Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là: "Sự thoả thuận ý chí giữa các thương nhân có trụ sở kinh doanh đặt ở các quốc gia khác nhau, theo đó một
Trang 1MỤC LỤC
1.1 Các khái niệm chung 1
1.1.1 Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 1
1.1.1.1 Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 1
1.1.1.2 Kết cấu của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 7
1.1.2 Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 9
1.2 Các loại hình tranh chấp phát sinh từ hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 11
1.2.1 Tranh chấp liên quan đến tính pháp lý của hợp đồng 11
1.2.1.1 Tranh chấp liên quan đến chủ thể ký hợp đồng 11
1.2.1.2 Tranh chấp về hình thức của hợp đồng 13
1.2.1.3 Tranh chấp về nội dung của hợp đồng 13
1.2.2 Tranh chấp liên quan đến việc thực hiện hợp đồng 15
1.2.2.1 Tranh chấp liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người bán 15
1.2.2.2 Tranh chấp liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người mua 16
1.3 Giải quyết tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế bằng trọng tài 18
1.3.1 Khái niệm giải quyết tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế bằng trọng tài 18
1.3.2 Các hình thức trọng tài 20
Trang 21.1 Các khái niệm chung
1.1.1 Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
1.1.1.1 Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là: "Sự thoả thuận ý chí giữa các thương nhân có trụ sở kinh doanh đặt ở các quốc gia khác nhau, theo đó một bên gọi là Bên xuất khẩu có nghĩa vụ giao hàng và chuyển quyền sở hữu hàng hoá cho một bên khác gọi là Bên nhập khẩu và nhận thanh toán; và Bên nhập khẩu có nghĩa
vụ thanh toán cho Bên xuất khẩu, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận.” 1
Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là hợp đồng song vụ: mỗi bên ký kết hợpđồng đều có nghĩa vụ đối với nhau Bên xuất khẩu có nghĩa vụ giao hàng cho Bênnhập khẩu còn Bên nhập khẩu có nghĩa vụ thanh toán cho Bên xuất khẩu
Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là hợp đồng có tính đền bù: bên có nghĩa
vụ thì cũng có quyền lợi và ngược lại Bên nhập khẩu được hưởng quyền lợi nhậnhàng và đổi lại phải có nghĩa vụ trả tiền cân xứng với giá trị đã được giao Ngượclại, Bên xuất khẩu nhận được tiền phải có nghĩa vụ giao hàng
Theo pháp luật Việt Nam:“Mua bán hàng hóa quốc tế được thực hiện dưới cáchình thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyểnkhẩu Mua bán hàng hóa quốc tế phải được thực hiện trên cơ sở hợp đồng bằng vănbản hoặc hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương” 2
Mua bán hàng hóa quốc tế là một quá trình phức tạp, đòi hỏi những quy địnhthống nhất và chặt chẽ để hai bên đối tác thuận lợi trong việc tiến hành mua bán Vìvậy hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế ra đời
Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế hay còn gọi là hợp đồng mua bán ngoạithương hoặc hợp đồng xuất nhập khẩu có những đặc điểm như sau:
Trước hết hợp đồng mua bán quốc tế mang những đặc điểm của hợp đồng muabán trong nước:
1 Giáo trình “Giao dịch thương mại quốc tế” xuất bản năm 2002
2 Điều 27 Luật thương mại Việt Nam năm 2005
Trang 3- “Là sự thỏa thuận giữa người bán và người mua, trong đó người bán
có nghĩa vụ chuyển sang cho người mua quyền sở hữu một tài sản nhất định, gọi là hàng hóa – đối tượng của hợp đồng, còn người mua có nghĩa vụ nhận hàng và trả một số tiền ngang bằng giá trị của hàng hóa”.
- “Là sự thỏa thuận giữa ít nhất hai bên Sự thỏa thuận này có thể bằng miệng hoặc bằng văn bản”.
