1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ngữ pháp tiếng việt dưới góc độ thực hành giao tiếp ứng dụng trong dạy tiếng việt như một ngoại ngữ

197 171 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 197
Dung lượng 7,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong khi đó, ngữ pháp thực hành - giao tiếp là ngữ pháp hiện Ihực hoá ngữ pháp lý thuyết trong hoạt động giao tiếp liên nhân với mục đích truyền thụ cho người học khả năng hiểu câu ngôn

Trang 1

ĐẠI H Ọ C Q U Ố C G IA HÀ N ỘI TRƯ Ờ N G ĐẠI H Ọ C K H O A H Ọ C XÃ H Ộ I VÀ NHÂN VÃN

NGỮ PHÁP TỉêNG VlệT

Dưới GÓC ĐỘ THỰC • • hanh G ino Tiếp ỨNG DỤNG •

TRONG DỌV TI6NG Vlệĩ n h ư• • m ộ t NGOni NGỮ

Trang 2

M Ụ C LỤC

Trang

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG MỘT: MỘT s ố VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐÊN NỘI DUNG NGHIÊN c ú ư ĐỀ T À I 4

I Càu ngôn n g ữ 5

II Câu giao tiế p 14

III Mẫu c â u 21

IV Tinh thái từ trong cấu tạo câu giao tiếp 22

V Đặc điểm tiếng Việt chi phối cú pháp - ngữ nghĩa cua câu giao tiế p 31

CHƯƠNG H A I: CÂU GIAO TIẾP c ơ BẢN, PHỔ DỤNG TRONG TrẾNG V Ệ T - KHẢO SÁT, ĐlỀư CHỈNH VÀ B ổ SUNG 47

I Một số nhận xct 47

II Định hướng kháo sát, điều chính và bổ sung 54

III Cú pháp- Ngữ nghĩa của phụ từ phổ dụng trong cấu tạo câu giao tiếp 78

CHƯƠNG BA: KẾT CÂU c ú PHÁP VÀ TlỂU TỪ TÌNH THÁI PHỔ DỰNG TRONG CÂU TẠO CÂU GIAO TIẾP 1 19 I Kết câu cú pháp 120

II Tiếu từ tình thái 137

KẾT LUẬN 155

PHỤ LỤC 162

DANH MỤC SÁCH THAM KHẢO VÀ TRÍCH DẪN 190

Trang 3

thức của nó Câu bao gồm nhiều thành phần thuộc các cấp độ cấu trúc nhỏ hơn, còn nội dung ý nghĩa của nó được hiểu là sự kết hợp các ý nghía của các thành phần trong cơ cấu nội tại của câu Cách mô tả câu như thế, tất yếu dẫn đến nhận định cho rằng câu là đơn vị ngôn ngữ bậc cao và là đơn vị của ngôn ngữ chứkhông phải đơn vị của lời n ó i/1^

Từ các công trình nghiên cứu đã dẫn ra, có thể tìm thấy một số định nghĩa hoặc một số tiêu chí để nhận ra đặc điểm của câu - ngôn ngữ như sau:

2.1 Câu là đơn vị ngôn ngữ học của lời nói Có nghĩa, câu được khái quát,

»■ •

trừu tượng hoá từ lời nói của các cá nhân trong cộng đồng tập thể theo cách phân chia ngôn ngữ và lời nói của F Saussure: “Ngôn ngữ vừa là công cụ, vừa là sản phẩm của lời nói Ngôn ngữ là cần thiết để cho lời nói có thể hiểu được và gây được tất cả những hiệu quả của nó; nhưng lời nói là cần thiết đế cho ngôn ngữ được xác lập Hai đối tượng này gắn bó khăng khít với nhau và giả định lẫn nhau” [24: 45]

Câu không thể là đơn vị của ngôn ngữ thuần tuý, bởi lẽ ngôn ngữ không

chứa đựng những câu sẵn có cho người nói dùng trong giao tiếp mà chỉ chứa sẩn những từ, những hình vị, những âm vị với số lượng hữu hạn để con người vận

dụng chún^' tạo ra câu - giao tiếp với số lượng vô hạn

^ ^ M ột số định nghĩa câu trích từ các cồ n g trình ngh iên cứu:

1 Câu là đơn vị cùa n gôn ngữ biểu đạt m ột tư tưởng tương đối trọn vẹn N ó không chỉ phản ánh hiên thực mà còn chứa đựng cả sự đánh giá hiện thực từ phía người nói N ó c ó những đặc trưng bên ngoài là các tiểu từ tinh thái dứt câu và ngữ điệu ngắt câu Cảu c ó những đặc trung bên trong là câu trúc cùa nó [ 3 : 131J

2 V ới tư cách m ột đơn vị bậc ca o của hệ [hống các đơn vị ngồn ngữ cáu là ngưc tuyến được hinh thành một cách trọn vẹn về ngữ pháp và vé ngữ nghĩa với m ột ngữ điệu theo các quy luật cùa ngôn ngữ nhất đinh, là phương tiện diẻn đạt, biểu hiện tư tường về thực tế và thái độ của người nói đối với hiên thưc [22: 19]

3 Câu là dơn vị nghiên cứu cùa ngôn ngữ c ó cấu tạo ngữ pháp (bẽn trong và bẽn n goài) tư láp và ngữ diệu két thúc, m ang m ột ý nghĩa tương đối trọn vẹn hay thái độ, sư đánh giá của người nói, giúp hình [hành và biểu hiên, truyền đạt ĩư tường, lình cảm Câu đổng thời là đơn vị thỏng báo nhò nhất bâng n gón ngữ [2: 107]

4 N g u y ễn K im Thản không đưa ra định nghĩa riêng của mình mà đổng tình VỚI dinh nghĩa cùa nhà ngôn ngữ hoc nổi tiếng người N g a - V iện sĩ v v V inôgradov: “Câu là đơn vị hoàn chỉnh cùa lời nói được hình thành vé mặt ngữ pháp Iheo iftc t)uy luât cùa một ngôn ngữ nhất định, làm thành cô n g cu quan trong đ ể cấu tao biếu hiện và truyền dạt tư tường Trong câu không phái chì có sự truyền đại vé hiện thực rna cò n cả m ối quan hệ cua người nói với hiện thực.” [29b: 144]

7

Trang 4

L Ờ I N Ó I ĐẨU

Đề tài nghiên cứu cơ bản về "N g ữ p h á p tiếng Việt dưới góc độ thực hành

giao tiếp ứng dụng trong dạy tiếngViệt n h ư m ật ngoại n g ữ - M ã sô C B -0 2 -Ỉ8 "

được thực hiện trong 12 tháng theo định hướng xác lập những hiện tượng ngữ pháp tiếng Việt cơ bản nhất dưới góc độ thực hành - giao tiếp, nhằm phục vụ cho việc dạy - học tiếng Việt như một ngoại ngữ đối với người nước ngoài

Ngữ pháp lý thuyết có đối tượng và phương pháp nghiên cứu riêng củamình đối với các đơn vị thuộc bình diện từ pháp học và cú pháp học, nhằm khám

f* *

phá và trưng bày một cơ chế ngôn ngữ về một đơn vị có chức năng thông báo là câu - ngồn ngữ Trong khi đó, ngữ pháp thực hành - giao tiếp là ngữ pháp hiện Ihực hoá ngữ pháp lý thuyết trong hoạt động giao tiếp liên nhân với mục đích

truyền thụ cho người học khả năng hiểu câu ngôn ngữ và biết vận dụng những

câu đó thích ứng với hoàn cảnh giao tiếp cụ thể; tức là, biết tạo dựng những câu - giao tiếp trên cơ sở câu - ngôn ngữ Nói cách khác, ngữ pháp lý thuyết nghiên cứu câu - đơn vị bậc cao, xét dưới góc độ hợp thành của những đơn vị bậc thấp hơn nó theo một tôn ti: đơn vị bậc thấp là thành tố cấu thành của đơn vị bậc cao

ở dạng “tĩn h ” ; cô lập câu ra khỏi những chi phối của hoạt động giao tiếp liên nhân Ngữ pháp thực hành giao tiếp nghiên cứu câu ở dạng " đ ộ n g " , đặt câu

trong chi phối của tình huống giao tiếp và mục đích giao tiếp cụ thể của người

nói (viết) Câu trong hoạt động giao tiếp - tạm gọi là câu - giao tiếp hay p h á t

ngôn - là đơn vị cơ bản, tối thiểu của lời nói, của ngôn từ, của văn bản, là đơn vị nhỏ n h ấ t trong hoạt dộng giao tiếp

Mục đích cuối cùng của hoạt động ngôn ngữ, như đă biết, là thực hiện sự giao tiếp liên nhân trong xã hội thông qua ngôn từ để con người truyền đạt cho nhau những thông tin, những điều cần biết, nhằm tác động đến tình cảm, tâm lý, nhận thức của con người; theo đó, thúc đẩy nhau hành động Vì thế, một lời nói,

một câu g ia o ’tiếp, cũng là “mộ/ hành động", Hegel đã từng viết: “Lời nói thực

Trang 5

chất là những hành động diễn ra giữa những con người, cho nên nó không phải là trống rỗng” (Dẫn theo [10:37]) Chức năng “thông báo” của câu - ngôn ngữ được hiện thực hoá trong hoạt động giao tiếp thông qua chức năng của câu - giao tiếp chính là hành động ngôn từ (speech act) theo lý thuyết giao tiếp của J Austin và

J Searle Vì thế, một câu - giao tiếp trong bất cứ tình huống giao tiếp liên nhân

nào cũng đều bao gồm ba hành động liên quan: hành động tạo lời (locutionary act), hành động ngoài lời (illocutionary act) và hành độìig sau lời (perlocu-

tionarry act) (Thuật ngữ dùng theo quan niệm của Nguyễn Thiện Giáp [10:44])

Theo quan điếm của ngữ pháp miêu tả cấu trúc, hai kiểu cấu tạo câu cơ

bản trong tiếng Việt hiện đại là câu dơn và câu ghép Đề tài này dành phẩn quan

tâm cho cách tổ chức câu đơn, đặc biệt là cách tổ chức thành phần vị ngữ của nó trong hiện thực giao tiếp Bới vì, một mặt, câu đơn hai thành phần là loại câu cơ bán nhất, phổ dụng nhất, phản ánh cách tư duy thường trực trong hoạt động giao tiếp của con người; mặt khác, thành phần vị ngữ là thành phần biểu đạt ‘Ví//

mới", cái tâm điểm của hiện thực lời nói mà người nói muốn truyền đạt cho

người nghe Và thông qua cách dùng những tiểu từ lôgich - tinh thái và cách cấu tạo của thành phần vị ngữ, đặc điểm ngữ pháp của tiếng Việt được lộ rõ nhất

Cơ cấu đề tài:

Ngoài phần Lòi nói đầu, Kết luận và P hụ lục, cơ cấu nội dung của đề tài

này gồm có ba chương:

- C hương M ột: M ột sô vấn đề lý th u y ết liên q u an đến nội d u n g nghiên

cứu đề tài

- C hưong H a i: C âu giao tiếp co b ản , phổ dụn g tro n g tiếng Việt hiệu

đại - K hảo sát, điều chính và bố sung

- C hương Ba: K ết cấu cú p h áp và tiểu tù tìn h th ái phổ d ụ n g tro n g cấu

tạo câu co bán

Đê tiện cho việc trích dẫn hai nguồn tư liệu khác nhau, chúng lôi dùng ký hiện: Tư liệu trích đản từ cúc công trinh nghiên cứu, dùng ngoặc vuông

Trang 6

trong đó, con số ghi phía trước dấu hai chấm là họ và tên tác giả cùng với công

trình nghiên cứu (Xem: Danh mục sách tham khảo và trích dẫn), con số ghi phía

sau dấu hai chấm là trang trích dẫn trong công trình nghiên cứu Dấu ngoặc đơn dùng để ghi trích dẩn từ sách giáo khoa (SGK) dạy tiếng Việt thực hành

(Xem: Danh mục sách giáo khoa tiếng Việt thực hành) Cách ghi trích dẫn như

cách ghi trích dẫn từ các công trình nghiên cứu,

M ột sô ký hiệu và từ viết tắ t:

Chủ ngữ: c

Vị ngữ: V Danh từ: D Động từ: Đ Tính từ: TKết cấu chủ vị: (CV)Sách giáo khoa tiếng Việt thực hành: SG K

