Ví dụ khi muốn bày tỏ thái độ xót thương, buồn rầu chúng ta sử dụng hành động cảm thán, muốn bày tỏ sự hoài nghi hay thắc mắc về một vấn đề, một sự việc chúng ta sử dụng hành động hỏi… T
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐÀO THỊ VÂN
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa có ai công bố trong bất
cứ một công trình nào khác
Thái Nguyên, tháng 09 năm 2019
Tác giả
PHẠM THANH MAI
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn khoa học là PGS.TS Đào Thị Vân đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và tạo điều kiện để tôi thực hiện luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, tập thể các thầy, cô giáo trong Khoa Ngữ Văn, phòng Sau đại học trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Tôi xin cảm ơn tập thể lớp cao học K25B - ngành Ngôn ngữ Việt Nam trường Đai học Sư phạm Thái Nguyên đã đồng hành và đóng góp ý kiến trong quá trình học tập và thực hiện luận văn
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và cơ quan đã quan tâm, động viên, chia sẻ và tạo mọi điều kiện để giúp tôi hoàn thành luận văn và khóa học này
Mặc dù bản thân đã rất nỗ lực, cố gắng song khó tránh khỏi những hạn chế thiếu sót Kính mong quý thầy, cô giáo và những người quan tâm đóng góp ý kiến để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 09 năm 2019
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Phạm Thanh Mai
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Đóng góp của luận văn 4
6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận văn 4
7 Bố cục của luận văn 5
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 6
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về hành động ngôn ngữ và các hành động ngôn ngữ thuộc lớp Cam kết 6
1.1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về các hành động ngôn ngữ 6
1.1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu các hành động ngôn ngữ thuộc lớp Cam kết 7
1.2 Cơ sở lý luận 9
1.2.1 Lí thuyết về ngữ cảnh 9
1.2.2 Lí thuyết về hành động ngôn ngữ 11
1.2.3 Hành động ngôn ngữ thuộc lớp Cam kết 17
1.2.4 Lí thuyết hội thoại 19
1.2.5 Khái quát về văn hóa và ngôn ngữ 23
1.2.6 Vài nét về văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 25
1.3 Tiểu kết 28
Trang 6Chương 2 CÁC HÀNH ĐỘNG NGÔN NGỮ THUỘC LỚP CAM
KẾT TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN XUÔI VIỆT NAM GIAI
ĐOẠN 1930 - 1945 XÉT VỀ HÀNH ĐỘNG Ở LỜI VÀ PHƯƠNG
THỨC THỂ HIỆN 29
2.1 Kết quả khảo sát 29
2.1.1 Nhận xét chung 29
2.1.2 Số lượng và phân loại hành động ngôn ngữ thuộc lớp Cam kết trong văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 29
2.2.1 Hành động hứa 31
2.2.2 Hành động cam đoan 42
2.2.3 Hành động thề 50
2.2.4 Hành động ngôn ngữ trung gian (mơ hồ) 58
2.3 Tiểu kết 65
Chương 3 HÀNH ĐỘNG NGÔN NGỮ THUỘC LỚP CAM KẾT TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN XUÔI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1930 - 1945 TỪ GÓC NHÌN CỦA LÝ THUYẾT HỘI THOẠI 67
3.1 Nhận xét chung 67
3.2 Chủ ngôn và đối tượng tiếp nhận hành động ngôn ngữ thuộc lớp Cam kết trong một số tác phẩm văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1930-1945 68
3.1.1 Chủ ngôn của các hành động ngôn ngữ thuộc lớp Cam kết 68
3.1.2 Đối tượng tiếp nhận các hành động ngôn ngữ thuộc lớp Cam kết 71
3.2 Chức năng của các hành động thuộc lớp Cam kết trong một số tác phẩm văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 72
3.2.1 Hành động ngôn ngữ thuộc lớp Cam kết đảm nhiệm chức năng dẫn nhập 72
3.2.2 Hành động ngôn ngữ thuộc lớp Cam kết đảm nhiệm chức năng hồi đáp 74
3.2.3 Hành động ngôn ngữ thuộc lớp Cam kết vừa đảm nhiệm chức năng hồi đáp vừa đảm nhiệm chức năng dẫn nhập 77
Trang 73.3 Vai trò của hành động ngôn ngữ thuộc lớp Cam kết trong một số tác
phẩm văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 79
3.3.1 Hành động ngôn ngữ thuộc lớp Cam kết thể hiện thái độ, tính cách nhân vật 79
3.3.2 Hành động ngôn ngữ thuộc lớp Cam kết thể hiện vị thế và quan hệ giữa các nhân vật giao tiếp 86
3.3.3 Hành động ngôn ngữ thuộc lớp Cam kết thể hiện văn hóa giao tiếp của người Việt 89
3.4 Tiểu kết 93
KẾT LUẬN 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Bảng tổng kết số lượng và số lượt dùng các hành động ngôn
ngữ thuộc lớp Cam kết 30
Bảng 2.2: Bảng tổng kết hành động hứa 31
Bảng 2.3: Bảng tổng kết hình thức diễn đạt của hành động hứa 39
Bảng 2.4: Bảng tổng kết phương thức thể hiện của hành động hứa 42
Bảng 2.5: Bảng tổng kết hành động cam đoan 43
Bảng 2.6: Bảng tổng kết hình thức diễn đạt của hành động cam đoan 48
Bảng 2.7: Bảng tổng kết phương thức thể hiện của hành động cam đoan 50
Bảng 2.8: Bảng tổng kết hành động thề 51
Bảng 2.9: Bảng tổng kết hình thức diễn đạt của hành động thề 56
Bảng 2.10: Bảng tổng kết phương thức thể hiện của hành động thề 58
Bảng 2.11: Bảng tổng kết hành động ngôn ngữ trung gian 59
Bảng 2.12: Bảng tổng kết phương thức thể hiện của hành động ngôn ngữ trung gian thuộc lớp Cam kết 65
Bảng 3.1: Bảng phân loại chức năng của hành động ngôn ngữ thuộc lớp Cam kết trong một số tác phẩm văn xuôi giai đoạn 1930-1945 72
Trang 10và trọng tâm của Ngữ dụng học
Khi giao tiếp, để bày tỏ được ý định, mục đích của mình, người nói thường dùng nhiều loại hành động ngôn ngữ, mà mỗi loại hành động đó lại được thực hiện bằng một số kiểu câu có hình thức, mục đích nói năng nhất định Ví dụ khi muốn bày tỏ thái độ xót thương, buồn rầu chúng ta sử dụng hành động cảm thán, muốn bày tỏ sự hoài nghi hay thắc mắc về một vấn đề, một sự việc chúng ta sử dụng hành động hỏi… Trong các hành động nói năng, hành động ngôn ngữ thuộc lớp Cam kết được người Việt sử dụng khá phổ biến trong giao tiếp và cũng là một trong những đối tượng được Ngữ dụng học quan tâm
Trong những năm gần đây, xu hướng nghiên cứu hành động ngôn ngữ đã và đang thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ Hướng tới việc xây dựng bức tranh khái quát về hành động ngôn ngữ của người Việt nói chung, của các nhân vật trong tác phẩm văn chương nói riêng, đã có nhiều công trình nghiên cứu về các nhóm hành động ngôn ngữ Song, có thể nói rằng đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu hành động thuộc lớp Cam kết của nhân vật trong văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 một cách công phu, bài bản
Văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 đã có những đóng góp đáng kể trong lịch sử văn học nước nhà Sự đóng góp ở đây không chỉ thể hiện ở xu hướng chọn đề tài, ở sự phản ánh trung thực lịch sử xã hội và cách mạng Việt
Trang 11Nam giai đoạn này mà còn thể hiện ở phong cách nghệ thuật độc đáo qua ngôn ngữ nhân vật, trong đó hành động ngôn từ của mỗi kiểu nhân vật thuộc các giai tầng xã hội lại không giống nhau
1.2 Lí do chủ quan
Là một giáo viên giảng dạy văn học trong nhà trường phổ thông, thiết nghĩ muốn hiểu được lịch sử xã hội Việt Nam, hiểu được văn hóa giao tiếp con người Việt Nam thuộc các tầng lớp khác nhau trong giai đoạn xã hội Việt Nam phân chia giai cấp, không thể không nghiên cứu ngôn ngữ của họ Vì vậy, chọn đề tài
Tìm hiểu hành động ngôn ngữ thuộc lớp Cam kết trong một số tác phẩm văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 để nghiên cứu, chúng tôi muốn khắc sâu
lý thuyết hành động ngôn ngữ và làm rõ thêm đặc điểm ngôn ngữ của các nhân vật văn học trong giai đoạn lịch sử này, đồng thời giúp chúng tôi hiểu thêm về nghệ thuật sử dụng ngôn từ của một số các tác giả có tên tuổi của nền văn học Việt Nam
