Khái niệm về đô-la hóa: Hiện nay, trên thế giới có nhiều định nghĩa khác nhau về đô-la hóa; trong đó,phổ biến và được sử dụng nhiều nhất là một số định nghĩa sau đây: “Đô la hóa là quá t
Trang 1MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ iv
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐÔ-LA HÓA 1
1.1 Khái niệm về đô-la hóa: 1
1.2 Phân loại đô-la hóa: 2
1.2.1 Dựa vào trạng thái của việc sử dụng ngoại tệ: 2
1.2.2 Căn cứ vào hình thức: 4
1.3 Nguyên nhân của tình trạng đô-la hóa: 5
1.4 Tác động của tình trạng đô-la hóa: 9
1.4.1 Những tác động tích cực: 9
1.4.2 Những tác động tiêu cực: 12
Danh mục tài liệu tham khảo 17
Trang 2DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Tên tiếng Anh Tên tiếng Việt
FCDs Foreign currency deposits Tiền gửi ngoại tệ
Committee
Ủy ban thị trường mở Liên bang
IMF International Monetary Fund Quỹ tiền tệ quốc tế
NBC National Bank of Cambodia Ngân hàng quốc gia Campuchia
SIBOR Singapore Interbank Offered
Rate Lãi suất liên ngân hàng Singapore
Trang 3DANH MỤC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ
Hình 1: Doanh thu từ thị trường tỷ giá hối đoái từ một số đồng tiền 7Hình 2: Lạm phát ở Ecuador và Mỹ giai đoạn 1990 – 2009 10Hình 3: Đối tác thương mại của khu vực Mỹ - Latinh 12
Trang 4CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐÔ-LA HÓA
1.1 Khái niệm về đô-la hóa:
Hiện nay, trên thế giới có nhiều định nghĩa khác nhau về đô-la hóa; trong đó,phổ biến và được sử dụng nhiều nhất là một số định nghĩa sau đây:
“Đô la hóa là quá trình thay thế bằng ngoại tệ đối với một đồng nội tệ
để thực hiện các chức năng cần thiết của tiền như một phương tiện trao đổi hoặc một phương tiện cất trữ có giá trị Đô la hóa là chính thức, khi một quốc gia thông qua hợp pháp, đồng tiền của một quốc gia nước ngoài để hoàn toàn thay thế đồng nội tệ của mình Ngoại tệ
do đó trở thành phương tiện giao dịch, lưu giữ giá trị và đơn vị tính toán”.
(L Feige, 2002)
“Đô-la hóa là hiện tượng nắm giữ tài sản bằng ngoại tệ bởi chính các công dân của nước bản địa, đang được lan rộng ở những nền kinh tế đang chuyển đổi và phát triển, nơi xảy ra quá trình lạm phát cao”.
(Goujon, 2006)
“Đô-la hoá là quá trình một nước bỏ hoàn toàn đồng nội tệ và sử dụng đồng tiền của một nước có tính ổn định hơn làm phương tiện thanh toán hợp pháp Mặc dù khái niệm này được gắn liền với đồng đô-la Mỹ (USD), nhưng việc chuyển đổi một đồng nội tệ ra bất kỳ đồng ngoại tệ nào có tính ổn định (ví dụ: đồng Euro, Yên Nhật…) đều được gọi là đô-la hoá”.
