1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

báo cáo thực tập giữa khóa những khó khăn và giải pháp trong vấn đề quyền sở hữu công nghiệp đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở việt nam

16 97 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 123,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên phương diện khách quan, quyền sở hữu trí tuệ là hệ thống các quy định của pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong quá trình sáng tạo, sử dụng, bảo vệ các tài sản trí tu

Trang 1

CHƯƠNG 1 CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP 1.1 Các vấn đề cơ bản về sở hữu trí tuệ

1.1.1 Khái niệm về quyền sở hữu trí tuệ

Quyền sở hữu trí tuệ là một khái niệm pháp lý, được dùng phổ biến trong nhiều lĩnh vực Trên phương diện chủ quan, quyền sở hữu trí tuệ là quyền chủ thể đối với tài sản trí tuệ Trên phương diện khách quan, quyền sở hữu trí tuệ là hệ thống các quy định của pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong quá trình sáng tạo, sử dụng, bảo vệ các tài sản trí tuệ

Theo định nghĩa của Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO) thì Quyền sở hữu trí tuệ được định nghĩa bằng cách đứa ra một danh sách các đối tượng mà nó bảo vệ Cụ thể là:

“Công ước thành lập Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (1967) không có định nghĩa về sở hữu trí tuệ, nhưng đưa ra một danh sách các đối tượng được bảo vệ bởi quyền sở hữu trí tuệ: các tác phẩm khoa học, nghệ thuật và văn học; chương trình biểu diễn của các nghệ sĩ, các bản ghi âm và chương trình phát thanh, truyền hình; sáng chế trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của con người; các phát minh khoa học; kiểu dáng công nghiệp; các nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ, các chỉ dẫn và tên thương mại; bảo hộ chống cạnh tranh không lành mạnh và tất

cả các quyền khác là kết quả của hoạt động trí tuệ trong lĩnh vực công nghiệp, khoa học, văn học hoặc nghệ thuật 1 ”

1The Convention Establishing the World Intellectual Property Organization (1967) does not seek to define intellectual property, but gives the following list of the subject matter protected by intellectual property rights: literary, artistic and scientific works; performances of performing artists, phonograms, and broadcasts; inventions in all

Trang 2

“Quyền sở hữu trí tuệ cũng giống như bất kỳ quyền sở hữu khác.

Chúng cho phép người sáng tạo, hoặc chủ sở hữu, bằng sáng chế, nhãn

hiệu hàng hoá, công trình có bản quyền được hưởng lợi từ công việc của mình hoặc đầu tư vào một sáng tạo Những quyền này được nêu trong Điều 27 của Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, trong đó quy định quyền được hưởng lợi từ việc bảo vệ quyền lợi tinh thần và vật chất phát sinh từ quyền tác giả của các tác phẩm khoa học, văn học nghệ thuật.” 2

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 tại khoản 1, điều 4 Quyền sở hữu trí tuệ được định nghĩa là

“Quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm: quyền tác giả và quyền liên quan đến tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng”.

Trong đó:

“Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu”;

“Quyền liên quan đến quyền tác giả (quyền liên quan) là quyền

của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình,

fields of human endeavor; scientific discoveries; industrial designs; trademarks, service marks, and commercial names and designations; protection against unfair competition; and “all other rights resulting from intellectual activity in the industrial,scientific, literary or artistic fields.”

2Intellectual property rights are like any other property right They allow creators,

or owners, of patents, trademarks or copyrighted works to benefit from their own work or investment in a creation These rights are outlined in Article 27 of the Universal Declaration of Human Rights, which provides for the right to benefit from the protection of moral and material interests resulting from authorship of scientific, literary or artistic productions

Trang 3

chương trình phát song, tín hiệu vệ tinh mang chương trình đã được

mã hóa”;

“Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối

với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lí, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh”;

“Quyền đối với giống cây trồng là quyền của tổ chức, cá nhân

đối với giống cây trồng mới do mình chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển hoặc được quyền sở hữu”

Quyền sở

hữu trí tuệ

Tác phẩm văn học, tác phẩm nghệ thuật, tác Quyền tác giả phẩm khoa học, phần mềm máy tính; cơ sở dữliệu

Cuộc biểu diễn, trình diễn; bản ghi âm ghi Quyền liên hình; chương trình phát sóng; tín hiệu vệ tinh

mang chương trình được mã hóa quan

Sáng chế; kiểu dáng công nghiệp; thiết kế bố Quyền sở hữu trí mạch tích hợp bán dẫn; bí mật kinh doanh;nhãn hiệu; tên thương mại; chỉ dẫn địa lí; công nghiệp quyền chống cạnh tranh không lành mạnh

Quyền đối với

Vật liệu nhân giống và vật liệu thu hoạch giống cây

trồng

Hình 1.1.1.: Các dạng tài đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam

Trang 4

Có thể nhận thấy theo quy định của Việt Nam, quyền sở hữu trí tuệ được chia làm 4 loại: Quyền tác giả, Quyền liên quan, Quyền sở hữu công nghiệp, Quyền đối với giống cây trồng

Một số nước và tổ chức quốc tế (Nhật Bản, các quốc gia châu Âu, WTOcoi quyền đối với giống cây trồng là một bộ phận nằm trong quyền sở hữu công nghiệp Trong khi đó theo WIPO, Quyền sở hữu trí tuệ thường được chia thành hai phần Phần đầu tiên là sở hữu công nghiệp trong đó bao gồm các quyền liên quan tới kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, bằng sáng chế và bí mật thương mại Phần thứ hai là bản quyền mà có thể nói để bảo vệ tác phẩm nghệ thuật và văn học, cũng như các quyền của người biểu diễn và tổ chức phát sóng (WIPO, 2004)

1.1.2 Các Điều ước quốc tế và Văn bản luật Việt Nam về sở hữu trí tuệ

WTO có Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS)

WIPO có “Công ước thành lập Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (Công ước Stockholm)”, “Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp, Hiệp ước hợp tác sáng chế (PCT)”, “Hiệp ước Budapest về sự công nhận quốc tế đối với việc nộp lưu chủng

vi sinh nhằm tiến hành các thủ tục về patent”, “Hiệp ước Washington về sở hữu trí tuệ đối với mạch tích hợp”, “Thỏa ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hóa, “Nghị định thư liên quan đến Thỏa ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hóa”, “Hiệp ước Luật nhãn hiệu hàng hóa”, “Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học nghệ thuật”, “Công ước Rome về bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi

âm và tổ chức phát song”, “Thỏa ước La Hay về Đăng ký quốc tế kiểu dáng công nghiệp”, “Hiệp định Lisbon về Bảo hộ tên gọi xuất xứ và Đăng ký quốc tế tên gọi xuất xứ”, “Thỏa ước Nicevề phân loại quốc tế hàng hóa và dịch vụ dùng để đăng ký nhãn hiệu”, “Thỏa ước Vienna về phân loại quốc tế các yếu tố hình của nhãn hiệu”, “Thỏa ước Locarno về phân loại quốc tế cho kiểu dáng công nghiệp”, “Thỏa ước

Trang 5

Strasbourg về phân loại sáng chế quốc tế”, “Công ước quốc tế về bảo hộ giống cây trồng mới”

ASEAN có “Hiệp định khung ASEAN về hợp tác sở hữu trí tuệ”, “ASEAN Economic Community Blueprint”, “ASEAN-Japan Comprehensive Economic Partnership Agreement, ASEAN - Australia - New Zealand Free Trade Agreement”

Các hiệp định song phương mà Việt Nam đã kí kết “Hiệp định song phương Việt – Mỹ (BTA)”, “Hiệp định hợp tác khoa học và công nghệ giữa Việt Nam và Mỹ” (phần sở hữu trí tuệ), “Hiệp định Việt Nam – Thụy Sỹ về bảo hộ sở hữu trí tuệ

và hợp tác trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ”, “Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản” (phần sở hữu trí tuệ)

Việt Nam có các văn bản luật “Luật sở hữu trí tuệ năm 2005”, “Luật chuyển giao công nghệ năm 2006”, “Luật khoa học và công nghệ năm 2000”, “Luật xuất bản năm 2004”, “Luật công nghệ thông tin năm 2006”, và các văn bản hướng dẫn, văn bản dưới luật

1.1.3 Quyền của chủ thể đối với tài sản trí tuệ

Quyền của chủ thể đối với tài sản trí tuệ bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản

Điều 25, Luật dân sự 2005 định nghĩa về quyền nhân thân là

“Quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”

Trong sở hữu trí tuệ, quyền nhân thân thuộc về người tạo ra sản phẩm trí tuệ, bao gồm quyền được công bố sản phẩm, quyền được đứng tên tác giả trong các văn bằng bảo hộ của Nhà nước

Điều 181, Luật dân sự 2005 định nghĩa về quyền tài sản

Trang 6

“Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ”.

Quyền tài sản trong sở hữu trí tuệ là quyền của chủ sở hữu trong việc sử dụng và cho phép người khác sử dụng các đối tượng tài sản trí tuệ do mình sở hữu hoặc chuyển quyền sở hữu cho tổ chức, cá nhân khác

Chủ thể sở hữu Quyền nhân thân và quyền tài sản là hai khái niệm độc lập nhau Quyền nhân thân luôn thuộc về người đã sáng tạo ra sản phẩm trí tuệ và không thể chuyển nhượng Trong khi đó quyền tài sản có thể thuộc hoặc không thuộc về người tạo ra sản phẩm trí tuệ và có thể chuyển nhượng Đối với trường hợp một tổ chức, cá nhân thuê một tổ chức, cá nhân khác tạo ra sản phẩm trí tuệ thì tổ chức, cá nhân đó có quyền tài sản đối với sản phẩm; tổ chức, cá nhân tạo ra sản phẩm chỉ có quyền nhân thân đối với sản phẩm do mình tạo ra mà không có quyền tài sản

1.1.4 Đặc điểm của quyền sở hữu trí tuệ

Quyền sở hữu trí tuệ có năm đặc điểm chính, bao gồm:

Thứ nhất, các quy định của luật pháp về quyền sở hữu tài sản trí tuệ ra đời rất

muộn so với quyền sở hữu tài sản hữu hình mặc dù các hoạt động sản suất của cải vật chất hữu hình và các sản phẩm trí tuệ vô hình diễn ra đồng thời với nhau Trong lao động, luôn có các phát minh, giải pháp để cải thiện năng suất lao động và nâng cao chất lượng cuộc sống Tuy nhiên, mãi tới năm 1474 mới có đạo luật đầu tiên về các văn bằng phát minh Đó là đạo luật của thành phố tự trị Venedig cấp cho những nhà phát minh ra những sản phẩm mới, có tính sáng tạo, họ được khai thác thương mại các sản phẩm đó trong 10 năm Do đó có thể nhận thấy hệ thống các văn bản pháp luật về sở hữu trí tuệ vẫn còn nhiều thiếu sót so với sở hữu các tài sản hữu hình

Các quy định chung của quốc tế về sở hữu trí tuệ cũng chưa hoàn thiện do sự phát triển không đồng đều về kinh tế giữa các khu vực, dẫn tới xung đột về quyền lợi Các quốc gia phát triển có điều kiện tốt hơn các quốc gia đang và kém phát triển để

Trang 7

thi hành luật sở hữu trí tuệ Các quốc gia phát triển sẽ được nhiều lợi ích từ kinh tế lẫn chính trị từ các sáng chế nên họ ủng hộ sở hữu trí tuệ Trong khi đó nếu áp dụng luật sở hữu trí tuệ ở tất các quốc gia sẽ khiến các nước đang và kém phát triển khó tiếp cận với các công nghệ kĩ thuật mới, dẫn tới sự chênh lệch phát triển giữa các nước ngày càng lớn

Thứ hai, quyền sở hữu trí tuệ là một quyền đặc biệt vì khách thể của quyền

này không mang tính hữu hình mà là một sản phẩm vô hình, phi vật chất được tạo ra bởi quá trình sáng tạo Các sản phẩm phi vật chất này sẽ được vật chất hóa khi áp dụng vào quá trình sản xuất vật chất

Thứ ba, quyền sở hữu trí tuệ không mang tính tuyệt đối, không mang tính vô

thời hạn Sau một khoảng thời gian (tùy thuộc theo quy định của luật pháp từng nước, từng đối tượng) quyền sở hữu trí tuệ sẽ hết hiệu lực Lúc đó các sản phẩm này

sẽ là tài sản chung của xã hội, mang lại lợi ích phục vụ chung cho cả cộng đồng Sản phẩm trí tuệ là là một sản phẩm vô hình Do đó khi một tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng nó sẽ không ảnh hưởng tới việc khai thác, sự dụng của các tổ chức cá nhân khác Các sản phẩm trí tuệ được sử dụng càng rộng rãi thì phúc lợi mang lại cho xã hội càng cao Poslter cho rằng “Vấn đề quan trọng [của hệ thống của luật sở hữu trí tuệ] là một sự cân bằng: đủ bảo vệ để duy trì động lực cho sáng tạo, nhưng không bảo vệ quá nhiều để cho phép tối đa hóa lợi ích xã hội”3 (Polster 2001, 85)

Thứ tư, quyền sở hữu trí tuệ ngày càng quan trọng Các cải tiến kĩ thuật, công

nghệ mới đã đóng góp những thay đổi đáng kể trong sự phát triển của nền kinh tế, tạo

ra những bước phát triển Việc sở hữu các tài sản trí tuệ sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh cho các công ty trong quá trình hình thành, phát triển và cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường Ngoài ra mức sống của xã hội được nâng cao hơn theo từng năm cũng là hệ quả của việc phát triển các sản phẩm trí tuệ Theo mô Robert Solow, “tiến bộ công

3“The essential problem [of IP systems] is to strike a balance: enough protection to sustain incentive to the innovator, but not too much protection to allow for the maximization of the social good”

Trang 8

nghệ là nguồn duy nhất tạo ra sự tăng trưởng bền vững của mức sống theo thời gian” Qua đó có thể thấy việc phát triển các sản phẩm trí tuệ sẽ quyết định sự phát triển của kinh tế, xã hội

Thứ năm, quyền sở hữu trí tuệ có thể bị xâm phạm dễ dàng Những sản phẩm

sáng tạo sau khi được công khai sẽ rất dễ bị bắt chước theo Điều này dẫn tới sự tổn thất cho những cá nhân, tổ chức đã đầu tư vốn tài chính và thời gian để nghiên cứu tìm

ra các sản phẩm trí tuệ, tạo ra sự bất công khiến họ không còn động lực để tiếp tục khi sản phẩm của mình bị xâm phạm một cách bất hợp pháp Ngoài ra hệ thống luật pháp quốc tế vẫn chưa có một sự thống nhất hoàn hảo về các quy định sở hữu trí tuệ Bằng sáng chế chỉ có giá trị ở một quốc gia hoặc một nhóm các quốc gia có kí kết các hiệp ước về sở hữu trí tuệ dẫn tới việc xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trở nên rất phức tạp, mang tính xuyên quốc gia, khiến cho việc xử lí gặp nhiều khó khăn

1.2 Các vấn đề cơ bản về quyền sở hữu công nghiệp

1.2.1 Đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp

Quyền sở hữu công nghiệp được định nghĩa trong Luật sở hữu trí tuệ 2005 như sau

“Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh

do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh”

Cũng trong Điều 4, Luật Sở hữu trí tuệ, đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp lần lượt được định nghĩa:

Trang 9

“Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên.

Kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sản phẩm được thể hiện bằng hình khối, đường nét, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố này.

Mạch tích hợp bán dẫn là sản phẩm dưới dạng thành phẩm hoặc bán thành phẩm, trong đó các phần tử với ít nhất một phần tử tích cực và một số hoặc tất cả các mối liên kết được gắn liền bên trong hoặc bên trên tấm vật liệu bán dẫn nhằm thực hiện chức năng điện tử Mạch tích hợp đồng nghĩa với IC, chip và mạch vi điện tử.

Thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn (sau đây gọi là thiết kế

bố trí) là cấu trúc không gian của các phần tử mạch và mối liên kết các phần tử đó trong mạch tích hợp bán dẫn.

Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau.

Tên thương mại là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi

đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh Khu vực kinh doanh quy định tại khoản này là khu vực địa lý nơi chủ thể kinh doanh có bạn hàng, khách hàng hoặc có danh tiếng.

Chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể.

Trang 10

Bí mật kinh doanh là thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ, chưa được bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh doanh.”

1.2.2 Đặc trưng của quyền sở hữu công nghiệp

Quyền sở hữu công nghiệp là một phần của quyền sở hữu trí tuệ nó cũng mang các đặc trưng của quyền sở hữu trí tuệ đã nêu ở phần trước Ngoài ra quyền

sở hữu còn có các đặc trưng sau

Thứ nhất, bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp là bảo hộ về nội dung, khác với

quyền tác giả là bảo hộ về mặt hình thức

Thứ hai, quyền sở hữu công nghiệp phải do cơ quan có thẩm quyền của nhà

nước cấp Điều này khác với quyền tác giả (được phát sinh ngay khi tác phẩm ra đời)

Thứ ba, hầu hết các đối tượng được bảo hộ với giới hạn về không gian và

thời gian Tuy nhiên quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý có hiệu lực vô hạn Thời hạn của văn bằng bảo hộ Quyền sở hữu công nghiệp được duy trì trong một thời hạn nhất định (Điều 94 - Luật Sở hữu trí tuệ) hết thời hạn đó thì tư cách chủ sở hữu của quyền sở hữu công nghiệp sẽ chấm dứt Muốn tiếp tục quyền sở hữu công nghiệp sẽ phải làm thủ tục gia hạn và chịu mức lệ phí do Chính phủ quy định

Ngoài ra quyền sở hữu công nghiệp còn có các đặc trưng mang tính thương mại dưới đây

Thứ nhất, các đối tượng sở hữu công nghiệp là một trong những yếu tố cấu

thành hàng hoá, dịch vụ Quyền sở công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu Do đó ta nhận thấy các đối tượng trên đều mang tính chất hàng hóa, phục vụ quá trình kinh doanh để tạo ra lợi nhuận

Ngày đăng: 13/05/2020, 19:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w