Dấu ngoặc đơn đứng sau từ Thí dụ: vừa (mới): chỉ từ trong dấu ngoặc đơn cùng một phạm trù với từ đứng trước Thí dụ: vừa (mới) + Đ

Dấu cộng (+) chỉ sự kết hợp Thí dụ: vừa + Đ

Trong quá trình thực hiện đề tài này, tác giả đã công bố một bài báo

với tên gọi: "N gữpháp - n g ữ nghĩa của hai từ Đ Â Y , Đ Â Y trong tiếng V iệt hiện

đại và n hữ ng vấn đê liên q u a n " trong "Tiếng Việt và văn hoá Việt Nam cho

người nước ngoài" - Kỷ yếu Hội thảo Khoa học - Nxb Đại học Quốc gia, trang 146-153

Trang 7

C H Ư Ơ N G M Ộ T

MỘT SỐ VÂN ĐỂ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN NỘI DƯNG NGHIÊN c ứ u

Ngữ pháp thực hành giao tiếp coi câu - giao tiếp là đơn vị tối thiểu, đơn vị hiện thực, có hiệu lực trong giao tiếp liên nhân, trong khi ngữ pháp lý thuyết

nhìn nhận câu như là một đơn vị ngôn ngữ bậc cao trong hệ thống trật tự tôn ti

của các tầng bậc, gồm những đơn vị ở bậc thấp hơn nó tạo thành N Chomsky

trong công trình: “Topic in theory o f Generative Grammar - The Hague, Mouton

1996” của mình đã phân biệt rõ ràng hai mục đích nghiên cứu khác nhau giữa

ngữ pháp lý thuyết và ngữ pháp thực hành như sau: “Nếu như ngữ pháp ngôn ngữ bao hàm mục đích khám phá và trưng bày cái cơ chế ngôn ngữ đé người học hiểu

một câu võ đoán trong bối cảnh xác định thì ngữ pháp sư phạm cố gắng cấp cho

họ cái khả năng hiểu và tạo ra được những câu thích hợp với hoàn cảnh giao

tiếp Hơn nữa, sẽ là không đủ, nếu chỉ tạo cho người học khả năng tạo dựng

được những câu đúng ngữ pháp mà còn phải chỉ ra cho họ biết sử dụng những

câu đó vào lúc nào và như thế nào” [Chúng tôi nhấn mạnh những từ in nghiêng ĐTH]

Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi tạm dùng hai tên gọi khác nhau: câu -

ngôn ngữ với nghĩa câu được xem xét dưới góc độ nghiên cứu của ngôn ngữ học

và câu - giao tiếp với nghĩa câu được nghiên cứu dưới góc độ dạy tiếng thực hành Mặt khác, cũng cần khẳng định rằng càu - ngôn ngữ là m ột hằng th ể còn -

câu - giao tiếp là những biến th ể của nó Câu - giao tiếp hiện thực hoá câu - ngôn

ngữ trong hoạt động giao tiếp liên nhân Đơn vị câu trong nghiên cứu Việt ngữ,

cho đến nay, được hiểu như thế nào? Những đặc trưng nào phân biệt cáu- ngồn ngữ và câu - giao tiếp?

4

Trang 8

I CÂU DƯỚI GÓC ĐỘ NGHIÊN c ứ u NGỮ PHÁP TIÊNG VIỆT

(CÂU - N G Ô N NGŨ)

Kể từ nửa sau thế kỷ XX đến nay, không ít những công trình nghiên cứu ngữ pháp tĩếrig Việt bàn luận về đơn vị này từ những góc độ nghiên cứu khác

nhau Nhưng cho đến nay, một định nghĩa về câu trong tiếng Việt vẫn đang còn

bỏ ngỏ Điều đó nói lên tính phức tạp của đơn vị này khi xem xét nó dưới những khuynh hướng nghiên cứu ngôn ngữ khác nhau Nhìn chung, có thể sơ lược khái quát 3 khuynh hướng nghiên cứu đáng lưu ý như sau:

1 Khuynh hướng nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt ở giai đoạn tiến cấu trúc hay còn gọi là nghiên cứu theo hướng mô phỏng ngữ pháp tiếng Pháp vào ngữ pháp tiếng Việt

Khuynh hướng này xuất phát từ quan niệm cho rằng: “Tiếng nói là cách biểu diễn các.tư tưởng của người ta ra cho người khác biết Cách biểu - diễn ấy tuy khác, nhưng bao giờ cũng phải theo cái lý thuận Đã theo lý, thì dù đông đù

tây, đâu đáu cũng một lý cả” Theo đó, “câu lập thành do một mệnh đ ề có nghĩa

lọn hẳn, hoặc do hai hay nhiều mệnh đề” [17:27],

Mệnh đề, theo tác giả, gồm có chủ từ (tiếng làm chủ) kết hợp với một động

từ hay một tính tiY\ Thí dụ:

- Cái hoa đẹp (càu do một mệnh đề tạo thành)

- Cái hoa đã /2Ởthì thật đẹp (câu gồm hay mệnh đề)

- Cái hoa nở lâu thì tàn mà đã tàn thì không đẹp nữa (câu tạo thành do 4

mệnh đề) r ,

Khuynh hướng nghiên cứu này được coi là khuynh hướng "nẹữ pháp

dịch"; nó không hề tính đến đặc điểm của loại hình tiếng Việt khác xa với đặc

điểm loại hình tiếng Pháp Mặt khác, việc định nghĩa câu dựa trên khái niệm

"mệnh đề" - đơn vị của lôgích học - chứng tỏ quan điểm nghiên cứu ngôn ngữ

của khuynh hướng này là quan điểm lôgích - ngôn ngữ; trong khi, như đã biết,

Trang 9

mối quan hệ giữa lôgích và ngôn ngữ là mối quan hệ mang đặc trưng thống nhất

mà không đồng nhất.

2 Từ 1964 trở lại đây, với sự ra đời của hàng loạt công trình nghiên cứu

mang tính chuyên luận về ngữ pháp tiếng Việt liên quan trực tiếp đến câu của

một số tác giả tiểu biểu như Nguyễn Kim Thản (1964), I.e Bystrov - Nguyễn

Tài Cẩn - ly.v Stankêvich (1975), Hoàng Trọng Phiến (1980), Diệp Quang Ban

(1964 & 1968),v.v đánh dấu một giai đoạn mới trong nghiên cứu ngữ pháp

tiếng Việt ở chỗ: các nhà nghiên cứu đều ý thức được những đặc thù của tiếng

Việt như là một ngôn ngữ đơn lập, phân tích tính Khuynh hướng nghiên cứu của

họ chịu ảnh hưởng của học thuyết Ferdinand De Saussure coi “Đối tượng duy

nhất của ngôn ngữ học là ngôn ngữ xét trong bản thân nó và vì bản thân nó”

[24:393] Đồng thời, về mặt nhận thức, họ chịu ảnh hưởng của triết học Mác -

Lênin về vai trò của ngôn ngữ trong xã hội như là một phương tiện quan trọng

trong giao tiếp xã hội và phương tiện của tư duy và bất cứ hiện tượng ngôn ngữ

nào cũng được xem xét trong mối liên hệ biện chứng giữa hình thức biểu đạt và

nội dung ý nghĩa được phản ánh

Có thể coi đây là khuynh hướng miêu tả cấu trúc trong nghiên cứu Việt

ngữ nói chung, ngữ pháp tiếng Việt nói riêng Kết quả là, bức tranh về hệ thống

cấu trúc tầng bậc trong tiếng Việt đã được vẽ ra một cách rõ ràng hơn so với giai

đoạn đầu của việc nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt Sẽ là khiếm khuyết lớn nếu

như không đặt tình hình nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt trong bối cảnh đất nước

bị chia cắt cho đến 1975 Ở thời điểm này, khuynh hướng nghiên cứu ngôn ngữ

của các học giả phương Tây du nhập vào Việt Nam hầu như không có điều kiện

Theo đó, việc ứng dụng toàn diện và nhất quán một mô hình nghiên cứu ngôn

ngữ nào đớ'vào việc mô tả tiếng Việt dường như là một việc làm khống thế có

được

Mặc dù câu được thừa nhận là đơn vị tối thiếu trong giao tiếp nhưns trong

thực tế nghiên cứu người ta dường như chỉ quan tâm nhiều đến mặt cấu trúc hình

6

Trang 10

thức của nó Câu bao gồm nhiều thành phẩn thuộc các cấp độ cấu trúc nhỏ hơn, còn nội dung ý nghĩa của nó được hiểu là sự kết hợp các ý nghĩa của các thành phần trong cơ cấu nội tại của câu Cách mô tả câu như thế, tất yếu dẫn đến nhận định cho rằng câu là đơn vị ngôn ngữ bậc cao và là đơn vị của ngôn ngữ chứkhông phải đơn vị của lời nói.

Từ các công trình nghiên cứu đã dẫn ra, có thê tìm thấy một số định nghĩa hoặc một số tiêu chí để nhận ra đặc điểm của câu - ngồn ngữ như sau:

2.1 Câu là đơn vị ngôn ngữ học của lời nói Có nghĩa, câu được khái quát,

»• •

trừu tượng hoá từ lời nói của các cá nhân trong cộng đồng tập thê theo cách phân chia ngôn ngữ và lời nói của F Saussure: “Ngôn ngữ vừa là công cụ, vừa là sản phẩm của lời nói Ngôn ngữ là cần thiết để cho lời nói có thể hiểu được và gây được tất cả những hiệu quả của nó; nhưng lời nói là cần thiết để cho ngôn ngữ được xác lập Hai đối tượng này gắn bó khăng khít với nhau và giả định lẫn nhau” [24: 45]

Câu không thể là đơn vị của ngôn ngữ thuần tuý, bởi lẽ ngôn ngữ không

chứa đựng những câu sẵn có cho người nói dùng trong giao tiếp mà chỉ chứa sẩn những từ, những hình vị, những âm vị với sô' lượng hữu hạn để con người vận

dụng chún^' tạo ra câu - giao tiếp với số lượng vô hạn

M ột số định nghĩa câu trích từ các công trình nghiên cứu:

1 Câu là đơn vị của n gôn ngữ biểu đạt một tư tường tương đối trọn ven N ó khổng chỉ phản ánh hiên thưc mà còn chứa đựng cả sự đánh giá hiện thực từ phía người nói N ó có những đặc trưng bén ngoài là các tiểu từ tình thái dứt câu và ngữ điệu ngắt câu Câu c ó những đặc trưng bên trong là cấu trúc cùa nó [3:131]

2 V ới tư cách m ột đơn vị bậc ca o cùa hệ thống các đơn vị ngôn ngữ, câu là ngưc tuyến được hình (hành một cách trọn vẹn vể ngữ pháp và về ngữ nghĩa với m ột ngữ điệu theo các quy luật cùa ngổn ngữ nhất đtnh là phương tiện diền đạt, biểu hiện tư tường về thực tế và thái đ ộ cùa người nói đ ối với hiện thực [22: 19]

3 Cảu là đơn vị nghiẽn cứu cùa ngón ngữ c ó cấu tạo ngữ pháp (bên trong và bẽn ngoài) tự láp va ngữ điệu két thúc, m ang m ôt ý nghĩa tương đối trọn vẹn hay thái độ sự đánh giá cùa người nói, giúp hình thành và biếu hiên, truyển đạt tư tường, tình cảm Câu đồng thời là dơn vị thông báo nhò nhát bãng ngón ngữ [2: 107]

4 N g u y ễn Kim Thản không đưa ra dinh nghía riêng cùa mình mà đổng tình với định nghĩa cùa nhà n gôn ngữ hoc nổi tiếng người N g a - V iện s ĩ v v V inốgrađov: “Câu là đơn VỊ hoàn chinh của lời nói đươc hình thanh vé mat ngữ pháp theo iftc t|uy luật cùa m ột ngôn ngữ nhất đinh, làm thành cô n g cu quan trọng đ ể cấu tạo biếu hiên và truyền đạt tư tưởng Trong câu không phải chỉ c ó sự truyền dạt về hiện thưc mà còn ca m ối quan hẹ cua người nói với hiện thực.” [29b: 144]

Trang 11

C á đ y rự ) tả cấu trúc câu của khuynh hướng nghiên cứu ngôn ngữ học theo

ngữ pháp cấu trúc hình thức đã tách biệt câu khỏi mặt ngữ nghĩa - ngữ dụng của

nó đã gây ra một ấn tượng cố hữu rằng câu được tạo thành từ những đơn vị nhỏ

nhất có nghĩa; đến lượt mình, đơn vị này lại ỉà thành tố cấu thành đơn vị khác ở

bậc cấu tạo cao hơn và cứ thế, câu được nhận diện như là sự hợp thành của các

đơn vị ở bậc thấp nhất Vì thế, không lạ gì khi nhà ngôn ngữ học nổi tiếng,

người Mỹ, L Blumfil đã định nghĩa: “Phát ngôn hay câu là những hình tố được

tạo thành một cách liên tục” [L Blumfil: Ngôn ngữ M 1968, trang 14 (Bản

tiếng Nga)] Sự thực là trên trục kết hợp (Syntagmatic) thuộc tính của các đơn vị

ngôn ngữ (hình vị, từ, ngữ đoạn ) không quy định sự kết hợp của chúng với

nhau đê tạo thành đơn vị câu, mà chính chức năng của chúng trong câu mới quy

định sự kết hợp này

2.2 Cảu có cấu trúc cú pháp tuỳ thuộc vào quy tắc của một ngôn ngữ cụ

th ể và có ngữ điệu két thúc Đối với tiếng Việt, các nhà nghiên cứu ngữ pháp

theo khuynh hướng cấu trúc miêu tả đã xác lập được hai mô hình cấu tạo khái

quát của hai kiểu câu cơ bản, phổ dụng nhất trong tiếng Việt Đó là mô hình cấu

tạo câu đơn và câu ghép:

(2) Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này chúng tối lưa chon những m ỏ hình câu tao khái q u á t như tr ẽ n lam

cơ sở ch o v iệc tường m inh sau naỳ cùa chúng tôi về m ối quan hệ thóng nhất mà không dỏng nhãi giữa càu - ngón

ngữ và câu - gia o tiếp Thực ra trong nghiên cứu đơn phương vể từng loại cáu kê trẽn con c ó nhiều ý kién tranh

luận.

8

Trang 12

2.3 Chức năng của câu là diễn đạt một sự tình trọn vẹn, trong đó có tình cảm, thái độ của người nói trước sự tình được miêu tả Các nhà nghiên cứu đều

nhất trí về đầd điểm này của câu

3 Khuynh hướng cuối cùng là khuynh hướng miêu tả ngữ pháp tiếng Việt

theo quan điểm của ngữ pháp chức năng, được khởi đầu bàng công trình: Tiếng

Việt - Sơ thảo ngữ pháp chức năng Quyển ỉ (1991) của tác giả Cao Xuân Hạo

Đánh giá về công trình này, Hoàng Văn Vân viết: “Giá trị của chuyên khảo thể

hiện ít nhất ở 3 điểm Thứ nhất là nó giới thiệu một cách có hệ thống các quan

điểm của trường phái chức năng chính đang tồn tại trên thế giới Thứ hai là, tác

giả đã cố gắng ứng dụng các cơ sở lý thuyết chức năng khác nhau như phương

pháp chức năng cuả Simon Dik (1978), bình diện kinh nghiệm hay bình diện thể

hiện của HUUiday (1985), phân loại theo lực ngôn trung của Austin (1962) và

Searle (1969) và các nguyên tắc hợp tác của Grice (1975) Thứ ba và có lẽ quan

trọng hơn, là các quan điểm trinh bày trong chuyên khảo của Cao Xuân Hạo đã

tạo ra nhiều vấn đề lý thú để giới Việt ngữ tranh cãi và thảo luận.” [35:100]

Năm 1998, cuốn "Ngữ pháp chức năng tiếng Việt, Quyển ỉ - Cáu trong

tiếng Việt Cấu trúc - N gữ nghĩa - Công dụng" do chính tác giả chủ biên, ra đời

Nó được xem như là cuốn sách giáo khoa ứng dụng những kết quả nghiên cứu

của tác giả vào thực tiễn dạy môn Tiếng Việt cho học sinh phổ thông trung học

Việt Nam

Trong cuốn sách giáo khoa này cũng như trong công trình chuyên khảo

¥• »

của mình, Cao Xuân Hạo đồng tình với định nghĩa về câu của Sapir Ông viết:

“Vể phương diện chức năng, câu là sự th ể hiện ngôn ngữ học của một mệnh đề

(proposition) Nó là đơn vị mà ngôn ngữ dùng để biểu hiện một nhận định

(Statement) gồm có một chủ đề được kết hợp với một điều nói về chủ đề đó.”

[11:12]

Trang 13

Đến đây có thể đưa ra một số kết luận cơ bản về câu - ngôn ngữ qua các

giai đoạn nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt cùng với những khuynh hướng nghiên cứu tương ứng:

1 Giai đoạn tiền cấu trúc với khuynh hướng ngữ pháp dich đã định nghĩa

*• I ■

câu tiếng Việt là "mệnh đề" theo mô hình cấu tạo: chủ từ + động từ / tính từ

Thuật ngữ “mệnh đề” ở đây đồng nhất với khái niệm về mệnh đề của lôgích học

2 Trong giai đoạn cấu trúc miêu tả , hầu như các nhà nghiên cứu đều quan

tâm nhiều đến cấu trúc hình thức của câu mặc dù họ tuyên bô quan tàm thoả đáng đến cả ý nghĩa lẫn cấu trúc (hình thức biểu đạt và nội dung của cái được biểu đạt) theo quan điểm duy vật biện chứng Những đặc điểm cơ bản của câu tiếng Việt đã được xác định và xác lập được những mô hình cấu tạo khái quát của hai loại câu phổ dụng trong tiếng Việt Có thể nói những mô hình cấu tạo này có giá trị như những mô hình hằng thể mà câu - giao tiếp dựa theo đó để hiện thực h o ấ trong hoạt động giao tiếp liên nhân Hệ thống thuật ngữ dùng để

miêu tả, phân tích câu mà khuynh hướng nghiên cứu này đề xuất như chủ ngữ (C), vị ngữ (V), câu đơn, câu ghép, cùng với nội hàm khái niệm của chúng là

những thuật ngữ đã định hình trong tri thức ngữ pháp tiếng Việt mà ngữ pháp thực hành cần lựa chọn để miểu tả, phân tích câu - giao tiếp

3 Khác với hai khuynh hướng nghiên cứu trên, khuynh hướng nghiên cứu

của ngữ pháp chức năng xem xét câu trong mối quan hệ hữu cơ giữa ba bình diện: cú pháp, dụng pháp và nghĩa học: “Câu là đơn vị nhỏ nhất của ngốn từ

trong đó ba bình diện đều được thể hiện”, là “sự thể hiện ngôn ngữ học của mệnh

đề” [11:12)* Gó nghĩa, câu là một nhận định (statement), một hành động sản sinh

ra mệnh đề, theo nghĩa: nhận định là một hành động tối giản của tư duy Cấu tạo

cú pháp của câu gồm hai phần chính là phần Đ ể và phần Thuyết "Đề là thành

phần trực tiếp của câu nêu rõ cái phạm vi ứng dụng của điều được nói bằng thành phần trực tiếp thứ hai - phẩn thuyết Phần Đ ề đi trước phấn Thuyết."

[11:78] “Nội dung” hay “ý nghĩa” của một câu có thể thấy rõ có hai phần khác

10

Trang 14

nhau, một phần toát ra từ bản thân câu nói (nghĩa “nguyên văn” ) tách ra khỏi mọi tình huống và một phần mà câu nói có được khi được dùng trong một tình huống nhất định vào một mục đích nhất định (nghĩa "ngôn trung") của câu Ngữ

pháp chức năng quan niệm "Câu đơn biểu đạt một nhận định Câu ghép biểu đạt

nhiều nhận định ghép lại Sở đĩ có sự ghép lại để thành một câu ghép là vì người nói (viết) rBuốn diễn đạt một ý gồm nhiều nhận định có quan hệ với nhau cần được lưu ý” [11:89]

Qua việc xác định khái niệm về câu theo các khuynh hướng nghiên cứu khác nhau đã lược khảo, nổi lên một vấn đề: mối quan hệ giữa một bên là quan

niệm về chủ ngữ và vị ngữ trong cấu trúc câu cơ bản của tiếng Việt và bên kia là quan niệm về Đê và Thuyết trong nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt Vì thế, ngữ

pháp thực hành giao tiếp cần có cách lựa chọn

Như đã biết, câu đơn hai thành phần chiếm vị trí trung tâm và chủ yếu trong việc miêu tả ngữ pháp về câu Hầu như các khuynh hướng nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt đều thống nhất điều đó Ngay cả ngữ pháp chức năng theo quan

điểm Đ ề - Thuyết cũng cho rằng: C âu đơn biểu đạt một nhận định, câu ghép

diễn đạt một ý gồm nhiều nhận định Trong hoạt động giao tiếp, câu đơn hai thành phần chủ ngữ và vị ngữ tương ứng với việc tổ chức một phán đoán lôgích tối giản; nó được sử dụng phổ cập và làm cơ sở cho việc tạo thành câu ghép khi người ta muốn diễn đạt một câu gồm nhiều ý liên kết lại với nhau và điều đặc biệt hơn, trong giao tiếp với những yếu tố giả định ngầm ẩn, ở lời đáp có thể rút gọn những thành phần của câu đơn mà cả người nói và người nghe đều cảm nhận được

Trong cấu tạo câu đơn, th à n h p h ần vị ngữ đóng vai trò quan trọng Nó là

IM •

thành phần chủ yếu vì nó được người nghe chú ý nhiều hơn so với thành phần chủ ngữ Đối với người nói và cả người nghe, thành phẩn vị ngữ thường biểu đạt

một thông tin "mới"; thành phần chủ ngữ, ngược lại, biểu đạt thông tin "cũ"

Thông tin mới nhằm biểu thị những đặc trưng của chủ ngữ NÓI cách khác, theo

Trang 15

lồgích, có thông tin cũ thì mới có thông tin mới Đó cũng là lý do để khẳng định

tr ậ t tự trư ớ c sau của chủ ngữ và vị ngữ Vì thế, có thể đổng tình với ý kiến cho rằng: “Chủ ngữ biểu thị đối tượng tường thuật của vị ngữ và có những đặc trưng (hoạt động, trạng thái, thuộc tính, tính chất, chủng loại) do vị ngữ biểu thị, đứng

ở vị trí 1 trong câu Còn, vị ngữ là bộ phận quan trọng nhất của câu Nó biểu thị những đặc trưng của chủ ngữ và đứng ở vị trí 2 trong câu.” [29b: 176 - 181] Quan hệ giữa chủ ngữ và vị ngữ là quan hệ tương hỗ, có thành phần chủ ngữ thì mới có thàííVphần vị ngữ và ngược lại Và, để xác lập mối quan hệ qua lại đó, giữa chủ ngữ và vị ngữ phải có yếu tố nghĩa chung, hợp lôgích Đó là mối quan

hệ bản thể (Onthologique) Vì thế, không ít những câu được thành lập Iheo cấu trúc chủ - vị nhưng không thể chấp nhận được trong hiện thực giao tiếp, kiểu như: Nhà / bay Chó / nói Người / sủa, v.v

Hiện nay, trong nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt, một loạt khái niệm vốn

có nội hàm khác nhau nhưng lại được dùng theo nghĩa đập nhập như nhau cấu

trúc chủ - vị, mệnh đề, đê - thuyết Chẳng hạn, “kết cấu chủ - vị tức là kết cấu có

hai vế được đặt theo quan hệ cú pháp cơ bản - quan hệ chủ ngữ và vị ngữ Về đại thể, thuật ngữ, kết cấu chủ - vị tương đương với khái niệm “mệnh đề” , “thể câu” [22:81]; “Xét về quá trình tư duy, quan hệ đề - thuyết trong nòng cốt N -a + b biểu thị một phán đoán ( ) Như vậy, trong trường hợp này, cấu tạo của nòng cốt N=a+b phù hợp với cấu tạo của phán đoán: phần để biểu thị yếu tố thứ nhất của phán đoán, yếu tố thứ hai của phán đoán được biểu thị bởi phần thuyết Xét về quá trình thông báo, trong một hoàn cảnh giao tiếp nhất định, thông báo bao gồm hai yếu tố: yếu tố thứ nhất chỉ ra người nói “nói về gì” ; yếu tố thứ hai chí ra người nói “nói gì” Như vậy, trong trường hợp này, cũng có thể coi là có sự phù hợp giữa cấu tạo nòng cốt N=a+b và cấu tạo của thông báo: yếu tố thứ nhất của thông báo được biểu thị bởi phần đề, yếu tố thứ hai, bởi phần thuyết." [34:169]

