ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM PHẠM THANH BÌNH NGHIÊN CỨU, ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN CHO CÔNG TÁC PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY RỪNG TẠI HUYỆN BẢO YÊN, TỈNH LÀO CAI LUẬN
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PHẠM THANH BÌNH
NGHIÊN CỨU, ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN CHO CÔNG TÁC PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY RỪNG TẠI HUYỆN BẢO YÊN,
TỈNH LÀO CAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP
THÁI NGUYÊN, NĂM 2019
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PHẠM THANH BÌNH
NGHIÊN CỨU, ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN CHO CÔNG TÁC PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY RỪNG TẠI HUYỆN BẢO YÊN,
TỈNH LÀO CAI Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 8 62 02 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: 1 GS.TS Đặng Kim Vui
2 TS Đặng Kim Tuyến
THÁI NGUYÊN, NĂM 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các số liệu nghiên cứu này đều được tiến hành tại xã Yên Sơn, xã Lương Sơn và xã Tân Dương của huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai, kết quả trong luận văn là trung thực và được thực hiện bởi chính tác giả cùng nhóm nghiên cứu của Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Tác giả
Phạm Thanh Bình
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được hoàn thành theo chương trình đào tạo Cao học Lâm nghiệp khoá 25, giai đoạn 2017 - 2019 của Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên
Để hoàn thành luận văn, tác giả đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi của tập thể thầy cô giáo Khoa Lâm Nghiệp, Phòng Đào tạo bộ phận Quản lý Sau Đại học và lãnh đạo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Đối với địa phương, tác giả đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của bà con các dân tộc tại các xã Yên Sơn, xã Lương Sơn và xã Tân Dương của huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai nơi mà tác giả đã đến thu thập số liệu đề tài Nhân dịp này, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đối với sự giúp đỡ quý báu đó Kết quả của luận văn này không thể tách rời sự chỉ dẫn của thầy, cô giáo hướng dẫn khoa học là thầy GS.TS.Đặng Kim Vui và cô TS.Đặng Kim Tuyến, người đã nhiệt tình chỉ bảo hướng dẫn để tôi hoàn thành luận văn này Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy, cô hướng dẫn Xin được cảm ơn sự khuyến khích, giúp đỡ của gia đình cùng bạn bè và đồng nghiệp xa gần, đó là nguồn khích lệ và cổ vũ to lớn đối với tác giả trong quá trình thực hiện và hoàn thành công trình này
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2019
Tác giả
Phạm Thanh Bình
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
3.1 Ý nghĩa khoa học: 3
3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3
CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4
1.1 Tổng quan tài liệu 4
1.1.1 Cơ sở khoa học vấn đề nghiên cứu 4
1.1.2 Những nghiên cứu về cháy rừng trên thế giới 5
1.1.3 Những nghiên cứu về cháy rừng ở Việt Nam 9
1.2 Tổng quan khu vực nghiên cứu 12
1.2.1 Điều kiện tự nhiên của khu vực nghiên cứu 12
1.2.2 Điều kiện dân sinh - kinh tế 14
1.2.3 Nhận xét chung 16
CHƯƠNG II ĐỊA ĐIỂM, PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG 17
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 17
2.2 Phạm vi nghiên cứu 17
2.3 Đối tượng nghiên cứu 17
Trang 62.4 Nội dung nghiên cứu 17
2.5 Phương pháp nghiên cứu 19
2.5.1 Quan điểm nghiên cứu và cách tiếp cận của đề tài: 19
2.5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 20
CHƯƠNG III KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 27
3.1 Đánh giá đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội ảnh hưởng tới công tác PCCCR tại huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai 27
3.1.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên ảnh hưởng tới công tác PCCCR 27
3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội 28
3.2 Hiện trạng tài nguyên rừng và tình hình cháy rừng tại khu vực nghiên cứu giai đoạn 2014 - 2018 29
3.2.1 Hiện trạng tài nguyên rừng tại xã Yên Sơn, Lương Sơn và T ân Dương 29
3.2.2 Tình hình cháy rừng tại khu vực nghiên cứu giai đoạn 2014 – 2018 30
3.2.3 Đánh giá hiệu quả công tác phòng chống cháy rừng tại khu vực nghiên cứu (2014 – 2018) 32
3.2.4 Sự tham gia của người dân trong công tác phòng chống cháy rừng 39
3.2.5 Các biện pháp PCCCR tại địa phương 41
3.3 Xác định phân vùng trọng điểm cháy rừng 43
3.3.1 Xác định mùa cháy rừng tại khu vực nghiên cứu 43
3.3.2 Ảnh hưởng của thảm thực vật tới cháy rừng 46
3.3.3 Xác định khối lượng của vật liệu cháy, ẩm độ của vật liệu cháy 50
3.3.4 Phân vùng trọng điểm dễ cháy rừng khu vực nghiên cứu 54
3.3.5 Tình hình kinh tế xã hội ảnh hưởng đến cháy rừng 57
3.4 Thuận lợi, khó khăn và đề xuất một số giải pháp góp phần cho công tác phòng cháy chữa cháy rừng tại địa bàn nghiên cứu 58
3.4.1 Thuận lợi 58
3.4.2 Khó khăn 58
Trang 73.4.3 Các giải pháp PCCCR 59
3.4.4 Biện pháp phòng cháy chữa cháy rừng 62
KẾT LUẬN, TỒN TẠI, KIẾN NGHỊ 64
1 Kết luận 64
2 Tồn tại 66
3 Kiến nghị 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
PCCCR : Phòng cháy chữa cháy rừng BNN&PTNT : Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn VLC : Vật liệu cháy
UBND : Ủy ban nhân dân
OTC : Ô tiêu chuẩn QLBV : Quản lý bảo vệ BV&PTR : Bảo vệ và phát triển rừng CHQS : Chỉ huy quân sự
NLKH : Nông lâm kết hợp
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Hệ số K theo lượng mưa ngày 6
Bảng 1.2: Phân cấp mức độ nguy hiểm của cháy rừng theo chỉ tiêu P 7
Bảng 3.1: Hiện trạng tài nguyên rừng xã Yên Sơn, Lương Sơn, Tân Dương huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai 30
Bảng 3.2: Tình hình cháy rừng tại khu vực nghiên cứu giai đoạn 2014-2018 31
Bảng 3.3: Sự phối hợp giữa các cơ quan trong công tác PCCCR 34
Bảng 3.4: Một số văn bản luật và dưới luật liên quan đến PCCCR 37
Bảng 3.5: Kết quả điều tra phỏng vấn tại khu vực nghiên cứu 39
Bảng 3.6: Kết quả thực hiện công tác tuyên truyền PCCCR tại khu vực nghiên cứu năm 2019 41
Bảng 3.7: Nhiệt độ và lượng mưa trung bình 5 năm của xã Yên Sơn 44
Bảng 3.8: Nhiệt độ và lượng mưa trung bình 5 năm của xã Lương Sơn 45
Bảng 3.9: Nhiệt độ và lượng mưa trung bình 5 năm của xã Tân Dương 45