- “Chủ thể của hợp đồng là người bán và người mua Người bán và người mua có thể là thể nhân, pháp nhân, hoặc Nhà nước”.
- “Nội dung của hợp đồng là toàn bộ nghĩa vụ của các bên xung quanh việc chuyển giao quyền sở hữu về hàng hóa từ người bán sang người mua và việc làm thế nào để người bán lấy được tiền và người mua nhận được hàng”.
- “Về mặt pháp lý, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cũng là hợp đồng song vụ, có tính bồi hoàn và là hợp đồng ước hẹn”.
So với hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước và theo Điều 1 Công ướcLahaye năm 1964 về mua bán quốc tế, những động sản hữu hình, đặc điểm của tínhquốc tế gồm có:
- Bản chất của hợp đồng:”Là sự thoả thuận ý chí của các Bên ký kết Đây là đặc trưng rất cơ bản của hợp đồng nói chung và hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế nói riêng”.
- Chủ thể của hợp đồng, Bên xuất khẩu và Bên nhập khẩu:“Là các thương nhân có trụ sở kinh doanh đặt tại các quốc gia khác nhau Nếu các bên không có trụ sở kinh doanh thì sẽ dựa vào nơi cư trú của họ, còn quốc tịch của cá nhân người đại diện của các bên không có ý nghĩa trong việc xác định yếu tố quốc tế của hợp đồng Hai người trực tiếp ký vào hợp đồng có thể đều mang quốc tịch Việt Nam, nhưng họ đại diện cho các bên có trụ sở kinh doanh đặt tại các quốc gia khác nhau thì hợp đồng ký kết giữa các bên này vẫn là hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế".
- Đối tượng của hợp đồng:“Là hàng hoá di chuyển qua biên giới hải quan của một nước Biên giới hải quan được hiểu là tập hợp các cửa khẩu,
Trang 4các văn phòng hải quan nơi mà hàng hoá phải được tiến hành các thủ tục hải quan xuất nhập khẩu theo các quy chế quản lý hàng hoá xuất nhập khẩu của Chính phủ các nước Luật thương mại Việt Nam năm 2005 khẳng định đặc điểm này khi định nghĩa: “1 Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa
ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật 2 Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật” 3
- Đồng tiền tính giá hoặc thanh toán:”Không còn là đồng nội tệ của một quốc gia mà là ngoại tệ đối với ít nhất một bên ký kết Phương thức thanh toán thông qua hệ thống ngân hang”
- Nguồn luật điều chỉnh hợp đồng đa dạng và phức tạp:”Không chỉ là luật quốc gia mà còn gồm cả điều ước quốc tế về thương mại, luật nước ngoài cũng như tập quán thương mại quốc tế”
- Cơ quan giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng:”Là toà án hay trọng tài thương mại có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại là cơ quan nước ngoài đối với ít nhất một trong các chủ thể”.
Theo Điều 1 Công ước Viên năm 1980 của Liên hợp quốc về Hợp đồng muabán hàng hóa quốc tế, tiêu chuẩn xác định tính quốc tế của hợp đồng mua bán hànghóa quốc tế chỉ là: Các bên ký kết hợp đồng có trụ sở thương mại đặt ở các nướckhác nhau và Công ước Viên cũng không quan tâm tới vấn đề quốc tịch của các bêntham gia hợp đồng
Theo quan điểm của Việt Nam, trong thời kỳ bao cấp, hợp đồng mua bán hànghóa quốc tế được xác định trong quy chế tạm thời số 4794/TN-XNK ngày31/7/1991 của Bộ Thương nghiệp (nay là Bộ Công Thương) dựa vào ba tiêu chuẩn:
- Chủ thể của hợp đồng mua bán ngoại thương là các bên có quốc tịchkhác nhau
3Điều 28, Luật thương mại năm 2005
Trang 5- Hàng hóa là đối tượng của hợp đồng thông thường được di chuyển từnước này sang nước khác.
- Đồng tiền thanh toán trong hợp đồng mua bán ngoại thương là ngoại
tệ đối với một hoặc hai bên ký hợp đồng.
Trong giai đoạn tiếp theo, tính quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế của Việt Nam được quy định tại Luật Thương mại Việt Nam 1997 Luật Thương
mại Việt Nam 1997 đưa ra một khái niệm mới: “Hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài là hợp đồng mua bán hàng hóa được ký kết giữa một bên
là thương nhân nước ngoài với một bên là thương nhân Việt Nam” Còn tính quốc
tế của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo luật này được xác định dựa trên dấuhiệu quốc tịch của thương nhân4
Trong quá trình thay đổi của cơ chế thị trường, Việt Nam đã và đang tích cựcchủ động hội nhập kinh tế quốc tế Chính phủ Việt Nam đang nghiên cứu để tiến tớiviệc gia nhập hoặc thừa nhận các điều ước quốc tế đa phương, trong đó có các điềuước về thương mại như Công ước Viên 1980 nhằm tạo môi trường pháp lý thuận lợicho các doanh nghiệp Việt Nam trong mua bán hàng hóa quốc tế Bên cạnh đó,pháp luật trong nước cũng có những thay đổi đáng kể Luật Thương mại Việt Nam
2005 (có hiệu lực từ 1/1/2005) quy định: Mua bán hàng hóa quốc tế được thực hiệndưới các hình thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập vàchuyển khẩu5:
Xuất khẩu hàng hoá:”Là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật” 6
Nhập khẩu hàng hoá:”Là việc hàng hoá được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi
là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật” 7
4 Điều 80 Luật Thương mại Việt Nam năm 1997
5 Điều 27 khoản 1 Luật Thương mại Việt Nam năm 2005
6 Điều 28 khoản 1 Luật Thương mại Việt Nam năm 2005
7 Điều 28 khoản 2 Luật Thương mại Việt Nam năm 2005
Trang 6Tạm nhập, tái xuất hàng hoá:”Là việc hàng hoá được đưa từ lãnh thổ nước ngoài hoặc từ các khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật Việt Nam, có làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và làm thủ tục xuất khẩu chính hàng hoá đó ra khỏi Việt Nam” 8
Tạm xuất, tái nhập hàng hoá:”Là việc hàng hoá được đưa ra nước ngoài hoặc đưa vào các khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật, có làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam và làm thủ tục nhập khẩu lại chính hàng hoá đó vào Việt Nam” 9
Chuyển khẩu hàng hoá:”Là việc mua hàng từ một nước, vùng lãnh thổ để bán sang một nước, vùng lãnh thổ ngoài lãnh thổ Việt Nam mà không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam” 10
Ngoài ra, tính quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế còn được thếhiện ở: Ngôn ngữ của hợp đồng, đồng tiền thanh toán được quy định trong hợpđồng và luật áp dụng đối với hợp đồng
Tổng hợp lại các khái niệm đã phân tích ở trên, có thể hiểu tổng quát hợp đồngmua bán hàng hóa quốc tế với những đặc điểm như sau:
- Về chủ thể: “Trụ sở kinh doanh của hai bên mua bán phải đặt ở hai
quốc gia khác nhau, phải có năng lực pháp lý, cụ thể theo luật pháp quy định tại Việt Nam”.
- Về đối tượng của hợp đồng: “Hàng hóa (hay dịch vụ) phải được
chuyển giao từ một nước qua khỏi biên giới nước đó đến một nước khác”.
- Về đồng tiền thanh toán: “Tiền tệ dùng để thanh toán thường là nội
tệ hoặc có thể là ngoại tệ đối với các bên Trừ trường hợp đồng tiền thanh toán đều là nội tệ của cả hai bên, như trường hợp các doanh nghiệp thuộc các nước trong cộng đồng châu Âu sử dụng đồng euro làm đồng tiền chung”.
8 Điều 29 khoản 1 Luật Thương mại Việt Nam năm 2005
9 Điều 29 khoản 2 Luật Thương mại Việt Nam năm 2005
10 Điều 30 khoản 1 Luật Thương mại Việt Nam năm 2005
Trang 7- Về ngôn ngữ của hợp đồng: “Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
thường được ký kết bằng tiếng nước ngoài đối với ít nhất một bên Trừ trường hợp hai quốc gia cùng sử dụng một ngôn ngữ như Mỹ và Anh đều sử dụng tiếng Anh”.
- Về cơ quan giải quyết tranh chấp: “Tranh chấp phát sinh từ việc
giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có thể là toà án hoặc trọng tài nước ngoài”.
- Về luật điều chỉnh hợp đồng (luật áp dụng cho hợp đồng):“Luật áp
dụng cho hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế mang tính chất đa dạng và phức tạp Điều này có nghĩa là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có thể phải chịu sự điều chỉnh không phải chỉ của luật pháp nước đó mà cả của luật nước ngoài (luật nước người bán, luật nước người mua hoặc luật của bất kỳ một nước thứ ba nào), thậm chí phải chịu sự điều chỉnh của điều ước quốc tế, tập quán thương mại quốc tế hoặc cả án lệ (tiền lệ pháp) để điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế”.
Nội dung của hợp đồng nói chung là các điều khoản do các bên thỏa thuận, thểhiện quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp đồng Nội dung của hợpđồng mua bán hàng hóa là các điều khoản do các bên thỏa thuận, thể hiện quyền vànghĩa vụ của bên bán và bên mua trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa
Hợp đồng bắt buộc phải bao gồm những nội dung chủ yếu nào là tùy thuộcvào quy định của pháp luật từng quốc gia Việc pháp luật quy định nội dung củahợp đồng mua bán có ý nghĩa hướng các bên tập trung vào thỏa thuận các nội dungquan trọng của hợp đồng, tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện và phòng ngừa cáctranh chấp có thể xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng Luật Thương mại ViệtNam không quy định hợp đồng mua bán hàng hóa phải bao gồm nội dung bắt buộcnào Tuy nhiên, ta có thể thấy rằng, một hợp đồng mua bán hàng hóa thông thườngphải chứa đựng sự thỏa thuận về đối tượng, chất lượng, giá cả, phương thức thanhtoán, thời hạn và địa điểm nhận giao hàng
Trong quan hệ mua bán hàng hóa, các bên không chỉ bị ràng buộc bởi nhữngđiều khoản đã thỏa thuận với nhau mà còn chịu sự ràng buộc bởi những quy định
Trang 8của pháp luật, tức là những điều khoản pháp luật có quy định nhưng các bên khôngthỏa thuận trong hợp đồng.
1.1.1.2 Kết cấu của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Tuỳ vào thực tiễn giao dịch giữa các bên và đối tượng của hợp đồng mà mỗimột hợp đồng sẽ được soạn thảo với những nội dung cụ thể khác nhau Tuy nhiên,
về cơ bản, mỗi hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế đều có những nội dung chủ yếunhư sau:
- Các bên ký kết hợp đồng: Trong phần này, các bên sẽ ghi rõ tên củacác bên ký kết, địa chỉ, số tel, số fax, địa chỉ email, số tài khoản và tên ngânhàng, người đại diện ký kết hợp đồng
- Những định nghĩa dùng trong hợp đồng Những định nghĩa này có thểrất nhiều, ví dụ "hàng hóa" có nghĩa là , "Thiết kế" có nghĩa là Chí ít người
ta cũng đưa ra định nghĩa sau đây:
Trang 9Công ty ABC, địa chỉ , số điện thoại , đại diện bởi Ông dưới đây gọi
là Bên bán (ABC company, address , Tel represented by Mr .hereinafterreferred to as the Seller)
- Cơ sở pháp lý để ký kết hợp đồng Đây có thể là hiệp định ký kết giữacác Chính phủ, cũng có thể là Nghị định thư ký kết giữa các Bộ thuộc cácquốc gia khác nhau Chí ít, người ta cũng nêu ra sự tự nguyện của các bên khi
ký kết hợp đồng Ví dụ:
Các bên đã cùng nhau thỏa thuận rằng Bên bán cam kết bán và Bênmua cam kết mua những hàng hoá dưới đây theo các điều khoản và điều kiệnsau (It has been mutually agreed that the Seller commits to sell and the Buyercommits to buy the undermentioned goods on the following terms andconditions)
Phần các điều khoản bắt buộc của hợp đồng:
- Các điều khoản về hàng hóa: Tên hàng (Commodity); số lượng(Quantity); phẩm chất (Quality); bao bì đóng gói, ký mã hiệu (Packing andMaking); bảo hành, trách nhiệm đối với khiếm khuyết (Warranty, Guarantee/Defect Liability);…
- Các điều khoản tài chính: Giá cả (Price), phương thức thanh toán(Terms of Payment);…
- Các điều khoản vận tải, giao nhận: Phương thức giao nhận (Delivery);nghiệm thu (Commisioning); bảo hiểm (Insurance);…
- Các điều khoản pháp lý: Luật áp dụng (Applicable Law); bất khảkháng (Force Majeure); khiếu nại (Claim); trọng tài (Arbitration); trách nhiệm
do vi phạm (Penalties, Liquid Damages);…
Đây là phần quan trọng nhất của một hợp đồng mua bán hàng hóa Các bênthường sẽ phải dành nhiều thời gian và công sức nhiều nhất cho phần này khi đàmphán, thỏa thuận và ký kết hợp đồng
Trang 10Phần các điều khoản tùy ý của hợp đồng:
- Ngôn ngữ của hợp đồng (Language)
- Hiệu lực của hợp đồng (Coming into Force)
- Những quy định liên quan đến sửa đổi, bổ sung hợp đồng(Modification/ Amendment)
- Số bản hợp đồng và số lượng hợp đồng giữ lại của mỗi bên
- Chữ ký có thẩm quyền của các bên ký kết (For and On behalf of)
1.1.2 Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Tranh chấp, theo Từ điển Tiếng Việt năm 2004 của Viện Ngôn ngữ
học, được hiểu là “đấu tranh giằng co nhau khi có ý kiến bất đồng, thường là trong vấn đề quyền lợi giữa hai bên”
Trong đời sống có rất nhiều loại tranh chấp xảy ra hàng ngày như tranh chấp
về quyền thừa kế, tranh chấp về lợi ích các thành viên trong công ty, tranh chấp vềquyền sử dụng đất đai… Trong lĩnh vực kinh tế thì có tranh chấp kinh doanh,thương mại Tranh chấp phát sinh từ việc kinh doanh, thương mại là tranh chấp giữa
cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và phải có mục đích vì lợi nhuận.Yếu tố quan trọng để phân biệt tranh chấp trong kinh tế với các tranh chấp kháctrong đời sống chính là yếu tố lợi nhuận Vì đây là lợi ích cốt lõi mà các chủ thể
Trang 11kinh doanh mong muốn đạt được Các yếu tố khác như uy tín, danh tiếng… cũngđược gây dựng nhằm mục đích thu về lợi nhuận
Việc buôn bán, giao thương hiện nay không còn bó hẹp trong phạm vi của mỗiquốc gia mà đã mở rộng phạm vi ra toàn thế giới Vì thế các vụ tranh chấp liên quanđến thương mại xuất hiện ngày càng nhiều trên phạm vi quốc tế Tranh chấp thươngmại quốc tế là một loại tranh chấp quốc tế, là những mâu thuẫn, xung đột và tranhgiành giữa các bên phát sinh từ hoặc có liên quan đến các hoạt động thương mại11.Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là một loại tranhchấp thương mại Trong đó, các bên tranh chấp là các doanh nghiệp ở các nướckhác nhau, nội dung tranh chấp liên quan đến việc ký kết và thực hiện hợp đồngmua bán hàng hóa quốc tế Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng mua bán hàng hóaquốc tế gồm những đặc điểm:
-“Giữa các bên tranh chấp có mối quan hệ mua bán hàng hóa quốc tế”;
-“Có “yếu tố nước ngoài” trong quan hệ hợp đồng giữa các bên tranh chấp”;
-“Có sự mâu thuẫn, tranh giành quyền lợi giữa các bên tranh chấp về những lợi ích cụ thể phát sinh từ quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế”.
Mua bán hàng hóa quốc tế là một quá trình phức tạp, liên quan đến nhiều quốcgia, nhiều chủ thể ở những nước có ngôn ngữ, tập quán, luật pháp… khác nhau, dẫnđến sự khác biệt rất lớn trong cách thực hiện hợp đồng nên dễ dẫn đến mâu thuẫn vềquyền lợi Vì vậy, tranh chấp phát sinh là điều khó tránh khỏi
11 Nguyễn Thị Mơ (2006), “Nhận dạng các loại hình tranh chấp thương mại”, Tạp chí Kinh tế đối ngoại, (16).
Trang 121.2.Các loại hình tranh chấp phát sinh từ hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
1.2.1 Tranh chấp liên quan đến tính pháp lý của hợp đồng
1.2.1.1 Tranh chấp liên quan đến chủ thể ký hợp đồng
Vấn đề tính hợp pháp của chủ thể ký hợp đồng là một vấn đề rất quan trọng
Nó ảnh hưởng trực tiếp tới quyền lợi của các bên tham gia Một hợp đồng muốn cóhiệu lực, trước tiên, chủ thể của hợp đồng phải hợp pháp Nếu không có điều kiệnnày, khi xảy ra tranh chấp, người bị thiệt hại sẽ không thể yêu cầu người có lỗi bồithường cho mình Vì lúc đó, căn cứ xác định trách nhiệm, nghĩa vụ của các bên làbản hợp đồng đã không còn giá trị
Đối với chủ thể hợp đồng là cá nhân Cá nhân đó phải có năng lực pháp lý vànăng lực hành vi Năng lực hành vi của cá nhân về nguyên tắc chung, do luật củaquốc gia người đó mang quốc tịch quy định
Về năng lực pháp lý, theo khoản 1 điều 14 và khoản 3 điều 15, Bộ luật
Dân sự Việt Nam 2005: “Năng lực pháp lý (năng lực pháp luật dân sự) của cá nhân là khả năng có quyền và nghĩa vụ dân sự, trong đó có quyền tham gia quan hệ dân sự và có nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ đó”
Giao kết hợp đồng là một trong những quan hệ dân sự đó Năng lực pháp luậtdân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết12.Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân không bị hạn chế, trừ trường hợp do phápluật quy định13 Như vậy, để xác định một cá nhân có đủ năng lực pháp lý haykhông thì cần tìm hiểu xem người này có bị hạn chế năng lực pháp lý hay không.Đối với chủ thể hợp đồng là pháp nhân Tương tự như trên, muốn xem xét một
tổ chức nào đó ký kết hợp đồng có đủ điều kiện giao kết hợp đồng không, cần xem
tổ chức đó có đủ tư cách pháp nhân hay không Trước tiên phải tìm hiểu tổ chức đómang quốc tịch của nước nào, sau đó xác định xem theo luật của nước đó, tổ chứcnày có được công nhận là pháp nhân hay không Theo điều 84 Bộ luật Dân sự ViệtNam, tổ chức được thừa nhận là pháp nhân khi có đủ 4 điều kiện sau:
12 Điều 4 khoản 3Bộ luật Dân sự Việt Nam 2005
13 Điều 16 Bộ luật Dân sự Việt Nam 2005