2 Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu hành động ngôn ngữ thuộc lớp Cam kết của nhân vật trong văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945, người viết một mặt muốn làm rõ cách dùng hành động ngôn ngữ thuộc lớp Cam kết cũng như vị thế của các nhân vật thuộc hai giai cấp ở xã hội Việt Nam thời kì trước Cách mạng tháng 8, mặt khác, muốn góp phần củng cố lí thuyết hành động ngôn ngữ và làm tài liệu tham khảo cho những ai muốn nghiên cứu ngôn ngữ văn chương nói chung, hành động ngôn ngữ thuộc lớp Cam kết trong văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1930-1945 nói riêng
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt mục đích nói trên, luận văn đặt ra một số nhiệm vụ chính sau đây: (1) Nghiên cứu và lựa chọn những vấn đề lí thuyết làm căn cứ lí luận cho việc xử lí đề tài
(2) Khảo sát, thống kê và phân loại các hành động ngôn ngữ thuộc lớp
Trang 12Cam kết trong những tác phẩm được chọn làm nguồn ngữ liệu khảo sát
(3) Miêu tả, phân tích và tổng kết các hành động ngôn ngữ lớp Cam kết của nhân vật theo từng tiêu chí đã định trước
(4) Ngoài ra, luận văn còn phân tích chức năng, vai trò của các hành động ngôn ngữ lớp Cam kết trong việc thể hiện nghệ thuật của tác phẩm
3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là “Các hành động thuộc lớp Cam kết
trong một số tác phẩm văn xuôi Việt Nam, giai đoạn 1930 - 1945”
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về ngữ liệu khảo sát: Ngữ liệu khảo sát hành động ngôn ngữ thuộc lớp
Cam kết của nhân vật là một số tác phẩm văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1930 -
1945, cụ thể: Tiểu thuyết Giông tố của Vũ Trọng Phụng, Bước Đường Cùng của Nguyễn Công Hoan, Tuyển tập truyện ngắn Nam Cao, Tuyển tập Ngô Tất Tố, Tiểu thuyết Nửa chừng xuân, Hồn bướm mơ tiên, Thừa tự của Khái Hưng, Đôi
bạn, Đoạn tuyệt, Lạnh lùng của Nhất Linh, Gánh hàng hoa, Đời mưa gió của
Khái Hưng - Nhất Linh
- Về nội dung nghiên cứu: Luận văn này nghiên cứu hành động ngôn ngữ
thuộc lớp Cam kết của nhân vật trong các tác phẩm trên về ba phương diện:
+ Hành động ở lời;
+ Phương thức thể hiện (hành động ngôn ngữ);
+ Chủ ngôn và đối tượng tiếp nhận của hành động thuộc lớp Cam kết; + Chức năng và vai trò của các hành động thuộc lớp Cam kết của nhân vật trong các tác phẩm đã chọn làm ngữ liệu khảo sát
4 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, người viết sử dụng một số phương pháp và thủ pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:
- Phương pháp thống kê, phân loại: Phương pháp nghiên cứu này được
dùng để thống kê và phân loại các hành động ngôn ngữ lớp Cam kết của nhân vật trong các tác phẩm nói trên
Trang 13- Phương pháp miêu tả: Luận văn sử dụng phương pháp miêu tả để phân
tích, miêu tả các đặc điểm của hành động ngôn ngữ thuộc lớp Cam kết trong một
số tác phẩm văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1930-1945
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Những phương pháp nghiên cứu này
được dùng để phân tích, tổng hợp đặc điểm của các lớp hành động ngôn ngữ đã được thống kê và phân loại
- Thủ pháp so sánh, đối chiếu: Thủ pháp so sánh, đối chiếu được dùng để
so sánh những điểm đồng nhất và khác biệt giữa một số hành động ngôn ngữ thuộc lớp hành động ngôn ngữ thuộc lớp Cam kết trong các tác phẩm đã nói trên
5 Đóng góp của luận văn
Nghiên cứu hành động ngôn ngữ thuộc lớp Cam kết trong một số tác phẩm văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1930-1945 trên cơ sở kiến thức liên ngành ngôn ngữ và văn học, luận văn đã có một số đóng góp như sau:
- Luận văn đã thống kê được những số liệu cụ thể về việc sử dụng các hành
động hứa, hành động thề, hành động cam đoan và hành động ngôn ngữ trung
gian trong các tác phẩm văn xuôi thuộc phạm vi khảo sát
- Từ góc nhìn của lý thuyết hội thoại, luận văn đã chỉ ra những chức năng
và vai trò của hành động ngôn ngữ thuộc lớp Cam kết trong các văn bản văn học
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ đóng góp cho việc phân tích, giảng dạy một số tác phẩm văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1930-1945 trên bình diện ngữ dụng học thông qua việc miêu tả, phân tích các hành động ngôn ngữ thuộc lớp Cam kết trong hội thoại giữa các nhân vật
Trang 14Luận văn là tư liệu tham khảo cho giáo viên, học sinh, những người có nhu cầu tìm hiểu về hành động ngôn ngữ thuộc lớp Cam kết trong một số tác phẩm văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1930-1945
7 Bố cục của luận văn
Ngoài các phần: Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận
Chương 2: Các hành động ngôn ngữ thuộc lớp Cam kết trong một số tác
phẩm văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 xét về hành động ở lời và phương thức thể hiện
Chương 3: Hành động ngôn ngữ thuộc lớp Cam kết trong một số tác phẩm
văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1930-1945 nhìn từ lý thuyết hội thoại
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về hành động ngôn ngữ và các hành động ngôn ngữ thuộc lớp Cam kết
1.1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về các hành động ngôn ngữ
1.1.1.1 Các tác giả nước ngoài
Nói về các công trình nghiên cứu hành động ngôn ngữ (có người gọi là
“hành động ngôn từ”, “hành vi ngôn ngữ”) của các tác giả nước ngoài, không thể không nhắc đến một số nhà ngôn ngữ học với những công trình nghiên cứu tiêu biểu sau:
- J Austin là người có công đầu trong việc xây dựng lí thuyết hành động ngôn từ Lí thuyết này được thể hiện trong 12 chuyên đề giảng dạy ở Đại học Havard, sau này được học trò của ông tập hợp trong cuốn “How to do things with words” (Hành động như thế nào bằng lời nói)
- J Searle là người đã kế thừa và phát triển lí thuyết hành động ngôn từ của J Austin Ông khẳng định bản chất hành động của mỗi lời nói thông qua việc chỉ ra các phương tiện nhận diện lực ngôn trung trong câu Để khắc phục những hạn chế của J Austin, J Searle đã đưa ra một hệ thống gồm 12 tiêu chí phân loại hành động ngôn từ, ngoài ra ông cũng xác lập một hệ thống thuận ngôn (bao gồm nội dung mệnh đề, điều kiện chuẩn bị, điều kiện chân thành, điều kiện căn bản) Đây là những đóng góp to lớn của tác giả trong việc phát triển lí luận về hành động ngôn từ
- A Wierzbicka với công trình nghiên cứu mang tên “English speech act verbs - a semantic dictionary” đã phân loại hành động ngôn từ khá chi tiết dựa trên cơ sở 270 vị từ - động từ nói năng (speech act verbs) Các vị từ này được bà qui về 37 nhóm, tiêu biểu là: ra lệnh (order), cầu xin (ask1), hỏi (ask2), mời gọi (call), cấm (forbid), cho phép (permit), tranh cãi (argue), trách mắng (reprimand),
Trang 16Quan trọng là trong quá trình miêu tả và giải thích, tác giả đã bám theo những tiêu chí của điều kiện thuận ngôn như: cương vị của Sp1 và Sp2; Sp1 dùng chiến lược nào (lí trí hay tình cảm) để hành động; Sp2 có quyền từ chối việc thực hiện hành động được nêu trong nội dung mệnh đề hay không; khi công việc hoàn tất, người hưởng lợi là Sp1 hay Sp2
- Ngoài ba nhà ngôn ngữ học kể trên, còn một số nhà nghiên cứu kế tục công việc phân loại hành động ngôn từ của J Austin, đó là: D Wunderlich, F Recanati, K Bach, R.M Hanish, K Allan, Song do khuôn khổ của luận văn, chúng tôi không thể bàn thêm về các căn cứ phân loại cũng như quan điểm của các tác giả này
1.1.1.2 Các tác giả trong nước
Có nhiều nhà Việt ngữ học quan tâm đến lí thuyết hành động ngôn ngữ, xin được giới thiệu hai tác giả tiêu biểu:
