1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc trưng văn học vết thương trung quốc qua tùy tưởng lục của ba kim và dịch thuật tác phẩm này tại việt nam

16 82 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 542,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- LÊ THỊ NGUYÊN ĐẶC TRƯNG VĂN HỌC VẾT THƯƠNG TRUNG QUỐC QUA TÙY TƯỞNG LỤC CỦA BA KIM VÀ DỊCH THUẬT TÁC PHẨM NÀY

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

LÊ THỊ NGUYÊN

ĐẶC TRƯNG VĂN HỌC VẾT THƯƠNG

TRUNG QUỐC QUA TÙY TƯỞNG LỤC CỦA

BA KIM VÀ DỊCH THUẬT TÁC PHẨM NÀY

TẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Văn học nước ngoài

Hà Nội-2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

LÊ THỊ NGUYÊN

ĐẶC TRƯNG VĂN HỌC VẾT THƯƠNG

TRUNG QUỐC QUA TÙY TƯỞNG LỤC CỦA

BA KIM VÀ DỊCH THUẬT TÁC PHẨM NÀY

TẠI VIỆT NAM

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Văn học nước ngoài

Mã số: 60 22 02 45

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thu Hiền

Hà Nội-2016

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Vào những năm 70 - 80 trên văn đàn Trung Quốc, điều đáng chú ý nhất

có lẽ chính là trào lưu Văn học vết thương Văn học vết thương nguyên gốc tiếng Trung là 伤痕文学 (tức văn học vết thương hay vết sẹo, nhưng ở Việt Nam chúng ta quen dùng với thuật ngữ “Văn học vết thương”) Đúng như tên gọi của mình, trào lưu Văn học vết thương để chỉ những tác phẩm văn học viết về nỗi đau suốt mười năm “cách mạng văn hóa” ở Trung Quốc Mười năm ấy với những nỗi đau, ám ảnh không thể xóa mờ trong trái tim, tâm trí những người trí thức, vết thương bên ngoài thể xác của họ có thể lành nhưng vết thương trong tâm hồn thì vẫn mãi nhức nhối không yên Mười năm “cách mạng văn hóa” là mười năm của khổ đau, mà khổ đau nhất ở đây chính là sự

áp chế về mặt tư tưởng Chính vì vậy, vào cuối những năm 70 của thế kỷ XX, khi Trung Quốc bước vào thời kỳ cải cách mở cửa, các nhà văn Trung Quốc

đã nhìn lại quãng thời gian đen tối ấy, viết lại những nỗi đau mà vết thương

nó để lại vẫn trong trái tim họ Văn học vết thương phản ánh tấn bi kịch tinh thần mà người trí thức phải chịu trong mười năm “cách mạng văn hóa”, nhằm phủ định cuộc “cách mạng văn hóa” kia, đồng thời Văn học vết thương còn là

sự tiếp nối truyền thống tinh thần đấu tranh của người trí thức từ thời Văn học Ngũ Tứ Đó là tinh thần khai minh, sự dũng cảm của những người cầm bút dám đứng lên để bảo vệ lẽ phải, sự tự do (không chỉ thể xác mà còn là cả tinh thần) cho những người trí thức Không chỉ phản ánh, Văn học vết thương còn như một lời sám hối, phản tư của bản thân nhà văn đối với một giai đoạn lịch

sử (cụ thể ở đây chính là mười năm “cách mạng văn hóa”) Và Văn học vết thương cần được nhìn nhận trong dòng chảy văn học Trung Quốc với tư cách

Trang 4

tiếp nối tinh thần của văn học Ngũ Tứ trước đó Ngoài ra, Văn học vết thương cũng bắt đầu chú ý tới những con người, những số phận nhỏ bé trong xã hội Tuy chỉ kéo dài trong khoảng chưa đầy mười năm nhưng Văn học vết thương

có giá trị lịch sử to lớn, nó chính là trào lưu mở đầu cho hàng loạt trào lưu văn học sau đó của Trung Quốc, như Văn học phản tư, Văn học cải cách, Văn học tầm căn Có thể ví Văn học vết thương như cánh én báo hiệu mùa xuân trên văn đàn Trung Quốc hiện đại

Những nhà văn tiêu biểu của trào lưu Văn học vết thương có thể kể tới

Ba Kim, Tiêu Kiền, Vương Tây Ngạn, Kha Linh, Hồ Phong, Ngưu Hán, Tân Địch, Trần Kính Dung, Ngải Thanh, Công Lưu, Lưu Sa Hà…

Trong đó, Ba Kim (tên thật Lý Nghiêu Đường) được coi là “cây đại thụ” trong nền văn học Trung Quốc, là một trong những nhà văn hiện đại nổi tiếng nhất Trung Quốc Ông sinh ra trong một gia đình quan lại phong kiến, chính vì vậy, từ nhỏ Ba Kim đã phải tiếp xúc rất nhiều chuyện bất công, bất hợp lý trong chính dinh cơ rộng lớn của gia đình mình Ông oán ghét, thậm chí căm thù những đấu đá, bất công của chế độ phong kiến ấy Tới năm 1919, phong trào Ngũ Tứ như một luồng gió mới thổi bùng lên tư tưởng dân chủ, đổi mới trong Ba Kim Ông say mê sáng tác vì đó như một cách hữu hiệu để bày tỏ tư tưởng của Ba Kim Và tinh thần ấy như sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong

các tác phẩm của Ba Kim, mà sau này, trong Tùy tưởng lục, tinh thần phơi

bày hiện thực đen tối của xã hội, để từ đó kêu gọi mọi người chống lại “cách mạng văn hóa”, cũng như sự phản tư, sám hối của chính nhà văn - người

trong cuộc - đã để lại ấn tượng mạnh mẽ đối với người đọc Và Tùy tưởng lục

cũng trở thành một trong số những tác phẩm tiêu biểu nhất của trào lưu Văn học vết thương của Trung Quốc

Tuy nhiên, ở Việt Nam, Ba Kim chưa được biết tới nhiều, chủ yếu chỉ

là những giới thiệu sơ lược, các tác phẩm của ông cũng chỉ được dịch rất ít,

Trang 5

gồm Gia đình, Mùa xuân, Trời lạnh về khuya và Tùy tưởng lục Trong đó tác phẩm Tùy tưởng lục nguyên bản gồm năm tập, nhưng người dịch (Trương

Chính, Ông Văn Tùng) chỉ chọn trong mỗi tập một số bài để dịch thành một

tập Tùy tưởng lục bằng tiếng Việt Tùy tưởng lục có thể coi là một trong

những tác phẩm tiêu biểu của trào lưu Văn học vết thương, nó là lời tố cáo, phản tư, sám hối của một nhà văn lớn của Trung Quốc về cuộc “cách mạng văn hóa” suốt mười năm Như Ba Kim từng nói, tập sách này như một lời nhắc nhớ về những nỗi đau trong quá khứ, để mỗi người không ai được quên

về những tội ác từng xảy ra, để ngăn chặn những tội ác như thế có thể xảy ra thêm một lần nữa

Ở Việt Nam, trào lưu Văn học vết thương cũng mới chỉ được giới thiệu một cách sơ lược, chưa có một công trình nghiên cứu toàn vẹn nào về trào lưu

văn học này Chính vì vậy, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài “Đặc trưng

văn học vết thương Trung Quốc qua Tùy tưởng lục của Ba Kim và dịch

thuật tác phẩm này tại Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu nhằm đưa ra một

cái nhìn sơ bộ về trào lưu văn học vết thương Trung Quốc đặt trong sự quan sát và khái quát về tình hình dịch thuật cũng như tiếp nhận Văn học vết thương Trung Quốc ở Việt Nam Chúng tôi cũng sẽ đi sâu nghiên cứu về

những biểu hiện của Văn học vết thương qua tác phẩm cụ thể là Tùy tưởng lục

cũng như việc tái cấu trúc tác phẩm này qua bản dịch tiếng Việt của tác phẩm

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Ở Trung Quốc, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về trào lưu Văn học vết thương

Các công trình giới thiệu một cách bao quát nhất về trào lưu Văn học vết thương có thể kể tới cuốn新时期文学简史 (Giản sử văn học thời kỳ mới,

