1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý hoạt động hướng nghiệp tại trung tâm giáo dục thường xuyên giáo dục hướng nghiệp tỉnh bắc kạn theo hướng phân luồng học sinh sau trung học cơ sở

119 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM PHẠM NÔNG CHUNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HƯỚNG NGHIỆP TẠI TRUNG T

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

PHẠM NÔNG CHUNG

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HƯỚNG NGHIỆP TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN - GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP TỈNH BẮC KẠN THEO HƯỚNG PHÂN LUỒNG HỌC SINH

SAU TRUNG HỌC CƠ SỞ

Ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Mã số: 8.14.01.14

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phan Thanh Long

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Phạm Nông Chung

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập, nhận và triển khai nghiên cứu đề tài, hoàn thành

luận văn, em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của quý Thầy Cô trường

Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên

Trước hết, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào

tạo, các thầy cô khoa Tâm lý - Giáo dục Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc

đến PGS.TS Phan Thanh Long đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn em trong thời gian

nghiên cứu để hoàn thành luận văn và có thể áp dụng có hiệu quả trong quá trình

công tác

Tác giả xin chân thành cảm ơn các đồng chí Lãnh đạo Sở GD & ĐT Bắc Kạn,

Trung tâm GDTX-GDHN tỉnh Bắc Kạn, các trường THCS trên địa bàn thành phố

Bắc Kạn và huyện Bạch Thông đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi có được những

thông tin bổ ích phục vụ quá trình nghiên cứu

Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu xong luận văn không

tránh khỏi những thiếu sót Tác giả mong tiếp tục nhận được ý kiến góp ý của các

thầy cô giáo cùng các đồng nghiệp

Thái Nguyên, tháng 11 năm 2019

Học viên

Phạm Nông Chung

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC CÁC HÌNH vi

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 2

4 Giả thuyết khoa học 2

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 3

7 Phương pháp nghiên cứu 3

8 Cấu trúc của luận văn 4

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP THEO HƯỚNG PHÂN LUỒNG HỌC SINH SAU THCS 5

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 5

1.1.1 Trên thế giới 5

1.1.2 Ở Việt Nam 8

1.2 Một số khái niệm cơ bản 12

1.2.1 Quản lý 12

1.2.2 Quản lý giáo dục 15

1.2.3 Hướng nghiệp 16

1.2.4 Giáo dục hướng nghiệp 18

1.2.5 Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp 20

1.2.6 Phân luồng 21

1.2.7 Phân luồng học sinh sau THCS 22

1.3 Hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo hướng phân luồng cho học sinh sau Trung học cơ sở 23

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

1.3.1 Mục tiêu của giáo dục hướng nghiệp theo hướng phân luồng cho học sinh sau

Trung học cơ sở 23

1.3.2 Nội dung, hình thức và phương pháp giáo dục hướng nghiệp theo hướng phân luồng cho học sinh sau Trung học cơ sở 24

1.4 Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo hướng phân luồng cho học sinh sau Trung học cơ sở 29

1.4.1 Xây dựng kế hoạch giáo dục hướng nghiệp theo hướng phân luồng cho học sinh sau Trung học cơ sở 29

1.4.2 Quản lý nội dung giáo dục hướng nghiệp theo hướng phân luồng cho học sinh sau Trung học cơ sở 29

1.4.3 Quản lý các hình thức giáo dục hướng nghiệp theo hướng phân luồng học sinh sau THCS 30

1.4.4 Quản lý việc kiểm tra đánh giá giáo dục hướng nghiệp theo hướng phân luồng cho học sinh sau Trung học cơ sở 31

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo hướng phân luồng học sinh sau THCS 31

1.5.1 Yếu tố chủ quan 31

1.5.2 Yếu tố khách quan 32

Kết luận chương 1 33

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP THEO HƯỚNG PHÂN LUỒNG HỌC SINH SAU TRUNG HỌC CƠ SỞ TẠI TRUNG TÂM GDTX - GDHN TỈNH BẮC KẠN 34

2.1 Vài nét về Trung tâm GDTX-GDHN tỉnh Bắc Kạn 34

2.1.1 Vài nét về tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Bắc Kạn 34

2.1.2 Tình hình công tác giáo dục tại Trung tâm GDTX-GDHN tỉnh Bắc Kạn 37

2.2 Mục đích, nội dung và phương pháp khảo sát thực trạng 40

2.2.1 Mục đích khảo sát 40

2.2.2 Nội dung khảo sát 40

2.2.3 Phương pháp khảo sát và phương thức xử lý số liệu 41

2.3 Kết quả khảo sát thực trạng 41

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

2.3.1 Thực trạng hoạt động hướng nghiệp tại Trung tâm GDTX-GDHN tỉnh

Bắc Kạn theo hướng phân luồng học sinh sau THCS 41

2.3.2 Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh tại Trung tâm GDTX-GDHN tỉnh Bắc Kạn theo hướng phân luồng học sinh sau THCS 56

2.3.3 Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh tại Trung tâm GDTX-GDHN tỉnh Bắc Kạn theo hướng phân luồng học sinh sau THCS 68

Kết luận chương 2 71

Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP THEO HƯỚNG PHÂN LUỒNG HỌC SINH SAU TRUNG HỌC CƠ SỞ TẠI TRUNG TÂM GDTX-GDHN TỈNH BẮC KẠN 72

3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh tại Trung tâm GDTX-GDHN tỉnh Bắc Kạn theo hướng phân luồng học sinh sau THCS 72

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo chất lượng và tính hiệu quả 72

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 72

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 72

3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 73

3.2 Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh tại Trung tâm GDTX-GDHN tỉnh Bắc Kạn theo hướng phân luồng học sinh sau THCS 73

3.2.1 Nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh và phụ huynh học sinh về tầm quan trọng của hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo hướng phân luồng cho học sinh sau THCS 73

3.2.2 Tăng cường giáo dục, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên làm công tác giáo dục hướng nghiệp của Trung tâm 74

3.2.3 Đổi mới hình thức và phương pháp GDHN theo hướng phân luồng cho học sinh sau THCS, lồng ghép GDHN thông qua dạy Nghề phổ thông 76

3.2.4 Tăng cường đầu tư và quản lý cơ sở vật chất phục vụ GDHN theo hướng phân luồng cho học sinh sau THCS 80

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

3.2.5 Tăng cường kiểm tra, đánh giá hoạt động GDHN theo hướng phân luồng

cho học sinh sau THCS tại các trường THCS, Trung tâm 82

3.3 Khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 84

3.3.1 Các bước tiến hành khảo nghiệm 84

3.3.2 Kết quả khảo nghiệm 85

3.3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 89

Kết luận chương 3 91

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 92

TÀI LIỆU THAM KHẢO 96

PHỤ LỤC

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Thống kê quy mô CBQL, GV, số lớp, số học sinh THCS trên địa

bàn Thành phố Bắc Kạn và Huyện Bạch Thông 37 Bảng 2.2 Thống kê học lực, hạnh kiểm học sinh lớp 9 trên địa bàn Thành

phố Bắc kạn và Huyện Bạch Thông 39 Bảng 2.3 Nhận thức về tầm quan trọng và ý nghĩa của phân luồng sau

THCS của CBQL, GV và HS các trường mà Trung tâm GDHN tỉnh Bắc Kạn phối hợp làm công tác TVHN 42 Bảng 2.4 Đối tượng tham gia giáo dục hướng nghiệp theo hướng phân

GDTX-luồng cho học sinh các trường mà Trung tâm GDTX-GDHN tỉnh Bắc Kạn phối hợp làm công tác TVHN 44 Bảng 2.5 Nguyện vọng của học sinh sau tốt nghiệp THCS trên địa bàn

thành phố Bắc Kạn và huyện Bạch Thông 47 Bảng 2.6 Thực trạng việc thực hiện nội dung GDHN cho học sinh ở các trường

THCS Trung tâm GDTX-GDHN phối hợp làm công tác TVHN 48 Bảng 2.7 Thực trạng phương pháp GDHN cho học sinh ở các trường

THCS Trung tâm GDTX-GDHN tỉnh Bắc Kạn phối hợp làm công tác TVHN 51 Bảng 2.8 Thực trạng hình thức GDHN cho học sinh ở các trường THCS Trung

tâm GDTX-GDHN phối hợp làm công tác TVHN 53 Bảng 2.9 Thực trạng đội ngũ tham gia GDHN cho học sinh ở các trường

THCS Trung tâm GDTX-GDHN phối hợp làm công tác TVHN 55 Bảng 2.10: Thực trạng quản lý xây dựng kế hoạch giáo dục hướng nghiệp

theo hướng phân luồng học sinh sau THCS tại Trung tâm GDTX-GDHN tỉnh Bắc Kạn 57 Bảng 2.11: Thực trạng quản lí thực hiện nội dung giáo dục hướng nghiệp

theo hướng phân luồng học sinh sau THCS tại Trung tâm GDTX-GDHN tỉnh Bắc Kạn 60 Bảng 2.12: Thực trạng quản lý các hình thức giáo dục hướng nghiệp theo

hướng phân luồng học sinh sau THCS tại Trung tâm GDHN tỉnh Bắc Kạn 63

Trang 10

GDTX-Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Bảng 2.13: Thực trạng quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá công tác giáo

dục hướng nghiệp theo hướng phân luồng học sinh sau THCS tại Trung tâm GDTX-GDHN tỉnh Bắc Kạn 65 Bảng 2.14: Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục

hướng nghiệp theo hướng phân luồng học sinh sau THCS tại Trung tâm GDTX-GDHN tỉnh Bắc Kạn 67 Bảng 3.1 Khảo nghiệm tính cần thiết của biện pháp quản lý hoạt động

GDHN theo hướng phân luồng cho học sinh sau THCS ở Trung tâm GDTX - HNDN tỉnh Bắc Kạn 86 Bảng 3.2 Khảo nghiệm tính khả thi của biện pháp quản lý hoạt động

GDHN ở Trung tâm GDTX - HNDN tỉnh Bắc Kạn 88

Trang 11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1: Mô hình về quản lý 15 Hình 1.2 Sơ đồ tam giác hướng nghiệp của K.K PLATÔNÔV 20 Hình 3.1 Mối quan hệ giữa các biện pháp quản lý hoạt động GDHN theo

hướng phân luồng cho học sinh sau THCS 90

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

“Giáo dục hướng nghiệp và định hướng phân luồng học sinh trong giáo dục phổ thông giai đoạn 2018 - 2025” nhằm tạo bước đột phá về chất lượng giáo dục hướng nghiệp trong giáo dục phổ thông, góp phần chuyển biến mạnh mẽ công tác Phân luồng học sinh (PLHS) sau THCS và THPT Việt Nam thực hiện phổ cập giáo dục THCS, sau giáo dục THCS, hệ thống giáo dục quốc dân được phân thành 2 luồng: Luồng giáo dục phổ thông và luồng giáo dục nghề nghiệp Bên cạnh hệ thống giáo dục chính quy, còn có hệ thống giáo dục thường xuyên Như vậy, sau khi tốt nghiệp giáo dục THCS, học sinh có thể đi vào 4 luồng sau: Học tiếp lên THPT; học bổ túc THPT; học nghề hoặc trung cấp; tham gia vào thị trường lao động Việc phân luồng cho học sinh sau THCS là nhu cầu tất yếu, giúp đa dạng sự lựa chọn cho học sinh sau khi học xong THCS và việc phân luồng này cũng phù hợp với điều kiện, năng lực của từng học sinh, tạo điều kiện cho mỗi học sinh phát huy hết khả năng của mình

Trong những năm qua, hệ thống giáo dục nước ta phát triển mạnh ở tất cả các cấp học, từ mầm non đến đại học Tuy nhiên, việc giúp học sinh có những hiểu biết về nghề nghiệp để định hướng phát triển, lựa chọn ngành nghề phù hợp sở thích cá nhân cũng như năng lực bản thân và nhu cầu xã hội còn nhiều hạn chế Việc phân luồng học sinh sau THCS tạo nền tảng quan trọng cho việc chuẩn bị nguồn nhân lực có chất lượng theo yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và từng địa phương hầu như chưa được đáp ứng Qua thực tế cho thấy, đại đa số học sinh tốt nghiệp xong THCS thì phải thi tiếp lên bậc THPT và đa số học sinh tốt nghiệp THPT thường dự thi đại học,

Trang 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

cao đẳng, không đỗ mới chuyển sang học TCCN hoặc học nghề Số còn lại có thể ở nhà ôn tập và chờ năm sau thi tiếp hoặc tìm kiếm việc làm khác

Thực tế hoạt động GDHN cho học sinh tại Trung tâm GDTX-GDHN tỉnh Bắc Kạn đã được triển khai nhiều năm và đã đạt được một số kết quả nhất định Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, công tác quản lý vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn và thách thức, thiếu định hướng dài hạn, thiếu chủ động sáng tạo, còn bó hẹp trong phạm

vi Trung tâm, chưa tranh thủ được sự giúp đỡ, ủng hộ của các cơ quan quản lý hành chính nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội và các cơ sở sản xuất, doanh nghiệp đóng trên địa bàn; hoạt động GDHN cho học sinh tại đơn vị chủ yếu thực hiện theo điều kiện cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên của Trung tâm, chưa quan tâm đến nhu cầu của học sinh, chưa có nhiều sự nối kết giữa dạy nghề và GDHN, do đó cần phải nghiên cứu, bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay Xuất phát từ yêu cầu cần phải quản lý hoạt động GDHN cho học sinh sao cho

đạt được hiệu quả cao nhất, tác giả chọn nghiên cứu đề tài “Quản lý hoạt động

hướng nghiệp tại Trung tâm GDTX-GDHN tỉnh Bắc Kạn theo hướng phân luồng học sinh sau THCS ” làm luận văn tốt nghiệp của mình

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về quản lý hoạt động GDHN tại

Trung tâm GDTX- GDHN tỉnh Bắc Kạn theo hướng phân luồng học sinh sau THCS

đề tài đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động GDHN theo định hướng phân luồng học sinh sau THCS trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp quản lý hoạt động GDHN theo hướng phân luồng học sinh sau

THCS tại Trung tâm GDTX-GDHN tỉnh Bắc Kạn

3.2 Khách thể nghiên cứu

Hoạt động GDHN theo hướng phân luồng cho HS THCS và quản lý hoạt động

GDHN theo hướng phân luồng cho HS THCS

4 Giả thuyết khoa học

Trong những năm qua công tác quản lý hoạt động GDHN theo hướng phân

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

luồng cho học sinh sau THCS tại GDTX-GDHN tỉnh Bắc Kạn đã đạt được một số kết quả nhất định Tuy vậy, vẫn còn một số tồn tại, hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu về GDHN trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Nếu áp dụng đồng bộ các biện pháp quản lý hoạt động GDHN được đề xuất sẽ góp phần nâng cao chất lượng GDHN theo hướng phân luồng cho học sinh sau THCS tại Trung tâm GDTX-GDHN tỉnh Bắc Kạn

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh theo hướng phân luồng học sinh sau THCS

5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh theo hướng phân luồng học sinh sau THCS tại Trung tâm GDTX-GDHN tỉnh Bắc Kạn

5.3 Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh đáp ứng yêu cầu giáo dục hướng nghiệp theo hướng phân luồng học sinh sau THCS tại Trung tâm GDTX-GDHN tỉnh Bắc Kạn

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

6.1 Giới hạn về địa bàn nghiên cứu

Nghiên cứu học sinh THCS tại các trường THCS trên địa bàn thành phố Bắc Kạn

và huyện Bạch Thông, các đơn vị liên kết với trung tâm GDTX-GDHN tỉnh Bắc Kạn

6.2 Giới hạn về khách thể khảo sát

Khảo sát 30 CBQL, 40 GV làm công tác GDHN và 80 học sinh lớp 9 tại các trường THCS trên địa bàn thành phố Bắc Kạn và huyện Bạch Thông

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Phương pháp tổng hợp, hệ thống hoá,

phân tích tài liệu; phương pháp lịch sử: để xác định các khái niệm và xây dựng khung lý thuyết của đề tài nghiên cứu

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Trang 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

7.2.1 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Đây là phương pháp cơ bản nhất

trong đề tài để tiến hành lấy ý kiến của các đối tượng nghiên cứu thông qua phiếu điều tra, bảng hỏi nhằm làm rõ thực trạng cần nghiên cứu

7.2.2 Phương pháp quan sát: tiến hành quan sát, khảo sát thực tế, thu thập

thông tin góp phần làm rõ thực trạng cần nghiên cứu

7.2.3 Phương pháp phỏng vấn: tiến hành đàm thoại với các đối tượng nghiên

cứu Trên cơ sở đó tổng hợp, so sánh các dữ liệu để làm rõ thực trạng nội dung cần nghiên cứu

7.2.4 Phương pháp chuyên gia: trưng cầu ý kiến chuyên gia về các nội dung

nghiên cứu, đánh giá thực trạng nghiên cứu, đánh giá về tính khoa học và tính khả thi của các biện pháp được đề xuất

7.3 Nhóm phương pháp toán thống kê: sử dụng một số công thức toán thống

kê để xử lý kết quả nghiên cứu thực trạng và khảo sát tính cần thiết, tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu; Kết luận và khuyến nghị; Phụ lục; Danh mục tài liệu tham tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động GDHN theo hướng phân luồng

học sinh sau THCS

Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động GDHN theo hướng phân luồng HS

sau THCS tại Trung tâm GDTX-GDHN tỉnh Bắc Kạn

Chương 3 Biện pháp quản lý hoạt động GDHN theo hướng phân luồng học

sinh sau THCS tại Trung tâm GDTX-GDHN tỉnh Bắc Kạn

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP

THEO HƯỚNG PHÂN LUỒNG HỌC SINH SAU THCS

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Trên thế giới

Vấn đề hướng nghiệp, giáo dục hướng nghiệp theo hướng phân luồng cũng như công tác quản lý giáo dục hướng nghiệp theo hướng phân luồng đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu

Quản lý hoạt động hướng nghiệp dựa trên những đặc điểm tâm lý, nhân cách, bao gồm lý thuyết của Frank Parsons mang tên Nhân cách và yếu tố, lý thuyết của

Jonh Holland và lý thuyết nhu cầu của Ann Roes [dẫn theo 30, tr 26 - 64] và K.K

Platonop Frank Parsons bàn đến hướng nghiệp cho HS dựa trên năng lực, năng

khiếu, hứng thú, sở thích của cá nhân [28]

Đại diện đầu tiên của trường phái này là F.Parsons (1909), ông cho rằng, GDHN nhằm giúp những cá nhân nhận thức về đặc điểm từng nghề của thế giới nghề, sau đó kết hợp những đặc điểm nhân cách cá nhân với đặc điểm của nghề, từ đó có hành vi lựa chọn được nghề phù hợp E.G Williamson (1939, 1965) tiếp tục lý thuyết của F.Parson và phát triển một thang đo có tên là thang đánh giá nghề nghiệp (Minnesota Occupational Rating Scales) nhằm phục vụ cho việc quản lý, đo lường hoạt động GDHN Theo các tác giả trên, việc tiến hành làm các trắc nghiệm được coi

là một việc làm quan trọng và cơ bản nhất, từ kết quả trắc nghiệm, người làm công tác hướng nghiệp đưa ra lời khuyên cá nhân nên chọn nghề nào phù hợp

K.K.Platonop (1960) [dẫn theo 14, tr80] với quan niệm quản lý hoạt động GDHN cần dựa vào “Tam giác hướng nghiệp” Ba cạnh của hướng nghiệp được xác định là (1) đặc điểm, yêu cầu của các ngành nghề trong xã hội, (2) nhu cầu nhân lực của thị trường lao động, (3) đặc điểm về nhân cách, tâm sinh lý của cá nhân Khi cá nhân tìm được sự phù hợp cả ba cạnh của tam giác, khi đó tìm được sự lựa chọn nghề tối ưu

Quản lý hoạt động GDHN dựa trên quá trình phát triển liên tục cả đời người

Những nghiên cưu này tập trung vào tìm hiểu các giai đoạn thay đổi trong cuộc sống

Trang 17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

con người và ảnh hưởng của những thay đổi trong giai đoạn phát triển của con người đến quyết định lựa chọn nghề nghiệp của cá nhân Ví dụ như Eli Ginzberg (1951, 1972) cho rằng quá trình lựa chọn nghề nghiệp là một quá trình mở và kéo dài suốt cuộc đời, việc thay đổi có thể diễn ra bất cứ lúc nào trong cuộc đời Donald Super

không nhấn mạnh khái niệm lựa chọn nghề nghiệp mà tập trung nhấn mạnh khái niệm phát triển nghề nghiệp Các tác giả của trường phái này rất coi trọng “cái tôi” trong

quá trình lựa chọn nghề nghiệp của mỗi cá nhân, cái tôi của cá nhân đó sẽ được thể hiện một cách rõ rệt trong các giai đoạn của cuộc đời [29, tr6] Do vậy, quản lý hoạt động GDHN cần căn cứ theo đặc điểm phát triển liên tục, cái tôi riêng có của các cá nhân…v.v

E.A Klimov, V.N Supkin, V.P Gribanov, V.A Kruchetxki với hướng tiếp cận

chủ yếu tập trung vào “QL hứng thú nghề nghiệp, động cơ chọn nghề, các giá trị về nghề mà HS quan tâm” Gần đây, GDHN đã được luật pháp quy định cụ thể ở cộng

hòa Pháp Năm 2010, Châu Âu nhấn mạnh đến việc QL tốt hệ thống GDHN và dạy nghề thông qua đáp ứng nhu cầu của cá nhân và TTLĐ, bồi dưỡng đội ngũ làm công tác này, đảm bảo chất lượng GDHN cấp quốc gia, cải thiện xã hội hóa công tác này

Tác giả Mc Cash chỉ ra mô hình DOTS gồm khung cơ bản của tư vấn và hướng nghiệp (giáo dục nghề nghiệp) (Mc Cash, 2006), được xác định theo 4 mục đích: học quyết định, nhận thức cơ hội, học chuyển đổi và tự nhận thức Ông đã miêu

tả một số ý kiến khung gắn kết với nhau, các ý kiến đó gồm SeSiFuUn với kết quả của nhận thức, chọn lọc và hiểu biết và CPI gồm các lứa tuổi, quá trình, ảnh hưởng Luật sửa đổi (2006) đưa ra cách tiếp cận mới “một bộ đề xuất các cải cách để chúng

ta có thể giúp học sinh phổ thông và đại học học cách quản lí cuộc sống của [27]

Các tác giả nước ngoài trên đều khẳng định: Quản lý GDHN là một nội dung quản lý trường học, là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý GDHN để đạt mục đích GDHN Nội dung quản lý GDHN là xây dựng kế hoạch, chương trình hoạt động GDHN bao gồm việc xây dựng mục tiêu, chương trình hoạt động GDHN, xác định từng bước đi, những điều kiện, phương tiện cần thiết trong một thời gian nhất định phục vụ hoạt động GDHN Việc lựa chọn con đường riêng biệt của giáo dục nghề hay giáo dục phổ thông cần phải dựa trên những

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

đánh giá thận trọng về điểm mạnh và điểm yếu của học sinh Nói cách khác, hướng nghiệp đòi hỏi sự đánh giá dựa trên sự kết hợp những tiêu chí về giáo dục và dự báo

về nhân cách tương lai Vì vậy, cần phải có những nhà tư vấn hướng nghiệp chuyên môn để giúp học sinh lựa chọn khóa học thích hợp (có tính đến nhu cầu của thị trường lao động), dự báo những khó khăn trong học tập và giúp giải quyết những vấn

đề xã hội khi cần thiết

Trong giáo dục phổ thông và GDHN, các nước đều giảm thời lượng hàn lâm

mà chú trọng tính thực tiễn nhiều hơn (Ba Lan, Đức và Pháp)

Về vấn đề phân luồng:

Ion Holban đã nghiên cứu và thừa nhận sự tồn tại các kiểu nhân cách và sở thích nghề nghiệp tương ứng Công trình của tác giả được xem là căn cứ trong việc đề xuất công tác phân luồng học sinh trong chọn nghề sau tốt nghiệp [11]

Ở Pháp phân hóa hẹp sau trung học cao trung, phân hóa cấp 2,3 theo hướng phân ban, phân chia 50/50 theo luồng phổ thông và kĩ thuật, nghề kĩ thuật dạy theo

mô đun gồm 6 lĩnh vực như: Kĩ thuật nghề, Toán, Khoa học, Thế giới, Quốc ngữ, Ngoại ngữ;

Ba Lan chú trọng đến phân hóa rộng nhằm phát triển toàn diện các lĩnh vực Ở Đức, các nhà sư phạm quan tâm đến cơ sở khoa học dạy học lao động nghề nghiệp, phối hợp giữa trường phổ thông và các trung tâm kĩ thuật tổng hợp để lập kế hoạch thực tập cho học sinh, xác lập mối quan hệ giữa giáo dục phổ thông và nghề nghiệp, hướng nghiệp và phân loại học sinh hướng nghiệp ngay sau bậc tiểu học, sau lớp 10 học sinh được chia 2 nhánh loại học trở thành công nhân lành nghề, loại học hết lớp

12 phổ thông, sau lớp 12 lại được tiếp tục phân loại lần nữa hoặc vào đại học hoặc vào trung cấp nghề

Liên bang Nga đưa nội dung đào tạo miễn phí sơ cấp nghề vào giáo dục trung học (3 năm), đề cập đến liên thông trong giáo dục nghề nghiệp (sơ cấp, trung cấp và đại học), chú trọng đến giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp

Các nước Châu Á đều chú trọng đến việc tổ chức giáo dục nghề sau trung học

cơ sở, hầu hết các nước PLHS theo hai hướng chính là một bộ phận tiếp tục học lên THCS, một bộ phận chuyển sang học nghề, đó là trung cấp chuyên nghiệp và trung

Trang 19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

cấp nghề (Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc) Tích hợp các môn hướng nghiệp và giáo dục phổ thông, các môn văn hóa, khoa học kỹ thuật, lao động (Trung Quốc, Philippine); Chú trọng đến năng lực thực hành và nghiên cứu thực tiễn trong hoạt động GDHN (Philippine, Malaysia); Quan tâm đến môn học tự chọn sau bậc học THCS (Nhật, Hàn)

Tác giả Vũ Ngọc Hải, Trần khánh Đức đã đề cập đến việc dạy nghề ban đầu cho học sinh phổ thông trung học kỹ thuật Việt Nam và xác định: Nội dung, hình thức phương pháp dạy nghề ban đầu cho học sinh lớp 10,11 trường phổ thông trung học kỹ thuật theo nhóm nghề xây dựng, các phương pháp và hình thức dạy sản xuất trong các trường dạy nghề xây dựng được sử dụng phù hợp với mục đích, nhiệm vụ

và nội dung ở trường phổ thông trung học kỹ thuật ở nước ta [8]

Tác giả Phạm Minh Hạc đã xác định cần xây dựng một nền giáo dục kỹ thuật

đó là một nền giáo dục cần được chỉ đạo bằng tư tưởng phục vụ phát triển công nghệ, trong đó ưu tiên giáo dục nghề nghiệp [7]

Tác giả Phạm Tất Dong trong các công trình nghiên cứu của mình đã đề cập đến cơ sở lí luận và thực tiễn của hoạt động hướng nghiệp, hứng thú nghề nghiệp, những vấn đề chung về nội dung và phương pháp hướng nghiệp cho học sinh Từ đó tác giả đề xuất phải chú trọng việc hình thành năng lực cho thế hệ trẻ để học tự tìm ra việc làm cho mình [5]

Các công trình trên cho thấy rằng, các nhà nghiên cứu giáo dục Việt Nam rất quan tâm đến công tác hướng nghiệp, lao động sản xuất, và dạy kỹ thuật nghề nghiệp cho học sinh phổ thông Nhưng các công trình nghiên cứu kể trên phần lớn tập trung

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

vào việc đổi mới tư tưởng, quan điểm và một số mặt về nội dung, chương trình, tổ chức quản lý hoạt động dạy học nghề cho học sinh phổ thông trong điều kiện nền kinh tế - xã hội ở các nước phát triển cao hơn nước ta GDNN ở Việt Nam một số năm vừa qua đã từng bước được củng cố và phát triển về quy mô và cơ cấu đào tạo Tuy nhiên, so với yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp CNH - HĐH đất nước trong điều kiện kinh tế thị trường và xu thế toàn cầu hóa cũng như hội nhập quốc tế GDNN nước ta còn có nhiều hạn chế, bất cập, đặc biệt là về chất lượng đào tạo và đang phải đối mặt với những thách thức to lớn Cũng như phân hệ giáo dục khác, hiện nay GDNN đang đứng trước mâu thuẫn hết sức gay gắt giữa quy mô ngày càng tăng và các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo còn rất hạn chế Đòi hỏi cấp bách hiện nay đối với GDNN là bên cạnh việc tăng quy mô cùng với việc đảm bảo cơ cấu hợp lý, phải đảm bảo có chất lượng và hiệu quả đào tạo đáp ứng được yêu cầu thực tế sử dụng lao động đã qua đào tạo TCCN và dạy nghề Mặc dù hiện nay đã có một số chương trình nghề phổ thông xây dựng theo hướng chuẩn quốc gia nhưng bên cạnh

đó lại chưa có tiêu chí đánh giá thống nhất về chất lượng, chưa ban hành tiêu chuẩn đối với giáo viên dạy, cơ sở vật chất thiết bị…

Công tác hướng nghiệp được chính thức đưa vào trường phổ thông từ 19/3/1981 theo quyết định số 126/CP của Chính phủ về công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông và việc sử dụng hợp lí trung học cơ sở, trung học phổ thông tốt nghiệp ra trường Kèm theo Quyết định 126/CP của Chính phủ là Thông tư 31-TT của Bộ Trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc hướng dẫn thực hiện Quyết định nêu trên Quyết định của Hội đồng Chính phủ xác định rõ nhiệm vụ của các cấp, các ngành, các tổ chức kinh tế - xã hội như sau: “Ngành GDPT trên cơ sở giáo dục toàn diện theo yêu cầu của chương trình phổ thông, cần tiến hành ngay một số biện pháp hướng nghiệp: xây dựng chương trình, soạn tài liệu hướng nghiệp cho các trường phổ thông cơ sở và trung học; dành một số tiết học thích đáng để giới thiệu những nghề

cơ bản đang cần phát triển, cho học sinh tham quan sản xuất, cải tiến giảng dạy các

bộ môn khoa học theo tinh thần giáo dục kỹ thuật tổng hợp và hướng nghiệp; cải tiến cách dạy, cách học, cách đánh giá bộ môn lao động kỹ thuật tạo cho học sinh vừa biết

lý thuyết, vừa được thực hành; tổ chức cho học sinh lao động sản xuất gắn với

Trang 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

phương hướng sản xuất và các nghề đang cần phát triển ở địa phương; tổ chức các nhóm ngoại khoá để giúp học sinh phát triển hứng thú, năng lực nghề nghiệp [22]

Quyết định số 522/QĐ-TTg, ngày 14/5/2018 đã xác định mục tiêu tạo bước đột phá về chất lượng giáo dục hướng nghiệp trong giáo dục phổ thông, góp phần chuyển biến mạnh mẽ công tác phân luồng học sinh sau trung học cơ sở và trung học phổ thông vào học các trình độ giáo dục nghề nghiệp phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và địa phương, đáp ứng nhu cầu nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực quốc gia, hội nhập khu vực và quốc tế [23]

Vấn đề hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông không phải là vấn đề mới Đây là một vấn đề được tất cả các cấp, ban ngành đoàn thể trong xã hội từ Trung ương đến địa phương, các nhà quản lí giáo dục, các bậc cha mẹ học sinh và các em học sinh thực sự quan tâm Từ khi tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến nay, giáo dục hướng nghiệp và phân luồng càng được quan tâm, đặc biệt là trong những văn kiện của Đảng, Nhà nước về đổi mới căn bản, toàn diện GDĐT, đổi mới chương trình, sách giáo khoa GDPT như Nghị quyết 29 của BCH Trung ương Đảng, Nghị quyết 88 của Quốc hội và Quyết định 404 của Thủ tướng Chính phủ

Có thể thấy rằng, phân luồng HS sau tốt nghiệp THCS là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị để bảo đảm yêu cầu nguồn nhân lực trong thời gian tới Từ những ý nghĩa đó, từ năm 2009, cứ bước vào tháng 4 ngành GD-ĐT tổ chức các đợt tư vấn, hướng nghiệp nhằm định hướng nghề nghiệp, cung cấp thông tin về những ngành nghề các trường TCCN đang đào tạo cho HS lớp

9 Các trường TCCN cũng trực tiếp đến các trường THCS thông tin đến HS những ngành nghề trong tương lai, việc làm sau tốt nghiệp và cơ hội liên thông lên cao đẳng, đại học (CĐ, ĐH) Để công tác phân luồng hiệu quả, các tác giả đều thống nhất cho rằng, nhà trường cần tuyên truyền cho phụ huynh hiểu rõ hơn về chủ trương phân luồng, nhà trường họp phụ huynh HS, tư vấn cho họ hiểu rõ hơn về chủ trương phân luồng và lựa chọn cho con em con đường đi phù hợp với năng lực học tập Trường sàng lọc những HS yếu, HS có hoàn cảnh khó khăn và có lời khuyên các em nên lựa chọn con đường học tập phù hợp với năng lực học tập, điều kiện kinh tế gia đình

Tác giả Lê Vân Anh Đề với đề tài mã số B98-52-TĐ17 (8/2000): “Nghiên cứu

đề xuất các giải pháp thực hiện phân luồng học sinh (PLHS) sau THCS có tính chất vĩ

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

mô toàn quốc” đã đề cập đến nội dung PLHS trên phạm vi cả nước, PLHS một số quốc gia trên thế giới gắn với thực tiễn PLHS ở nước ta; nhiều giải pháp về nhận thức

xã hội, về chính sách PLHS, về hệ thống giáo dục nước ta có liên quan đến PLHS sau THCS, tính liên thông…[1]

Có thể thấy rằng, công tác giáo dục hướng nghiệp theo hướng phân luồng đã được nhiều tác giả đề cập đến Các công trình nghiên cứu tập trung làm rõ tầm quan trọng của công tác giáo dục hướng nghiệp; Những tồn tại của công tác phân luồng cũng như quản lý công tác phân luồng hiện nay Các công trình nghiên cứu về công tác giáo dục hướng nghiệp theo hướng phân luồng sau trung học cơ sở chủ yếu tập trung nghiên cứu ở các tỉnh thành lớn thuộc khu vực đồng bằng Chưa có công trình nào đề cập đến công tác giáo dục hướng nghiệp theo hướng phân luồng cho học sinh thuộc khu vực các tỉnh miền núi phía Đông Bắc Bộ, đặc biệt là khu vực tỉnh Bắc Kạn

Đề tài C-200: “Khảo sát thực trạng về phân luồng học sinh sau THCS tại huyện Đông Anh, Hà Nội” do Nguyễn Thị Hoàng Yến làm chủ nhiệm (2002) đã thực hiện khảo sát thực trạng về phân luồng HS sau THCS tại huyện Đông Anh, Hà Nội

Từ thực trạng đó, nhóm nghiên cứu đã đề xuất một số giải pháp phân luồng HS sau THCS tại huyện Đông Anh, Hà Nội [26]

Một số luận văn thạc sỹ đã quan tâm và nghiên cứu về vấn đề phân luồng HS sau THCS từ đó đề xuất một số biện pháp nhằm đáp ứng các yêu cầu về đào tạo nguồn nhân lực của địa phương như:

- Trần Khắc Phúc với đề tài “Một số giải pháp quản lý góp phần phân luồng học sinh sau trung học cơ sở ở thành phố Hồ Chí Minh của trung tâm kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp Lê Thị Hồng Gấm” (2004) [20]

- Hồ Văn Thông với đề tài “Các giải pháp quản lý phân luồng học sinh sau trung học cơ sở tỉnh Bình Dương ” (2006) [22]

- Ninh Thành Viên với đề tài “Một số biện pháp phân luồng học sinh sau THCS trong yêu cầu đào tạo nhân lực kỹ thuật ở tỉnh Kiên Giang” (2006) [25]

- Đỗ Thị Thu Hằng với đề tài “Thực trạng và giải pháp đẩy mạnh việc phân luồng học sinh sau tốt nghiệp THCS ở tỉnh Thái Bình” (2010) Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của Trần Thanh Phúc (2010) “Nghiên cứu thực trạng và giải pháp

Trang 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

phân luồng học sinh ở các trường phổ thông dân tộc nội trú” đã tiến hành nghiên cứu vấn đề phân luồng HS ở các trường ph thông dân tộc nội trú Đề tài đã làm rõ cơ sở lý luận về phân luồng HS và đi sâu làm rõ vấn đề mang tính đặc trưng của các trường phổ thông dân tộc nội trú, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm phân luồng tốt cho nhóm đối tượng học sinh có tính đặc thù này [12]

Đề tài khoa học cấp Bộ của tác giả Đỗ Thị Bích Loan về “Giải pháp phân luồng và liên thông trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam” (2013) đã nghiên cứu cùng lúc hai vấn đề nóng bỏng trong hệ thống giáo dục quốc dân nước ta hiện nay là phân luồng và liên thông Đề tài đã làm sáng tỏ những khái niệm về phân luồng và liên thông trong hệ thống giáo dục quốc dân, mối quan hệ chặt chẽ giữa phân luồng, liên thông với phát triển nguồn nhân lực và xây dựng xã hội học tập; Xây dựng được cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn của việc phân luồng và liên thông trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam và kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Từ đó, nhóm nghiên cứu đã đề xuất các nhóm giải pháp nhằm tăng cường phân luồng

và liên thông trong hệ thống giáo dục, đáp ứng nhu cầu nhân lực và nguyện vọng của người dân [16]

Các nghiên cứu về phân luồng tập trung chủ yếu vào phân tích thực trạng phân luồng HS sau THCS của cả nước hoặc một vùng hoặc một địa phương cụ thể, từ đó

đề xuất các giải pháp nhằm thực hiện hiệu quả công tác phân luồng HS sau THCS ở nước ta Tuy nhiên cho đến nay chưa có nghiên cứu nào đề cập và tiến hành nghiên cứu phân luồng HS sau THCS tại tỉnh Bắc Kạn

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Quản lý

Trong nghiên cứu khoa học, có rất nhiều quan điểm khác nhau về quản lý, theo những cách tiếp cận khác nhau

Có thể điểm qua một vài quan điểm của các nhà nghiên cứu như sau:

- Pall Hersey và Ken Blanc Hard trong cuốn “Quản lý nguồn nhân lực” thì xem

xét “Quản lý như là một quá trình làm việc cùng và thông qua các cá nhân, các nhóm cũng như các nguồn lực khác để hình thành các mục đích của tổ chức” [19; tr 52]

Theo Harol Koontz trong tác phẩm “Những vấn đề cốt lõi của quản lý” đã

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

được dịch ra tiếng Việt Nam của nhà xuất bản khoa học kỹ thuật Hà Nội năm 1992

thì: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của tổ chức”14

Theo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê Nin: “Quản lý xã hội một cách khoa học

là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đối với toàn bộ hay những hệ thống xã hội Trên cơ sở vận dụng đúng đắn những quy luật và xu hướng khách quan vốn có của nó nhằm đảm bảo cho nó hoạt động và phát triển tối ưu theo mục đích đặt ra” Theo C.Mác: “Quản lý là loại lao động sẽ điều khiển mọi quá trình lao động phát triển xã hội” 15 Theo F.W.Taylor - người đầu tiên nghiên cứu quá trình lao động

trong tổng bộ phận của nó, nêu ra hệ thống tổ chức lao động nhằm khai thác tối đa thời gian lao động, sử dụng hợp lý nhất công cụ và phương tiện lao động nhằm tăng năng suất lao động Ông cho rằng: Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì

cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất

Theo tác giả Hà Sỹ Hồ thì: “Quản lý là một quá trình hoạt động có định hướng, có tổ chức, lựa chọn trong các tác động có thể dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định”9

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến những người lao động (khách thể quản lý) nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến” 21

Với cách hiểu quản lý là quản lý tổ chức của con người, hoạt động của con người thì có thể định nghĩa: Quản lý là quá trình tiến hành những hoạt động khai thác, lựa chọn, tổ chức và thực hiện các nguồn lực, các tác động của chủ thể quản lý theo

kế hoạch chủ động và phù hợp với quy luật khách quan để gây ảnh hưởng đến đối tượng quản lý nhằm tạo ra sự thay đổi hay tạo ra hiệu quả cần thiết vì sự tồn tại (duy trì), ổn định và phát triển của tổ chức trong một môi trường biến động

Từ những quan niệm trên chúng tôi thấy, ở những góc độ khác nhau có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý, quan niệm này phụ thuộc vào cái nhìn chủ quan và tính mục đích hoạt động của hệ thống Nhưng chúng ta có thể hiểu một cách khái quát là: Quản lý một đơn vị (cơ sở sản xuất, cơ quan, trường học, xí nghiệp…) với tư

Trang 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

cách là một hệ thống xã hội là khoa học và nghệ thuật tác động vào hệ thống, vào trong thành tố của hệ thống bằng phương pháp thích hợp nhằm đạt được mục tiêu đề

ra Tuy có các cách tiếp nhận khác nhau nhưng trong quá trình nghiên cứu tác giả thấy khái niệm quản lý bao hàm một số ý nghĩa chung đó là:

- Quản lý là các hoạt động để đảm bảo mục đích chung là hoàn thành công việc qua nỗ lực của các cá thể trong tổ chức Đối tượng tác động của quản lý là một hệ thống xã hội hoàn chỉnh như một cơ thể sống gồm nhiều yếu tố liên kết hữu cơ theo một quy luật nhất định tồn tại trong thời gian, không gian cụ thể

- Quản lý là hoạt động trí tuệ mang tính sáng tạo bằng những quyết định đúng quy luật, hợp thời điểm và có hiệu quả của quản lý nhưng cũng phải tuân theo những nguyên tắc nhất định hướng đến mục tiêu đó là đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ và ăn ý những nỗ lực của các cá thể nhằm đạt được mục đích chung của tổ chức hay nói cách khác là nguyên tắc đảm bảo phát huy cao độ năng lực của các cá nhân trong tổ chức

để đạt được mục đích chung

- Hệ thống quản lý bao giờ cũng gồm 2 phân hệ là: Chủ thể quản lý và khách thể quản lý (người quản lý và người bị quản lý) Tác động quản lý là tác động có định hướng, có tổ chức mang tính tổng hợp bao gồm nhiều giải pháp khác nhau thông qua

cơ chế quản lý để sử dụng có hiệu quả cao nhất nguồn lực sẵn có của tổ chức trong điều kiện nhất định nhằm đảm bảo cho hệ thống ổn định phát triển và đạt được mục tiêu đã định

- Mục tiêu cuối của quản lý là chất lượng sản phẩm vì lợi ích phục vụ con người Người quản lý tựu trung lại là nghiên cứu khoa học nghệ thuật giải quyết các mối quan hệ giữa con người với nhau vô cùng phức tạp không chỉ giữa chủ thể và khách thể trong hệ thống mà còn trong mối quan hệ tương tác với các hệ thống khác nhằm hướng đến mục tiêu chung của tổ chức mình

Như vậy, bản chất của quản lý là một loại lao động để điều khiển lao động Đó

là quá trình tác động có định hướng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường Xã hội ngày càng phát triển các loại hình lao động ngày càng phong phú, phức tạp, tinh vi thì hoạt động quản lý càng có vai trò quan trọng và quyết

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

định để tổ chức hướng tới đích bằng con đường ngắn nhất, hiệu quả nhất Với bản chất

là một khoa học và nghệ thuật trong việc điều khiển và phối hợp sự nỗ lực của con người vì mục tiêu chung Trong xã hội hiện đại, tính khoa học và nghệ thuật của quản

lý được đề cao

Vì vậy chúng tôi quan niệm: “Quản lý là sự tác động có ý thức, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý để lãnh đạo, hướng dẫn, điều khiển đối tượng quản lý

thực hiện nhằm đạt mục tiêu đã đề ra”

Quá trình này có thể được mô tả bằng sơ đồ đơn giản sau đây:

Hình 1.1: Mô hình về quản lý 1.2.2 Quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục là một hiện tượng xã hội, đồng thời là một dạng lao động đặc biệt mà nét đặc trưng của nó là tính tích cực sáng tạo, năng lực vận dụng những tri thức đã có để đạt mục đích đặt ra một cách có hiệu quả, là sự cải biến hiện thực Nên giáo dục đã trở thành mục tiêu phát triển xã hội, mục tiêu phát triển hàng đầu của tất

cả các quốc gia trên thế giới Do vậy cần quản lý hoạt động giáo dục như thế nào để giáo dục đáp ứng được vai trò của nó đối với sự phát triển của xã hội loài người Các nhà nghiên cứu giáo dục đưa ra những khái niệm đa dạng về quản lý giáo dục

Theo chuyên gia giáo dục Liên Xô M.I.Kônđacốp thì: “Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở tất

cả các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cơ quan quản lý cao nhất là Bộ đến Sở và nhà trường) nhằm mục đích đảm bảo việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật của quá trình giáo

Phương pháp QL

Công cụ QL

Trang 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

dục, của sự phát triển thế hệ và tâm lý trẻ em” 17

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo thì: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành phối hợp của các lực lượng xã hội thúc đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội” 2

Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục đến mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” 21

Như vậy là có rất nhiều những quan điểm khác nhau về quản lý giáo dục, nhưng tựu chung quản lý giáo dục là quá trình tác động có định hướng của người quản lý giáo dục trong việc vận dụng những nguyên lý, phương pháp chung nhất của khoa học quản lý vào lĩnh vực giáo dục nhằm đạt được mục tiêu mà giáo dục đề ra Quản lý giáo dục được thực hiện ở cấp độ vĩ mô và vi mô Trọng tâm của quản lý giáo dục của cấp vĩ mô là quản lý trường học Trọng tâm của quản lý giáo dục vi mô

là quản lý hoạt động dạy học và giáo dục trong nhà trường, các cơ sở giáo dục Quản

lý các nhà trường là quan trọng nhất, chủ yếu nhất trong hệ thống giáo dục của tất cả

các quốc gia Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý trường học là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh” 13

Tóm lại, quản lý trường học thực chất là quản lý hoạt động của giáo viên và học sinh Có thể hiểu quản lý trường học là một hệ thống những tác động sư phạm hợp lý, có hướng đích của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh, các lực lượng xã hội trong và ngoài trường, nhằm huy động và phối hợp sức lực, trí tuệ của

họ và mọi mặt hoạt động của nhà trường, vào việc hoàn thành có chất lượng và hiệu

quả mục tiêu dự kiến

1.2.3 Hướng nghiệp

Hướng nghiệp là một hệ thống biện pháp tác động của gia đình, nhà trường và

Trang 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

xã hội, trong đó nhà trường đóng vai trò chủ đạo nhằm hướng dẫn và chuẩn bị cho thế

hệ trẻ sẵn sàng đi vào lao động ở các ngành nghề tại những nơi xã hội đang cần phát triển, đồng thời lại phù hợp với hứng thú năng lực cá nhân Hội nghị lần thứ 9 tháng

10 năm 1980 những người đứng đầu cơ quan giáo dục nghề nghiệp các nước xã hội chủ nghĩa, họp tại La-Ha-Ba-Na Thủ đô Cu Ba đã đưa ra định nghĩa khái niệm hướng

nghiệp như sau: "Hướng nghiệp là hệ thống những biện pháp dựa trên cơ sở tâm lý học, sinh lý học, y học và nhiều khoa học khác để giúp đỡ học sinh chọn nghề phù hợp với nhu cầu xã hội, đồng thời thoả mãn tối đa nguyện vọng, thích hợp với những năng lực,

sở trường và điều kiện tâm sinh lý cá nhân, nhằm mục đích phân bố hợp lý và sử dụng

có hiệu quả nhất lượng lao động dự trữ có sẵn của đất nước" [dẫn theo 18]

Định nghĩa Hướng nghiệp của liên minh châu Âu:

“Hướng nghiệp là thuật ngữ dùng để chỉ những dịch vụ hoặc hoạt động với mục đích hỗ trợ các cá nhân ở mọi lứa tuổi và vào mọi thời điểm trong cuộc đời đưa

ra những lựa chọn về đào tạo, học tập và nghề nghiệp và quản lý sự nghiệp của mình Những dịch vụ này có thể ở các trường học, các trường đại học, cao đẳng, các

tổ chức đào tạo dịch vụ tuyển dụng công, ở nơi làm việc, ở khu vực tư nhân, tình nguyện hoặc cộng đồng Những hoạt động này có thể được tiến hành cho một cá nhân hoặc một nhóm cá nhân, có thể là qua tiếp xúc từ xa như qua điện thoại, qua website Những hoạt động này bao gồm cung cấp thông tin nghề nghiệp (bằng ấn bản, trên mạng hoặc các hình thức khác), các công cụ đánh giá và tự đánh giá, phỏng vấn, TV, những chương trình giáo dục nghề nghiệp để giúp các cá nhân phát triển nhận thức về bản thân, nhận biết cơ hội và những kỹ năng quản lý sự nghiệp), chương trình thử (lựa chọn mẫu trước khi lựa chọn chính thức), chương trình tìm kiếm việc làm và những dịch vụ chuyển tiếp” [dẫn theo 18]

Theo quan niệm mới, hướng nghiệp là một quá trình, không chỉ diễn ra ở một thời điểm của cuộc đời mà diễn ra trong suốt đời người Mục đích không chỉ giúp con người lựa chọn nghề nghiệp phù hợp mà còn hỗ trợ con người vượt qua khó khăn, thích ứng với hoàn cảnh của một xã hội phát triển và có nhiều thay đổi, phát huy được tối đa năng lực của mình để đạt được thành công trong nghề nghiệp, có được

Trang 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

cuộc sống tốt đẹp cho bản thân

Đối với trường phổ thông Hướng nghiệp bao gồm một hệ thống biện pháp tác động của gia đình, nhà trường, xã hội Trong đó, nhà trường đóng vai trò chủ đạo nhằm giáo dục học sinh trong việc chọn nghề, giúp các em tự quyết định nghề nghiệp tương lai trên cơ sở phân tích khoa học về năng lực, hứng thú của bản thân và nhu cầu nhân lực của ngành sản xuất trong xã hội

Như vậy, bản chất của công tác hướng nghiệp trong trường Phổ thông là một

hệ thống điều khiển các động cơ chọn nghề của học sinh Hướng nghiệp là một quá trình giáo dục liên tục; công tác hướng nghiệp mang tính xã hội rộng rãi Trong đề

tài này chúng tôi hiểu rằng: Hướng nghiệp là hệ thống các biện pháp giáo dục nhằm định hướng sự lựa chọn nghề cho học sinh một cách có chủ đích nhằm đảm bảo cho các em hạnh phúc trong lao động nghề nghiệp, lao động đạt hiệu suất cao và cống hiến được nhiều nhất cho xã hội

1.2.4 Giáo dục hướng nghiệp

Giáo dục hướng nghiệp là một bộ phận của giáo dục toàn diện giúp mỗi học sinh có sự hiểu biết về tính chất của ngành nghề mà mình hướng tới, biết phân tích thị trường hoạt động và tháo gỡ vướng mắc hoặc rèn luyện bản thân từ đó, mỗi học sinh tự xác định được đâu là nghề nghiệp phù hợp hoặc không phù hợp với mình

Trong hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở nhà trường, hoạt động tư vấn nghề

có liên quan tới Hiệu trưởng, Ban hướng nghiệp, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn, thư viện, y tế, Trong đó, Hiệu trưởng là người phụ trách chung về các hoạt động hướng nghiệp trong nhà trường, trong đó có hoạt động tư vấn Hiệu trưởng có trách nhiệm thông qua và ký các quyết định về kế hoạch tiến hành các hoạt động tư vấn trong và ngoài trường Ban hướng nghiệp chịu trách nhiệm thu thập xử lý những thông tin do các bộ phận cung cấp, đưa ra những nhận định, đánh giá sơ bộ về xu hướng nghề của học sinh Những thông tin sau xử lý do ban hướng nghiệp thực hiện

sẽ là những tài liệu bổ ích cho cán bộ làm công tác tư vấn khi tiến hành hoạt động này, làm cho nội dung tư vấn có tính sát thực, đáp ứng đúng nhu cầu định hướng nghề của đối tượng tư vấn Ban hướng nghiệp còn chịu trách nhiệm tham mưu cho Hiệu trưởng đề xuất kế hoạch và tổ chức các hoạt động tư vấn về nhân lực, cơ sở vật

Trang 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

chất, Phù hợp kế hoạch năm học của nhà trường trên từng loại đối tượng cụ thể Giáo viên bộ môn thu thập và cung cấp những thông tin có liên quan thái độ, năng lực học tập của từng học sinh đối với những môn học cụ thể Giáo viên chủ nhiệm cung cấp những thông tin phản ánh trình độ nhận thức xã hội, phẩm chất đạo đức, kỹ năng hòa nhập với cộng đồng của mỗi học sinh do mình phụ trách Mỗi giáo viên chủ nhiệm còn có trách nhiệm tập hợp những thông tin do những bộ phận khác cung cấp

để thiết lập các phiếu đánh giá về xu hướng nghề đối với từng học sinh trong lớp làm

cơ sở cho hoạt động tư vấn Ðoàn Thanh niên thu thập và cung cấp những thông tin

về năng lực hoạt động xã hội, tập thể, về ý thức, thái độ, lối sống của mỗi thành viên trong tổ chức Ðáng chú ý, học sinh là đối tượng của hoạt động tư vấn đồng thời là chủ thể của quá trình tiếp nhận thông tin nghề do hoạt động tư vấn mang lại học sinh không chỉ có nhiệm vụ tiếp thu thông tin do chủ thể tư vấn cung cấp mà cùng với nó

là quá trình lựa chọn những thông tin hữu ích phù hợp với năng lực, sở trường, tình trạng sức khỏe và nhu cầu lựa chọn nghề nghiệp của bản thân

Vì vậy, hoạt động hướng nghiệp cần giúp cho học sinh hiểu được hệ thống nghề nghiệp trong xã hội, phương hướng phát triển nền kinh tế quốc dân nói chung và của địa phương nói riêng nhằm xác định cho bản thân trách nhiệm, nghĩa vụ sẵn sàng tham gia vào lao động sản xuất Trên cơ sở của sự hiểu biết nghề nghiệp và nền kinh

tế quốc dân, của địa phương, những đòi hỏi khách quan của hoàn cảnh, biết đối chiếu với sự phát triển, năng lực, sở trường, tình trạng tâm sinh lý sức khỏe của bản thân để điều chỉnh động cơ lựa chọn nghề Tạo ra những điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất, về các mối quan hệ xã hội và ý thức cầu tiến bộ của học sinh để các em tích cực tham gia các hình thức lao động kỹ thuật do nhà trường tổ chức, nâng cao ý thức và thái độ lao động, có dịp thử sức mình trong hoàn cảnh thực tiễn, từ đó kết luận về sự phù hợp nghề nghiệp của bản thân Phải làm cho mỗi học sinh có được tính chủ động trong lựa chọn nghề, có khả năng tự quyết định được con đường nghề nghiệp tương lai của mình

GDHN là hoạt động phức tạp bao gồm nhiều thành phần, chịu tác động của nhiều yếu tố, nằm trong mối quan hệ chặt chẽ giữa cá nhân người được hướng nghiệp với môi trường sống, môi trường lao động, môi trường giáo dục, tác động của thị trường lao động cũng như tác động nhiều mặt của tâm lý xã hội

Trang 31

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Theo K.K Platônôv, các thành phần của hoạt động GDHN được sơ đồ hóa thành tam giác hướng nghiệp thể hiện trên sơ đồ sau:

Hình 1.2 Sơ đồ tam giác hướng nghiệp của K.K PLATÔNÔV

1.2.5 Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp

Quản lý hoạt động hướng nghiệp là một bộ phận của QLGD, là một hệ thống các tác động từ phía chủ thể quản lý đến khách thể một cách có định hướng, có chủ đích rõ ràng thông qua công cụ quản lý, phương tiện quản lý nhằm đạt tới mục tiêu giáo dục hướng nghiệp cho học sinh

Quản lí hướng nghiệp bao gồm những yếu tố cơ bản sau:

Chủ thế quản lí là một cá nhân hay nhóm người được giao quyền hạn quản lý

và chịu trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, sử dụng một cách hợp lý và hiệu quả các nguồn lực cho công tác HN tại địa bàn, đơn vị đang quản lý Trong quản lý HN, chủ thể quản lý là lãnh đạo hoặc chuyên viên phụ trách HN của Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT, Ban giám hiệu nhà trường ở địa phương có chức năng HN cho HS trên địa bàn Trên cơ sở quyền hạn, trách nhiệm và năng lực của mình, chủ thể quản lý tác động lên đối tượng bằng phương pháp và công cụ nhất định thông qua việc thực hiện các chức năng quản lý để đạt mục tiêu HN

Đối tượng quản lý là tất cả những người thực hiện và nhận nhiệm vụ HN, bao gồm các GV và CB phụ trách HN, tập thể HS ở các trường THCS; các tổ chức, đoàn

Trang 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

thể xã hội như Hội cha mẹ HS, hội LHPN, các doanh nghiệp… Đối tượng quản lí còn bao gồm các hình thức HN, ngân sách, cơ sở vật chất và thiết bị GD cho HN và hệ thống TT cho công tác HN

Công cụ quản lí là những phương tiện mà cán bộ QLHN sử dụng trong quá trình quản lí nhằm định hướng, dẫn dắt, khích lệ và phối hợp HĐ của các tác nhân

HN và HS trong việc thực hiện mục tiêu công tác HN Công cụ chủ yếu để QLHN là các quy định của Nhà nước và Bộ GD&ĐT đối với công tác HN, là các cơ chế và chính sách cho công tác HN

Phương pháp quản lí là cách thức tác động bằng những phương tiện khác nhau của cán bộ QLHN đến hệ thống bị quản lí nhằm đạt được mục tiêu quản lý Phương pháp quản lý bao gồm việc lựa chọn công cụ, phương tiện quản lí và lựa chọn cách thức tác động của CBQLHN tới đối tượng quản lý

Để đạt được mục tiêu của công tác HN, cần thiết phải QLHN nhằm đảm bảo thực hiện được những công việc sau có hiệu quả:

Chỉ đạo và điều hành xây dựng “Tầm nhìn hướng nghiệp”; Xây dựng cơ cấu tổ chức hợp lí và bồi dưỡng, phát triển đội ngũ CB và GV có đủ trình độ, năng lực và phẩm chất để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; Tạo ra sự thống nhất ý chí trên con đường đi tới mục tiêu HN giữa những người làm nhiệm vụ quản lí với các tác nhân

HN và HS

Hỗ trợ và tạo động lực cho các tác nhân tham gia công tác HN, đồng thời khuyến khích mọi người phát huy cao độ năng lực cũng như khả năng sáng tạo thông qua việc thực hiện các chế độ và chính sách khen thưởng hợp lí;

Huy động phối hợp, sử dụng và khai thác tối đa các nguồn lực trong và ngoài ngành GD cho công tác HN, tạo nên sức mạnh tổng hợp để đạt được mục tiêu HN cho HS;

Thường xuyên thu thập các thông tin về mức độ thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ

HN của các CSGD, các cá nhân và các bộ phận ở CSGD để từ đó ra quyết định và có biện pháp điều chỉnh kịp thời

1.2.6 Phân luồng

Về khái niệm: Phân luồng học sinh sau THCS là việc lựa chọn, sắp xếp mang

Trang 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

tính xã hội để học sinh sau khi tốt nghiệp tiếp tục được giáo dục và đào tạo theo những khuynh hướng và ngành học khác nhau phù hợp với nguyện vọng, năng lực học sinh và nhu cầu xã hội hoặc tham gia lao động sản xuất

Học sinh sau tốt nghiệp THCS được phân chia theo bốn luồng khác nhau đó là: Giáo dục phổ thông (luồng chính); giáo dục thường xuyên; giáo dục nghề nghiệp

và tham gia lao động sản xuất (các luồng phụ)

Xu thế hiện nay cần giảm học sinh vào luồng chính đến một tỷ lệ phù hợp, tăng tỷ lệ học sinh các luồng phụ ở mức cần thiết trong đó luồng lao động sản xuất giảm thiểu càng nhiều càng tốt

Về bản chất: Phân luồng là sự phân hoá theo nhóm lớn đối với học sinh sau THCS

Đó là những nhóm học sinh có cùng định hướng, cùng nguyện vọng sau THCS

Về mục tiêu: Phân luồng học sinh sau THCS là nhằm phát huy năng lực của

người học tốt nhất theo khả năng, hoàn cảnh, điều kiện mà họ có được

Về ý nghĩa: Phân luồng học sinh sau THCS là biện pháp thực hiện hợp lý hoá

xu hướng phân hoá của học sinh sau THCS trên cơ sở năng lực học tập, nguyện vọng của học sinh và nhu cầu xã hội

Như vậy, đối với Trung tâm GDTX-GDHN tỉnh Bắc Kạn sau khi học sinh tốt nghiệp giáo dục THCS, Trung tâm sẽ kết hợp với các trường THCS trên địa bàn toàn tỉnh Bắc Kạn phối hợp phân luồng cho học sinh lớp 9 có thể đi vào 4 luồng cơ bản sau: Học tiếp lên Trung học phổ thông; học bổ túc Trung học phổ thông; học nghề hoặc trung cấp; tham gia vào thị trường lao động

1.2.7 Phân luồng học sinh sau THCS

* Phân luồng học sinh sau THCS

Phân luồng học sinh sau THCS là biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục trên

cơ sở thực hiện hướng nghiệp trong giáo dục, tạo điều kiện để học sinh tốt nghiệp THCS tiếp tục học ở cấp học hoặc trình độ cao hơn, học trung cấp, học nghề hoặc lao động phù hợp với năng lực, điều kiện cụ thể của cá nhân và nhu cầu xã hội; góp phần điều tiết cơ cấu ngành nghề của lực lượng lao động phối hợp với nhu cầu phát triển của đất nước Phân luồng, GDHN trong khu vực trường học và nhiệm vụ phát

triển nguồn lực có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại, bổ trợ cho nhau

Trang 34

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

* Quản lý hoạt hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo hướng phân luồng

Quản lý giáo dục hướng nghiệp theo hướng phân luồng là nói đến vai trò của nhà quản lý trong việc thực hiện đồng bộ các biện pháp một cách hiệu quả, từ khâu lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra đánh gía công tác giáo dục hướng nghiệp theo hướng phân luồng

Quản lý giáo dục hướng nghiệp theo hướng phân luồng nghĩa là nhà quản lý bằng các biện pháp quản lý, tác động đến phụ huynh, học sinh, giúp họ hiểu rõ hơn về tính ưu việt của phân luồng, giúp họ nhận thức rõ về năng lực của bản thân để có sự lựa chọn hướng đi đúng đắn sau khi học xong THCS

Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo hướng phân luồng hiệu quả

nghĩa là góp phần không nhỏ vào quá trình điều tiết cơ cấu ngành nghề của lực lượng

lao động phù hợp với nhu cầu phát triển của đất nước

1.3 Hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo hướng phân luồng cho học sinh sau Trung học cơ sở

1.3.1 Mục tiêu của giáo dục hướng nghiệp theo hướng phân luồng cho học sinh sau Trung học cơ sở

- Về kiến thức: HS biết được ý nghĩa, tầm quan trọng của việc lựa chọn nghề

trong tương lai; Một số kiến thức cơ bản về vấn đề chọn nghề; Một số thông tin cơ bản về định hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, đất nước và khu vực, về thế giới nghề nghiệp, thị trường lao động, hệ thống giáo dục nghề nghiệp (TCCN và dạy nghề), CĐ và ĐH ở địa phương và cả nước; Biết cách tìm kiếm thông tin nghề và

cơ sở đào tạo cần thiết cho bản thân; Và biết cách tự đánh giá năng lực bản thân, điều kiện gia đình và nhu cầu xã hội để định hướng học tập và chọn nghề tương lai

Trang 35

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

- Về kĩ năng: HS có khả năng tự đánh giá được năng lực bản thân và điều kiện

gia đình trong việc định hướng nghề nghiệp tương lai; Tìm kiếm được những thông tin nghề và cơ sở đào tạo cần thiết cho bản thân trong việc chọn nghề; Định hướng và lựa chọn được nghề nghiệp tương lai cho bản thân

- Về thái độ: HS chủ động, tự tin trong việc chọn hướng đi, chọn nghề; Có

* Giới thiệu cho học sinh về các vấn đề sau:

- Thế giới nghề nghiệp: các kiểu nghề, loại nghề, nhóm nghề hiện có ở các địa phương, giới thiệu về đặc điểm lao động của từng nghề, mục đích lao động, đặc điểm đối tượng lao động, công cụ lao động, sản phẩm lao động, những yêu cầu của nghề và những phẩm chất, năng lực cần có của người lao động, những trường hợp chống chỉ định nghề v.v

- Hệ thống các trường lớp đào tạo nghề của Trung ương cũng như địa phương,

hệ thống các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, trường dạy nghề

- Sự phù hợp nghề và cách thức tự xác định nghề của bản thân theo ba chỉ số

cơ bản: Hứng thú với nghề; có năng lực làm việc với nghề; đặc điểm tâm sinh lý phù hợp với tính chất, đặc điểm nội dung của hoạt động nghề nghiệp

* Tìm hiểu nguyện vọng, khuynh hướng, hứng thú, kế hoạch nghề nghiệp của học sinh theo các chỉ số: hào hứng khi có sự tiếp xúc với nghề, thích học và học tốt những môn liên quan đến nghề mình thích

* Đo đạc các chỉ số tâm, sinh lý trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến nghề định chọn

Trang 36

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

* Theo dõi các bước đường phát triển, sự phù hợp nghề của học sinh qua quá trình hoạt động lao động, qua kết quả học tập ở nhà trường

* Cho lời khuyên về chọn nghề cũng như phương hướng tiếp tục bồi dưỡng khi ra trường

1.3.2.2 Những hình thức giáo dục hướng nghiệp theo hướng phân luồng cho học sinh sau Trung học cơ sở

a) Hướng nghiệp qua các môn học

Dựa vào đặc trưng của bộ môn, các môn học đều có thể và cần phải giáo dục hướng nghiệp một cách thích hợp để qua các kiến thức khoa học mà cung cấp cho học sinh những tri thức về tiềm năng đất nước, khả năng và thành tựu của nhân dân trong lao động, sự phát triển các ngành nghề nông nghiệp, tiểu thủ công, công nghiệp then chốt; giáo dục ý thức chọn ngành, chọn nghề đúng đắn, tinh thần sẵn sàng đi vào các ngành nghề đang cần phát triển để xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và quê hương

Đặc biệt qua các phân môn kỹ thuật phổ thông (trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thuỷ sản, cơ khí, kỹ thuật điện, vô tuyến điện, v.v ) cần giới thiệu cho học sinh các nghề cơ bản có liên quan trực tiếp tới môn học và tổ chức cho học sinh thực hành kỹ thuật, sản xuất trong những ngành nghề đó Các phân môn kỹ thuật phục vụ giới thiệu cho học sinh ngành dệt, nghề may, chế biến thực phẩm, các nghề thuộc lĩnh vực phục vụ

Để tiến hành hướng nghiệp qua các môn học, các nhà trường phải cải tiến phương pháp giảng dạy, tăng cường thực hành môn học, kết hợp giảng dạy với lao động sản xuất, tổ chức tham quan, xây dựng phòng bộ môn

Phải chấn chỉnh tình hình giảng dạy kỹ thuật hiện nay, tăng cường đào tạo và bồi dưỡng nâng cao chất lượng của giáo viên giảng dạy kỹ thuật; kết hợp với các cơ

sở sản xuất tạo điều kiện cho nhà trường có thể tổ chức thực hành kỹ thuật, có công nhân lành nghề và cán bộ kỹ thuật giúp đỡ nhà trường trong giảng dạy kỹ thuật

b) Hướng nghiệp qua hoạt động lao động sản xuất

Tổ chức lao động sản xuất trong nhà trường là biện pháp rất quan trọng để thực hiện công tác hướng nghiệp Qua lao động sản xuất, giáo dục quan điểm, thái độ,

ý thức lao động cho học sinh; trên cơ sở đó giáo dục ý thức đúng đắn đối với nghề

Trang 37

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

nghiệp, tạo điều kiện cho học sinh tiếp xúc với nghề và lao động trong các dạng nghề nghiệp khác nhau, phát triển hứng thú, năng lực của học sinh đối với một vài dạng lao động nhất định, hướng dẫn học sinh lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế và phù hợp với năng lực của bản thân

Trong thời gian tới, các trường cần tích cực tổ chức hướng dẫn học sinh lao động sản xuất, chấm dứt những hình thức lao động tuỳ tiện, gắn nội dung lao động với phương hướng sản xuất và các nghề đang cần phát triển Các trường vừa học vừa làm càng phải cần nâng cao chất lượng học lao động và có tác dụng thực sự hướng nghiệp

Ở vùng nông thôn cần chú trọng ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, tiểu thủ công như các nghề trồng trọt, chăn nuôi (trồng cây lương thực, cây lấy gỗ, cây thuốc nam, xây dựng vườn cây Bác Hồ, ao cá Bác Hồ, chăn nuôi gia cầm, gia súc ); nghề phổ biến như mộc, nề, rèn, cơ khí ; nghề truyền thống, xuất khẩu (đan, thêu, v.v ) ở thành phố và vùng công nghiệp là ngành công nghiệp, tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp, dịch vụ

Muốn vậy, phải xây dựng đội ngũ giáo viên chỉ đạo lao động và làm nòng cốt cho công tác hướng nghiệp của nhà trường Phải có kế hoạch kết hợp với các cơ sở sản xuất của địa phương như hợp tác xã nông lâm trường, nhà máy, xí nghiệp, cơ sở đào tạo nghề, trại, trạm thí nghiệm nhằm tạo điều kiện cho học sinh có thể tham gia lao động sản xuất ngành nghề gắn bó với địa phương Ngoài ra, các địa phương cần trang bị kỹ thuật tối thiểu để cung cấp cho nhà trường

c) Hướng nghiệp qua việc giới thiệu các ngành nghề

- Để giúp học sinh hiểu biết các ngành nghề, các trường tạm thời sử dụng mỗi tháng 1 buổi lao động giới thiệu, tuyên truyền, giải thích ngành nghề Nội dung chủ yếu của những buổi này là giới thiệu cho học sinh khái quát về sự phát triển kinh tế của đất nước và địa phương, nhu cầu sử dụng nguồn lao động dự trữ xã hội, những hiểu biết về những ngành nghề cơ bản, và nghề truyền thống của địa phương

- Khi giới thiệu nghề nghiệp, cần tập trung vào một số điểm cơ bản như vị trí, vai trò, triển vọng, những hoạt động cơ bản của nghề; những phẩm chất năng lực lao động cần có, những môn học phổ thông cần thiết đối với nghề

Trang 38

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

- Nhà trường tự sưu tầm, sử dụng tài liệu, sách báo, tranh ảnh, phim, vô tuyến truyền hình, dựa vào các cơ sở sản xuất, phụ huynh học sinh, cán bộ kỹ thuật của địa phương để giới thiệu nghề cho học sinh (Bộ sẽ từng bước biên soạn cung cấp tài liệu cho các trường)

d) Hướng nghiệp qua các hoạt động ngoại khoá

- Xây dựng các tổ ngoại khoá, đặc biệt là các tổ ngoại khoá về kỹ thuật, nhằm phát triển hứng thú học tập và hứng thú nghề nghiệp của học sinh Đối với những học sinh có xu hướng và năng khiếu về các ngành nghề thuộc lĩnh vực nghiên cứu khoa học, văn hoá, nghệ thuật, hoạt động xã hội, cũng cần phát hiện và tổ chức các tổ ngoại khóa bộ môn để bồi dưỡng

- Tổ chức xây dựng góc hoặc phòng hướng nghiệp

- Kết hợp với đoàn thanh niên và đội thiếu niên tổ chức những buổi toạ đàm hướng dẫn học sinh lựa chọn nghề, vận động nam nữ thanh niên đi vào những nghề Nhà nước, địa phương đang cần nhiều nhân lực

- Kết hợp với hội cha mẹ học sinh giúp đỡ, chỉ dẫn sự chọn nghề cho học sinh

- Phối hợp với các cơ sở sản xuất ở địa phương tạo điều kiện cho học sinh tham quan cơ sở sản xuất, giới thiệu các nghề và có thể tổ chức cho học sinh tham gia lao động nghề nghiệp

1.3.2.3 Các phương pháp giáo dục hướng nghiệp theo hướng phân luồng cho học sinh sau Trung học cơ sở

a) Phương pháp tích lũy kinh nghiệm: Ở Việt Nam, việc HS đi làm thêm trong

khi còn đi học vẫn chưa phổ biến Thậm chí nếu gia đình có dịch vụ như tiệm tạp hóa hay xưởng sản xuất nhỏ cũng không khuyến khích con mình tham gia giúp đỡ vì sợ ảnh hưởng tới việc học Thực tế cho thấy, cơ hội cọ sát với thế giới nghề nghiệp càng sớm thì càng giúp cho HS có trải nghiệm, kiến thức nghề nghiệp vững vàng, thiết lập những kĩ năng thiết yếu từ sớm và có điều kiện để tìm hiểu bản thân

b) Học nghề phổ thông: Một trong những cách mà các cơ sở giáo dục có thể

giúp cho HS thu được các kinh nghiệm làm việc trong quá trình học là khuyến khích

HS tham gia học nghề phổ thông Học nghề là một phương pháp rất hữu hiệu để giúp

Trang 39

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

HS tiếp cận với hoạt động nghề nghiệp trong quá trình học ở trường phổ thông, giúp các em tăng thêm nhận thức về nghề nghiệp, nhận ra sự khác biệt giữa lí thuyết học thuật và ứng dụng lí thuyết đó trong công việc, hiểu rõ sở thích và khả năng của bản thân để ra quyết định nghề nghiệp sau này Học nghề còn tạo điều kiện cho HS đối

chiếu và quan sát sự phù hợp nếu có giữa bản thân với nghề nghiệp

c) Tham gia hoạt động ngoại khóa: Việc tham gia các hoạt động ngoại khóa

như hoạt động Đoàn, Đội, văn nghệ, thể thao, hoạt động từ thiện và làm tình nguyện viên cho những hoạt động cộng đồng sẽ giúp HS rất nhiều trong việc khám phá sở thích, khả năng, cá tính và giá trị nghề nghiệp của mình Những người làm nhiệm vụ giáo dục hướng nghiệp nên tạo điều kiện cho HS có thể tham gia các loại hình ngoại khóa khác nhau, càng nhiều càng tốt

d) Tìm hiểu thông tin nghề nghiệp: Một trong những hoạt động dễ thực hiện và

nên được thực hiện hàng năm của các trường phổ thông là khuyến khích và tạo điều kiện cho HS tìm hiểu về các nghề nghiệp khác nhau qua những cuộc trò chuyện về nghề nghiệp Điều này có thể được thực hiện theo các hình thức sau:

- Tọa đàm trao đổi với các chủ doanh nghiệp và người lao động trong những ngành nghề khác nhau Chương trình này có thể được làm toàn trường hay theo khối

và có thể được tổ chức với sự hợp tác của Đoàn trường, với các doanh nghiệp trong vùng Nguồn lực đầu tiên mà nhà trường nên sử dụng là cha mẹ học sinh (CMHS) trong trường;

- Tổ chức các sự kiện qua mạng lưới chuyên nghiệp;

- Tổ chức những buổi giao lưu với người lao động trong những ngành nghề khác nhau và các chủ doanh nghiệp trong vùng theo kiểu tổ chức các sự kiện xây dựng mạng lưới chuyên nghiệp cho HS cuối cấp Nguồn lực đầu tiên mà trường nên sử dụng cho mục tiêu này là cựu HS của trường hiện đang thành công trong nghề nghiệp;

- Mở những cuộc thi tìm hiểu, thuyết trình hay viết về thông tin nghề nghiệp

để khuyến khích HS tìm hiểu về các nghề nghiệp khác nhau càng sớm càng tốt Những hoạt động này có thể được lồng ghép vào các dịp như ngày Hiến chương các nhà giáo, ngày Quốc tế lao động , ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam v.v…

e) Tư vấn hướng nghiệp: Mỗi khối lớp nên có một GV chuyên về tư vấn

hướng nghiệp có thời gian biểu cố định cho HS có thể tới gặp, nêu câu hỏi thắc mắc,

Trang 40

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

trò chuyện và tìm hiểu thông tin cơ bản về hướng nghiệp bất cứ lúc nào Đối với những trường hợp cần tư vấn đặc biệt, có thể hướng dẫn HS đến gặp những người làm tư vấn hướng nghiệp cấp cao hơn Có thể toàn trường chỉ có một người làm công tác tư vấn hướng nghiệp cá nhân hoặc hợp tác với các Trung tâm hướng nghiệp trong vùng để phối hợp tư vấn hướng nghiệp cá nhân

1.4 Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo hướng phân luồng cho học sinh sau Trung học cơ sở

1.4.1 Xây dựng kế hoạch giáo dục hướng nghiệp theo hướng phân luồng cho học sinh sau Trung học cơ sở

Xây dựng kế hoạch hoạt động TVHN theo hướng phân luồng học sinh sau THCS bao gồm xây dựng mục tiêu, chương trình hoạt động TVHN, xác định từng bước đi, những điều kiện, phương tiện cần thiết trong một thời gian nhất định phục vụ cho hoạt động TVHN phân luồng HS Việc xây dựng kế hoạch, chương trình hoạt động TVHN giúp các nhà quản lý tập trung chú ý vào mục tiêu hoạt động TVHN phân luồng HS, dự kiến trước những khả năng ứng phó với những phương án tối ưu, tiết kiệm nguồn nhân lực và đem lại hiệu quả cao nhất; đồng thời giúp nhà quản lý dễ dàng kiểm tra việc thực hiện kế hoạch, chương trình của các lực lượng tham gia hoạt động TVHN và hiệu quả của việc phân luồng HS

Việc xây dựng kế hoạch TVHN theo hướng phân luồng HS trong trường THCS phụ thuộc vào mục tiêu hoạt động TVHN trong năm học và các nhiệm vụ phải thực hiện để đạt mục tiêu đó Để xác định nội dung kế hoạch hoạt động TVHN trong năm học cần căn cứ vào kế hoạch tổng thể và nhiệm vụ cụ thể của hoạt động TVHN trong năm học đó của nhà trường Đồng thời khi xây dựng kế hoạch TVHN theo hướng phân luồng HS cần cụ thể hóa các nhiệm vụ, nội dung theo tháng, tuần, buổi; theo các hoạt động chính và theo trách nhiệm của từng bộ phận, cá nhân tham gia vào hoạt động TVHN, kết quả phân luồng HS sau khi được tư vấn

1.4.2 Quản lý nội dung giáo dục hướng nghiệp theo hướng phân luồng cho học sinh sau Trung học cơ sở

Thứ nhất, cần chỉ đạo công tác tuyên truyền nhằm thay đổi nhận thức của phụ

huynh về chọn nghề theo định hướng phân luồng Nhiều phu huynh còn mang nặng

Ngày đăng: 13/05/2020, 15:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w