- Tác giả Đỗ Hữu Châu là một trong những dịch giả và cũng là tác giả dành nhiều tâm huyết nghiên cứu về hành động ngôn ngữ (xin nói thêm, hành động ngôn ngữ được tác giả gọi bằng cái tên khác là hành vi ngôn ngữ) Không chỉ chuyển tải những quan điểm của J Austin, J Searle, tác giả Đỗ Hữu Châu
còn nêu định nghĩa về hành vi ngôn ngữ và các vấn đề liên quan như: phát ngôn
ngữ vi, biểu thức ngữ vi, động từ ngữ vi, biểu thức ngữ vi tường minh và biểu thức ngữ vi nguyên cấp,
- Tác giả Nguyễn Đức Dân, ngoài những nội dung giới thiệu quan điểm của J Austin, J Searle, còn chỉ ra những hiện tượng mơ hồ giữa vị từ ngôn hành
(tác giả dùng thuật ngữ động từ ngữ vi) và động từ trần thuật, giữa câu ngữ vi và
câu trần thuật để từ đó đề xuất một số cách phân biệt hai loại câu này
1.1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu các hành động ngôn ngữ thuộc lớp Cam kết
Có thể nói, đến nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu trực tiếp hay gián tiếp bàn về hành động ngôn ngữ thuộc lớp Cam kết, dưới đây là một số công trình tiêu biểu (xin liệt kê theo năm công bố):
Trang 17Bài báo Hành vi cam kết và các động từ biểu thị hành vi cam kết in trên “Tạp
chí Ngôn ngữ, số 5, 2006” của tác giả Vũ Tố Nga đã chỉ ra khái niệm hành vi cam
kết và các động từ biểu thị hành vi cam kết Đồng tác giả còn có bài báo “Sự kiện
lời nói và sự kiện lời nói cam kết trong hội thoại” (Tạp chí Từ điển học và Bách
khoa thư, số 5 (31), tháng 9- 2014) đã đưa ra khái niệm sự kiện lời nói và nghiên cứu về sự kiện lời nói cam kết trong hội thoại Bài báo đã xây dựng khái niệm sự kiện lời nói cam kết, cấu trúc của sự kiện lời nói cam kết bao gồm cấu trúc tổng thể
và cấu trúc lõi Ngoài ra, tác giả Vũ Tố Nga còn có công trình “Các thành phần của
một biểu thức ngữ vi cam kết tường minh” (Đỗ Hữu Châu - Hành trình và tiếp nối,
NXB ĐHQGHN, HN - 2015) đã miêu tả, phân tích chi tiết về các thành phần tạo nên một biểu thức ngữ vi cam kết tường minh: người nói; động từ biểu thị hành vi cam kết; người, đối tượng tiếp nhận hoặc chứng kiến hành vi cam kết và nội dung mệnh đề Có thể thấy tác giả Vũ Tố Nga đã có sự nghiên cứu chuyên sâu về hành động cam kết Từ đó, góp phần đem đến cho người đọc một cái nhìn tổng thể và làm sáng tỏ thêm về hành động ngôn ngữ này
Luận văn Thạc sĩ “Khảo sát hành động hứa hẹn và các phương thức biểu hiện nó” (Trên ngữ liệu tiếng Việt và tiếng Anh) (2009) của tác giả Vũ Thị Minh Thu đã vận dụng lý thuyết về hành vi ngôn ngữ, lý thuyết hội thoại… đưa ra một cái nhìn bao quát và cụ thể về hành động hứa hẹn và các phương thức biểu hiện
nó và có so sánh với tiếng Anh để tìm ra những điểm tương đồng và dị biệt trong hai nền văn hóa Công trình này đã đưa ra cách phân loại hành động hứa hẹn theo nội dung: hứa hẹn thuộc phạm trù giúp đỡ, nhượng bộ, hứa hẹn thuộc phạm trù mời chào và hứa hẹn thuộc phạm trù giao kèo, thề bồi
Luận án Tiến sĩ “Hành vi ngôn ngữ thề (swear) trong tiếng Việt” (2013) của tác giả Nguyễn Thị Thu Nga đã vận dụng các lý thuyết về hành động ngôn ngữ, lý thuyết hội thoại để nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và ngữ nghĩa của hành động thề Từ mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa, tác giả đưa ra một số đặc trưng văn hóa dân tộc qua lời thề và một số đặc trưng của việc sử dụng lời thề trong giao tiếp của người Việt hiện nay
Trang 18Với các công trình dẫn trên một lần nữa khẳng định đã có các nhà nghiên cứu ngôn ngữ quan tâm đến hành động ngôn ngữ nói chung và hành động thuộc lớp Cam kết trong tiếng Việt nói riêng Song chưa có công trình nào nghiên cứu
về các hành động ngôn ngữ thuộc lớp Cam kết qua lời thoại của nhân vật trong văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 một cách bài bản
Như vậy, căn cứ vào tình hình thực tiễn nghiên cứu về hành động ngôn ngữ nói chung và các hành động hứa hẹn, cam kết, thề nói riêng, ở luận văn này chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu hành động ngôn từ của nhân vật trong tác phẩm văn chương cụ thể là các hành động ngôn ngữ thuộc lớp Cam kết về các phương diện: hành động ở lời, phương thức thể hiện và nghiên cứu các hành động ngôn ngữ này từ góc nhìn lý thuyết hội thoại
1.2 Cơ sở lý luận
1.2.1 Lí thuyết về ngữ cảnh
1.2.1.1 Khái niệm ngữ cảnh
Theo từ điển Encyclopedia of Language and Linguisticsđịnh nghĩa: “Ngữ
cảnh (situtional context; context of situation; context de situation) là bối cảnh ngoài ngôn ngữ của một phát ngôn hay là những thông tin ngoài ngôn ngữ góp phần tạo nên nghĩa (của phát ngôn)” [27]
1.2.1.2 Các nhân tố thuộc ngữ cảnh
Các nhân tố của ngữ cảnh thường được nói tới là:
- Nhân vật giao tiếp: Nhân vật giao tiếp bao gồm người nói (viết) và người
nghe (đọc) Mỗi người có một vị thế nhất định: vị thế XH (trên, dưới, bình đẳng),
vị thế giao tiếp (quyền chủ động hay bị động) Các vị thế này hình thành quan hệ giao tiếp (thân mật, gần gũi, khách sáo quan cách, nhiệt tình, hờ hững…)
- Hoàn cảnh giao tiếp: Hoàn cảnh giao tiếp bao gồm hoàn cảnh giao tiếp
rộng và hoàn cảnh giao tiếp hẹp
- Hiện thực được nói tới: Đó có thể là hiện thực bên ngoài các nhân vật
giao tiếp hoặc là hiện thực tâm trạng của con người
Trang 19- Ngữ huống: Những thay đổi theo diễn biến của cuộc giao tiếp: nhân vật
giao tiếp mới xuất hiện, nhân vật giao tiếp cũ không tiếp tục tham gia giao tiếp nữa, trạng thái tâm lí, trạng thái hiểu biết, ý đồ, đề tài thay đổi
- Văn cảnh: Văn cảnh bao gồm tất cả các yếu tố ngôn ngữ như âm, tiếng,
từ ngữ, câu cùng có mặt trong văn bản, đi trước hoặc đi sau một yếu tố ngôn ngữ nào đó đang được xem xét
Mỗi một nhân tố trên đóng vai trò nhất định trong việc tạo lập lời nói phù hợp và giúp lĩnh hội đầy đủ, thấu đáo lời nói của người mà mình giao tiếp
1.2.1.3 Vai trò của ngữ cảnh trong hoạt động giao tiếp ngôn ngữ
Ngữ cảnh đóng vai trò quan trọng trong việc tạo lập văn bản và lĩnh hội văn bản
a Đối với quá trình sản sinh văn bản (nói, viết): Ngữ cảnh chính là môi trường sản sinh ra các phát ngôn giao tiếp, nó chi phối cả hình thức và nội dung của phát ngôn Việc dùng từ đặt câu phải phù hợp về ngữ nghĩa và ngữ pháp với các từ ngữ khác được dùng trong văn bản, phải phù hợp với quan hệ giữa người viết và người đọc (về vị thế, về quan hệ thân sơ, trạng thái tâm lí…), phải phù hợp với cách thức giao tiếp (viết hay nói) và tình huống giao tiếp cụ thể (giao tiếp có tính chất nghi lễ hay không có tính chất nghi lễ)
Ngoài ra còn cần phải chú ý đến hoàn cảnh giao tiếp Vì điều đó sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả của cuộc giao tiếp Chẳng hạn, ở Việt Nam khi mới gặp nhau lần đầu người ta hay hỏi nhau về tuổi tác để xưng hô cho đúng Nhưng ở một số nước trên thế giới việc hỏi tuổi lại bị coi là khiếm nhã Vì thế việc tìm hiểu phong tục tập quán, nét văn hóa nơi mình giao tiếp cũng là việc rất quan trọng Nó sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả giao tiếp của mình
Tóm lại, ngữ cảnh đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo lập văn bản (nói, viết) Muốn đạt hiệu quả giao tiếp cao, người nói (viết) cần chú ý đến ngữ cảnh, đến từng nhân tố trong đó
Trang 20b Đối với việc lĩnh hội văn bản, muốn lĩnh hội chính xác, thấu đáo một phát ngôn nào đó người nghe (người đọc) cần căn cứ vào ngữ cảnh Phải đặt phát ngôn đó vào ngữ cảnh mà nó ra đời, dựa vào tình huống cụ thể để phân tích, lý giải, hiểu cặn kẽ từng chi tiết về nội dung và hình thức
1.2.2 Lí thuyết về hành động ngôn ngữ