Trần Tư Hòa, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Quảng Tây, 2010) ở mục một,

Trang 6

chương một “Trở lại với tinh thần Ngũ Tứ” tác giả đã giới thiệu về bối cảnh lịch sử, các đặc trưng và các tác giả tiêu biểu của trào lưu Văn học vết thương Trào lưu Văn học vết thương được hiểu như trào lưu mở đầu cho văn học thời

kỳ mới, được ra đời sau chính sách cởi trói cho văn nghệ của chính phủ Trung

Quốc Trào lưu được định danh qua tên tác phẩm Vết thương của Lư Tân Hoa

Chỉ là một phần trong chương đầu tiên của cuốn sách, tuy nhiên đã khái quát cho người đọc cái nhìn bao quát, đầy đủ về trào lưu văn học này

Tiếp tới, công trình được coi là đầy đủ nhất về nghiên cứu Văn học vết thương là luận án 作为文艺思潮的伤痕文学(1976 - 1984 年)(“Văn học

vết thương” với tư cách là một trào lưu văn học (năm 1976 - 1984)) của tác

giả Vương Quỳnh, bảo vệ tại Đại học Sư phạm Hoa Đông, Trung Quốc năm

2009 Trong công trình này, tác giả đã mô tả rất chi tiết bối cảnh lịch sử, quá trình hình thành, đặc trưng nội dung, ý nghĩa cũng như những hạn chế của trào lưu Văn học vết thương Luận án được cấu trúc gồm bốn chương, đã nêu lên mối quan hệ của “phong trào giải phóng tư tưởng” của Văn học vết thương và “phong trào thơ ca Thiên An Môn”, xem xét Văn học vết thương với tư cách một hình thái ý thức của lịch sử trần thuật mang tính hiện đại, xuất hiện mối quan hệ phức tạp giữa văn học và chính trị Đồng thời thông qua lịch

sử ngữ cảnh mà tái hiện quá trình hình thành khái niệm Văn học vết thương, thông qua một số tác phẩm kinh điển để nghiên cứu trào lưu này Luận án so sánh trào lưu Văn học vết thương với các trào lưu khác để từ đó nhìn nhận tiến trình của văn học Trung Quốc hiện đại Từ đó đi tới kết luận quá trình hình thành, phát triển, suy thoái của trào lưu Văn học vết thương cũng chính

là quá trình chữa lành vết thương do “cách mạng văn hóa” để lại với văn học

và lịch sử tư tưởng Trung Quốc

Trang 7

Bên cạnh đó cũng có những công trình nghiên cứu tiếp cận trào lưu

Văn học vết thương ở những khía cạnh khác nhau, như luận án “伤痕” 与“反

thương” và văn học “phản tư”), tác giả Lý Mẫn, bảo vệ tại Đại học Sư phạm

Sơn Đông, năm 2007, đi theo hướng nghiên cứu là lý giải trào lưu Văn học vết thương và phản tư từ góc độ hoàn cảnh lịch sử, yếu tố, loại hình tự sự vết thương Luận án gồm bốn chương, trong đó chương một trình bày khởi nguồn

và phát triển của tự sự vết thương, khảo cứu tự sự vết thương qua lịch sử Văn học vết thương và Văn học phản tư Ở chương hai tác giả nghiên cứu các yếu

tố của tự sự vết thương trên văn bản như nghiên cứu về thời gian, nhân vật, cách sắp xếp tình tiết truyện Trong chương ba, luận án chia tự sự vết thương thành ba loại: loại chính trị, loại luân lý truyền kỳ và loại kinh nghiệm cá nhân Ở chương bốn nghiên cứu những góc khuất trong xã hội mà tự sự vết thương hướng tới Để từ đó đưa tới kết luận rằng tự sự vết thương trong Văn học vết thương và Văn học phản tư chủ yếu là “vết thương chính trị”

Còn luận văn thạc sĩ伤痕文学叙事模式分析 (Phân tích các mô thức

tự sự của Văn học vết thương) Vu Diễm Hoa, bảo vệ tại Đại học Cát Lâm,

năm 2009, thông qua việc phân tích các mô hình tự sự của trào lưu Văn học vết thương nhằm giới thiệu hoàn cảnh lịch sử ra đời trào lưu này Đồng thời luận văn nghiên cứu mối quan hệ giữa các tác phẩm trong trào lưu Văn học vết thương để từ đó thấy được vai trò của trào lưu này trong tiến trình phát triển của văn học Trung Quốc

Qua đó có thể thấy, Văn học vết thương đã nhận được nhiều sự quan tâm của giới nghiên cứu Trung Quốc, trào lưu này được nghiên cứu, xem xét

từ nhiều góc độ khác nhau Bên cạnh đó, trong các công trình như giáo trình

Giản sử văn học thời kỳ mới và luận án Nghiên cứu tự sự vết thương trong

Trang 8

văn học “vết thương” và văn học “phản tư” đều đề cập tới Ba Kim và Tùy tưởng lục như những tác giả, tác phẩm tiêu biểu nhất của trào lưu Văn học vết

thương, là tiếng nói đầu tiên về sự tự sám hối của cá nhân trước vận mệnh của dân tộc, đất nước

Nhưng ở Việt Nam, đây dường như vẫn còn là mảnh đất khá mới mẻ

Trong cuốn Tiểu thuyết Trung Quốc thời kỳ cải cách mở cửa, PGS.TS Lê Huy

Tiêu đã giới thiệu về mặt nội dung có thể chia các tiểu thuyết Văn học vết thương thành bốn loại: “Vạch trần tội ác của “bọn bốn tên” và phơi bày nỗi bất hạnh do mười năm động loạn gây nên” [30; tr 69]; “Đồng tình thương xót những cảnh ngộ của nhân dân và ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của họ” [30; tr 70]; “Thể hiện tinh thần đấu tranh bất khuất của nhân dân chống lại

“bè lũ bốn tên” và phe phản động” [30; tr 70]; “Vừa viết về cảnh “động loạn mười năm”, vừa nêu ra những vấn đề khiến mọi người phải suy ngẫm” [30; tr 71] Còn về mặt phương pháp sáng tác, theo tác giả, “tiểu thuyết dòng Văn học vết thương đã khôi phục lại truyền thống hiện thực chủ nghĩa” [30; tr 72] Tuy nhiên, về mặt nghệ thuật của các tác phẩm thuộc trào lưu Văn học vết thương “còn thô thiển, quá lộ liễu, cá biệt có những tác phẩm chỉ là những triển lãm những hành vi tội ác mà thôi” [30; tr 72]

Trong luận văn Đặc trưng mỹ học của bộ phận văn học “vết thương”

trong văn xuôi Việt Nam thời kỳ đổi mới, tác giả Lê Văn Hiệp, bảo vệ tại Đại

học Khoa học Xã hội và Nhân văn, năm 2012, tác giả đã dùng Văn học vết thương Trung Quốc như một thế so sánh để nhằm làm rõ hơn bộ phận văn học

“vết thương” ở Việt Nam Trong luận văn này, theo tác giả “tiêu chí quan trọng và gần như duy nhất tạo nên Văn học Vết thương đó là sự phản ánh và

tố cáo những bi kịch của con người trong Cách mạng văn hóa Vượt ra khỏi tiêu chí này, chẳng hạn nếu như tác giả cố gắng lý giải nguyên nhân của những bi kịch mà người ta phải chịu đựng trong Cách mạng văn hóa, thì

Trang 9

những tác phẩm ấy lại được xếp vào trào lưu Văn học Phản tư (suy nghĩ lại, đặt lại vấn đề), trào lưu văn học tồn tại gần như song song với Văn học Vết thương.” [13; tr 30]

