ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TRẦN ĐÌNH MÁT NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÂY SA NHÂN TÍM TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VĂN BÀN, TỈNH LÀO CAI LUẬN
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRẦN ĐÌNH MÁT
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT
SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÂY SA NHÂN TÍM
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VĂN BÀN,
TỈNH LÀO CAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Thái Nguyên, năm 2019
Trang 3ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRẦN ĐÌNH MÁT
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT
SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÂY SA NHÂN TÍM
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VĂN BÀN,
TỈNH LÀO CAI
Chuyên ngành: Phát triển nông thôn
Mã số ngành:862 01 16
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN Người hướng dẫn khoa học: TS Hà Thị Hòa
Thái Nguyên - 2019
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Các thông tin sử dụng trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc, các tài liệu tham khảo được trích dẫn đầy đủ, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn./
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2019
Tác giả luận văn
Trần Đình Mát
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và thực hiện luận văn “Nghiên cứu thực trạng và đề
xuất một số giải pháp phát triển cây sa nhân tím trên địa bàn huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai” tôi đã nhận được sự giúp đỡ, hướng dẫn, động viên của các tập thể, cá nhân
Tôi xin cảm ơn các tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới TS Hà Thị Hòa đã định hướng, chỉ bảo, dìu dắt tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu đề tài
Tôi xin trân trọng cảm ơn đối với tất cả các thầy, cô giáo sau đại học và các thầy cô giáo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện về tinh thần và vật chất giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin cảm ơn các cơ quan, đơn vị, các tổ chức chính trị - xã hội và bà con nhân dân tại địa điểm nghiên cứu đã giúp đỡ, cộng tác và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành luận văn
Cuối cùng với lòng biết ơn sâu sắc nhất xin dành cho gia đình, bạn bè, người thân, đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi rất nhiều cả về vật chất, tinh thần để bản thân tôi hoàn thành được chương trình học tập cũng như đề tài nghiên cứu./
Thái Nguyên,tháng 9 năm 2019
Tác giả luận văn
Trần Đình Mát
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN THẠC SỸ viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
2.1 Mục tiêu tổng quát 3
2.2 Mục tiêu cụ thể 3
3 Đối tượng nghiên cứu 3
4 Phạm vi nghiên cứu 3
5 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học hoặc thực tiễn 3
Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 4
1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 4
1.1.1 Phát triển 4
1.1.2 Phát triển sản xuất 4
1.1.3 Các yếu tố chủ yếu phát triển kinh tế nông nghiệp 6
1.2 Cơ sở thực tiễn 7
1.2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về sa nhân tím trong và ngoài nước 7
1.2.2 Tình hình phát triển cây dược liệu của tỉnh Lào Cai 14
1.2.3 Tình hình phát triển cây dược liệu tại huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai 21
1.3 Các bài học kinh nghiệm rút ra từ cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển sản xuất cây sa nhân tím 23
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 24
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 24
Trang 82.1.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội 30
2.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 31
2.2 Nội dung nghiên cứu 32
2.3 Phương pháp nghiên cứu 33
2.3.1 Chọn điểm nghiên cứu 33
2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 33
2.3.3 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp 33
2.3.4 Phương pháp phân tích xử lý số liệu 34
2.3.5 Phương pháp thống kê so sánh 35
2.3.6 Phương pháp phân tích tổng hợp 35
2.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 36
2.4.1 Nhóm chỉ tiêu về phát triển sản xuất 36
2.4.2 Các chỉ tiêu về kết quả, hiệu quả kinh tế 36
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 38
3.1 Thực trạng phát triển sản xuất sa nhân tím trên địa bàn huyện Văn Bàn 39
3.1.1 Tình hình phát triển sa nhân tím trên địa bàn huyện Văn Bàn 39
3.1.2 Tình hình sản xuất, tiêu thụ sa nhân tím tại 3 xã nghiên cứu 41
3.2.Đánh giá hiệu quả kinh tế cây sa nhân tím trên địa bàn huyện Văn Bản, tỉnhLào Cai 48
3.2.1 Chi phí sản xuất sa nhân tím của các hộ điều tra 48
3.3 Đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong việc trồng sa nhân tím trên địa bàn huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai 51
3.3.1 Phân tích SWOT sản xuất sa nhân tím trên địa bàn huyện Văn bàn, tỉnh Lào Cai 51
3.3.2 Nguyện vọng của ngườidân sản xuất sa nhân tím trên địa bàn huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai 52
3.4 Giải pháp nhằm phát triển cây sa nhân tím trên địa bàn huyện Văn Bàn 52
3.4.1 Văn bản chính sách của tỉnh Lào Cai, huyện Văn bản liên quan đến phát triển sản xuất sa nhân tím 52
Trang 93.4.2 Quan điểm, định hướng phát triển sa nhân tím trên địa bàn huyện Văn Bàn, tỉnh
Lào Cai 53
3.4.3 Giải pháp phát triển sản xuất sa nhân tím trên địa bàn huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai 54
3.4.4 Giải pháp nhằm tăng cường sự liên kết, tham gia của các tác nhân trong sản xuất và tiêu thụ sa nhân tím 58
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 59
1 Kết luận 59
2 Kiến nghị 59
2.1 Kiến nghị với Nhà nước 59
2.2 Với cấp cơ sở 60
2.3 Với hộ nông dân 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61 PHỤ LỤC
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Tình hình diện tích cây dược liệu trên địa bàn tỉnh Lào Cai 16
Bảng 1.2 Hiệu quả kinh tế một sốcây dược liệu hàng hóa trên địa bàn tỉnh Lào Cai năm 2018 18
Bảng 2.1 Tình hình đất đai của huyện Văn Bàn giai đoạn 2016 - 2018 28
Bảng 2.2 Tình hình phát triển nông - lâm - thủy sảncủa huyện Văn Bàngiai đoạn 2016 - 2018 31
Bảng 3.1 Diện tích sa nhân tím của huyện Văn Bàn giai đoạn2016-2018 39
Bảng 3.3 Tình hình chung của các hộ sản xuất sa nhân tím tại địa bàn3 xã nghiên cứu 43
Bảng 3.4 Nguồn lực sản xuất sa nhân tím của các hộ điều tra 44
Bảng 3.5 Nguồn cung cấp giống sa nhân tím của các hộ điều tra 46
Bảng 3.6 Tình hình tiêu thụ sa nhân tím của các hộ điều tra 47
Bảng 3.7 Chi phí trồng1 ha sa nhân tím cho đến thời kỳ thu hoạch 49
Bảng 3.8: Hiệu quả sản xuất sa nhân tím trên 1 ha 50
Bảng 3.9.Phân tích SWOT sản xuất sa nhân tím trên địa bàn huyện Văn bàn, tỉnh Lào Cai 51
Bảng 3.10 Nguyện vọng của người dân về chính sách của Nhà nước 52
Trang 12TRÍCH YẾU LUẬN VĂN THẠC SỸ