Bảng 3.10: Điều tra tầng cây cao 47
Bảng 3.11: Kết quả điều tra cây bụi thảm tươi ở khu vực nghiên cứu 48
Bảng 3.12: Kết quả điều tra cây tái sinh 49
Bảng 3.13: Khối lượng VLC ở các loại rừng tại khu vực nghiên cứu 51
Bảng 3.14: Độ ẩm vật liệu cháy 52
Bảng 3.15: Đặc điểm rụng lá của các loài cây trong tổ thành 53
Bảng 3.16: Vùng trọng điểm dễ cháy tại xã Yên Sơn 54
Bảng 3.17: Vùng trọng điểm dễ cháy tại xã Lương Sơn 55
Bảng 3.18: Vùng trọng điểm dễ cháy tại xã Tân Dương .56
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1: Tam giác lửa 4
Hình 2.1: Phương hướng giải quyết vấn đề của đề tài 20
Hình 3.1: Hình ảnh lực lượng tham gia chữa cháy rừng 36
Hình 3.2: Sơ đồ chỉ đạo phối hợp giữa các lực lượng hỗ trợ chủ rừng chữa cháy rừng 36
Hình 3.3: Sự tham gia của người dân trong PCCCR tại khu vực nghiên cứu 40
Hình 3.4 Người dân tham gia diễn tập phòng cháy chữa cháy rừng 41
Hình 3.5 : Nhiệt độ và lượng mưa trung bình 5 năm của xã Yên Sơn 44
Hình 3.6: Nhiệt độ và lượng mưa trung bình 5 năm của xã Lương Sơn 45
Hình 3.7: Nhiệt độ và lượng mưa trung bình 5 năm của xã Lương Sơn 46
Hình 3.8: Thu thập mẫu vật liệu cháy 50
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Rừng là tài nguyên quý báu của đất nước, có khả năng tái tạo, là bộ phận quan trọng của môi trường sinh thái, có giá trị kinh tế đối với nền kinh tế quốc dân, gắn liền với đời sống của nhân dân và sự sống còn của dân tộc Từ xa xưa con người đã biết dựa vào rừng mà sống, rừng đã mang lại rất nhiều lợi ích cho con người, nhưng ngược lại con người lại quá lạn dụng những lợi ích
đó và làm cho rừng ngày càng nghèo kiệt cả về số lượng và chất lượng Cháy rừng là một trong những thảm hoạ ảnh hưởng rất lớn đến tài nguyên, vật chất tính mạng con người và môi trường sinh thái Ở nước ta và nhiều nước trên thế giới, cháy rừng đã gây ra những thiệt hại rất lớn Trên thế giới hàng năm Cháy rừng từ 10 – 15 triệu ha rừng, có năm cháy tới 25 - 30 triệu ha rừng
Ở Việt Nam, trong những năm qua cháy rừng thường xuyên xảy ra nhưng về thiệt hại thì chưa thống kê được đầy đủ Trong giai đoạn từ năm
1963 đến 2003 cả nước đã cháy mất hơn 1 triệu ha rừng bao gồm cả rừng cây
gỗ và trảng cỏ, Lâu sậy, cây bụi Cháy rừng là một trong những nguyên nhân làm cho diện tích che phủ rừng của nước ta bị giảm nghiêm trọng, từ 43% năm 1993 xuống gần 28% năm 2001 Đặc biệt vụ cháy rừng năm 2003 tại U Minh Thượng và U Minh Hạ ở Tỉnh Kiên Giang đã làm tổn thất 5.500 ha chưa kể tổn thất về tài nguyên môi trường… Chỉ tính riêng chi phí cho công tác chữa cháy tại đó đã lên đến 4,8 tỷ đồng
Để khắc phục tình trạng mất rừng Đảng nhà nước ta đã có nhiều biện pháp, chiến lược sách lược nhằm bảo vệ và phát triển rừng: “ Bảo vệ và phát triển rừng là sự nghiệp có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với quốc kế dân sinh, chẳng những cho đời nay mà cho cả những thế hệ tương lai của đất nước” Ngoài những biện pháp cần thiết như đóng cửa rừng, giao đất, giao rừng cho công tác tái định canh, định cư… Thì công tác phòng cháy, chữa cháy rừng cũng chiến một vị trí rất quan trọng Nó góp phần ngăn chặn nặng cháy rừng nói riêng, đồng thời phát huy hiểu quả công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng nói chung
Trang 12Rừng là một nguồn tài nguyên quan trọng đối với Việt Nam cũng như bất cứ quốc gia nào trên thế giới, là nguồn sống của người dân và có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế và môi trường sinh thái: giữ đất, giữ nước, chống xói mòn rửa trôi, Bảo vệ nguồn nước cho sinh hoạt, cho các hoạt động công nghiệp, tạo không khí trong lành cho sự sống của con người, góp phần hạn chế thiên tai lũ lụt, Rừng cung cấp nguyên vật liệu cho các ngành: chế biến lâm sản, ngành xây dựng, công nghiệp khai thác than, hoạt động du lịch, cung cấp các lâm sản quý Đặc biệt rừng có vai trò quan trọng trong chiến lược thế trận quốc phòng toàn dân góp phần đảm bảo ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội Vì vậy, cháy rừng với quy mô và mức độ thiệt hại nghiêm trọng đã trở thành mối quan tâm không chỉ của những người làm lâm nghiệp hay những người sống gần rừng, có cuộc sống gắn bó với rừng mà của
cả những nhà khoa học, những nhà quản lý của nhiều ngành nhiều cấp và toàn
xã hội Nhận thức được vấn đề đó, trong những thập kỷ qua Đảng và Chính phủ Việt Nam đã rất quan tâm đến công tác PCCCR từ việc ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đến việc tăng cường thực hiện các biện pháp cấp bách về công tác PCCCR nhằm hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại
do cháy rừng gây ra
Để đánh giá được một cách toàn diện công tác phòng chống cháy rừng trong những năm qua, tìm ra một số giải pháp nhằm góp phần đẩy mạnh việc
quản lý bảo vệ rừng, tôi đã tiến hành nghiên cứu chuyên đề: “Nghiên cứu, đề
xuất một số giải pháp góp phần cho công tác phòng cháy chữa cháy rừng tại huyện Bảo Yên, Tỉnh Lào Cai ”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng phòng cháy, chữa cháy rừng tại huyện Bảo Yên, Tỉnh Lào Cai và tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác phòng cháy chữa cháy rừng
- Đề xuất được một số giải pháp nâng cao hiệu quả phòng cháy chữa cháy rừng ở huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai trong thời gian tới
Trang 133 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học:
- Nắm được phương pháp nghiên cứu về thực trạng gây cháy rừng ở huyện
Bảo Yên tỉnh Lào cai nói riêng và cháy rừng ở miền Bắc nước ta nói chung
- Xác định được một số cơ sở khoa học: Các yếu tố về điều kiện tự nhiên; Mùa cháy rừng, tháng khô, hạn, kiệt và các yếu tố kinh tế - xã hội… làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp PCCCR tại huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai
3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Đề tài thực hiện nhằm đề xuất được một số giải pháp cho công tác PCCCR cho huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai trong thời gian tới, góp phần quản
lý rừng, nâng cao hiệu quả kinh tế và chức năng phòng hộ môi trường sinh thái tại địa bàn nghiên cứu
Trang 14CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan tài liệu
1.1.1 Cơ sở khoa học vấn đề nghiên cứu