1.2.2.1 Khái niệm hành động ngôn ngữ
Bằng cách sử dụng ngôn ngữ, con người thực hiện rất nhiều hoạt động khác nhau trong giao tiếp Các hành động này được thể hiện hết sức đa dạng và được gọi chung là hành động ngôn ngữ Mối liên hệ giữa ngôn ngữ và hành động ngôn ngữ của con người là hiển nhiên Có thể nói hành động ngôn ngữ là một vấn đề cơ bản và trọng tâm của Ngữ dụng học
Trong Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, hành động ngôn ngữ được định nghĩa là “Một đoạn lời có mục đích nhất định thực hiện trong những
điều kiện nhất định được tách biệt bằng các phương tiện trên ngữ liệu và hoàn chỉnh thống nhất về mặt cấu âm - âm học mà người nói người nghe đều có liên
hệ với một ý nghĩa như nhau, trong hoàn cảnh giao tiếp nào đó Hành động ngôn ngữ được thực hiện khi một người nói (người viết) nói (viết) ra một phát ngôn cho người nghe (người đọc) trong một ngữ cảnh nhất định.” [41; tr.176]
Những năm 60 của thế kỉ XX, J Austin và J Searle đề xuất lý thuyết hành động ngôn từ (speech act) Theo Austin, người ta thực hiện đến 3 loại hành động trong khi nói ra một phát ngôn đó là: hành động tạo lời, hành động ở lời và hành động mượn lời
Hành động tạo lời (locutionary act) là hành động người nói sử dụng các
yếu tố của ngôn ngữ như ngữ âm, từ, các kiểu kết hợp từ để tạo ra phát ngôn thành phẩm với một dạng thức cụ thể và một ý nghĩa ít nhiều xác định
Hành động ở lời (illocutionarxy act) là hành động người nói thực hiện
ngay khi nói năng để tạo ra hiệu quả thuộc ngôn ngữ, đặt trong một thiết chế xã hội, một môi trường văn hóa - ngôn ngữ nào đó Đó là những hành động như: cảm ơn, xin lỗi, hứa, ra lệnh, đề nghị, thề, bác bỏ
Trang 21Hành động mượn lời (perlocutionary act) là hành động thông qua phương
tiện ngôn ngữ để gây ra một hiệu quả ngoài ngôn ngữ, thể hiện qua tác động tâm
lí mà phát ngôn đem lại với người nghe
Trong ba loại hành động này thì hành động ở lời là đối tượng nghiên cứu của Ngữ dụng học Và khái niệm hành động ngôn ngữ hiểu theo nghĩa hẹp chính
là hành động ở lời
Tiếp theo Austin, John R Searle, nhà triết học ngôn ngữ người Mĩ, đã tiếp tục phát triển lý thuyết hành động ngôn ngữ với tác phẩm nổi tiếng nhất của mình, đó là “Speech Acts” (1969) Với Searle, Speech Acts có thể hiểu là “Nói
là hành vi tuân theo điều kiện” Mỗi hành động ngôn ngữ phải tuân theo những điều kiện nhất định Searle cũng tin rằng mỗi khi ai đó thực hiện một hành động ngôn ngữ thì người đó có thể thực hiện ba hành động:
- Hành động phát ngôn (utterance act) là hành động mà người nói sử dụng
dòng âm thanh, từ ngữ và cấu trúc ngữ pháp để tạo ra phát ngôn giao tiếp
- Hành động mệnh đề (propositional act) là nội dung ý nghĩa của phát ngôn
và nội dung đó có thể nhận xét được là đúng hay sai
- Hành động ở lời (Illocutionary act) là sự bày tỏ của người nói cho người
nghe biết chủ ý/ ý định tại lời (illocutionary intention) của mình nói ra một phát ngôn Searle cũng đưa ra một bộ tiêu chí để phân loại các hành động ở lời
Có thể nói rằng tư tưởng của Austin và Searle đã tạo nền móng vững chắc cho lí thuyết hành động ngôn ngữ
Các nhà ngôn ngữ học Việt Nam đã nghiên cứu và đưa ra các khái niệm
về hành động ngôn ngữ (còn gọi là hành vi ngôn ngữ)
Theo Đỗ Hữu Châu: “Khi chúng ta nói năng là chúng ta hành động, chúng
ta thực hiện một loại hành động đặc biệt mà phương tiện thể hiện là ngôn ngữ Hành động ngôn ngữ được thực hiện khi người nói (hoặc người viết) SP1 nói ra một phát ngôn U cho người nghe (hoặc người đọc) SP2 trong ngữ cảnh C” [10; tr.88]
Trang 22Tác giả Nguyễn Thiện Giáp gọi hành động ngôn ngữ là hành động ngôn
từ, ông cho rằng: "Các hành động được thực hiện bằng lời gọi là hành động ngôn
từ (speech act) Hành động ngôn từ chính là ý định về mặt chức năng của một phát ngôn" [16; tr.42]
Như vậy, có thể khẳng định “hành động ngôn ngữ” chính là một hành
động sử dụng ngôn từ nhằm tác động đến người tiếp nhận lời trong giao tiếp,
nó gắn liền với hoạt động nói năng của con người và mang tính chất xã hội
1.2.2.2 Phân loại hành động ngôn ngữ
Trước J Austin, Wittgenstein đã nói tới các hành động ngôn ngữ mặc dù nhà triết học này không dùng thuật ngữ hành động mà dùng thuật ngữ trò chơi ngôn ngữ Ông đã liệt kê hàng loạt những hành động ngôn ngữ như: đưa ra một mệnh lệnh và tuân lệnh, miêu tả bề ngoài một vật và đo đạc nó, tường thuật lại một sự kiện, nghiên cứu một vấn đề, hình thành và kiểm nghiệm một giả thuyết, trình bày kết quả nghiên cứu bằng biểu bảng, viết và đọc truyện, diễn kịch, giải câu đố, nói đùa, dịch, hỏi, cảm ơn, chửi, chào, cầu nguyện nhưng ông cho rằng không thể phân loại được chúng
J Austin đã thử nghiệm phân loại những hành động ngôn ngữ mà Wittgenstein đã liệt kê và được năm phạm trù đó là: phán xử, hành xử, cam kết, trình bày và ứng xử
Searle cho rằng Austin đã phân loại trên những tiêu chí chồng chéo nhau và không rõ ràng nên đã có những yếu tố không tương hợp được xếp trong một lớp, lại có những hành động về bản chất cùng loại nhưng được xếp vào các lớp khác nhau Searle đã đưa ra 4 tiêu chí quan trọng nhất là: đích tại lời, hướng khớp ghép lời - hiện thực, trạng thái tâm lí được biểu hiện, nội dung mệnh đề
Searle đã phân loại các hành động ở lời thành 5 lớp lớn: Biểu hiện (representatives) (còn gọi là trình bày, khảo nghiệm, thông tin miêu tả, xác tín), Điều khiển (directives) (còn gọi là chi phối), Kết ước (commissives) (còn gọi là Cam kết), Cảm thán (expressives), Tuyên bố (declarations)
Trang 231.2.2.3 Điều kiện thực hiện các hành động ở lời
Hành động ở lời, cũng giống như các hành động khác của con người, chỉ được thực hiện thành công với những điều kiện nhất định Hơn nữa, hành động ở lời còn là một hành động xã hội, nên những điều kiện để thực hiện còn chặt chẽ và đa dạng hơn Những điều kiện đó được gọi là điều kiện sử dụng hành động ở lời vì nếu có chúng thì hành động ở lời mới thực hiện được và thực hiện có hiệu quả
Tuy điều kiện sử dụng của mỗi hành động ở lời khác nhau nhưng vẫn có thể tìm ra những cái chung trong những điều kiện riêng Searle cho rằng có bốn loại điều kiện sử dụng hành động ở lời sau đây:
a Điều kiện nội dung mệnh đề
Điều kiện này chỉ ra bản chất nội dung của hành động Mỗi hành động ở lời sẽ có một nội dung mệnh đề đặc trưng
b Điều kiện chuẩn bị
Đây là điều kiện liên quan tới các quan hệ giữa người nói và người tiếp nhận hành động Cũng thuộc điều kiện chuẩn bị là lợi ích, trách nhiệm, năng lực vật chất, tinh thần cũng như quyền lực của người nói đối với hành động ở lời mà mình đưa ra
c Điều kiện chân thành
Đây là điều kiện chỉ ra trạng thái tâm lí của người thực hiện hành động ở lời thích hợp với hành động ở lời mà mình đưa ra Điều kiện chân thành còn có nghĩa là người nói thực sự, chân thành mong đợi hiệu quả ở lời của hành động ở lời mà mình thực hiện
d Điều kiện căn bản
Theo điều kiện này thì người thực hiện một hành động ở lời nào đó khi phát ra biểu thức ngữ vi tương ứng bị ràng buộc ngay vào trách nhiệm mà hành động ở lời tạo ra biểu thức ngữ vi đó đòi hỏi
Trang 241.2.2.4 Phát ngôn ngữ vi, biểu thức ngữ vi, động từ ngữ vi
a Phát ngôn ngữ vi
“Phát ngôn ngữ vi là phát ngôn - sản phẩm của một hành động ở lời nào đó khi hành động này được thực hiện một cách trực tiếp, chân thực.” [10; tr.91]
Trong thực tế chúng ta có thể gặp hai loại phát ngôn ngữ vi Phát ngôn ngữ
vi tối giản là phát ngôn ngữ vi chỉ có biểu thức ngữ vi, chẳng hạn như:
Vi dụ 1: “Em hứa từ mai sẽ đi học đầy đủ.”