Họ và tên: Trần Đình Mát
Tên luận văn: Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển
cây sa nhân tím trên địa bàn huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai
Chuyên ngành: Phát triển nông thôn
Mã số: 8620116
Người hướng dẫn khoa học: TS Hà Thị Hòa
Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
1 Mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Điều tra thực trạng sản xuất cây sa nhân tím trên địa bàn nghiên cứu giai đoạn 2013- 2018 và định hướng tới năm 2025
- Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất sa nhân tím
- Phân tích hiệu quả kinh tế của sản xuất cây sa nhân tím
- Đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm phát triển sản xuất cây sa nhân tím trên địa bàn huyện Văn Bàn
1.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các hộ trồng, kinh doanh sản phẩm sa nhân tím Để biết được thực trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển cây sa nhân tím trên địa bàn huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai
1.3 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ nghiên cứu tại 3 xã có trồng cây sa nhân tím điển hình, đại diện cho huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai (xã Thẳm Dương, xã Dương Quỳ và xã Nậm Chày) Số liệu thu thập qua 5 năm từ 2013 - 2018, giải pháp đề xuất đến năm 2025 Các số liệu điều tra kinh tế hộ thực hiện trong tháng 3/2019
2 Các phương pháp nghiên cứu đã sử dụng
- Phương pháp thu thập số liệu thông tin thứ cấp; phương pháp thu thập thông tin sơ cấp (Xây dựng và thiết kế biểu mẫu điều tra bao gồm các chỉ tiêu, tiêu trí có
liên quan đến quá trình nghiên cứu)
Trang 13- Phương pháp phân tích xử lý số liệu sau khi thu thập những thông tin cần thiết chúng tôi sử dụng phần mềm Excel để tổng hợp và xử lý số liệu
- Phương pháp thống kê so sánh tính toán các chỉ tiêu thống kê mô tả đặc trưng của từng nhóm
- Phương pháp phân tích tổng hợp từ các số liệu, bảng biểu đã được xử lý, tổng hợp và phân tích thông tin, thống kê phân tích số liệu, thống kê mô tả, so sánh, sử dụng phương pháp phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức bằng Công
cụ SWOT
3 Các kết quả chính và kết luận
Qua nghiên cứu luận văn“Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp
phát triển cây sa nhân tím trên địa bàn huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai” tôi rút ra một
số nhận xét sau:
Văn Bàn là huyện có điều kiện tự nhiên, địa hình thuận lợi cho việc phát triển cây sa nhân tím theo hướng hình thành vùng sản xuất tập trung, quy mô lớn Tiến hành nghiên cứu thực trạng sản xuất sa nhân tím của các hộ điều tra trên địa bàn huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai, về đặc điểm của nhóm hộ điều tra, các nguồn lực sản xuất sa nhân tím của hộ điều tra, các chương trình, dự án hỗ trợ phát triển cây sa nhân tím của huyện Văn Bàn
Nghiên cứu, đánh giá kết quả sản xuất sa nhân tím của các hộ điều tra, về nguồn giống; thời gian trồng, diện tích, sản lượng sa nhân tím của hộ điều tra; các yếu tố ảnh hưởng đến trồng sa nhân tím của các hộ điều tra; tiêu thụ sản phẩm; chi phí trong sản xuất của các hộ trồng sa nhân tím; kế hoạch phát triển sa nhân tím của các hộ điều tra trong các năm tới
Phân tích, đánh giá được các điểm mạnh, điểm yếu cũng như cơ hội và thách thức của các hộ trồng sa nhân tím trên địa bàn huyện Văn Bàn nói chung và các hộ trồng sa nhân tím tại 3 xã điều tra nói riêng Từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm giải quyết các khó khăn, tận dụng được các cơ hội cũng như điểm mạnh để hướng tới những thách thức trong thời gian tới, thực hiện phát triển sản xuất cây sa nhân tím trên địa bàn huyện Văn Bàn
Trang 14Để phát triển sản xuất và tiêu thụ sa nhân tím trên địa bàn huyện Văn Bàn cần phải thực hiện một số nhóm giải pháp mang tính đồng bộ, bao gồm:
- Nhóm giải pháp quản lý, quy hoạch phát triển sản xuất: Quy hoạch vùng phát triển sản xuất sa nhân tím, kỹ thuật, khoa học công nghệ
- Nhóm giải pháp về chính sách, xã hội: Công tác tuyên truyền; hỗ trợ sản xuất; đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tại địa phương, đẩy mạnh công tác khuyến nông khuyến lâm
- Nhóm giải pháp kinh tế, xây dựng thương hiệu, tiêu thụ sản phẩm: Khuyến khích, thu hút các doanh nghiệp, HTX tham gia liên kết đầu tư sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm; giải pháp về phát triển thị trường, tiếp thị, quảng bá, xúc tiến thương mại; đầu tư nguồn lực cho xúc tiến thương mại; tiêu thụ sản phẩm
- Giải pháp nhằm tăng cường sự liên kết, tham gia của các tác nhân trong sản xuất và tiêu thụ sa nhân tím./
Người hướng dẫn khoa học
TS Hà Thị Hòa
Tác giả
Trần Đình Mát
Trang 15MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sa nhân tím (Amomum longiligulare T.L Wu), họ gừng (Zingiberaceae) là một
trong những cây thuốc quý, chuyên trị các bệnh về đường ruột Ngoài ra, nó còn được
sử dụng nhiều trong công nghiệp thực phẩm (gia vị), mỹ phẩm… Việc nhân giống và trồng cây sa nhân tím cũng rất dễ, không tốn công đầu tư chăm sóc, cây phát triển nhanh Là cây chịu bóng, sống dưới ánh sáng tán xạ, dưới tán rừng có độ tàn che 0,5-0,6; cường độ ánh sáng tốt nhất là 50%, dưới ánh sáng trực xạ cây sinh trưởng kém,
lá bị vàng úa Cây sa nhân tím sinh trưởng và phát triển tốt ở các vùng có độ cao ≥ 250m so với mặt biển; nhiệt độ bình quân năm 22 - 28oC, lượng mưa hàng năm trên 1.800 mm và độ ẩm không khí trên 80%.Là loại cây có giá trị kinh tế cao, đặc biệt không chỉ giúp nâng cao đời sống cho người dân sống gần rừng mà việc trồng sa nhân tím còn giải quyết tình trạng rửa trôi và xói mòn đất, tạo nên thảm thực vật đa dạng phong phú, góp phần bảo vệ và phát triển rừng, hạn chế xói mòn, ngăn chặn và hạn chế lũ lụt nhằm phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và đời sống Cây sa nhân tím không tranh chấp đất với một số loại cây trồng khác mà chỉ tận dụng đất dưới tán rừng để tăng nguồn thu nhập trên một đơn vị diện tích Cây sa nhân trồng sau 2 năm bắt đầu
có hoa quả (tỷ lệ 25 - 28% trên tổng số khóm), từ năm thứ 3 trở đi tăng dần Phát triển cây sa nhân tím không những cải thiện được môi trường tự nhiên của đất; giúp người dân tăng thu nhập, cải thiện đời sống mà còn góp phần bảo tồn và phát triển loại dược liệu quý tại địa phương, từng bước hình thành vùng nguyên liệu bền vững và ổn định cho ngành dược địa phương
Hiện nay cây dược liệu bị khai thác tự do nên diện tích và sản lượng ngày càng suy giảm Cây sa nhân tím cũng đang bị khai thác nên ngày càng bị thu hẹp về diện tích Trong khi đó nhu cầu sử dụng thuốc đông dược để chăm sóc và bảo vệ sức khỏe ngày càng cao Vấn đề phát triển cây dược liệu trong đó có cây sa nhân tím trong giai đoạn hiện nay là cần thiết
Huyện Văn Bàn có vị trí tự nhiên đa dạng về các tiểu khí hậu, với nhiều tiểu vùng mát mẻ tạo nên lợi thế lớn phát triển các cây dược liệu á nhiệt đới và ôn đới có