Có thể thấy rằng, Văn học vết thương Trung Quốc mới được tiếp cận một cách khá sơ lược ở Việt Nam, đồng thời cách hiểu về trào lưu này cũng chưa thực đầy đủ khi chỉ chú trọng và cho rằng đặc trưng duy nhất của Văn học vết thương là vạch trần tội ác của “cách mạng văn hóa” Trong luận văn này, mục tiêu của chúng tôi là trình bày về hoàn cảnh ra đời, đặc trưng tiêu biểu, giới nghiên cứu Trung Quốc đối với Văn học vết thương và ý nghĩa lịch

sử của trào lưu này Để từ đó có cái nhìn đối sánh với những nghiên cứu, cách hiểu về trào lưu Văn học Trung Quốc này tại Việt Nam có những sai khác, khuyết thiếu gì

Ở Việt Nam, Ba Kim được biết đến hầu hết qua một số bài báo nhỏ, hoặc những bài giới thiệu ngắn về ông trên các tác phẩm đã được dịch của Ba Kim Trong đó Ba Kim được giới thiệu với tư cách một nhà văn lớn, bậc thầy của văn học Trung Quốc hiện đại, khái lược cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng chính trong các sáng tác của Ba Kim Các tác phẩm của Ba Kim đã được dịch

ở Việt Nam có: Gia đình, Mùa xuân, Trời lạnh về khuya và Tùy tưởng lục

Trong đó tác phẩm Tùy tưởng lục được dịch giả Trương Chính, Ông Văn Tùng giới thiệu ở Việt Nam năm 1998 Trong nguyên tác Tùy tưởng lục

gồm năm tập, tập đầu xuất bản năm 1978, tập cuối xuất bản năm 1986 Tập

đầu không có tên gọi riêng mà gọi là Tùy tưởng lục tập một, tập hai đề là Tìm

tòi, tập ba đề là Lời nói thật, tập bốn là Nằm bệnh, tập cuối cùng là Vô đề

Trong đó, dịch giả Trương Chính, Ông Văn Tùng chọn hai bài ở tập Tùy

Tưởng lục tập một, hai mươi sáu bài ở tập Tìm tòi, mười lăm bài ở tập Lời nói thật, mười một bài ở tập Nằm bệnh, năm bài trong tập Vô đề để dịch thành

một tập Tùy tưởng lục bằng tiếng Việt

Trang 10

Tùy tưởng lục được xem là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất

của Văn học vết thương, chính vì thế chúng tôi chọn tác phẩm này để phân tích, làm rõ những đặc trưng của trào lưu Văn học vết thương trong đó Đồng

thời, bản dịch tiếng Việt của Tùy tưởng lục đã được cấu trúc lại, chúng tôi sẽ

khảo sát cấu trúc bản tiếng Trung, cấu trúc bản dịch, để từ đó xem xét trên cả phương diện mục đích cũng như nội dung, ý nghĩa của tác phẩm có còn giữ nguyên qua quá trình chuyển ngữ và tái cấu trúc hay không

3 Mục đích, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Từ thực trạng nghiên cứu vấn đề đã trình bày ở trên, mục tiêu chúng tôi đặt ra cho luận văn của mình cụ thể là:

Khái quát tình hình nghiên cứu Văn học vết thương ở Trung Quốc và Việt Nam, xác định định nghĩa, những biểu hiện cụ thể của Văn học vết thương ý nghĩa lịch sử của trào lưu này, một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu của trào lưu Văn học vết thương đã được dịch ở Việt Nam Đồng thời chỉ ra được những sự khác biệt trong cách hiểu về Văn học vết thương trong giới nghiên cứu ở Trung Quốc và ở Việt Nam

Những biểu hiện cụ thể của trào lưu Văn học vết thương qua tác phẩm

Tùy tưởng lục của Ba Kim Trong quá trình dịch thuật hai dịch giả đã tái cấu

trúc lại tác phẩm, vậy sự tái cấu trúc văn bản liệu có thể đảm bảo được tinh thần “vết thương” trong tác phẩm hay không?

3.2 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Trên cơ sở của việc xác định đề tài, phân tích lịch sử nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu, đối tượng chính mà luận văn sẽ tiến hành khảo sát là

chỉ ra những đặc trưng của Văn học vết thương trong cuốn Tùy tưởng lục của

nhà văn Ba Kim, bên cạnh đó khảo sát tình hình dịch thuật ở Việt Nam, đặt

Ngày đăng: 13/05/2020, 20:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w