Và các phát ngôn ngữ vi mở rộng, ngoài biểu thức ngữ vi còn chứa những thành phần phụ khác
Ví dụ 2: "Để hoàn thành công việc sớm, tớ hứa sẽ chăm chỉ làm việc Phát
ngôn ngữ vi này gồm biểu thức ngữ vi cốt lõi “Tớ hứa sẽ chăm chỉ làm việc” của hành động hứa và thành phần mở rộng “Để hoàn thành công việc sớm”
b Biểu thức ngữ vi
Searle cho rằng tất cả các phát ngôn (do hành động tạo lời và hành động ở lời tạo ra) đều có hai thành phần ngữ nghĩa kí hiệu là: F(p) (p) là nội dung thông tin thường được biểu diễn bằng một nội dung mệnh đề (là sự phản ánh một sự tình khách quan vào phát ngôn bằng cấu trúc vị từ - tham thể, cho nên (p) cũng tương đương với cấu trúc vị từ - tham thể) F là kí hiệu chỉ hiệu lực ở lời do hành động ở lời tạo ra phát ngôn đó mà có
Trong một phát ngôn, có những dấu hiệu cho biết phát ngôn đó do hành động ở lời nào tạo ra, tức có hiệu lực ở lời F gì Chẳng hạn, một phát ngôn “Anh
có đi Huế không?” là một phát ngôn đặc trưng cho hành động ở lời hỏi vì nó có những dấu hiệu đặc trưng như kiểu kết cấu “…có … không?” và ngữ điệu hỏi Những dấu hiệu này được gọi là phương tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời (illocutionary force indicating devices - IFIDs) Nhờ các dấu hiệu này mà người nghe có thể nhận ra hành động ở lời nào đang được người nói thực hiện để hồi đáp lại bằng một hành động thích hợp
Trang 25Biểu thức ngữ vi có thể có động từ ngữ vi hay không có động từ ngữ vi trên bề mặt câu chữ Nếu biểu thức ngữ vi có chứa động từ ngữ vi trên bề mặt câu chữ thì đó là biểu thức ngữ vi tường minh [28, tr.81]
Nếu biểu thức ngữ vi không có các động từ ngữ vi trên bề mặt câu chữ thì
đó là biểu thức ngữ vi hàm ẩn hay còn gọi là biểu thức ngữ vi nguyên cấp
Ví dụ 3: “ - Em hứa sẽ giúp chị làm việc.”
“- Bạn ấy đã hứa giúp mình làm việc.”
Trong ví dụ trên, hứa ở câu thứ nhất được dùng trong hiệu lực ngữ vi, còn
hứa ở câu thứ hai dùng với ngôi thứ ba và trong thời gian quá khứ cho nên động
từ này có chức năng miêu tả thông thường
1.2.2.5 Hành động ở lời trực tiếp và hành động ở lời gián tiếp
a Hành động ở lời trực tiếp
Theo GS Đỗ Hữu Châu, hành động ở lời trực tiếp được hiểu là “…các hành vi ngôn ngữ chân thực, có nghĩa là các hành vi được thực hiện đúng với các điều kiện sử dụng, đúng với các đích ở lời của chúng.” [10; tr.256]
G Yule quan niệm “Chừng nào có mối quan hệ trực tiếp giữa một cấu trúc
và một chức năng, thì ta có một hành động nói trực tiếp.” [17; tr.110]
Trang 26b Hành động ở lời gián tiếp
Hiện tượng người giao tiếp sử dung trên bề mặt hành động ở lời này nhưng lại nhằm hiệu quả của một hành động ở lời khác được gọi là hiện tượng sử dụng hành động theo lối gián tiếp Một hành động được sử dụng gián tiếp là hành động trong đó người nói thực hiện một hành động ở lời này nhưng người nghe phải dựa vào những hiểu biết ngôn ngữ và ngoài ngôn ngữ chung cho cả hai người
suy ra hiệu lực ở lời của một hành động khác như: hành động hỏi trực tiếp thể hiện hành động cảm thán gián tiếp, hành động cảm thán trực tiếp thể hiện hành động sai khiến gián tiếp…
Các hành động ngôn ngữ gián tiếp là một trong những phương thức tạo ra tính mơ hồ cho lời nói Tuy nhiên, chúng ta không thể tùy tiện dùng hành động
ở lời trực tiếp này để tạo ra hành động ở lời gián tiếp khác
1.2.3 Hành động ngôn ngữ thuộc lớp Cam kết
Theo định nghĩa trong cuốn “Từ điển tiếng Việt” của Viện Ngôn ngữ học xuất bản năm 2004, “cam kết” là chính thức cam đoan làm đúng những điều đã hứa
Khi phân loại hành động ngôn ngữ, mặc dù dựa trên những tiêu chí phân loại khác nhau và quan điểm phân loại khác nhau nhưng cả Austin và Searle đều
đã tách cam kết (commissives, commissifs) ra thành một nhóm độc lập với các nhóm hành động ngôn ngữ khác
Austin cho rằng thuộc nhóm cam kết là những hành động ràng buộc người nói vào chuỗi những hành động nhất định: hứa hẹn, bày tỏ lòng mong muốn, giao ước, bảo đảm, thề nguyền, thông qua các quy ước, tham gia một phe nhóm
Searle xác định nhóm hành động ngôn ngữ thuộc lớp Cam kết theo 4 tiêu chí phân loại như sau:
- Đích ở lời: Trách nhiệm phải thực hiện hành động trong tương lai mà người nói bị ràng buộc
Trang 27- Hướng khớp - ghép hiện thực - lời
- Trạng thái tâm lý: Là ý định của người nói Người nói phải thực sự mong muốn và tự nguyện thực hiện điều nêu trong nội dung mệnh đề, bất chấp những khó khăn thiệt hại mà mình phải gánh chịu
- Nội dung mệnh đề: Là hành động trong tương lai của người nói
Có thể thấy điểm thống nhất giữa quan điểm của Austin và Searle về nhóm hành động ngôn ngữ thuộc lớp Cam kết là người nói chịu trách nhiệm trước người nghe về một hành động trong tương lai mà mình đã nêu trong phát ngôn
Các biểu thức ngữ vi có chứa động từ ngữ vi biểu thị các hành động thuộc nhóm cam kết được gọi là biểu thức ngữ vi cam kết tường minh Còn các biểu thức ngữ vi không có động từ ngữ vi biểu thị các hành động thuộc nhóm cam kết được gọi là phát ngôn ngữ vi cam kết nguyên cấp
Ví dụ 4: Sp1 - Thưa cô, em xin hứa từ ngày mai em sẽ học hành chăm chỉ
Sp2 - Cô tin em sẽ làm được
Ví dụ 5: Sp1 - Cậu không định hướng dẫn tớ làm bài này à?
Sp2: - Tớ đang bận quá Tớ thề sẽ hướng dẫn cậu làm bài tập vào ngày mai
Ở ví dụ (4), phát ngôn của Sp có chứa động từ “hứa” được dùng trong hiệu lực ngữ vi và Sp chịu trách nhiệm trước Sp2 về hành động sẽ thực hiện trong
tương lai (học hành chăm chỉ) Vì vậy, “Thưa cô, em xin hứa từ ngày mai em sẽ
học hành chăm chỉ.” là một biểu thức ngữ vi hứa tường minh
Tương tự ở ví dụ (5), cũng có động từ “thề” được dùng trong hiệu lực ngữ
vi và Sp2 chịu trách nhiệm với Sp1 về hành động sẽ thực hiện trong tương lai
(hướng dẫn làm bài tập vài ngày mai) Nên “Tớ thề sẽ hướng dẫn cậu làm bài
tập vào ngày mai.” là một biểu thức ngữ vi thề tường minh
Hay trong ví dụ 6: Sp1 - Nếu cậu quên không mang sách cho tớ thì sao?
Sp1- Yên tâm đi, ngày mai tớ sẽ mang sách đến cho cậu
Mặc dù trong ví dụ (6), phát ngôn “Yên tâm đi, ngày mai tớ sẽ mang sách
đến cho cậu.” không có động từ ngữ vi biểu thị hành động thuộc nhóm cam kết
Trang 28nhưng dựa vào ngữ cảnh của cặp thoại chúng ta có thể ngầm hiểu đây là một biểu thức hứa / thề hoặc cam đoan nguyên cấp Có thể bổ sung động từ dùng trong
hiệu lực ngữ vi cho phát ngôn như sau: “Yên tâm đi, ngày mai tớ hứa sẽ mang
sách đến cho cậu”./ “Yên tâm đi, ngày mai tớ thề sẽ mang sách đến cho cậu.” hay “Yên tâm đi, ngày mai tớ cam đoan sẽ mang sách đến cho cậu.”
1.2.4 Lí thuyết hội thoại
1.2.4.1 Khái niệm hội thoại
Lý thuyết hội thoại từ lâu đã được nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ quan
tâm Theo GS.Đỗ Hữu Châu: “Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên,
phổ biến của ngôn ngữ, nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác.” [10; tr.201]
Các cuộc hội thoại có thể khác nhau ở nhiều yếu tố: đặc điểm của thoại trường (không gian, thời gian mà ở đó diễn ra cuộc hội thoại), ở số lượng, cương vị và tư cách của những người tham gia hội thoại; ở tính có đích hay không có đích của cuộc thoại hay cũng có thể khác nhau về tính có hình thức hay không có hình thức… Những yếu tố này không tách rời nhau mà liên kết với nhau tạo thành một khối thống nhất để chi phối và điều hòa cuộc thoại
để mỗi nhân vật giao tiếp có thể đạt được đến mục đích giao tiếp cuối cùng
Hội thoại có nhiều dạng thức khác nhau Đó là đơn thoại, song thoại hay
đa thoại
- Đơn thoại: Là dạng thức do lời của Sp1 phát ra hướng đến Sp2 nhưng Sp2 không có lời đáp trực tiếp Sp2 tiếp nhận nội dung lời thoại và phản hồi bằng hành động, ánh mắt, cử chỉ…và những hành động, cử chỉ này có thể được tác giả trực tiếp miêu tả hoặc không trực tiếp miêu tả
- Song thoại: Là lời của Sp1 hướng đến Sp2 và Sp2 có sự đáp lời Ở dạng thức này các nhân vật tham gia hội thoại đảm bảo nguyên tắc luân phiên lượt lời trong hội thoại
Trang 29- Đa thoại: Trong một ngữ cảnh hội thoại cụ thể có lời của nhiều nhân vật giao tiếp đan xen vào nhau và những nhân vật này ban đầu được coi là nhân vật đám đông Những nhân vật này không được miêu tả rõ nét, không nằm trong mối quan hệ nào mà chỉ có xuất hiện lượt lời cùng với lượt lời của người khác trong đám đông So với đơn thoại và song thoại thì đa thoại là dạng thoại mà các nhà nghiên cứu lý thuyết hội thoại hiện đang rất quan tâm Ngoài ra, cũng theo Đỗ Hữu Châu thì trong bất cứ cuộc hội thoại nào cũng có ba vận động chủ yếu: trao lời, trao đáp và tương tác
Để làm cơ sở tiền đề cho đề tài của luận văn, chúng tôi chọn cách quan niệm về hội thoại của GS Đỗ Hữu Châu
1.2.4.2 Các qui tắc hội thoại
Hội thoại diễn tiến theo những quy tắc nhất định Muốn cho một cuộc hội thoại thành công, các nhân vật tham gia hội thoại phải tuân thủ theo những nguyên tắc nhất định trong hội thoại đó là: các quy tắc điều hành sự luân phiên lượt lời, những quy tắc chi phối cấu trúc hội thoại và những quy tắc chi phối quan
hệ liên cá nhân trong hội thoại
a Quy tắc điều hành luân phiên lượt lời
Trong một cuộc hội thoại, vai nói thường xuyên thay đổi (luân phiên lượt lời), A nói B nghe và ngược lại Một cuộc hội thoại có sự cân bằng về lượt lời được coi là một cuộc hội thoại lí tưởng Khi hai người tham gia hội thoại, lời người này sẽ kế tiếp lời người kia Ngoài ra quãng ngắt sau khi lượt lời của mỗi người thực hiện xong không nên quá dài làm ảnh hưởng đến hiệu quả giao tiếp
b Quy tắc cộng tác hội thoại
Quy tắc cộng tác hội thoại có nghĩa là hai bên tham gia giao tiếp cùng cố gắng để đối tác của mình hưởng ứng, phát triển cuộc thoại để cả hai bên có thể đạt tới đích của cuộc thoại Quy tắc cộng tác này có hiệu quả đặc biệt với cả người nói và người nghe Khi nói, tham thoại phải quan sát và thực hiện nguyên tắc cộng tác theo phương châm nhất định Cũng theo H.P Grice quy tắc này gồm
có các phương châm nhất định như sau:
Trang 30- Phương châm về lượng: Lượng thông tin của mỗi bên tham gia hội thoại chỉ nên vừa đủ đúng như yêu cầu của cuộc hội thoại, không nên quá nhiều hoặc quá ít so với mục đích của cuộc thoại
- Phương châm về chất: Thông tin mà mỗi bên đưa ra cần có căn cứ xác đáng, không nên nói những điều mình không chắc chắn hay không có bằng chứng xác thực
- Phương châm về cách thức: Các bên tham gia cuộc thoại cần có cách nói ngắn gọn, mạch lạc, có hệ thống, trách lối nói mập mờ, tối nghĩa sẽ gây nên hiểu lầm
- Phương chân về quan hệ: Các bên tham gia cuộc thoại cần trình bày, dẫn dắt sao cho câu chuyện có liên quan đến chủ đề của cuộc đối thoại
Tuy nhiên, trong giao tiếp không phải cuộc thoại nào cũng tuân thủ đầy đủ các phương châm như trên nên thực tế giao tiếp đã nảy sinh những tình huống
vi phạm nguyên tắc cộng tác hội thoại Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự vi phạm quy tắc là do sự khác biệt trình độ, về văn hóa, về kinh nghiệm ngôn ngữ và vốn hiểu biết cuộc sống dù một bên tham gia cuộc thoại vẫn cố gắng tuân theo nguyên tắc cộng tác Vì thế để nhận rõ những vi phạm quy tắc cộng tác hội thoại chúng
ta phải căn cứ vào ngữ cảnh, gắn phát ngôn với hoàn cảnh giao tiếp và mối quan
hệ liên cá nhân
c Quy tắc lịch sự
Để đạt được mục đích hoặc duy trì được quan hệ hài hòa giữa những người tham gia giao tiếp người ta thường chú ý đến phép lịch sự Lịch sự có thể là những hành động ngôn ngữ được dùng trong giao tiếp ứng xử phù hợp với qui định của xã hội R Lakoff định nghĩa “lịch sự như là một phương thức để giảm thiểu sự xung đột trong diễn ngôn ( ); những chiến lược lịch sự có nhiệm vụ đặc biệt là làm cho cuộc tương tác được thuận lợi.” Để xem xét vấn đề lịch sự chi phối thế nào tới hành động thuộc lớp Cam kết, luận văn này dựa vào lý thuyết về lịch sự trong giao tiếp bằng ngôn ngữ của một số tác giả dưới đây
Trang 31Quan điểm về lịch sự của R Lakoff với ba quy tắc:
Quy tắc 1: Quy tắc lịch sự quy thức (formal politenness rule) tức là quy tắc “không được áp đặt” (don 't impose) Đây là quy tắc thường thích hợp với những ngữ cảnh mà người tham gia giao tiếp có những khác biệt về quyền lực, cương vị… Theo quy tắc này, người nói sẽ lựa chọn các phát ngôn để tránh hoặc giảm tối thiểu tính áp đặt trong phát ngôn của mình
Quy tắc 2: Dành cho người đối thoại sự lựa chọn (Offer option) Quy tắc này phù hợp với những người có quyền lực, địa vị tương đương nhau nhưng không cần thiết phải gần gũi về quan hệ xã hội Để thực hiện quy tắc này, người phát ngôn phải diễn đạt làm sao cho lời hỏi của mình dễ được người nghe chấp nhận nhất mà không ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa người hỏi và người nghe trong cuộc thoại
Quy tắc 3: Là quy tắc khuyến khích tình cảm bạn bè (Encourage feelings
of camaraderie) Quy tắc này phù hợp với những người có quan hệ bạn bè hay thân tình Những người đối thoại theo phép lịch sự này thường dùng các từ xưng
hô thân thuộc
Hay Theo Leech, siêu quy tắc lịch sự là: (Trong những điều kiện khác như nhau) hãy giảm thiểu biểu hiện của những niềm tin không lịch sự, hãy tăng tối đa biểu hiện của những niềm tin lịch sự Siêu quy tắc này gồm sáu phương châm lịch sự lớn: Phương châm khéo léo, phương châm rộng rãi, phương châm tán thưởng, phương châm khiêm tốn, phương châm tán đồng, phương châm thiện cảm
So sánh lí thuyết lịch sự của Lakoff và G Leech thì thấy: Quy tắc lịch sự của Lakoff bắt buộc người nói phải hướng đến đối tượng giao tiếp và ngữ cảnh giao tiếp Còn phương châm lịch sự của G Leech thì chú ý đến cả đối tượng người nói và người nghe Mức độ lịch sự của Leech chuyên dụng cho hành động
ở lời nhất định và phải phụ thuộc vào ba nhân tố: bản chất của hành động, hình thức ngôn từ hành động, mức độ quan hệ giữa đối tượng giao tiếp
Trang 32Các mối quan hệ trong xã hội vô cùng phong phú vì thế ở mỗi vị thế xã hội nhất định, người nói phải có cách ứng xử lịch sự phù hợp với vai giao tiếp của mình để đảm bảo nguyên tắc lịch sự trong giao tiếp Ngoài khái niệm lịch sự chung người Việt Nam còn tuân theo những khái niệm nhỏ hơn phù hợp với từng
cảnh huống và vai giao tiếp xã hội, đó là lễ độ, lễ nghĩa và lễ phép
1.2.5 Khái quát về văn hóa và ngôn ngữ
1.2.5.1 Khái niệm văn hóa
“Văn hóa” đã trở thành một khái niệm thông dụng trong nói năng hàng ngày cũng như trong nghiên cứu khoa học Nhưng định nghĩa văn hóa là gì vẫn đang là vấn đề được quan tâm Đã có rất nhiều khái niệm về “văn hóa” được công bố Cho đến nay đã có khoảng trên 400 định nghĩa về văn hóa
Năm 2002, UNESSCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống,
hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin” [34]
Trong cuốn Tiến tới xác lập vốn từ vựng văn hoá Việt, tác giả Nguyễn Văn
Chiến không đưa ra khái niệm ngắn gọn mà trả lời câu hỏi “Văn hoá là gì?” bằng một số ý cơ bản sau:
- Văn hoá là một hiện tượng, một phạm trù thuộc về con người, do con người làm nên Vì vậy văn hoá là tiêu chuẩn, tiêu chí hiển nhiên khu biệt con người - động vật với con vật
- Văn hoá là một sản phẩm đặc thù của xã hội loài người
- Một hiện tượng văn hoá luôn tồn tại với những lí do riêng của nó
- Thành tựu của nền văn hoá là con người Văn hoá không phải là các vật đơn thuần ta sờ thấy được một cách cụ thể Hiện tượng văn hoá hiện diện trước mặt ta, trong ta như một thế giới được vật thể hoá, một thế giới được khúc xạ rõ ràng
Trang 33Các nền văn hoá của các dân tộc trên thế giới vừa có tính riêng biệt vừa
có sự giao thoa với nhau
Như vậy, có thể hiểu “văn hóa” là bao gồm tất cả những sản phẩm do con người tạo ra trong đời sống, và như vậy, văn hóa bao gồm cả hai khía cạnh: khía cạnh phi vật chất của xã hội như ngôn ngữ, tư tưởng, giá trị và các khía cạnh vật chất như nhà cửa, quần áo, các phương tiện,
Tóm lại, “văn hóa” là sản phẩm của loài người, được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội Nó được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa, được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người Văn hóa thể hiện trình độ phát triển của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra
1.2.5.2 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa
Giữa ngôn ngữ và văn hóa có mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại lẫn nhau trong quá trình hình thành và phát triển Khi bàn về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá, tác giả Nguyễn Văn Chiến trong cuốn “Tiến tới xác lập vốn từ vựng văn hóa Việt” đưa ra một số ý kiến như sau:
Thứ nhất: Ta nói ngôn ngữ bình đẳng với văn hoá hay độc lập với văn hoá bởi vì cả hai đều là sản phẩm con người lao động có tư duy Đó là những hiện tượng nhân loại Thế nhưng ngôn ngữ lại chính là sản phẩm văn hoá của nhân loại giống như tất cả những sản phẩm văn hoá khác Mối quan hệ giữa ngôn ngữ
và văn hoá là mối quan hệ bao nhau
Thứ hai: Ngôn ngữ là hiện tượng, là biểu trưng của văn hoá, thuộc phạm trù văn hoá, cho nên tất cả những gì là đặc tính, thuộc tính của văn hoá cũng đều tương tự như là đặc tính, thuộc tính của ngôn ngữ và được ẩn chứa trong ngôn ngữ
Trang 34Thứ ba: Văn hóa chi phối tới việc lựa chọn các phương tiện ngôn ngữ của các nhân vật giao tiếp
Văn hóa và ngôn ngữ có mối quan hệ chặt chẽ không thể tách rời Ngôn ngữ là phương tiện để thể hiện văn hóa và văn hóa chứa đựng trong ngôn ngữ Nhờ vào sự truyền bá rộng rãi của ngôn ngữ mà văn hóa được phổ biến và lưu truyền rộng rãi, nền văn hóa cũng nhờ đó mà phát triển Sự biến đổi và phát triển của ngôn ngữ luôn tồn tại song song với sự phát triển của văn hóa
1.2.6 Vài nét về văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945
1.2.6.1 Sơ lược về lịch sử xã hội Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945
Trong hơn 80 năm đô hộ của thực dân Pháp, trong đó có 45 năm đầu thế
kỷ XX, kinh tế Việt Nam chìm đắm trong nghèo nàn và lạc hậu, nhân dân ta phải sống trong cảnh nô lệ và đói nghèo cả về vật chất và tinh thần Thời kì 1930-1945 là một thời kì đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp hết sức gay gắt Một giai đoạn lịch sử tuy chỉ 15 năm, nhưng trải qua bao biến cố, gồm bao sự kiện quan trọng, tác động mạnh mẽ đến đời sống vật chất và tinh thần của con người Nhân dân ta chịu tác động nặng nề của chế độ thực dân kiểu
cũ nên rất lạc hậu Dưới tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế, xã hội thuộc địa Việt Nam tiếp tục phân hóa, mâu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn giai cấp tiếp tục tăng lên
Từ những năm 1930, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, phong trào công nhân và các phong trào yêu nước khác như những cơn sóng ngày một dâng cao, tấn công dồn dập vào bè lũ cướp nước và bán nước Cuộc tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, đã chấm dứt chế độ thực dân và lật đổ chế độ phong kiến trên đất nước ta
1.2.6.2 Đặc điểm văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945
Ở Việt Nam, các trào lưu văn học lần đầu tiên xuất hiện vào khoảng những năm 30 của thế kỉ XX Trong giai đoạn 1930 - 1945 đã xảy ra biết bao
Trang 35sự kiện của lịch sử, xã hội thay đổi dẫn đến sự biến đổi sâu sắc trong ý thức
và tâm lí con người Chính bối cảnh ấy đã thúc đẩy văn học vươn mình, mang cho nó nhiều dạng vẻ, hương sắc Và rồi nảy sinh nhiều trào lưu văn học khác nhau, nổi bật lên đó là các trào lưu văn học lãng mạn, văn học hiện thực, văn học cách mạng
Văn học hiện thực như một cây cọ của người họa sĩ tài ba vẽ lên mặt trái của xã hội đương thời Với bút pháp điển hình hóa những nhà văn của dòng văn học hiện thực đã mang đến cho người đọc những số phận con người chân thực nhất, để bất cứ ai ở thời điểm đó soi vào cũng thấy thấp thoáng bóng dáng mình Các nhà văn cùng đau, cùng khóc với những con người khốn khổ,cùng đồng cảm với họ và trân trọng những giá trị tốt đẹp bên trong họ Hiện thực cuộc sống với những lầm than cơ cực đã được phơi bày dưới những cây bút sắc bén như Ngô Tất Tố với tập phóng sự “Việc làng” ở đó ta thấy được những hủ tục nặng nề của nông thôn Việt Nam Với “Tắt đèn”, người đọc thấy được một thứ tai họa khủng khiếp ở nông thôn, đó là những người dân bần cố nông phải điêu đứng, quằn quại trong sự đè nén vì sưu thuế Đó còn là Vũ Trọng Phụng với tiếng cười châm biếm sắc sảo, sâu cay trong các tác phẩm như “Giông tố”, “Số đỏ”, “Vỡ đê” “Cạm bẫy người”, “Kỹ nghệ lấy Tây” Những tác phẩm này đã tái hiện rõ nét bộ mặt
xã hội Việt Nam cả thành thị lẫn nông thôn
Lịch sử giai đoạn 1930 - 1945 đầy biến động, sau nhiều phong trào cách mạng không thành, một không khí chán nản, u hoài, yếm thế bao trùm đời sống Thanh niên lớn lên không có lí tưởng để phụng sự Con đường yêu nước bế tắc,