(Tyler Moroney, 2010)
Một cuộc khảo sát của IMF dựa trên dữ liệu của các khoản tiền gửi bằng ngoại
tệ đã phân loại các quốc gia có nền kinh tế bị “đô-la hóa cao” Có nghĩa là cáckhoản tiền gửi ngoại tệ vượt quá 30% trong tổng khối lượng tiền tệ cung ứng M2bao gồm: tiền mặt trong lưu thông, tiền gửi không kì hạn và tiền gửi ngoại tệ Bêncạnh đó IMF còn phân loại các nước “vừa bị đô-la hóa”, đó là những nước có cáckhoản tiền gửi ngoại tệ trung bình 16,4% trong tổng khối lượng tiền tệ cung ứng mởrộng (Schuler, 2000)
Trang 5Xét trên cả ba góc độ: việc sử dụng ngoại tệ trong xã hội, tỷ trọng tiền gửi và
tỷ trọng dư nợ cho vay bằng đồng ngoại tệ trong cơ cấu nguồn vốn huy động và dư
nợ của hệ thống NHTM, có thể nhận thấy rằng khá nhiều nền kinh tế đang trongtình trạng đô-la hóa, nhất là những nền kinh tế đang phát triển và đang chuyển đổi.Tình trạng này càng trở nên trầm trọng hơn khi hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra Lúcnày, các quốc gia đã xuất hiện nhu cầu sử dụng ngoại tệ mạnh để thực hiện các chứcnăng của tiền tệ song song với đồng nội tệ Do đó hiện tượng đô-la hoá mặc nhiênđược thừa nhận ở các nước này
Tại Việt Nam, theo một cách nhìn nhận khác, khái niệm đô-la hoá là hiệntượng ngoại tệ (mà chủ yếu là Đô-la Mỹ) được sử dụng rộng rãi để thay thế một haynhiều chức năng của đồng nội tệ Chúng ta có thể cảm nhận được một cách rõ néthiện tượng này từ trong đời sống hàng ngày Khi mà đồng VND đang ngày một mấtgiá thì việc sử dụng đồng USD đang là một giải pháp cất giữ giá trị an toàn hơn cả
1.2 Phân loại đô-la hóa:
1.2.1 Dựa vào trạng thái của việc sử dụng ngoại tệ:
Có nhiều cách để phân loại đô-la hóa, tuy nhiên tiêu chí được các nhà kinh tếlựa chọn nhiều nhất là dựa vào trạng thái của việc sử dụng ngoại tệ Theo tiêu chínày, đô-la hoá được chia ra làm ba loại: Đô-la hoá không chính thức, đô-la hoá bánchính thức và đô-la hoá chính thức (Schuler, 2000)
1.2.1.1 Đô-la hóa không chính thức:
Đô-la hóa không chính thức là trường hợp xảy ra khi ngoại tệ được sử dụngrộng rãi trong nền kinh tế (người dân nắm giữ tài sản của họ thông qua đồng ngoạitệ) mặc dù luật pháp nước đó không chính thức thừa nhận (Schuler, 2000) Ở nhữngnước này, đại đa số người dân đã quen với việc sử dụng ngoại tệ trong cuộc sốngnhưng Chính phủ của họ vẫn cấm niêm yết giá hàng hóa bằng ngoại tệ cũng nhưcấm sử dụng ngoại tệ đối với hầu hết các giao dịch trong nước
Thuật ngữ đô-la hóa không chính thức ở một số nước cũng bao gồm cả việcgiữ tài sản nước ngoài là hợp pháp (Schuler, 2000) Ví dụ như ở một số quốc gia sẽ
là hợp pháp khi nắm giữ một lượng ngoại tệ, chẳng hạn USD tại một ngân hàngtrong nước nhưng sẽ là bất hợp pháp nếu như nắm giữ ngoại tệ tại một tài khoản ở
Trang 6ngân hàng nước ngoài, trừ trường hợp đặc biệt đã được cho phép để làm điều đó(Schuler, 2000)
Thuật ngữ “Đô-la hoá không chính thức” bao gồm các loại sau:
- Các trái phiếu ngoại tệ và các tài sản phi ngoại tệ ở nước ngoài
- Tiền gửi bằng ngoại tệ ở nước ngoài
- Tiền gửi ngoại tệ ở các ngân hàng trong nước
- Trái phiếu hay các giấy tờ có giá bằng ngoại tệ cất trong túi (Schuler, 2000)Đô-la hóa không chính thức được phân làm ba giai đoạn tương ứng với cácchức năng điển hình của tiền tệ gồm phương tiện cất trữ giá trị, phương tiện thanhtoán, và đơn vị tính toán (Schuler, 2000) Ba giai đoạn đó là:
Giai đoạn đầu, các nhà kinh tế gọi là giai đoạn “thay thế tài sản” Trong giaiđoạn này người dân giữ trái phiếu, ngoại tệ và các khoản tiền gửi ở nước ngoài nhưmột phương tiện cất trữ nhằm tránh sự mất giá của tài sản do tác động của lạm pháttrong nước hay cũng có những trường hợp do việc tịch thu hoàn toàn mà một sốnước đã thực hiện (Schuler, 2000)
Giai đoạn thứ hai được các nhà kinh tế gọi là giai đoạn “thay thế tiền tệ”.Trong giai đoạn này người dân giữ một khối lượng lớn các trái phiếu ngoại tệ vàtiền gửi ngoại tệ tại hệ thống ngân hàng trong nước (nếu được phép) Ngoại tệ vừathực hiện chức năng là phương tiện thanh toán vừa thực hiện chức năng là phươngtiện cất trữ Tiền lương, thuế hay những chi tiêu hàng ngày được thanh toán bằngnội tệ Nhưng với những tài sản có giá trị lớn như ô tô, đất đai, nhà cửa, thườngđược trả bằng ngoại tệ (Schuler, 2000)
Trong giai đoạn cuối cùng, giá cả hàng hoá được tính bằng nội tệ nhưng mọingười đều liên tưởng đến ngoại tệ thông qua tỷ giá hối đoái (Schuler, 2000)
1.2.1.2 Đô-la hóa bán chính thức:
Hay còn gọi là đô-la hóa từng phần, là những quốc gia có hệ thống lưu hànhchính thức hai đồng tiền hợp pháp bao gồm đồng nội tệ và một đồng ngoại tệ Ởnhững nền kinh tế này, đồng ngoại tệ thậm chí còn chiếm ưu thế trong các khoảntiền gửi Ngân hàng Tuy nhiên nó lại đóng vai trò thứ cấp trong việc trả tiền lương,đóng thuế và các chi tiêu thường ngày Một điểm đáng lưu ý đó là các nước áp dụng
Trang 7đô-la hóa bán chính thức vẫn duy trì một Ngân hàng Trung ương để thực hiện cácchính sách tiền tệ của mình (Schuler, 2000).
1.2.1.3 Đô-la hóa chính thức:
Đô-la hóa chính thức hay còn gọi là đô-la hóa hoàn toàn, là hiện tượng xảy rakhi đồng ngoại tệ là đồng tiền hợp pháp duy nhất được lưu hành Nghĩa là đồngngoại tệ này không chỉ được sử dụng trong các giao dịch giữa các bên tư nhân màcòn được sử dụng một cách hợp pháp trong các khoản thanh toán của Chính phủ.Nếu như đồng nội tệ tồn tại thì nó cũng chỉ đóng một vai trò thứ yếu, chỉ được dùngtrong các giao dịch nhỏ, vì vậy mà thường sẽ chỉ lưu hành những đồng tiền xu,mệnh giá nhỏ mà thôi (Schuler, 2000)
Đô-la hóa chính thức không có nghĩa là chỉ có một đồng ngoại tệ duy nhất hợppháp được phép lưu hành Tuy vậy, các nước tuyên bố đô-la hóa chính thức thường
sẽ chọn cho mình một đồng tiền mạnh làm đồng tiền hợp pháp, riêng có trường hợpcủa Andorra thì có hai ngoại tệ hợp pháp là đồng Franc của Pháp và đồng Pesetacủa Tây Ban Nha Tại đa số các quốc gia này, các bên tư nhân được phép ký kếthợp đồng bằng đồng tiền nào mà họ thỏa thuận (Schuler, 2000)
Một số quốc gia bị đô-la hóa chính thức không phát hành đồng nội tệ, nhưng ởnhững nước khác (như Panama), vẫn phát hành đồng nội tệ với vai trò thứ yếu ỞPanama có một đơn vị tính toán ghi là “Balboa” tương đương với USD bằng tiền xunhưng không ghi chú Trên thực tế không có sự khác nhau giữa USD và các
“Balboa”, chúng đơn giản chỉ là ghi tên Panama cho các đồng USD mà thôi(Schuler, 2000)
1.2.2 Căn cứ vào hình thức:
Ize và Parrado phân biệt giữa đô-la hóa thanh toán (payment dollarization),đô-la hóa tài chính (financial dollarization) và đô-la hóa thực sự (real dollarization)(Central Bank of Chile, 2006)
1.2.2.1 Đô-la hóa thanh toán (hay sự thay thế tiền tệ):
“Đô-la hóa thanh toán là việc sử dụng ngoại tệ thay cho nội tệ như là một phương thức thanh toán”.
(Başkurt, 2005)
Đây là mức độ sử dụng ngoại tệ trong thanh toán
Trang 81.2.2.2 Đô-la hóa tài chính:
“Đô-la hóa tài chính (hay là sự thay thế tài sản) là việc sử dụng ngoại
tệ cho các khoản tiền gửi, các khoản tín dụng (cho vay) và các trung gian tài chính khác”.
(Başkurt, 2005)
“Đô-la hóa tài chính là sự hiện hiện của các khoản tín dụng và tiền gửi bằng ngoại tệ”
(Ó Arteta, 2003)Đô-la hóa thay thế tài sản thể hiện qua tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ trên tổng phươngtiện thanh toán (FCDs/M2) Theo IMF, khi tỷ lệ này trên 30% thì nền kinh tế đóđược cho là có tình trạng đô-la hóa cao, tạo ra những sự khó khăn trong điều hànhtài chính tiền tệ vĩ mô
1.2.2.3 Đô-la hóa thực sự:
“Đô-la hóa thực sự là việc sử dụng ngoại tệ trong việc chi trả các khoản tiền lương, tiêu dùng và các giao dịch hàng ngày”
(Ó Arteta, 2003)Hay còn gọi là đô-la hóa định giá, niêm yết giá Đó là việc niêm yết, quảngcáo, định giá bằng ngoại tệ
1.3 Nguyên nhân của tình trạng đô-la hóa:
Có thể nói, tình trạng đô-la hóa đang diễn ra ngày một rộng rãi trên khắp thếgiới, nhất là trong bối cảnh hội nhập nền kinh tế thế giới thì hiện tượng đô-la hóacàng có nhiều khả năng gia tăng hơn nữa Ở mỗi quốc gia, mỗi một nền kinh tế lại
có những đặc thù riêng, vì vậy mà nguyên nhân hình thành nên hiện tượng này cũng
có những đặc điểm riêng Nhưng tựu chung lại, bằng một cái nhìn tổng quát, chúng
ta có thể rút ra được những nguyên nhân chủ yếu sau đây:
“Tình trạng đô la hóa thường là một phản ứng nội sinh của các tác nhân
kinh tế bất ổn và lạm phát cao”(Domac và Bahmani-Oskooee, 2002)
“Các quốc ra tìm cách đô-la hóa chính thức thường là những nước đang phát triển hoặc những nền kinh tế đang chuyển đổi, đặc biệt những nước có lạm phát cao”(Heakal, 2010) Những nhà kinh tế này đã chỉ ra nguyên nhân sâu xa nhất dẫn
đến hiện tượng này, đó là việc nền kinh tế có tỷ lệ làm phát cao, giá trị đồng nội tệ
Trang 9giảm liên tục gây mất lòng tin của người dân vào đồng nội tệ Từ việc mất lòng tin,việc người dân chuyển sang sử dụng một đồng ngoại tệ ổn định, có tính chuyển đổicao (ngoại tệ mạnh) dường như là một xu thế tất yếu Họ làm như vậy nhằm cóđược sự tiện lợi trong quá trình giao dịch, cất trữ cũng như tránh được những rủi ro
có thể đến bất cứ lúc nào do đồng nội tệ đột nhiên bị mất giá
“Đối với một số quốc gia, đặc biệt là các nước nhỏ, đô la hóa là một điều
kiện cần thiết để đạt được hội nhập tài chính” (Moreno-Villalaz, 2005)
Hay như Carlos Ó Arteta: “Đô-la hóa tài chính có thể cho phép hội nhập sâu
hơn với thị trường vốn quốc tế và một sự lựa chọn phong phú của các công cụ tài chính, trong đó có thể bao hàm sự gia tăng hiệu quả cho trung gian tài chính” (Ó.
Arteta, 2003) Các tác giả trên đã đưa ra thêm một nguyên nhân không kém phầnquan trọng gây nên hiện tượng đô-la hóa, đó là xu hướng toàn cầu hóa nên kinh tếthế giới Sự xuất hiện của các cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật, cách mạng côngnghiệp trong quá khứ, cùng với một giai đoạn mà công nghiệp hiện đại phát triểnrực rỡ như hiện nay, bên cạnh đó là sự bùng nổ trong lĩnh vực công nghệ thông tin,tất cả sẽ là cầu nối các quốc gia với nhau trên lĩnh vực kinh tế Sản xuất ngày cànggia tăng, nhu cầu của con người ngày càng cao không chỉ gói gọn ở thị trường trongnước, đó là những yếu tố thúc đẩy hoạt động ngoại thương phải phát triển mạnh mẽhơn nữa
Một khi ngoại thương phát triển, các nước mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế thìtất yếu đòi hỏi một đồng tiền chung trong các giao dịch Đối với giai đoạn hiện nay
và có lẽ là còn trong tương lai thì đồng USD đang là đồng tiền có khả năng đảmnhiệm vai trò đó Khi đó, các nước sẽ phải thiết lập một hệ thống quản lý ngoại hối
để kiểm soát được các nguồn thu ngoại tệ (trong đó đa số trên thế giới là USD) Khicác cơ chế quản lý vẫn chưa được hoàn thiện (điều này thường xảy ra ở các nướcđang phát triển hoặc nền kinh tế đang chuyển đổi) hiện tượng đô-la hóa tất yếu sẽxảy ra
Hơn nữa, các quốc gia có nền kinh tế mạnh luôn có xu hướng tìm cách để ápđặt sức mạnh kinh tế của mình và chi phối nền kinh tế của thế giới Và vì vậy nângcao hơn nữa vị thế của đồng tiền nước mình trong hệ thống kinh tế - tiền tệ thế giới
Trang 10là yêu cầu hàng đầu, điển hình là Mỹ với đồng USD Quả thật, sức ảnh hưởngkhủng khiếp của USD đã được nhiều tác giả thừa nhận:
- “USD tràn ngập nền kinh tế, tạo ra một cú sốc mới đối với đồng tiền quốc
gia, mà NBC đã không được chuẩn bị để đối phó” (Im, Dabadie và Sokha, 2007).
Các tác giả nói về thực trạng sử dụng USD tại Campuchia vào năm 2007
- Hay như: “Làn sóng sử dụng đồng đô-la Mỹ gia tăng như là một phương
tiện trao đổi trong nước đã giấy lên lo ngại cho công chúng và các nhà hoạch định chính sách ở Tanzania” (International Growth Centre, 2011).
Chắc chắn không riêng gì các tác giả trên, mà chính chúng ta cũng phải thừanhận rằng đồng đô la Mỹ đang có một vị thế và vai trò vô cùng quan trọng trongkinh tế đương đại Vì lẽ đó mà ảnh hưởng của USD tới nhiều nước trong đó có ViệtNam là điều không thể tránh khỏi Ngoài đồng đô la Mỹ, còn có một số đồng tiềncủa các quốc gia khác cũng được quốc tế hóa như: bảng Anh, mác Đức, yên Nhật,Franc Thụy Sỹ, euro của EU nhưng vị thế của các đồng tiền này trong giao lưuquốc tế không lớn; chỉ có đô la Mỹ là chiếm tỷ trọng cao nhất, chiếm tới 84.9%(2010), 87% (2013) doanh thu thị trường ngoại hối
Hình 1: Doanh thu từ thị trường tỷ giá hối đoái một số đồng tiền
(Nguồn: Ngân hàng thanh toán quốc tế, 2013)
Trang 11Bên cạnh đó, mức độ đô-la hóa của từng nền kinh tế khác nhau cũng khácnhau Nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như trình độ phát triển kinh tế, trình độ dân trí,
sự phát triển của hệ thống ngân hàng, chính sách tiền tệ, sức mạnh của đồng nội
và sự mất giá mạnh của đơn vị tiền tệ quốc gia - VND so với đồng USD” (Goujon,2006)
Năm 1989, bằng những cải cách của mình, chính phủ đã khiến cho lạm phátsuy giảm ngoạn mục từ 350% năm 1988 xuống 35% Và cho đến năm 1997 - 1998,mặc dù cả Châu Á đang trải qua cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ nhưng tỷ giáhối đoái USD/VND vẫn giảm 25% Kể từ đó lạm phát đã được kiểm soát nhưngtình trạng đô-la hóa vẫn tiếp tục gia tăng (Goujon, 2006) Vậy lý do gì đã gây nêntình trạng đô-la hóa trong giai đoạn này ở Việt Nam? Câu trả lời đó là tâm lý củangười dân Việt Nam bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ khắpChâu Á Tâm lý lo sợ VND có thể mất giá bất cứ lúc nào đã khiến người dân khôngmấy mặn mà trong việc chuyển từ ngoại tệ sang VND Người ta thích dùng USDhơn vì tính ổn định và tiện lợi của nó
Bên cạnh đó, có thể kể ra đây những nguồn ngoại tệ có thể đi vào hệ thốngkinh tế như:
- Nguồn kiều hối và ngoại tệ tiền mặt mà kiều dân mang theo khi nhập cảnh,
- Nguồn ngoại tệ mà khách du lịch nước ngoài chi tiêu,
- Tiền lương của người dân làm việc trong các dự án liên doanh, dự án 100%vốn nước ngoài, dự án quốc tế, cơ quan nước ngoài được trả bằng ngoại tệ,
- Hiện tượng người ngoại quốc đến sinh sống, học tập, làm việc cũng làm cholượng chi tiêu ngoại tệ cho các loại hình dịch vụ tăng lên,
- Tiền viện trợ không hoàn lại, tiền của các tổ chức từ thiện quốc tế, các tổchức phi chính phủ nước ngoài, ,