Theo tài liệu về quản lý lửa rừng, FAO đưa ra khái niệm về cháy rừng và thường được sử dụng là: “Cháy rừng là sự xuất hiện và lan truyền của những đám cháy trong rừng mà không nằm trong sự kiểm soát của con người; gây lên những tổn thất nhiều mặt về tài nguyên, của cải và môi trường”
Để xảy ra cháy rừng cần đủ ba yếu tố:
- Vật liệu cháy: là tất cả những chất có khả năng bén lửa và bốc cháy trong điều kiện có đủ nguồn nhiệt và oxy
- Oxy: là chất duy trì sự cháy và lấp đầy các khoảng trống giữa vật liệu cháy Khi nồng độ oxy giảm xuống dưới 15% thì không còn khả năng duy trì
sự cháy Trong hệ sinh thái rừng có sự khác nhau về nồng độ oxy giữa đêm và ngày, trên tán và dưới tán
- Nhiệt (nguồn lửa): là nhiệt độ cần để đốt cháy vật liệu cháy Nguồn nhiệt có thể phát sinh do thiên nhiên như sấm sét, núi lửa phun… rất khó khống chế nhưng chiếm tỉ lệ thấp từ 1-5% Còn lại chủ yếu do các hoạt động của con người tạo ra như đốt ong, đốt nương, đốt lửa sưởi ấm
Mỗi yếu tố trên tạo thành ba cạnh của một tam giác lửa như hình vẽ sau: Nguồn lửa Oxy
Vật liệu cháy
Hình 1.1: Tam giác lửa
Trang 15Thiếu một trong ba yếu tố trên đều không xảy ra đám cháy Khi đủ ba yếu tố có thể tạo thành đám cháy hay không còn phụ thuộc vào độ ẩm của vật liệu cháy nếu độ ẩm của vật liệu cháy nhỏ hơn 25% thì khả năng bắt lửa
sẽ cao hơn
Nếu làm giảm hoặc loại bỏ một trong những yếu tố trên thì đám cháy rừng sẽ thu nhỏ hoặc bị dập tắt Đây là một cơ sở khoa học trong công tác phòng cháy chữa cháy rừng đem lại hiệu quả cao
Cháy rừng được chia làm 3 loại là:
- Cháy lan trên mặt đất: là trường hợp đám cháy xảy ra ở tầng cây bụi cỏ khô trên mặt đất
- Cháy tán rừng: là trường hợp ngọn lửa lan tràn nhanh từ tán cây này sang cây khác, làm cho tán rừng trồng và rừng tự nhiên bị cháy táp lá gây chết một phần hoặc toàn bộ cây rừng
- Cháy ngầm: là trường hợp xảy ra khi ngon lửa lan chậm dưới mặt đất, trong lớp thảm mục hoặc than bùn
Khi xảy ra cháy rừng có thể xuất hiên cùng lúc 2 đến 3 loại cháy rừng Tùy theo loại cháy rừng mà ta có thể đưa ra những biệt pháp chữa cháy khác nhau để đem lại hiệu quả cao nhất
1.1.2 Những nghiên cứu về cháy rừng trên thế giới
Công tác dự báo cháy rừng trên thế giới đã được tiến hành cách đây hàng trăm năm Từ đó đến nay đã có rất nhiều các nhà lâm nghiệp nghiên cứu và đưa ra nhiều phương pháp và ứng dụng khác nhau trong lĩnh vực này mà đến bây giờ thế giới vấn đang sử dụng
Ở Mỹ, năm 1914 G.A Beal và C.B Shon 1929 đã đưa ra phương pháp dự báo cháy rừng thông qua việc xác định độ ẩm của từng việc từng thảm mục trong rừng với yếu tố khí tượng thuỷ văn để từ đó đề ra các biện pháp phòng cháy, chữa cháy, từ đó kết luận độ ẩm của từng thảm mục nói lên độ khô hẳn của rừng Độ khô hẳn càng cao thì khả năng cháy rừng càng lớn
Trang 16Ở Nga, năm 1924 E.V Valentic đã thống kê các vụ cháy rừng và đã xác định được mỗi quan hệ giữa số lượng diện tích rừng bị cháy với số vụ cháy, với 3 chỉ số sau: số ngày không mưa, lượng mưa và tốc độ gió, từ đó ông kết luận: “ Cháy rừng bắt nguồn từ những nơi không vệ rừng, rừng gặp khô hạn kéo dài, nguồn vật liệu cháy dần được tăng lên và dẫn đến cháy rừng”
Cũng ở Nga năm 1939 V.G Nestorop đã đi sâu nghiên cứu các yếu tố khí tượng thuỷ văn và một số khác có ảnh hưởng đến rừng và đề phương pháp dự báo cháy rừng theo phương pháp tổng hợp ông đưa ra biểu thức toán học để đánh giá mức độ nguy hiểm của cháy rừng gồm 3 yếu tố: Nhiệt độ lúc 13h trưa, lương mưa/ ngày, độ ẩm không khí, ông đã đưa ra kết luận nơi nào nhiệt
độ càng cao, số lượng mưa không kéo dài và độ ẩm không khí càng thấp thì dẫn đến vật liệu cháy càng khô nên sẽ phát sinh cháy rừng
Công thức: Pi = K ∑ T0 13.Dn13
+ K là hệ số điều chỉnh có giá trị 0 và 1 phụ thuộc vào lượng mưa/ ngày nếu:
a >= 5 mm thì K = 0, nếu a <= 5 mm thì K = 1
+ T013 Nhiệt độ không khí tối cao lúc 13h
+ Dn13 chênh lệch lúc bão hoà lúc 13h
Ông đưa ra 5 cấp cháy rừng nguy hiểm, với giá trị P cấp 1: Có giá trị P<300 là nhỏ nhất và cấp lớn nhất là cấp V có giá trị P > 1000 Giá trị P càng cao thì mức độ nguy hiểm, nguy cơ cháy rừng càng lớn Giá trị P tỷ lệ thuận với nhiệt độ và tỷ lệ nghịch với nhiệt độ không khí
Năm 1973, T.O.Stoliartsuk đã tiến hành nghiên cứu áp dụng phương pháp dự báo cháy rừng của Trung tâm khí tượng thủy văn Liên Xô và đề nghị xác định hệ số K theo lượng mưa ngày cụ thể như sau:
Bảng 1.1: Hệ số K theo lượng mưa ngày
Lượng mưa (mm) 0 0,1-0,9 1-2,9 3-5,9 6-14,9 15-19,9 >20
Trang 17Với hệ số K xác định theo lượng mưa ngày và áp dụng công thức (1.2) tính được chỉ tiêu P, từ đó phân mức nguy hiểm của cháy rừng thành 5 cấp như bảng 1.2 sau:
Bảng 1.2: Phân cấp mức độ nguy hiểm của cháy rừng theo chỉ tiêu P
Cấp cháy rừng
Chỉ tiêu tổng hợp
Mức độ nguy hiểm của cháy rừng Theo Nesterov Theo Trung tâm
- Nghiên cứu bản chất của cháy rừng
Kết quả nghiên cứu đã khẳng định rằng cháy rừng là hiện tượng ôxy hoá các vật liệu hữu cơ do rừng tạo ra ở nhiệt độ cao Nó xẩy ra khi có mặt đồng thời của 3 yếu tố, hay còn gọi là tam giác cháy: nguồn nhiệt (lửa), ôxy và vật liệu cháy Tuỳ thuộc vào đặc điểm của 3 yếu tố trên mà cháy rừng có thể được hình thành, phát triển hay bị ngăn chặn hoặc suy yếu đi (Brown, 1979; Belop,1982; Chandler, 1983) Vì vậy, về bản chất, những biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng chính là những biện pháp tác động vào 3 yếu tố trên theo chiều hướng ngăn chặn và giảm thiểu quá trình cháy
Các nhà khoa học phân biệt 3 loại cháy rừng:
(1)-Cháy dưới tán cây, hay cháy mặt đất rừng, là trường hợp chỉ cháy một phần hay toàn bộ lớp cây bụi, cỏ khô và cành rơi lá rụng trên mặt đất;
Trang 18(2)-Cháy tán rừng (ngọn cây) là trường hợp lửa lan tràn nhanh từ tán cây này sang tán cây khác;
(3)-Cháy ngầm là trường hợp xẩy ra khi lửa lan tràn chậm, âm ỉ dưới mặt đất, trong lớp thảm mục dày hoặc than bùn Trong một đám cháy rừng có thể xẩy ra một hoặc đồng thời 2, 3 loại cháy rừng trên Tuỳ theo loại cháy rừng
mà người ta đưa ra những biện pháp phòng và chữa cháy khác nhau (Brown A.A, 1979; Mc Arthur A.G, 1986; Gromovist R, 1993)
- Nghiên cứu về biện pháp phòng và chữa cháy rừng
Thế giới nghiên cứu các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng chủ yếu hướng vào làm suy giảm các thành phần của tam giác cháy:
(1)- Giảm nguồn nhiệt (nguồn lửa) bằng cách dọn vật liệu cháy trên mặt đất thành băng, đào rãnh sâu, hoặc chặt cây theo dải để ngăn cách đám cháy với phần rừng còn lại