họ thoát li trong những tình cảm cá nhân Trào lưu văn học lãng mạn bắt đầu từ đấy Đặc điểm chính của trào lưu này là sự đào sâu vào cái tôi và khát vọng của
cá nhân với sự bất lực trước hiện thực tầm thường, tù túng Họ muốn thoát li đời sống, vượt ra khỏi thực tại thỏa sức dùng trí tưởng tượng bay bổng để thực hiện ước mơ, lí tưởng Ta thấy một Xuân Diệu trốn chạy trong tình yêu với ngập tràn hương sắc Một Huy Cận đắm chìm trong mối sầu vạn kỉ với cái mênh mông
Trang 36không cùng Một Nguyễn Tuân ngụp lặn trong quá vãng với những thú chơi thanh tao của cha ông Những tôn chỉ “tươi trẻ, yêu đời”, “có chí phấn đấu và tin vào sự tiến bộ”, “tôn trọng tự do cá nhân” trong các tiểu thuyết của Nhất Linh, Hoàng Đạo, Khải Hưng Họ đã tạo nên một trường sáng tạo mới, những đóng góp mới Chính họ dám phủ nhận cái hủ lậu để khai phá những miền đất mà trước đây không dành cho hai từ bản ngã
Bên cạnh hai trào lưu văn học được công khai ấy, còn có một trào lưu ẩn dật, bí mật không được phép lưu hành - nằm ngoài vòng pháp luật nhưng lại hứa hẹn sự phát triển nhanh chóng khi có cơ hội, đó là trào lưu văn học cách mạng Trào lưu này gồm những tác phẩm thơ văn cách mạng bí mật, đặc biệt mảng thơ
ca trong tù Nếu ở giai đoạn đầu, trong thơ của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh sáng ngời hình ảnh người chiến sĩ cách mạng nhiệt huyết sôi trào, sẵn sàng xả thân vì tổ quốc thì ở giai đoạn tiếp theo, với hàng loạt những cây bút trẻ như Trường Sơn, Xuân Thủy, Tố Hữu luôn thể hiện sự thức tỉnh của tâm hồn, thơ văn của họ lan tỏa sức sống và ánh sáng của ngọn lửa cách mạng Phải khẳng định rằng, những sáng tác của Hồ Chí Minh và Tố Hữu là những tác phẩm tiêu biểu nhất của trào lưu văn học này Nổi bật hơn cả là những vần thơ giản dị đậm chất nhân văn nhưng cũng chứa đầy chất thép
Vì phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ nằm trong tác phẩm văn xuôi của giai đoạn này cho nên chúng tôi chỉ lựa chọn một số tác phẩm tiêu biểu thuộc bộ phận văn học hiện thực và văn học lãng mạn, cụ thể là một số tiểu thuyết đặc sắc hơn cả của Tự lực văn đoàn
Một số tác phẩm văn học hiện thực: tiểu thuyết “Giông tố” (Vũ Trọng Phụng), tiểu thuyết “Bước đường cùng” (Nguyễn Công Hoan), tiểu thuyết “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố, tuyển tập “Truyện ngắn của Nam Cao”
Một số tác phẩm văn học lãng mạn: tiểu thuyết “Nửa chừng xuân”, “Hồn bướm mơ tiên”, “Thừa tự” của Khái Hưng; tiểu thuyết “Đoạn tuyệt”, “Lạnh lùng”, “Đôi bạn” của Nhất Linh; tiểu thuyết “Đời mưa gió”, “Gánh hang hoa” của Nhất Linh - Khái Hưng
Trang 371.3 Tiểu kết
Trong chương này, chúng tôi đã trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu
về hành động ngôn ngữ nói chung, tình hình nghiên cứu một số hành động ngôn ngữ như hành động hứa hẹn, hành động thề… nói riêng và một số vấn đề về lý thuyết bước đầu làm tiền đề cho quá tình nghiên cứu hành động ngôn ngữ thuộc lớp Cam kết trong một số tác phẩm văn xuôi giai đoạn 1930-1945
Chúng tôi đã tìm hiểu về các công trình nghiên cứu hành động ngôn ngữ của các tác giả nước ngoài như J Austin và J Searle đã kế thừa và phát triển
lí thuyết hành động ngôn từ của J Austin Tiếp thu các công trình nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học nước ngoài đi trước, có nhiều nhà Việt ngữ học quan tâm đến lý thuyết hành động ngôn ngữ như tác giả Đỗ Hữu Châu, tác giả nguyễn Đức Dân
Đồng thời chúng tôi đã tham khảo các công trình nghiên cứu về các hành động ngôn ngữ hứa hẹn, thề, cam kết như: Bài báo Hành vi cam kết và các động
từ biểu thị hành vi cam kết in trên “Tạp chí Ngôn ngữ, số 5, 2006”, bài báo “Sự kiện lời nói và sự kiện lời nói cam kết trong hội thoại” (Tạp chí Từ điển học và Bách khoa thư, số 5 (31), tháng 9- 2014) của tác giả Vũ Tố Nga, Luận văn Thạc
sĩ “Khảo sát hành động hứa hẹn và các phương thức biểu hiện nó” (Trên ngữ liệu tiếng Việt và tiếng Anh) (2009) của tác giả Vũ Thị Minh Thu, Luận án Tiến sĩ
“Hành vi ngôn ngữ thề (swear) trong tiếng Việt” (2013) của tác giả Nguyễn Thị Thu
Những vấn đề cơ bản của lí thuyết mà theo chúng tôi có liên quan đến đề tài như vấn đề về ngữ cảnh, hành động ngôn ngữ, những vấn đề về hội thoại, hành động ngôn ngữ thuộc lớp Cam kết và mối liên hệ mật thiết giữa ngôn ngữ
và văn hóa đã được xem xét một cách có hệ thống Bên cạnh đó chúng tôi cũng trình bày những đặc điểm của nền văn hóa, văn học Việt Nam giai đoạn 1930-
1945 Những vấn đề này sẽ là cơ sở lý luận quan trọng có quan hệ trực tiếp và
có ý nghĩa thiết thực để làm căn cứ cho những biện giải của chúng tôi thể hiện ở hai chương sau
Trang 38Chương 2 CÁC HÀNH ĐỘNG NGÔN NGỮ THUỘC LỚP CAM KẾT TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN XUÔI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1930 - 1945 XÉT VỀ HÀNH ĐỘNG Ở LỜI VÀ PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN 2.1 Kết quả khảo sát
- Số lượt sử dụng hành động thuộc lớp Cam kết trong các tác phẩm không giống nhau Tác phẩm sử dụng nhiều nhất là tiểu thuyết “Giông tố” với 60 trường hợp Tác phẩm “Đôi bạn” sử dụng ít nhất là 4 trường hợp
- Căn cứ vào hành động ở lời với các tiêu chí mà Searle đã đưa ra, chúng tôi tạm chia các hành động ngôn ngữ thuộc lớp Cam kết thành 4 loại: hứa, cam đoan, thề, trung gian Trong bốn loại này, hành động hứa chiếm số lượng nhiều nhất (89 trường hợp) chiếm sấp xỉ 42,78%, tiếp theo là loại trung gian (82 trường hợp) chiếm sấp xỉ 39,42%, rồi đến cam đoan (20 trường hợp) chiếm sấp xỉ 9,61%
và cuối cùng là thề chỉ có 17 trường hợp chiếm sấp xỉ 8,61%
2.1.2 Số lượng và phân loại hành động ngôn ngữ thuộc lớp Cam kết trong văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945
Số lượng và các loại hành động ngôn ngữ thuộc lớp Cam kết trong văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 có thể hình dung trong bảng tổng kết 2.1 dưới đây:
Trang 39Bảng 2.1 Bảng tổng kết số lượng và số lượt dùng các hành động ngôn ngữ
thuộc lớp Cam kết
Số lượng, tỉ lệ Hành động ngôn ngữ
Số lượng (lượt)
Tỉ lệ (%)
Để tìm hiểu, miêu tả các hành động ngôn ngữ thuộc lớp Cam kết trong một số tác phẩm văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1930-1945, ở chương này chúng tôi phân loại và mô tả từng hành động ngôn ngữ thuộc lớp Cam kết theo đích ở lời và phương diện thể hiện Dưới đây là các hành động ngôn ngữ thuộc lớp Cam kết mà chúng tôi đã thống kê được từ các tác phẩm đã nói ở trên
Trang 402.2.1 Hành động hứa
2.2.1.1 Khái niệm hành động hứa:
Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ, “Hứa là nói với ai, với ý thức
tự ràng buộc mình là sẽ làm điều gi đó mà người ấy đang quan tâm.” [38]
Hứa thường là một kiểu cam kết giữa người này với người khác, bên này với bên kia, có khi với chính mình “thầm hứa” Hứa đã bắt đầu có sắc thái trịnh trọng, nghiêm túc
2.2.1.2 Số lượt sử dụng
Như đã nói, trong bốn hành động ngôn ngữ thuộc lớp Cam kết mà chúng
tôi khảo sát, hành động hứa có tần số xuất hiện nhiều nhất với 89 lượt, chiếm 42,78% Có thể hình dung số lượt sử dụng hành động hứa trong 12 tác phẩm
chúng tôi đã chọn làm ngữ liệu thống kê bằng bảng tổng kết 2.2 dưới đây:
Bảng 2.2: Bảng tổng kết hành động hứa