Ưỷ ban Thường vụ Ụuốc hội cho ý kiến trước khi đàm phán, ký hoặc gia nhập; trong trường hợp đàm phán, ký hoặc gia nhập điều ước quốc tế có quy dịnh trái với văn ban quy phạm pháp luật của Quốc hội thì Ưỷ ban Thường vụ Quốc hội báo cáo cho Quóc hôi biết; 6) Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuân thù điéu ướe quòc te ma Còng hoà xã

Trang 23

hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; đồng thời có quyền đòi hỏi thành viên khác cũng phải tuân thủ điều ước quốc tế đó (điều3 Luật về điều ước quốc tế năm 2005).

Theo lý luận của luật quốc tế hiện đại thì các thoả thuận quốc tế giữa các quốc gia, giữa các chủ thể của luật quốc tế đểu đươc gọi chung là điéu ước quốc tẽ

và được thể hiện thành văn - dưới dạng văn bản và không phụ thuộc vào chính các tên gọi mà các bên của văn bản đó đã đặt ra Như vậy, tên gọi phụ thuộc rất nhiều vào ý kiến chủ quan của các chủ thể quốc tế, tức là chủ thể đàm phán, trong thực tiễn pháp lý quốc tế chưa có quy phạm luật quốc tế nào quy định tên gọi mặc định chung cho các thoả thuận quốc tế v ề hình thức, điều ước quốc tế được soạn thảo theo các phần như đã trình bày ở trên

Việc xác định chủ thể của điều ước quốc tế là rất quan trọng và thông thường thì chủ the của điều ước quốc tế chính là chủ thể của luật quốc tế và trên thực tế điều ước quốc tế chỉ hình thành trên cơ sở kết quả thoả thuận đã dạt được giữa các quốc gia Nếu văn bản được ký giữa các chủ thể khỏng phải là chủ thế của luật quốc tế thì văn bản đó không phải là điều ước quốc tế Trong thực tiễn quan hệ pháp lý quốc tế đang còn có quan điểm cho rằng các pháp nhân và các thể nhân có thể là chủ thể của luật quốc tế trong một hoàn cảnh đặc biẹt nào dỏ, nhưng quan điểm đó đang có nhiều tranh luận và chưa được cộng đổng quốc tế công nhận

Để minh chứng cho quan điểm trên, chúng ta có thổ đưa ra luận cứ về sự hạn chế của thể nhân và pháp nhân mà do đó chúng không thể là chủ thể của luật quốc tế, đó là: Thứ nhất, thể nhân và pháp nhân không thể là một bên của diều ước quốc tế trong quan hệ pháp luật quốc tế; Thứ h ai, thể nhân và pháp nhân không thể là thành viên của các tổ chức quốc tế liên Chính phủ; Thứ b a, thể nhản

và pháp nhân không thể tham gia trực tiếp vào quá trình sáng tạo (hoặc xây dựng)

ra các quy phạm pháp luật quốc tế Mặc dù, ớ một trong những tniimg hợp cụ thế nào đó các đ(m từ của thể nhân và pháp nhân có the là đối tư<mg xem xct của các

lổ chức quốc tế (LHQ, Liên minh Châu Âu vv ); dược Toà án quồc tế và khu vực bảo vệ quyền lợi- các tổ chức phi Chính phủ có một số dấu hiệu của chủ the luật

Trang 24

quốc tế, ví dụ như theo quy chế hiệp thương ở u ỷ ban Kinh tế-Xã hội, có thể tham gia vào một số hộ nghị quốc tế nhưng không có quyền biểu khuyết.

Về giá trị pháp lý, điều ước quốc tế được thể hiện trên các mặt sau: 1) Là hình thức pháp luật cơ bản có chứa đựng các quy phạm luật quốc tế; 2) Là phương tiên đảm bảo quan hệ hợp tác giữa các quốc gia; 3) Là cơ sở pháp lý quy định về quyền và trách nhiêm (nghĩa vụ) của các chủ thể luật quốc tế; 4) Là nguồn và là nguồn cơ bản trong hộ thống các quy phạm pháp luật quốc tế1

Thật vậy, luật điều ước quốc tế là một ngành luật cơ bản trong hệ thống pháp luật quốc tế, bao gồm tổng thể các nguyên tắc, các quy phạm pháp luật quốc

tế (các quy phạm điều ước và các quy phạm tập quán) điều chỉnh quá trình đàm phán, ký kết, thực hiện và huỷ bỏ điều ước quốc tế được ký kết giữa các chủ thể của luật quốc tế mà chủ yếu là các quốc gia, là ngành luật tạo ra nguồn cơ bản nhất của luật pháp quốc tế hiện đại - Đó là điều ước quốc t ế Trong quá trình xây dựng các quy phạm luật điều ước quốc tế thì Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật khác của các quốc gia (hay nói một cách khác, hệ thống pháp luật quốc gia) đóng vai trò quan trọng

2 Nguồn của luật điều ước quốc tế

Như trên đã khẳng định, luật điều ước quốc tế là một ngành của luật quóc Bê

và là tập hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ giữa các quốc gia và giữa các chủ thể khác cùa luật quốc tế về các hành vi pháp lý quy định về việc ký,

về hiệu lực pháp lý và huỷ bỏ điều ước quốc tế Điều ước quốc tế được ký kết với những thể loại nhất định mà nội dung của nó là phân định quan hệ qua lại giữa quyền và trách nhiệm giữa các bên Điều ước quốc tế được ký kết nhằm đảm bảo tính ổn định trật tự pháp lý quốc tế và được khẳng định là văn bản pháp luật quỏc

tế quan trọng nhất vì không có một ngành luật quốc tế nào mà sự hình thành và phát triển của nổ không gắn liền với điều ước Chủ thể của luật điều ưức quốc tế là chủ thể của luật quôc tế và trong một thời gian rất lâu người ta luôn cho rằng nguồn của luật điều ước quốc tê là các lập quán quốc te

1 Có thè xem thêm : Giáo trinh LuAt Quổc tẽ Trường D HL Hà Nổi, NXB.< 'A N D ,2 0 0 5 T r 2 7 -:x

Trang 25

Văn bản quốc tế đầu tiên về lĩnh vực điều ước quốc tế được ban hành vào năm 1928 tại Hội nghị của các quốc gia Châu Mỹ Đó là Công ước Habana về điều ước quốc tế, nhưng nó chỉ mang tính khu vực và chỉ có hiệu lực trong phạm

vi không gian ở các nước Châu Mỹ La Tinh Cùng với sự hình thành của tổ chức Liên hợp quốc (một tổ chức quốc tế lớn nhất hiện nay) và cùng với nó là việc thành lập u ỷ ban luật quốc tê thuộc Liên hợp quốc với nhiệm vụ xây dựng luật điều ước quốc tế được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Uy ban Do đó, u ỷ ban đã soạn thảo Dụ thảo các điều khoản về luật điều ước quốc té

và tại Hội nghị bàn về luật điều ước quốc tế đã được tổ chức Irong các phiên họp

từ năm 1968-1969 đã thông qua Công ước Viên về luật điều ước quốc tế năm

1969 quy định về hoạt động điều ước mà các chủ thể là các quốc gia và đã có hiệu lực từ năm 1980 Năm 1978, trên cơ sở dự thảo các điều khoản cua uỷ ban luật quốc tế đã thông qua Công ước về kế thừa của các quốc gia về điều ước quốc tế và Công ước này đến nay vẫn chưa có hiệu lực

Sự xuất hiện của các tổ chức liên Chính phủ và vai trò của nó trong quan hệ quốc tế ngày càng lớn mạnh đã kéo theo sự xuất hiện dạng đicu ước giữa các tổ chức này với các quốc gia và giữa chúng với nhau và đó là nguyên nhân dần đến việc tăng nhanh số lượng lớn về điều ước quốc tế Xuất phát từ nguyên nhân đó nên năm 1986 Hội nghị tại Viên đã thông qua Qìng ước về luật đieu ước giữa các quốc gia và các tổ chức quốc tế hoặc là giữa các tổ chức quốc tê với nhau, tức là quy định sự tham gia của các tổ chức quốc tế vào hoạt động điều ưởc quốc tế hay còn gọi là hoạt đong xây dựng quy phạm pháp luật quốc tế

Điều ước quốc tế là nguồn cơ bản của luật quốc tế, là phương tiện quan trọng trong việc thực hiện chức năng đối ngoại của các quốc gia Trên cơ sờ của điều ước các quốc gia thiết lập các mối quan hệ quốc tế với nhau và qua đó chúng

ta thấy vị trí quan trọng của luật điều ước quốc tê' trong hệ thống pháp luật quốc

Hiẹn nay trên thê giới có trên 500 ngàn điều ước song phương và da phương đối tượng điễu chinh của luật điều ưức quốc tế chính là các diều ước quoc

tế chúng chứa dựng các nội dung về quyển và nghĩa vụ cùa các hên tham gia

Trang 26

trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, khoa học-kỹ thuật, văn hóa và w ở Việt

Nam, từ khi ban hành Pháp lệnh về điều ước quốc tế năm 1998, Việt Nam đã ký kết và gia nhập hơn 700 điều ước quốc tê (không tính các điều ước quốc té được

ký kết với danh nghĩa Bộ, ngành) và nếu tính từ năm 1986 đến nay thì Việt Nam

đã ký kết hơn 1000 điều ước quốc tê song phương và đã gia nhập hơn 180 điều ước quốc tế đa phương1 Nếu xét riêng về góc độ hợp tác kinh tế, chỉ tính đến tháng 5.2003 chúng ta đã ký kết khoảng 250 hiệp định song phương, trong đó có khoảng 130 hiệp định ký trong 10 năm gần đây và số lượng hiệp định về các lĩnh vực hợp tác khác sẽ được ký kết ngày càng nhiều với các nước trong khu vực, châu lục và trên thế giới2

Nguồn của luật điều ước quốc tế là các Công ước quốc tế: Công ước Viên

về luật điều ước quốc tế ngày 23.5.1969 điều chỉnh quan hệ điều ước quốc tế giữa các quốc gia, Công ước Viên về luật điều ước quốc tế giữa các quốc gia và các tổ chức quốc tế hoặc giữa các tổ chức quốc tế với nhau ngày 21.3.1986, Công ước Viên về kế thừa của các quốc gia về tài sản, hồ sơ tài liệu và cổng nợ quóc gia ngày 0 8 4 1 9 8 3 , Công ước Viên về kế thừa các điều ước quốc gia về điều ước ngày 2 3 8 1 9 7 8 và các văn bản quy phạm pháp luật của quõc gia về diều ước quốc

tế hoặc có liên quan

Hai Công ước Viên năm 1969 và năm 1986 đều khẳng định tập quán quòe

tế là nguồn của luật điều ước quốc lế, khẳng định rằng những vấn đề mà chưa được quy định trong các điều khoản của hai Công ước Viên này sẽ được điều chính bằng quy phạm tập quán của luật quốc tế Tập quán quốc tế có ý nghĩa rất quan trọng trong sinh hoạt quốc té

Công ước Viên về kế thừa điều ước quốc tế ngày 23,8.1978 đã quy dinh các quy phạm về kế thừa của các quốc gia liên quan đến điều ước quốc tế, Công ước còn lại đưa ra các quan đicm khác nhau về kế thừa có liên quan đến điều ước đa phương kể cả điều ước thành lập tổ chức quốc tế, và diều ước được thông qua trong phạm vi của tổ chức quòc tế Công ước khẳng định tầm quan trọng của chê

1 Ngô Đức Mạnh Mòi quan hè giữa D U Q T bwi pháp lụm quốc gia Nghiên cứu lap pháp sô' 12-12/2004.

2 Lẻ Vãn Bính C ác quy pham luât quổc tế trong hẽ thống pháp luât quổc gia Tạp chí Khoa hoc Kinh 'c I.uăt

T.xxi, Nỉ.2,2005 -Tr.32

Trang 27

định kê thừa như là một phương tiộn củng cố và duy trì cơ sờ pháp lý của quan hê quốc tế.

Kẽ thừa trong khoa học pháp lý được hiểu là sự chuyển quyền và trách nhiệm từ một chủ thể pháp luật này sang một chủ thể pháp luật khác, trong các ấn phẩm khoa học luật quốc tẽ có nhiều khái niệm về ké thùa và đã được thể hiện trong nhiều công trình khoa học khác nhau Nhưng nhìn chung có thể hiểu ké thừa là sự thay đổi chủ thể của luật quốc tẽ trong việc thưc hiện quyền và nghĩa vụ của chủ thể luật quốc tê trước đó theo các nguyên nhân khác nhau, có thể là do các cuộc cách mạng xã hội, do kết quả của các cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, do tách hoặc nhập quốc gia, do việc chuyển giao lãnh thổ và do các sự kiện pháp lý quốc tế khác vv

Trong sinh hoạt quốc tê có rất nhiều các ví dụ điển hình về sự thay dổi chủ thể của điều ước quổc tế V í dụ như, điều 1 điều ước về chấm dứt hiệu lực điều ước liên quan đến việc điều chỉnh thông nhất các nước Đông Đức, Tây Đức và Tây Rec-lin thành Liên bang Đức năm 1990; Liên Xô phân chia thành 12 quÓL gia độc lập năm 1991; Liên bang Nam Tư phân chia thành các quÓL gia dôc lập năm 1992; Tiêp Khắc phân chia thành Tiệp và Slovakia năm 199^; và All Độ (thuộc địa Anh) trước đây thành Ấn Độ và Pakistan năm 1947

Theo các giáo sư Đ.I Phetman và M x Pharusm thì kê thừa là việc chuyến quyền và nghĩa vụ từ một quốc gia sang môt quốc gia khác gắn liền với việc phổ biến trcn lãnh thổ chủ quyền quốc gia mới và sự hạn chế quyền và nghĩa vụ mà quốc gia kế thừa tuyên bố tự nguyện hoặc im lặng thực hiện quyền và nghĩa vụ kế thừa đó2 Theo giáo sư G v Igơnachencô thì kế thừa là văn bản thoả thuận hoặc tuyên hố đim phương của quôc gia chù quyền với các quốc gia khác về việc đồng

ý là quốc gia ke thừa quyền và nghĩa vụ của quốc gia tiền nhiệm3 Kê thừa là một

1 p^chcbckhR B H I'jiaBHbic npaBOBHC Bonpocu Iipn oópaỉOBaiiHH HơBoro rocviapcT B a - Bonpocbi Teopmi

H iipaKTHKH MOK/iynapivinoro Iipapa - M ,1 9 5 9 -C 8 8 Me>Kay napojH oe npaBo -M , 19 4 7 -C 1 56 K ovkcmihkob

O M y*ĩcÕHoe n ocoóm - IIO MOK.INHjpo.uioMV Iipauy (OnepKH) -M , 19 4 7 -C 81 McuvKopan /I A Ocnonm ic iipiiBd H QŨinannocTH ro c^jap cT B a - M ,1 9 6 5 -C 1 21 M cvk t \ uapo.iỉioc irpaHo - M 1 9 6 5 -C 175 KvpE

M ewm iapo/uioro flpaBa, T 3, -M ,1 9 6 7 —c 32 HapojHoe npaBo -M 1970 -C 116 Me>h;i\ Iiapo/uioe Iipano -M ,1 9 7 9 -C 157

2 Oe:ibflwaH M OapvKiiiHH M X Kpax K0.TOiina.T>.H0R CHCTCMM H nc-Ki-'-'phic nọnpoci,! MC/K.I\ napo.iMd-

rrpaBOBơro npn' 3 n a m ia H npaBOiipecM CTBa - IlpaBO Bc.icH H c 1 9 6 2 , -Nọ 2 -C 1 1 9

5 HrHaTCMKO r.B O t Konoraia.ihHoro pe*HMa K iianHOHa.ibHOH r oc' Ịap cm ciiH ocrn -M 1 9 6 6 -C 121

Trang 28

trong những ch ế định cua luật quốc tế và kế thừa phải tuân theo nguyên tắc cơ hán

và các quy phạm của luât quốc tế Giáo sư N V Zakharov nhấn mạnh, luật quốc tê

đã khơng đánh mất việc điều chinh kê thừa và cũng khơng dừng lại hồn tồn để xem xét quốc gia kê thừa1 Cơng ước Viên năm 1978 quy định rằng “Quốc gia kế thừa” là sự thay đổi quốc gia này bằng một quốc gia khác và mang theo trách nhiệm quan hệ quốc tế trên lãnh thổ đĩ2 Các Cơng ước Viên năm 1978 và năm

1983 đã quy định các quốc gia là thuộc địa trước đây và xây dựng cho họ một chê

độ đặc biệt về kế thừa như nguyên tắc nổi tiếng tabula rasa

Việt Nam cũng là một ví dụ điển hình về kế thừa điều ước quốc tế Việt Nam dân chủ cộng hồ và Cộng hồ xã hội chủ nghĩa Việt Nam khơng kế thừa bất kỳ một điều ước quốc tê nào mà do quốc gia đơ hộ trước đây hoặc của “Quốc gia” do quốc gia đơ hơ dựng lên (hoặc thành lập) ngoại trừ các điều ước cĩ lợi cho quốc gia và cho dân sinh Trong Tuyên ngơn ngày 02.9.1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố nguyên tấc chung của kế thừa quốc gia độc lập và kế thừa điều ước quốc tế “Từ nay chúng tơi chấm dứt tấl cả các mối quan hê với dế quĩc Pháp

và tuyên bố các điều ước quốc tế mà Pháp ký thay nhân danh Việt Nam là điều ước vơ hiệu” Chính thức tuyên bố chấm dứt các điều ước nơ dịch giữa Việt Nam

và Pháp như: Điều ước ngày 05.7.1862; Điều ước ngày 15.3.1874; Điều ước ngày 06.7.1884 Các điều ước đĩ được ký kết giữa Việt Nam với Pháp về thiết lâp chế

độ bảo hộ đối với Việt Nam Điều ước mà Phap ký với Trung Quốc nhân danh Việt Nam - điều ước Nam Ninh năm 1930 mà theo đĩ Pháp cho phép (cấp cho) chuyên gia Trung Quốc được tự do đi lại trên Đơng dương khơng phụ thuộc vao nghề nghiệp, lĩnh vực hoạt động xã hội và cĩ đặc quyền như người nước khác3; Điều ước Pháp ký thay Việt Nam với Nhật Ban ngày 29.7.1941 mà theo đĩ Nhật Bản cĩ quyền sử dụng các hải cảng và các đường giao thơng liên lạc ở Đơng Dương

Sau khi Liên X ơ sụp đổ Bộ Ngoại giao Liên Xơ đã tuyên bố rằng Liin hang Nga tiếp tục kế thừa thực hiện quyền và nghĩa vụ trong các điều ước quốc tê mà

1 3axapona H B o MOKAỴHapo/uioM iipanoirpeeMCTBe H C I O õi.eKTe “ COBGICKOC I OC' /lapc reo H irpaiỉí 1967

> 4 -C 104.

2 Kojiocob IO M KpHBHHKORa 1 c ;ieiícTrVK'm ee Me*;tỴHapo;tnoe npano -M HMHHMTI 1 9 9 6 1 I -C M U

5 Nguyen Huu Tru Quelques problemes de Succession d 'E tats concemant lc Vietnam Bruxelles 1970 -I: 168

Trang 29

Liên X ô đã ký kết và đề nghị các bên của điều ước đó xem Liên bang Nga là chủ thể (là bên) tham gia các điều ước đó thay thế Liên X ô trong tất cả các điều ức quốc tế đang có hiệu lực1.

Kê thừa đối với các quốc gia mới giành độc lập là đề tài mà nhiều nhà khoa học pháp lý quốc tế trên thế giới đặc biệt quan tâm2 Mặc dù là một vấn đề rất thời

sự, nhưng việc kế thừa phải tuân thủ và chỉ có thể đưuc giải quyết trên cơ sở các nguyên tãc và quy phạm của luật quốc tế

K ế thừa của Việt Nam về các điều ước quốc tế từ khi thống nhất đất nước (1975) có đặc điểm riêng, vì sau giải phóng vấn đề công nhận và thành lập một nhà nước Việt Nam mới độc lập không được đặt ra vì Việt Nam đã là một quoc gia có chủ quyền từ năm 1945, tức là sau cách mạng Tháng 8.1945 chúng ta đã tuyên bố với thế giới về việc thành lập ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà Trước khi thống nhất hai miền Nam Bắc Việt Nam, Pháp và Mỹ đã ký nhiều điều ước với “Cộng hoà Việt Nam” và các điều ước đó là không kế thừa đối với Việt nam vì các điều ước đó chỉ có một mục đích là ủng hộ Chính phủ bù nhìn và nhẳm tiôp tục xâm lược chống nhân dân Việt Nam

Điều ước quốc tế được ký kết giữa các quốc gia khác với “Cộng hoà Việt Nam” thì việc kế thừa chúng theo hai sự kiện: Thứ nhất, ký với chính quyền Sài Gòn về các điều ước khác nhau với các nước đế quốc, Pháp, Mỹ theo đuổi mục đích ủng hộ chế độ chống nhân dân và chiến tranh xâm lược Thứ hưi, ngoài các quan hệ với ‘'Cộng hoà Việt Nam” thì các quốc gia nói trên cũng có quan hệ điều ước và đối ngoại với Việt Nam dàn chủ cộng hoà trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước Sau giải phóng năm 1975 thì quan hệ điều ước giữa Việt Nam với các quốc gia đó ngày môt ít hơn Như vậy, vấn đề kế thừa các điều ước song phương và đa phương đã không được đặt, ra mà người ta đưa ra vấn đề kế thừa quốc tế ư một khía canh khác đối với các điều ước đa phương hoặc đ.cu ước

1 M oK ^ynupoaiioe nyojiHHHoe npaiio -M ripocneKT, 2 0 0 4 -T r 1 8 0 -1 8 1

7 HmaTcicKo I B O t Ko.ioHHa.ibHoro pe>KHMa K HauHoiia.n.uoH rocyiiapcTBeimocTH M , 1 9 6 6 , EaparaiiTBH.iH / ỉ H HoBbic rocyjiapcTBa A3HH H AộpHKH H MewflVHapoaHoe ripaBo M ,1 9 6 8 ABaKOR M M Htmi.ie rocyaapcTBa A ìh h H AộpHKH H ut'KOTopbie Bonpocbi npaBoripee.MCTna B b in l, M 1 9 7 3 , 3a\ap<)Ba H B ripaBoiipceMCTBo ro cy v Ịap cm M , 1 9 7 3 , Zcm anek K State S u ccession after D ecolonisation L e’ J e 1 % 5 Bokor-Szege H New States and International Law Budapest 1970 Duculescu V SuccesinnLj Statelor la tratatele international Bucuresti 1972 S/afar7 R Korm encja Wicden ska o Sukcesi) panstu w Stosunku do traktatow - Panstwo 1 Prawo 1979, Nnl -S 6 4 -7 5

Trang 30

cĩ tính phổ biến trong cộng đồng quốc tế Sau thống nhất, Tổng Thư ký Liên hợp quốc đã gửi thư cho Chính phủ Việt Nam để hỏi sự khẳng định của Việt Nam cĩ tham gia vào các điều ước quốc tế chung đa phương mà trước đây “Cộng hồ Việt Nam” đã tham gia mà bản gốc của các tài liệu này đang đươc lưu trữ tại Liên hợp quốc1 và Việt Nam đã trả lời khẳng đinh rằng sẽ xcm xét việc ra nhập các điều ước đa phương theo trình tự luật định vì các điều ước được ký vào thời kỳ đĩ đều được thực hiện trong điều kiên thuộc địa.

Cĩ rất nhiều ví dụ về kế thừa quốc tế, ở Việt Nam sau giải phĩng năm

1975, các tuyên bố của Bộ Ngoại giao về việc thu hồi tỗn bộ tài sản của Việt Nam ở nước ngồi, bao gồm cả bất động sản, động sản, tiền vàng và các loại tài sản khác, trong tuyên bố khẳng định đĩ là quyền kế thừa hồn tồn phù hợp với nguyên vọng của nhân dân Việt Nam và với luât pháp quốc tế Trước năm 1976, Việt Nam dân chủ Cộng hồ và Cộng hoa Nam Việt Nam là thành viên của nhiều Cơng ước quốc tế, ví dụ như Cơng ước Giơnevơ về bảo vệ nạn nhân chiến tranh năn 19492 Sau năm 1976, Việt Nam đã tiếp tục kế thừa Cơng ước này và gia nhap một số Cơng ước quốc tế khác: Cơng ước về quyền con ngườp; điều ước quốc tế

về cấm thử vũ khí hạt nhân trong khí quyển, trong vũ trụ và dưới nước; điều ước quốc tế về khơng phổ biến vũ khí hạt nhân; điều ước quốc tế về kliỏng bị trí vũ khí hạt nhân trên bờ biển, dưới đại dương và trong lịng đất và các loại vũ khí giết người hàng loạt; các Cơng ước về chống thất nghiệp, các Cơng ước về dảm bao an ninh cho ngành hàng khơng dân dụng và ra nhập rất nhiều các văn kiện pháp lý quốc tế khác4 Giáo sư M.M Abacov cho rằng, cơ sở pháp lý để giải quyết các vấn đề về kế thừa quốc tế đối với các quốc gia mới giành được độc lập là hồn tồn phụ thuộc vào quyền tự quyết của họ, tồn bộ quyền năng chủ thể và các văn bản pháp luật quốc tế của chủ thể đĩ sẽ chuyển sang cho quốc gia mới giành được

1 Multilateral Trcalies Deposited bv Sccrykry General Status as at 31 December 1981 - N Y UN, 1982 -P 73

2 Trong ấn phàm khoa hoc bàng tiếng Nga cĩ đoạn viết: Hto KacaeTca ỹKencncKHX KoimemiHM o (anim c npaB wepTB BOHfiu 1 9 4 9 r TO cHHTas iteyKMCTHMM H nenvvKiiMM vBojoMneHHe o ripanonpeeMcrne I Ipanmtni.cTBo

C P B HHfị)op\inpoBa;io npaBHTe.ibciBo nineimapHM 0 TOM, HTO C P B HBímeTCH [ocy;iupcTHOM-' MacnrHKOM TIHX KOHBCHLIHH c MOMt'irra rrpHcoe;iHHeHMíi /I P B K IMM - 19 5 7 r , a ne P IO B - 1 9 7 4[

J Các van bàn pháp lý q u ố c tế: riaKT 06 3KOHOMn-HecKHX, coẸỊHaHLin,i\ H KvEEỵypnMX ripanav IIukt o rpawjancKHX H noJiHTHHeciof\ Iipaiìax, KouBCHiffVH o npe,T Upc/K.TOHHH npecryruiem ni renoim ia M HtiKii la Hero M o fu y n ap ru n afl Koiffleiimw o [HKPHjanHH Bcex cị)op\t pacoBoìí âncK-pnxniiaim n M UM n o.iõn u c

KOHBeHUHH

4 Multilateral Treaties Deposited by Secretan General Status as at 31 IJeccmHcr 19 ẳ 2 - N Y UN 19K^

Trang 31

độc lập là một tất yếu mà khồng phải tuân theo trình tự kê thừa vì đó là quyền tự quyết của dân tộc mình trên lãnh thổ của quốc gia mình1 Việc giải quyết các vấn

đề kế thừa sau cách mạng tháng mười Nga cũng là một ví dụ điển hlnh vì nhà nước X ồ Viêt đã tuyên bô xoá bỏ tất cả các điều ước quốc tê mà Nga Hoàng đã ký kêt trước đây với nước ngoài mà chỉ kê thùa các điều ước ký kết với các quốc gia phương đông vì đó là các quốc gia giáp biên giới hoặc có tác động đến việc xây dựng và phát triển kinh tế-xã hội và quan hệ đối ngoại của Liên Xô mà trong sỏ

đó có thể kể đến như Thổ Nhĩ Kỳ, Iran, Ápganixtan, Trung Quốc, Nhật Ban, Mỹ2

W

Thực tiễn việc giải quyết kế thừa quốc tế đã được chứng minh trong thòi kỳ tồn tại của nhà nước X ổ Viết mà trước hết là thời kỳ thành lập nhà nước Licn Xô (Liên bang các nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô Viết) và sau này thời Liên bang Nga V í dụ, theo điều ước kế thừa về các khoản nợ với các quốc gia khác của Liên Xô trước đây đã được 15 nước cộng hoà thông qua với tỷ lệ kê' thừa như sau: Nga 6 1 ,3 4 % ; Ưcraina 16,37%; Beloruxia 4,13% ; ưdơbekixtan \ 2 7 r# ; Cadăcxtan 3,86% ; Grudia 1,62%; Adecbaidan 1,64%; Litva 1,41%; Mondavia 1,29%; Latvia 1,14%; Cưdơgưxtan 0,95% ; Tatgikixtan 0 , ® % ; Amenhia 0,K6%\

Tuocmextan 0 ,7 0 % ; Hxtonia 0 ,6 2 % 3

Theo thoả thuận ngày 6.7.1992 về sự phân chia quyền sở hữu động sán và bất động sản, vốn đầu tư của Liên Xô ở nước ngoài được phân chia cho các chủ thể Liên bang trước đây như sau: Nga 61,34% ; Ucraina 16,37%; Beloruxia 4,13% ; Ưdơbekixtan 3,27% ; Cadăcxtan 3,86% ; Adecbaidan 1,64%; Mondavia 1,29%; Cưdơgưxtan 0,95% ; Tatgikixtan 0,82% ; Amenhia 0,86% ; Tuocmextan0,70% ; Tổng cộng 4 nước: Grudia, Latvia, Litva và Extonia là trên 4,79? không được tính trong thoả thuận trên4

Chẳng hạn như, sau khi Liên Xô chấm dứt sự tồn tại của minh, nước Nga

đã tự nguyện thực hiện các cam kết quốc tế mà trước đó Liên Xồ đã ký kết, tức là

1 ÀBaKOB M M I ipaROirpecMCTBO OCBOOOIHISIIIHXCH rocvaap cm -M ,1983 -C 127

1 BenbHMHHOB r M IIpaBOripeeMCTBO MCýK.TY POCCHHCKOH Oe/lepailHCH H P o ccm h ck o h HMHCPHCH,

MewjyuapoaHbie H BK^TpcHHHe acneKTbi // IvDKMII 199 8 , N? 3 - C 2 2 -2 6

' K o io co b KJ M KpHBHHKOBa 3 C /ỊCHCTB'-K>wee M e*.]' napo.inoe npaBo b 3 -x TOMax -M H>,1- bo.MHHMII, 1 9 9 6 -1 9 9 7 Tom 1 -C 479

4 Mewaynapcarat>e nvS.HTMHOc npaiio Y mcõhhk -M npocneKT 200-1 -T r 1X2-1X3

Trang 32

các điều ước quốc tế mà thời kỳ Liên Xô đã ký đang còn hiệu lực, thì nhà nước Nga đã kế thừa viộc thực hiện với tư cách nhân danh nhà nước Xô Viết Đặc biệt

là về lĩnh vực quyền con người, nước Nga tiếp tục thực hiện các quyền và các cam kết quốc tế đã ghi nhận trong các văn bản điều ước mà Liên Xô đã ký, điều ước cần được tuân thủ phù hợp với các điều kiện đã được quy định ngay trong điều ước, phù hợp với các quy phạm cùa luật quốc tế, với hiến pháp Nga và với các văn bản quy phạm pháp luật khác trong hệ thống pháp luật Liên bang Nga và tất nhièn

là phải phù hợp với nội dung luật định

Sau năm 1975, Chính phủ Việt Nam đã giải quyết các vấn đề kế thừa về điều ước quốc tế, về công nợ và về tài liệu lưu trữ w với các quốc gia đã ký điều ước quốc tế với chính quyền Sài Gòn như Pháp, Nhật, Mỹ w Mặc dù, có nhiều khó khăn nhưng trên tinh thần hợp tác đôi bên cùng có lợi và trên cơ sở các quy phạm luật pháp quốc tế điều chỉnh về lĩnh vực này, Việt Nam và các quốc gia nói trên đã tìm được tiếng nói chung để giải quyết các vấn đề có liên quan đến kế thừa quốc tế Chang han như, các vấn đề về tài chính, tài sản và về công nợ giữa chính quyền Sài Gòn với Chính phủ Hoa Kỳ và với một sô nước công nghiệp phát triển đã được giải quyết cụ thể tại Câu lạc bộ Paris với kết quả đồng thuận Theo

đó, Chính phủ Việt Nam đã tuyên bố chấp thuận thực hiện theo pháp luật quốc tế

về kế thừa quốc tế các khoản nợ đó, nhưng bảo lưu ý kiến của mình khi cho rằng Việt Nam chỉ chịu trách nhiệm hoàn trả các khoản nợ mang tính chất kinh tế dân sinh Các khoản nợ của Việt Nam đối với các Chính phủ trong Câu lạc bộ Paris, các bên đã dạt được thoả thuận như sau:

các nước đồng ý cho Việt Nam được hoãn trả nợ quá hạn trong vòng 30 năm, trong đó 12 năm đầu Việt Nam chỉ phải trả lãi và lãi xuất trong thời gian hoãn nợ được tính theo mức ưu đãi nhất;

đây, các nước đồng ý cho Việt Nam được giảm nợ quá hạn 50% theo phương thức hoãn trả nợ trong vòng 23 năm, trong đó 6 năm đầu chỉ phải Irả lãi, hoặc theo phương thức xoá ngay 50% số nợ

Trang 33

Quan hê song phưcmg giữa Việt Nam và Hoa Kỳ trong xử lý nợ, tiền và tài sản có quy mô tương đối lớn và với nội dung phức tạp hơn Công ước Viên về kê' thừa quốc tế đã quy định cụ thể các quyền và nghĩa vụ quốc tế của Chính phù mới đối với Chính phủ trước đó và đã được các nước trên thế giới thừa nhận và thực hiện Trên tinh thần đó Chính phủ Việt Nam đã đồng ý trả cho Chính phủ Hoa Kỳ những khoản tiền, tài sản thuộc trách nhiệm của chính quyền Sài Gòn và ngược lại Chính phủ Hoa Kỳ trả cho Chính phủ Việt Nam toàn bộ tiền, tài sản của chính quyền Sài Gòn cũ đang bị phong tơả ở Hoa Kỳ và theo nguyên tắc trong các khoản nợ cũ thì Việt Nam chỉ có trách nhiệm trả các khoản vay mà có liên quan trực tiếp đến kinh tế, dân sinh như các khoản vay của cơ quan viện trợ phát triển

Mỹ (USAID) cho bốn dự án đã đầu tư ở Miền Nam Việt Nam đó là: Hệ thống cấp nước Sài Gòn ký năm 1960; Thiết bị cho nhà máy điện Sài gòn ký năm J 961; Hệ thống đường sắt ký nãm 1960; Chương trình trợ giúp kỹ thuật ký năm 1973 và hai khoản vay của Bộ Nông nghiệp Mỹ để nhập khẩu lúa mỳ và nông sản Theo dó kết quả được giải quyết như sau:

trừ phía Hoa Kỳ đã trả Việt Nam ngay 158 triệu USD và Việt Nam da nhận dù khoản này;

trao trả;

theo đó Việt Nam phải trả số nợ gốc và lãi quá hạn phát sinh và 153 triệu USD trong thời hạn 25 năm, trong đó 16 năm đầu chỉ phải trả lãi với lãi xuất ưu dãi khoảng 3% Bên cạnh đó Bộ Tài chính Mỹ sẽ cổ trách nhiệm giúp Việt Nam tái thiết và phát triển đất nước sau chiến tranh1

Như vậy, việc giải quyết các khoản nợ về tiền, về kinh tế dan sinh và về tài sản giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đã căn bản được thực hiện trên cơ sơ quy định của các Công ước quốc tế về kế thừa quốc tế và luật pháp của hai Nhà nước, từ đó dã

'N hản dân ngàv 12.5 W 97.

Trang 34

tạo điều kiện để hai Nhà nước bình thường hoá quan hộ với nhau về kinh tê tài chính, thương mại và đầu tư, góp phần đam bảo hoà bình và an ninh thế giới.

3 C ác bên của điều ước quốc tế.

Theo luật quốc tê hiện đại các bên của điều ước quốc tê chính là chù thể của luật quốc tế, theo điều 6 Công ước Viên về luật điều ước quốc tế năm 1969 thì mồi quốc gia đều có đủ khả năng pháp lý để ký điều ước quốc tô vì quốc gia có chủ quyền và phải tôn trọng các quyền chủ thể Quốc gia có quyền ký hoặc không

ký, tham gia hoặc không tham gia vào các điều ước song phương hoặc điều ước

đa phương và cũng có quyền ký tham gia vào các điều ước liên minh giữa các quốc gia với nhau

Việc tham gia của các quốc gia vàơ một điéu ước cụ thể nào đó hoàn toàn phụ thuộc vào nội dung của điều ước đó, tức là phụ thuộc vào đói tương và mục đích của điều ước Điều ước quốc tế mà liên quan đến việc đảm bao an ninh và hoà bình thế giới, tạo điều kiện cho sự phát triển của luật quốc tế vì hoà bình và an ninh quổc tế và các If,ều ước mà nội dung của nó thể hiện lợi ích của cộng đồng quốc tế thì cần là điều ước mở để cho bất kỳ quốc gia nào (hoặc chù the luật quốc tế) cũng có thể tham gia Trong Công ước Viên về điểu ước quốc tế năm 1969 dã thể hiện bản chất của nguyên tắc này tức là điều ước đó phải co tính phổ thông (hoặc toàn cầu) và mong muốn các quốc gia thực hiện theo nguyên tắc này

Các quốc gia tự quyết định việc tham gia hoặc không tham gia vào điều ước nào đó, tức là phụ thuộc vào sự quan tâm của quốc gia đối với điều ước - đó là quyền chủ quyền và là quyền của các quốc gia Vai trò, chức năng, tính phổ hiến

và tầm quan trọng của điều ước đối với cuộc sống cộng đồng quôc tế của một sô các điều ước còn phụ thuộc vào số lượng chủ thể (tham gia), chẳng hạn như các điều ước về hạn ch ế vũ khí hạt nhân đã thu hút được hàng loat quốc gia trên thế giới tham gia phản đối vũ khí hạt nhân và hàng loạt các quốc gia gia nhập vàođiều ước quốc tế về không phổ biến vũ khí hạt nhân1 Ở các nhà nước liên hang dã

1 Vè vấn dể này đã khổng ít lán đươc thào luân tai LiCn hơp Qurtc vá tai cá c I lôi nghi quỏ'c té khác (le xem xéi hiẽu lưc cùa điểu ươc va (lã l i đèn kết lu AII kh.ing íỊinh rang cán đảm hào tính pho biến cùa điêu ước nàj Các quoL í> la

là thành viên cù a diều ư ớc (lã khàng dinh và kiíu goi c á c quốc gia khác trcn thô giới còn chưa lã thành viên của điẽu ước nên sớm ra nhổp hoac là ra nhnp càng nhanh càng f|ỡt X cm : MevK.Miapo IHOC npano //O riier Pc.t - rrpocj) r B HrHaTeHKo H n p o ộ O H ĨHỴHOB -M MH'M’A 1 9 9 9 - C 2 6 7

Trang 35

xuất hiện vấn đề về khả năng pháp lý của các chủ thể thuộc liên bang, khi họ tham gia điều ước được thể hiộn như thê nào ở chủ thể là liên bang và các chù thể của liên bang hoặc các vùng lãnh thổ của nhà nước liên bang, ví dụ như Mỹ, Đức, Nga vv

Quốc gia và các dân tộc đang đấu tranh vì độc lập dân tộc có thể là các bên của điều ước quốc tế, họ thể hiên là chủ thể luật quốc tê khi ký với các quốc gia khác thường là các điều ước về thành lập quốc gia độc lập có quyền tự quyết, về việc ủng hộ chính trị trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc thoát khỏi sự phụ thuộc là thuộc địa, về giúp đỡ kinh tê và về các vấn đề liên quan khác

Điều 6 Công ước Viên về luật điều ước quốc tê năm 1969 còn quy đinh địa

vị pháp lý về quyền tham gia điều ước quốc tế cho các tổ chức quốc tế (tổ chức liên chính phủ) nhưng khi tham gia điều ước phải phù hợp với các quy phạm được quy định trong các quy chế của tổ chức Các tổ chức quốc tế khác với các quốc gia ở chỗ có quyền chủ thể của các tổ chức này luôn ở mức độ hạn chê' khi iham gia quan hộ điều ước Có quvền ký với các quốc gia và các tổ chức quốc tố khác trong pham vi nội dung của văn bản sáng lập (thành lâp; tố chức quốc lê và các điều kiện khác mà tổ chức đó đã nhất trí thông qua

Điều ước quốc tế mà trong đó có các điều khoản quy định mở để các quỏc gia, các dân tộc và các tổ chức quốc tế có thể tham gia với tư cách là các thành viên của điều ước thì gọi là điều ước mở Ví dụ như, các quốc gia, các dân tộc và các tổ chức quốc tế có thể tham gia vào Công ước về chiến dịch hành động vì thảm hoạ hạt nhân ngày 26.9.1986, có thể đưa ra thêm các ví dụ khác như về vấn

đề chống tham nhũng hiện nay trên phạm vi toàn thê' giới vì tham nhũng có không chỉ còn là công việc nội bộ của riêng một quốc gia nào mà cần có sự hợp tác của nhiều quốc gia, vì nó liên quan đến hệ thống ngân hàng, đến việc chuyển những khối tài sản lớn ra nước ngoài, liên quan đến những con người hoặc một nhóm người cụ thể thực hiện hành vi đó Chính vì tầm quan trọng cua nó dối với hoà binh và an ninh thế giới như vậy nên Liên hợp quốc đã soạn thảo Còng ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng trèn phạm vi toàn thế giới và đã dưoc thòng qua ngày 3 1 1 0 2 0 0 3 với những nội dung thiết thực và cap thiết như viẹc phòng ngừa buộc tội việc hợp tác quòc tế về cách thức thu hỏi tiền' hất hcrp pháp do và

Trang 36

quy định cụ thể các chế tài khác có liên quan Rõ ràng đó là một loại tội phạm nguy hiểm xuyên quốc gia và là vấn dề của cả nhân loại trên thế giới Đó là một Công ước mở và Liên hợp quốc đã có ý để các quốc gia tự nguyện tham gia Công ước này nhằm mục đích kôu gọi các quốc gia gia nhập để cùng đấu tranh và tuyên chiến với chung Đến nay đã có hơn 30 quốc gia trên thê giới phê chuẩn Công ước này va đên ngày 14.12.2005 Công ước sẽ có hiệu lực1 Việc phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam đã được các phương tiện thông tin đại chúng truyền tải trong thời gian gần đây và việc nhà nước ta đang tích cực xây dựng, soạn thảo và ban hành luật phòng, chống tham nhũng đã cho thấy chúng ta tích cực ủng hộ Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng Do đó, việc tham gia hoặc phê chuẩn Công ước này theo chúng tôi là cần thiết vì đó cũng là một hình thức chuyển hoá các quy phạm luật quốc tế vào pháp luật quốc gia trong lĩnh vực hợp tác quốc tế về đấu tranh chống tội phạm quốc tế.

Việt Nam đã và đang tích cực tham gia hợp tác quốc tế về môi trưởng (Ecology), vấn đề bảo vệ môi trường là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng và đã được đặt ra trước công đổng quốc tế vào cuối thế kỷ X X Muốn vậy, các quỏc gia cần có sự hợp tác với nhau trên phạm vi toàn cầu vì một môi trường xanh, sạch, nếu chúng ta muốn cứu trái đất, cứu loài người trong tương lai

Việc bảo vệ đại dương khỏi bị ô nhiểm, vấn đề thay đổi khí hậu hoặc bao

vệ sinh thái và nhiều vấn đề có tính toàn cầu khác không phải là nhiệm vụ của một, một vài vài quốc gia, một khu vực, một châu lục mà là nhiệm vụ chung của toàn thế giới Vấn đề đó chỉ có thể được giải quyết với sự cộng tác và hợp tác của tất cả các quốc gia trên cơ sở điều chỉnh của của luật quốc tế hiện đại

Trong những năm đầu của thế ký X X I, trên thế giới vẫn còn không ít những khó khăn: Thứ nhất, các quốc gia chưa chuẩn bị sẩn sàng về pháp lý để thông

qua những quyết định có tính chất nguyên tắc bắt buộc trong lĩnh vực bao vệ mỏi trường, mặc dù phorm trào bảo vệ môi trường đã được chú ý à cac quoc gia khác nhau và họ đã thấy dược những việc cần phải làm để hao vệ môi trưcmg Thứ hai,

trước yêu cầu bảo vệ môi trường quỏc tê'ngày một cao, các quốc gia cần xây dựng

1 Báo pháp luăi Viêt Nam sỏ 254 (2 24) ngày 2 4 /1 0 /2 0 0 5 -1 r 14

Trang 37

những kế hoạch có tính nguyên tắc nhằm bảo vệ môi trường và chúng phải được quy định dưới dạng văn bản pháp lý.

Vào cuối thố kỷ thứ X X , dưới sự bảo trợ của LHQ, quốc tê đã tổ chức thành công nhiều hội nghị khoa học về bảo vệ môi trường Hội nghị thứ nhất được tổ chức vào nãm 1992 ở Ri-Ô đê Ha-nây-rô (Ri-Ô đơ Gia-nê-rô) về môi trường và phát triển, có 150 quốc gia ký vào Công ước khung về thay đổi khí hậu, ngày

2 1 3 1 9 9 4 lần đầu tiên trong lịch sử vãn bản quốc tế về khí hậu có tính toàn cầu

có hiệu lực pháp lý Ngày 10.12.1997 có 159 quốc gia tham gia Cùng ước và Hội nghị ở Kiôtô đã thông qua văn bản quốc tê bằng hình thuc thỏa thuận đổng thuận (konsensuns) về bảo vệ thiên nhiên với những điều khoản rièng của điều ước "thê

hệ mới"

Bước vào thế kỷ X X I, các quốc gia lần đầu tiên đã đưa ra những chỉ số cụ Ihể để bảo vệ môi trường theo từng giai đoạn cụ thể và đó là những dấu hiệu đầu tiên cho môi trường xanh, sạch trong tương lai

Việt Nam tham gia và la thành viẽn của nhiều Công ước quòc tế quan trong

về môi trưừng và tự nguyện thực thi các điều khoản của chúng Ví dụ như, Công ước Ramsar (Iran) về đất ngập nước mà nội dung ch1' yêu của nó là mỗi quốc gia cần phải thúc đẩy công việc bảo tồn và sử dụng khôn khéo các vùng đấi ngập nước trên lãnh thổ của minh thông qua các hoạt động ở các câp địa phưc/ng, khu vực, quốc gia và hợp tác quốc tể nhằm đóng góp cho sự bền vững trên thế giói Công ước này có ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng không chỉ với số lượng các quốc gia tham gia đến thời điểm này là 134 quốc gia (trong đó có Việt Nam) với 1.230 vùng đất ngập nước và có tổng diện tích 105,9 triệu hecta mà là một vãn bàn cô tầm quan trọng đối với cộng đồng quốc tế về bảo tồn và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên đó; Nghị định thư Cartagena là một trong hững hiệp ước quoc tế quan trọng thể hiện sự cam kết của cộng đồng quốc tế vể dam hao an toàn trong vận chuyển, xử lý và sử dụng các sinh vật biến đổi gen Đây là Hiệp định mang tính lịch sử trong lĩnh vực hợp tác quốc tế về an toàn sinh hoc mà Việt \am tham gia tích cực vào Nghị định này

Vào thế kỷ X X I, nhiệm vụ chung dang đưục dặt ra cho các quuc ma, cac luật gia-luật quốc tế, các đại diện cua các npành nghe khiu; nhiệm vụ đó là hơp

Trang 38

tác để xây dựng những vãn bản pháp lý mới có tính chất toàn cầu về bảo vệ thiên nhiên môi trường, nó thể hiộn ý chí cộng tồn của loài người và tạo lập trên trái đất một môi trường đảm bảo cho con người có thể sống và làm việc ngày một tốt hơn.

Như vậy, các bên của điều ước quốc tế là các quốc gia, các tổ chức quốc tế

và các dân tộc đang đấu tranh giành độc lập dân tộc Chính các chủ thể luật quốc

tế này đang tham gia vào quan hệ pháp luật quốc tế tư cách là các bên cua điều ước quốc tế trên tất cả các mặt sinh hoạt quốc tế

Trang 39

Chương H: PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ PHÁP LUẬT NƯỐC

NGOÀI VỀ ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ

1 C ác văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam về điều ước quốc tế.

Việt Nam là quốc gia có chủ quyền và là chủ thể của luật quốc tế hiện đại, điều đó đã được khẳng định trong Tuyên ngôn độc lập ngày 02.9.1945 khai sinh

ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (nay là Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam) V lệt Nam có hệ thống pháp luật của minh, có hiến pháp, có các bộ luật, các đạo luật, các văn bản đưới luật và hệ thống các văn bản hướng đản việc thi hành chúng Trong đó, hoặc là vần bản chuyên ngành hoặc là các quy phạm nằm trong các văn bản pháp luật khác nhau nhưng cùng điều chỉnh về điều ước quốc

tế, về thẩm quyền tham gia điều ước, về trình tự, thủ tục và cách thức tiến hành đàm phán, ký kết và thực hiện điều ước quốc tế của Cộng hoà xã hội chù nghĩa Việt Nam Các quy phạm đó trước hết được quy định trong Hiến pháp và sau đó được cụ thể trong các luật, vãn bản dưới luật và trong các quyèt định, các chỉ thị của các cá nhân và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo luật định Nhưng quan trọng nhất và chiếm vị trí then chốt đó là hiên pháp vì trong đó quy định những nguyên tắc chung cơ bản, những vấn đề có tính định hướng không chỉ trong quốc nội mà cả trong chức nãng đổi ngoại cua Nhà nước Hiến pháp còn tụ thể hoá những nguyên tắc chung, cơ bản của luật quốc tế hiện đại mà đã đưiX' cộng đồng quốc tế công nhận, các nguyên tắc đó quy định cơ sở pháp lý cơ bản trong hoạt động của các cơ quan quyền lực nhà nước và cơ quan quản lý nhà nước về ký kết và thực hiện điều ước quốc tế của Việt Nam, quy định phạm vi (lĩnh vực) hợp tác quốc tế và các quan hệ quốc tế mà các điều ước quốc tế điều chỉnh Trong quá trình soạn thảo các văn bản về điều ước quốc tế, Việt Nam đã đúc rút kinh nghiệm, thực tiền về ký kết và thực hiện điều ườc của Việt Nam Irong nhiều năm qua và kinh nghiệm thực tiễn từ các quốc gia khác nhau trên thế giới

Các điều ước mà Việt Nam đã ký với các nước, với các tổ chức quốc tố, các tổ chức liên chính phủ đã điều chỉnh đồng bộ hệ thống các mối quan hệ trên nhiều lĩnh vực khác nhau như: chính trị, kinh tế, văn hoá, giao due, khoa hoc k\

Trang 40

thuật w giữa Việt Nam với nước ngoài Bằng việc ký điều ước, chúng ta đã tham gia vào sân chơi chung của khu vực, liên khu vực và the giới trên cơ sở các các điều ước song phương, đa phương, khu vục và toàn cầu.

Năm 1945 thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà và khẳng đinh Việi Nam là chu thể của luật quốc tế hiện đại Từ đó đến nay Việt Nam đã kịp ban hành 4 Hiến pháp: Hiến pháp năm 1946; Hiến pháp năm 1959; Hiến pháp nãm

1980 và Hiến pháp hiện hành năm 1992 (sửa đổi)

Mỗi hiến pháp được ban hành đều phù hợp và đáp ứng với mội thời kỳ phát triển nhất định cua đất nước và gắn với một giai đoạn lịch sử Vị trí, vai trò, chức năng và thẩm quyền của các cơ quan trong bộ máy nhà nước về đối nội và đối ngoại cũng thay đổi theo Nhưng, ký kết và thực hiộn điều ước quốc tẽ luôn

là chức năng, là nhiệm vụ của các cơ quan quyền lực nhà nước như Quốc hội, uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ và các cơ quan của Chính phủ tức là các Bộ, cơ quan ngang Bộ Nhiộm vụ, thẩm quyền cụ thể liên quan đến ký kết và thực hiộn điều ước được quy định trong Hiến pháp, trong các văn bản luật và dưới luật

Các Hiến pháp 1946, 1959, 1980 và 1992 đểu quy định Quốc hõi và uỷ ban Thường vụ Quốc hội có quyền phê chuẩn và huỷ bỏ điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia hoặc ký kết Chẳng hạn như việc quy định Ụuốc hội có quyền phê chuẩn điều ước được ký giữa Chính phủ Việt Nam với Chính phủ các nước ngoài (điều 23 Hiến pháp 1946); Uỷ ban Thường vụ Quốc hội có quyền phê chuẩn, huỷ bỏ điều ước quốc lế trừ những trường hợp cần thiết thì Irình Quốc hội xem xét quyết định (khoản 12 điều 53 Hiến pháp 1959); Quốc hội có quyền phê chuẩn và huỷ bỏ điều ước quốc tế theo đề nghị của Hội đồng Nhà nước (khoản

15 điều 82 Hiến pháp 1980) Hiến pháp 1992 cũng có những điều khoản quy định tương tự, tức là Quốc hội quy định chính sách đối ngoại, phê chuẩn hoặc bãi bỏ điều ước quốc tế do Chủ tịch nước trực tiếp ký, phê chuẩn hoặc bãi bỏ các điều ước quốc tế khác đã được ký kêt hoặc gia nhập theo đề nghị cua Chủ tịch nước (khoản 13 điều 84)

Qu ền phê chuẩn và bãi bỏ điều ước mà Việt Nam tham gia còn được giao cho Hội đồng Nhà nước (Hiến phap 1980) hoặc là Chù lịch nước Trên cơ sở

Ngày đăng: 13/05/2020, 20:51

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm