1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ths XDDCQNN, công tác quản lý nhà nước đảm bảo an toàn trật tự giao thông tại thủ đô hiện nay

104 37 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 494 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trật tự an toàn giao thông là trạng thái xã hội có trật tự được hình thành và điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật trong lĩnh vực giao thông vận tải công cộng, nhằm đảm bảo cho hoạt động giao thông thông suốt, trật tự, an toàn, hạn chế đến mức thấp nhất tai nạn giao thông. Đảm bảo trật tự an toàn giao thông là một yêu cầu và nhiệm vụ cơ bản của mọi quốc gia và xem đó là điều kiện cần thiết để phát triển kinh tếxã hội , củng cố an ninh quốc phòng và ổn định trật tự xã hội. Để hoàn thành được nhiệm vụ quan trọng này, công tác quản lý nhà nước đóng một vai trò vô cùng quan trọng. Ban Bí thư Trung ương Đảng, Quốc Hội, Chính phủ, các Bộ, ngành đã ban hành các Nghị quyết, Chỉ thị, Thông tư và Quyết định cùng nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhằm thiết lập lại trật tự kỷ cương và từng bước ổn định tình hình trật tự an toàn giao thông trên phạm vi cả nước. Tuy nhiên, trong điều kiện kết cấu hạ tầng giao thông còn yếu kém, công tác quản lý trật tự an toàn giao thông còn nhiều bất cập dẫn đến tình trạng mất trật tự an toàn giao thông, ảnh hưởng không nhỏ đối với sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Trong thời gian qua, với vai trò là lực lượng nòng cốt trong công tác Quản lý nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường bộ, các Bộ, ban, ngành và lực lượng Cảnh sát giao thông đã tăng cường triển khai các biện pháp nghiệp vụ và chủ động trong việc phối hợp với các ban ngành góp phần đảm bảo trật tự an toàn giao thông đường bộ và trật tự an toàn xã hội. Song bên cạnh đó vẫn tiềm ẩn những diễn biến hết sức phức tạp, tai nạn giao thông tuy đã được kiềm chế nhưng mức độ nghiêm trọng ngày càng tăng; tình hình vi phạm pháp luật giao thông đường bộ ngày càng phổ biến; mặc dù số vụ ùn tắc giao thông giảm nhưng số điểm có nguy cơ ùn tắc có chiều hướng gia tăng; đặc biệt là tình hình tội phạm hoạt động trên các tuyến giao thông vẫn diễn biến hết sức phức tạp. Để hạn chế tình trạng vi phạm pháp luật giao thông, hạn chế hư hại tài sản, thiệt hại về tính mạng của nhân dân, các cấp, các ban ngành ở thành phố Hà Nội đã có nhiều giải pháp để tăng cường quản lý. Tuy nhiên, tình hình vi phạm pháp luật giao thông, các vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng vẫn còn xảy ra ở mức độ cao so với các tỉnh, thành phố trong cả nước. Nguyên nhân của tình trạng này được kể đến như sau: Hệ thống văn bản pháp luật hiện nay có liên quan đến bảo đảm trật tự an toàn giao thông đang trong quá trình hoàn thiện; trình độ hiểu biết, vận dụng của cán bộ quản lý các cấp hạn chế, dẫn đến có nhiều yếu kém trong tuyên truyền giáo dục, trong cònứng xử và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật giao thông. Ví dụ như cùng một hành vi vi phạm pháp luật giao thông nhưng ý kiến xử lý không thống nhất, nhiều cơ quan chỉ đạo, nhiều đơn vị cùng tham gia xử lý. Hành vi thiếu văn hóa của người sử dụng phương tiện và tham gia giao thông diễn ra khá phổ biến: sử dụng rượu bia trước khi điều khiển phương tiện giao thông, đi không đúng phần đường, đi ngược chiều, láng vạch, vượt xe, chuyển làn trái với quy định, không chấp hành hiệu lệnh của đèn tín hiệu giao thông; đang điều khiển xe mô tô, xe gắn máy, xe máy điện lại sử dụng điện thoại di động, tai nghe hoặc chở quá người theo quy định; người điều khiển xe mô tô, không đội mũ bảo hiểm điều khiển xe chạy quá tốc độ gây tai nạn giao thông; lấn chiếm lòng lề đường, hè phố để đặt bảng hiệu, buôn bán, sửa chữa xe đạp, xe mô tô, làm mái che hoặc các hoạt động dịch vụ khác… Những hành vi thiếu văn hóa liên quan đến hè phố, lòng lề đường, lối đi công cộng của một số người, như tiểu tiện, đại tiện; vứt rác, xác động vật, đổ nước thải ra vỉa hè, lòng lề đường gây mất vệ sinh, ô nhiễm môi trường; đổ chất thải làm bẩn nơi cơ quan, trụ sở làm việc; tự ý tháo dỡ, di chuyển, treo đặt, làm sai mục đích sử dụng, làm sai lệch biển báo hiệu, đèn tín hiệu giao thông, rào chắn, dải phân cách, cấu kiện, phụ kiện của công trình đường bộ… đặc biệt là những hạn chế trong văn hóa ứng xử của người điều khiển các phương tiện giao thông kể cả phương tiện giao thông cá nhân và công cộng. Những hành vi này chỉ được xử lý bằng các biện pháp mang tính cưỡng chế do Công an, do thanh tra giao thông thực hiện… các biện pháp này thường thiếu đồng bộ và hiệu quả giáo dục chưa cao. Sự phân cấp sử dụng, quản lý các phương tiện giao thông và hệ thống cầu đường; sử dụng và quản lý sửa chữa đường không đồng bộ, gây ách tắc giao thông, mất mỹ quan của thành phố. Mật độ dân cư thành phố quá đông, nhất là dân nhập cư các tỉnh đến làm việc mang theo nhiều phương tiện cùng tham gia lưu thông. Số dân cư nhập cư này đa số không được quản lý chặt chẽ nơi cư trú, nhiều người mang theo tư tưởng, văn hóa địa phương, không chấp hành quy định chung, thường xuyên gây khó khăn cho công tác quản lý, xử phạt. Một phần nguyên nhân gây nên tình trạng mất an toàn trật tự trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay xuất phát từ khâu quản lý nhà nước. Là người công tác tại lĩnh vực liên quan trực tiếp đến an toàn trật tự giao thông trên địa bàn Hà Nội, nhận thức được những vướng mắc, khó khăn trong công tác đảm bảo an toàn trật tự giao thông trên địa bàn, nhận thức được tầm quan trọng của công tác này trong đời sống xã hội và trong an ninh quốc gia, tác giả lựa chọn đề tài “Công tác quản lý nhà nước đảm bảo an toàn trật tự giao thông tại thủ đô hiện nay” để thực hiện luận văn thạc sĩ ngành Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước, với mong muốn tìm ra những thành công, hạn chế trong công tác quản lý nhà nước về trật tự an toàn giao thông trên địa bàn thủ đô và tìm ra các giải pháp nâng cao hiệu quả của quản lý nhà nước trên lĩnh vực này.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trật tự an toàn giao thông là trạng thái xã hội có trật tự được hình thành

và điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật trong lĩnh vực giao thông vận tảicông cộng, nhằm đảm bảo cho hoạt động giao thông thông suốt, trật tự, antoàn, hạn chế đến mức thấp nhất tai nạn giao thông Đảm bảo trật tự an toàngiao thông là một yêu cầu và nhiệm vụ cơ bản của mọi quốc gia và xem đó làđiều kiện cần thiết để phát triển kinh tế-xã hội , củng cố an ninh quốc phòng

và ổn định trật tự xã hội Để hoàn thành được nhiệm vụ quan trọng này, côngtác quản lý nhà nước đóng một vai trò vô cùng quan trọng

Ban Bí thư Trung ương Đảng, Quốc Hội, Chính phủ, các Bộ, ngành đãban hành các Nghị quyết, Chỉ thị, Thông tư và Quyết định cùng nhiều văn bảnquy phạm pháp luật khác nhằm thiết lập lại trật tự kỷ cương và từng bước ổnđịnh tình hình trật tự an toàn giao thông trên phạm vi cả nước Tuy nhiên,trong điều kiện kết cấu hạ tầng giao thông còn yếu kém, công tác quản lý trật

tự an toàn giao thông còn nhiều bất cập dẫn đến tình trạng mất trật tự an toàngiao thông, ảnh hưởng không nhỏ đối với sự nghiệp công nghiệp hóa và hiệnđại hóa đất nước

Trong thời gian qua, với vai trò là lực lượng nòng cốt trong công tácQuản lý nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường bộ, các Bộ, ban, ngành

và lực lượng Cảnh sát giao thông đã tăng cường triển khai các biện phápnghiệp vụ và chủ động trong việc phối hợp với các ban ngành góp phần đảmbảo trật tự an toàn giao thông đường bộ và trật tự an toàn xã hội Song bêncạnh đó vẫn tiềm ẩn những diễn biến hết sức phức tạp, tai nạn giao thông tuy

đã được kiềm chế nhưng mức độ nghiêm trọng ngày càng tăng; tình hình viphạm pháp luật giao thông đường bộ ngày càng phổ biến; mặc dù số vụ ùn tắcgiao thông giảm nhưng số điểm có nguy cơ ùn tắc có chiều hướng gia tăng;đặc biệt là tình hình tội phạm hoạt động trên các tuyến giao thông vẫn diễn

Trang 2

biến hết sức phức tạp Để hạn chế tình trạng vi phạm pháp luật giao thông,hạn chế hư hại tài sản, thiệt hại về tính mạng của nhân dân, các cấp, các banngành ở thành phố Hà Nội đã có nhiều giải pháp để tăng cường quản lý Tuynhiên, tình hình vi phạm pháp luật giao thông, các vụ tai nạn giao thôngnghiêm trọng vẫn còn xảy ra ở mức độ cao so với các tỉnh, thành phố trong cảnước Nguyên nhân của tình trạng này được kể đến như sau: Hệ thống vănbản pháp luật hiện nay có liên quan đến bảo đảm trật tự an toàn giao thôngđang trong quá trình hoàn thiện; trình độ hiểu biết, vận dụng của cán bộ quản

lý các cấp hạn chế, dẫn đến có nhiều yếu kém trong tuyên truyền giáo dục,trong cònứng xử và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật giao thông Ví dụnhư cùng một hành vi vi phạm pháp luật giao thông nhưng ý kiến xử lý khôngthống nhất, nhiều cơ quan chỉ đạo, nhiều đơn vị cùng tham gia xử lý

Hành vi thiếu văn hóa của người sử dụng phương tiện và tham gia giaothông diễn ra khá phổ biến: sử dụng rượu bia trước khi điều khiển phươngtiện giao thông, đi không đúng phần đường, đi ngược chiều, láng vạch, vượt

xe, chuyển làn trái với quy định, không chấp hành hiệu lệnh của đèn tín hiệugiao thông; đang điều khiển xe mô tô, xe gắn máy, xe máy điện lại sử dụngđiện thoại di động, tai nghe hoặc chở quá người theo quy định; người điềukhiển xe mô tô, không đội mũ bảo hiểm điều khiển xe chạy quá tốc độ gây tainạn giao thông; lấn chiếm lòng lề đường, hè phố để đặt bảng hiệu, buôn bán,sửa chữa xe đạp, xe mô tô, làm mái che hoặc các hoạt động dịch vụ khác…

Những hành vi thiếu văn hóa liên quan đến hè phố, lòng lề đường, lối

đi công cộng của một số người, như tiểu tiện, đại tiện; vứt rác, xác động vật,

đổ nước thải ra vỉa hè, lòng lề đường gây mất vệ sinh, ô nhiễm môi trường; đổchất thải làm bẩn nơi cơ quan, trụ sở làm việc; tự ý tháo dỡ, di chuyển, treođặt, làm sai mục đích sử dụng, làm sai lệch biển báo hiệu, đèn tín hiệu giaothông, rào chắn, dải phân cách, cấu kiện, phụ kiện của công trình đường bộ…đặc biệt là những hạn chế trong văn hóa ứng xử của người điều khiển cácphương tiện giao thông kể cả phương tiện giao thông cá nhân và công cộng

Trang 3

Những hành vi này chỉ được xử lý bằng các biện pháp mang tính cưỡng chế

do Công an, do thanh tra giao thông thực hiện… các biện pháp này thườngthiếu đồng bộ và hiệu quả giáo dục chưa cao

Sự phân cấp sử dụng, quản lý các phương tiện giao thông và hệ thốngcầu đường; sử dụng và quản lý sửa chữa đường không đồng bộ, gây ách tắcgiao thông, mất mỹ quan của thành phố

Mật độ dân cư thành phố quá đông, nhất là dân nhập cư các tỉnh đếnlàm việc mang theo nhiều phương tiện cùng tham gia lưu thông Số dân cưnhập cư này đa số không được quản lý chặt chẽ nơi cư trú, nhiều người mangtheo tư tưởng, văn hóa địa phương, không chấp hành quy định chung, thườngxuyên gây khó khăn cho công tác quản lý, xử phạt

Một phần nguyên nhân gây nên tình trạng mất an toàn trật tự trên địabàn thành phố Hà Nội hiện nay xuất phát từ khâu quản lý nhà nước Là ngườicông tác tại lĩnh vực liên quan trực tiếp đến an toàn trật tự giao thông trên địabàn Hà Nội, nhận thức được những vướng mắc, khó khăn trong công tác đảmbảo an toàn trật tự giao thông trên địa bàn, nhận thức được tầm quan trọngcủa công tác này trong đời sống xã hội và trong an ninh quốc gia, tác giả lựa

chọn đề tài “Công tác quản lý nhà nước đảm bảo an toàn trật tự giao thông tại thủ đô hiện nay” để thực hiện luận văn thạc sĩ ngành Xây dựng Đảng và

Chính quyền nhà nước, với mong muốn tìm ra những thành công, hạn chếtrong công tác quản lý nhà nước về trật tự an toàn giao thông trên địa bàn thủ

đô và tìm ra các giải pháp nâng cao hiệu quả của quản lý nhà nước trên lĩnhvực này

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Nghiên cứu về công tác quản lý nhà nước về an toàn trật tự giao thôngtrong thời gian qua cũng có rất nhiều tác giả tiếp cận từ nhiều góc độ nghiêncứu với các cấp độ khác nhau, đáng chú ý có một số công trình sau:

- Cuốn Quản lý xã hội về quốc phòng, an ninh trật tự an toàn xã hội,

Học viện Báo chí và Tuyên truyền, PGS,TS Nguyễn Vũ Tiến chủ biên Cuốn

Trang 4

sách đề cập đến những vấn đề cơ bản về quản lý xã hội về quốc phòng, anninh trật tự an toàn xã hội: mục tiêu, tính chất, đặc điểm những nội dung chủyếu, tính chất đặc thù của chủ thể quản lý về an ninh trật tự an toàn xã hội.Tuy nhiên, cuốn sách không đề cập trực tiếp đến các vấn đề về an toàn trật tựgiao thông đô thị.

- Cuốn : Quản lý nhà nước về an ninh trật tự, Giáo trình lưu hành nội

bộ, Học viện An ninh Nhân dân, bàn về quản lý nhà nước về an ninh trật tựnói chung chứ không nói riêng về quản lý nhà nước về an toàn trật tự giaothông đô thị

Cuốn : “Trật tự an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn 5 thành phốtrực thuộc Trung ương -Thực trạng và giải pháp” trong giai đoạn 2011-2013”

do Trung tâm Nghiên cứu an toàn giao thông đã tập trung nghiên cứu và biênsoạn Cuốn sách chủ yếu bàn về tình hình đặc điểm liên quan đến trật tự antoàn giao thông đường bộ trên địa bàn 5 thành phố trực thuộc Trung ương;Tình hình trật tự an toàn giao thông đường bộ và công tác đảm bảo trật tự antoàn giao thông đường bộ trên địa bàn 5 thành phố trực thuộc Trung ương vàđưa ra dự báo tình hình và giải pháp góp phần đảm bảo trật tự an toàn giaothông đường bộ trên địa bàn 5 thành phố trực thuộc Trung ương Cuốn sáchcũng đề cập đến giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về an toàn trật tự giaothông tuy nhiên cũng là các giải pháp chung cho cả 5 thành phố chưa phải làcác giải pháp đặc thù và hiệu quả cho thủ đô

- Trần Đào: “Tai nạn giao thông đường bộ, thực trạng, nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa của lực lượng cảnh sát giao thông” - Đề tài nghiên cứu

khoa học cấp Bộ, năm 1998 Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu một vấn đề về tainạn giao thông, như: Khái niệm, nguyên nhân, đánh giá thực trạng tai nạnđường bộ; từ đó đề xuất những giải pháp phòng ngừa tai nạn đường bộ củalực lượng cảnh sát giao thông Trong phần nguyên nhân về tai nạn giao thôngđường bộ và các giải pháp phòng ngừa tai nạn giao thông đường bộ tác giả có

đề cập đến vai trò của quản lý nhà nước và giải pháp về vấn đề quản lý nhà

Trang 5

nước về giao thông nhằm phòng ngừa tai nạn giao thông đường bộ Tuynhiên, đề tài chưa đề cập sâu về vấn đề quản lý nhà nước về an toàn trật tựgiao thông trên địa bàn thủ đô.

- Luận văn thạc sĩ Khoa học- Kỹ thuật, năm 2000 của Mai Văn Đức:

“Nghiên cứu tình hình an toàn giao thông đường bộ và các biện pháp khắc phục” tập trung nghiên cứu về an toàn giao thông đường bộ dưới góc độ ứng

dụng những thành tựu của khoa học kỹ thuật để quản lý, duy trì và khắc phụcnhững hạn chế trong lĩnh vực giao thông đường bộ Trong luận văn có mộtphần nói đến quản lý nhà nước về vấn nghiên cứu và ứng dụng những thànhtựu khoa học kĩ thuật để khắc phục những hạn chế trong lĩnh vực giao thôngđường bộ chứ chưa nói nhiều đến vấn đề quản lý nhà nước về an toàn trật tựgiao thông

- Nguyễn Huy Bằng: “Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực giao thông đường bộ ở nước ta hiện nay”, Luận văn thạc sĩ Luật học,

năm 2001 Luận văn đã làm rõ lịch sử phát triển tư tưởng pháp chế; khái niệmpháp chế, quan niệm pháp chế trong lĩnh vực giao thông đường bộ; tỉnh tấtyếu phải tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực giao thôngđường bộ; thực trạng, phương hướng và giải pháp tăng cường pháp chế tronglĩnh vực giao thông đường bộ Trong luận văn, tác giả đã không đề đến mụctiêu khảo sát đánh giá quản lý nhà nước về an toàn trật tự giao thông hiện nay

- Nguyễn Thị Thanh Thuỷ: “Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với giao thông đô thị tại thành phố Hà Nội”, Luận văn thạc sĩ Quản lý hành chính

công, năm 2003 Luận văn tập trung xây dựng hệ thống lý thuyết tổng quan

về quản lý nhà nước đối với giao thông đô thị; phân tích thực trạng quản lýnhà nước về giao thông đô thị tại Hà Nội; từ đó kiến nghị những giải phápquản lý nhà nước về giao thông đô thị tại Hà Nội Tuy cùng bàn về quản lýnhà nước về vấn đề giao thông nhưng luận văn của Nguyễn Thị Thanh Thuỷtập trung khảo sát thực trạng quản lý nhà nước về giao thông đô thị Luận vănQuản lý nhà nước về an toàn trật tự giao thông trên địa bàn Hà Nội có mục

Trang 6

đích và nhiệm vụ tập trung chủ yếu vào vấn đề quản lý nhà nước về an toàntrật tự giao thông chứ không mở rộng; Cứ liệu để nghiên cứu của luận vănNguyễn Thị Thanh Thuỷ từ năm 2003 nên đề tài tác giả lựa chọn không hềtrùng với đề tài của tác giả Nguyễn Thị Thanh Thuỷ.

Trần Văn Quan: “Tăng cường quản lý nhà nước về vận tải đường bộ

-từ thực tiễn tỉnh Đồng Nai”, Luận văn thạc sĩ Quản lý hành chính công, năm

2004 Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận chung của quản lýnhà nước về vận tải đường bộ trong nền kinh tế thị trường; phân tích và đánhgiá thực trạng quản lý nhà nước về vận tải đường bộ trên địa bàn tỉnh ĐồngNai; từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm tăng cường quản lý nhànước về vận tải đường bộ Như vậy, luận văn chỉ nghiên cứu một vấn đề quản

lý nhà nước về vận tải đường bộ ở Đồng Nai

- Thạch Như Sỹ: “Phối hợp dịch vụ công cộng và trật tự công cộng trong quản lý nhà nước về giao thông đô thị trên địa bàn thành phố Hà Nội”,

Luận văn thạc sĩ Quản lý hành chính công, năm 2009 Luận văn chỉ tập trungnghiên cứu cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp vềcông tác phối hợp giữa dịch vụ công và trật tự công cộng trong quản lý nhànước về giao thông đô thị trên địa bàn thành phố Hà Nội mà không đề cập về

an toàn trật tự giao thông trên địa bàn Hà Nội

Ngoài ra, còn một số bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành như:

Lý Huy Tuấn: “Quản lý nhà nước trong lĩnh vực giao thông đô thị”, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 3/2003; Nguyễn Thúy Anh: “Đổi mới quản lý nhà nước

về giao thông công cộng trong đô thị lớn ở nước ta”, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 5/2003; Lê Ngọc Tiến: “Giáo dục pháp luật- biện pháp quan trọng giảm thiểu tai nạn giao thông đường bộ”, Tạp chí Giao thông vận tải, số

7/2004, v.v Nhìn chung, những bài viết này chỉ đề cập đến vấn đề của quản

lý nhà nước về giao thông đường bộ một cách chung chung chứ không khảosát ở một địa phương nào cụ thể

Tình hình nghiên cứu trên cho thấy, các đề tài, luận văn và bài báo

Trang 7

trong chừng mực nhất định đã góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận vàthực tiễn quan trọng về quản lý nhà nước về giao thông và bảo đảm an toàntrật tự giao thông trên địa bàn thành phố Hà Nội

Luận văn của tác giả Lê Quang Ngọc “Quản lý nhà nước trong bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay”

năm 2011 dưới góc độ Quản lý hành chính công cũng đã đề cập nhiều đến vấn

đề quản lý nhà nước trong bảo đảm an toàn trật tự giao thông trên địa bànthành phố Hà Nội năm 2011 một cách khá toàn diện Với mục đích: làm sáng

tỏ cơ sở lý luận và thực trạng quản lý nhà nước trong bảo đảm trật tự an toàngiao thông trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay để đưa ra phương hướng

và giải pháp cơ bản nhằm tăng cường quản lý nhà nước trong bảo đảm trật

tự an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thờigian tới, luận văn cũng đã phân tích, khảo sát thực trạng công tác quản lýnhà nước về an toàn trật tự giao thông trên địa bàn Hà Nội và đưa raphương hướng và đề xuất hệ thống giải pháp cơ bản nhằm tăng cường quản lýnhà nước trong bảo đảm trật tự an toàn giao thông trên địa bàn Hà Nội trongthời gian tới Tuy nhiên, phạm vi khảo sát và nghiên cứu của tác giả cũng nhưkết quả khảo sát của tác giả dừng lại năm 2011, từ đó đến nay, Hà Nội đã có rấtnhiều thay đổi về kinh tế, văn hóa, xã hội, dân số và về vấn đề quản lý nhànước trong các lĩnh vực trọng yếu Thêm vào đó, vấn đề an toàn trật tự giaothông tại thủ đô hiện nay vẫn là vấn đề nóng, quản lý nhà nước vẫn còn bộc lộnhiều yếu kém và bất cập, vì vậy cần có những nghiên cứu đánh giá toàn diệnnhằm tìm ra các giải pháp về quản lý nhà nước để đảm bảo an toàn trật tự giaothông trên địa bàn thủ đô hiện nay Luận văn Quản lý nhà nước về an toàn trật

tự giao thông đô thị trên địa bàn thủ đô từ góc độ nghiên cứu của khoa học Xâydựng Đảng và Chính quyền nhà nước của tác giả là đề tài có tính cấp thiết vàcần được triển khai nghiên cứu trong giai đoạn hiện nay

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Trang 8

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn của vấn đề quản lý nhà nước

về an toàn trật tự giao thông, luận văn đề xuất các giải pháp nâng cao chấtlượng công tác quản lý nhà nước về an toàn trật tự giao thông trên địa bàn thủ

đô đáp ứng yêu cầu của giai đoạn hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích nêu trên, luận văn cần hoàn thành những nhiệm

vụ cụ thể sau :

- Hệ thống hóa các vấn đề cơ sở lý luận quản lý nhà nước về an toàntrật tự giao thông: mục tiêu, tính chất, đặc điểm những nội dung chủ yếu, tínhchất đặc thù của chủ thể quản lý về an toàn trật tự giao thông;

- Khảo sát, đánh giá đúng thực trạng công tác quản lý nhà nước về antoàn trật tự giao thông trên địa bàn thủ đô hiện nay; đánh giá ưu điểm, hạn chế

và tìm ra nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế đó;

- Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng công tác quản lý nhà nước

về an toàn trật tự giao thông trên địa bàn thủ đô hiện nay

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý nhà nước về an toàn trật tựgiao thông trên địa bàn thủ đô;

- Phạm vi nghiên cứu: Trong phạm vi đề tài luận văn tốt nghiệp chúngtôi chỉ tập trung nghiên cứu quản lý nhà nước về an toàn trật tự giao thôngđường bộ trên địa bàn thành phố Hà Nội năm 2014

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận: Đề tài bám sát, vận dụng các nguyên lý, quy luật,phạm trù cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch

sử để phân tích, đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp nâng cao chấtlượng công tác quản lý nhà nước về an toàn trật tự giao thông trên địa bàn thủ

đô hiện nay

- Phương pháp nghiên cứu: kết hợp giữa phương pháp nghiên cứu lýluận (hồi cứu các tác phẩm kinh điển, Văn kiện Đảng, các báo cáo tổng kết

Trang 9

công tác Đảng…) và phương pháp nghiên cứu thực tiễn (điều tra xã hội học,thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp ).

6 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

- Đề tài đánh giá đúng thực trạng công tác quản lý nhà nước về an toàntrật tự giao thông phục vụ cho công tác tổng kết thực tiễn, rút ra những bàihọc kinh nghiệm cho công tác quản lý nhà nước về an toàn trật tự giao thôngtrong thời gian tới;

- Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng công tác quản lý nhà nước

về an toàn trật tự giao thông trên địa bàn thủ đô hiện nay

- Đề tài có thể làm tài liệu nghiên cứu, tham khảo cho sinh viên ngànhXây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước, cho cán bộ quản lý lãnh đạo cũngnhư những người làm công tác quản lý nhà nước về an toàn trật tự giao thông

đô thị hiện nay

7 Kết cấu đề tài

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụlục, đề tài gồm 3 chương 11 tiết

CHƯƠNG 1 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐẢM BẢO AN TOÀN TRẬT TỰ GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG

1.1 Một số vấn đề lý luận chung về quản lý nhà nước trong lĩnh vực an toàn giao thông đường bộ

1.1.1 Khái niệm

1.1.1.3 Khái niệm quản lý nhà nước

Trang 10

Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước được thực hiện bởi tất cả các cơquan nhà nước, có thể do các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể quần chúng

và nhân dân trực tiếp thực hiện nếu được Nhà nước ủy quyền, trao quyền thựchiện chức năng của Nhà nước theo quy định của pháp luật Theo nghĩa hẹp,hoạt động QLNN là hoạt động chấp hành và điều hành của Nhà nước hay còngọi là hoạt động quản lý theo ý nghĩa vốn có của nó Hiểu theo nghĩa hành pháp,hoạt động QLNN chủ yếu được thực hiện bởi hệ thống cơ quan hành chính nhànước, đó là Chính phủ, các bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân(UBND) các cấp Các cơ quan này thành lập để chuyên thực hiện hoạt độngquản lý hành chính nhà nước và trong thực tiễn được gọi là cơ quan quản lýhành chính nhà nước

Bản chất của hoạt động quản lý hành chính nhà nước được thể hiệnthông qua hoạt động lập quy và hành chính Hoạt động lập quy thể hiện ởviệc cụ thể hóa luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội Hành chính là hoạtđộng chỉ đạo, quản lý của chủ thể quản lý đối với đối tượng quản lý Tronghoạt động này, chủ thể quản lý áp dụng các biện pháp tổ chức- pháp lý bằngviệc ban hành các văn bản pháp quy và văn bản cá biệt Hoạt động lập quy

và hành chính xuất phát từ đặc thù của hoạt động quản lý hành pháp nhằmthực hiện quyền lực nhà nước trong quản lý xã hội

Mỗi Nhà nước luôn gắn với một thiết chế xã hội nhất định theo phạm vikhông gian và thời gian, do vậy đặc tính QLNN sẽ thay đổi tùy theo bản chấtcủa chế độ chính trị và trình độ phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi quốc giatrong từng thời kỳ

Từ những hiểu biết trên, có thể khái quát: Quản lý nhà nước là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, được Nhà nước sử dụng để điều chỉnh các quan hệ xã hội, các hành vi của cá nhân, tổ chức, có sức mạnh và hiệu lực do các cơ quan nhà nước, công chức trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ công, duy trì sự ổn định và phát triển bền vững xã hội.

Theo Giáo trình quản lý hành chính nhà nước:

Trang 11

Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnhbằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vihoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ

xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng vànhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng CNXH và bảo

vệ tổ quốc XHCN.[23, tr 407]

1.1.1.1 Khái niệm giao thông đường bộ

Giao thông là “việc đi lại từ nơi này đến nơi khác của người và phươngtiện chuyên chở” [15, tr.378]

Giao thông là yếu tố không thể thiếu trong quá trình phát triển đời sống

xã hội ở mỗi thời đại và mỗi quốc gia Sự phát triển của giao thông phụ thuộcvào trình độ phát triển của kinh tế, khoa học - công nghệ nhất định

Từ thuở sơ khai, trong lịch sử phát triển của xã hội loài người hoạtđộng giao thông gắn liền với sự phát triển của xã hội Bắt đầu là sự xuất hiện

và phát triển của giao thông đường bộ sau đó, khoa học kĩ thuật ngày càngphát triển và xuất hiện của các phương tiện và hình thức giao thông khác nhưgiao thông đường thủy, giao thông đường sắt và đường hàng không

Luật Giao thông đường bộ năm 2008 có định nghĩa: “đường bộ gồm

đường, cầu đường bộ, hầm đường bộ, bến phà đường bộ” Như vậy, giao thông đường bộ được hiểu là việc đi lại từ nơi này đến nơi khác của người

và phương tiện chuyên chở trên đường, cầu đường bộ, hầm đường bộ, bến phà qua sông, suối nối đường bộ.

1.1.1.2 An toàn trật tự giao thông đường bộ

Có ý kiến cho rằng: “an toàn trật tự giao thông đường bộ là việc chấphành triệt để những yêu cầu về kỹ thuật, quản lý đối với các công trình giaothông và phương tiện giao thông, quy định đối với người tham gia giao thôngkhi hoạt động trên đường bộ, là cho giao thông được trật tự, an toàn, thôngsuốt, thuận tiện”[22, tr.6-7]

Theo Từ điển Bách khoa Công an nhân dân thì “an toàn giao thông

Trang 12

đường bộ là hệ thống các mối quan hệ xã hội được hình thành và điều chỉnhbởi các quy phạm pháp luật trong lĩnh vực giao thông vận tải công cộng màmọi người tham gia giao thông phải tuân theo để đảm bảo hoạt động giaothông thông suốt, trật tự an toàn, hạn chế thấp nhất tai nạn giao thông, gâythiệt hại về người và tài sản” [22, tr.30].

Trong đề tài luận văn, chúng tôi sử dụng quan niệm: An toàn trật tự giao thông đường bộ là sự bảo đảm cho mọi hoạt động giao thông đường bộ được trật tự, an toàn, nhanh chóng, tiện lợi, thông suốt và mỹ quan môi trường; hạn chế thấp nhất các vi phạm Luật Giao thông và các quy phạm pháp luật về trật tự an toàn giao thông, kiềm chế tai nạn giao thông, ngăn ngừa thiệt hại do tai nạn giao thông gây ra

1.1.1.4 Quản lý nhà nước trong bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường bộ

QLNN trong bảo đảm TTANGTĐB là hoạt động mang tính chất quyềnlực của cơ quan hành chính nhà nước, nhằm tạo ra các điều kiện để xác lập,duy trì và ổn định các quan hệ về giao thông, theo quy định của pháp luật vềTTANGTĐB Đây là một hoạt động có vai trò, vị trí rất quan trọng trong lĩnhvực an ninh trật tự Bởi vì, TNGT hàng ngày vẫn xảy ra đã và đang là mộthiểm họa không chỉ đối với nước ta mà còn là hiểm họa chung đối với tất cảcác quốc gia trên thế giới

QLNN trong bảo đảm TTANGTĐB là hoạt động chấp hành và điềuhành của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội được Nhà nước ủy quyền,được tiến hành trên cơ sở pháp luật, nhằm bảo vệ trật tự ATGT QLNN trongbảo đảm TTANGTĐB được tiến hành trên các lĩnh vực: ban hành các văn bảnquy phạm pháp luật về TTANGTĐB; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục phápluật về GTĐB; quản lý quy tắc GTĐB; quản lý kết cấu hạ tầng GTĐB; quản

lý phương tiện tham gia GTĐB; quản lý người điều khiển phương tiệnGTĐB; quản lý vận tải đường bộ; tuần tra kiểm soát giao thông; chỉ huy điềukhiển giao thông; thanh tra, kiểm tra và xử lý TNGT

Từ sự phân tích trên đây, có thể quan niệm: Quản lý nhà nước trong

Trang 13

bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường bộ là toàn bộ hoạt động có tổ chức, có định hướng, mang tính quyền lực của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm xác lập cơ sở pháp lý cho quản lý, tổ chức thực hiện và xử lý vi phạm các quy định về quản lý nhà nước trong bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường bộ, thiết lập và duy trì trật tự an toàn giao thông đường bộ, bảo đảm giao thông đường bộ thông suốt, an toàn và thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế

1.1.2 Đặc điểm của quản lý nhà nước trong bảo đảm an toàn trật tự giao thông đường bộ

1.1.2.1 QLNN trong bảo đảm ATTTGTĐB có ảnh hưởng trực tiếp và lâu dài đến an toàn trật tự giao thông đường bộ và toàn xã hội

QLNN về ATTTGTĐB là một trong những nội dung quan trọng củaQLNN về GTĐB Việc tổ chức, thực hiện những nội dung và yêu cầu QLNN

về ATTTGTĐB được tiến hành công khai, thống nhất, đồng bộ bởi các cơquan nhà nước Tuy nhiên, khác với việc thực hiện quản lý nhà nước trongcác lĩnh vực khác, quản lý nhà nước trong bảo đảm an toàn trật tự giao thôngđường bộ có ảnh hưởng trực tiếp và lâu dài đến an toàn trật tự giao thông đường

bộ và toàn xã hội Một chính sách không phù hợp, một kế hoạch đầu tư không hiệuquả, sự điều chỉnh giờ giấc hay việc phân luồng giao thông không chính xác… tất cảảnh hưởng trực tiếp đến giao thông của cả một khu vực, nghiêm trọng hơn, gây ảnhhưởng trực tiếp đến sự an toàn, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế của xã hội

Ví dụ, quyết định đổi giờ học của học sinh và giờ làm của công chức viênchức nhằm giảm ách tắc giao thông năm 2012 đã khiến cho hàng loạt phụ huynh họcsinh gặp khó khăn trong việc thực hiện Quyết định này đã không tính đến điều kiệnthực tế ở Việt Nam: các trường tiểu học và trường phổ thông ít có chế độ và dịch vụđưa đón học sinh đến lớp Việc học sinh đến lớp muộn hơn giờ làm khiến phụ huynhkhông thể đưa đón con mình đến trường Mặc dù đã được triển khai rộng rãi và quyếtliệt từ Bộ Giáo dục và Đào tạo, từ Sở giáo dục Hà Nội và các trường phổ thôngnhưng Quyết định này gặp phải sự phản ứng mạnh mẽ của dư luận xã hội và đã phải

Trang 14

bãi bỏ khi thực hiện không lâu

Thông tư 02 năm 2003 của Bộ Công an quy định mỗi người chỉ được đăng kí

1 xe máy trái với hiến pháp và pháp luật gây ảnh hưởng đến quyền lợi của nhân dân.Gần 2 năm thực hiện, quy định này đã gây ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân,gây bức xúc trong dư luận xã hội Thông tư này đã buộc phải bác bỏ vào 21/11/2005

Việc phân luồng giao thông không hợp lý cũng đã khiến cho tai nạn giaothông tăng nhanh chóng tại quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh Chỉ tính riêng 6tháng đầu năm 2015, đã có 9 vụ tai nạn giao thông làm chết người, 155 vụ va chạmlàm bị thương 103 người và gây hư hỏng cho 224 phương tiện tham gia giao thông.Nguyên nhân chủ yếu được Ủy ban nhân dân quận nhận định là do việc tổ chức giaothông còn nhiều bất cập, đường dành cho xe máy quá nhỏ trong khi đó lưu lượng xemáy tham gia giao thông quá dông dẫn đến tình trạng người dân đi vào làn đườngdành cho ô tô và xảy ra tai nạn

Ngoài ra, những chính sách đầu tư cho đường giao thông, cho cơ sở hạ tầng,nếu không thực sự hiệu quả sẽ ảnh hưởng lớn đến thế hệ tương lai vì đầu tư cho giaothông không phải là đầu tư cho khoảng thời gian tính bằng năm mà thời gian tínhbằng giai đoạn phát triển Ngược lại, chính sách đầu tư hiệu quả sẽ kéo theo sự pháttriển của cả một khu vực, xóa nhòa ranh giới vùng miền, giúp giảm bớt khoảng cáchgiàu nghèo, giúp cho xã hội phát triển ổn định và phồn vinh QLNN trong bảo đảmATTTGTĐB còn có tác động rất lớn đến đời sống xã hội và phát triển kinh tế;GTĐB thông suốt, an toàn, tiện lợi là tiền đề quan trọng để thúc đẩy sản xuấtphát triển, hàng hóa đỡ khan hiếm, đắt đỏ, nguyên, nhiên, vật liệu được cungcấp đầy đủ, giao lưu kinh tế giữa các vùng được đẩy mạnh, v.v nhu cầu đilại, giao lưu văn hóa, giáo dục, y tế sẽ sôi động hơn

Cũng có thể thấy rõ những phán đoán sai về tình hình phát triển của hệ thốnggiao thông đô thị khiến xuất hiện những văn bản, những quyết sách không đúng sẽgây nên những hậu quả nghiêm trọng Việc xóa bỏ hệ thống giao thông công cộngmột thời đã khiến cho các phương tiện cá nhân tăng lên nhanh chóng Tình trạng ùntắc GTĐB và tai nạn GTĐB gây tổn thất về người và phương tiện xảy ra liên

Trang 15

tục gây tổn thất không hề nhỏ cho mỗi cá nhân và cho toàn xã hội Ước tínhthiệt hại do ùn tắc giao thông tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh lên đếnhàng chục tỉ đồng mỗi năm

1.1.2.2 QLNN trong bảo đảm ATTTGTĐB là hoạt động có tính chất liên kết phối hợp với nhiều đơn vị, nhiều cơ quan và tổ chức xã hội

Quản lý nhà nước trong các lĩnh vực đảm bảo an toàn trật tự giao thông đường

bộ khác với việc quản lý nhà nước trong các lĩnh vực khác Đối tượng quản lý nhànước trong lĩnh vực đảm bảo an toàn giao thông đa dạng và phức tạp nhất Từ em bé

ba tuổi cho đến các cụ già, từ người nông dân đến các quan chức chính phủ, từ ngườilao động tự do đến những công chức, viên chức… để có các giải pháp đảm bảo antoàn cho người tham gia giao thông và tuyên truyền, hướng dẫn người tham gia giaothông thực hiện tốt nghĩa vụ của mình cần có sự phối hợp của rất nhiều cơ quan, các

tổ chức đoàn thể vào cuộc

Ví dụ, một bệnh viện ngoài việc cứu chữa bệnh nhân tưởng như chỉ liên quanđến việc đảm bảo an toàn giao thông ở việc cán bộ nhân viên trong bệnh viện đảmbảo chấp hành các luật giao thông Tuy nhiên, bệnh viện đó đã có những giải pháphiệu quả giúp nâng cao ý thức người dân khi tham gia giao thông để phòng chống tainạn giao thông Bệnh viện Việt Đức là một trường hợp như vậy Trước một thực tếngười tham gia giao thông bị tai nạn và tử vong rất nhiều vì không đội mũ bảo hiểm,bệnh viện Việt Đức đã công bố những hình ảnh những nạn nhân tai nạn giao thông bịchấn thương sọ não do không đội mũ bảo hiểm; tương tự, bệnh viện cũng đã công bốcho công chúng hình ảnh những nạn nhân bị tai nạn giao thông do uống rượu bia vàkhông làm chủ được tốc độ Sau mỗi đợt công bố như vậy, tai nạn giao thông và sốnạn nhân bị chấn thương sọ não do không đội mũ bảo hiểm, do uống rượu bia nhậpviện đã giảm hẳn Đó cũng là một trong những thực tế chứng minh sự tham gia củamột đơn vị ngoài chức năng vào lĩnh vực quản lý nhằm đảm bảo an toàn trật tự giaothông đường bộ

Sự phối hợp trong quản lý nhà nước về an toàn trật tự giao thông đượctiến hành bởi nhiều cơ quan nhà nước, với những thẩm quyền khác nhau cùng

Trang 16

tham gia bảo đảm ATTTGTĐB Đó là Chính phủ, Bộ Giao thông vận tải, BộCông an, Ủy ban nhân dân các cấp Ngoài ra, còn có những cơ quan khác giữvai trò phối hợp như Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bộ Y tế, Bộ Quốc phòng,

Bộ Xây dựng, Bộ Giáo dục và Đào tạo, cơ quan thông tin đại chúng, v.v Để

có được sự phối hợp này, Nhà nước phải là cơ quan chịu trách nhiệm trựctiếp Trên cơ sở đó, nhà nước cần có sự điều phối và sự chỉ đạo các tổ chức,các cơ quan, ban ngành nhằm tạo hiệu quả trong quá trình phối hợp thực hiện

1.1.2.3 QLNN trong bảo đảm ATTTGTĐB mang tính quyền lực nhà nước

Có thể thấy rõ một điều, việc điều chỉnh các quan hệ GTĐB không thể

hô hào chung chung hoặc chỉ dừng lại ở những chính sách, kế hoạch, v.v Pháp luật phải là công cụ chủ yếu để chỉ đạo hành vi của các chủ thể tham giagiao thông và những chủ thể quản lý hành chính nhà nước trong lĩnh vực bảođảm ATTTGTĐB Pháp luật phải có trước một bước và pháp luật phải quyđịnh về quy tắc GTĐB; hệ thống báo hiệu đường bộ; các điều kiện đảm bảo

an toàn GTĐB của kết cấu hạ tầng; phương tiên và người tham gia giaothông; hoạt động vận tải đường bộ,v.v…

Tính quyền lực nhà nước trong bảo đảm ATTTGTĐB thể hiện ở chỗ các

cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong bảo đảm ATTTGTĐB căn cứ vào cácquy định của pháp luật đề ra các quyết định, mệnh lệnh có tính chất bắt buộccho các đối tượng quản lý nhằm đảm bảo, duy trì thường xuyên ATTTGTĐB

Vì thế, hoạt động phối hợp của các cơ quan nhà nước trong bảo đảmATTTGTĐB vừa là yêu cầu, vừa là phương thức để thực hiện mục tiêuQLNN, đây chính là một trong những điều kiện tiên quyết để nâng cao hiệulực, hiệu quả QLNN

QLNN trong bảo đảm ATTTGTĐB còn thể hiện và quy định ngườitham gia giao thông không được làm những gì mà pháp luật cấm và được làmtất cả những gì mà pháp luật không cấm, nhưng với những điều kiện được quyđịnh rất khắt khe đó là hàng loạt các điều kiện đảm bảo ATTTGTĐB

QLNN về ATTTGTĐB là lĩnh vực quản lý hết sức phức tạp, bởi vì hoạt

Trang 17

động giao thông có tính xã hội rộng lớn, phổ biến nhất, phương tiện giaothông rất đa dạng, người tham gia giao thông có đủ mọi thành phần, ở nhiềulứa tuổi Trong khi đó, trình độ nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật nóichung và pháp luật về ATTTGTĐB nói riêng của đại đa số người tham giagiao thông còn thấp Để đảm bảo ATTTGTĐB, tránh ùn tắc GTĐB, tai nạnGTĐB và tổn thất do tai nạn GTĐB gây ra, pháp luật GTĐB quy định ngườitham gia GTĐB không được làm những gì mà pháp luật cấm, hoặc nghiêmcấm Chẳng hạn, cấm vượt xe trên cầu hẹp có một làn xe, dưới gầm cầu vượt,đường vòng, đường dốc, nơi đường giao nhau, đường bộ giao cắt đường sắt,v.v hoặc những hành vi bị nghiêm cấm như phá hoại công trình đường bộ, sửdụng lòng đường, hè phố trái phép; đua xe, tổ chức đua xe trái phép, lái xe mà

sử dụng chất ma túy, lái xe chạy quá tốc độ quy định, gây tai nạn rồi bỏ trốntrách nhiệm, v.v

Tuy vậy, người tham gia giao thông được làm tất cả những gì pháp luậtkhông cấm nhưng với những điều kiện hết sức khắt khe do pháp luật quy định

cụ thể Chẳng hạn, pháp luật GTĐB không cấm người tập lái xe ôtô tham giaGTĐB nhưng với điều kiện là phải thực hành trên xe tập lái và có giáo viênbảo trợ tay lái

Việc xử lý các vi phạm pháp luật dù ở mức độ xử lý vi phạm hànhchính hay truy cứu trách nhiệm hình sự đều phải được tiến hành trên cơ sởpháp luật, theo pháp luật Có như thế mới đảm bảo tính pháp chế trong xử lý

vi phạm pháp luật GTĐB, góp phần giữ vững trật tự, kỷ cương trong hoạtđộng GTĐB, khắc phục được tình trạng tùy tiện, làm quyền, đùn đẩy, né tránh

bỏ sót vi phạm trong xử lý

1.1.3 Nội dung quản lý nhà nước trong bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường bộ

1.1.3.1 Xây dựng và ban hành văn bản QLNN về ATTTGTĐB

Xây dựng và ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật là côngviệc không thể thiếu trong lĩnh vực quản lý nhà nước Đây cũng là một công

Trang 18

việc đầu tiên và bắt buộc của quy trình QLNN về ATTTGTĐB Xây dựng vàban hành văn bản quy phạm pháp luật về ATTTGTĐB tạo lập cơ sở pháp lýcho việc tổ chức thực hiện pháp luật về ATTTGTĐB và xử lý vi phạm phápluật về ATGTGTĐB Vì vậy, đây là khâu có tính chất quyết định đối với hainội dung còn lại của quy trình QLNN về ATTTGTĐB, đó là tổ chức thực hiệnvăn bản quy phạm pháp luật về ATTTGTĐB và xử lý vi phạm pháp luật vềATTTGTĐB

Xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật về ATTTGTĐBtrước hết là hoạt động lập quy của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Nhànước quy định thẩm quyền cho từng cơ quan trong việc xây dựng và ban hànhcác văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh tronglĩnh vực GTĐB Các cơ quan này được trao những chức năng, nhiệm vụ vàquyền hạn cụ thể trong thực hiện những nội dung của QLNN về bảo đảmATTTGTĐB: như quy định quy tắc GTĐB, các điều kiện bảo đảm an toànGTĐB của kết cấu hạ tầng, phương tiện và người tham gia GTĐB, hoạt độngvận tải đường bộ; quy định cơ chế giám sát, thanh tra, kiểm tra, tuần tra, kiểmsoát, xử lý vi phạm trong việc chấp hành pháp Luật GTĐB; quy định về khiếunại; khởi kiện với những quyết định, biện pháp xử lý, tố cáo những hành vi viphạm pháp luật GTĐB…

Căn cứ pháp lý cho hoạt động này là Hiến pháp, Luật Tổ chức Chínhphủ, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân Ủy ban nhân dân và Luật Ban hành vănbản quy phạm pháp luật, Luật GTĐB, v.v…

Chính phủ là cơ quan thống nhất QLNN về ATTTGTĐB có vai trò chủchốt trong xây dựng pháp luật về ATTTGTĐB, có thẩm quyền trình các dự ánluật, pháp lệnh có nội dung liên quan, cũng như ban hành các văn bản quyđịnh chi tiết thi hành Luật GTĐB để áp dụng thống nhất trên toàn lãnh thổViệt Nam

Bên cạnh đó, có thể thấy rõ, xã hội luôn vận động phát triển; các quyphạm pháp luật về ATTTGTĐB không theo kịp sự vận động, phát triển đó Vì

Trang 19

vậy, hoàn thiện luật luôn là nhiệm vụ quan trọng và liên tục chỉnh sửa thay đổicho phù hợp với sự vận động và phát triển của xã hội.

Việc ban hành hệ thống văn bản pháp luật này còn phải dựa trên kếtquả của quá trình nhận thức sự vận động, phát triển các quan hệ GTĐB, củanhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật đối với các quan hệ GTĐB trong thực tiễnquản lý Trên cơ sở nhận thức đó, chủ thể quản lý cần điều chỉnh các thể chếquản lý phù hợp, tạo lập hành lang pháp lý cho những quan hệ ấy phát triểntheo đúng định hướng của Nhà nước Pháp luật về ATTTGTĐB hoàn thiệnmới có khả năng tạo lập được cơ sở pháp lý vững chắc cho toàn bộ sự vậnđộng phát triển của các quan hệ ATTTGTĐB Hệ thống pháp luật vềATTTGTĐB chỉ hoàn thiện khi đáp ứng được đầy đủ bốn tiêu chí, đó là tínhtoàn diện, tính đồng bộ, tính phù hợp, có kỹ thuật pháp lý cao

Tính toàn diện của pháp luật về ATTTGTĐB đòi hỏi phải có đầy đủcác chế định, các quy phạm pháp luật điều chỉnh một cách bao quát toàn bộcác quan hệ về ATTTGTĐB Quan hệ ATTTGTĐB rất đa dạng, phong phú, đểđiều chỉnh được một cách bao quát và toàn bộ đòi hỏi pháp luật vềATTTGTĐB phải có nhiều chế định, nhiều quy phạm pháp luật để đảm bảo

sự tương ứng với sự đa dạng, phong phú của quan hệ về ATTTGTĐB Tuyvậy, không phải có nhiều chế định, nhiều quy phạm thì điều chỉnh có hiệu quảquan hệ ATTTGTĐB mà còn đòi hỏi những chế định đó, những quy phạm đóphải đảm bảo chất lượng điều chỉnh

Chất lượng điều chỉnh làm nên tính phù hợp của những chế định,những quy phạm pháp luật về ATTTGTĐB: phù hợp với sự vận động vàphát triển của các quan hệ về ATTTGTĐB Việt Nam cũng như xu thế pháttriển chung của ATTTGTĐB trong khu vực và trên thế giới Do đó, pháp luật

về ATTTGTĐB phải xuất phát từ thực tiễn hoạt động GTĐB của Việt Namcũng như sự đòi hỏi của tiến trình mở rộng giao lưu hợp tác quốc tế vềGTĐB

Pháp Luật GTĐB còn phải đảm bảo tính đồng bộ thể hiện ở sự thống

Trang 20

nhất, không mâu thuẫn nhau của các chế định, quy phạm pháp luật vềATTTGTĐB cùng tập trung điều chỉnh một cách có hiệu quả các quan hệ vềATTTGTĐB Do quan hệ về ATTTGTĐB có liên quan đến nhiều quan hệ xãhội khác thuộc đối tượng điều chỉnh của nhiều ngành luật khác nhau trong hệthống pháp luật Việt Nam nên tính đồng bộ của pháp luật giao thông đường

bộ còn phải thể hiện qua sự thống nhất, quan hệ khăng khít, không mâu thuẫncủa pháp luật về ATTTGTĐB với các bộ phận pháp luật khác, cũng như cácngành luật khác trong hệ thống pháp luật Việt Nam

Trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật về ATTTGTĐB, công tác phápđiểm hóa (rà soát, hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnhvực ATTTGTĐB) có tầm quan trọng đặc biệt Rà soát hệ thống văn bản quyphạm pháp luật nhằm loại bỏ những quy phạm lỗi thời, mâu thuẫn, chế địnhthêm những quy phạm mới nhằm thay thế cho những quy định bị loại bỏ vàkhắc phục những chỗ trống được thực hiện trong quá trình tập hợp văn vản,sửa đổi các quy phạm hiện hành nâng cao hiệu lực pháp lý của chúng Phápđiển hóa là hình thức cao nhất hoàn chỉnh nhất của công tác hệ thống hóapháp luật

Các lĩnh vực ban hành văn bản quản lý nhà nước về đảm bảo an toàntrật tự giao thông đường bộ bao gồm:

Ban hành văn bản về xây dựng quy hoạch, kế hoạch và chính sách pháttriển GTĐB; Ban hành ác văn bản về xây dựng và chỉ đạo thực hiện chươngtrình quốc gia về ATTTGTĐB ban hành các văn bản quy phạm pháp luật vềATTTGTĐB; các văn bản về quy chuẩn, tiêu chuẩn về an toàn GTĐB, về

tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về ATTTGTĐB, về tổ chức quản

lý, bảo trì và bảo vệ kết cấu hạ tầng GTĐB; ban hành các văn bản về đăng ký,cấp và thu hồi biển số phương tiện GTĐB; các văn bản hướng dẫn cấp và thuhồi giấy chứng nhận về chất lượng, an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường củacác loại phương tiện GTĐB Ban hành các văn bản quy định và hướng dẫn vềquản lý đào tạo, sát hạch lái xe; cấp, đổi, thu hồi giấy phép lái xe và chứng chỉ

Trang 21

bồi dưỡng kiến thức pháp luật về GTĐB; ban hành các văn bản về quản lýhoạt động giao thông vận tải, dịch vụ hỗ trợ vận tải và tổ chức cứu nạnGTĐB, các văn bản về tổ chức nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ

về GTĐB; đào tạo cán bộ và công nhân kỹ thuật về GTĐB; các văn bản vềthanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật vềATTTGTĐB; các văn bản quy định và hướng dẫn về hợp tác quốc tế về bảođảm ATTTGTĐB

1.1.3.2 Tổ chức thực hiện pháp luật về ATTTGTĐB

Tổ chức thực hiện pháp luật về ATTTGTĐB là hoạt động đưa các quyphạm pháp luật về ATTTGTĐB vào điều chỉnh các quan hệ GTĐB Hoạtđộng này bao gồm: triển khai thực hiện và áp dụng pháp luật về ATTTGTĐB

Về triển khai thực hiện pháp luật ATTTGTĐB: các cơ quan QLNN

được giao thẩm quyền quản lý về an toàn trật tự giao thông tổ chức triển khaicác quy định trong các văn bản pháp luật về ATTTGTĐB bằng việc tập huấn,hướng dẫn thực hiện tại các cơ quan, đơn vị cơ sở, tuyên truyền phổ biến giáodục cho các đối tượng quản lý bằng nhiều hình thức, biện pháp phù hợp Đây

là một trong những nhiệm vụ hàng đầu và quan trọng mang tính cơ bản và lâudài nhằm hình thành nếp sống văn minh ý thức chấp hành pháp luật của nhândân khi tham gia giao thông đường bộ

Kinh nghiệm của rất nhiều quốc gia trên thế giới về triển khai thực hiệnpháp luật an toàn trật tự an toàn giao thông đường bộ cho thấy, muốn thựchiện quản lý tốt công tác an toàn trật tự giao thông đường bộ, cần có sự phốihợp triển khai thực hiện pháp luật an toàn trật tự giao thông đường bộ mộtcách hiệu quả đến tất cả các tổ chức, các cơ quan, các đối tượng tham gia giaothông thì mới có thể tạo nên sự thống nhất và đồng thuận trong quá trình thựchiện Ví dụ: tại Việt Nam, để triển khai thực hiện pháp luật được thuận lợi,ngay từ khi có cuộc họp chính phủ về dự thảo luật, tất cả các thông tin vềcuộc họp và về nội dung dự thảo luật đã được công bố rộng rãi trên cácphương tiện thông tin đại chúng để công chúng biết và tham gia xây dựng

Trang 22

luật Bộ luật được hoàn thiện, việc hướng dẫn thực hiện pháp luật sẽ được tổchức một cách đồng bộ mà trước hết là trong đội ngũ những người làm côngtác quản lý nhà nước, sau đó được triển khai tuyên truyền rộng rãi đến toànthể nhân dân bằng các hình thức tuyên truyền trên các phương tiện truyềnthông đại chúng, tuyên truyền qua các tổ chức đoàn thể, tuyên truyền bằng tờrơi… Tất cả các biện pháp đó cần thực hiện đồng bộ để đạt được hiệu quả caonhất, nhằm nâng cao hiểu biết và ý thức chấp hành luật pháp của nhân dân.

Về áp dụng pháp luật ATTTGTĐB: Là việc tác động quản lý bằng

quyền lực nhà nước của các cơ quan có thẩm quyền và được ủy quyền tronglĩnh vực ATTTGTĐB để thi hành pháp luật về ATTTGTĐB Các hoạt động ápdụng pháp luật an toàn trật tự giao thông đường bộ bao gồm: đào tạo lái xe(cấp giấy phép lái xe), chứng thực, chứng nhận; cho phép (giao đất xây dựngcông trình giao thông, quyết định và cấp giấy phép các dự án giao thông, xâydựng cầu đường, bến xe, bãi đỗ xe, xuất nhập các phương tiện giao thông,kinh doanh vận tải đường bộ); bãi bỏ các quyết định sai trái; ban hành cácquyết định; thanh tra, kiểm tra, giám sát, cưỡng chế…

Hoạt động áp dụng pháp luật an toàn trật tự giao thông đường bộ là rấtcần thiết trong quá trình quản lý nhà nước bởi nhờ các hoạt động áp dụng luậtnày, hệ thống quản lý nhà nước về an toàn giao thông được thực hiện mộtcách khoa học và toàn diện về an toàn trật tự giao thông đường bộ Khoa học

về cách thức quản lý, toàn diện về đối tượng quản lý

1.1.3.3 Xử lý vi phạm pháp luật về ATTTGTĐB

Vi phạm pháp luật về ATTTGTĐB là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chứcthực hiện vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước Vi phạm phápluật về an toàn trật tự giao thông đường bộ là loại vi phạm xảy ra liên tục, vớinhiều đối tượng khác nhau và với nhiều biểu hiện khác nhau: Vi phạm trongxây dựng kết cấu hạ tầng, vi phạm trong quá trình tham gia giao thông, viphạm trong quá trình vận tải… các hành vi vi phạm này tuy trong lĩnh vựcgiao thông nhưng có thể phát sinh các loại vi phạm pháp luật như: vi phạm

Trang 23

pháp luật dân sự; vi phạm pháp luật hành chính; vi phạm kỷ luật nhà nước(chủ yếu đổi với cán bộ, công chức, viên chức hành chính trực tiếp hoạt độngQLNN trong bảo đảm ATTTGTĐB); vi phạm pháp luật đất đai; vi phạm phápluật hình sự.

Đối tượng áp dụng của hoạt động xử lý vi phạm pháp luật về an toàntrật tự giao thông đường bộ là toàn bộ cá nhân, tổ chức Việt Nam, cá nhân, tổchức nước ngoài có hành vi vi phạm pháp luật về giao thông đường bộ

Xử lý vi phạm pháp luật về ATTTGTĐB là hoạt động của những chủthể có thẩm quyền QLNN trong bảo đảm ATTTGTĐB được tiến hành bằngbiện pháp cưỡng chế Các biện pháp cưỡng chế hành chính gồm có: các biệnpháp cưỡng chế phòng ngừa, các biện pháp cưỡng chế ngăn chặn, các biệnpháp cưỡng chế đặc biệt và các biện pháp cưỡng chế phạt tiền - theo quy địnhcủa pháp luật xử phạt vi phạm hành chính

Xử lý vi phạm pháp luật về ATTTGTĐB được tiến hành ở hai mức độ:

xử lý vi phạm hành chính và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi

vi pham pháp luật về ATTTGTĐB đã đủ các yếu tố cấu thành tội phạm

Xử lý vi phạm hành chính về ATTTGTĐB chủ yếu là áp dụng xử phạt

vi phạm hành chính về ATTTGTĐB được áp dụng đối với cá nhân và tổ chức

có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm quy định về nguyên tắc ATTTGTĐB, cácđiều kiện đảm bảo ATGT của kết cấu hạ tầng GTĐB, phương tiện và ngườitham gia GTĐB, hoạt động vận tải đường bộ và các hành vi vi phạm khác vềATTTGTĐB mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải

bị xử phạt hành chính

Như vậy, có thể nhận diện nội dung của QLNN trong bảo đảm

ATTTGTĐB bao gồm: Một là, xây dựng quy hoạch, kế hoạch và chính sách

phát triển GTĐB; xây dựng và chỉ đạo thực hiện chương trình quốc gia về

ATTTGTĐB Hai là, ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về ATTTGTĐB; quy chuẩn, tiêu chuẩn về an toàn GTĐB Ba là, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về ATTTGTĐB Bốn là, tổ chức

Trang 24

quản lý, bảo trì và bảo vệ kết cấu hạ tầng GTĐB Năm là, đăng ký, cấp và thu

hồi biển số phương tiện GTĐB; cấp và thu hồi giấy chứng nhận về chấtlượng, an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của các loại phương tiện GTĐB

Sáu là, quản lý đào tạo, sát hạch lái xe; cấp, đổi, thu hồi giấy phép lái xe và chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về GTĐB Bảy là, quản lý hoạt động giao thông vận tải, dịch vụ hỗ trợ vận tải và tổ chức cứu nạn GTĐB Tám là,

tổ chức nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ về GTĐB; đào tạo cán

bộ và công nhân kỹ thuật về GTĐB Chín là, thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về ATTTGTĐB Mười là, hợp tác

quốc tế về bảo đảm ATTTGTĐB

1.2 Những tiêu chí đánh giá hiệu quả của QLNN trong đảm bảo

ATTTGTĐB

1.2.1 Tiêu chí về cơ sở pháp lý

Tiêu chí về cơ sở pháp lý là tiêu chí đầu tiên đánh giá hiệu quả củaquản lý nhà nước trong bất cứ lĩnh vực nào Không có cơ sở pháp lý, hoạtđộng quản lý nhà nước sẽ không thực hiện được Cơ sở pháp lý không hoànthiện hoặc không phù hợp sẽ khiến cho hoạt động quản lý nhà nước khônghiệu quả

Cũng như tất cả các lĩnh vực khác, cơ sở pháp lý của hoạt động QLNNtrong đảm bảo ATTTGTĐB được tính đến ở hệ thống các văn bản quy phạmpháp luật được công nhận và ban hành chính thức trên phạm vi toàn quốc Hệthống văn bản này trước hết phải đảm bảo tính khoa học, chính xác, phải đầy

đủ, phù hợp với các đối tượng quản lý, phù hợp sự phát triển của khoa học kĩthuật, với sự phát triển của xã hội và phù hợp với điều kiện của đất nước Hệthống đó cũng phải thường xuyên được pháp điển hóa để hoàn thiện

Thêm vào đó, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong đảm bảoATTTGTĐB phải tính quyền lực và hiệu lực của văn bản Tính quyền lực vàhiệu lực của các văn bản quy phạm pháp luật thể hiện ở tính chất khoa họcđầy đủ và bao quát các nội dung cần có của văn bản Trọng tâm của hệ thống

Trang 25

văn bản pháp luật về ATTTGTĐB thể hiện ở luật Giao thông đường bộ, tuynhiên, còn có hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật khác trong quá trìnhthực hiện quản lý Hệ thống văn bản này không những cần có sự hoàn thiện

và đầy đủ về số lượng mà còn cần đến chất lượng của các văn bản Chấtlượng của các văn bản này thể hiện ở tính đầy đủ, chặt chẽ và dễ hiểu, dễ thựchiện và phù hợp, đảm bảo tính liên thông và nhất quán, tính khách quan, côngkhai và minh bạch trong các loại văn bản Tránh tình trạng các văn bản chồngchéo, khó hiểu, hoặc chỉ mang tính nguyên tắc khiến người chấp hành khóthực hiện được theo yêu cầu của văn bản hoặc tình trạng một văn bản cónhiều cách hiểu để nảy sinh tình trạng lách luật, lợi dụng kẽ hở trong luậtđịnh

Đảm bảo ATTTGTĐB được quản lý bởi hệ thống pháp luật Việt Nam,trong đó trực tiếp chịu sự chi phối của Luật giao thông đường bộ Ngoài ra cơ

sở pháp lý của quản lý Đảm bảo ATTTGTĐB còn dựa trên cơ sở văn bảnquản lý theo ngành, theo lĩnh vực (quản lý theo chiều dọc từ Bộ Giao thôngvận tải xuống Sở Giao thông công chính các tỉnh, thành phố trực thuộc), Vănbản quản lý theo chiều ngang (phối hợp giữa Bộ Giao thông vận tải với BộCông an, Bộ Giáo dục, Bộ Y tế ); phối hợp chỉ đạo giữa các Bộ có liện quanvới các sở ban ngành theo chiều dọc Ngoài ra còn các chương trình, mụctiêu, đề án, dự án quốc gia mỗi hệ thống có một chức năng nhiệm vụ quản

lý riêng của mình trong từng lĩnh vực nhất định

1.2.2 Năng lực tổ chức thực hiện pháp luật

Pháp luật là yếu tố quan trọng nhất trong quản lý nhà nước về tất cảcác lĩnh vực Tuy nhiên, nếu bộ máy tổ chức công tác quản lý không thựcđược tổ chức hiệu quả sẽ dẫn đến tình trạng lộn xộn không tuân thủ pháp luậttrong xã hội Vì vậy, thực hiện đầy đủ, khoa học và chính xác kịp thời phápluật trong quản lý nhà nước chính là tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác quản

lý nhà nước

Năng lực thực hiện pháp luật được đánh giá dựa vào tính hợp lý của các

Trang 26

cơ quan, tổ chức thực hiện công tác quản lý: Tính hợp lý này được đánh giátrên cơ sở các nguyên tắc tổ chức kĩ thuật nhằm nâng cao tính khoa học củaviệc tổ chức thực hiện công tác quản lý và đạt được hiệu quả quản lý cao nhất.

Đó là việc tổ chức thực hiện công tác quản lý nhà nước kết hợp quản lý theongành với quản lý theo địa giới hành chính Ðây chính là sự phối hợp giữaquản lý theo chiều dọc của các Bộ với quản lý theo chiều ngang của chínhquyền địa phương theo sự phân công trách nhiệm và phân cấp quản lý giữacác ngành, các cấp

Ngoài ra, Khi thực hiện hoạt động quản lý cần kết hợp quản lý theongành với quản lý theo chức năng nhằm đảm bảo việc thực hiện có hiệu quảtừng chức năng quản lý riêng biệt của các đơn vị, tổ chức trong ngành, đồngthời bảo đảm mối quan hệ liên ngành, làm cho toàn bộ hoạt động của hệ thốngngành được phối hợp chặt chẽ, có hiệu quả

Theo quy định của pháp luật, hệ thống các cơ quan chuyên môn đượchình thành để thực hiện việc quản lý theo chức năng Theo hệ thống dọc có

bộ, sở, phòng, ban chuyên môn quản lý chức năng, chịu sự quản lý của cơquan quản lý theo chức năng có thẩm quyền ở cấp trên Nguyên tắc này thểhiện quyền hạn, nhiệm vụ của cơ quan quản lý theo chức năng trong việc thựchiện các hoạt động quản lý hành chính nhà nước Nếu thiếu sự liên kết này,hoạt động của ngành trở nên thiếu đồng bộ, ảnh hưởng không nhỏ đến hiệuquả của hoạt động quản lý hành chính nhà nước

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện tổ chức quản lý nhà nước vềATTTGTĐB, bộ máy tổ chức quản lý cần thường xuyên tổ chức đổi mới nhằmđáp ứng tối đa yêu cầu của quản lý xã hội nhất là trong điều kiện hội nhập toàncầu về kinh tế, văn hóa và khoa học kĩ thuật như hiện nay Bộ máy được kiệntoàn với năng lực tổ chức thực hiện tốt nhất sẽ tạo điều kiện thực hiện pháp luậttốt nhất nằm đảm bảo ATTTGTĐB

1.2.3 Năng lực thực hiện pháp luật của đội ngũ cán bộ, công chức

Đội ngũ cán bộ công chức là yếu tố quan trọng, là một mắt xích quan trọng

Trang 27

không thể thiếu trong quá trình quản lý nhà nước về ATTTGTĐB. Đội ngũ này cóvai trò thực thi pháp luật nhằm đảm bảo ATTTGTĐB, bảo đảm hiệu lực củapháp luật, đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì trật tự, kỷ cương Nhànước và bảo vệ lợi ích của quần chúng lao động Đội ngũ cán bộ, công chứcnày có nhiệm vụ tổ chức thực hiện pháp luật trong cuộc sống, quản lý nhànước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội phù hợp với mục tiêu dân chủ xãhội chủ nghĩa.

Đối với những người làm công tác quản lý nhà nước về pháp luật,phẩm chất cần quan tâm đặc biệt đó là có sự am hiểu đặc biệt về pháp luật,tôn trọng pháp luật, chấp hành nghiêm minh pháp luật, có ý thức cao trongviệc bảo vệ sự nghiêm minh của pháp luật Có hiểu biết về pháp luật mới cóthể hướng dẫn người dân thực hiện theo đúng pháp luật và mới có thể giảiquyết và xử lý những tình huống quản lý nhà nước theo pháp luật Biết chấphành pháp luật và biết bảo vệ sự nghiêm minh của pháp luật thì người làmcông tác quản lý mới có thể dám dũng cảm đấu tranh với cái xấu, đấu tranhvới những hành vi sai trái, hành vi vi phạm pháp luật để tạo sự công bằngminh bạch trong hoạt động quản lý Người làm công tác quản lý nhà nước vềđảm bảo ATTTGTĐB cũng cần nhuần nhuyễn kĩ năng thực thi pháp luật, nhuần nhuyễn quy trình thực hiện pháp luật để đảm bảo thực hiện nhanh nhất, hiệu quả nhất và chính xác nhất trong công việc.

Ngoài ra, người làm công tác quản lý nhà nước về đảm bảo ATTTGTĐB luôn đòi hỏi người thực hiện phải có sự linh hoạt, sáng tạo trong quá trình thực hiện

để phù hợp với hoàn cảnh, đối tượng và điều kiện áp dụng Có như vậy, hiệu quả quản lý mới được nâng cao, trật tự quản lý mới được thiết lập.

Như vậy cơ sở pháp lý, năng lực tổ chức thực hiện pháp luật, năng lựccủa người làm công tác quản lý nhà nước về đảm bảo ATTTGTĐB là những tiêu chí đánh giá về hiệu quả của quản lý nhà nước trong đảm bảo ATTTGTĐB Đây là những tiêu chí mà dựa vào đó có thể đánh giá được hiệu quả của công tác quản lý nhà nước về đảm bảo ATTTGTĐB Thực hiện đúng theo những tiêu chí

Trang 28

này, công tác quản lý nhà nước về đảm bảo ATTTGTĐB có thể được nâng cao chất lượng và đạt hiệu quả cao hơn.

1.3 Vai trò của quản lý nhà nước trong đảm bảo an toàn trật tự giao thông đường bộ

1.3.1 Quản lý nhà nước trong bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường bộ góp phần quan trọng đảm bảo phát triển kinh tế - xã hội

Phát triển giao thông, nhất là phát triển GTĐB và bảo đảm ATTTGTĐBvới phát triển kinh tế - xã hội có liên quan chặt chẽ với nhau, là điều kiện vàtiền đề thúc đẩy nhau cùng phát triển Xây dựng một mạng lưới GTĐB trật tự

và an toàn chính là điều kiện cho sự phân bổ hợp lý lực lượng sản xuất, phân

bố hàng hóa và tư liệu sản xuất trên lãnh thổ đất nước, phục vụ cho sự pháttriển của các vùng miền, các khu vực trong mỗi quốc gia, nhất là những vùngkinh tế còn nghèo và lạc hậu

GTĐB an toàn, thuận tiện có vai trò nối liền giữa sản xuất và tiêu thụ,giữa vùng này với vùng khác, đáp úng nhu cầu vận chuyển hàng hóa, thôngthương của nhân dân, đảm bảo các mối liên hệ kinh tế, phục vụ sản xuất, gópphần nâng cao năng suất lao động từ đó đẩy nhanh phát triển kinh tế - xã hộicủa đất nước, của từng vùng, miền và của địa phương

Trung tâm công nghiệp và trung tâm thương mại là những điểm sángtrong quá trình phát triển kinh tế của một đất nước Hệ thống giao thông lạchậu sẽ không thể vận chuyển các nguyên, nhiên, vật liệu, v.v đến các trungtâm công nghiệp, trung tâm sản xuất, kìm hãm sự phát triển kinh tế- xã hội GTĐB hiện đại và thuận tiện sẽ tạo điều kiện giao lưu kinh tế, phát triển đồngđều giữa các vùng lãnh thổ làm giảm chênh lệch về mức sống và dân trí giữacác vùng

Xã hội phát triển nhờ vào một phần lớn ở hệ thống giao thông trong đó

có một phần đóng góp lớn của giao thông đường bộ Giao thông thôngthoáng, an toàn và hiệu quả khiến cho việc lưu thông hàng hóa, thúc đẩy sản

Trang 29

xuất và kéo theo sự phát triển của kinh tế Giao thông thuận tiện cũng giúpcác hoạt động giao lưu kinh tế, hàng hóa ngày càng mở rộng, phá vỡ kinh tế

tự cung tự cấp, khép kín, tăng tốc độ luân chuyển của vốn Nói cách khác,giao thông nói chung, ATTTGTĐB nói riêng góp phần tăng hiệu qua kinh tếtrong các hoạt động kinh tế nói chung, giúp thu hẹp khoảng cách vùng miền,khoảng cách giàu nghèo và thúc đẩy xã hội phát triển ATTTGTĐB là yếu tốhàng đầu đẩy nhanh nhịp độ tăng trưởng và nâng cao hiệu quả của nên kinh tếquốc dân

Giao thông phát triển sẽ tạo điều kiện cho việc phát triển nền kinh tếquốc dân Ngược lại nền kinh tế càng phát triển càng tạo khả năng hoànthiện và phát triển giao thông Trong nền kinh tế thống nhất, mối liên hệ đócàng chặt chẽ, càng thúc đẩy sản xuất xã hội phát triển Do vậy, đầu tư pháttriển GTĐB và bảo đảm ATTTGTĐB thực sự là đầu tư phát triển nền kinh

tế thị trường định hướng XHCN

Kinh tế phát triển kéo theo sự phát triển của văn hóa, xã hội, của hệthống giáo dục, y tế… và càng không thể phủ nhận rằng, hệ thống giao thônghiện đại giúp cho nhu cầu đời sống dân sinh được đáp ứng tốt hơn, xã hội pháttriển văn minh và công bằng hơn

Tóm lại, sản xuất xã hội càng phát triển thì vận chuyển, cung cấp vật tư, hàng hóa phục vụ sản xuất và nhu cầu đi lại của con người ngày càng tăng.

Do đó, giao thông vận tải mà nhất là GTĐB ngày càng phát triển - có mộtATTTGTĐB ngày càng tốt hơn là một tất yếu Khi kinh tế phát triển thìGTĐB ngày càng phát triển theo với trật tự, an toàn cao để đáp ứng nhu cầusản xuất và đời sống Tốc độ phát triển của GTĐB cùng mức độ an toàn,thuận tiện của nó và phát triển kinh tế là một quan hệ tỷ lệ thuận

Giao thông đường bộ phát triển hiện đại, an toàn và thuận lợi là tiêu chíđánh giá tốt nhất cho hiệu quả QLNN trong bảo đảm ATTTGTĐB, làm tốtnhững nội dung QLNN về an toàn trật tự giao thông đường bộ theo nhữngcách thức hiệu quả nhất vì vậy chính là góp phần đảm bảo ATTTGTĐB Vì

Trang 30

vậy, có thể khẳng định rằng, làm tốt công tác QLNN trong bảo đảmATTTGTĐB chính là con đường hiệu quả nhất nhằm phát huy tối đa vai tròcủa ATTTGTĐB trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội.

1.3.2 Quản lý nhà nước trong bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường

bộ nhằm đảm bảo trật tự an toàn xã hội

Trật tự an toàn xã hội được quan niệm là trạng thái của các quan hệ xãhội được hình thành và điều chỉnh bởi hệ thống quy phạm pháp luật của Nhànước, quy phạm chính trị, quy phạm đạo đức, thuần phong mỹ tục trong đờisống cộng đồng của một dân tộc, một Nhà nước, là tình trạng xã hội ổn định,

ở đó mọi công dân sống và lao động có tổ chức, có kỷ cương, mọi lợi íchchính đáng được bảo đảm, không bị xâm hại

Hoạt động GTĐB diễn ra ở mọi nơi, mọi lúc, liên quan đến mọi tầnglớp dân cư, mọi chủ thể trong xã hội ATTTGTĐB được bảo đảm, tức giaothông được thông suốt, tài sản, tính mạng, mọi lợi ích chính đáng khác củanhững chủ thể tham gia giao thông được đảm bảo, người dân có cuộc sốngyên lành, ổn định, nhu cầu đi lại, phát triển kinh tế, v.v được thuận lợi là điềukiện góp phần để đảm bảo trật tự an toàn xã hội

ATTTGTĐB được bảo đảm còn góp phần thúc đẩy sự phát triển của xãhội Xã hội phát triển kèm theo đó là những điều kiện về kinh tế, giáo dục, y

tế, an sinh xã hội được đảm bảo, công bằng xã hội được thực hiện triệt để,tình trạng tội phạm, mất an ninh chính trị, xã hội được đẩy lùi, ý thức ngườidân trong việc chấp hành luật pháp sẽ được nâng cao Vì vậy, trật tự an toàn

xã hội sẽ được đảm bảo tốt hơn

Trong khi đó, QLNN trong bảo đảm ATTTGTĐB hướng tới thực hiệnmục tiêu mọi hoạt động GTĐB được trật tự, an toàn, nhanh chóng, tiện lợi,thông suốt và mỹ quan môi trường, hạn chế thấp nhất các vi phạm pháp luậtGTĐB, hạn chế ùn tắc GTĐB, kiềm chế tai nạn GTĐB, ngăn ngừa thiệt hại

do tai nạn GTĐB gây ra

Như vậy, ATTTGTĐB có liên quan mật thiết với trật tự an toàn xã hội;

Trang 31

ATTTGTĐB được đảm bảo thì mới góp phần đảm bảo trật tự an toàn xã hội.Quản lý nhà nước về ATTTGTĐB chặt chẽ, khoa học và hiệu quả sẽ góp phầnđảm bảo ATTTGTĐB và như vậy QLNN tốt sẽ đảm bảo trật tự an toàn xã hội.

1.3.3 Quản lý nhà nước trong bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường

bộ nhằm đảm bảo an ninh quốc phòng

Ngoài việc đảm bảo phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo trật tự an toàn

xã hội; QLNN trong bảo đảm ATTTGTĐB còn nhằm đảm bảo an ninh quốcphòng Một hệ thống đường bộ thông suốt, an toàn sẽ tạo điều kiện thuận lợicho sự phát triển của các vùng miền, giúp ổn định trật tự an ninh xã hội, ổnđịnh kinh tế, ổn định đời sống dân cư cho các vùng trọng điểm, nâng cao đờisống cho người dân trong các vùng đặc biệt khó khăn, nâng cao lòng tin củangười dân với sự nghiệp lãnh đạo của Đảng Vì vậy, giao thông đường bộ còngóp phần ổn định an ninh chính trị, an ninh xã hội, đảm bảo cho sự thắng lợicủa sự nghiệp cách mạng của Đảng, giúp cho việc đảm bảo an ninh quốcphòng thuận lợi hơn

Hệ thống GTĐB thuận lợi tạo điều kiện tăng tính năng cơ động cho cáclực lượng an ninh quốc phòng trong việc cơ động khi thực hiện nhiệm vụ,đảm bảo công tác hậu cần, di chuyển vũ khí khí tài trong quá trình làm nhiệm

vụ giữ gìn bảo vệ chủ quyền, trọn vẹn lãnh thổ, phòng chống mọi vi phạmpháp luật về an ninh quốc gia, bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng GTĐBđược coi là cơ sở vật chất cho an ninh quốc phòng, kết hợp chặt chẽ với anninh quốc phòng Chính vì vậy, chiến lược phát triển giao thông vận tải ViệtNam đến năm 2020 đã khẳng định: “phát triển hệ thống giao thông vận tảitrên cơ sở hiệu quả nhất về mặt kinh tế - xã hội với việc đảm bảo ổn địnhchính trị, an ninh, quốc phòng”

QLNN trong bảo đảm ATTTGTĐB vì vậy, được coi là biện pháp quản

lý hàng đầu để phát huy tối đa vai trò của ATTTGTĐB trong củng cố an ninhquốc phòng Vì vậy, quản lý nhà nước trong bảo đảm trật tự an toàn giaothông có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an ninh quốc phòng của đất nước

Trang 32

1.3.4 Quản lý nhà nước trong bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường

bộ nhằm thúc đẩy giao lưu, hội nhập khu vực và quốc tế

Hệ thống GTĐB hiện đại, thuận tiện phù hợp với tiêu chuẩn kỹ thuậtkhu vực và thế giới sẽ góp phần tạo môi trường thuận lợi thúc đẩy giao lưu vàhội nhập quốc tế Giao thông thuận tiện sẽ kéo theo sự phát triển của cácngành kinh tế, biến mỗi quốc gia thành một điểm thu hút với các nhà đầu tưnước ngoài nhờ sự thông thương và thuận tiện trong lưu thông GTĐB thuậntiện còn góp phần giảm thiểu chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, tăngtính cạnh tranh của hàng hóa giúp tạo sức hút đối với đầu tư nước ngoài

GTĐB thuận tiện góp phần đưa các sản phẩm của Việt Nam đến với cácnước trong khu vực và ngược lại; giúp cho khách du lịch đến với Việt Nam,biết đến Việt Nam và quảng bá cho hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế.GTĐB thuận tiện còn góp phần nối thủ đô với thủ đô, nối các khu côngnghiệp, các trung tâm, nối các khu danh lam thắng cảnh, du lịch, nối các cảngbiển với các cảng biển Hệ thống đường này sẽ tạo hành lang vận tải xuyênquốc gia, khu vực, thuận lợi trong vận chuyển hàng hóa, hành khách

Với tầm quan trọng của GTĐB trong việc thúc đẩy giao lưu và hợp tácquốc tế có thể khẳng định vai trò của QLNN bảo đảm ATTTGTĐB trong việcthúc đẩy giao lưu hợp tác quốc tế của đất nước và có thể coi đây là yếu tốquyết định cho sự thành công của chính sách hợp tác đa phương và hội nhậptoàn diện của Việt Nam với khu vực và quốc tế

Trang 33

CHƯƠNG 2 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN TOÀN TRẬT TỰ GIAO THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN THỦ ĐÔ HIỆN NAY – THỰC TRẠNG

VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA 2.1 HIện trạng giao thông đường bộ trên địa bàn thành phố hà Nội

2.1.1 Đặc điểm, tình hình giao thông

Hà Nội là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của cả nước, vớilên 30 đơn vị hành chính cấp huyện (gồm 11 quận, 18 huyện và 01 thị xã) và

577 đơn vị hành chính cấp xã (gồm 401 xã, 154 phường và 22 thị trấn) Diệntích tự nhiên của Hà Nội là 3.324,92 km2 và dân số tăng lên gần 7 triệu người,nằm trong 17 thủ đô lớn nhất thể giới Hà Nội có mức độ tăng dân số nhanh,bình quân 1 năm có 176.000 người nhập cư vào khu vực nội thành

Hàng năm, trên địa bàn thành phố Hà Nội diễn ra khoảng trên 1000 sựkiện chính trị, kinh tế, văn hóa, thể dục thể thao, trong đó có các sự kiện, Hộinghị quốc tế có quy mô lớn với sự tham gia của nhiều Quốc gia và các sự kiệnchính trị có ý nghĩa của đất nước như: Đại hội Đảng toàn quốc, các kỳ họpQuốc hội, đặc biệt là các hoạt động kỷ niệm các ngày lễ lớn Hà Nội có hơn2.000 trường học từ bậc mầm non đến đại học; 160 chợ lấn chiếm lòngđường; Có 36 bệnh viện lớn nằm tại trung tâm thành phố ảnh hưởng đến giaothông như Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện Phụ sản Trung ương, Bệnh việnViệt Đức, v.v… Bởi vậy, công tác bảo đảm ATTTGTĐB, trật tự đô thị là mộttrong các công tác trọng tâm hàng đầu, luôn được Thành ủy, Chính quyềnThành phố và lãnh đạo các Sở, ngành chức năng quan tâm chỉ đạo

Mạng lưới GTĐB toàn thành phố Hà Nội có chiều dài là gần 20,000

km Trong đó, có 80km quốc lộ do Bộ Giao thông vận tải quản lý; hơn 1.600

km đường thành phố do Sở Giao thông vận tải Hà Nội quản lý; 1.400 kmđường huyện quản lý và 13.000 km đường giao thông nông thôn do xã quản

lý Trong đó, đường mặt cắt dưới 11m chiếm 80% Diện tích đường chiếm

Trang 34

khoảng 7% diện tích đô thị (yêu cầu là: 15  20%); Hệ thống điểm đỗ mớiđạt 1,2% (yêu cầu là: 5  6%) Có hơn 2.000 nút giao thông từ ngã 3 trở lên,

59 hầm chui, 24 cầu vượt, 15 cầu đi bộ Khu vực nội thành có gần 1.800 kmđường; có 25 hầm chui, 10 cầu vượt, 15 cầu đi bộ

Nhiều công trình giao thông trọng điểm thi công thời gian hoàn thành

thường chậm so với tiến độ được duyệt, luôn trong tình trạng “Vừa thi công vừa khai thác sử dụng” như: tuyến đường sắt trên cao… đã ảnh hưởng

nghiêm trọng đến hoạt động giao thông

Hà Nội có 11 bến xe khách, xe liên tỉnh: Bến xe Lương Yên có sốphương tiện tiếp nhận hiện tại 553 xe và xuất bến bình quân 236 lượt xe/ngày,Bến xe Phía Nam có số phương tiện tiếp nhận hiện tại 931 xe và xuất bếnbình quân 890 lượt xe/ngày, Bến xe Mỹ Đình có số phương tiện tiếp nhậnhiện tại 700 xe và xuất bến bình quân 650 lượt xe/ngày, Bến xe Yên Nghĩa có

số phương tiện tiếp nhận hiện tại 450 xe , Bến xe Gia Lâm có số phương tiệntiếp nhận hiện tại 14.622 xe và xuất bến bình quân 420 lượt xe/ngày, Bến xeNước Ngầm có số phương tiện tiếp nhận hiện tại 10.800 xe và xuất bến bìnhquân 185 lượt xe/ngày, Sơn Tây có số phương tiện tiếp nhận hiện tại 4000 xe

và xuất bến bình quân 25 lượt xe/ngày, Bến xe Đan Phượng có số phương tiệntiếp nhận hiện tại 1.600 xe và xuất bến bình quân 4 lượt xe/ngày, Bến xe ChúcSơn có số phương tiện tiếp nhận hiện tại 14 xe và xuất bến bình quân 4 lượtxe/ngày, Hoài Đức có số phương tiện tiếp nhận hiện tại 5 xe và xuất bến bìnhquân 5 lượt xe/ngày, Bến xe Thường Tín có số phương tiện tiếp nhận hiện tại1.660 xe và xuất bến bình quân 8 lượt xe/ngày; với tổng diện tích bến bãi là170.174 m2 Phần diện tích dành cho bến xe khách chiếm trên 28% tổng diệntích đất giao thông tĩnh Có 33 bến xe nội tỉnh tại địa bàn các huyện với quy

mô nhỏ

Hà Nội có 9 bến xe tải là Bến xe tải Gia Thụy, Bến xe tải Long Biên,Bến xe tải Đền Lừ 1, Bến xe tải Kim Ngưu, Bến xe tải Gia Lâm, Bến xe tải

Trang 35

Tân Ấp, Bến xe tải Dịch Vọng, Bến xe tải Kim Ngưu 2, Bến xe tải Sơn Tây(nằm trong bến xe Sơn Tây) với tổng diện tích 49.630 m2

Phương tiện vận tải tăng nhanh, đa dạng về chủng loại Trung bình 1năm phương tiện đăng ký mới tăng 181.418 xe (20.276 ôtô, 161.142 môtô).Phương tiện hiện đang quản lý: Xe ôtô 360.293 chiếc các loại; Xe máy3.649.315 chiếc; Xe đạp khoảng 1.000.000 chiếc; Xích lô 300 xe, chưa kểphương tiện của các cơ quan Trung ương, Quân đội, Ngoại giao, tổ chức quốc

tế, v.v… Các tỉnh về làm việc, học tập và thăm quan, v.v…

Về vận tải hành khách công cộng, có 82 tuyến xe buýt, trong đó 65tuyến trợ giá, 7 tuyến kế cận, 10 tuyến không trợ giá với hơn 1.145 xe, vậnchuyển trên 1.116.000 lượt hành khách mỗi ngày, đáp ứng được khoảng 9%nhu cầu đi lại của thành phố

Về vận tải hành khách bằng taxi, trên địa bàn thành phố có 113 doanhnghiệp hoạt động với trên 15.000 xe taxi đã vận chuyển được 40 triệu lượthành khách

Mạng lưới đường bộ khu vực Hà Nội được cấu thành bởi các đườngquốc lộ hướng tâm có dạng nan quạt và các đường vành đai, các khu trụcchính đô thị và các đường phố Trong những năm gần đây, nhiều dự án nângcấp cải tạo đường bộ khu vực Hà Nội đã được thực hiện và làm thay đổi đáng

kể bộ mặt giao thông Thủ đô như các dự án: mở rộng Quốc lộ 5 thành đường6- 4 làn xe, nâng cấp cải tạo quốc lộ 1A và nâng cấp cải tạo quốc lộ 18 trong

đó có đoạn Nội Bài - Bắc Ninh được xây dựng mới theo tiêu chuẩn đường caotốc 4 làn xe, v.v… Các dự án đường vành đai III đoạn Mai Dịch - Pháp Vân,

dự án cầu Thanh Trì (Pháp Vân - Sài Đồng) và các dự án tăng cường năng lựcgiao thông đô thị Hà Nội, v.v… được triển khai theo quy hoạch tổng thể màThủ tưởng Chính Phủ đã phê duyệt

Về các trục lộ hướng tâm, nằm ở vị trí trung tâm đồng bằng Bắc bộ,

Thủ đô Hà Nội là nơi hội tụ của các tuyến quốc lộ chiến lược quan trọng nhưQuốc lộ 1A, 5, 18, 6, 32, 2 và 3 Đây là các tuyến đường tạo ra mối liên hệ từ

Trang 36

Thủ đô Hà Nội đi các trung tâm dân cư, kinh tế và quốc phòng của cả nước vàngược lại Các trục quốc lộ hướng tâm bao gồm:

Quốc lộ 5 và Quốc lộ 18 tạo nên một hành lang nối Hà Nội với khu vựcĐông Bắc và các cảng Hải Phòng, Cái Lân, có tầm quan trọng về kinh tế vàquốc phòng, nối hai trung tâm kinh tế lớn của vùng kinh tế trọng điểm phíaBắc Hiện tại Quốc lộ 5 đã được nâng cấp cải tạo thành 4-6 làn xe, rút ngắnđược 1/3 thời gian xe chạy so với trước đây, còn Quốc lộ 18 được nâng cấpcải tạo theo tiêu chuẩn 2 làn xe, sẽ hình thành đường cao tốc Nội Bài - HạLong gắn kết với quy hoạch phát triển các khu công nghiệp vùng Đông Bắc

Quốc lộ 1A phía Bắc: là tuyến giao thông nối Hà Nội với cửa khẩuĐồng Đăng - Lạng Sơn, một trong các trục đường chính nối liền Việt Nam vàTrung Quốc Hiện tại đã được nâng cấp đạt tiêu chuẩn đường cấp 3 Đặc biệt

từ đoạn Bắc Giang về Hà Nội tuyến được tách ra làm mới đi song song vớituyến hiện có về phía Đông nam, nối vào đường Vành đai 3 Đây là một trongnhững đoạn đường cao tốc trong tương lai gần

Quốc lộ 1A phía Nam: hiện đã được nâng cấp cải tạo theo tiêu chuẩnđường 2 làn xe và xây dựng tuyến đường cao tốc Cầu Ghẽ - Pháp Vân, chạysong song và cách tuyến đường 1A hiện có từ 1200m- 2000m về phía Đông.Đây là tuyến đường cao tốc đầu tiên ở Việt Nam có mặt cắt ngang 4 làn xe

Quốc lộ 6: Nối Hà Nội với khu vực Tây Bắc của đất nước Đặc biệt, nốivới trung tâm thủy điện lớn nhất nước ta hiện nay là Nhà máy Thủy điện HòaBình, cách Hà Nội khoảng 70 km Hiện tại tuyến đường này đã được nângcấp, mở rộng, trong đó đoạn từ Quận Hà Đông đến Ba La được mở rộngthành 6 làn xe Quốc lộ 6 đã được nâng cấp cải tạo theo tiêu chuẩn đường 2làn, tạo mối liên hệ chiến lược với các tỉnh vùng núi Tây Bắc

Quốc lộ 3 và Quốc lộ 2: Nối liền Hà Nội với Thái Nguyên- Cao Bằng

và Vĩnh Phúc - Việt Trì, đã được nâng cấp cải tạo Quốc lộ 2 theo tiêu chuẩnđường 2 làn xe và thực hiện các dự án xây dựng đường cao tốc song hành vớiquốc lộ 2 đến Đoan Hùng và Quốc lộ 3 đến Thái Nguyên

Trang 37

Quốc lộ 32: Là Quốc lộ quan trọng liên kết vùng Tây Bắc với cửa ngõphía Tây của Thủ đô Hà Nội đã được nâng cấp giảm ách tắc giao thông trongnhững giờ cao điểm Tuy nhiên, việc xây dựng tuyến đường sắt trên cao gâyảnh hưởng đến tốc độ lưu thông của các phương tiện trên các tuyến đườngnày.

Tuyến đường cao tốc Láng - Hòa Lạc: Liên kết Thủ đô Hà Nội vớichuỗi đô thị Miếu Môn - Xuân Mai - Hòa Lạc - Sơn Tây Đây là một trụcchính quan trọng nhất nối Thủ đô Hà Nội và trùm đô thị vệ tinh Sơn Tây -Hòa Lạc - Miếu Môn, được thiết kế theo tiêu chuẩn đường cao tốc - đô thị

Về hệ thống đường vành đai, các đường vành đai trong và ngoài kết

hợp với các trục hướng tâm hình nan quạt tạo nên một mạng lưới đường bộhoàn chỉnh, đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện chức năng giaothông đối ngoại và đối nội của Thủ đô Hà Nội Hiện tại mạng lưới đường

vành đai của Thủ đô Hà Nội gồm các đường: Vành đai 1, là khái niệm không

hoàn chỉnh, song vẫn tồn tại trong các đánh giá mạng lưới giao thông Thủ đô.Tuyến đường vành đai 1 từ đê Nguyên Khoái - Trần Khát Trân - Đại Cổ Việt -Đào Duy Anh - Ô cợ Dừa - Cầu Giấy - Bưởi - Lạc Long Quân - đê Yên Phụ.Ngoài một số đoạn đã mở rộng, hầu hết tuyến đường có mặt cắt ngang rấthẹp, lòng đường rộng 8m - 9m, thậm trí có những đoạn rất hẹp, chưa đảmnhiệm được chức năng của tuyến đường và là một trong những nguyên nhânquan trọng gây ra ách tắc giao thông nội đô Đoạn tuyến đường vành đai 1này được quy hoạch thành 2 trục chính đô thị là trục Đông - Tây (Vĩnh Tuy -Kim Liên - Ô Chợ Dừa - Cầu Giấy và trục đê Hữu sông Hồng (Cầu Thăng

Long Vĩnh Tuy) Vành đai 2, bắt đầu từ dốc Minh Khai Ngã Tư Vọng

-Ngã Tư Sở - Đường Láng - Cầu Giấy - Bưởi - Lạc Long Quân - đê Nhật Tân

và vượt sông Hồng từ Vị trí xã Phú Thượng sang xã Vĩnh Ngọc, qua ĐôngHội, Đông Trù, Quốc lộ 5, tiếp tục vượt sông Hồng tại Vĩnh Tuy nối vào dốcMinh Khai thành một vành đai khép kín Mặt cắt ngang đường vành đai 2rộng từ 10m - 12m, dọc 2 bên đường phát triển nhiều khu dân cư Hiện tại

Trang 38

vành đai 2 không hoàn toàn đáp ứng được lưu lượng giao thông đô thị vànhiều điểm nút trên đường vành đai 2 là những điểm ách tắc giao thông Vớimặt cắt chật hẹp như vậy nhưng hiện nay do tốc độ đô thị hóa của Hà Nội rấtnhanh nên thực tế tuyến đường vành đai 2 phải đảm nhận 2 chức năng làtuyến đường vành đai đối ngoại và tuyến đường giao thông đô thị Hiện tượngquá tải trên tuyến đường này khá nặng nề cần có các biện pháp giải tỏa khẩn

cấp Vành đai 3, bắt đầu từ đường Bắc Thăng Long Nội Bài Mai Dịch

-Thanh Xuân - Pháp Vân - Sài Đồng - cầu Đuống mới - Ninh Hiệp - nút ĐồngXuân (giao với tuyến đường Nội Bài - Bắc Ninh) - nối với đường Bắc ThăngLong - Nội Bài thành tuyến đường khép kín Hiện nay, mặc dù đã có cầu nốiNhật tân chia sẻ tuy nhiên hiện tượng ùn ứ giao thông trên tuyến đường nàyvẫn thường xuyên xảy ra khá nghiêm trọng tại các giờ cao điểm

Mạng lưới giao thông nội đô, Hạ tầng đường bộ ở trung tâm Hà Nội

gồm khoảng 350 phố và các đường phố hiện tại đều ngắn và hẹp, chất lượngmặt đường từ trung bình đến xấu Mạng lưới đường gồm cả một vài đườnghướng tâm phục vụ cho cả giao thông nội đô và giao thông quá cảnh Trừ một

số đường mới xây dựng có mặt cắt ngang đường tương đối rộng còn hầu hết

là rất hẹp (cả lòng đường và vỉa hè) Đặt biệt, đường phố cổ có chiều rộng từ6m - 8m, phố cũ đạt từ 12m - 18m Khoảng cách đường tới ngã ba, ngã tư (ôvuông) ở phố cổ đạt từ 50 - 100m Phố cũ từ 200 - 400 m dẫn tới tốc độ xechạy chỉ đạt 17,7 - 27,7 km/h Tại các khu phố này đều có lưu lượng xe lớn,lại là giao thông hổn hợp gồm: xích lô, ôtô và lưu lượng xe máy, xe đạp quálớn Các vị trí giao cắt trong thành phố bao gồm đường sắt với đường bộ kể cảgiao cắt giữa các đường bộ trục chính đều là các nút giao cùng mức gây trởngại, nhiều nút không có phương tiện, thiết bị điều khiển giao thông

Một số đánh giá chung, có thể nói những năm gần đây, với sự quan tâm

chỉ đạo của Chính Phủ, sự quyết tâm của Thành ủy, UBND thành phố Hà Nộicùng các cấp, các ngành đã triển khai nhiều giải pháp nhằm cải thiện tình hìnhGTĐB và từng bước thiết lập ATTTGTĐB như đầu tư xây dựng cơ sở hạ

Trang 39

tầng, điều chỉnh thời gian hoạt động của các loại phương tiện, nhiều côngtrình giao thông, kể cả các đường phố được cải tạo, nâng cấp và xây dựngmới, bảo đảm khang trang, thông thoáng đã góp phần tạo nên một diện mạomới cho nhiều tuyến phố, v.v… Tuy nhiên, mạng lưới GTĐB trên địa bàn HàNội vẫn mang những đặc điểm chung của các đô thị khác ở nước ta, đó là:

Thứ nhất, quỹ đất dành cho giao thông quá thấp, tại 10 quận nội thành

diện tích đường chỉ chiếm khoảng 7%, khu vực ngoại thành diện tích đườngchiếm khoảng 10% diện tích đất Trong khi đó, tỷ lệ quỹ đất dành cho giaothông đô thị ở các nước phát triển là 20 - 25%

Thứ hai, vùng bao phủ mạng lưới đường không đồng đều Một số khu

phố cũ hoặc các trung tâm đô thị có mạng lưới đường tương đối phù hợpnhưng mật độ dân cư cao, mật độ người tham gia giao thông quá lớn Cònnhiều khu vực dân cư, đô thị, kể cả một số khu vực mới được xây dựng chưa

có mạng đường hoàn chỉnh Mật độ đường ngoại thành rất thấp, giao thôngkhông thuận tiện dẫn đến việc tập trung dân cư vào nội đô, ảnh hưởng nghiêmtrọng tới tổ chức giao thông và các dịch vụ xã hội

Thứ ba, mạng đường chưa hoàn chỉnh, còn thiếu nhiều đường nối giữa

các trục chính quan trọng Nhiều tuyến đường rất quan trọng (kể cả trục Đông

- Tây ở đoạn La Thành, vành đai 2) chưa được cải tạo mở rộng để đảm bảonăng lực cần thiết Xu hướng “phố hóa” các đường lộ hướng tâm gây nguy cơmất an toàn và ùn tắc giao thông Giao thông bến tĩnh (bến, bãi đỗ xe, trạmdừng, v.v…) còn thiếu và không tiện lợi (đối với các nước phát triển cần 3,0 -3,5% diện tích đất đô thị cho giao thông tĩnh)

Thứ tư, mặt cắt ngang đường nói chung là hẹp Đa số các đường có bề

rộng lòng đường từ 7m - 11m, chỉ có khoản 12% đường có chiều rộng lớnhơn 12m Khả năng mở rộng đường nội thị rất khó khăn do công tác giảiphóng mặt bằng Vỉa hè bị chiếm dụng để xe hoặc buôn bán, không có chỗcho người đi bộ

Trang 40

Thứ năm, mặt đường bộ có nhiều giao cắt (khu vực phía trong vành đai

2: bình quân 380m có một giao cắt) Đa số các nút giao thông quan trọng hiệntại còn nút bằng Một số nút đã được xây dựng dưới dạng giao cắt trục thôngkhác mức Việc sử dụng đèn tín hiệu giao thông hoặc bố trí các đảo tròn tạicác ngã tư chưa đáp ứng được năng lực thông qua, gây ùn tắc

Thứ sáu, chưa có sự phối hợp tốt giữa quản lý và xây dựng các công

trình giao thông và đô thị Việc vừa làm xong lại đào còn phổ biến gây tốnkém, cản trở giao thông và ảnh hưởng tới chất lượng sử dụng

Thứ bảy, xu thế phát triển đô thị tập trung chủ yếu vào hướng Tây và

Tây nam thành phố làm tăng mật độ dân cư, nhu cầu đi lại lớn trong khi mạnglưới giao thông đường bộ chưa phát triển kịp dẫn đến ùn tắc giao thông ngàycàng nghiêm trọng tại các cửa ngõ Thủ đô

2.1.2 Tình hình ùn tắc giao thông, tai nạn giao thông và vi phạm trật tự an toàn giao thông trên địa bàn thành phố Hà Nội

Trong những năm qua tình hình UTGT, TNGT tuy đã được kiềm chếnhưng vẫn còn diễn biến phức tạp Trong những năm trở lại đây, TNGT tạithành phố Hà Nội tiếp tục tăng nhanh, năm 2014 xảy ra 1.959 vụ TNGTđường bộ làm chết 584 người và bị thương 1857 người Tính trung bình hàngngày ước tính có khoảng 1,5 người chết và bị thương do TNGT mà chủ yếu làTNGT đường bộ

Hầu hết các TNGT xảy ra trên những quốc lộ nơi có lưu lượng xe lớn,dòng xe hỗn hợp và chất lượng đường thường là tốt Những tuyến quốc lộ này

có mật độ giao thông lớn và nhiều giao cắt đồng mức Như vậy, việc pháttriển mạnh mẽ của hệ thống đường quốc lộ trong thời gian qua, nhiều tuyếnđường đô thị và đường huyện đã được xây dựng mới, nâng cấp, cải tạo vớichất lượng ngày một tốt hơn cho phép chạy tốc độ cao hơn thì vấn đề TNGTcũng ngày một gia tăng

Ngày đăng: 13/05/2020, 20:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w