Trang 16nhu cầu sản xuất thuốc lớn như: Cây sa nhân tím, cây xuyên khung và đương quy là cây trồng hứa hẹn nhiều tiềm năng phát triển tại những khu vực có khí hậu ôn hòa, mát mẻ tại các khu vực các xã vùng cao của huyện Văn Bàn
Trong giai đoạn 2016 - 2020 UBND tỉnh Lào Cai đã có nhiều văn bản chỉ đạo các huyện thực hiện phát triển cây dược liệu như: Kế hoạch số: 59/KH-UBND ngày 06/3/2017 của UBND tỉnh Lào Cai, triển khai thực hiện Quy hoạch phát triển dược liệu tỉnh Lào Cai đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 20130; Kế hoạch số: 90/KH-UBND ngày 15/3/2018 của UBND tỉnh Lào Cai, thực hiện Dự án ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất và phát triển cây dược liệu trên địa bàn tỉnh Lào Cai, năm 2018; Kế hoạch số: 144/KH-UBND ngày 22/8/2018 của UBND huyện Văn Bàn, phát triển dược liệu trên địa bàn huyện Văn Bàn, giai đoạn 2017-2020; Kế hoạch số: 277/KH-UBND ngày 01/11/2017 của UBND tỉnh Lào Cai về phát triển dược liệu tỉnh Lào Cai giai đoạn 2017-2020; Quyết định số: 271/QĐ-SNN ngày 20/12/2017 của sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Lào Cai, ban hành Quy trình kỹ thuật tạm thời đối với một số cây dược liệu trên địa bàn tỉnh Lào Cai; Quyết định số 744/QĐ-UBND ngày 12/3/2018 của UBND tỉnh Lào Cai, phê duyệt dự án “Xây dựng mô hình trồng một
số cây dược liệu áp dụng theo tiêu chuẩn GACP trên địa bàn tỉnh Lào Cai, giai đoạn
2018 - 2020; Kế hoạch số 13/KH-SNN ngày 20/01/2017 của sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Lào Cai, triển khai thực hiện dự án “Ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất và phát triển cây dược liệu” năm 2017; Quyết định số: 3297/QĐ-UBND ngày 04/10/2016 của UBND tỉnh Lào Cai, về việc phê duyệt dự án “Ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất và phát triển cây dược liệu giai đoạn 2016-2020”
Xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn trên, nhằm đưa ra một phương pháp thích hợp để đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển cây sa nhân tím, tác
giả đã lựa chọn đề tài “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển
cây sa nhân tím trên địa bàn huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai” cho luận văn tốt nghiệp,
là hết sức cần thiết Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở cho việc phát triển cây
sa nhân tím có giá trị kinh tế cao trên địa bàn huyện
Trang 172 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu, đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển cây sa nhân tím trên địa bàn huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai
2.2 Mục tiêu cụ thể
Để đạt được mục tiêu tổng quát trên, đề tài xác định các mục tiêu cụ thể như sau:
- Điều tra thực trạng sản xuất cây sa nhân tím trên địa bàn nghiên cứu giai đoạn 2013- 2018
- Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sa nhân tím trên địa bàn nghiên cứu
- Phân tích hiệu quả kinh tế sản xuất cây sa nhân tím trên địa bàn nghiên cứu
- Đề xuất giải pháp nhằm phát triển sản xuất cây sa nhân tím trên địa bàn huyện Văn Bàn
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các hộ trồng, kinh doanh sản phẩm sa nhân tím Để biết được thực trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển cây sa nhân tím trên địa bàn huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai
4 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu tại 3 xã có trồng cây sa nhân tím điển hình, đại diện cho huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai (xã Thẳm Dương, xã
Dương Quỳ và xã Nậm Chày)
- Phạm vi về thời gian: Số liệu thu thập qua 5 năm từ 2013 - 2018, giải pháp
đề xuất đến năm 2025 Các số liệu điều tra kinh tế hộ thực hiện trong tháng 3/2019
5 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học hoặc thực tiễn
Luận văn tập trung vào nghiên cứu tình hình phát triển cây sa nhân tím, trên
cơ sở điều tra, phân tích đánh giá hiệu quả kinh tế, đánh giá thực trạng tình hình sản xuất, tại một số vùng trên địa bàn huyện, rút ra những nhận xét, kết luận và đề xuất một số giải pháp khả thi nhằm phát triển cây sa nhân tím trên địa bàn huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai đến năm 2025
Trang 18Một là, sự gia tăng tổng lượng của cải trong mỗi nền kinh tế, theo đó, thu nhập bình quân trên một đầu người ngày càng được cải thiện Đây là tiêu thức thể hiện quá trình biến đổi về lượng của nền kinh tế, là điều kiện cần để nâng cao mức sống vật chất của một quốc gia và thực hiện những mục tiêu khác của phát triển
Hai là, sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng gia tăng đóng góp của ngành công nghiệp chế tạo và dịch vụ Đây là tiêu thức phản ánh sự biến đổi về chất kinh tế của một quốc gia
Ba là, sự thay đổi tích cực không ngừng trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội Mục tiêu cuối cùng của sự phát triển kinh tế trong các quốc gia không phải là tăng trưởng hay chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mà là việc xoá bỏ nghèo đói, suy dinh dưỡng, sự tăng lên của tuổi thọ bình quân, khả năng tiếp cận đến các dịch vụ y tế, nước sạch, trình
độ dân trí giáo dụccủa nhân dân v.v Hoàn thiện các tiêu chí trên là sự thay đổi về chất xã hội của quá trình phát triển
1.1.2 Phát triển sản xuất
Sản xuất là quá trình kết hợp tư liệu sản xuất với sức lao động của con người
để tạo ra sản phẩm hữu ích Như vậy phát triển sản xuất được coi là một qúa trình tăng tiến về quy mô (sản lượng) và hoàn thiện về cơ cấu
Trang 19Trong cơ chế thị trường hiện nay, các doanh nghiệp cũng như các tổ chức kinh
tế khi tiến hành phát triển sản xuất phải lựa chọn ba vấn đề kinh tế cơ bản đó là: Sản xuất cái gì? Sản xuất cho ai? Sản xuất như thế nào? Những vấn đề này liên quan đến việc xác định thị trường và phân phối sản phẩm đúng đắn để kích thích sản xuất phát triển
Phát triển sản xuất cũng được coi là một quá trình tái sản xuất mở rộng, trong
đó quy mô sản xuất sau lớn hơn quy mô sản xuất trước trên cơ sở thị trường chấp nhận
Phát triển sản xuất có thể diễn ra theo hai xu hướng là phát triển theo chiều rộng và phát triển theo chiều sâu Trong đó:
+ Phát triển sản xuất theo chiều rộng là nhằm tăng sản lượng bằng cách mở rộng diện tích đất trồng, với cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ phát triển sản xuất không đổi, sử dụng kỹ thuật giản đơn Kết quả phát triển sản xuất đạt được theo chiều rộng chủ yếu nhờ tăng diện tích và độ phì nhiêu của đất đai và sự thuận lợi của điều kiện
tự nhiên
Phát triển sản xuất theo chiều rộng bao gồm mở rộng diện tích trong cả vùng,
có thể bao gồm việc tăng số hộ dân hoặc tăng quy mô diện tích của mỗi hộ nông dân, hoặc cả hai