I

Trong khi đó lại có ý kiến cho rằng: Nếu coi mọi lời nói là một mệnh đề hay là một chuỗi mệnh để như các nhà ngữ pháp duy lý là không đúng

12

Trang 16

«• •

[29b: 144] Câu, về phương diện chức năng, là sự th ể hiện ngôn ngữ học của

mệnh đề Nó là đơn vị mà ngồn ngữ dùng để biểu hiện một nhận định

(statement) gồm một chủ đề kết hợp với điều nói về chủ đề đó” [l 1:12] Và, để

làm rõ thêm khái niệm về câu, tác giả viết “Cấu trúc đề thuyết là một thuộc tính

của câu với tư cách là sự thể hiện một hành động nhận định (hay hành động

mệnh đề - propositional act), chứ không phải là của phát ngôn với tính cách là

một hành động giao tiếp giữa những người nói cụ thể, trong một tình huống cụ

thể” [12:426] Điều đó có nghĩa là đằng sau mỗi câu (dù dưới hình thức nào đi

chăng nữa - trần thuật, nghi vấn, mệnh lệnh, cảm tính ) là một nhận định, tức,

i« I

một hành động sản sinh ra mệnh đề, chứ khồng có nghĩa mỗi thành tố của câu

đều tương ứng với một thành tố của mệnh đề; nói cách khác, không đập nhập cấu

trúc chủ - vị với tư cách là một câu với cấu trúc mệnh đề

Trên đây, chúng tôi lược khảo một số quan niệm tiêu biểu của các nhà

nghiên cứu liên quan đến vấn đề đặt ra Trước tình hình chưa được tường minh

về mối quan hệ giữa chủ ngữ - vị ngữ ngữ pháp, phần đề - phần thuyết và mệnh

đề, ngữ pháp thực hành quan niệm:

1 Xét về phương diện lịch sử và tính phổ quát, cấu trúc chủ - vị là một 'tphổ niệm trong nhiều ngôn ngữ có loại hình khác nhau Nó thuộc phạm trù ngữ

pháp M ệnlí đé là thuật ngữ của lôgích, được cấu tạo gồm hai thành phần Subject

và predicate nhằm phản ánh một nội dung chân hoặc nguy của lời nói Và, cấu

trúc đề - thuyết là một hiện tượng thuộc bình diện lôgích - ngôn từ (logic -

discursive); nghĩa là: “nó thuộc lĩnh vực lồgích trong chừng mực lôgích được

tuyến tính hoá trong ngôn từ, và thuộc lĩnh vực ngôn từ trong chừng mực nó

phản ánh động tác nhận định của tư duy” [12:39] Mà như đã biết, giữa ngôn ngữ

và tư duy có sự thống nhất nhưng không đồng nhất Theo đó, khổng thể coi hai

khái niệm “mệnh đề” và “cấu trúc chủ - vị” là một, bởi chúng ở hai phạm trù

nghiên cứu khác nhau Trong phân tích ngôn ngữ, khi muôn diễn đạt một nhận

định, ngườị, tạ thường tạo ra một cấu trúc chủ - vị đồng dạnẹ với cấu trúc của

Trang 17

mệnh đề và theo đó, người ta dùng chính thuật ngữ của lôgích (subject và predicate) để th ỉ hai thành phần làm thành một câu theo nghĩa câu là đơn vị của lời nói có tính độc lập nhờ vào sự trọn vẹn về nội dung của nó Cách tạo ra cấu trúc đồng dạng như thế đã dẫn đến một quan điểm ngộ nhận cho rằng cấu trúc chủ - vị là cấu trúc “mệnh đề”.

2 Cấu trúc chủ - vị, một cấu trúc miêu tả hình thức của câu cơ bản, trong

đó xác lập quan hệ liên đới giữa hai thành phần của câu khác với cấu trúc đề - thuyết, trong đó xác lập quan hệ của “phần nêu” và “phần báo” Quan hệ đề - thuyết thì bám chắc hơn vào nhiệm vụ diễn đạt câu trong tình huống giao tiếp cụ thể Còn, quan hệ chủ - vị chỉ là quan hệ của việc thành lập câu mà thôi Do đó, cũng k h ô n ^th ể đập nhập hai kiểu quân hệ khác xa nhau vào một theo cách hiếu: thành phần chủ ngữ của câu là “phần nêu”; thành phần vị ngữ - “phần báo”

3 Dạy ngữ pháp thực hành giao tiếp không chỉ là dạy cách thành lập một

câu đúng theo chuẩn mực ngữ pháp của tiếng Việt mà còn dạy cách dùng cáu đó thích hợp trong hoàn cảnh giao tiếp Vì vậy, ngữ pháp thực hành chỉ có thể lựa

chọn cách miêu tả hình thức kết cấu của câu để dẫn dắt người học tiếp thu “cớ/

đúng” và trên cơ sở đó, chỉ ra “cái thích hợp” của câu trong hoạt động giao tiếp

Nói như vậy không có nghĩa phủ nhận giá trị của “ngữ pháp Đề - Thuyết, ngữ pháp chức năng” mà chỉ muốn khẳng định “ngữ pháp chủ - vị”có lợi thế trong việc dạy - học tiếng thực hành giao tiếp mà thôi

*• ■

n CÂU GIAO TIẾP

Ngôn ngữ sử dụng một số đơn vị có sẩn, hữu hạn tạo ra những đơn vị vổ hạn nhằm đáp ứng những nhu cầu đa dạng và bất định trong giao tiếp Để làm được việc đó, ngôn ngữ tổ hợp những đơn vị cùng cấp độ, tạo ra những đơn vị cấp độ trực tiếp cao hơn, với số lượng nhiều gấp bội Từ số lượng hạn hữu vài chục âm vị, cuối cùng tạo ra một số lượng từ, ngữ, câu vô hạn dùng trong giao tiếp Như đã biết, dù số lượng câu là vô hạn nhưng mô hình cấu tạo câu - ngôn

VI *

14

Trang 18

ngữ lại là hữu hạn Bên cạnh đó, ngôn ngữ lại có một phương thức khác tác động trực tiếp đến những đơn vị ngôn ngữ có sẵn (hoặc được tạo ra) trong những điều kiện nhất định, để cho câu hiện thực hoá trong giao tiếp, có hiệu lực theo ý muốn

V* 1của người nói và người nghe hiêủ được Đó là câu - giao tiếp

Giao tiếp không gì khác hơn là để tác động đến nhận thức của người nghe, người đọc, trao đổi tư tưởng, tình cảm, nhận thức thực chất cũng là tác động đến người nghe, nhằm làm thay đổi (hoặc biến đổi) tâm tư, tình cảm, nhận thức, ở người nghe Cho nên, hoạt động của ngôn từ trong giao tiếp cũng là một hành động như bất cứ hành động nào khác của con người có tác động đến người khác

Nội dung của câu giao tiếp có hai phần: phần nhận thức có giá trị chân lý

(giá trị đúng/sai) do nghĩa từ vựng của từ biểu đạt, thường được gọi là nghĩa của

câu và phần khác, không có giá trị chân lý mà chỉ có giá trị ngồn trung; tức là giá trị hiện thực một hành động nói năng nhất định nào đó của người nói, nhằm

gây ra một tác động nhất định đến nhận thức của người nghe; gọi là ỷ của câu Cùng một nội đung nghĩa của câu: “Ông chủ nhiệm Khoa không đi tham quan chùa Hương” có thể được sử dụng theo nhiều ý khác nhau của người nói Thí dụ:

1 Ông chủ nhiệm khoa không đi tham quan chùa Hương.

2 Ông chủ nhiệm khoa chưa đi tham quan chùa Hương.

3 Ông chủ nhiệm khoa đâu có đi tham quan chùa Hương.

4 Làm sao mà ông chủ nhiệm khoa đi tham quan chùa Hương được!

5 Ôgg £hủ nhiệm khoa có đi tham quan chùa Hương đâu!

v.v

Trong câu (1), tại thời điểm giao tiếp, nội dung nghĩa của câu biểu đạt một

sự tình đúng như thực tế Giá trị chân lý của nội dung câu là giá trị thuần tuý

lôgích (việc ông chủ nhiệm không đi tham quan là đúng sự thật) Nhận định đó

của người nói tác động đến người nghe, làm cho người nghe có được một thông

điệp Từ “không” trong cấu trúc vị ngữ của câu là một tiểu từ lôgích thuần tuý

Trang 19

(logic - operator), là phương tiện lôgích - ngổn ngữ Nhờ nó, chúng ta biến đổi một câu khẳng định thành càu phủ định; tức, miêu tả một hiện thực không có thực trong thực tế Nội dung nghĩa của câu này chỉ là nghĩa lôgích thuần tuý.

Trong câu (2), tại thời điểm nói, người nói đưa ra một nhận định ràng: việc không đi tham quan của ông chủ nhiệm là có thực chỉ trong thời điểm hiện tại

»• ♦

này mà thôi; nhưng trong thời điểm khác, ông chủ nhiệm có th ể á i tham quan

Từ “chưa ’ trong thành phần vị ngữ của câu cũng là một loại tiểu từ lôgích, biểu

đạt thời điểm xảy ra của hành động

Trong câu (3), đặc ngữ "đâu có" được dùng như một tiểu từ lôgích - tình

thái (logico - modal operator) Đặc ngữ "đâu có" vừa hàm nghĩa phủ định vừa

hàm ý người nói không hài lòng về việc ông chủ nhiệm vắng mặt, mà theo lẽ thường, ông nên (cẩn) có mặt

Tại câu (4), kết cấu "làm sao (mà) được" phản ánh thái độ thông cảm của người nói trước sự tình: “ông chủ nhiệm không đi tham quan vì một lý do bất

khả kháng nào đó”, Nếu lược bỏ kết cấu mang ý tình thái này đi, rõ ràng nghĩa

của câu chỉ còn lại nghĩa lôgích Kết cấu "làm sao (mà) được" cũng là tiểu từ

lôgích - tình thái.

Cuối cùng, trong câu (5), kết cấu "có đâu" cũng là một loại tiểu từ

ỉôgích - tình thái Nó không chỉ hàm ý “ông chủ nhiệm không những cố ý không

đi tham quan, mà còn hàm ý việc ông không đi là việc đáng trách” Tiểu từ này biểu lộ thái độ không hài lòng của người nói

Qua đó, thấy rằng khi nào có tiểu từ tìn h th ái tham gia vào cấu trúc của

câu thì nội dung diễn đạt của câu mang đầy đủ V và nghĩa, phản ánh rõ ràng mục

đích, chiến'lutíc giao tiếp của người nói Vấn đề tình thái với tư cách là phương tiện biểu đạt thái độ, tình cảm của người nói trước hiện thực được miêu tả, là một đặc điểm quan trọng của câu giao tiếp

Dùng ngôn ngữ để giao tiếp tức là để nói ra những ý nghĩ của mình cho

người nghe hiểu; hiểu để hành động Vì vậy, đối với người nói, quá trình tạo

16

Trang 20

thành lời nói là một quá trình phức tạp Thoạt tiên, người nói chỉ nói ra điều gì

khi có một nguyên cớ Cái nguyên cớ đó là động cơ tâm lý thúc đẩy “một lời cần

nói ra” L Blumfil đã chứng minh điều này qua ví dụ quả táo và hai đứa trẻ và

ông kết luận rằng một hành động lời nói được tạo thành gồm ba yếu tố: sự kiện

thực tế xảy ra trước khi nói (tức, tiền giả định), lời nói được nói ra (tức, miêu tả

sự kiện thực tế) và sự kiện thực tế xảy ra ngay sau lời nói đó (tức, hành động của ngôn từ) tấ£ 4ộng đến người nghe, kéo theo một hành động nào đó ở người nghe

[Sđd:37] Trong thực tế, cái ý mới được hình thành trong tư duy của người nói nảy sinh từ nguyên cớ là trừu tượng, chưa định hình, luôn biến động, có khi sâu sắc mạch lạc, có khi giản đơn, sơ lược, nông cạn,v.v Trong khi đó, lời nói ra lại

là một chuỗi ngôn từ cụ thể nối tiếp nhau thành hình tuyến và có giới hạn nhất định Mặt khác, trong giao tiếp, thường những người tham thoại đều hướng đến một chủ đề mà họ ngầm hiểu nên người nói tận dụng những gì đã có trong hoàn cảnh giao tiếp này Họ chỉ nói ra những điều tối thiểu, hữu hiệu nhất, quan yếu

nhất nhằm gợi cho người nghe suy ra điều gì đó Có nghĩa, người nói gợi ra ở người nghe một suy ý để đi đến một nhận thức, một sự hiểu như người nói mong muốn Như vậy, câu giao tiếp nổi trội lên ba nhân tố tạo thành: tiền giả định,

hiển ngôn và hàm ngôn.

Tiền giả dịnh khỏng có giá trị thông báo, không thuộc nội dung của câu, không được hiển ngôn nhưng nó lại là điều kiện tiên quyết để hiểu ý nghĩa của

câu Chẳng hạn, nếu câu: “Làm sao mà ông chủ nhiệm đi tham quan được!" đặt trong tiền giả định là: “Ông chủ nhiệm đâu có đi tham quan” thì nội dung hiển

ngôn của câu trên là sai

Ngoài hiển ngôn, trong mối quan hệ với tiền giả định, câu còn có hàm

ngôn Đó là những ỷ không được biểu đạt trực tiếp qua nguyên vãn mà người nghe phải sìiỳ ra từ quan hệ giữa các nghĩa trong cấu trúc từ ngữ của cáu và từ

ngôn cảnh để hiểu được hàm nghĩa hoặc ẩn ý cuả người nóì

Trang 21

#« •

Dường như bất cứ câu nói nào cũng có tiền giả định Một câu như: Em là

sinh viên được nói ra chí ít thì cũng có một trong hai tiền giả định: Đó là câu trả

lời cho câu hỏi chính danh: Em có phải là sinh viên không? hoặc đó là câu người

nói tự giới thiệu mình Một câu khác: Cô ấy mà là sinh viên! có tiền giả định là

một câu khẳng định: Cố ấy là sinh viên thật; hoặc: Chính cô ấy là sinh viên Một

câu nói cửa miệng hàng ngày: Chào anh! (chị, ông, bà !) có thể được dùng

trong những hoàn cảnh giao tiếp với những mục đích khác nhau Mỗi lần được

dùng với những mục đích giao tiếp không là một ấy, câu: Chào anh! không còn

là câu của ngữ thuần tuý mà đã là câu giao tiếp mà người nói dùng với những mục đích giao tiếp khác nhau: chào hỏi hoặc tạm biệt

Chính người nói hay người viết đưa ra chủ đề và những tiền giả định cho câu nói Chính họ tạo ra cấu trúc của thông tin với hình thức chuyển tải nội dung

thích hợp và nhờ thế người nghe, người đọc mới hiểu và suy ỷ câu mà mình tiếp

nhận Bằng lời nói của minh, người nói đã làm thay đổi trạng thái tinh thần hay vật lý của người nghe Lời nói, vì thế, cũng là một “hành động”; một hành động mang tính xã hội, chứ không phải là hành động đơn phương cua cá thế Khi một người nói nói ra điều gì đó dù là một lời cực kỳ ngắn như “ ơ /" (lời chào mừng rỡ của đứa trejcfri mẹ đi chợ về) hoặc khi nhà văn viết ra một tác phẩm đồ sộ như

tác phẩm “Những người khốn khổ” chẳng hạn, thì người nói, người viết đã tham

gia vào một hành động xã hội Một hành động xã hội như thế chỉ có thể xảy ra

trong giao tiếp, trong đó có quan hệ liên nhân, có hai vai giao tiếp, một bên là người nói / người viết và bên kia là người nghe / người đọc Trong ẹiơo tiếp

động, mặt đối mặt, hai vai giao tiếp thường luân chuyển cho nhau: người nói sau

khi nói xong chuyển thành vai người nghe và ngược lại, Có thể nói ràng người

nói và người nghe cả hai bên đều nói; một người thì nói bằng âm thanh và người khác thì nói thầm.

Là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất trong xã hội, câu - ngôn ngữ chỉ

có thể hiện thực hoá bầng câu - giao tiếp Ngữ pháp học miêu tá cấu trúc chi

18

Trang 22

quan tâm đến câu do mốt người nói (người viết) tạo thành và phân tích nó theo

VI I

hệ thống - cấu trúc tầng bậc, tách nó ra khỏi mục đích trong giao tiếp, xem như người nghe (người đọc) không hiện diện Nghĩa là, xét câu độc lập với ngữ cảnh theo quan niệm câu chỉ do người nói (người viết) sản sinh ra

Ngày nay, người ta nghiên cứu ngốn ngữ, trong đó câu tích hợp cả ba bình

diện: kết học (syntactics), nghĩa học (semantics) và dụng học (pragmatics) Điều

đó có nghĩa là: Các sự kiện ngôn ngữ ở đầu vào của kết học sẽ cho ra các sự kiện kết học (các quy tắc kết học) ở đầu ra Các sự kiện kết học này lại đóng vai trò của sự kiện đầu vào cho nghĩa học để có đẩu ra là các sự kiện nghĩa học (quy tắc nghĩa học) và các sự kiện nghĩa học đến lượt mình lại là đầu vào cho ngữ dụng học đ£ có đầu ra là các sự kiện (các quy tắc) ngữ dụng học” [4:56] Sơ đồ tuyến tính đó được hình đung như sau:

Sự kiện ngôn n^ữ N g ữ dụng

(quy tắc kết học)

(quy tắc nghĩa học)

(quy tắc dụng học)

Ba mặt đó chi phối lẫn nhau, trong đó mặt nghĩa học được coi là mặt quan

yếu nhất Điều đó có nghĩa là, ngay trong mặt kết học, câu với tư cách là đơn vị

giao tiếp tối thiểu chỉ thực hiện được chức năng thông báo của mình khi nó biểu

đạt được rrflộr nội dung (ý và nghĩa) trọn vẹn Và, ngay nội dung đó (tức, mặt

nghĩa học cùa câu) cũng chịu sự chi phối của các quy tắc dụng học để biểu hiện

ra mục đích giao tiếp của người nói (người viết)

Thí dụ: (1) Em tên là Mary

(2) Làm bài đi!

Trong câu (1), mặt kết học chưa biểu đạt chính xác nội dung ý nghĩa cúa

câu theo nghĩa: câu đó nhằm tường minh cho câu hỏi trong giao tiếp: “Tên em là gì?” Vì vậy, câu chuẩn, chính xác sẽ là “Tên em là M ary” Cấu trúc của câu chuẩn này sẽ làm cho câu có một ý nghĩa trọn vẹn Ý nghĩa đó có hiệu lực trong

ft I

Trang 23

giao tiếp Đó là câu tự giới thiệu về minh hoặc câu tường minh cho câu hỏi như trên.

Nhưiig,, nếu câu chuẩn đó (Tên em là Mary) đặt trong tình huống giao tiếp: “Xin lỗi, tên em là gì, người nước nào, làm gì?” thì cậu trả lời: “Dạ, tên em

là Mary, sinh viên ú c , học tại Khoa Tiếng Việt và Văn hoá Việt Nam cho người nước ngoài” lại là câu không chuẩn về ngữ nghĩa - cú pháp, bời cái tên mà bố mẹ đặt cho đó không hề mang nghĩa là “người ú c , học tiếng Việt ”

Trong thí dụ (2): “Làm bài đi!” Ià một câu cầu khiến mà mục đích giao tiếp hướng đến là: người nói đưa ra một lời khuyên hoặc một “chỉ lệnh” mà người nghe cần phải thực hiện Nếu thay đổi trật tự cú pháp (mặt kết học) của câu dẫn ra bằng câu khác: “đi làm bài” thì mặt dụng học của câu sẽ thay đổi Bởi

vì, ý nghĩa £Í\a câu này không cùng một nội dung ý nghĩa như câu dẫn ra trong thí dụ (2)

Đến đây có thể tóm tắt đặc trưng cơ bản nhất của câu - giao tiếp so sánh với câu - ngôn ngữ như sau: Nếu như câu - ngôn ngữ là một đơn vị bậc cao xét

dưới quan điểm miêu tả hình thức trong hệ thống - cấu trúc của ngôn ngữ học; là mặt biểu đạt của nghĩa - lồgích do các đơn vị ngôn ngữ (từ, ngữ, cú) tích hợp lại

để thực hiện chức năng thông báo đơn chiều từ phía người nói (người viết) và nó được cấu tạo độc lập với ngữ cảnh trên cơ sở cua những mô hình cấu trúc trừu

tượng thì câu - giao tiếp là đơn vị tối thiểu hiện thực hoá câu ngôn ngữ trong

hoạt động giao tiếp liên nhân mà nội dung ngữ nghĩa - ngữ dụng của nó được biếu đạt qua nghĩa lôgích và nghĩa tình thái của câu

Từ những đặc trưng cơ bản của càu - giao tiếp, trong thực hành tiếng (dạy

ngoại ngữ) có thể xây dựng những lược đồ cấu tạo hình thức của câu - giao tiếp, gọi tắt là mẫu câu.

20

Trang 24

m MẪU CÂU

Trước hết, cần phải nói rằng mẫu câu không phải là đơn vị ngôn ngữ mà là

công thức trình bày những quy tắc kết hợp các đom vị ngôn ngữ nhằm phục vụ cho mục đích giao tiếp của người nói (người viết) có hiệu lực

Khái*niệm về mẫu câu dùng trong sách giáo khoa dạy tiếng được hiểu rất

khác nhau:

1 Robert Kronhn trong “English Pattern Practices' ’ (Nxb: The University Michigan, 1970, Trg 5) quan niệm mẫu câu là lược đồ cấu tạo câu, trong đó các

thành phần nòng cốt của câu cơ bản được xây dựng Ihông qua từ loại - chức

năng Do đó, có thể thay th ế CÁC từ cùng loại vào khung lược đồ mẫu để cấu tạo

câu mới Thí dụ:

Noun Phrase Verb Phrase Adjective Phrase

2 Nhóm tác giả Nguyen Long, Marybeth Clark và Nguyễn Bích Thuận

trong “Spoken Vietnamese fo r Beginers" - Northern Illinois University, 1994, Trg 43 - quan niệm mẫu câu được xậy dựng theo lược đổ:

Person Action Topic

V V

3 Hầu hết các sqách giáo khoa do người Việt Nam biên soạn đểu xâydựng mẫu câu dựa trên mô hình khái quát của câu ngôn ngữ trong đó quan tâmđặc biệt đếs sự tham gia của các tiểu từ lôgích - tình thái Thí dụ:

1 Thế nào + chủ ngữ + cũng + động từ (tính tjjf) Thế nào trời cũng mưa.

2 Chủ ngữ + th ế nào + cũng + động từ (tính từ) Anh ấy th ể nào cũng gọi điện cho chị ( 14.B: 100)

Trang 25

+ (có thể)Đ + (được)

Làm sao mà

- Tôi không biết làm th ế nào mà mua được vé xem chung kết hoa hậu.

- Tôi khồng biết làm sao mà viết được tiếng Thái (11:213)

v.v

Trong lý luận về phương pháp dạy tiếng như một ngoại ngữ, chúng tôi

chưa tìm thấy một định nghĩa nào về mẫu câu Trong ngôn ngữ học, thuật ngữ

mâu (pattern, model) được hiêu là “sự phân bô các yếu tô ngôn ngữ có tính quy

luật nối tiếp nhau theo trật tự hình tuyến để tạo thành những đơn vị ngôn ngữ có cấu trúc phức tạp và những đem vị đó tái hiện nhiều lần trong lời nói” [O.c

Akhơmanôva: Thuật ngữ ngôn ngữ học M 1969, trg 238]

Từ những quan niệm của các tác giả SGK dạy tiếng Việt thực hành cho

người nước ngoài và từ khái niệm ngôn ngữ học về mẩu, có thể rút ra một vài đặc điểm cơ bản của mẩu câu như sau:

a/ Mầu câu là biến thể của mô hình cấu tạo hình thức của câu - ngôn ngữ

Nó được dìThg trong những hoàn cảnh giao tiếp cụ thể đê biểu đạt mục đích giao tiếp của người nói (người viết)

b/ Trên cơ sở mô hình cấu tạo cơ bản của câu - ngôn ngữ, mà trong đó, các

thành phần chức năng đã được phân bố theo trật tự hình tuyến, mẩu câu cũng

bao gồm những thành phần chức năng tương ứng, trong đó thành phần vị ngữ được quan tâm đặc biệt; vì một mặt, nó phản ánh khá đầy đủ những nét đặc thù của cú pháp tiếng Việt; mặt khác, nó không chỉ biểu thị “thông tin m ới” của nội dung thông báo mà còn phản ánh chân thực thái độ tình cảm của ngưòi nói trước thực tế được phản ánh thông qua ngữ dụng của các tiểu từ tình thái

IV T ÌN H T H Á I T Ừ VÀ CÂU TẠ O CÂU G IA O T IÊ P

Có thể nói vào những năm 70 - 80 của thế kỷ XX, ngôn ngữ học đại cương mới biết đến ngữ dụng học, cho dù trước đó năm 1913 với các tác phẩm của

3 Làm th ế nào mà

22

Trang 26

*1 •

mình, Ch.S.Peirce đã khởi nguồn cho việc nghiên cứu câu - ngôn ngữ xuất phát

từ ba bình diện như đã đề cập đến Từ 1983 trở đi, “ngữ dụng học đã phát triểnmạnh mẽ cả về lý thuyết, cả về nghiên cứu cụ thể” [4:5] Trong ngôn ngữ học,

phạm trù tình thái được các tác giả nghiên cứu theo nghĩa dụng, để phản ánh

những mối quan hệ khác nhau về nội dung thông báo của câu với thực tế, đặcbiệt phản ánh thái độ đánh giá của người nói đối với nội dung thông tin đượcmiêu tả, nhằm tác động đến người nghe; theo đó, người nghe sẽ thay đổi trạngthái tinh thần hay trạng thái vật lý của mình

r« ■

Trong ngồn ngữ học, từ những năm 1960 trở lại đây, người ta quan niệm rằng bất cứ nội dung ngữ nghĩa nào của câu trong giao tiếp liên nhân cũng đều

chứa đựng những yếu tố biểu đạt mục đích nói năng của người nói Từ quan

niệm này, mỗi nhà nghiên cứu đều đưa ra một hệ thuật ngữ với những nội hàm tương ứng theo quan điểm nghiên cứu riêng của mình liên quan đến nội dung cốt

lõi của “m ệnh đ ề ' <3); đến phạm trù tình thái có trong cấu trúc ngữ nghĩa - ngữ

dụng của nó Vậy, tình thái của câu là gì? Ở đây, chúng tôi dựa trên quan điểm của nhà ngôn ngữ học nổi tiếng, người Pháp, Charles Bally, đế xem xét vấn đề tình thái trong câu

I" i

Theo Charles Bally, ngữ nghĩa của câu được tạo thành từ hai yếu tố: yếu tố

nội dung cốt lõi của câu mà ông gọi bằng thuật ngữ “dictum ” và yếu tố biểu đạt thái độ của người nói trước nội dung đó, gọi là “modus” Yếu tố “dictum ” gắn

với chức năng thông tin của câu, chức năng miêu tả của ngôn ngữ; còn yếu Lô

“m odus", yếu tô' tình thái, gắn với cảm xúc, ý chí, thái độ, đánh giá, nhận định

của người nói trước hiện thực được miêu tả; tức là, gắn với mục đích nói của người nói nhằm tác động đến người nghe Thí dụ:

l Giờ học bất đầu.

(3) I" *

Mệììh đ ê vón là thuật ngữ cùa lôgích hoc N ó m ặ c nhiên dươc dùng trong m iêu tả, phán tích ngôn ngữ hoc đến

nỗi không lì những cấu trúc càu - viết ra ngoài cấu trúc Chù ngữ - Vị ngữ nhưng vẫn dược hiếu lã cáu trúc mênh

để “That không c ó thuật ngữ nào bất hạnh hơn (thuật ngữ m ệnh dể)" [Cao Xuân Hao sđd:20]

Trang 27

* ' 2 Giờ học đã bắt đầu rồi!

3 Củ lẽ giờ học đ ã bắt đầu rồi đấy!

4 Giờ học chưa bắt đầu.

5 Giờ học chưa bắt đầu đâu!

6 Giờ học đâu có bắt đầu!

7 Giờ học đã bắt đầu chưa?

8 Giờ học đ ã bắt đầu rồi à?

9 Giờ học đã bắt đầu rồi, phải không?

10 Bắt đầu giờ học đi!

Trong òấc thí dụ trên, nội dung cốt lõi của câu là miêu tả một sự tình: sự

bắt đầu của việc học theo quy định thời gian biểu của họcđường Sự tình đó, tuỳ

theo mục đích giao tiếp liên nhân của người nói, có thể được miêu tả khẳng định

- thừa nhận như câu (1) Nhưng, trong trong câu (4), cũng là sự tình đó, nhưng

người nói muốn khẳng định về sự phủ định của mình Tiểu từ lôgích "chưa" biểu đạt mục đích đó của người nói Đó là câu khẳng định - phủ nhận So sánh hai

mục đích nói năng trong giao tiếp của người nói ở càu (1) và câu (4) với mục đích nói năng ở câu (7), rõ ràng chúng không giống nhau Trong câu (7), tiểu từ

lôgích "đã chưa" nêu lên sự hoài nghi của người nói về thời gian khởi đầu của lớp học Đáy là câu khẳng định - nghi vấn Tiếp theo, tiểu từ "đi" và việc thay đổi

trật tự trong quan hệ chủ ngữ và vị ngữ trong câu cuối cùiỉg, làm lộ ra mục đích của người nói là muốn người nghe thực hiện một hành động ngay sau câu nói

của mình Đây là câu khẳng định - cầu khiến.

Ngữ pháp truyền thống cũng đã chú ý đến 4 kiểu câu biểu đạt bốn mục

đích giao tiếp khác nhau này Đó là những kiểu câu phản ánh chiêh lược giao

tiếp liên nhân nhờ vào những tiêu từ tinh thái Chúng định hướng khái quát cho

mục đích của người nói Trong bất cứ ngôn ngữ nào cũng có bốn kiểu câu phán ánh chiến lược giao tiếp này, cho dù hình thái cấu tạo ngữ pháp của chúng có

r> ■

I

24

Trang 28

khác nhau, Tình thái biểu đạt chiến lược giao tiếp được gọi là tình thái của hành

động phát ngôn (modalité d énonciation) Nó có tác dụng phân biệt mục tiêu,

»1 ■

hướng đích của phát ngôn trong giao tiếp, Nó phân biệt với tình thái của lời phát

I

ngôn (modalité d énoncé), gọi là tình thái chiến thuật giao tiếp Tinh thái chiến

thuật liên quan đến thái độ của người nói đối với điều mình nói ra; tức là, dùng

tình thái chiến thuật để bộc lộ ra những đặc trưng của hành động ngoài lời (lực

ngôn trung của lời nói) Chẳng hạn:

Trong câu (1), tiểu từ tình thái chiến thuật được dùng là ngữ điệu câu Phụ

thuộc vào ngữ điệu Tuy cùng một dictum nhưng câu - giao tiếp "Giờ học bắt

đầu." có thể là câu có "hành động ngoài lời", tức người nói muốn đưa vào nhận

thức của người nghe một sự tình đang xảy ra trong thực tế (ngữ điệu của câu đi xuống ở cuoi câu) Nhưng, nếu thay đổi ngữ điệu thì người nói không chỉ miêu tả

sự tình cho ngưòi nghe nhận biết mà còn biểu lộ một cảm xúc vui mừng của mình, (ngữ điệu đi lên ở cuối câu)

Tiếp tục xem xét câu (2) và câu (3) Trong câu (2): "Giờ học đ ã bắt đầu

rồi!", tiểu từ "đã rồi” là những yếu tố biểu thị thời, th ể của động từ vị ngữ Theo

cách hiểu tình thái, những yếu tố đó biểu đạt một hành động tạo lời của người

nói Trong câu (3), so với nội dung nghĩa của hai câu trước đó, nội dung nghĩa (dictum) của câu (3) vẫn không hề thay đổi Nhưng, ở đây có thêm tiểu từ tình

thái "có ỉẽ" và "đấy” tham gia vào cấu trúc nội tại của câu Tiểu từ "có le ' nói

lên sự phỏrig đoán của người nói Sự phỏng đoán có thể trở nên hiện thực (phỏng đoán thực hữu) hoặc không hiện thực (phỏng đoán phi thựo hữu) Có nghĩa, trong trường hợp đang xem xét, lớp học hoặc đã bất đầu rồi, hoặc chưa bắt đầu Nhưng

nhờ vào tiểu từ "đấy", nội dung ngữ nghĩa của câu được khẳng định theo hướng phỏng đoán thực hữu Đồng thời, tiểu từ "đấy" còn hàm ý: “ Giờ học đã bắt đầu

rồi, sao còn chưa vào lớp?” hoặc “Giờ học đã bắt đầu rồi, vào lớp đi chứ!” Như

vậy, tiểu từ "đấy" vừa có tác dụng xác định tính thực hữu của sự tình vừa tác động đến “hành dộng sau lời ” đối với người nghe.

Trang 29

Trong chiến lược giao tiếp, để biểu lộ thái độ phủ định, người nói có thể dùng không ít những tiểu từ tình thái bộc lộ ra những chiến thuật giao tiếp khác

nhau: chẳng hạn "chưa, chưa đâu, đâu có" như trong các thí dụ (4), (5) và (6) dẫn ra ở trên Tiểu từ "chưa" trong câu (4) được xem như là tiểu từ lôgích biểu

thị sự phủ nhận về thời điểm xảy ra sự tình so với thời điểm mà người nói và

người nghe đang tiến hành hoạt động giao tiếp Trong câu (5), tiểu từ "chưa

đâu" không chỉ có nghĩa dụng như tiểu từ "chưa” trong câu (4) mà còn lột tả thái

độ khẳng định dứt khoát của người nói về sự tình chưa xảy ra, cho dù người nghe không đồng tình, thậm chí phản bác ý khẳng định đó

Chiến thuật giao tiếp của người nói thể hiện trong câu (6) lại hoàn toàn

khác hẳn với chiến thuật giao tiếp ở câu (5) và (4) Trong câu (6), người nói bác

bỏ ý của người tham thoại cho rằng: “Giờ học đã bắt đầu.”, đồng thời khẳng định

ý mình rằng: “Giờ học nhất định chưa bắt đầu” Tiểu từ "đâu có" được dùng

* 1 1

trong câu (6) phản ánh thái độ ấy của người nói

Tất cả tiểu từ tình thái chiến thuật dùng trong các câu (7), (8) và (9) đều biểu đạt chiến lược giao tiếp khẳng định - nghi vấn của người nói Trong chiến lược này, người nói yêu cầu một câu trả lời của người nghe về sự tình hoặc một phần của sự tình được tiền giả định cho là hiện thực

Trong câu (7); Giờ học (đã) bắt đầu chưa? có 3 tiền giả định:

- Có một lớp học

- Lớp học đó dành cho đối tượng học, trong đó có người nói và người nghe; hoặc đối tượng học là người có quan hệ với người nói hay người nghe

- LÓỊf'học bắt đầu theo đúng thời gian biểu đã xác lập

Người nói mặc nhiên thừa nhận 2 tiền giả định trên, chỉ nghi vấn về tiền giả định thứ ba và muốn có câu trả lời xác tín về thời gian mà sự tình đó xảy ra

Việc dùng tình thái từ trong câu nghi vấn còn gắn với quan hệ liên nhân

trong giao tiếp Các tiểu từ "chưa" trong câu (7); "à" trong câu (8) và "phải

26

Trang 30

không" trong câu (9) đều được dùng trong quan hệ ngang vai hoặc quan hệ vai

trén đối với vai dưới

Có gì khác nhau về mặt ngữ dụng của các tình thái từ kể trên trong cùng một nội dung nghĩa của câu khẳng định - nghi vấn? Người nói dùng tiểu từ

"(đã) chưa" khi chính họ không có được tiền giả định về thời gian thuộc về quá

khứ, hiện ụ i hay tương lai của sự tình xảy ra so với thời điểm nói Tiếu từ "đã" không có nghĩa là một chỉ tố về “Thời” của động từ Vì thế, câu trả lời có thể: Đ ã

(rồi) hoặc chưa, hoặc sắp/sẽ Khi dùng tiểu từ "à?" hoặc "phải không?", người

nói khẳng định: sự tình xảy ra trong quá khứ so với thời điểm nói, đồng thời

muốn xác nhận sự tình xảy ra là có thực hay khổng Tiểu từ "rồi" biểu thị thể

hoàn tất hành động càng khẳng định cho sự tình đã xảy ra trước thời điểm nói

Chỗ duy nhất khác nhau giữa cách dùng "(đã) chưa?" và " phái không?" với cách dùng "à?" trong câu chính là chức nãng biểu cảm thân mật của người nói đối với người tham thoại (Xem thêm: Phạm Hùng Việt; Chức nănẹ biếu cảm

của tr ợ từ tự n g Việt trong “Ngữ học trẻ 97”, trg 82-84)

Cuối cùng, chiến lược giao tiếp của người nói trong pâu (10) là chiến lược: yêu cầu người nghe thực hiện một hành động đơn phương hoặc cùng hợp tác với người nói Ngữ pháp truyền thống xem mục đích nói trong trường hợp này là

"cầu khiến" Đặc điểm của chiến lược giao tiếp này là “hành động ngoài lời” của

người nói tác động đến người nghe (ngôi thứ hai) một cách trực tiếp và người

nghe thực hiện ngay "hành động sau lời" Tiểu từ tình thái "đi" trong câu đang

xét có mối liên hệ ngữ nghĩa với động từ sinh ra nó (động từ ĐI) Nghĩa cơ bản của động từ này là sự di chuyển, vận động của chủ thể hành động trong khồng gian - thời gian đến một đích (vị trí) nào đó Do đó, nghĩa phái sinh của tiểu từ

"đi" vẫn lưu giữ nét nghĩa "chuyển dịch" của hành động Mặt khác, bất cứ hành

động nào cũng cẩn có chủ thể hành động, Vì thế, người nghe trong trường hợp này đóng vai chủ thể Theo đó, cấu trúc của câu phái thay đổi đế xác lập mối liên

hệ tất yếu giữa chủ thê hành động và hành động Đó là lý do giải thích cho câu

Trang 31

hỏi: vì sao trong cấu tạo của kiểu câu cầu khiến, động từ hành động luồn luôn

đứng ở đầu câu và thường có tiểu từ "đi" kèm theo.

Trên đây, chúng tôi đã đề cập đến một số vấn đề cơ bản liên quan đến vai trò của tình thái trong câu Dưới đây, Có thể tóm tắt một sô' điểm chính về càu giao tiếp như sau:

1 Câu giao tiếp thực hiện chức năng công cụ giao tiếp liên nhân thông qua nghĩa lôgích và nghĩa tình thái của nó Nghĩa hiển ngôn của câu được tạo thành

»1 I

nhờ nghĩa - từ vựng của từ, ngữ cùng với quy tắc ngữ pháp trong cấu tạo câu Đó

là "nghĩa lôgích" của câu Ngoài ra, nội dung ngữ nghĩa của câu còn có "nghĩa tình thái”- nghĩa xuất phát từ thái độ, tình cảm, nhận thức của người nói trước hiện thực được miêu tả trong câu Hai mặt nghĩa này hoà kết với nhau tạo nên nội dung ngữ nghĩa của câu, làm cho câu có được một nội dung thông điệp tương đối trọn vẹn Thông điệp này tác động đến trạng thái tinh thần hoặc vật lý của người nghe; có nghĩa, người nghe sẽ “hành động”

2 Ngữ pháp truyền thống xem xét cấu trúc của các kiểu câu chia theo mục đích nói năng của người nói Các kiểu câu đó (tường thuật nghi vấn, cảm thán và

mệnh lệnh)"phản ánh chiến lược giao tiếp của người nói trong hoạt động giao tiếp Trong mỗi chiến lược giao tiếp ấy, có các chiến thuật tương ứng Chiến thuật giao tiếp phản ánh trung thành mặt nghĩa tình thái mà người nói muốn phản ánh Chiến thuật giao tiếp được biểu đạt qua ngữ điệu câu và đặc biệt, qua những tiểu từ lôgích tình thái Nhiều khi chính các tác tử tình thái này mới làm

lộ ra hàm ý của người nói Chẳng hạn, trong tiếng Việt, việc dùng tiểu từ lôgích

tình thái “nêu A thì B ” để biểu lộ chiến lược giao tiếp: tương ứng với điều kiện A

thì sẽ có kết quả (hậu quả) kéo theo là B Nhưng trong những tình huống giao tiếp khác nhau, chiến ỉược đó lại cần được thực hiện thông qua những chiến thuật tương ứng ,yớjỉ tình huống hiện thực Vì thế, hàng loạt tiểu từ lôgích tình thái

khác được dùng thay vì tiểu từ tình thái “N ếu thì”; chẳng hạn: nến như A thì B

28

Trang 32

»1 I

nếu quả A thì B, giá (như) A thì B, nhược bằng A thì B, hễ A thì B, hễ cứ A thì B,

nếu mà A thì B, có A thì B, đã là A thì B, B nếu A, B trừ phi A,v.v

Bất kỳ một câu nói nào được dùng trong giao tiếp liên nhân đều hàm ý

khẳng định về sự tình nào đó Nếu không thế thì người nói không nói ra điểu

mình nghĩ về sự tình đó Vì thế, trước khi nói, các chiến lược giao tiếp đã được

khẳng định trong tư duy của người nói Chẳng hạn, chiến lược “trần thuật” tuy

không đòi hỏi một lời đáp, không yêu cầu người tham thoại phải thực hiện một

hành động nào cả mà người nói chỉ đơn thuần trình bầy sự tình theo nhận định

của mình, nhưng người nói cũng đã định hình được những từ, ngữ liên quan đến

» 1 1 ,

sự tình ấy trong óc của mình trước khi họ tìm kiếm phương tiện cú pháp hun hiệu

(cấu trúc câu) để tiến hành hoạt động giao tiếp

3 Như đã rõ, ngữ pháp - ngổn ngữ là sự miêu tả cấu trúc một ngôn ngữ và

cái cách mà các đơn vị ngồn ngữ như từ, ngữ kết hợp lại với nhau đê tạo nên câu

- ngôn ngữ Ngoài các đơn vị đó ra, muốn cho câu - ngôn ngữ hiện thực trong

giao tiếp liên nhân, tất yếu phải có tiểu từ lôgích - tình thái tham gia trong cấu

trúc của cáu Sự xuất hiện tiểu từ lôgích - tình thái này là do nhu cầu xác lập một

chiến lược giao tiếp, kéo theo chiến thuật giao tiếp tương ứng mà người nói

mong muốn Hơn thế, bất cứ điều gì mà người nói nói ra trong giao tiếp đều

nhằm tác động đến trạng thái tinh thần hoặc trạng thái vật lý của người tiếp nhận

thông tin Điều đó cho thấy nói cũng là m ột h àn h động «như bất cứ hành động

nào mà con người tiến hành trong cuộc sống thực tế: “Lời nói thực chất là những

hành động diễn ra giữa những con người, cho nên nó không phải là trống rỗng

(Hegeỉ)” [10:38]

Từ những năm 60 của thế kỷ XX, một số nhà ngổn ngữ học nổi tiếng như J

Austin với công trình “How to do things with words” (Oxford University Press

1962), J.R Searle với công trlnh “Speech A cts” (Cambridge University Press

1969) đã đặt nền móng cho việc nghiên cứu lý thuyết hành động ngón ĩừ (Speech

act t h e o r y ) ^ quan niệm cho rằng ngôn ngữ không chỉ được dùng để thông báo

Trang 33

hoặc miêu tả cái gì đó mà nó còn được dùng để làm cái gì đó, đê thực hiện một

hành đ ộ n g ^ r đ ó Hành động được thực hiện nhờ vào lời nói trong giao tiêp liên

nhân gọi là hành động ngôn từ (Speech Act) Nó được xem xét từ ba phương

diện: hành động tạo lời (locutionary act) - câu giao tiếp được người nói phát ra

với ý nghĩa và sở chỉ xác định hành động ngoài lời (illocutionary act) - câu mà

người nói phát ra nhằm một mục đích gì đó (hàm ngôn của người nói)- và hành

động sau lời (perlocutionary act) - câu nói ra gây được hiệu quả ở người nghe,

thay đổi trạng thái tâm lý, vật lý ở người nghe

Thí dụ: Dạ, tên em là Thiên Trang ạ

Câu này đưa vào giao tiếp liên nhân được phân tích như sau:

- Hài}Ji jđộng tạo lời: Một người nào đó giới thiệu về tên của mình Lời giới thiệu đó do nghĩa từ vựng, do quy tắc cú pháp tạo thành

- Hành động ngoài lời: Đó là một lời đáp khiêm nhường của người nói trong hoàn cảnh giao tiếp cụ thể, mà có thể là lời đáp của sinh viên / học sinh trong môi trường học đường, hoặc lời đáp trong giao tiếp xã hội mà người nói tự nhận mình thuộc “vai dưới” so với “vai” của những người nghe Lời đáp ấy, dù ở trong môi trường giao tiếp nào, mang tính khiêm nhường như thế nào cũng nhằm

gây thiện cảm đối với người nghe Hai tiểu từ tình thái "Dạ", " ạ" phản ánh chiến

lược giao tiếp này

- Hành động sau lời: Càu - giao tiếp đó gây được cảm tình thân mật với

30

Trang 34

V ĐẶC Đ IỂ M L O Ạ I H ÌN H T IÊ N G V IỆ T C H I P H Ô I CÂU T R Ú C - NGỮ N G H ĨA CỦA CÂU G IA O T IÊ P

1 T rậ t tự từ:

»í •

Từ tiếng Việt không biến đổi hình thái là một đặc điểm cơ bản nhất, chi

I

phối đặc trưng ngữ pháp tiếng Việt và gây nhiều khó khăn cho người nước ngoài

học tiếng Việt thực hành - giao tiếp

Lê Văn Lý trong công trình nghiên cứu: "Sơ thảo ngữ pháp Việt Nam"

(1968) của mình đã dẫn ra một thí dụ điển hình về từ không biến hình trong việc

cấu tạo câu như sau;

1 “Sao nó bảo không đến?

2 Sao không bảo nó đến?

3 Sao không đến bảo nó?

4 r ẩao nó không bảo đến?

5 Sao? Đến bảo nó không?

6 Sao? Bảo nó đến không?

7 Nó đến, sao không bảo?

8 Nó đến, không bảo sao

9 Nó đến bảo: không sao

10 Nó bảo sao không đến?

11 Nó đến bảo: sao không?

12 Nó bảo: Đến không sao?

13 f Nó bảo: Không đến sao?

14 Nó không bảo, sao đến?

15 Nó không bảo đến sao?

16 Nó không đến bảo sao?

17 Bảo nó sao không đến?

18 Bảo nó: Đến không sao

19 Bảo sao nó không đến?

Trang 35

20 Bảo nó đến, sao không?

21 Bảo nó không đến sao?

22 Bảo không, sao nó đến?

23 Bảo sao? Nó đến không?

24 Không bảo, sao nó đến?

ri I

25 Không đến bảo nó sao?

26 Không sao, bảo nó đến?

27 Không bảo nó đến sao?

28 Không đến, bảo nó sao?

29 Không đến, nó bảo sao?

30 Đến bảo nó không sao

31 Đến không? Bảo nó sao?

32 Đến không? Nó bảo sao?

33 Đến, sao không bảo nó?

3 4 1" Đến bảo nó: Sao không?

35 Đến, sao nó không bảo?

36 Đến, nó bảo không sao

37 Đến, nó không bảo sao

38 Đến, sao bảo nó không?

Như vậy, chỉ có 5 từ: nó, đến, không, sao, bảo nhưng với trật tự kết hợp

khác nhau giữa chúng trên trục ngữ đoạn (cú pháp), có thê tạo ra 38 câu khác nhau về nội dung ngữ nghĩa, kéo theo sự khác nhau về mặt ngữ dụng Điều đó

cho thấy rằng trật tự từ là một trong những phương thức ngữ pháp quan trọng

nhất của ngữ pháp tiếng Việt

»*• »

Ở đây cần lưu ý rằng 38 câu dẫn ờ trên, nếu cô lập chúng ra khói ngư cảnh

- một loại mối trường phi ngôn ngữ - thì chúng hầu như không có được nội dung

ngữ nghĩa trọn vẹn Bởi vì, đại từ thay thế "nó" không có sớ chỉ; từ "sao" được

dùng trong các câu có nhiều nghĩa và đặc biệt hơn, ý đồ của người nói (tức, hành

32

Trang 36

động sau lời) không xác định được Trong 38 câu tạo ra, có 7 câu được tạo lập theo chiến lược giao tiếp khẳng định - chấp nhận, số còn lại theo chiến lược khẳng định - nghi vấn Ngay đối với những câu khẳng định - chấp nhận (8), (9), (12), (18), (30), (36) và (37), vốn là những câu mà người nói miêu tả sự tình trong trường hợp này vẫn không hoàn chỉnh về nội dung ngữ nghĩa Đối với những câu khẳng định - nghi vấn còn lại mục đích giao tiếp của người nói là yêu cầu người n^he trả lời thông báo về một sự tình hoặc một phần của sự tình được tiền giả định cho là hiện thực Nhưng những yếu tố tiền giả định, vốn là cơ sở

I

của câu nghi vấn, lại không được xác lập một cách tường minh trong những câu

dẫn ra Chẳng hạn, với câu (1): Sao nó bảo không đến? Chúng ta chỉ nhận ra

những tiền giả định: có hai nhân vật (người nói và người nghe) và một nhân vật liên quan, vắng mặt (do từ “nó” thay thế); có một chủ đề nào đó mà cả hai đều quan tâm, chứ không hề nhận biết một tiền giả định nào khác liên quan trực tiếp đến cấu đáp của người nghe

Như đã biết, theo J R Searle: “N ói chắc chắn là trao đổi thông tin, nhưng

đồng thời cũng là thực hiện một hành vi được quy định bằng các quy tắc cụ thể ( ) nhầm tTiay đổi hoàn cảnh của người nghe, biến đổi hệ thống niềm tin hoặc thái độ ứng xử của người đó; cũng vì vậy, hiểu một phát 'ngôn, có nghĩa là xác định được, ngoài nội dung thông báo, ý đồ dụng học, tức là giá trị và hiệu lực tại ngôn của phát ngôn đó” [27:59], thì những câu hỏi dẫn ra ở trên không xác định được “nội dung thông báo’ Theo đó, “ý đồ dụng học” cũng không thê xác định được

Trật tự từ có một giá trị không nhỏ trong ngữ pháp tiếng Việt Quan sát thí

dụ: (1) Anh yêu em.

(2) Em yêu anh.

Ở cân ('1), chủ thể hành động đóng vai trò chủ ngữ trong câu là từ "anh", còn "em" chỉ đối tượng chi phối của hành động {yêu) và là bổ ngữ của câu Trong càu (2), tình hình ngược lại: chủ thể hành động là "em", bổ ngữ lại là

Trang 37

"anh" Sự khác nhau về chức năng ngữ pháp của hai từ dẫrí ra đó làm cho hai câu

có hai nghĩa dụng khác nhau: trong câu (1), người được từ “erri” thay thê có thể

“kiêu kì” , làm cho người được từ thay thế “đau khổ”, thậm chí có thể bị

khước từ tình yêu của mình Ngược lại, trong câu (2), người “khổ đau” trong tình

yêu lại là cô gái nào đó đo từ đặc chỉ

Có thể nói phương thức trật tự từ trong tiếng Việt là một phương thức phục

vụ cho việc biểu hiện các ý nghĩa ngữ pháp và các quan hệ ngữ pháp So sánh: 3

phòng / phòng 3 (ý nghĩa số lượng / ý nghĩa thứ tự); nhà cho thuê / cho thuê nhà

(ý nghĩa đặc trưng ở động từ / ý nghĩa hoạt động ở động từ); yêu em / em yêu

(phạm trù chức năng - cú pháp: hành động - đối tượng / đặc trưng - sự vật),v.v

Tiếng Việt là một ngôn ngữ thiên về chủ đề, phần đề luôn đứng trước phần

thuyết Điều đó có nghĩa là trước khi nói ra một điều gì người ta thường giới hạn

phạm vi ứng dụng của điều đó; người ta thường đưa ra một chủ đề rồi mới nói về

chủ đề ấy Trật tự Đề - Thuyết này khúc xạ vào ngôn ngữ qua trật tự của chủ

ngữ luôn đứng trước vị ngữ

- Người nước ngoài học tiếng Việt dề có ấn tượng một đơn vị ngữ pháp

được gọi là từ chỉ là một từ duy nhất khi họ chưa biết nghĩa từ vựng - ngữ pháp

của nó Thưc ra, trong hoạt động ngôn ngữ, một đơn vị ngữ pháp gọi là từ có thể

thuộc hai hay nhiều hơn từ loại với những chức năng, ý nghĩa ngữ pháp khác

nhau Nhận diện ra từ khác loại, đối với người học, không gì tốt hơn là dựa vào

cấu trúc của câu Theo đó, phân tách ra các thành phần chức năng mà nó đàm

nhiệm trong câu Từ các thao tác phân tích câu, sẽ tách biệt ra một lớp từ chuyên

biểu đạt các quan hệ ngữ pháp và biểu đạt tình thái trong câu Đó chính là lớp từ

thường được ngữ pháp truyền thống gọi là "hư từ" Hiểu và vận dụng được cách

dùng hư từ là cần thiết đối với người học ngữ pháp thực hành Ngoài phương thức

trật tự từ như đã sơ lược đề cập đến, phương thức hư từ cũng là một trong những

đặc điểm ngữ pháp nổi bật của loại hình ngôn ngữ này

í I

34

Trang 38

2 Hư từ * I

Quan sát một số thí dụ:

1 Đây là tấm hình em tôi đấy.

2 Đây là tấm hình của em tôi.

3 Đây là tấm hình cho em tôi.

4 Đây là tấm hình vê em tôi.

5 Chính đày là tấm hình em tôi.

6 Đây cũng là tấm hình em tôi.

7 C hỉ đây mới đúng là tấm hình em tôi.

8 Ngay cả tôi cũng không nhận ra tấm hình em tôi.

1 l.Đ ây không phải là tấm hình em tôi.

12.Đây đâu có phải là tấm hình em tôi.

13.Đây là tấm hình em tôi chứ?

Những “hư từ’ trong các câu dẫn ra được ngữ pháp truyền thống phân loại

cùng với tên gọi khác nhau như; phó từ (tờ kèm ), trợ từ, từ n h ấn m ạn h , giới

từ, liên từ Trong văn bản này, chúng tồi gọi những hư từ có chức năng biểu thị

quan hệ cú pháp là những tiểu từ ỉôgích, chẳng hạn: của, cho, về, vì nên, không

phải; những hư từ biểu đạt đơn thuần thái độ, tình cảm, nhận định của ngườinói trước hiện thực miêu tả trong nội dung ngữ nghĩa của câu, gọi là tiểu từ tình

thái\ chẳng hạn: đấy, cũng, ngay, cả, chính, chi Sự phân biệt nội dung khái

niệm về hai tiểu loại hư từ như trên chỉ là tương đối Bởi VI, một tiểu từ lôgích

như "vì nên" chẳng hạn, cũng ngầm ẩn tình thái của người nói: tại sao trong câu

này thì dùng tiểu từ "vì nên " mà trong câu khác lại dùng tiểu từ "do nén "; hoặc một tiểu từ tình thái như "ngay" cũng có ngữ dụng khác với "chính", v.v

|M I

Trang 39

Mục đích cuối cùng của hoạt động ngôn ngữ là thực hiện sự giao tiếp liên nhân hoặc để truyền đạt cho nhau những điều cần biết, hoặc để yêu cầu nhau truyền đạt ụhụng điều cần biết nhằm thúc đẩy nhau hành động thông qua việc

sử dụng ngôn từ trong câu nói Nội dung ngữ nghĩa của một câu, như đã rõ, bao giờ cũng gồm hai phần khác nhau: một phần toát ra từ bản thân câu nói (nghĩa

“dictum”, nghĩa “nguyên văn”), tách ra khỏi mọi ngữ cảnh giao tiếp và phần khác là phần mà câu nói có được khi đùng trong một ngữ cảnh nhất định, vào một mục đích giao tiếp nhất định Khảo sát thí dụ dẫn ra để thấy rõ hai mặt nghĩa cẩn xác lập trong câu giao tiếp

Trong câu (1), tiểu từ tình thái "đấy" thường được các nhà sư phạm dạy tiếng giải thích: Từ "đấy” đứng cuối câu trần thuật dùng để biểu thị ý thông báo (13:44) Trong nghiên cứu, một trong những nét nghĩa của từ "đấy" là ắ'xa", đối lập với "đây" - "gần" Nét nghĩa này phụ thuộc vào điểm nhìn (view) định vị sự vật trong không gian của người quan sát Nét nghĩa "xa", "gán" của hai từ đang

quan tâm chỉ được dùng khi chúng làm chức năng chủ ngữ trong câu Trong

trường hợp đang xét, tiểu từ "đấy" đứng ở vị trí CUỐI câu, nét nghĩa gốc "xa" vốn

có trong cơ cấu nghĩa của thực từ "đấy" đã chuyển thành nghĩa phái sinh: "xa"

có nghĩa là "gián tiếp'' Có nghĩa, “Em tôi, người được chụp tấm hình này, không

hiện diện trong đối thoại.”

Mặt khác, sự hiện diện của tiểu từ "đấy" trong câu còn chỉ ra rằng đây là

câu nói đang được dùng trong giao tiếp liên nhân mà người nói muốn gây nên sự chú ý cho rĩgứời nghe, kéo theo một “hành động sau lời” mà người nghe sẽ thực hiện Đó là người nghe sẽ tập trung quan sát tấm hình Nếủ giải thích nghĩa dụng của từ “đấy” như tác giả SGK quan niệm thì nội dung lời giải thích đó chưa lột tả

được nghĩa dụng của tiểu từ tình thái "đấy".

Các câu (2), (3) và (4) là một minh chứng cho nghĩa dụng của tiểu từ

lôgích trong cấu tạo câu Tiểu từ "của" mà người nói dùng trong cáu (2) hàm ý:

“Các tấm hình đó thuộc sờ hữu của em tôi chứ không thuộc quyền sờ hữu của

36

Trang 40

người khác, cho dù tấm hình đó chụp cái gì” Trong câu (3), tiểu từ "cho" lại

biểu thị ý: “Tấm hình này chỉ dành cho em tôi, chứ không dành cho ai khác”

Còn trong câu (4), tiểu từ "về" khẳng định: “Tấm hình đó chụp em tôi, chứ

khòng chụp ai khác” Rõ ràng ba tiểu từ khác nhau được dùng với ba nội dung ngữ nghĩa không như nhau mà người nói muốn truyền đạt đến người nghe

Những tiểu từ tình thái "chính, cũng, chỉ, mới, ngay cả cũng'’ dùng trong

câu (5), (6), (7) và (8) thường được quy vào khái niệm "trợ từ nhấn m ạnh” với nghĩa biểu đạt sự nhận định của người nói về tầm quan trọng của bộ phận thồng tin nào đó mà người nghe chú ý Hầu như rất ít nhà nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt phân xuất mặt ngữ dụng khác nhau giữa chúng, ngoại trừ Nguyễn Đức Dân

trong "Logic - ngữ nghĩa - cú pháp" (1998) và nhóm tác giả của bài "Nhấn mạnh

như một hiện tượng ngữ dụng và đặc trưng ngữ nghĩa - ngữ dụng của một s ố trợ

từ nhấn mạnh trong tiếng Việt." T/C ngôn ngữ số 2 - 1995.

Sự xụất, hiện một tiểu từ tình thái nhấn mạnh nào đó trong câu giao tiếp không phải là không có lý do Vì sao người nói lại chỉ nhấn mạnh một bộ phận thông tin nào đó? Và, sự nhấn mạnh đó có tác dụng gì về mặt ngữ dụng?

N hấn m ạnh, như đã rõ, thuộc phạm trù ngữ nghĩa - ngữ dụng Khi đưa ra một câu giao tiếp trong một tình huống giao tiếp liên nhân, cụ thể, người nói đã

nhận biết những yếu tố tiền giả định của câu Chính yếu tố tiền giả định này quy

định sự xuất hiện của tiểu từ tình thái nào đó với nghĩa dụng chuyên biệt của nó tương thích với nội dung thông báo của câu, mặc dù yếu tố tiền giả định đó không bao giờ được diễn đạt hiển ngôn trong câu nói “Các tiểu từ nhấn mạnh tác động vào một bộ phận thồng tin nào đó của câu được coi như là “chìa khoá”

, *•< I

đê tạo ra một hiệu lực luận cứ nào đó: chứng minh, thuyết phục,làm tin vào tính đúng đấn của một nhận định, một quan điểm, hoặc để giải thích lôgích của sự

kiện, để rút ra những kết luận ngầm ẩn nào đó,” [Lê Đông - Hùng Việt: Nhấn

mạnh như m ột hiện tượng ngữ dụng T/C Ngôn ngữ, số 2 - 1995]

Ngày đăng: 13/05/2020, 20:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w