(2)- Đốt trước một phần vật liệu cháy vào đầu mùa khô khi chúng còn ẩm
để giảm khối lượng vật liệu cháy vào thời kỳ khô hạn nhất, hoặc đốt có điều khiển theo hướng ngược với hướng lan tràn của đám cháy để cô lập đám cháy (3)- Dùng chất dập cháy để giảm nhiệt lượng của đám cháy hoặc ngăn cách vật liệu cháy với ôxy trong không khí (nước, đất, cát, bọt CO2, khí CCl4, hỗn hợp C2H5Br với CO2 v.v…)
- Nghiên cứu về phân vùng trọng điểm cháy rừng
Khả năng xuất hiện và mức thiệt hại của cháy rừng thường phụ thuộc chặt chẽ vào đặc điểm của các nhân tố ảnh hưởng quan trọng nhất như đặc điểm khí hậu, thời tiết và đặc điểm các trạng thái rừng Những khu vực có lượng mưa lớn và phân bố đều hoặc có những trạng thái rừng ẩm thường ít xảy ra cháy rừng Ngược lại, những khu vực khô hạn, mưa phân bố không đều hoặc có những trạng thái rừng dễ cháy thường xảy ra cháy nhiều hơn Vì vậy,
để sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho phòng cháy chữa cháy rừng, người ta thường căn cứ vào đặc điểm của các nhân tố ảnh hưởng đến cháy rừng để
Trang 19phân chia lãnh thổ thành những khu vực có nguy cơ cháy rừng khác nhau Người ta sẽ tập trung phòng cháy chữa cháy nhiều hơn vào những vùng có nguy cơ cháy cao và giảm đi ở những vùng có nguy cơ cháy ít hơn Việc phân chia lãnh thổ thành những vùng khác nhau theo nguy cơ cháy rừng được gọi
là phân vùng trọng điểm cháy rừng Công việc này được thực hiện ở hầu hết các quốc gia Cho đến nay có hai phương pháp được áp dụng chủ yếu để phân vùng trọng điểm cháy rừng: phân vùng theo các nguyên nhân ảnh hưởng đến cháy rừng và phân vùng theo thực trạng cháy rừng
Ở phương pháp thứ nhất người ta căn cứ vào đặc điểm phân bố các yếu
tố ảnh hưởng đến cháy rừng như khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng và kiểu thảm thực vật để phân vùng trọng điểm cháy Những khu vực có nguy cơ cháy rừng cao là những vùng có đặc điểm khí hậu khô hạn, địa hình dốc, trạng thái rừng
có khối lượng vật liệu cháy lớn và chứa dầu v.v… Ngược lại, những khu vực
có nguy cơ cháy rừng thấp là những vùng có đặc điểm khí hậu ẩm ướt, địa hình tương đối bằng và trạng thái rừng có khối lượng vật liệu cháy ít hoặc thân lá chứa nhiều nước, khó cháy hơn v.v…
Ở phương pháp thứ hai người ta căn cứ vào tình hình phân bố của số vụ cháy rừng diễn ra trên các khu vực của lãnh thổ Những vùng có nguy cơ cháy rừng cao sẽ là những vùng có tần suất xuất hiện cháy rừng cao và mức độ thiệt hại lớn Ngược lại những vùng có nguy cơ cháy rừng thấp là những vùng
ít xảy ra cháy rừng nhất
1.1.3 Những nghiên cứu về cháy rừng ở Việt Nam
Công tác dự báo cháy rừng ở Việt Nam đã được thực hiện từ năm 1981 trở lại đây nhưng vấn không mang lại hiểu quả cao
Nhiều nhà lâm nghiệp của Việt Nam đã nghiên cứu và đưa ra được những phương pháp dự báo cháy rừng với khí hậu của Việt Nam
Xác định mùa cháy theo chỉ số khô hạn của Thái Văn Trừng gồm:
Trang 20X = S; A; D Trong đó: X là chỉ số khô hạn
S là số tháng khô hạn với lượng mưa bình quân P < 2
A là số tháng hạn với các tháng có lượng mưa P< T
P là số tháng kiệt P mm < 5 mm
(T là nhiệt độ trung bình tháng theo dõi)
- Năm 1988, Phạm Ngọc Hưng đã biên soạn và áp dụng phương pháp của Nestorop để dự báo cháy rừng ở Quảng Ninh theo các chỉ tiêu: Nhiệt độ không khi, độ chênh lệch lúc 13h và lượng mưa ngày của tỉnh Quảng Ninh Sau đó tác giả đưa vào một số vụ cháy rừng được thống kê cùng các năm nêu trên để chỉnh lý lại số liệu của cấp cháy rừng và đưa ra 5 cấp (P) Cấp 1 <
1000, cấp 5 > 10000, mặt khác đứng trước tình hình cháy rừng ở một số nơi trên toàn quốc nhà nước Việt Nam đã ban bố những chỉ thị, quyết định giúp cho công tác phòng chống cháy rừng được tiến hành thuận lợi và có hiểu quả hơn như quyết định số 127/2000/QĐ – KL ngày 11 / 12 /2000 của Bộ nông nghiệp và Phát triển Nông thôn về xây dựng hoàn chỉnh hệ thống mạng lưỡi phòng cháy chữa cháy rừng
Từ 1989 - 1991 Dự án tăng cường khả năng phòng cháy, chữa cháy rừng cho Việt Nam của UNDP đã nghiên cứu, soạn thảo phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng theo chỉ tiêu khí tượng tổng hợp P của Nesterop nhưng thêm yếu tố gió (Cooper, 1991) Chỉ tiêu P của Nesterop sẽ được nhân với hệ số là 1.0, 1.5, 2.0, và 3.0 nếu có tốc độ gió tương ứng là 0-4, 5-
15, 16-25, và lớn hơn 25 km/giờ Tuy nhiên, đến nay chỉ tiêu này vẫn chỉ đang ở giai đoạn thử nghiệm Năm 1993, Võ Đình Tiến đã đưa ra phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng của từng tháng ở Bình Thuận theo 6 yếu tố: nhiệt độ không khí trung bình, lượng mưa trung bình, độ ẩm không khí trung bình, vận tốc gió trung bình, số vụ cháy rừng trung bình, lượng người vào rừng trung bình Tác giả đã xác định được cấp nguy hiểm với cháy rừng của từng tháng trong cả mùa cháy Đây là chỉ tiêu có tính đến cả yếu tố thời tiết
Trang 21và yếu tố kinh tế xã hội liên quan đến nguy cơ cháy rừng Tuy nhiên, vì căn
cứ vào số liệu khí tượng trung bình nhiều năm nên cấp dự báo của Võ Đình Tiến chỉ thay đổi theo thời gian của lịch mà không thay đổi theo thời tiết hàng ngày Vì vậy, nó mang ý nghĩa của phương pháp xác định mùa cháy nhiều hơn là dự báo nguy cơ cháy rừng
Mới đây trong hội thảo "Sinh khí hậu phục vụ quản lý bảo vệ rừng và giảm nhẹ thiên tai" tổ chức tại Trường đại học lâm nghiệp, nhóm cán bộ của trường đã giới thiệu phần mềm dự báo lửa rừng Mục đích của nó là tự động hoá việc cập nhật thông tin, dự báo và tư vấn về giải pháp phòng cháy, chữa cháy rừng Phần mềm đã được đánh giá như một sáng kiến có giá trị trong dự báo lửa rừng Việt Nam Tuy nhiên, đây là phần mềm dự báo nguy cơ cháy rừng ở những trạm đơn lẻ, chưa liên kết với kỹ thuật GIS và viễn thám, do đó, chưa tự động hoá được việc dự báo nguy cơ cháy rừng cho vùng lớn
Nhìn chung đến nay nghiên cứu về phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng ở Việt Nam còn rất mới mẻ, trong đó vẫn chưa tính đến đặc điểm của trạng thái rừng, đặc điểm tiểu khí hậu và những yếu tố kinh tế xã hội có ảnh hưởng đến cháy rừng ở địa phương
- Nghiên cứu về các công trình phòng cháy, chữa cháy rừng
Hiện còn rất ít những nghiên cứu về hiệu lực của các công trình phòng cháy, chữa cháy rừng cũng như những phương pháp và phương tiện phòng cháy, chữa cháy rừng Mặc dù trong các quy phạm phòng cháy, chữa cháy rừng có đề cập đến những tiêu chuẩn của các công trình phòng cháy, chữa cháy rừng, những phương pháp và phương tiện phòng cháy, chữa cháy rừng, song phần lớn đều được xây dựng trên cơ sở tham khảo tư liệu của nước ngoài, chưa có khảo nghiệm đầy đủ trong điều kiện Việt Nam (Đặng
Vũ Cẩn, 1992)
- Nghiên cứu biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng
Các nghiên cứu về biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng ở Việt Nam chủ yếu hướng vào thử nghiệm và phân tích hiệu quả của giải pháp đốt trước
Trang 22nhằm giảm khối lượng vật liệu cháy Phó Đức Đỉnh (1993) đã thử nghiệm đốt trước vật liệu cháy dưới rừng thông non 2 tuổi tại Đà Lạt Theo tác giả ở rừng thông non nhất thiết phải gom vật liệu cháy vào giữa các hàng cây hoặc nơi trống để đốt, chọn thời tiết đốt để ngọn lửa âm ỉ, không cao quá 0.5 m có thể gây cháy tán cây Phan Thanh Ngọ thử nghiệm đốt trước vật liệu cháy dưới rừng thông 8 tuổi ở Đà lạt (Phan Thanh Ngọ, 1995) Tác giả cho rằng với rừng thông lớn tuổi không cần phải gom vật liệu trước khi đốt mà chỉ cần tuân thủ những nguyên tắc về chọn thời điểm và thời tiết thích hợp để đốt Tác giả cho rằng có thể áp dụng đốt trước vật liệu cháy cho một số trạng thái rừng ở địa phương khác, trong đó có rừng khộp ở Đắc Lắc và Gia Lai
Ngoài ra, đã có một số tác giả đề cập đến giải pháp xã hội cho phòng cháy, chữa cháy rừng (Lê Đăng Giảng, 1974; Đặng Vũ Cẩn, 1992; phạm Ngọc Hưng, 1994) Các tác giả đã khẳng định rằng việc tuyên truyền về tác hại của cháy rừng, quy hoạch vùng sản xuất nương rẫy, hướng dẫn về phương pháp dự báo, cảnh báo, xây dựng các công trình phòng cháy, chữa cháy rừng,
tổ chức lực lượng phòng cháy, chữa cháy rừng, quy định về dùng lửa trong dọn đất canh tác, săn bắn, du lịch, quy định về nghĩa vụ và quyền lợi của công dân v.v sẽ là những giải pháp xã hội quan trọng trong phòng cháy, chữa cháy rừng Tuy nhiên, phần lớn những kết luận đều dựa vào nhận thức của các tác giả là chính Còn rất ít những nghiên cứu mang tính hệ thống về ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế xã hội đến cháy rừng
1.2 Tổng quan khu vực nghiên cứu
1.2.1 Điều kiện tự nhiên của khu vực nghiên cứu
a) Vị trí địa lý
Huyện Bảo Yên là cửa ngõ phí đông của tỉnh Lào Cai, cách thành phố Lào Cai 75 km, cách Hà Nội 263 km Có diện tích tự nhiên 827,91 km2 , kéo dài từ 2205’ đến 22030’ vĩ độ bắc, từ 104015’ đến 104037’ kinh đông Độ cao trung bình của huyện từ 300 đến 400 m so với mực nước biển Điểm cao nhất
Trang 23là 1.120 m trên dãy núi Con Voi (thuộc xã Long Khánh), điểm thấp nhất là 50
m, độ dốc bình quân toàn huyện từ 30 – 350
- Phía đông nam giáp huyện Lục Yên - tỉnh Yên Bái
- Phía đông giáp huyện Quang Bình - Tỉnh Hà Giang
- Phía tây nam giáp huyện Văn Yên - tỉnh Yên Bái
- Phía bắc giáp huyện Bảo Thắng và Bắc Hà - tỉnh Lào Cai
- Phía tây bắc giáp huyện Văn Bàn - tỉnh Lào Cai
b) Đất đai, thổ nhưỡng
Địa hình Bảo Yên khá phức tạp, nằm trong hai hệ thống núi lớn là Con Voi và Tây Côn Lĩnh chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, cao ở phía bắc, thấp dần về phía nam Nằm giữa hai hệ thống núi này là hai con sông lớn, sông Hồng và sông Chảy Sông Hồng (xưa gọi là sông Nhĩ Hà) chảy qua 3 xã Cam Cọn, Kim Sơn, Bảo Hà với tổng chiều dài 35 km, lưu lượng dòng chảy khá lớn Sông Chảy (còn gọi là sông Trôi) chảy theo hướng đông bắc – tây nam, có độ dốc lớn, dòng chảy xiết, là thượng nguồn chính của thuỷ điện Thác Bà, có nhiều thác ghềnh ở phía bắc Đoạn sông Chảy chảy qua 8 xã và thị trấn Phố Ràng của huyện chiều dài 50 km
Do ảnh hưởng của cấu tạo địa chất nên phần lớn đất đai Bảo Yên là loại đất Pheralít màu đỏ vàng phát triển trên nền đá Gráp điệp thạch mi ca Địa hình Bảo Yên có sự chia cắt mạnh, có núi cao, khe vực sâu và thung lũng hẹp Các nhà khoa học xếp Bảo Yên vào loại vùng đồi nhỏ hơn 300 – 400m và 400 – 500m Vành đai vùng đồi nhỏ hơn 300 – 400m chiếm phần lớn diện tích thung lũng các sông suối lớn như thung lũng sông Chảy Các vành đai vùng đồi núi thấp 400 – 500m có địa hình chia cắt mạnh, núi cao, sườn dốc, khe sâu vực thẳm, thung lũng hẹp, bậc thang nhỏ đất bồi tụ, nhìn chung không lớn, diện tích hẹp, phân bố rải rác; bồn địa tương đối bằng phẳng tạo nên những cánh đồng rộng lớn ở vùng Nghĩa đô, Vĩnh Yên, Xuân Hoà, Bảo Hà, Kim Sơn, Cam Cọn
Trang 24Diện tích tự nhiên của huyện rộng, song chủ yếu là rừng và đất rừng chiếm hơn 70% diện tích tự nhiên của huyện, với diện tích che phủ hiện nay
là 51% (năm 2009) Hiện ở Bảo Yên còn tồn tại ba kiểu rừng chủ yếu, đó là;
Rừng nguyên sinh tập trung tại đầu nguồn và trên vành cao dãy núi Con Voi,
có nhiều lâm sản quý hiếm; Rừng giữa hiện nay đã được giao đến họ gia đình
và các tập thể, việc khai thác kết hợp với trồng mới và tu bổ đã trở thành vành
đai rừng phòng hộ; Rừng cỏ tranh, lau lách, cây bụi ở vùng thấp, hiện nay
đang được phát triển các loại cây ăn quả, cây nguyên liệu Bên cạnh nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào, rừng Bảo Yên còn có các loại chim, thú và một
số loại thuốc nam quý Đất tự nhiên ở Bảo Yên có khả năng trồng các loại cây công nghiệp và cây ăn quả
c) Khí hậu, thủy văn
Khí hậu Bảo Yên mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới nóng, hình thành hai tiểu vùng khí hậu: Đông Bắc và Tây Bắc Nhiệt độ trung bình trong năm của huyện là 21,5 0C Tháng nóng nhất là 39,4 0C, tháng có nhiệt độ thấp nhất
là 3,7 0C Lượng mưa trung bình là 1.440 mm đến 2.200 mm, tổng số giờ nắng trong năm là 1.300 - 1.600 giờ Tài nguyên đất đai, khí hậu và khoáng sản trong lòng đất đã tạo điều kiện thuận lợi để Bảo Yên có thể phát triển kinh
tế nông - lâm - công nghiệp toàn diện
1.2.2 Điều kiện dân sinh - kinh tế
a) Dân cư
Dân số huyện Bảo Yên năm 2009 là 76.274 người (Số liệu 31/12/2009), trong đó:
- Tổng số hộ: 17.060 hộ
- Số người trong độ tuổi lao động: 45.928 người chiếm 60,21%
- Mật độ dân số bình quân: 92 người/km2
Cư trú tại 17 xã và 1 thị trấn; chia thành 3 khu vực: Các xã ven sông Hồng gồm Bảo Hà, Kim Sơn, Cam Cọn; các xã ven sông Chảy gồm Điện
Trang 25Quan, Thượng Hà, Minh Tân, Tân Dương, Yên Sơn, thị trấn Phố Ràng, Lương sơn, Long Phúc, Long Khánh, Việt Tiến; các xã vùng thượng huyện gồm Tân Tiến, Nghĩa Đô, Vĩnh Yên, Xuân Hoà
- Hệ thống cơ sở hạ tầng đã được cải thiện trên địa bàn huyện có Quốc lộ