+ Phát triển sản xuất theo chiều sâu là giá trị, vốn đầu vào không đổi, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới, xây dựng cơ sở hạ tầng phù hợp với điều kiện sản xuất thực tế Như vậy phát triển sản xuất theo chiều sâu là làm tăng khối lượng sản phẩm và hiệu quả kinh tế sản xuất trên một đơn vị diện tích bằng cách đầu
tư thêm giống, vốn, kỹ thuật và lao động
Trong quá trình phát triển như vậy nó sẽ làm thay đổi cơ cấu sản xuất về sản phẩm Đồng thời làm thay đổi về quy mô sản xuất, về hình thức tổ chức sản xuất, việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật Hoàn thiện dần từng bước về cơ cấu, để tạo
ra một cơ cấu hoàn hảo
Trang 20Chú ý trong phát triển sản xuấtphải đảm bảo tính bền vững, tức là sản xuất tìm nguồn đầu vào, đầu ra sao cho bền vững nhất và không làm ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên
Vậy tăng trưởng sản xuất là sự tăng thêm về quy mô sản lượng sản phẩm sản xuất trong một thời gian nhất định; là kết quả của tất cả các hoạt động và dịch vụ sản xuất tạo ra
Còn hiệu quả sản xuất phản ánh quy mô sản lượng sản phẩm và dịch vụ sản xuất ra trong một thời gian nhất định, thường là 1 năm
1.1.3 Các yếu tố chủ yếu phát triển kinh tế nông nghiệp
- Lao động: Lao động là yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất, đồng thờinó cũng là yếu tố đầu vào không thể thiếu được trong phát triển kinh tế Mặtkhác, lao động là một bộ phận của dân số, cũng là những người được hưởnglợi ích của sự phát triển Suy cho cùng là tăng trưởng kinh tế để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho con người Nói đến nhân tố lao động thì phải quan tâm đến cả hai mặt số lượng
và chất lượng của nguồn nhân lực
- Điều kiện tự nhiên tài nguyên thiên nhiên: Tài nguyên là yếu tố tạo cơ sở cho việc phát triển các ngành, cho quá trình tích luỹ vốn; đồng thời cũng là đối tượng sản xuất nông nghiệp Cây trồng, vật nuôi có quá trình sinh trưởng và phát triển theo quy luật tự nhiên, trải rộng trên một phạm vi không gian rộng lớn Cho nên chúng gắn bó chặt chẽ và phụ thuộc lớn vào điều kiện tự nhiên
- Kinh tế (vốn đầu tư): Vốn đầu tư là một trong những yếu tố cơ bản, quan trọng đối với mọi hoạt động của một nền kinh tế Vốn là chìa khoá đối với sự phát triển bởi lẽ phát triển về bản chất được coi là vấn đề bảo đảm đủ các nguồn vốn đầu
tư để đạt được một mục tiêu tăng trưởng Thiếu vốn, sử dụng vốn kém hiệu quả được đánh giá là một cản trở quan trọng nhất đối với việc đẩy nhanh tốc độ phát triển và
bố trí kế hoạch sản xuất kinh doanh Tích luỹ vốn là điều mấu chốt của sự phát triển song tỷ lệ tích luỹ cao có thể không có tác dụng lớn đối với tăng trưởng, tạo ta ít công
ăn việc làm và không cải thiện được phân phối thu nhập khi nguồn vốn đó bị phân
Trang 21tán vào những dự án có năng suất lao động thấp Một cơ cấu sản xuất thiếu vốn sẽ không có điều kiện để phát triển
- Khoa học và công nghệ: Sự phát triển kinh tế luôn gắn liền với những thành tựu khoa học kỹ thuật Những phát minh, sáng chế khi được ứng dụng vào sản xuất
đã giảm thiểu lao động nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm cho người lao động; tăng năng suất lao động, tạo sự tăng trưởng nhanh, góp phần tác động mạnh mẽ vào sự phát triển kinh tế của xã hội hiện tại
Trong những năm gần đây, nông nghiệp được quan tâm ứng dụng nhiều tiến
bộ tiến bộ khoa hoặc công nghệ vào sản xuất như: công nghệ sinh học, di truyền học, biến đổi gien… Những thành tựu khoa học công nghệ mới đã giúp sản xuất nông nghiệp có được những bước nhẩy vọt về hiệu quả kinh tế, tạo điều kiện cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thời kỳ đổi mới
- Chính sách pháp luật của Nhà nước: Ở mỗi thời kỳ, nền kinh tế của mỗi nước đều vận hành theo một cơ chế nhất định Sau đại hội lần thứ VI của Đảng, nền kinh
tế nước ta đã từng bước chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế hỗn hợp “nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” Trên thực tế, những năm qua nền kinh tế nước ta đã thu được nhiều thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế Điều đó đã khảng định chính sách pháp luật của Nhà nước có một vi trò đặc biệt quan trọng với sự phát triển của nền kinh tế, sự đặc biệt đó thể hiện bằng các chính sách vĩ mô, tạo hành lang pháp lý cho các thành phần kinh tế hiệu chỉnh khối lượng, phương hướng sản xuất một cách phù hợp với sức cạnh tranh của sản phẩm và mức cung, cầu của thị trường Hoặc các chính sách vi mô điều tiết, hỗ trợ của chính phủ nhằm tạo cơ hội và điều kiện phát triển một cách cân đối giữa các vùng miền, các ngành thiết yếu
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về sa nhân tím trong và ngoài nước
1.2.1.1 Giới thiệu khái quát về vị thuốc có tên “sa nhân”
Trang 22Trong y học cổ truyền Trung Quốc cũng như ở Việt Nam có nhiều vị thuốc được lấy từ cùng một bộ phận của một số loài cây thuốc cùng chi (Genus), cùng họ (Family) thì thường mang chung một tên gọi Hơn nữa, các bộ phận này, sau khi thu hái lại được chế biến (làm khô, sao tẩm) như nhau nên về tính vị, tác dụng chữa bệnh của vị thuốc cũng tương tự như nhau Ví dụ: vị thuốc“Kim ngân hoa” là hoa phơi khô
của một số loài cây thuốc cùng chi Lonicera, họ Caprifloliaceae ; “Thiên niên kiện” cũng là Thân rễ phơi khô của một số loài cây thuốc thuộc chi Homalomena, họ
Araceae…Tương tự như vậy, vị thuốc “sa nhân” là khối hạt khô, thu hái lúc quả già
của một số loài thuộc chi Amomum (A.villosum; A.ovoideum; A longiligurae;
A.xanthioidesvàA.thyrsoideum), họ Gừng (Zingiberaceae).Theo lý luận của y học cổ
truyền, vị thuốc sa nhân nói chung có vị cay, mùi thơm, tính ấm vào 3 kinh thận, tỳ,
vị có tác dụng ôn trung, hành khí, chỉ thống, khai vị tiêu thực, an thai Ngoài ra, các tác giả trong nước như Nguyễn Thị Phương Lan, 2004; Đỗ Tất Lợi,1999; Đào Lan Phương, 1995 và nhiều người khác cũng như ở nước ngoài khi nghiên cứu về thành phần hóa học trong hạt của 5 loài sa nhân trên đều cho rằng thành phần chính là tinh dầu (1,5 - 3,5%) Trong tinh dầu có tới vài chục hợp chất khác nhau, trong đó chủ yếu là bornyl acetat, camphor, camphen, borneol, limonene… hàm lượng của các chất này có thể hơi chênh lệch ở các loài sa nhân khác nhau, nhưng là những thành phần hóa học chủ yếu tạo nên công dụng chữa bệnh của vị thuốc “sa nhân” Hiện đã thống kê được tới 60 bài thuốc khác nhau có sử dụng vị thuốc sa nhân Hạt sa nhân còn được giã nhỏ, ngâm rượu ngậm, chữa sâu răng, hôi miệng hay được dùng làm gia
vị, tinh dầu hạt chế rượu mùi
Sa nhân được sử dụng làm thuốc khá phổ biến trong y học cổ truyền Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Lào, Thái Lan, Indonesia và Việt Nam Trong đó, chỉ
có Trung Quốc, Lào, Thái Lan và Việt Nam là những nước có nhiều sa nhân, không
chỉ sử dụng cho yêu cầu quốc nội mà còn đưa ra thương mại quốc tế
Sa nhân ở Việt Nam vốn vẫn được coi là loại dược liệu đặc sản có giá trị kinh
tế cao Trước năm 1990, mặc dù sa nhân ở nước ta chủ yếu được thu hái từ cây mọc
Trang 23tự nhiên, nhưng hàng năm vẫn được xuất khẩu ra thị trường quốc tế; lượng xuất khẩu ước tính tới vài trăm tấn sa nhân/năm, nhưng mặt hàng này gần đây đã bị giảm sút
đi rất nhiều
1.2.1.2 Nghiên cứu về thực vật học loài sa nhân tím
Như trên đã đề cập, sa nhân là tên gọi chung của một số loài cùng chi Amomum Roxb., thuộc họ Gừng (Zingiberaceae) Chi Amomum Roxb trên thế giới được biết
có khoảng 150loài, phân bố tập trung ở vùng nhiệt đới châu Á và Australia Trong đó
ở Ấn Độ có 48 loài; ở Indonexia bao gồm đảo Borneo có 30 loài, đảo Java có 13 loài;
ở Trung Quốc cũng đã biết có 24 loài…
Ở Việt Nam, theo nghiên cứu gần đây nhất của Nguyễn Quốc Bình (2011)
cũng đã mô tả được 21 loài
Riêng loài sa nhân tím (Amomum longiligulare T.L.Wu ),vào năm 1975 mới
được T.L.Wu phát hiện và mô tả đầu tiên ở đảo Hải Nam, Trung Quốc Ở Việt Nam, loài thực vật này được Nguyễn Chiều phát hiện thấy ở tỉnh Đăk Lắk năm 1984 và công bố tên khoa học năm 1986 Trong khi đó, một số công trình nghiên cứu về phân loại thực vật ở Đông Dương và ở Việt Nam trước đây của F Gagnepain, 1937; Nguyễn Tiến Bân và đồng nghiệp, 1984 (Danh lục Thực vật Tây Nguyên) và Phạm
Hoàng Hộ, 1993 đều chưa đề cập loài sa nhân tím kể trên
Về hình thái thực vật của thân, lá, hoa của loài sa nhân tím nhìn bên ngoài
tương đối giống với một số loài sa nhân khác (Sa nhân thân cao - A ovoideum, Sa nhân đỏ - A villosum và Sa nhân tía - A xanthioides) Tuy nhiên có 2 đặc điểm khác biệt quan trọng nhất của loài sa nhân tím (A longiligulare) là lưỡi bẹ (ligule) nhọn,
dài 1,5 - 4,0 cm và mào của trung đới có 3 thùy tròn, trong khi đó lưỡi bẹ của các loài
kia đầu tròn, dài dưới 1 cm và mào của trung đới chỉ xẻ hai thùy tròn
* Sau đây là phần mô tả đầy đủ về hình thái thực vật của loài sa nhân tím
(Amomum longiligulare T L Wu), thuộc họ Gừng (Zingiber aceae):
Cây dạng cỏ cao, sống nhiều năm, thường mọc thành đám, có thân rễ bò lan trên mặt đất; thân mang lá cao 1 - 2m hoặc hơn Lá mọc so le thành hai dãy hướng lên phía ngọn; phiến lá thuôn dài, 20 - 35cm x 5 - 8cm, đầu lá có mũi nhọn, vò nát
Trang 24có mùi thơm Lưỡi bẹ dài 1,5 - 4,0cm, đầu nhọn, mỏng và không có lông (đây là đặc điểm quan trọng nhất để phân biệt với các loài sa nhân khác, chỉ có lưỡi bẹ ngắn dưới
1cm)
Cụm hoa dạng bông phân nhánh, mọc từ gốc hay thân rễ, gồm 5 - 10 hoa, màu trắng Mỗi hoa có 2 lá bắc nhỏ; đài hình ống, dài 1,5cm, đầu xẻ 3 thùy hình thuôn; cánh môi hình thìa, gần tròn, 1,7 - 2,5 x 1,6 - 2,3cm, đầu cánh môi nhô ra thành 2 thùy, dọc theo giữa cánh môi có 3 sọc màu tía hồng, ở giữa màu vàng Nhị
có trung đới phát triển thành dạng mào, có 3 thùy ôm lấy nhị Bầu hình trứng, 3 ô;
vòi nhụy hình chỉ, dài gần 2cm, đầu nhụy gần bao phấn và ở dưới trung đới
Quả nang hình trứng hoặc gần hình cầu, có thể có 3 cạnh tù, chiều dài 1,1 - 2,5cm; đường kính 1,0 - 2,3cm; vỏ quả có gai đơn hoặc kép; màu tím nâu hay tím hồng, khi chín chuyển sang màu tím đen Hạt nhiều, 13 - 28 hạt; hạt hình đa diện,
màu nâu đen; áo hạt màu trắng, vị ngọt; hạt già cắn vỡ có mùi thơm đặc trưng
Mùa hoa quả: một năm có hai vụ Vụ hè - thu: hoa từ cuối tháng 4 đến tháng
6, quả già tháng 7 - 8 Vụ này có nhiều hoa quả, nên còn gọi là vụ chính Vụ thu - đông có ít hoa quả hơn nên gọi là vụ phụ, hoa tháng 7 - 8, quả già tháng 9 - 10 (đây cũng là một đặc điểm nữa khác biệt của loài sa nhân tím, vì các loài sa nhân khác chỉ
có một vụ hoa quả trong năm, từ tháng 4 - 8)
Sa nhân tím phân bố chủ yếu ở vùng có khí hậu nhiệt đới, đặc biệt là khu vực nhiệt đới Đông Nam và Nam Á Sa nhân tím có vùng phân bố từ đảo Hải Nam Trung Quốc đến vùng Trung Lào và Việt Nam Ở Việt Nam, sa nhân tím tập trung nhiều nhất ở các tỉnh Tây Nguyên, Quảng Ngãi, Phú Thọ, Hòa Bình, Lào Cai…với khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng và ẩm, hai mùa mưa và khô khá rõ rệt thì sa nhân tím sinh trưởng phát triển tốt và ra hoa kết quả nhiều
1.2.1.3 Nghiên cứu trồng sa nhân tím trên thế giới và ở Việt Nam
Trung Quốc là nước sớm tiến hànhnghiên cứu trồng sa nhân Ngay từ năm
1965, trong tập tài liệu “Hướng dẫn kỹ thuật nuôi trồng và chế biến dược liệu”của Ban huấn luyện đào tạo cán bộ Dược liệu TrungQuốc, đã đề cập về kỹ thuật trồng
loài sa nhân đỏ (A villosum Lour.) Trong tài liệu này, các nhà Dược học Trung Quốc
đã đề cập một số vấn đề, như: cây giống đem trồng là các nhánh con; thời vụ trồng
Trang 25từ tháng 3 - 7; nơi trồng cần có độ tàn che trên 50%; cây trồng sau 3 năm có hoa quả và cho thu hoạch 3,5 kg/mẫu/năm Những vấn đề về kỹ thuật trồng sa nhân đỏ
(A villosum Lour.) ở trên chưa được lý giải đầy đủ hoặc vẫn còn chung chung, song
đây cũng là tài liệu đầu tiên trên thế giới nói về trồng sa nhân
Được biết, ở vùng Xisom Bana (Vân Nam - Trung Quốc) có trồng loài sa nhân
tía (A xanthioides Wall ex Baker) Cây giống (nhánh con) của loài này cũng được
Catherin Aubertin (2004) đưa về trồng ở tỉnh Phông Xa Lỳ (Lào) Đất trồng sa nhân tía có độ pH4 - 6; mật độ trồng 10.000 cây/ha; với chi phí công lao động được tính
ra là 101 công/ha/năm Tuy nhiên, do thời gian thực hiện dự án trồng sa nhân tía của Catherin Aubertin trong 2 năm, nên tác giả chưa đưa ra được những kết quả thực nghiệm cuối cùng Bên cạnh 2 loài trên, trong mộtấn phẩm của FAO (9/2002) cũng
thông báo vắn tắt, ở Lào còn trồng cả loài sa nhân đỏ (A villosum Lour) và sa nhân tím (A longiligulare T L Wu) tại tỉnh Champasac và Sa La Van.Nhưng trong tài
liệu này không thấy đề cập cụ thể về kết quả trồng
Loài sa nhân được nghiên cứu trồng nhiều hơn cả là sa nhân tím (A
longiligulare T L Wu) Cây được trồng thử tại Trung Quốc, Lào và Việt Nam, trong
đó Việt Nam lại là nơi nghiên cứu trồng đầu tiên
Ở Việt Nam, ngay từ năm 1984, trong hợp phần nghiên cứu về cây thuốc thuộc Chương trình Tây Nguyên II, Nguyễn Chiều, Nguyễn Tập và các đồng nghiệp
đã phát hiện thấy một đám sa nhân mọc tự nhiên ở huyện M’Đrăk (tỉnh Đắc Lắc) có
nhiều quả hơn hẳn loài sa nhân đỏ (A villosum) cùng phân bố trong khu vực Cây
giống của cả 2 loại sa nhân này đã được đem về trồng thử tại Trạm nghiên cứu Dược liệu tỉnh Đắc Lắc (khoảng 500m2/loài), nhưng đến năm 1986 mới xác định được tên
của loài sa nhân tím có nhiều quả là Amomum longiligulare T L Wu; đồng thời cũng
khẳng định, đây là loài sa nhân khi đem trồng cũng cho thu hoạch quả hơn các loài khác Tuy nhiên do Chương trình Tây Nguyên II đã sớm kết thúc sớm (1985), nên việc trồng thử sa nhân tím ở Đắc Lắc mặc dù đã có kết quả tốt, nhưng chưa đưa ra được dẫn liệu kỹ thuật nào Đến năm 1992, trong một đề tài cấp nhà nước (KY 02 04), sa nhân tím là một trong vài cây thuốc đặc sản được lựa chọn để nghiên cứu trồng thử Cây giống được lấy tại xã Vĩnh Sơn, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định
Trang 26đem trồng xen dưới tán rừng tự nhiên cũng tại đó và trồng dưới tán rừng trồng keo
lá tràm ở Lâm trường Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình với tổng diện tích cả 2 nơi gần 2ha Đến cuối năm 1994, khi toàn bộ chương trình “Tạo nguồn nguyên liệu làm thuốc - KY.02” kết thúc, sa nhân tím trồng chưa cho thu hoạch chính thức, song đề tài cũng
đã rút ra một số kết luận bước đầu quan trọng như: Sa nhân tím có thể trồng được ở nhiều nơi; đất trồng có khả năng giữ ẩm; độ tàn che thích hợp dưới 30% (Lô sa nhân tím trồng dưới tán Keo lá tràm, khi cây khép tán (từ 1996), sa nhân không phát triển được và dần bị đào thải) Giống đem trồng là các nhánh con; vào mùa xuân; khoảng cách trồng 1 x 1m/nhánh (10.000 cây/ha); không bón phân; cây trồng được 18 - 24 tháng tuổi bắt đầu có một số cá thể có hoa (vụ bói) Đáng tiếc là đề tài chỉ được thực
hiện trong 2 năm, đến khikết thúc vẫn chưa thu được những kết quả cuối cùng
Gần đồng thời với nghiên cứu trên, Zheng Haishui và He Kejun (1991) ở Viện
Nghiên Cứu Lâm nghiệp nhiệt đới TrungQuốc, đã tiến hành trồng sa nhân tím (A
longiligulare T L WU) dưới tán rừng trồng Cao su 3 - 4 năm tuổi, độ tàn che 50%,
bước đầu cho kết quả tốt Sa nhân trồng ở đây bằng các nhánh con, khoảng cách trồng 0,6 - 0,7m/cây, trên phần đất 50% diện tích không bị cây Cao su che bóng Cây trồng sau 3 - 4 năm cho thu hoạch, năng suất 80 -120kg quả khô/ha/năm, tương đương 2.400 - 3.600 tệ (đơn vị tiền Trung Quốc) Tuy nhiên, trong mô hình này, các tác giả ở Viện nghiên cứu Lâm nghiệp Trung Quốc chưa nói rõ về thời vụ trồng, kỹ thuật chăm sóc (có bón phân hay không), đồng thời cũng chưa đề cập về tình hình sinh trưởng, phát triển của cây sa nhân tím, nhất là khi cây đã trở lên thành thục tái
sinh (ra hoa quả nhiều, chính thức cho thu hoạch)
Vài năm gần đây, tại các tỉnh miền Trung nước ta cũng có một số người nghiên cứu trồng sa nhân tím Nguyễn Thanh Phương ở Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Nam Trung Bộ (2006), trồng sa nhân tím dưới tán rừng Keo lá tràm 3 năm tuổi và rừng tự nhiên nghèo kiệt tại huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên, khi cây mới chỉ 8 tháng tuổi đã bắt đầu có hoa? Trong khi đó sa nhân tím trồng xen cà phê, khi cây 30 tháng tuổi mới bắt đầu thấy có cây ra hoa quả Thậm chí sa nhân trồng xen cây ăn quả ở vườn gia đình, khi được 30 tháng tuổi vẫn chưa ra hoa quả Những thí nghiệm này ở cùng địa điểm, nhưng các kết quả lại khác nhau, song không thấy tác giả giải thích
Trang 27Năm 2006, Nguyễn Ngọc Đạo ở Trung Tâm giống cây trồng Bình Định cũng thí nghiệm trồng sa nhân tím tại huyện Vĩnh Sơn, với 2 mô hình: dưới tán rừng Keo lai 0,4 ha (xã Vĩnh Sơn) và dưới tán rừng tự nhiên 0,6 ha (xã Vĩnh Hảo) Ở cả hai nơi, sau 3 năm, sa nhân trồng mới ra hoa quả lần đầu Tại xã Cam An Bắc, thị xã Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa, Trương Văn Châu ở Hội nông dân thị xã (2007) có trồng sa nhân tím xen ở vườn trồng Điều 8 tuổi (không rõ diện tích thí nghiệm) Kết quả khi cây sa nhân được 24 tháng tuổi chưa thấy có hoa quả và cây trồng cũng sinh trưởng phát triển kém Theo tác giả, nguyên nhân là do môi trường đất trồng Điều khô hạn,
nên sa nhân trồng không có kết quả như mong muốn
Việc nghiên cứu trồng sa nhân tím ở Việt Nam không thể không đề cập tới kết quả trồng của Viện Dược liệu, cũng do Nguyễn Tập và các đồng nghiệp tiến hành Theo các tác giả này từ năm 2004 - 2006, trong khuôn khổ của một đề tài do
Dự án lâm sản ngoài gỗ tài trợ, sa nhân tím trồng 2,09 ha thuần loại, trên đất sau nương rẫy (đã trồng Chè sau bỏ hoang) thuộc vùng đệm vườn Quốc gia Tam Đảo, tại thôn Hòa Bình 2 xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, đã mang lại kết quả khả quan Sa nhân tím trồng bằng các nhánh con, lấy từ cây mọc tự nhiên ở tỉnh Đắc Lắc; thời vụ trồng vào tháng 11 năm 2004; khoảng cách trồng 1 x 1m/cây (10.000 cây/ha); có bón lót bằng phân chuồng và bón thúc bằng phân NPK Kết quả khi cây trồng được từ 18 - 24 tháng tuổi (tính từ ngày mọc) bắt đầu ra hoa quả lứa bói Đáng tiếc là đề tài phải kết thúc vào tháng 6/2006, nhưng sang năm 2007, sa nhân tím trồng ở đây mới chính thức cho thu hoạch quả Mặc dù vậy, đây là nghiên cứu đầu tiên cho biết sa nhân tím trồng vào mùa đông ở miền Bắc vẫn cho kết quả tốt Đồng thời cũng đã phát hiện, trong quần thể sa nhân tím trồng ở xã Quân Chu, huyện Đại
Từ, tỉnh Thái Nguyên lần này thấy có loại cây ra quả to và cây ra quả nhỏ hơi khác nhau, nhưng chưa rõ liệu đây có là đặc điểm của 2 giống trong loài sa nhân tím hay không Như vậy, qua phần tổng quan trên đây cho thấy, hiện đã có tới 10 công trình
đề cập đến việc trồng thử nghiệm sa nhân tím trên thế giới, trong đó ở Việt Nam có
8 công trình, Trung Quốc 1 công trình và ở Lào 1 công trình Có thể do hạn chế bởi nhiều lý do, trong đó chủ yếu về thời gian nghiên cứu thường chỉ có 2 đến 3 năm/đề
Trang 28tài, nên trong tất cả những công bố này đều chưa có được đầy đủ các dẫn liệu cần
thiết về kỹ thuật trồng sa nhân tím
1.2.2 Tình hình phát triển cây dược liệu của tỉnh Lào Cai
1.2.2.1 Tình hình chung
Lào Cai là tỉnh vùng cao biên giới có điều kiện địa hình đồi núi chia cắt, tạo
ra nhiều đặc điểm khí hậu khác biệt từ nhiệt đới đến á nhiệt đới Với đặc điểm địa hình và khí hậu đa dạng như vậy, tạo cho tỉnh Lào Cai nhiều điều kiện để phát triển nông nghiệp với các chủng loại cây trồng phong phú có nguồn gốc từ nhiệt đới đến á nhiệt đới
Cây dược liệu cũng là nhóm cây trồng có nhiều lợi thế đặc biệt để phát triển trên địa bàn tỉnh Lào Cai, một số chủng loại cây có nguồn gốc á nhiệt đới như Atisô,
sa nhân, đương quy, xuyên khung, tam thất, bạch truật, huyền sâm… rất có lợi thế để phát triển tại những vùng núi cao có khí hậu mát mẻ tại các huyện Sa Pa, Bắc Hà, Bát Xát đây được coi là lợi thế so sánh về tự nhiên của tỉnh Lào Cai trong phát triển cây dược liệu so với nhiều địa phương khác
Thực tế cây dược liệu của tỉnh Lào Cai đang tồn tại và phát triển dưới 2 hình thức: cây dược liệu khai thác tự nhiên trong rừng (giảo cổ lam, sa nhân, chè dây, tam thất hoang, cây thuốc tắm ) và cây dược liệu được trồng sản xuất hàng hóa (actiso, đương quy, xuyên khung ) Trong đó nguồn dược liệu khai thác tự nhiên đang ngày càng cạn kiệt và nhiều loài sẵn có trong tự nhiên nhưng nay đã gần như tuyệt chủng hoặc rất hiếm gặp như (tam thất, bảy lá một hoa, lan ) Với nguồn dược liệu trồng sản xuất hàng hóa trong những năm gần đây cũng đã được tỉnh Lào Cai quan tâm đầu
tư phát triển và đã khẳng định giá trị kinh tế khá cao từ 120 triệu đồng/ha đến 240 triệu đồng/ha, tuy nhiên quy mô diện tích cây dược liệu còn hạn chế, manh mún, việc phát triển mở rộng gặp khó khăn và hạn chế về chủng loại, vùng trồng ổn định và các chính sách hỗ trợ phát triển khác nhằm duy trì hiệu quả bền vững Do đó cần điều tra, đánh giá tình hình phát triển cây dược liệu giá trị kinh tế cao trên địa bàn tỉnh Lào Cai nhằm mục đích xác định được diện tích, chủng loại đồng thời đánh giá được nguyên nhân hạn chế và đề xuất quy hoạch và các giải pháp phát triển dược liệu trên đất đồi núi Lào Cai
Trang 29Cây dược liệu của tỉnh hiện đang được khai thác và sử dụng từ 2 nguồn chính:
* Nguồn dược liệu tự nhiên:
- Diện tích nguồn dược liệu này hiện chưa có đánh giá cụ thể do các loài dược liệu được mọc tự nhiên chủ yếu trong rừng và được khai thác phục vụ nhu cầu tiêu dùng của thị trường
- Về chủng loại cây dược liệu tự nhiên hiện chỉ còn có một số loại đang được khai thác với số lượng ngày càng hạn chế như: Giảo cổ lam, chè dây, đẳng sâm, hà thủ ô và nhóm cây thuốc tắm của dân tộc Dao…)
* Nguồn dược liệu trồng:
- Vào những năm 1960-1970 trên địa bàn tỉnh Lào Cai có 2 khu vực trồng cây dược liệu nhiều là Trại nghiên cứu cây thuốc (tại SaPa) và nông trường dược liệu tại
xã Na Hối, Nậm Mòn Đây là 2 địa chỉ nghiên cứu, thực nghiệm và sản xuất một số loại dược liệu như Đương quy, Tam thất, Đỗ trọng, Sinh địa, Xuyên khung, Độc hoạt, Bạc hà, với diện tích trên 1.000 ha Tuy nhiên do nhiều yếu tố khách quan chủ yếu
là do việc chuyển đổi từ sản xuất kế hoạch sang cơ chế thị trường nên cây dược liệu
đã không bắt kịp cơ chế, do vậy nhiều loại cây trồng giờ đã không còn trên địa bàn
Trang 30Bảng 1.1 Tình hình diện tích cây dược liệu trên địa bàn tỉnh Lào Cai
CC (%)
DT (Ha)
CC (%)
DT (Ha)
CC (%)
Nhóm cây hàng năm 11 0 12 Nhóm cây lâu năm 0 0 0
Nhóm cây hàng năm 59.5 135 137 Nhóm cây lâu năm 0 90 116.9
Nhóm cây hàng năm 50 1 28.5 Nhóm cây lâu năm 0 0 41.71
Nhóm cây hàng năm 1 1 75 Nhóm cây lâu năm 0 0 7.4
Nhóm cây hàng năm 47 20 32.28 Nhóm cây lâu năm 0 0 1.2
Nhóm cây hàng năm 99.23 0 90 Nhóm cây lâu năm 16.1 8 2
Nhóm cây hàng năm 6 0 7 Nhóm cây lâu năm 0 0 0
Nhóm cây hàng năm 35 66 78.3 Nhóm cây lâu năm 0 0 6.7
Nhóm cây hàng năm 5 0 70.7 Nhóm cây lâu năm 0 0 38.6
Tổng cộng: 329.83 100 321 100 745.29 100
Nguồn: Sở Nông nghiệp &PTNT tỉnh Lào Cai năm 2019
Trang 31Qua bảng 1.1 có thể thấy được trong 3 năm gần đây cây dược liệu được đặc biệt quan tâm phát triển diện tích cây dược liệu đã tăng lên theo từng năm, ví dụ như huyện Bát Xát với diện tích cây dược liệu năm 2016 là 59,5 ha thì đến năm 2018 đã tăng lên 253,9 ha tức là tăng lên gấp gần 5 lần so với diện tích năm 2016 Tiếp đến là huyện Si Ma Cai tăng từ 0,3 ha lên 82,4 ha và trên huyện Văn Bàn nơi mà chúng tôi tiến hành nghiên cứu thì diện tích cây dược liệu cũng tăng từ 1,5 lên 109,3 ha tức là
đã tăng gần 100 lần so với năm 2016 điều này cho chúng ta thấy bà con nhân dân đã nhận ra tiềm năng của cây dược liệu và đã chú trọng đến mở rộng diện tích Về diện tích chung của toàn tỉnh Lào Cai thì năm 2016 diện tích là 329,83 ha tăng lên 745,29
ha vào năm 2018 đây là một con số khá khả quan của tỉnh Lào Cai về cây dược liệu
và đã thể hiện tiềm năng của địa phương về phát triển cây dược liệu
Các loài cây dược liệu có thế mạnh phát triển trên địa bàn tỉnh như: Actiso, Thảo quả, Sa nhân, Đương quy, Bạch truật, Bạch chỉ, Độc hoạt, Đẳng sâm, Chè dây, Sinh địa, Tam Thất… đã được khôi phục và phát triển theo các đơn đặt hàng của các công ty kinh doanh và sản xuất dược đóng trên địa bàn tỉnh với diện tích thực hiện năm 2018 như sau:
Nhìn chung chủng loại và tiềm năng phát triển cây dược liệu của tỉnh còn nhiều, sản phẩm dược liệu có tính đặc thù cao là thị trường tiêu thụ bị bó hẹp bởi các công ty dược phẩm thu mua nguyên liệu nên người nông dân chưa mạnh dạn mở rộng sản xuất Chỉ có một số loại dược liệu vốn dễ tiêu thụ trên thị trường tự do như: Giảo
cổ lam, Chè dây, sa nhân tím đã có tiếng trên thị trường được các tư thương tìm mua với số lượng không hạn chế nên được người dân quan tâm đầu tư sản xuất
Trang 32Bảng 1.2 Hiệu quả kinh tế một số cây dược liệu hàng hóa trên địa bàn tỉnh Lào Cai năm 2018
Số
TT Chỉ tiêu BQ (tấn/ha) Năng suất
Giá bán BQ (Triệu đồng/tấn)
Thành tiền (Triệu đồng)
Trang 33Qua bảng 1.2 ta có thể thấy được cây dược liệu trên địa bàn tỉnh là cây trồng
có giá trị kinh tế cao, cao hơn so với các cây trồng truyền thống như ngô, lúa và một
số cây trồng khác Cụ thể cây tam thất là cây có giá trị nhất trên 1 tỷ đồng tiếp sau đến là cây đương quy với giá trị đạt lợi nhuận 90 triệu đồng, các loại cây còn lạinhư astiso, sa nhân tím là những cây mới được trồng trên địa bàn do vậy giá trị đạt được còn chưa cao, tuy nhiên nó hứa hẹn là cây trồng mang lại giá trị cao nếu sản xuất theo quy mô lớn Với kết quả như vậy có thể khẳng định đây là đối tượng cây trồng cần đẩy mạnh phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, từng bước đem lại thu nhập ngày càng cao cho người sản xuất trên địa bàn tỉnh
1.2.2.2 Những thuận lợi và khó khăn trong phát triển cây dược liệu trên địa bàn tỉnh Lào Cai
* Thuận lợi:
- Cây dược liệu là đối tượng dễ trồng, thích hợp với điều kiện khí hậu nhiều vùng khác nhau của tỉnh Lào Cai, nhiều chủng loại cây dược liệu đã gắn bó với người dân từ nhiều năm nay, do vậy đây là cây trồng quen thuộc với nhiều kinh nghiệm chăm sóc và thu hái sản phẩm nên quá trình mở rộng và phát triển cây dược liệu tại các vùng quy hoạch có nhiều thuận lợi
- Cây dược liệu mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn nhiều so với một số cây trồng khác trên địa bàn tỉnh, do đó việc thu hút nguồn lực về đất đai, lao động và nguồn vốn cho phát triển cây dược liệu thuận lợi hơn
- Nhiều chủng loại cây dược liệu là cây có thể trồng xen dưới tán cây trồng lớn (sâm ngọc linh, sa nhân tím ), phù hợp với đất rừng vì vậy việc phát triển cây dược liệu còn nâng cao giá trị đất rừng, góp phần vào việc bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh Lào Cai
- Tỉnh đã có chủ trương về phát triển sản xuất dược liệu trở thành ngành sản xuất mũi nhọn, gắn với vùng kinh tế du lịch sinh thái, vùng bảo tồn Quốc gia
- Một số doanh nghiệp, Công ty dược đã đầu tư vào sản xuất và bao tiêu sản phẩm nên đầu ra cho sản phẩm tương đối ổn định, tạo điều kiện ban đầu để hình thành mối liên kết giữa sản xuất và thị trường giúp cây dược liệu phát triển ổn định (Trapaco; Công ty Đầu tư phát triển Tài nguyên xanh; Công ty TNHH Tâm phát
Trang 34Greem; Công ty XNK Hà Nội; Công ty Nam dược, Công ty OPC đã và đang liên kết đầu tư sản xuất trên địa bàn tỉnh)
* Khó khăn:
- Cây dược liệu yêu cầu về vốn đầu tư ban đầu cao, đặc biệt là nguồn giống chưa có cơ sở nhân giống, gieo ươm tại địa phương do vậy giá giống tương đối cao
so với các cây trồng khác trên địa bàn tỉnh
- Mục tiêu cốt lõi của sản xuất cây dược liệu là Khai thác hàm lượng hoạt chất cần khai thác trong sản phẩm cây dược liệu Đồng thời sản xuất dược liệu hoàn toàn phụ thuộc vào doanh nghiệp thu mua sản phẩm dược liệu đó Đầu ra sản phẩm dược liệu còn bấp bênh
- Hệ thống cơ sở hạ tầng cho phát triển vùng trồng cây dược liệu (đường điện, đường giao thông nội đồng, hệ thống thuỷ lợi, cơ sở nhân ươm sản xuất giống ) còn thiếu, chưa đáp ứng được yêu cầu của sản xuất với quy mô lớn, tập trung Đặc biệt
do địa hình chia cắt phức tạp nên giao thông đi lại khó khăn và nguồn nước tưới không chủ động, ảnh hưởng lớn đến quy hoạch phát triển vùng cây dược liệu trên địa bàn tỉnh
- Người dân còn thiếu kỹ thuật sản xuất, thâm canh cây dược liệu, việc áp dụng
kỹ thuật ứng dụng công nghệ cao còn gặp nhiều hạn chế dẫn đến việc mở rộng diện tích còn nhiều khó khăn
- Hiện nay trong cả nước chưa có cơ sở đào tạo chuyên gia sâu cho sản xuất cây dược liệu Chưa có đề tài khoa học nào nghiên cứu sâu về cây dược liệu
- Hình thức tổ chức sản xuất cây dược liệu trên địa bàn tỉnh vẫn còn mang tính
tự phát, nhỏ lẻ, chưa khuyến khích được công ty, doanh nghiệp chưa đầu tư vào lĩnh vực trồng và phát triển cây dược liệu
- Đất đai chủ yếu thuộc quyền sử dụng của người dân nên khó khăn cho công tác quy hoạch, phát triển sản xuất thành vùng và tập trung
- Hiện nay vẫn chưa có đơn vị đứng ra làm nhiệm vụ quản lý chất lượng sản phẩm cây dược liệu
Trang 35- Chưa gắn kết ngành sản xuất dược liệu với các doanh nghiệp, và các ngành khác: Y tế; Công thương; Văn hóa du lịch một cách chặt chẽ và bền vững để gắn sản xuất với chế biến, sử dụng, tuyên truyền quảng bá, tiêu thụ sản phẩm
1.2.2.3 Tình hình phát triển sa nhân tím trên địa bàn tỉnh Lào Cai
Với đặc tính dễ trồng dưới tán rừng tự nhiên và tái sinh, khả năng sinh trưởng, phát tán nhanh, giá trị kinh tế cao, thị trường tiêu thụ tốt, sa nhân tím đang là “cây xóa nghèo” hiệu quả ở vùng cao, đất dốc, khô hạn của tỉnh Lào Cai Chính quyền và đồng bào các dân tộc nơi đây đang tập trung quy hoạch, phát triển cây sa nhân tím để giải quyết việc làm, tăng thu nhập, gắn với bảo vệ rừng
Toàn tỉnh Lào Cai hiện có khoảng 398 ha cây sa nhân tím, đem lại nguồn thu
ổn định hàng chục tỷ đồng mỗi năm cho nông dân vùng cao, góp phần xóa nghèo bền vững và tạo đà vươn lên làm giàu hiệu quả Mục tiêu đến năm 2020, đồng bào các dân tộc thiểu số ở các xã vùng cao, biên giới sẽ tiếp tục mở rộng diện tích cây sa nhân tím, đạt khoảng gần 1.000 ha Lào Cai cũng đã đưa cây sa nhân tím vào quy hoạch phát triển vùng cây dược liệu của tỉnh Trên cơ sở đó, có cơ chế, chính sách ưu đãi về đất đai, nguồn vốn, cây giống để giúp bà con trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
1.2.3 Tình hình phát triển cây dược liệu tại huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai
1.2.3.1 Tình hình chung
Trên địa bàn huyện Văn Bàn việc sử dụng, khai thác chủ yếu trong rừng tự nhiên gồm các loại: hoàng đằng, tam thất, hà thủ ô, sa nhân tím, khúc khắc… Trong vài năm gần đây, nhất là năm 2018 trên địa bàn huyện các loại dược liệu trên hầu như không có đại lý nào đứng ra để thu mua Việc sử dụng chủ yếu phục vụ nhu cầu thuốc đông y tại địa phương, một phần được đem bán tại các chợ huyện, cụm xã cho khách
có nhu cầu về thuốc nam.Những năm trước đây trên địa bàn huyện Văn Bàn về cây dược liệu người dân chủ yếu chú trọng phát triển cây quế và duy trì diện tích cây thảo quả hiện có Theo báo cáo thông kê của UBND các xã toàn huyện có 2.179 ha cây quế, 2.824 ha cây thảo quả
Trang 361.2.3.2 Những thuận lợi và khó khăn trong việc trồng dược liệu trên địa bàn huyện Văn Bàn
* Thuận lợi
- Cây dược liệu là đối tượng dễ trồng, thích hợp với điều kiện khí hậu nhiều vùng khác nhau của huyện Văn Bàn, nhiều chủng loại cây dược liệu đã được người dân bảo tồn tại vườn nhà, do vậy đã có nhiều kinh nghiệm chăm sóc và thu hái, chế biến các sản phẩm, nên quá trình mở rộng và phát triển cây dược liệu tại các vùng quy hoạch có nhiều thuận lợi nhất là các cây dược liệu quen thuộc
- Cây dược liệu mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn nhiều so với một số cây trồng khác, do đó việc thu hút nguồn lực về đất đai, lao động và nguồn vốn cho phát triển cây dược liệu thuận lợi hơn
- Nhiều chủng loại cây dược liệu là cây có thể trồng xen dưới tán cây trồng lớn, phù hợp với đất rừng vì vậy việc phát triển cây dược liệu còn nâng cao giá trị đất rừng, góp phần vào việc bảo vệ và phát triển rừng
- Một số doanh nghiệp, công ty dược đã đầu tư vào sản xuất và bao tiêu sản phẩm nên đầu ra cho sản phẩm tương đối ổn định, tạo điều kiện ban đầu để hình thành mối liên kết giữa sản xuất và thị trường giúp cây dược liệu phát triển ổn định
Huyện Văn Bàn nằm trong Quy hoạch phát triển cây dược liệu ứng dụng công nghệ cao giai đoạn 2016 - 2020 với diện tích quy mô 20 ha Hiện nay một số hộ dân
xã Dương Quỳ, Thẳm Dương, Nậm Chày người dân đã tự đầu tư phát triển một số cây dược liệu như Sa nhân tím, Đương quy nguồn giống từ huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai
Trang 37- Người dân còn thiếu kỹ thuật sản xuất, thâm canh cây dược liệu, việc áp dụng
kỹ thuật ứng dụng công nghệ cao còn gặp nhiều hạn chế dẫn đến việc mở rộng diện tích còn nhiều khó khăn
- Hình thức tổ chức sản xuất cây dược liệu trên địa bàn huyện vẫn còn mang tính tự phát, nhỏ lẻ, chưa khuyến khích được công ty, doanh nghiệp chưa đầu tư vào lĩnh vực trồng và phát triển cây dược liệu
- Đất đai chủ yếu thuộc quyền sử dụng của người dân nên khó khăn cho công tác quy hoạch, phát triển sản xuất thành vùng và tập trung
1.3 Các bài học kinh nghiệm rút ra từ cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển sản xuất cây sa nhân tím
Với đặc tính dễ trồng dưới tán rừng tự nhiên và tái sinh, khả năng sinh trưởng, phát tán nhanh, giá trị kinh tế cao, thị trường tiêu thụ tốt, sa nhân tím đang là “cây xóa nghèo” hiệu quả ở vùng cao, đất dốc, khô hạn của tỉnh Lào Cai UBND tỉnh, sở NN&PTNT tỉnh Lào Cai đã có văn bản chỉ đạo và xây dựng kế hoạch tập trung quy hoạch, phát triển cây sa nhân tím để giải quyết việc làm, tăng thu nhập, gắn với bảo
vệ rừng
Khác với cây thảo quả chỉ ưa mọc ở nơi rừng già nguyên sinh, đất có nền mùn dày, độ ẩm cao thì cây sa nhân dễ trồng, thích nghi cao, có thể trồng trên đất nghèo kiệt, dưới tán rừng tự nhiên thứ sinh hoặc rừng trồng khoảng từ hai đến ba năm tuổi, khi cây bắt đầu khép tán
Toàn tỉnh Lào Cai hiện có hàng nghìn ha cây sa nhân tím, đem lại nguồn thu
ổn định hàng chục tỷ đồng mỗi năm cho nông dân vùng cao, góp phần xóa nghèo bền vững và tạo đà vươn lên làm giàu hiệu quả Mục tiêu đến năm 2020, đồng bào các dân tộc thiểu số ở các xã vùng cao sẽ tiếp tục mở rộng diện tích cây sa nhân tím Tỉnh Lào Cai cũng đã đưa cây sa nhân tím vào quy hoạch phát triển vùng cây dược liệu của tỉnh Trên cơ sở đó, có cơ chế, chính sách ưu đãi về đất đai, nguồn vốn, cây giống
để giúp bà con trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
Từ cơ sở lý luận và thực tiễn cho thấy các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển cây sa nhân tím gồm các nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên, nhóm nhân tố về kinh
tế - xã hội và nhóm biện pháp về giống và các kỹ thuật