1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

báo cáo thực tập giữa khóa vai trò của nguồn vốn ODA đối với phát triển kinh tế xã hội ở việt nam

23 107 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 86,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Không thể phủ nhậnrằng ODA của Nhật Bản đã góp phần giải quyết những khó khăn, đặc biệt là vốn trongquá trình chuyển đổi và cải tổ nền kinh tế, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế cũng

Trang 1

M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC

Trang

DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH, BIỂU ĐỒ i

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ii

LỜI NÓI ĐẦU 1

Chương I: Khái quát về hỗ trợ phát triển chính thức của Nhật Bản 3

1.1 Khái quát về hỗ trợ phát triển chính thức 3

1.1.1 Khái niệm 3

1.1.2 Đặc điểm 4

1.1.2.1 Nguồn vốn ODA mang tính chất ưu đãi 4

1.1.2.2 Vốn ODA kèm theo các ràng buộc về kinh tế - chính trị: 5

1.1.2.3 ODA gắn liền với các nhân tố xã hội 6

1.1.2.4 ODA là nguồn vốn có khả năng gây nợ 6

1.2 Tổng quan về ODA Nhật Bản 7

1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển ODA Nhật Bản 7

1.2.2 Các hình thức đầu tư ODA của chính phủ Nhật Bản vào Việt Nam 8

1.2.3 Tình hình thu hút ODA Nhật Bản vào Việt Nam thời gian qua 10

1.2.4 Tình hình sử dụng vốn ODA Nhật Bản tại Việt Nam thời gian qua 15

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 19

Trang 2

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

Bảng 1.2 Khối lượng vốn ODA cam kết và giải ngân giai đoạn

2003 -2012 tại Việt Nam

14

Biểu đồ 1.1 Viện trợ ODA của Nhật Bản cho Việt Nam (2003-2012) 13

Biểu đồ 1.3 ODA Nhật Bản đầu tư cho giao thông vận tải (2006-2012) 17

Trang 3

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

lương thực

IDA International Development Association Hiệp hội phát triển quốc tếJBIC Japan Bank for International Ngân hàng hợp tác quốc tế

Nhật Bản

Nhật Bản JICA Japan International Cooperation Agency Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật

Bản

OECD Organization of Economic Cooperation

and Development

Tổ chức hợp tác kinh tế vàphát triển

OPEC Organization of the Petroleum Exporting

Countries

Tổ chức các nước xuất khẩudầu mỏ

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

Cùng với nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), nguồn vốn hỗ trợ phát triểnchính thức (ODA) là một kênh vốn đầu tư phát triển quan trọng đối với các quốc gia đangphát triển Nói đến hỗ trợ phát triển chính thức ( ODA) không thể không nhấn mạnh vaitrò chủ chốt của Nhật Bản Nhật Bản được coi là nhà tài trợ số một thế giới về viện trợphát triển chính thức (ODA) với phần lớn số tài trợ tập trung cho các nước Châu Á(Potter, D M, 2011)

Với các nước đang phát triển, nơi đối mặt với nhiều khó khăn gay gắt thì sự giúp đỡcủa các nước phát triển, trong đó có Nhật Bản là hết sức cần thiết Không thể phủ nhậnrằng ODA của Nhật Bản đã góp phần giải quyết những khó khăn, đặc biệt là vốn trongquá trình chuyển đổi và cải tổ nền kinh tế, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế cũng nhưcải thiện cuộc sống ở các nước nhận viện trợ trong đó có Việt Nam

Trong quá trình hội nhập nền kinh tế khu vực và thế giới, để tạo được một nền móngvững chắc, thực hiện được kế hoạch lâu dài của Việt Nam đến năm 2020 cơ bản trở thànhnước công nghiệp phát triển thì việc huy động vốn đầu tư nước ngoài luôn là một trongnhững vấn đề cốt yếu có tính chất quan trọng

Trong hơn 10 năm qua Nhật Bản là nhà tài trợ lớn nhất cho Việt Nam trong số hơn 20nước và tổ chức cung cấp ODA cho nước ta Nguồn vốn ODA từ Nhật Bản nói riêng đãđóng vai trò quan trọng, góp phần giúp Việt Nam đạt được tăng trưởng kinh tế, xóa đóigiảm nghèo và cải thiện đời sống nhân dân

Trước thực tế trên, em đã chọn đề tài: “Vai trò của nguồn vốn ODA đối với phát

triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam” nhằm cung cấp thông tin về vai trò đầu tư ODA của

Nhật Bản vào Việt Nam, đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sửdụng nguồn vốn, cũng như thu hút thêm nhiều nguồn tài trợ khác trong tương lai

Trang 5

Nội dung đề tài gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát về hỗ trợ phát triển chính thức của Nhật Bản

Chương 2: Vai trò của ODA Nhật Bản với phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam

Chương 3: Triển vọng thu hút và một số kiến nghị nhằm phát huy vai trò vốnODA Nhật Bản tại Việt Nam

Trang 6

Chương I: Khái quát về hỗ trợ phát triển chính thức của Nhật Bản

1.1 Khái quát về hỗ trợ phát triển chính thức.

1.1.1. Khái niệm

Hỗ trợ phát triển chính thức (tiếng Anh là: Oficial Development Agency được gọitắt là ODA) ra đời và hình thành trong một thời gian dài và có nhiều đóng góp tích cựccho phát triển của các quốc gia và khu vực trên thế giới Thuật ngữ ODA được dùngchính thức lần đầu tiên vào năm 1961 trong bản báo cáo của tổ chức DAC nhưng đến nayvẫn chưa có một khái niệm thống nhất về ODA Mỗi tổ chức, quốc gia lại có những địnhnghĩa khác nhau về nguồn vốn này:

Theo tổ chức Hợp tác kinh tế và phát triển (OECD) định nghĩa: ODA là cácnguồn hỗ trợ do các tổ chức Chính phủ bao gồm: chính quyền địa phương hoặc do các cơquan của các tổ chức thực thi này hoặc do các tổ chức đa phương cung cấp cho các nướcđang phát triển với các tiêu chí sau:

 Được thực hiện với mục tiêu chính là khuyến khích phát triển kinh tế và phúclợi xã hội tại các nước phát triển

 ODA có đặc tính ưu đãi và yếu tố không hoàn lại từ 25% trở lên

Theo Quy chế quản lý và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ban hànhkèm theo Nghị định 131/2006/NĐ-CP ngày 09/11/2006 của Chính Phủ thì ODA đượcđịnh nghĩa như sau: “Hỗ trợ phát triển chính thức (gọi tắt là ODA) được hiểu là hoạtđộng hợp tác phát triển giữa Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩaViệt Nam với Nhà tài trợ là Chính phủ nước ngoài, các tổ chức tài trợ song phương vàcác tổ chức liên quốc gia hoặc liên chính phủ

Như vậy, hỗ trợ phát triển chính thức - ODA đúng như tên gọi của nó là nguồnvốn từ các cơ quan chính thức bên ngoài cung cấp (hỗ trợ) cho các nước đang và kém

Trang 7

phát triển, hoặc các nước đang gặp khó khăn về tài chính nhằm tạo điều kiện thuận lợicho công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của các nước này.

1.1.2 Đặc điểm

1.1.2.1 Nguồn vốn ODA mang tính chất ưu đãi.

ODA là nguồn vốn mang tính chất ưu đãi bởi vì trong ODA bao giờ cũng chiếmmột phần không nhỏ là các khoản viện trợ không hoàn lại và phần cho vay ưu đãi với lãisuất thấp hơn các khoản tín dụng thông thường (thường dưới 3%).Với mục tiêu trợ giúpcác nước đang và chậm phát triển, vốn ODA mang tính ưu đãi hơn bất cứ nguồn tài trợnào khác Thể hiện:

 Khối lượng vốn vay lớn từ hàng chục đến hàng trăm triệu USD

 Mức độ ưu đãi nhiều hay ít được thể hiện ở mức lại suất, thời gian ân hạn và thờigian trả nợ Một khoản ODA có thời gian sử dụng vốn dài, thường từ 20-50 năm,tùy thuộc vào từng nhà tài trợ gồm 2 phần:

 Thời gian ân hạn từ 5-10 năm

 Thời gian trả nợ cũng đa dạng gồm nhiều giai đoạn và tỉ lệ trả nợ khác nhau

ở từng giai đoạn

Thông thường vốn ODA có một phần viện trợ không hoàn lại, phần này dưới 25%tổng số vốn vay Một ví dụ điển hình là: OECD cho không 20-25% tổng vốn ODA Đâychính là điểm phân biệt giữa viện trợ và cho vay thương mại

Các khoản vay thường có lãi suất thấp, thậm chí không có lãi suất Lãi suất daođộng từ 0,5% đến 5% /năm (trong khi lãi suất vay trên thị trường tài chính quốc tế là trên7% /năm và hàng năm phải thoả thuận lại lãi suất giữa hai bên) Ví dụ như lãi suất củaADB là 1%/năm; của WB là 0,75% /năm; Nhật thì tuỳ theo từng dự án cụ thể trong nămtài khoá ( từ năm 1997-2000 thì lãi suất là 1,8%/năm)

Nhìn chung, các nước cung cấp vốn ODA đều có những chính sách và ưu tiênriêng của mình, tập trung vào một số lĩnh vực mà họ quan tâm hay có khả năng kỹ thuật

Trang 8

và tư vấn (về công nghệ, kinh nghiệm quản lý) Đồng thời, đối tượng ưu tiên của cácnước cung cấp vốn ODA cũng có thể thay đổi theo từng giai đoạn cụ thể

1.1.2.2 Vốn ODA kèm theo các ràng buộc về kinh tế - chính trị:

ODA là một trong những phương tiện để thực hiện ý đồ chính trị của các nước cấpviện trợ đối với nước nhận viện trợ Trong thời kì chiến tranh lạnh ODA được sử dụng đểlôi kéo đồng minh do có sự đối đầu Đông- Tây, giữa hệ thống TBCN và XHCN Sau khi

hệ thống XHCN ở Đông Âu và Liên Xô cũ sụp đổ, các nước phương Tây dùng tiền giúp

đỡ các nước này trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường

Tuỳ theo khối lượng vốn ODA và loại hình viện trợ mà vốn ODA có thể kèm theonhững điều kiện ràng buộc nhất định Thông thường, các ràng buộc kèm theo thường làcác điều kiện về mua sắm, cung cấp thiết bị, hàng hoá và dịch vụ của nước tài trợ đối vớinước nhận tài trợ, được coi như một biện pháp nhằm tăng cường khả năng thâm nhập vàlàm chủ thị trường xuất khẩu

Theo báo cáo của DAC thì 17.7 % viện trợ song phương của DAC năm 1997 phảiđược dành để mua hàng hóa dịch vụ từ các nước tài trợ Trong đó, các nước như Bỉ, Đức

và Đan Mạch yêu cầu khoảng 40% viện trợ phải mua hàng hóa và dịch vụ của nướcmình, Canada yêu cầu tới 68%, Thụy Sĩ chỉ yêu cầu 1.7%, Hà Lan 2.2%, hai nước nàyđược coi là những nước có tỷ lệ ODA yêu cầu phải mua hàng hóa và dịch vụ của Nhà tàitrợ thấp

Ngoài ra, rủi ro của đồng tiền viện trợ khi có sự biến động bất lợi về tỉ giá hối đoáilàm cho nghĩa vụ trả nợ của các nước nhận viện trợ thêm nặng nề Thông thường, nướctiếp nhận không có quyền lựa chọn đồng tiền đi vay mà sự lựa chọn này do bên cấp quyđịnh

Nguồn vốn ODA luôn chứa đựng cả tính ưu đãi cho nước tiếp nhận và lợi ích củanước viện trợ Các nước viện trợ nói chung đều không quên dành được lợi ích cho mình,vừa gây ảnh hưởng chính trị, vừa thực hiện xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tư vấn vàonước tiếp nhận viện trợ

Trang 9

1.1.2.3 ODA gắn liền với các nhân tố xã hội

ODA là một phần được trích từ GNP của các nước tài trợ nên rất nhạy cảm với dưluận xã hội tại các quốc gia này Nhìn chung người dân các quốc gia thuộc OECD luônủng hộ sự giúp đỡ thông qua viện trợ với các nước đang phát triển Ở các nước cung cấpODA tỉ lệ dưới 0.7 GNP, hơn 70% người dân cho rằng chính phủ nên tăng ngân sách việntrợ phát triển, không chỉ về số lượng mà còn quan tâm đến chất lượng viện trợ

Ở nhiều nước dân chúng yêu cầu Chính phủ cắt giảm viện trợ để tập trung giảiquyết các vấn đề khó khăn trong nước và tỏ ra lo ngại trước một số vấn đề trong việccung cấp viện trợ như: tiếp thu chậm dự án, hiệu quả dự án thấp, bên nhận không thựchiện đúng cam kết, có dấu hiệu tham nhũng viện trợ của các quan chức

Ngược lại ở các nước nhận viện trợ người dân tỏ ra dè dặt trong việc tiếp nhậnviện trợ, e ngại những ảnh hưởng xấu đến cuộc sống, bản sắc và truyền thống văn hóadân tộc

1.1.2.4 ODA là nguồn vốn có khả năng gây nợ.

Dù là nguồn vốn hỗ trợ chính thức (ODA) có điều kiện ưu đãi cao nhất, cho đếncác khoản vốn vay thương mại thông thường trên thị trường tài chính quốc tế thì nghĩa vụ

nợ (bao gồm trả lãi và nợ gốc) cũng luôn luôn đặt ra cho người vay

Khi tiếp nhận và sử dụng nguồn vốn ODA do tính chất ưu đãi nên gánh nặng nợthường chưa xuất hiện Một số nước do không sử dụng hiệu quả ODA có thể tạo nên sựtăng trưởng nhất thời nhưng sau một thời gian lại lâm vào vòng nợ nần do không có khảnăng trả nợ.Vấn đề ở chỗ vốn ODA không có khả năng đầu tư trực tiếp cho sản xuất, nhất

là cho xuất khẩu trong khi việc trả nợ lại dựa vào xuất khẩu thu ngoại tệ

Do vậy, sự chủ động và tỉnh táo khống chế nợ ở mức độ an toàn, theo những dự

án đầu tư cụ thể, được luận chứng kinh tế – kỹ thuật đầy đủ, và chấp nhận sự kiểm tra,giám sát của chủ nợ để tránh hao hụt do tham nhũng hay sử dụng nợ sai mục đích lànhững nguyên tắc hàng đầu cần được tuân thủ trong quá trình vay nợ nước ngoài

Trang 10

Sau chiến tranh nền kinh tế Nhật thiệt hại rất nặng nề, do đó từ năm 1945 – 1954 Nhậtphải nhận viện trợ từ Mỹ và Ngân hàng thế giới để khôi phục đất nước, song cho đến

1954 Nhật Bản đã bắt đầu thực hiện chương trình viện trợ đối với các nước đang pháttriển ở Châu Á sau khi tham gia kế hoạch Colombo năm 1954

Từ đó đến nay quá trình viện trợ của Nhật Bản được chia làm 4 giai đoạn:

 Giai đoạn 1946-1976: Giai đoạn hình thành và phát triển của ODA

Nhật Bản bắt đầu thực hiện hợp tác kỹ thuật vào năm 1954 khi tham gia vào kếhoạch Colombo Từ năm 1954 đến năm 1976, chính phủ Nhật Bản tích cực phát triển hệthống viện trợ của mình Nền tảng của chính sách hỗ trợ tài chính Nhật Bản bắt đầu từviệc bồi thường chiến tranh song song với hợp tác kinh tế với các nước Châu Á Giaiđoạn này Nhật Bản cung cấp viện trợ chủ yếu cho một số quốc gia khu vực Đông Nam Ánhư: Miến Điện, Philippine, Indonesia, Lào, Việt Nam

 Giai đoạn 1977-1991: Giai đoạn tăng cường và đa dạng hóa viện trợ

ODA của Nhật Bản bước sang một trang mới khi việc thanh toán bồi thường đãđược hoàn thành năm 1976 Phân bổ địa lý của ODA Nhật Bản trở lên đa dạng, tạo cơ hộilớn cho các khu vực ngoài Châu Á, bao gồm cả Trung Đông, châu Phi, Mỹ Latinh vàThái Bình Dương nhận nguồn viện trợ ODA từ Nhật Bản Giai đoạn này Nhật Bản đã

Trang 11

vươn lên là cường quốc số 1 thế giới về viện trợ song phương vào năm 1989 ( đạt 8.4 tỷUSD trong khi viện trợ của Mỹ là 8.1 tỷ USD).

 Giai đoạn 1992-2002: Giai đoạn có sự thay đổi trong chính sách và quanđiểm Nhật Bản ( hình thành Hiến chương ODA năm 1992)

Hiến chương trình bày những nội dung về chính sách ODA của Nhật Bản bao gồm:

 ODA Nhật Bản xuất phát từ quan điểm nhân đạo

 ODA Nhật Bản dựa trên sự phụ thuộc lẫn nhau giữa Nhật Bản và các nướcđối tác

 Viện trợ của chính phủ Nhật Bản tập trung vào bảo vệ môi trường trongphát triển kinh tế xã hội

 Nhật Bản hỗ trợ giúp đỡ các nước đang phát triển vươn lên theo hướng tăngtrưởng phát triển

 Giai đoạn 2003-nay: Những thay đổi đáp ứng thách thức của kỷ nguyên mớiNăm 2003, Nhật Bản đã sửa đổi điều lệ trong hiến chương ODA lần đầu tiên trong

11 năm kể từ khi bản Hiến chương đầu tiên ra đời vào năm 1992 Mục đích hiến chươngmới là “ đóng góp vào hòa bình và phát triển của cộng đồng quốc tế, và từ đó góp phầnđảm bảo an ninh và thịnh vượng của Nhật Bản”

1.2.2 Các hình thức đầu tư ODA của chính phủ Nhật Bản vào Việt Nam

Hỗ trợ ODA dành cho Việt Nam được chia thành hỗ trợ song phương và hỗ trợthông qua các tổ chức Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế … Viện trợ chính thức songphương của Nhật Bản được thực hiện theo ba hình thức: Viện trợ không hoàn lai, Hợp tác

kỹ thuât và Hợp tác vốn vay (JICA, 2013)

Để liên kết thực hiện các hình thức ODA đó, bốn cơ quan là Đại sứ quán Nhật Bảntại Việt Nam, Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JCA), Ngân hàng Hợp tác Quốc tếNhật Bản (JBIC) và Tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật Bản (JETRO) đã hình thành “

Tổ công tác về ODA”

Trang 12

Ngoài ra, khi thực hiện ODA, song song với thực hiện các dự án phù hợp với kế

hoạch phát triển của Việt Nam, Nhật Bản chú trọng việc hợp tác viện trợ với các nhà tài

trợ có liên quan

Sơ đồ 1.1 : Phân loại vốn ODA

a Hợp tác vốn vayHợp tác vốn vay là hình thức cho vay của chính phủ đối với chính phủ các nước

đang phát triển với các điều kiện cho vay mềm dẻo hơn như lãi suất thấp và thời hạn vay

dài Tại Việt Nam hợp tác vốn vay chủ yếu dùng cho xây dựng cơ sở hạ tầng như giao

thông vận tải, điện lực, phát triển nông thôn Hợp tác vốn vay do Ngân hàng Hợp tác

Quốc tế Nhật Bản (JBIC) thực hiện

b Viện trợ không hoàn lạiHợp tác viện trợ không hoàn lại là việc trao tặng vốn cho chính phủ các nước đang

phát triển mà không kèm theo nghĩa vụ hoàn trả Mục đích chính của hợ tác viện trợ

không hoàn lại là đáp ứng cho những nhu cầu căn bản của con người ( nâng cao mức

sống cho tầng lớp người dân nghèo đói ), đào tạo nhân lực và xây dựng cơ sở hạ tầng

Hợp tác viện trợ không hoàn lại do Bộ Ngoại giao thực hiện, trong đó các dự án viện trợ

không hoàn lại cho các địa phương hoặc viện trợ không hoàn lại cho các tổ chức phi

chính phủ (NGOs) của Nhật Bản do Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam thực hiện

9O ợ

Trang 13

c Hợp tác kỹ thuậtHợp tác kỹ thuật là hình thức cử chuyên gia, nghiên cứu phát triển, chương trình đàotao, cung cấp thiết bị nhằm hỗ trợ các nước đang phát triển đào tạo nguồn nhân lực vàxây dựng thể chế Hợp tác kỹ thuật của Chính phủ Nhật Bản phần lớn do cơ quan Hợp tácQuốc tế Nhật Bản (JICA) thực hiện.

1.2.3 Tình hình thu hút ODA Nhật Bản vào Việt Nam thời gian qua

Trước năm 1989, nguồn vốn ODA viện trợ cho Việt nam chủ yếu đến từ Liênbang Xô Viết cũ, các nước Đông Âu, một vài nước tư bản chủ nghĩa ở Bắc Âu, và các tổchức quốc tế (Ph.D Nguyen Xuan Thien and MA Nguyen Viet Khoi, 2007) Nhưng kể

từ khi Liên Xô cũ sụp đổ thì Việt Nam mất một nguồn viện trợ nước ngoài quan trọng.Tuy nhiên cùng với hoạt động mở cửa của nền kinh tế và sự hội nhập với thế giới, ViệtNam lại nhận được nguồn viện trợ từ các nước phát triển và các tổ chức quốc tế từ năm1993

Đến nay, cộng đồng tài trợ tại Việt Nam đã được mở rộng rất nhiều và hiện có 51nhà tài trợ, bao gồm 28 nhà tài trợ song phương và 23 nhà tài trợ đa phương1 đang hoạt

1 a) Các nhà tài trợ song phương: Ai-xơ-len, Anh, Áo, Ba Lan, Bỉ, Ca-na-đa, Cô-oét, Đan Mạch, Đức, Hà Lan, Hàn

Quốc, Hungari, I-ta-lia, Lúc-xem-bua, Mỹ, Na-uy, Nhật Bản, Niu-di-lân, Ôt-xtrây-lia, Phần Lan, Pháp, Séc, Tây Ban Nha, Thái Lan, Thuỵ Điển, Thuỵ Sĩ, Trung Quốc, Xin-ga-po.

b) Các nhà tài trợ đa phương gồm:

- Các định chế tài chính quốc tế và các quỹ: nhóm Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân

hàng Phát triển châu Á (ADB), Ngân hàng Đầu tư Bắc Âu (NIB), Quỹ Phát triển Bắc Âu (NDF), Quỹ Phát triển quốc tế của các nước xuất khẩu dầu mỏ OPEC (OFID - trước đây là Quỹ OPEC), Quỹ Kuwait;

- Các tổ chức quốc tế và liên chính phủ: Ủy ban châu Âu (EC), Cao uỷ Liên hợp quốc về người tỵ nạn (UNHCR),

Quỹ Dân số của Liên hợp quốc (UNFPA), Chương trình Phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc (UNIDO), Chương trình Phát triển của Liên hợp quốc (UNDP), Chương trình phối hợp của Liên hợp quốc về HIV/AIDS (UNAIDS), Cơ quan Phòng chống ma tuý và tội phạm của Liên hợp quốc (UNODC), Quỹ Đầu tư Phát triển của Liên hợp quốc (UNCDF), Quỹ môi trường toàn cầu (GEF), Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), Quỹ Quốc tế

và Phát triển nông nghiệp (IFAD), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO), Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực (FAO), Tổ chức Y tế thế giới (WHO).

Ngày đăng: 13/05/2020, 19:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w