70 và Quốc lộ 279 chạy qua, là tuyến đường quan trọng nối tỉnh Lào Cai với vùng kinh tế trọng điểm Hà Nội, và là tuyến đường nối với các tỉnh phía Tây Bắc Toàn huyện có 10/17 xã có tuyến đường nhựa chạy qua, còn lại là đường
đá dăm và đường cấp phối, đường từ Trung tâm xã đi các thôn, 14/17 xã có đường ô tô đi lại được bốn mùa
d) Y tế
Hiện nay, trên toàn huyện có 1 Bệnh viện Đa khoa với trên 100 giường bệnh; 1 Trung tâm y tế; 17 Trạm y tế xã 86 giường bệnh, 13/17 trạm y tế xã chưa có cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh Các Trạm y tế mặc dù được trang bị các dụng cụ y tế để khám chữa bệnh
e) Giáo dục
Toàn huyện có 56 trường và 1 Trung tâm Giáo dục thường xuyên - Giáo dục nghề nghiệp Chia ra: Mầm non: 19 trường, Tiểu học 17 trường, TH&THCS: 2 trường, THCS: 15 trường, PT DTNT huyện: 1 trường, THPT:
03 trường Tổng số phòng học hiện nay có: 761 phòng, trong đó phòng học kiên cố 605, phòng học cấp 4: 156 Số trường đạt chuẩn Quốc gia: 10 trường, trong đó: Mầm non: 2 trường; Tiểu học: 8 trường 34 thư viện đạt chuẩn Giáo viên tiểu học trực tiếp giảng dạy: 503, trình độ chuyên môn đạt chuẩn trở lên chiếm tỷ lệ 99,8% (501/503)
Trang 261.2.3 Nhận xét chung
- Thuận lợi: Huyện Bảo Yên nằm dọc trên tuyến đường quốc lộ 70 và
quốc lộ 279, việc giao thương buôn bán được thuận lợi, đời sống nhân dân
tương đối ổn định
- Khó khăn: Là một huyện thuộc vùng núi, có nhiều đồng bào dân tộc ít
người sinh sống xa khu trung tâm, người dân tập trung chủ yếu gần sát rừng Trong đó, có những người dân tộc ít người như H’Mông, Dao thường do ở khá xa trung tâm, cơ sở hạ tầng còn kém, địa hình đồi núi phớc tạp, cộng với trình độ dân trí tương đối thấp, nên việc chấp hành các chính sách của nhà nước còn hạn chế
Trang 27CHƯƠNG II ĐỊA ĐIỂM, PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Đề tài được thực hiện tại huyện Bảo Yên - tỉnh Lào Cai trong thời gian
từ tháng 7 năm 2018 đến tháng 8 năm 2019
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chọn ra 03 xã điển hình thường hay xảy ra cháy rừng là : xã Yên Sơn, xã Lương Sơn, xã Tân Dương là các xã có diện tích rừng đủ lớn và đa dạng về các loại rừng và trạng thái rừng tự nhiên đại diện cho phân bố về mặt địa lý và địa hình của huyện để nghiên cứu và đánh giá chung cho toàn huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai
2.3 Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp phòng cháy chữa cháy rừng đã và đang được áp dụng tại huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai
2.4 Nội dung nghiên cứu
Để thực hiện những mục tiêu trên đề tài tiến hành nghiên cứu những nội dung chủ yếu sau:
Nội dung 1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội khu vực nghiên cứu ảnh hưởng tới công tác PCCCR
+ Các nhân tố tự nhiên:
- Địa hình, đất đai, độ dốc…
- Đặc điểm điều kiện khí tượng
- Mùa cháy rừng
- Đặc điểm của vật liệu cháy: Độ dày vật liệu cháy của tầng thảm khô, độ
ẩm của vật liệu cháy…
Trang 28+ Tình hình kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến cháy rừng
- Điều kiện kinh tế, đời sống người dân, trình độ dân trí của vùng nghiên cứu
- Các tác động của người dân đến rừng (Đốt rừng làm nương rẫy, khai thác gỗ củi, săn bắt động vật rừng, bắt ong, dung lửa trái phép trong rừng…)
có thể dẫn đến cháy rừng
Nội dung 2 Hiện trạng tài nguyên rừng và tình hình cháy rừng tại khu vực nghiên cứu giai đoạn 2014 - 2018
+ Diện tích rừng và đất rừng, loài cây trồng rừng…
+ Đánh giá thực trạng công tác phòng cháy rừng
- Tuyên truyền giáo dục;
- Biện pháp kỹ thuật lâm sinh;
- Công tác chữa cháy rừng
- Công tác dự báo cháy rừng…
+ Hiệu quả công tác phòng chống cháy rừng tại khu vực nghiên cứu (2014 - 2018)
- Các công tác phòng chống cháy rừng chủ đạo
- Các văn bản chỉ đạo trực tiếp của địa phương liên quan tới công tác phòng chống cháy rừng
+ Sự tham gia của người dân trong phòng chống cháy rừng
+ Các biện pháp PCCCR
Nội dung 3 Nghiên cứu xác định mùa cháy rừng và phân vùng trọng điểm cháy rừng tại khu vực nghiên cứu
Trang 29+ Xác định mùa cháy rừng tại khu vực nghiên cứu
+ Thảm thực vật rừng (loài, đặc điểm rụng lá )
+ Phân vùng trọng điểm dễ cháy rừng ( xây dựng bản đồ điểm cháy)
Nội dung 4 Thuận lợi, khó khăn và đề xuất một số giải pháp góp phần cho công tác phòng chống cháy rừng tại huyện Bảo Yên - Lào Cai
+ Giải pháp về thể chế - chính sách
+ Giải pháp về kỹ thuật
- Xây dựng bản đồ phân vùng trọng điểm dễ cháy
- Quản lý vật liệu cháy
- Dự báo và cảnh báo nguy cơ cháy rừng
- Phục hồi rừng sau cháy
- Trồng rừng hỗn giao
+ Giải pháp kinh tế xã hội
2.5 Phương pháp nghiên cứu
2.5.1 Quan điểm nghiên cứu và cách tiếp cận của đề tài:
Đối với hoạt động phòng cháy rừng, đây là lĩnh vực đòi hỏi phải có sự vào cuộc của tất cả các cấp, các ngành, mọi tổ chức, cá nhân và là trách nhiệm của toàn dân; chính vì vậy mà quan điểm nghiên cứu và cách tiếp cận của đề tài phải có sự tham gia và tính kế thừa, chọn lọc
Đề tài xuất phát từ việc thống kê các kết quả điều tra về nguyên nhân của các vụ cháy rừng trên địa bàn huyện Bảo Yên từ năm 2014 đến nay; trên cơ
sở các nguyên nhân gây cháy rừng ta tiến hành điều tra, đánh giá các yếu tố chi phối đặc thù đến việc xuất hiện các nguyên nhân gây cháy rừng như: Thực trạng tài nguyên rừng, ảnh hưởng của vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, kinh tế
xã hội; thể chế, chính sách, tài chính hiện hành, các phương pháp phòng cháy đang được áp dụng và diễn biến tình hình cháy rừng qua các năm từ đó nhìn nhận rõ mối quan hệ giữa nguyên nhân của các vụ cháy rừng đối với các yếu
Trang 30tố điều tra để thấy rõ được những ưu điểm, nhược điểm cần khắc phục làm cơ
sở cho việc đề xuất các giải pháp phòng cháy rừng có hiệu quả tại huyện Bảo Yên
Hình 2.1: Phương hướng giải quyết vấn đề của đề tài
2.5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
2.5.2.1 Phương pháp thừa kế số liệu
Phòng chữa cháy rừng
Khảo sát, điều tra,đánh giá các vấn đề liên quan đến PCR
Phân tích ảnh hưởng của yếu tố
tự nhiên, KT-XH đến CR
Các biện pháp phòng cháy rừng đang được
áp dụng
Diễn biến tình hình cháy rừng
từ năm
2014 đến nay
Trang 31- Kế thừa có chọn lọc các tài liệu về điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội ở khu vực nghiên cứu, báo cáo tổng kết của Hạt Kiểm lâm huyện, UBND xã, Trạm KLĐB theo từng năm về công tác quản lý bảo vệ rừng từ năm 2014 - 2018
- Nghiên cứu các tài liệu có liên quan về công tác PCCCR
- Tìm hiểu luật và các văn bản dưới luật liên quan đến công tác PCCCR , hướng dẫn về công tác PCCCR của tỉnh Lào Cai
2.5.2.2 Phương pháp điều tra nhanh nông thôn (PRA)
Thông qua việc đi quan sát thực tế và phỏng vấn một số cán bộ và người dân tham gia công tác PCCCR để thu thập những thông tin cần thiết phục vụ
đề tài với công cụ phỏng vấn cá nhân với bộ câu hỏi đã xây dựng trước
Tại các xã nghiên cứu sẽ tiến hành phỏng vấn cụ thể như: Cán bộ phỏng vấn 5-10 người là cán bộ làm công tác chuyên trách bảo vệ rừng, cán bộ địa phương liên quan đến bảo vệ rừng và phòng chữa cháy rừng Người dân tiến hành phỏng vấn 15 - 20 người, họ là những người dân có tham gia và hiểu biết về PCCCR, những người này đại diện về tuổi, giới tính, dân tộc
2.5.2.3 Nghiên cứu thực nghiệm tìm ảnh hưởng của thảm thực vật, vật liệu cháy ảnh hưởng đến cháy rừng
Để tìm hiểu ảnh hưởng của thảm thực vật, vật liệu cháy ảnh hưởng đến cháy rừng Trên một số loại rừng: Rừng keo, rừng bồ đề, rừng tự nhiên để thu thập các chỉ tiêu cần điều tra, tiến hành lập các ô tiêu chuẩn (OTC) Đề tài đã tiến hành lập 9 OTC ở xã Yên Sơn, 09 OTC ở xã Lương Sơn và 9 OTC ở xã Tân Dương Trong đó mỗi loại rừng lập 3 OTC tại 3 vị trí chân đồi, sườn đồi, đỉnh đồi, diện tích mỗi ô tiêu chuẩn là 1000m2 (50m x 20m), trên mỗi ô tiêu chuẩn tiến hành điều tra các cây tầng cao với các nhân tố điều tra Hvn; D1.3;
Dt (rừng trồng điều tra 30 cây tiêu chuẩn/OTC)
Tiến hành xác định độ tàn che bằng phương pháp hệ thống mạng lưới điểm (100 điểm) Tùy từng diện tích ô tiễu chuẩn mà bố trí các điểm điều tra, sao cho các điểm điều tra bố trí đều trong các ô tiêu chuẩn Dùng một cây gậy
Trang 32nhỏ chiếu thẳng tán nếu gặp tán thì ghi số 1, không nhìn thấy tán thì ghi số 0, lúc nhìn thấy, lúc không nhìn thấy mép tán thì ghi 0,5
ĐTC = ∑ số điểm ghi 1 + ½ (∑ số điểm ghi 0,5)
∑ số điểm điều tra Kết quả tra ghi vào mẫu biểu 01
Mẫu bảng 01: Điều tra tầng cây cao
Địa điểm: Độ tàn che: Người kiểm tra:
Trang 33giá trị che phủ bằng 1 trên tổng số điểm điều tra (90 điểm) Kết quả được ghi vào mẫu biểu
Mẫu bảng 02: Điều tra tình hình sinh trưởng của cây bụi thảm tươi
Địa điểm: Độ tàn che: Người kiểm tra:
Sinh trưởng
+ Điều tra cây tái sinh được điều tra trên 5 ô dạng bản
- Chiều cao cây tái sinh xác định bằng sào có độ chính xác đến deximet (dm)
- Chất lượng cây tái sinh được đánh giá qua hình dạng, hình dạng tán cây tái sinh và phân ra 3 cấp: tốt, trung bình, xấu kết quả điều tra ghi vào mẫu biểu 03
Mẫu bảng 03: Điều tra cây tái sinh
Địa điểm: Độ tàn che: Người kiểm tra:
TT
ODB Loài cây
Phân cấp chiều cao Dt(m) Ghi
chú
<0,5m 0,5-1m ≥1m Tốt TB Xấu
Trang 34+ Điều tra đặc điểm vật liệu cháy, ẩm độ của vật liệu cháy
Vật liệu cháy được điều tra trên 5 ô dạng bản phân bổ ở 4 góc và giữa của ô tiêu chuẩn, diện tích của mỗi ô dạng bản là 25m2 (5mx5m) Điều tra thành phần của thảm khô, thảm tươi và xác định khối lượng của vật liệu cháy bằng cân Số liệu điều tra được thống kê vào mẫu biểu 04
Mẫu bảng 04: Điều tra vật liệu cháy
Địa điểm: Độ tàn che: Người kiểm tra:
Thảm khô
Dễ cháy
Khó cháy
2.5.2.4 Xác định ẩm độ của vật liệu cháy:
Phương pháp điều tra thực hiện trên các ô tiêu chuẩn Tại các trạng thái rừng tự nhiên, mỗi trạng thái bố trí 3 Ô tiêu chuẩn điển hình ở các vị trí: Chân đồi – sườn đồi – đỉnh đồi Đối với rừng trồng trên địa bàn xã điều tra trên rừng, đối tượng 3 năm tuổi trở lên, mỗi loại rừng trồng bố trí 03 OTC Đối với rừng tự nhiên, diện tích OTC là 1000 m2 (25m x 40m), đối với rừng trồng là
500 m2 (20m x 25m) Vật liệu cháy được điều tra trên 5 ô dạng bản có diện tích 25m2 (5mx5m) phân bố ở 4 góc và giữa các ô tiêu chuẩn để xác định sinh khối cây bụi thảm tươi và thảm khô
Trang 35Xác định khối lượng của vật liệu cháy bằng cách thu gom toàn bộ vật liệu cháy trong ô dạng bản gồm 02 loại: Thảm khô và thảm tươi và xác định sinh khối của vật liệu cháy bằng cân khối lượng Đối với thảm khô thu gom toàn bộ cành khô, lá rụng; đối với thảm tươi tiến hành chặt toàn bộ cây bụi
Để quy đổi lượng vật liệu cháy xác định ở hiện trường thành lượng khô của chúng (xác định độ ẩm VLC), trên mỗi OTC của từng trạng thái lấy 01 kg/ 01 mẫu về sấy VLC ở 105oC tại phòng thí nghiệm từ 6 đến 8 giờ đến khối lượng không đổi Tính độ ẩm vật liệu cháy theo công thức sau:
W = ((Q0 - Q)/Q0)*100%
Trong đó:
Q0: Khối lượng mẫu trước khi sấy
Q: Khối lượng khô tuyệt đối sấy ở 105oC
2.5.2.5 Phương pháp tính mùa cháy rừng
Sử dụng phương pháp chỉ số khô hạn của GS.TS Thái Văn Trừng (1970) để tính mùa cháy rừng theo công thức :
Trang 36Các kết quả phân tích trên sẽ được tổng hợp để đưa ra những đề xuất, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác phòng cháy chữa cháy rừng tại khu vực nghiên cứu
Dựa vào số liệu đã thu thập tại khu vực nghiên cứu, tôi tiến hành tổng hợp và phân tích số liệu để đánh giá được thực trạng công tác PCCCR giai đoạn 2014 - 2018, theo từng nội dung nghiên cứu của đề tài
- Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến cháy rừng
- Ảnh hưởng của điều kiện xã hội đến cháy rừng
- Ảnh hương của phương pháp tổ chức đến cháy rừng
- Ảnh hưởng của chính sách đến công tác PCCCR
- Phân tích các kết quả, tồn tại, nguyên nhân của các tồn tại trong phòng cháy rừng
- Tổng hợp những đề xuất khắc phục khó khăn từ đối tượng điều tra và viết luận văn
Trang 37CHƯƠNG III KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ
3.1 Đánh giá đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội ảnh hưởng tới công tác PCCCR tại huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai
3.1.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên ảnh hưởng tới công tác PCCCR
Huyện Bảo Yên chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa Nhiệt
độ không khí trung bình hàng năm là 21,5 0C, mùa đông rét đậm, nhiệt độ có lúc xuống dưới 3,7 0C, kéo dài 3 - 4 ngày và xuất hiện sương muối, sương
mù từng đợt Mùa hạ nóng bức có khi nhiệt độ lên đến 39,4 0C Tháng có độ
ẩm không khí lớn nhất là tháng 8 và thấp nhất là tháng 5 Số giờ nắng trung bình hàng năm là 1.300 - 1.600 giờ Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.440 mm đến 2.200 mm tập trung vào các tháng 6,7,8,9 (chiếm >70% lượng mưa cả năm)
Khu vực nghiên cứu chịu ảnh hưởng của đặc trưng khí hậu Tây Bắc - Đông Nam, một năm có hai mùa: Mùa khô hanh và mùa mưa
Mùa mưa: Bắt đầu từ trung tuần tháng 6 đến tháng 9, lượng mưa trung
bình từ 1.200 đến 1.400 mm Lượng mưa tập trung vào các tháng 6,7,8,9, lượng mưa chiếm 70% lượng mưa cả năm
Mùa khô: bắt đầu từ trung tuần tháng 11 đến hết tháng 5 năm sau Mùa
này thường khô hanh, nắng nóng nhưng nhiều khi có rét đậm vào buổi tối và buổi sáng sớm, cũng thường xuất hiện sương mù vào buổi sáng và chiều tối Địa bàn khu vực nghiên cứu là huyện Bảo Yên có diện tích khá rộng, địa hình cơ bản là đồi núi đan xen tiếp giáp các khu vực thường xảy ra cháy rừng của các xã Yên Sơn, Lương Sơn và Tân Dương cùng với diễn biến thời tiết hết sức phức tạp, mùa khô hanh khô, nắng nóng kéo dài từ tháng 10 - 11 năm trước đến tháng 4 - 5 của năm sau, thường xuyên xuất hiện những đợt gió thổi mạnh vì vậy luôn có nguy cơ tiềm ẩn cháy rừng cao
Trang 38Hệ thống các suối nhỏ chạy từ các khe ở các vùng đồi núi cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt Tuy nhiên vào mùa khô lưu lượng nước ít, gây khô hạn kéo dài
Khu vực nghiên cứu tại 03 xã Yên Sơn, Lương Sơn và Tân Dương có khí hậu ảnh hưởng khu vực phía Tây bắc nhiều hơn Nhiệt độ và lượng mưa phân bố không đều, tháng nóng nhất là tháng 7 nhiệt độ lên đến 38 - 39 0C, tháng rét đậm nhất vào tháng 1 nhiệt độ xuống thấp 3 - 5 0C Mùa mưa tập trung từ tháng 6-9, lượng mưa lớn nhất trong tháng lên đến gần 400 mm, mùa khô có tháng lượng mưa chỉ khoảng 13 mm, lượng mưa thấp cùng độ ẩm không khí thấp làm rút ngắn quá trình khô của vật liệu cháy (VLC) cùng với làm nóng và khô nhanh mặt đất kéo theo lớp không khí sát mặt đất nóng lên bằng các phương thức
Rừng ở khu vực nghiên cứu có cả rừng tự nhiên và rừng trồng Trong đó rừng trồng ở xã Yên Sơn, Lương Sơn và Tân Dương chủ yếu là các loài cây như Keo, Bồ đề là các loài cây tương đối dễ bén lửa và rụng nhiều lá hơn vào mùa khô, từ đó dẫn đến tính dễ bắt lửa và nguy cơ cháy rừng Rừng tự nhiên với các loài cây chủ yếu như: Sồi, Trẩu, Bồ đề, Vạng trứng phần lớn cũng là các loài cây rụng lá theo mùa, bên cạnh đó thảm thực vật cây bụi thảm tươi chủ yếu là Cỏ tranh chúng sinh trưởng phát triển tốt vào mùa mưa và khô héo vào mùa khô tạo ra một khối lượng lớn vật liệu cháy vào mỗi mùa khô, từ đó dẫn đến tính dễ bắt lửa và nguy cơ gây cháy rừng khi con người dùng lửa thiếu kiểm soát
3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội
+ Tập quán cánh tác của người dân địa phương ảnh hưởng đến cháy rừng: Khu vực nghiên cứu có nhiều dân tộc anh em sinh sống, trong đó chủ yếu là người dân tộc H’mông, Dao Nhìn chung trình độ nhận thức của bà con
về công tác PCCCR còn thấp, phương thức canh tác vẫn lạc hậu Một số hộ gia đình sống phân tán cả ngoài bìa rừng và trong rừng để tiện cho việc khai thác, đốt nương làm rẫy, đốt ong, lấy củi để phục vụ cho cuộc sống Các hoạt động này thường gắn liền với việc sử dụng lửa tiềm ẩn nguy cơ cháy rừng rất cao Theo thống kê của hạt kiểm lâm Bảo Yên và UBND các xã Yên Sơn,
Trang 39Lương Sơn và Tân Dương thì đa số vụ cháy rừng là do hoạt động sử dụng lửa
ở trong rừng và bìa rừng của người dân, nguyên nhân chủ yếu là do người dân
xử lí thực bì chưa tốt Xử lý ngay sát rừng, thường đốt thực bì khi thời tiết khô hanh Trong khi đó VLC ở các trạng thái rừng có khối lượng lớn và dễ bắt lửa, và khi đốt đã không báo chính quyền địa phương và lực lượng kiểm lâm địa bàn để phối hợp cử người cùng canh gác Vì vậy, nếu có nguồn lửa, khi gặp điều kiện thuận lợi sẽ bùng phát thành đám cháy, không đủ sước khống chế để ngọn lửa cháy lan vào rừng
Theo thống kê tại địa phương thì khoảng thời gian mà người dân xửa lý phát dọn và đốt thực bì thường từ tháng 11 năm trước đến tháng 2 năm sau,
để làm đất canh tác vào vụ Đông và vụ xuân Vào khoảng tời gian này chính
là thời kỳ cao điểm thời tiết khô hanh nên rất dễ gây cháy lan vào rừng
+ Áp lực về dân số: Áp lực về dân số hiện nay cũng đang tác động tới tài
nguyên rừng tại địa bàn nghiên cứu Người dân mở rộng các diện tích canh tác, chủ yếu bằng hình thức đốt nương làm rẫy Ở những bản xa địa hình phức tạp, giao thông đi lại khó khăn, người dân chủ yếu là người dân tộc H’Mông, dân tộc Dao, trình độ văn hóa còn thấp, phương thức canh tác vẫn lạc hậu, chủ yếu là đốt rừng làm rẫy
+ Thiếu bãi chăn thả gia súc: Chăn nuôi trên địa bàn 3 xã có sự tăng
trưởng nhưng chưa có quy hoạch vùng chăn thả gia súc Trâu bò được chăn thả tự nhiên trong rừng, đi chăn thả chủ yếu là trẻ em, vì vậy các em chưa ý thức được sự nguy hiểm của việc đốt lửa sửa ấm trong rừng trong giai đoạn mùa đông và đây cũng là giai đoạn mùa khô rất dễ xảy ra cháy rừng
Từ những nguyên nhân trên cho thấy tình hình kinh tế xã hội tại khu vực
đã ảnh hưởng không nhỏ tới sự xuất hiện của các vụ cháy rừng
3.2 Hiện trạng tài nguyên rừng và tình hình cháy rừng tại khu vực nghiên cứu giai đoạn 2014 - 2018
3.2.1 Hiện trạng tài nguyên rừng tại xã Yên Sơn, Lương Sơn và Tân Dương
Hiện trạng tài nguyên rừng của 3 xã nghiên cứu được thể hiện trong bảng sau:
Trang 40Bảng 3.1: Hiện trạng tài nguyên rừng xã Yên Sơn, Lương Sơn, Tân
Dương huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai
Xã Lương Sơn Xã Yên Sơn Xã Tân Dương Diện
tích (ha)
Tỷ lệ (%)
Diện tích (ha)
Tỷ lệ (%)
Diện tích (ha)
Tỷ lệ (%) Diện tích tự nhiên 3.801,2 100% 2.643,1 100% 3.182,9 100%
(Nguồn : Hạt kiểm lâm huyện Bảo Yên cung cấp năm 2019)
Từ kết quả nghiên cứu cho thấy diện tích có rừng ở địa bàn nghiên cứu chiếm trên 60% diện tích đất tự nhiên Gồm cả rừng trồng và rừng tự nhiên, tuy nhiên diện tích rừng tự nhiên của xã Lương Sơn lớn hơn diện tích rừng trồng, còn xã Yên Sơn và Tân Dương thì diện tích rừng trồng lớn hơn rừng tự nhiên Kết quả điều tra cho thấy đối với rừng trồng ở cả 3 xã Yên Sơn, Lương Sơn và Tân Dương chủ yếu là Keo, Bồ đề và Quế ,còn một số thì đã được trồng từ năm 1995 theo chương trình Dự án 661 của Chính phủ Trong các loại rừng hiện có ở xã đáng chú ý là diện tích rừng trồng Keo và Bồ đề, rừng
tự nhiên là gỗ tạp và rừng tre nứa đây là các diện tích rừng dễ cháy nhất do các loài cây này vào mùa khô khi lá rụng, VLC khô dễ bắt lửa từ đó có thể gây ra cháy rừng và gây cháy lan sang các khu vực khác
3.2.2 Tình hình cháy rừng tại khu vực nghiên cứu giai đoạn 2014 – 2018
Qua thu thập số liệu về tình hình cháy rừng tại 03 xã nghiên cứu là Yên Sơn, Lương Sơn và Tân Dương giai đoạn 2014 - 2018, đề tài đã tổng hợp các kết quả và thể hiện ở bảng sau: