Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM PHẠM MINH THẮNG ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG VÀ ĐỀ XUẤT
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PHẠM MINH THẮNG
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP THỰC HIỆN TIÊU CHÍ MÔI TRƯỜNG
TRONG XÂY DỰNG MÔ HÌNH NÔNG THÔN MỚI
TẠI XÃ VĨNH LỢI, HUYỆN SƠN DƯƠNG,
TỈNH TUYÊN QUANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Thái Nguyên, năm 2019
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PHẠM MINH THẮNG
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP THỰC HIỆN TIÊU CHÍ MÔI TRƯỜNG
TRONG XÂY DỰNG MÔ HÌNH NÔNG THÔN MỚI
TẠI XÃ VĨNH LỢI, HUYỆN SƠN DƯƠNG,
TỈNH TUYÊN QUANG
Chuyên ngành: Khoa học môi trường
Mã số: 8 44 03 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Người hướng dẫn khoa học: TS Phan Thị Thu Hằng
Thái Nguyên, năm 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi luôn luôn nỗ lực, cố gắng và trung thực trong suốt quá trình nghiên cứu luận văn
Tôi xin cam đoan các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đều đã được trích dẫn nguồn gốc
Tuyên Quang, ngày 30 Tháng 9 năm 2019
Tác giả luận văn
Phạm Minh Thắng
Trang 4
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được Luận văn này, Tôi xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện để Tôi có cơ hội được học tập và nghiên cứu tại Trường
Tôi xin chân thành cảm ơn đến toàn thể quý thầy cô Khoa Môi trường, Phòng Đào tạo - Bộ phận Sau Đại Học - Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, đã tận tình truyền đạt kiến thức, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Đặc biệt, Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo TS Phan Thị Thu Hằng đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này
Tôi xin gửi lời cám ơn đến Lãnh đạo và cán bộ công chức UBND huyện Sơn Dương, các phòng, Ban chuyên môn huyện Cán bộ, công chức Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Lợi cùng bà con nhân dân trong xã đã giúp đỡ tôi thu thập các tài liệu và số liệu phục vụ cho Luận văn trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu trên địa bàn
Cuối cùng, tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, người thân và bạn bè đã luôn ủng hộ, động viên và giúp đỡ Tôi trong quá trình học tập cũng như thực hiện luận văn
Trong thời gian nghiên cứu Luận văn vì nhiều lý do khách quan và chủ quan nên không tránh khỏi những sai sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy, cô giáo, bạn bè đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tuyên Quang, ngày 30 tháng 9 năm 2019
Tác giả
Phạm Minh Thắng
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BNN&PTNT : Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
BTNMT : Bộ Tài nguyên Môi trường
HĐND : Hội đồng nhân dân
MTQG : Mục tiêu Quốc gia
UBND : Ủy ban nhân dân
MTTQ : Mặt trận tổ quốc
BVMT : Bảo vệ môi trường
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH ix
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Ý nghĩa 3
3.1 Ý nghĩa khoa học 3
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.1.1 Các khái niệm liên quan 4
1.1.2 Cơ sở pháp lý 7
1.2 Cơ sở thực tiễn 9
1.2.1 Thực trạng vấn đề môi trường Việt Nam 9
1.2.2 Môi trường nông thôn ở Việt Nam 13
1.2.3 Xây dựng nông thôn mới ở một số nước trên thế giới 18
1.2.4 Xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam 23
1.2.5 Tình hình xây dựng nông thôn mới tại huyện Sơn Dương,
tỉnh Tuyên Quang 27
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 32
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 32
2.1.2 Địa điểm và phạm vi nghiên cứu 32
2.1.3 Thời gian nghiên cứu 32
2.2 Nội dung nghiên cứu 32
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
2.3 Phương pháp nghiên cứu 33
2.3.1 Phương pháp thu thập tài liệu 33
2.3.2 Phương pháp thống kê xử lý số liệu 34
2.3.3 Phương pháp tổng hợp, đánh giá, phân tích 34
2.3.4 Phương pháp chuyên gia 34
2.3.5 Phương pháp điều tra thực địa 34
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35
3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tài nguyên thiên nhiên
môi trường xã Vĩnh Lợi, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang 35
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 35
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 37
3.1.3 Tài nguyên thiên nhiên môi trường xã Vĩnh Lợi, huyện Sơn Dương,
tỉnh Tuyên Quang 43
3.2 Khái quát tình hình thực hiện các tiêu chí trong xây dựng nông thôn mới
tại huyện Sơn Dương tỉnh Tuyên Quang 46
3.2.1 Về lập và phê duyệt quy hoạch nông thôn mới (tiêu chí số 01) 46
3.2.2 Về phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội (tiêu chí số 2,3,4,5,6,7,8,9) 46
3.2.3 Về chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập
(tiêu chí số 10, 12) 47
3.2.4 Giảm nghèo an sinh xã hội (tiêu chí số 11) 49
3.2.5 Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả
ở nông thôn (tiêu chí số 13) 49
3.2.6 Phát triển giáo dục – đào tạo ở nông thôn (Tiêu chí số 14) 49
3.2.7 Phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe cư dân nông thôn (tiêu chí số 15) 49
3.2.8 Xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông (tiêu chí số 16) 50
3.2.9 Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn (tiêu chí số 17) 50
3.2.10 Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội trên địa bàn (tiêu chí số 18) 50
3.2.11 Giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn (tiêu chí số 19) 50
3.3 Đánh giá việc thực hiện tiêu chí môi trường tại xã Vĩnh Lợi,
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang 51
3.3.1 Công tác xây dựng nông thôn mới 51
3.3.2 Đánh giá tiêu chí 17 – môi trường và an toàn thực phẩm trong xây dựng
nông thôn mới xã Vĩnh Lợi, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang 52
3.4 Đánh giá hiện trạng môi trường và các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện
tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới tại xã Vĩnh Lợi 54
3.4.1 Vấn đề gia tăng dân số 54
3.4.2 Phát tri172388 \h n sốy dựng 55
3.4.3 Trình độ dân trí 59
3.4.4 Thực trạng môi trường xã Vĩnh Lợi, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang 62
3.4.5 Tác động ô nhiễm môi trường tại xã Vĩnh Lợi 70
3.5 Giải pháp thực hiện nhằm về đích tiêu chí môi trường tại xã Vĩnh Lợi,
huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang trong thời gian tới 72
3.5.1 Giải pháp chung cho công tác xây dựng nông thôn mới 72
3.5.2 Giải pháp cụ thể cho việc thực hiện tiêu chí môi trường 74
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 84
1 Kết luận 84
2 Kiến nghị 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Tiêu chí môi trường theo bộ tiêu chí quốc gia
về xây dựng nông thôn mới 6 Bảng 3.1 Các loại cây trồng phổ biến tại xã Vĩnh Lợi,
huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang 37 Bảng 3.2 Các loại vật nuôi phổ biến tại xã Vĩnh Lợi,
huyện Sơ.n Dương, tỉnh Tuyên Quang 37 Bảng 3.3 Dân số và lao động xã Vĩnh Lợi, huyện Sơn Dương,
tỉnh Tuyên Quang năm 2018 40 Bảng 3.4 Hiện trạng sử dụng đất năm 2018 xã Vĩnh Lợi,
huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang 44 Bảng 3.5 Đánh giá tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới
xã Vĩnh Lợi, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang 53 Bảng 3.6 Hiện trạng và dự báo dân số xã Vĩnh Lợi, huyện Sơn Dương 55 Bảng 3.7 Những loại phân bón được các gia đình ở xã Vĩnh Lợi,
huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang sử dụng 57 Bảng 3.8 Số liệu điều tra trình độ dân trí tại xã Vĩnh Lợi,
huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang 60 Bảng 3.9 Đánh giá về nguồn tiếp nhận thông tin VSMT của nhân dân
xã Vĩnh Lợi, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang 60 Bảng 3.10 Ý kiến của người dân xã Vĩnh Lợi, huyện Sơn Dương,
tỉnh Tuyên Quang về cải thiện điều kiện môi trường 61 Bảng 3.11 Nhận thức của người dân xã Vĩnh Lợi, huyện Sơn Dương,
tỉnh Tuyên Quang về vẫn đề môi trường 62 Bảng 3.12 Các nguồn cung cấp nước sinh hoạt cho người dân
trong xã Vĩnh Lợi, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang 63 Bảng 3.13 Chất lượng nước dùng trong sinh hoạt xã Vĩnh Lợi,
huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang 63 Bảng 3.14 Các loại cống thải của hộ gia đình tại xã Vĩnh Lợi,
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang 64 Bảng 3.15 Tỷ lệ phần trăm các nguồn phát sinh rác thải sinh hoạt
tại xã Vĩnh Lợi, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang 66 Bảng 3.16 Đánh giá lượng rác của các hộ gia đình xã Vĩnh Lợi,
huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang 67 Bảng 3.17 Các hình thức đổ rác thải sinh hoạt của người dân
tại xã Vĩnh Lợi, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang 67 Bảng 3.18 Thực trạng nhà vệ sinh xã Vĩnh Lợi,
huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang 68 Bảng 3.19 Các nguồn tiếp nhận nước thải từ nhà vệ sinh
tại xã Vĩnh Lợi, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang 69 Bảng 3.20 Tỷ lệ chuồng nuôi gia súc ở xã Vĩnh Lợi,
huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang 70
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Bản đồ vị trí địa lý xã Vĩnh Lợi 35 Hình 3.2 Các loại phân được sử dụng ở xã Vĩnh Lợi,
huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang 57 Hình 3.3 Ý kiến của người dân xã Vĩnh Lợi, huyện Sơn Dương,
tỉnh Tuyên Quang về cải thiện điều kiện môi trường 61 Hình 3.4 Tỷ lệ các loại cống thải các hộ gia đình xã Vĩnh Lợi,
huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang sử dụng 64 Hình 3.5 Nguồn phát sinh rác thải sinh hoạt
Hình 3.6 Kiểu nhà vệ sinh 68 Hình 3.7 Các nguồn tiếp nhận nước thải từ nhà vệ sinh tại xã Vĩnh Lợi,
huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang 69
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Nông nghiệp, nông thôn và nông dân có vai trò to lớn từ trong quá trình lịch
sử hình thành quốc gia dân tộc và trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Qua các giai đoạn cách mạng, nông dân luôn là lực lượng hùng hậu, trung thành nhất đi theo Đảng, góp phần làm nên những trang sử vẻ vang của dân tộc Có thể nói, Chương trình xây dựng nông thôn mới là một chương trình trọng tâm, xuyên suốt của Nghị quyết số 26-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; là chương trình khung, tổng thể phát triển nông thôn với 11 nội dung lớn, tổng hợp của 16 chương trình mục tiêu quốc gia và 14 chương trình hỗ trợ có mục tiêu đang triển khai ở địa bàn nông thôn trên phạm
vi cả nước Xây dựng nông thôn mới thực chất là chương trình do nhân dân lựa chọn, đóng góp công sức thực hiện và trực tiếp hưởng lợi Chương trình xây dựng nông thôn mới có ý nghĩa rất lớn cả về kinh tế - chính trị - xã hội vì nó mang lại lợi ích thiết thực cho cư dân nông thôn (chiếm khoảng 70% dân số cả nước), thông qua đó, chương trình sẽ điều hòa lợi ích, thành quả công cuộc đổi mới cho người dân khu vực nông thôn
Thực hiện đường lối của Đảng, trong những năm qua, phong trào xây dựng nông thôn mới đã diễn ra sôi nổi ở khắp các địa phương trên cả nước, thu hút sự tham gia của cả cộng đồng, phát huy được sức mạnh của cả xã hội Quá trình triển khai xây dựng nông thôn mới, Ban Chỉ đạo Trung ương đã kế thừa kinh nghiệm chỉ đạo xây dựng nông thôn mới tại 11 xã điểm, tập trung chỉ đạo công tác tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức về xây dựng nông thôn mới, công tác quy hoạch và lập đề
án xây dựng xã nông thôn mới Trong điều kiện nguồn lực có hạn, Ban Chỉ đạo đã thống nhất các xã lựa chọn những tiêu chí mà đa số người dân thấy cần thì tập trung làm trước, khuyến khích triển khai những công việc từng thôn, xóm, từng hộ dân có thể tự làm được đã tập trung cao cho nhiệm vụ phát triển sản xuất, dồn điền, đổi thửa, tập trung ruộng đất gắn với quy hoạch đồng ruộng, cơ giới hóa các khâu trong quá trình sản xuất, chế biến và đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ vào sản xuất Đã huy động tổng lực các nguồn vốn cho xây dựng nông thôn mới, ngoài
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
nguồn vốn Nhà nước hỗ trợ, rất chú trọng huy động các nguồn vốn khác, như từ ngân hàng, doanh nghiệp và xã hội, đặc biệt là huy động nội lực trong nhân dân, như góp công lao động, hiến đất, vật liệu, tiền, đóng góp tinh thần và động viên người thân thành đạt tham gia Bên cạnh đó, đã quan tâm tới công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo hướng nâng cao kỹ năng tay nghề, giải quyết việc làm cho nông dân theo cả hai hướng phi nông nghiệp và nông nghiệp; quan tâm tới chất lượng các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, xây dựng tình làng nghĩa xóm, giữ gìn vệ sinh môi trường và an ninh nông thôn Đồng thời, chú trọng phát động và tổ chức rộng khắp
phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”
Sơn Dương là huyện miền núi của tỉnh Tuyên Quang, phía bắc giáp huyện Yên Sơn, Phía tây nam giáp tỉnh Phú Thọ, phía nam và Đông nam giáp tỉnh Vĩnh Phúc, phía Đông giáp tỉnh Thái Nguyên Trên địa bàn huyện có quốc lộ 2C đi qua theo hướng Bắc Nam, quốc lộ 37 đi theo hướng Đông Tây là những trục giao thông quan trọng thúc đẩy giao lưu kinh tế huyện Sơn Dương với các huyện trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang và các tỉnh lân cận
Với đặc điểm là huyện giàu truyền thống cách mạng Định hướng phát triển kinh tế của huyện trong thời gian tới là công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ nông nghiệp Trong những năm vừa qua kinh tế đã có nhiều sự phát triển vượt bậc nâng cao đời sống nhân dân kéo theo đó là vấn đề ô nhiễm môi trường đã bắt đầu xuất hiện đặc biệt là khu trung tâm thị trấn của huyện và trung tâm các xã Toàn huyện có 32 xã, 01 thị trấn đang thực hiện xây dựng nông thôn mới trong đó xã Vĩnh Lợi được chọn là một trong những xã thí điểm ưu tiên thực hiện các tiêu chí của nông thôn mới của huyện Sơn Dương Tính đến 31/12/2018 xã đã đạt được 16/19 tiêu chí còn lại 3 tiêu chí chưa hoàn thành trong đó có tiêu chí môi trường và an toàn thực phẩm
Xuất phát từ thực tiễn trên, Để hiểu rõ hơn về thực trạng môi trường nông thôn tại xã, qua đó đưa ra giải pháp hoàn thành tiêu chí môi trường cùng với việc thực hiện xây dựng nông thôn mới tại địa phương, tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Đánh giá thực trạng môi trường và đề xuất giải pháp thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng mô hình nông thôn mới tại xã Vĩnh Lợi, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang ”
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường trên địa bàn xã Vĩnh Lợi
- Tác động của môi trường đến đời sống, kinh tế và xã hội của người dân tại
+ Nâng cao kiến thức, kĩ năng và rút ra những kinh nghiệm thực tế
+ Vận dụng và phát huy được các kiến thức đã học tập và nghiên cứu
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
+ Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới tại xã Vĩnh Lợi, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang + Làm căn cứ để cơ quan chức năng tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục nhận thức của người dân về môi trường
+ Cung cấp cơ sở khoa học phục vụ công tác xây dựng kế hoạch thực hiện tiêu chí môi trường trong công cuộc xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã Vĩnh Lợi và nhân rộng ra các xã còn lại trong huyện
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Các khái niệm liên quan
* Môi trường:
- Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác
động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật (Luật bảo vệ môi
trường, (2014)
* Ô nhiễm môi trường:
- Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù
hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật
- Suy thoái môi trường là sự suy giảm về chất lượng và số lượng của thành phần môi
trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật
* Hoạt động bảo vệ môi trường:
- Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các
tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành
* Nông thôn:
Vùng nông thôn được quan niệm khác nhau ở mỗi nước vì điều kiện kinh tế
-xã hội, điều kiện tự nhiên ở mỗi nước khác nhau Cho đến nay chưa có một khái niệm nào được chấp nhận một cách rộng rãi về nông thôn Để có được định nghĩa nông thôn, người ta so sánh nông thôn và thành thị Trong khi so sánh có ý kiến dùng chỉ tiêu mật độ dân số và số lượng dân cư
Theo ý kiến phân tích của các nhà kinh tế và xã hội học có thể đưa ra khái niệm tổng quát về vùng nông thôn như sau: “Nông thôn là vùng khác với thành thị, ở
đó một cộng đồng chủ yếu là nông dân sống và làm việc, có mật độ dân cư thấp, có kết cấu hạ tầng kém phát triển hơn, có trình độ dân trí, trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hóa kém hơn”
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
* Phát triển nông thôn:
Phát triển nông thôn là một phạm trù rộng được nhận thức với rất nhiều quan điểm khác nhau
Ngân hàng Thế giới (1975) đã đưa ra khái niệm: Phát triển nông thôn là một chiến lược vạch ra nhằm cải thiện đời sống kinh tế - xã hội của một bộ phận dân cư tụt hậu, đặc biệt là ở các vùng nông thôn Nó đòi hỏi phải mở rộng các lợi ích của sự phát triển đến với những người nghèo nhất trong số những người đang tiến kế sinh nhai ở các vùng nông thôn
Khái niệm phát triển nông thôn mang tính toàn diện, đảm bảo tính bền vững về môi trường Với điều kiện của Việt Nam, được tổng kết từ các chiến lược kinh tế xã hội của Chính phủ: “Phát triển nông thôn là một quá trình cải thiện có chủ ý một cách bền vững về kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn và có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước và các tổ chức khác”
* Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới:
Là một chương trình tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng, mục tiêu chung của chương trình là: Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường
Theo Quyết định số 1980/QĐ-TTg ngày 17 tháng 10 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ, xây dựng nông thôn mới nhằm thực hiện 19 tiêu chí bao gồm: 1: Quy hoạch, 2: Giao thông, 3: Thủy lợi, 4: Điện, 5: Trường học, 6: Cơ sở vật chất văn hóa, 7: Cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn, 8: Thông tin và truyền thông, 9: Nhà ở dân
cư, 10: Thu nhập, 11: Tỷ lệ hộ nghèo, 12: Lao động có việc làm, 13: Hình thức tổ chức sản xuất, 14: Giáo dục, 15: Y tế, 16: Văn hóa, 17: Môi trường, 18: Hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh, 19: An ninh, trật tự xã hội 19 tiêu chí này được chia thành 05 nhóm: Nhóm 1: Quy hoạch, nhóm 2: Hạ tầng kinh tế xã hội, nhóm 3: Kinh tế và tổ chức sản xuất, nhóm 4: Văn hóa - xã hội - môi trường, nhóm 5: Hệ thống chính trị
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
* Tiêu chí Môi trường và an toàn thực phẩm (tiêu chí số 17):
Nội dung: Tiếp tục thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch, nước hợp vệ sinh và vệ sinh môi trường nông thôn Xây dựng các công trình bảo vệ môi trường nông thôn trên địa bàn xã, thôn theo quy hoạch gồm: xây dựng, cải tạo nâng cấp hệ thống tiêu thoát nước trong thôn, xóm; xây dựng các điểm thu gom, xử
lý rác thải ở các xã; chỉnh trang, cải tạo nghĩa trang; cải tạo, xây dựng các ao, hồ sinh thái trong khu dân cư, phát triển cây xanh ở các công trình công cộng; Hộ gia đình có nhà tiêu, nhà tắm, bể chưa nước sinh hoạt hợp vệ sinh và chuồng trại chăn nuôi đảm bảo vệ sinh môi trường
Tiêu chí môi trường là tiêu chí số 17 thuộc nhóm 4 trong bộ tiêu chí xây dựng nông thôn mới (Văn hóa - xã hội - môi trường) được chia thành 8 chỉ tiêu
cụ thể như sau:
Bảng 1.1 Tiêu chí môi trường theo bộ tiêu chí quốc gia
về xây dựng nông thôn mới
Chỉ tiêu chung
TDMN phía Bắc
17 Môi trường
17.1 Tỷ lệ hộ được sử dụng nước hợp vệ sinh và nước sạch theo quy định
≥95%(≥60%
nước sạch)
≥90%(≥50% nước sạch) 17.2 Tỷ lệ cơ sở SX-KD,
nuôi trồng thủy sản, làng nghề đảm bảo quy định về bảo vệ môi trường
17.3 Xây dựng cảnh quan, môi trường xanh - sạch - đẹp,
an toàn
17.4 Mai táng phù hợp với quy định và theo quy hoạch Đạt Đạt 17.5 Chất thải rắn trên địa
bàn và nước thải khu dân cư tập trung, cơ sở sản xuất -
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Chỉ tiêu chung
TDMN phía Bắc
kinh doanh được thu gom, xử
lý theo quy định
17.6 Tỷ lệ hộ có nhà tiêu, nhà tắm, bể chứa nước sinh hoạt hợp vệ sinh và đảm bảo
3 sạch
17.7 Tỷ lệ hộ chăn nuôi có chuồng trại chăn nuôi đảm bảo vệ sinh môi trường
17.8 Tỷ lệ hộ gia đình và
cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm tuân thủ các quy định về đảm bảo ATTP
(Nguồn: Bộ tiêu chí Quốc gia về xây dựng nông thôn mới kem theo quyết định
số 1980/QĐ-TTg ngày 17 tháng 10 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ)
- Căn cứ Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ quy định
về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường;
- Căn cứ Thông tư Số 26/2015/TT-BTNMT ngày 28 tháng 5 năm 2015 của
Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định đề án bảo vệ môi trường chi tiết đề án bảo vệ môi trường đơn giản;
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
- Căn cứ Thông tư Số 43/2015/TT-BTNMT ngày 29 tháng 9 năm 2015 của
Bộ Tài nguyên và Môi trường về Báo cáo hiện trạng môi trường, bộ chỉ thị môi trường và quản lý số liệu quan trắc môi trường;
- Căn cứ văn bản số 2054/BTNMT-KHTC ngày 27/4/2017 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc hướng dẫn thực hiện một số chỉ tiêu thuộc Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016-2020;
- Nghị định 38/2015/ NĐ - CP ngày 24/4/2015 về quản lí chất thải và phế liệu;
- Căn cứ Quyết định số 1980/QĐ-TTg ngày 17/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn
2016 - 2020;
- Thông tư số 05/2017/TT-BNNPTNT ngày 01/3/2017 của Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn hướng dẫn một số nội dung thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020;
- Căn cứ Quyết định số 1600/QĐ-TTg, ngày 16/8/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn
2016 -2020;
- Căn cứ quyết định số 2540/QĐ-TTg, ngày 30/12/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành quy định điều kiện, trình tự, thủ tục, hồ sơ xét, công nhận và công bố địa phương đạt chuẩn nông thôn mới; địa phương hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020;
- Căn cứ quyết định số 6847/QĐ-BYT, ngày 13/11/2018 của Bộ y tế về việc Phê duyệt đề án truyền thông về cải thiện vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường, sử dụng nước sạch nông thôn giai đoạn 2018 - 2025 và tầm nhìn đến năm 2030;
- Quyết định số: 115/QĐ-UBND ngày 14/4/2017 của Ủy ban Nhân dân tỉnh Tuyên Quang về việc ban hành một số tiêu chí, chỉ tiêu xã nông thôn mới tỉnh Tuyên Quang, giai đoạn 2016 – 2020 ;
- Nghị quyết số 47-NQ/ĐU ngày 21/02/2019 của BCH Đảng ủy về việc lãnh đạo nhiệm vụ xây dựng hoàn thành các tiêu chí đạt chuẩn xã nông thôn mới năm 2019;
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
- Kế hoạch số 40-KH/ĐU ngày 22/02/2019 của Đảng ủy xã Vĩnh Lợi về Kế hoạch triển khai thực hiện nghị quyết chuyên đề về thực hiện hoàn thành các tiêu chí
về xây dựng nông thôn mới năm 2019
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Thực trạng vấn đề môi trường Việt Nam
Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đã khẳng định và đưa vào một trong số các chỉ tiêu quan trọng: “Đến năm 2020, 95% dân cư thành thị, 90% dân cư nông thôn được sử dụng nước sạch, hợp vệ sinh và 85% chất thải nguy hại, 95-100% chất thải y
tế được xử lý, tỷ lệ che phủ rừng đạt 42%”
Thực trạng vấn đề ô nhiễm môi trường hiện nay
Sau Đại hội XII của Đảng, vấn đề môi trường đã được các cấp ủy đảng, chính quyền quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo Theo số liệu của Bộ Tài nguyên và Môi trường, đến năm 2017, tỷ lệ dân số thành thị được cung cấp nước sạch qua hệ thống cấp nước tập trung đạt khoảng 84,5% Đến năm 2016 dân số nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt 87,5% Năm 2017, chất thải nguy hại được tiêu hủy, xử lý đạt 90%, tỷ lệ độ che phủ rừng đạt 41,45%, tỷ lệ cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng theo Quyết định 64-QĐ/TTg được xử lý đạt 91,1% Tuy nhiên, khâu tổ chức thực hiện để giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường còn nhiều hạn chế, yếu kém
Trước hết là vấn đề quản lý rác thải nhập khẩu còn nhiều sơ hở Theo thống
kê của Tổng Cục Hải quan, tính đến ngày 28/8/2018, cả nước có đến 17.000 container phế liệu chưa làm thủ tục thông quan, chủ yếu ở một số cảng biển Các phế liệu này chủ yếu là nhựa, giấy, phế liệu sắt, nhôm do các hãng tàu nước ngoài chở đến Ở các đô thị và nhiều tỉnh, các bãi rác thải ứ đọng chưa được xử lý do khu vực chôn lấp và các nhà máy chế biến quá tải Số lượng các chất thải rắn như đồ nhựa, túi
ni lông,… ngày càng nhiều và đổ cả xuống biển, các dòng sông, gây ô nhiễm nghiêm trọng ở một số vùng Vấn đề thu gom, xử lý rác thải, đặc biệt là rác thải y tế và rác thải rắn công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ở các đô thị cũng ngày càng khó khăn Ước tính, mỗi năm toàn quốc thải ra khoảng 13 triệu tấn rác, trong đó khu vực đô thị
là 7 triệu tấn/năm, chiếm 55,8%, tuy nhiên, chỉ có khoảng 60-70% chất thải rắn được thu gom và xử lý Việc thu gom và xử lý chất thải đô thị được thực hiện chủ yếu bằng phương pháp chôn lấp, mới chỉ có 16/63 tỉnh, thành phố có bãi chôn lấp được
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
thiết kế xây dựng hợp vệ sinh, nhưng hầu hết đều chưa đồng bộ, nên vẫn gây ô nhiễm môi trường đất, ô nhiễm nguồn nước và ô nhiễm không khí khu vực lân cận
Về hệ thống cống thoát nước thải tại các khu đô thị cũng không đúng tiêu chuẩn, không có bất kỳ một hệ thống xử lý nước thải tập trung Nước thải không được xử lý trước khi đổ vào hệ thống thoát nước chung và đổ vào các dòng sông, nên gây ô nhiễm môi trường rất trầm trọng
Vấn đề quản lý nước thải ô nhiễm càng phức tạp, khó khăn hơn Theo các chuyên gia môi trường đánh giá, hầu hết các dòng sông và phần lớn ao hồ ở Hà Nội
và một số đô thị đều ô nhiễm nặng Hàng năm có hàng triệu mét khối nước chưa qua
xử lý đổ xuống các dòng sông như sông Tô Lịch, sông Sét, sông Nhuệ, sông Kim Ngưu, sông Lừ, v.v Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, hiện cả nước có 615 cụm công nghiệp nhưng chỉ khoảng 5% có hệ thống xử lý nước thải tập trung, gần 300 khu công nghiệp với lưu lượng xả thải trên 2 triệu m3/ngày nhưng có tới 70% lượng nước thải chưa được xử lý triệt để, 23% doanh nghiệp FDI xả thải vượt quy chuẩn cho phép từ 5-12% Theo thống kê, mỗi năm cả nước có khoảng 9.000 người tử vong
và trên 200.000 trường hợp được phát hiện ung thư do sử dụng nguồn nước ô nhiễm
Cùng với rác thải, nước thải, vấn đề khí thải cũng rất nghiêm trọng Đầu tháng 3/2019, Trung tâm phát triển Sáng tạo xanh (GreenID) thuộc Liên hiệp các hội Khoa học kỹ thuật Việt Nam công bố báo cáo của tổ chức Hòa bình xanh “Về hiện trạng chất lượng không khí toàn cầu năm 2018” Theo báo cáo này, Hà Nội đứng thứ hai, thành phố Hồ Chí Minh đứng thứ 15 về mức độ ô nhiễm không khí ở khu vực Đông Nam Á Theo ước tính của trường Đại học Fulbright, thiệt hại kinh tế ở Việt Nam do
ô nhiễm không khí (2013) khoảng 5-7% GDP và gây chết sớm cho hàng chục ngàn người Tại Hội nghị Lagos (Thụy Sĩ) năm 2016, Việt Nam đứng thứ 10 về ô nhiễm không khí Theo Cục kiểm soát ô nhiễm thuộc Tổng cục Môi trường, Việt Nam có khoảng 43 triệu xe máy và hơn 2 triệu ô tô lưu hành, chủ yếu sử dụng nhiên liệu hóa thạch như diesel, xăng, đang là nguồn phát thải lớn khói bụi, khí độc vào không khí Nghiên cứu của WHO, ô nhiễm không khí ngoài trời được coi là nguyên nhân đứng thứ tư gây ra những cái chết yểu trên thế giới và ước tính thiệt hại đến 225 tỉ USD hàng năm Việc các công trình xây dựng, xe chuyên chở vật liệu, khai thác than, khoáng sản, các nhà máy nhiệt điện, xi măng, hóa chất
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
.v.v… không chấp hành quy định xử lý môi trường cũng làm ô nhiễm không khí không nhỏ, Nguyễn Thế Trung (2019)
Tại các khu vực khai thác khoáng sản, hoạt động khai thác khoáng sản đã và đang gây nhiều tác động xấu đến môi trường xung quanh như thải đất đá và nước thải mỏ, phát tán bụi thải, quặng xỉ ngấm xuống nguồn nước hoặc phát tán ra môi trường; làm thay đổi hệ sinh thái rừng, suy thoái và ô nhiễm đất nông nghiệp Ngoài
ra, hiện nay nhiều tổ chức, cá nhân chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa tốt nghĩa vụ cải tạo, phục hồi môi trường sau khi đóng cửa mỏ, giảm hiệu quả sử dụng đất, đặc biệt tại khu vực tập trung nhiều mỏ khai thác khoáng sản Và hậu quả của ô nhiễm môi trường từ những hoạt động khai thác khoáng sản đã quá rõ ràng
Về đa dạng sinh học, thế giới thừa nhận Việt Nam là một trong những nước
có tính đa dạng sinh học vào nhóm cao nhất thế giới với những kiểu hệ sinh thái tự nhiên, nguồn gen phong phú và đặc hữu Tuy nhiên, đa dạng sinh học nước ta đang
bị suy giảm nhanh, tốc độ tuyệt chủng các loài cao Trong 4 thập kỷ qua, theo ước tính sơ bộ đã có 200 loài chim bị tuyệt chủng và 120 loài thú bị diệt vong Trong thời gian từ 2011-2015, đã phát hiện và xử lý 3.823 vụ vi phạm pháp luật về quản lý động vật hoang dã với 58.869 các thể động vật hoang dã và 3.078 cá thể thuộc loài nguy cấp, quý, hiếm được phát hiện Quá trình phát triển kinh tế - xã hội, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đã tạo ra những thành quả cho đất nước trong công cuộc xóa đói, giảm nghèo, vươn lên thành quốc gia có thu nhập trung bình nhưng cũng đã tạo
ra không ít áp lực đối với môi trường tự nhiên, đa dạng sinh học, không gian sinh tồn của các loài bị thu hẹp, chất lượng môi trường sống bị thay đổi do tác động của các hoạt động khai thác, đánh bắt, do phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng như đường giao thông, thủy điện, khu đô thị
Nếu khu vực đô thị đang đối mặt với thách thức về ô nhiễm không khí, ứ đọng rác thải công nghiệp thì ở nông thôn lại đang đối mặt với vấn đề ô nhiễm môi trường, nhà vệ sinh hoặc ô nhiễm nguồn nước do chất thải từ các làng nghề; ô nhiễm môi trường đất do sử dụng quá nhiều thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hoá học Theo thống kê, mỗi năm ở khu vực nông thôn phát sinh hàng chục triệu tấn rác thải sinh hoạt, trong đó có khoảng 80% khối lượng rác thải, nước thải sinh hoạt và vỏ bao thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ sâu – loại rác thải nguy hại chưa được thu gom, xử
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
lý hợp vệ sinh mà xả trực tiếp ra môi trường… làm cho nguồn nước, không khí nông thôn bị ô nhiễm trầm trọng Việc lạm dụng phân bón hoá học, thuốc kích thích tăng trưởng, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ sâu không tuân thủ quy trình kỹ thuật, không đảm bảo thời gian cách ly làm phát sinh và gia tăng các khí CH4, H2S, NH3 gây ô nhiễm môi trường, đặc biệt là tại các khu vực chuyên canh nông nghiệp sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật không đúng quy trình kỹ thuật như Đông Anh (Hà Nội), Hiệp Hoà (Bắc Giang), Yên Định (Thanh Hoá), Tây Nguyên (Đức Trọng, thành phố Đà Lạt) Theo đó, nhiều bệnh dịch đã lây lan nhanh chóng, gây thiệt hại lớn về kinh tế và đe doạ nghiêm trọng đến sức khoẻ nhân dân
Bên cạnh đó, tình trạng thoái hoá đất đang diễn ra trên diện rộng ở nhiều vùng nông thôn Việt Nam, ví dụ như rửa trôi, xói mòn, hoang hoá, phèn hoá, mặn hoá, khô hạn, ngập úng, lũ quét và xói lở đất Ngoài ra, môi trường ở các làng nghề nông thôn nước ta hiện nay cũng đang đối mặt với nạn ô nhiễm nghiêm trọng Với hơn 5.000 làng nghề, hoạt động sản xuất nghề nông thôn, bên cạnh những tác động tích cực là tạo việc làm cho hơn chục triệu lao động thì mức độ ô nhiễm và tỷ lệ người mắc bệnh ở đây cũng có xu hướng ngày càng tăng, tuổi thọ của người dân cũng giảm và thấp hơn 10 năm so với tuổi thọ trung bình toàn quốc Nhiều làng nghề chưa xử lý được vấn đề rác và nước thải, gây mất mỹ quan và gây ô nhiễm môi trường sinh thái nông thôn Thậm chí, nhiều địa phương xảy ra hiện tượng tận dụng các ao hồ, vùng trũng để đổ rác thải, hình thành các hố chôn lấp rác tự phát, không đảm bảo quy trình
kỹ thuật, làm ô nhiễm nguồn nước mặt và nước ngầm
Theo kết quả khảo sát của Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường (Đại học Bách khoa Hà Nội) và Bộ Khoa học và Công nghệ cho thấy, 100% mẫu nước thải ở các làng nghề đều cho thông số ô nhiễm vượt tiêu chuẩn cho phép Riêng Hà Nội, khảo sát tại 40 xã cho kết quả khoảng 60% số xã bị ô nhiễm nặng từ các hoạt động sản xuất
Tình trạng ô nhiễm môi trường trầm trọng nêu trên do các nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó chủ quan là chính
Về nguyên nhân khách quan: Nước ta nằm ở vị trí địa lý chịu tác động rất lớn của hiện tượng biến đổi khí hậu dẫn đến tình trạng hạn hán, ngập úng, nhiễm mặn ở
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
một số vùng Điều kiện nguồn thu ngân sách khó khăn nên chi đầu tư cho lĩnh vực môi trường rất hạn chế Sự gia tăng dân số, quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa diễn ra khá mạnh mẽ cũng góp phần làm gia tăng phát thải khí nhà kính, suy thoái, cạn kiệt tài nguyên và suy giảm đa dạng sinh học…
Về nguyên nhân chủ quan: Nhận thức và ý thức trách nhiệm bảo vệ môi trường của một bộ phận lớn cán bộ, công chức, viên chức, của người dân về bảo vệ môi trường chuyển biến chậm Đặc biệt, ý thức trách nhiệm của một bộ phận cán bộ chính quyền các cấp và chủ doanh nghiệp còn nhiều hạn chế Một số cán bộ lại bị chi phối bởi lợi ích cục bộ đã vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, có nơi, có lĩnh vực nghiêm trọng Công tác quản lý nhà nước, thực thi pháp luật và tổ chức ứng dụng khoa học công nghệ trong bảo vệ môi trường nhiều nơi chưa quan tâm đúng mức, PGS.TS.Nguyễn Thế Chinh (2017)
1.2.2 Môi trường nông thôn ở Việt Nam
Nông thôn Việt Nam đang trên con đường đổi mới và đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới đã đem lại những thay đổi tích cực về đời sống, cơ sở
hạ tầng cũng như cảnh quan môi trường nông thôn Tuy nhiên, song hành cùng với
sự phát triển là những nguy cơ về ô nhiễm môi trường từ chất thải của các hoạt động sinh hoạt, sản xuất và sự tác động từ các khu công nghiệp, cụm công nghiệp và khu
đô thị lân cận Chất thải từ các hoạt động này đang làm cho môi trường không khí, nước, đất bị ô nhiễm và có xu hướng gia tăng, đặc biệt vấn đề chất thải rắn nông thôn
đã gióng lên hồi chuông báo động ở nhiều vùng và địa phương
Môi trường nước có dấu hiệu ô nhiễm
Môi trường nước mặt tại hầu hết các vùng còn tương đối tốt, có thể sử dụng cho mục đích tưới tiêu và cấp nước sinh hoạt Tuy nhiên, tại một số nơi, nước mặt có dấu hiệu suy giảm về chất lượng và ô nhiễm cục bộ chất rắn lơ lửng, chất hữu cơ, kim loại nặng và ô nhiễm vi sinh Khu vực có chất lượng nước mặt suy giảm chủ yếu
là vùng hạ lưu các con sông, các khu vực ven đô, nơi tiếp nhận nước thải tổng hợp từ các khu đô thị và làng nghề
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Tùy theo địa bàn và thành phần chất thải, mỗi con sông sẽ bị ảnh hưởng bởi các chất gây ô nhiễm khác nhau Môi trường nước mặt tại khu vực Bắc Bộ và Đông Nam Bộ có mức độ ô nhiễm cao hơn so với các khu vực khác Đặc biệt, khu vực đồng bằng Bắc Bộ, nơi có mật độ dân cư đông và hoạt động làng nghề, sản xuất công nghiệp phát triển, có những thông số như COD, BOD5, TSS, Coliform vượt QCVN
Diễn biến hàm lượng COD trong nước sông một số khu vực nông thôn phía Bắc giai
đoạn 2011-2014 (Nguồn: Trung tâm QTMT - TCMT, 2014)
Tại khu vực trung du, miền núi phía Bắc hay khu vực Tây Nguyên, cũng đã ghi nhận hiện tượng ô nhiễm cục bộ nước mặt do ảnh hưởng từ hoạt động khai thác
và chế biến khoáng sản, điển hình như khu vực gần mỏ sắt tại xã Hưng Thịnh (Yên Bái), khai thác vàng, sa khoáng ở Đắc Lắc, Kon Tum
Ngoài ra, hoạt động nuôi trồng và chế biến thủy hải sản là một trong những nguyên nhân chính ảnh hưởng đến chất lượng nước mặt vùng Duyên hải miền Trung
và đồng bằng sông Cửu Long Nước mặt khu vực nuôi trồng thủy sản có đặc trưng chứa hàm lượng chất hữu cơ, chất dinh dưỡng và vi sinh cao Một số vùng nông thôn
đã xuất hiện ô nhiễm do hoạt động nuôi thủy sản như các xã Thạch Phước, An Thủy,
An Nhơn (Bến Tre), nuôi tôm trên cát ở các xã Cát Khánh, Mỹ Đức, Mỹ Thành (Bình Định)
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Môi trường nước dưới đất tại một số khu vực nông thôn cũng đã có hiện tượng ô nhiễm chất hữu cơ và vi sinh, tập trung ở vùng đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Môi trường nước dưới đất tại nhiều làng nghề cũng đã bị ô nhiễm kim loại nặng và có xu hướng gia tăng Tại làng nghề Phong Khê, hàm lượng mangan trong nước dưới đất cao hơn QCVN 5,9 lần, NH4+ cao hơn QCVN 6,1 lần; tại làng nghề Đồng Kỵ, hàm lượng sắt cao hơn QCVN 3,5 lần, NH4+ cao hơn QCVN 7,6 lần
Môi trường không khí ô nhiễm cục bộ
Chất lượng môi trường không khí khu vực nông thôn còn khá tốt, nhiều vùng chưa có dấu hiệu ô nhiễm như khu vực miền núi và khu vực thuần nông, nơi hầu như chưa chịu tác động của các hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp, làng nghề, chăn nuôi tập trung Hiện tượng ô nhiễm không khí cục bộ mới chỉ được ghi nhận tại một
số làng nghề, khu vực có cụm điểm công nghiệp nằm xen kẽ trong khu dân cư, xung quanh điểm khai thác khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng hay tại một số khu vực đang diễn ra hoạt động nâng cấp cơ sở hạ tầng nông thôn
Ô nhiễm không khí xung quanh các khu vực làng nghề là vấn đề tồn tại từ nhiều năm nay Với đặc thù làng nghề ở nước ta chủ yếu ở quy mô hộ gia đình, nằm xen kẽ trong khu dân cư nên ô nhiễm không khí mang tính cục bộ và gây ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người dân Thành phần và nồng độ các chất gây ô nhiễm phụ thuộc vào loại hình sản xuất Ô nhiễm mùi tập trung tại các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, giết mổ; ô nhiễm bụi phổ biến tại các làng nghề gốm sứ, chế tác đá,
đồ gỗ mỹ nghệ hay ô nhiễm khí độc hại tập trung nhiều ở các làng nghề tái chế
Tại một số vùng nông thôn có hoạt động chăn nuôi tập trung, chế biến lâm-thủy sản cũng đã và đang có hiện tượng ô nhiễm không khí như ô nhiễm bụi tại vùng chế biến cà phê của Đắc Lắc, Lâm Đồng; ô nhiễm mùi tại khu vực chăn nuôi tập trung vùng nông thôn của Hà Tĩnh, Thanh Hóa…
nông-Trong những năm gần đây, các cụm công nghiệp có xu hướng chuyển dần về khu vực nông thôn, thực chất là xu hướng dịch chuyển ô nhiễm từ vùng này sang vùng khác,
đã và đang ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường không khí ở nông thôn Một vài khu vực đã có dấu hiệu ô nhiễm cục bộ với nồng độ chất ô nhiễm ở mức cao, một số nơi đã
vượt ngưỡng giới hạn cho phép của QCVN.Môi trường đất bị thoái hóa
Nhìn chung, chất lượng môi trường đất tại các vùng nông thôn hiện nay vẫn đáp ứng tốt cho các nhu cầu sử dụng, đặc biệt là hoạt động canh tác nông nghiệp
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Tuy nhiên, những năm gần đây, hàm lượng các kim loại nặng cũng như dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật (BVTV) ở khu vực nông thôn đã có sự gia tăng nhẹ
Trong trồng trọt, việc sử dụng ngày càng tăng thuốc BVTV và phân bón hóa học đang ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường đất Bên cạnh đó, ảnh hưởng từ các hóa chất BVTV tồn lưu là nguyên nhân chính dẫn tới hàm lượng các kim loại nặng cũng như dư lượng hóa chất BVTV trong đất ở khu vực nông thôn đã có sự gia tăng
Hiện tượng thoái hóa đất đang làm ảnh hưởng đến 50% diện tích đất toàn quốc, trong đó phần lớn là nhóm đất đồi núi nằm ở các khu vực nông thôn Một số loại hình thoái hóa đất đang diễn ra trên diện rộng như rửa trôi, xói mòn, hoang hóa, phèn hóa, mặn hóa, khô hạn, ngập úng, lũ quét và xói lở đất Các hiện tượng này
có sự tác động từ cả tự nhiên và nhân tạo, trong đó biến đổi khí hậu và sử dụng đất bất hợp lý là yếu tố dẫn đến hiện tượng thoái hóa đất trên cả nước
Nồng độ TSP trong không khí xung quanh một số làng nghề khu vực phía Bắc (Nguồn: Sở TN&MT các tỉnh Ninh Bình, Bắc Ninh, Hưng Yên, Nam Định
và TP Hà Nội, 2014)
Thoái hóa đất do xói mòn, rửa trôi xảy ra nhiều ở các vùng đồi núi, có độ dốc
và mạng lưới sông suối dày đặc Biểu hiện rõ nhất ở Tây Nguyên với hơn 30% tổng diện tích bị thoái hóa nặng, trong khi đó, ở vùng đồng bằng (sông Hồng, sông Cửu Long) chỉ chiếm tỷ lệ khoảng 4-14% Tình trạng xâm nhập mặn sớm, xâm nhập sâu,
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
độ mặn cao và thời gian duy trì dài xảy ra phổ biến ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long Trong những năm qua, hạn hán đã xảy ra và gây thiệt hại về mọi mặt cho các khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên Ngoài ra, ngập úng và sạt lở đất cũng xảy ra khá phổ biến ở các vùng trũng, đồng bằng, khu vực ven sông
Chất thải rắn gia tăng
Chất thải rắn không chỉ là vấn đề cấp bách của riêng các đô thị và thành phố lớn mà còn của các vùng nông thôn trong toàn quốc Cùng với sự phát triển ngành nghề ở nông thôn, chất thải rắn gia tăng về thành phần và tính chất độc hại Nổi cộm
là vấn đề thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại các vùng đồng bằng, vùng ven các khu đô thị; quản lý bao bì thuốc BVTV trong trồng trọt và chất thải rắn làng nghề
Hiện nay, ở các vùng nông thôn ven đô và đồng bằng tập trung đông dân cư, việc thu gom chất thải rắn sinh hoạt hầu hết được giao cho các tổ, đội vệ sinh môi trường thực hiện Chất thải rắn được thu gom tập trung về các bãi chôn lấp lộ thiên, hầu hết không có hệ thống xử lý nước rỉ rác hoặc có nhưng hoạt động không hiệu quả đã và đang gây ô nhiễm môi trường xung quanh Bên cạnh đó, nhiều nơi vẫn còn tình trạng chất thải rắn đổ bừa bãi ven các trục giao thông, đầu làng, dọc các kênh mương gây ô nhiễm môi trường cảnh quan và ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt người dân Để giải quyết vấn đề này, một số mô hình lò đốt rác công suất nhỏ đã được áp dụng thí điểm tại một số địa phương, bước đầu góp phần giảm thiểu lượng rác thải tồn đọng Tuy nhiên, mô hình này cần có sự quan tâm của các cơ quan chức năng trong việc kiểm định công nghệ, thiết bị và kiểm tra các yêu cầu kỹ thuật trong quá trình vận hành để đảm bảo loại bỏ nguy cơ ô nhiễm thứ cấp
Công tác thu gom, xử lý bao bì, chai lọ chứa hóa chất BVTV cũng gặp rất nhiều khó khăn Thực tế cho thấy, các loại chất thải này thường bị vứt bừa bãi trên đồng ruộng hoặc nguy hiểm hơn, có trường hợp vứt ngay đầu nguồn nước sinh hoạt Mặc dù, một số địa phương đã có kế hoạch thu gom xử lý nhưng việc triển khai chưa phát huy hiệu quả do hạn chế về nguồn nhân lực và kinh phí thực hiện
Vấn đề thu gom, xử lý chất thải rắn từ các làng nghề cũng chưa có những giải pháp phù hợp và hiệu quả Tình trạng chất thải sản xuất được thu gom chung với rác thải sinh hoạt còn khá phổ biến Một số làng nghề bước đầu đã thực hiện phân loại
để tái sử dụng làm nguyên nhiên liệu, phần còn lại được thu gom tập trung, chuyển
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
đi chôn lấp hoặc xử lý theo phương pháp đốt lộ thiên và đốt thủ công Một số làng nghề sản xuất gạch gốm, cơ khí cũng đã nghiên cứu áp dụng thử nghiệm quy trình sản xuất sạch hơn mang lại hiệu quả về kinh tế và giảm lượng rác phát sinh Tuy nhiên, việc triển khai nhân rộng các mô hình cũng còn gặp nhiều khó khăn
Có thể thấy rằng, nông thôn Việt Nam đã có nhiều thay đổi cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tuy nhiên, môi trường nông thôn cũng đã xuất hiện những khu vực có dấu hiệu ô nhiễm hoặc ô nhiễm cục bộ Chính vì vậy, việc đảm bảo vệ sinh môi trường cũng như kiểm soát ô nhiễm môi trường nông thôn cần được các cấp, các ngành chức năng có sự quan tâm đúng mức, đồng thời có những giải pháp phù hợp để ngăn chặn vấn đề này trước khi trở nên nghiêm trọng ThS Lê
Hoàng Anh và CS, (2015)
1.2.3 Xây dựng nông thôn mới ở một số nước trên thế giới
Kinh nghiệm của Nhật Bản
Xây dựng và thực hiện chính sách, pháp luật hỗ trợ ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới; Căn cứ vào tình hình phát triển của nông thôn và mục tiêu của từng thời kỳ, Chính phủ Nhật Bản đã lần lượt ban hành hàng loạt pháp lệnh và chính sách hỗ trợ nông nghiệp có ảnh hưởng sâu sắc, lâu dài Trong thập kỷ 50, 60 của thế
kỷ XX, Nhật Bản đã đề ra Luật cơ bản về nông nghiệp và gần 30 đạo luật khác, đồng thời nhiều lần sửa đổi Luật Đất nông nghiệp, Luật Nông nghiệp bền vững Tất cả các bộ luật này đã cấu thành một hệ thống hoàn chỉnh, tạo hành lang pháp lý để công cuộc xây dựng nông thôn mới được tiến hành thuận lợi
Chính phủ Nhật Bản tích cực tham gia và đầu tư kinh phí lớn Để giải quyết vấn đề thiếu kinh phí đầu tư cho phát triển nông nghiệp, Chính phủ Nhật Bản đã xây dựng chính sách hỗ trợ nông nghiệp như trợ giá nông phẩm, xây dựng quỹ rủi ro về giá nông phẩm, trong đó người nông dân bỏ ra 30%, Chính phủ bỏ ra 70% Những năm gần đây, kinh phí đầu tư cho kết cấu hạ tầng nông nghiệp của Nhật Bản vào khoảng 1.100 tỷ yên/năm
Nhật Bản đã luôn phát huy đầy đủ vai trò của hợp tác xã nông nghiệp Đó là một tổ chức bao quát các vấn đề về nông nghiệp, nông thôn và hộ nông dân Hiện nay, trên 99% số hộ nông dân ở Nhật Bản đều trực thuộc tổ chức này Thông qua sức mạnh tập thể, mạng lưới phân bố khắp cả nước đã cung cấp cho nông dân những dịch
vụ nhanh chóng, chu đáo, hiệu quả
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Từ thập niên 70, tỉnh Oita đã hình thành và phát triển phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” Mục đích là nhằm phát triển vùng nông thôn tương xứng với sự phát triển chung của cả nước Nhật Bản
Trải qua gần 30 năm hình thành và phát triển, phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” ở đây đã thu được nhiều thắng lợi rực rỡ Sự thành công của phong trào này
đã lôi cuốn sự quan tâm không chỉ của nhiều địa phương trên đất nước Nhật Bản mà còn rất nhiều khu vực, quốc gia khác trên thế giới
Những kinh nghiệm của phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” được những người sáng lập, các nhà nghiên cứu đúc rút để ngày càng có nhiều người, nhiều khu vực và quốc gia có thể áp dụng trong chiến lược phát triển nông thôn, nhất là phát triển nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa đất nước mình
Kinh nghiệm sâu sắc từ Hàn Quốc
Vào những năm 1960, Hàn Quốc là một trong những trường hợp “lạc hậu” ở châu Á (Philippines được coi là một trong những quốc gia tiên tiến nhất, chỉ đứng sau Nhật Bản) Ngày hôm nay, Hàn Quốc lại trở thành một trong những nền kinh tế phát triển cao trên thế giới trong khi Philippines vẫn đang cố gắng để có được vị trí
là một nền kinh tế đang nổi lên, ra khỏi danh sách của các nền kinh tế kém phát triển Vậy Hàn Quốc đã làm gì để có được vị trí hiện nay? Dĩ nhiên, rất nhiều yếu tố làm nên sự khác biệt này nhưng chúng ta hãy điểm lại một số lý do nổi bật cho sự thành công của Hàn Quốc
Hàn Quốc đã trải qua vấn đề này vào thời điểm những năm 1970 Vì thế, phong trào Saemaul Undong đã được hình thành để giải quyết vấn đề này Phong trào tìm cách loại bỏ mọi sự nghèo khó của quá khứ, để thu hẹp khoảng cách giữa thành thị
và nông thôn, công nghiệp và nông nghiệp Giáo sư Kim Yu-Hyok của Đại học Dankuk viết: "Phong trào Saemaul là một động lực vươn tới sự sự tích cực, tự lực và hợp tác Nó chạm đến hầu hết mọi lĩnh vực của cuộc sống để thúc đẩy sự tiến bộ từ sức mạnh của tinh thần tự lực cánh sinh”
Năm 1979, thu nhập bình quân đầu người tăng 7 lần so với năm 1970 và tăng khoảng 20 lần so với năm 1960 Kim ngạch xuất khẩu đã tăng 17 lần so với năm 1970 Từ một quốc gia không phát triển trong năm 1960, thời gian này Hàn Quốc xem mình là một trong hàng ngũ của các nước đang phát triển Hôm nay, Hàn
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Quốc được phân loại như một nền kinh tế phát triển cao Như vậy, từ kinh nghiệm thực tế của Hàn Quốc và đôi nét so sánh với Philippines, Việt Nam cũng có thể rút
ra những chân lý nhất định để có thể vươn tới tầm cao như xứ xở Kim chi
Cuối thập niên 60 của thế kỷ XX, GDP bình quân đầu người của Hàn Quốc chỉ
có 85 USD; phần lớn người dân không đủ ăn; 80% dân nông thôn không có điện thắp sáng và phải dùng đèn dầu, sống trong những căn nhà lợp bằng lá Là nước nông nghiệp, lũ lụt và hạn hán lại xảy ra thường xuyên, mối lo lớn nhất của Chính phủ khi
đó là làm sao đưa đất nước thoát khỏi đói, nghèo
Phong trào Làng mới (SU) ra đời với 3 tiêu chí: cần cù (chăm chỉ), tự lực vượt khó, và hợp tác (hiệp lực cộng đồng) Năm 1970, sau những dự án thí điểm đầu tư cho nông thôn có hiệu quả, Chính phủ Hàn Quốc đã chính thức phát động phong trào
SU và được nông dân hưởng ứng mạnh mẽ Họ thi đua cải tạo nhà mái lá bằng mái ngói, đường giao thông trong làng, xã được mở rộng, nâng cấp; các công trình phúc lợi công cộng được đầu tư xây dựng Phương thức canh tác được đổi mới, chẳng hạn,
áp dụng canh tác tổng hợp với nhiều mặt hàng mũi nhọn như nấm và cây thuốc lá để tăng giá trị xuất khẩu Chính phủ khuyến khích và hỗ trợ xây dựng nhiều nhà máy ở nông thôn, tạo việc làm và cải thiện thu nhập cho nông dân
Bộ mặt nông thôn Hàn Quốc đã có những thay đổi hết sức kỳ diệu Chỉ sau 8 năm, các dự án phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn cơ bản được hoàn thành Trong 8 năm từ 1971-1978, Hàn Quốc đã cứng hóa được 43.631km đường làng nối với đường của xã, trung bình mỗi làng nâng cấp được 1.322m đường; cứng hóa đường ngõ xóm 42.220km, trung bình mỗi làng là 1.280m; xây dựng được 68.797 cầu (Hàn Quốc là đất nước có nhiều sông suối), kiên cố hóa 7.839km đê, kè, xây 24.140 hồ chứa nước và 98% hộ có điện thắp sáng Đặc biệt, vì không có quỹ bồi thường đất và các tài sản khác nên việc hiến đất, tháo dỡ công trình, cây cối, đều do dân tự giác bàn bạc, thỏa thuận, ghi công lao đóng góp và hy sinh của các hộ cho phong trào
Nhờ phát triển giao thông nông thôn nên các hộ có điều kiện mua sắm phương tiện sản xuất Cụ thể là, năm 1971, cứ 3 làng mới có 1 máy cày, thì đến năm 1975, trung bình mỗi làng đã có 2,6 máy cày, rồi nâng lên 20 máy vào năm 1980 Từ đó, tạo phong trào cơ khí hóa trong sản xuất nông nghiệp, áp dụng công nghệ cao, giống mới lai tạo đột biến, công nghệ nhà lưới, nhà kính trồng rau, hoa quả đã thúc đẩy
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
năng suất, giá trị sản phẩm nông nghiệp, tăng nhanh Năm 1979, Hàn Quốc đã có 98% số làng tự chủ về kinh tế
Phong trào SU của Hàn Quốc đã biến đổi cộng đồng vùng nông thôn cũ thành cộng đồng nông thôn mới ngày một đẹp hơn và giàu hơn Khu vực nông thôn trở thành xã hội năng động có khả năng tự tích lũy, tự đầu tư và tự phát triển Phong trào
SU, với mức đầu tư không lớn, đã góp phần đưa Hàn Quốc từ một nước nông nghiệp lạc hậu trở nên giàu có
Kinh nghiệm của Thái Lan
Để thúc đẩy sự phát triển bền vững nền nông nghiệp, Thái Lan đã áp dụng một số chiến lược như: Tăng cường vai trò của cá nhân và các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp; đẩy mạnh phong trào học tập, nâng cao trình độ của từng
cá nhân và tập thể bằng cách mở các lớp học và các hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn; tăng cường công tác bảo hiểm xã hội cho nông dân, giải quyết tốt vấn đề nợ trong nông nghiệp; giảm nguy cơ rủi ro và thiết lập hệ thống bảo hiểm rủi ro cho nông dân
Đối với các sản phẩm nông nghiệp, Nhà nước đã hỗ trợ để tăng sức cạnh tranh với các hình thức, như tổ chức hội chợ triển lãm hàng nông nghiệp, đẩy mạnh công tác tiếp thị; phân bổ khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách khoa học và hợp lý, từ đó góp phần ngăn chặn tình trạng khai thác tài nguyên bừa bãi và kịp thời phục hồi những khu vực mà tài nguyên đã bị suy thoái; giải quyết những mâu thuẫn có liên quan đến việc sử dụng tài nguyên lâm, thủy hải sản, đất đai, đa dạng sinh học, phân bổ đất canh tác Trong xây dựng kết cấu hạ tầng, Nhà nước đã có chiến lược trong xây dựng và phân bố hợp lý các công trình thủy lợi lớn phục vụ cho nông nghiệp Hệ thống thủy lợi bảo đảm tưới tiêu cho hầu hết đất canh tác trên toàn quốc, góp phần nâng cao năng suất lúa và các loại cây trồng khác trong sản xuất nông nghiệp Chương trình điện khí hóa nông thôn với việc xây dựng các trạm thủy điện vừa và nhỏ được triển khai rộng khắp cả nước…
Thái Lan đã tập trung phát triển các ngành mũi nhọn như sản xuất hàng nông nghiệp, thủy, hải sản phục vụ xuất khẩu, thúc đẩy mạnh mẽ công nghiệp chế biến nông sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, nhất là các nước công nghiệp phát triển
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Kinh nghiệm trong phát triển nông nghiệp, nông thôn Thái Lan cho thấy, những ý tưởng sáng tạo, khâu đột phá và sự trợ giúp hiệu quả của nhà nước trên cơ
sở phát huy tính tự chủ, năng động, trách nhiệm của người dân để phát triển khu vực này, có ý nghĩa và vai trò hết sức quan trọng đối với việc công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành công nông nghiệp - tạo nền tảng thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Khánh Phương, (2018)
Kinh nghiệm của Trung Quốc
Từ thập niên 50 của thế kỷ XX đến nay khái niệm “nông thôn mới” đã được
đề cập đến trong nhiều công trình nghiên cứu khác nhau ở Trung Quốc Tuy nhiên, chỉ đến Hội nghị Trung ương 5 khóa XVI (10/2005) khi Đảng Cộng sản Trung Quốc chủ trương: “Căn cứ vào yêu cầu phát triển sản xuất, nâng cao đời sống vật chất, phát triển văn minh nông thôn, quản lý dân chủ nhằm thúc đẩy xây dựng nông thôn mới
xã hội chủ nghĩa” thì khái niệm này mới mang ý nghĩa như hiện nay Xây dựng nông thôn mới là một yêu cầu được đặt ra trong bối cảnh Trung Quốc bước vào giai đoạn phát triển mới lấy công nghiệp thúc đẩy nông nghiệp, lấy đô thị thúc đẩy sự phát triển của nông thôn, cũng là một yêu cầu tất yếu nhằm phát triển và xây dựng xã hội hài hòa Hiện nay, một vấn đề lớn trong công cuộc xây dựng xã hội khá giả toàn diện
ở Trung Quốc chính là vấn đề nông thôn Theo các nhà nghiên cứu của Trung Quốc, không có sự khá giả của khu vực nông thôn thì không thể có sự khá giả của toàn xã hội; không có sự hiện đại hóa của nông nghiệp thì không thể có sự hiện đại hóa của quốc gia Nhiều nước trên thế giới sau khi tiến hành công nghiệp hóa đạt được thành tựu nhất định đều thực hiện chiến lược phát triển lấy công nghiệp hỗ trợ nông nghiệp, lấy đô thị hỗ trợ sự phát triển nông thôn Hiện nay, kinh tế của Trung Quốc
đã chuyển từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp, động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế là đến từ phi nông nghiệp Trung Quốc đã bước vào giai đoạn lấy công nghiệp để thúc đẩy nông nghiệp phát triển, vì thế, việc thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới có ý nghĩa chiến lược đặc biệt quan trọng đối với Trung Quốc
Xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực kinh tế của Trung Quốc là nhằm mục đích để phát triển toàn diện sức sản xuất ở nông thôn, thiết lập cơ chế tăng thu nhập
ổn định cho người nông dân, nâng cao thu nhập cho khoảng 900 triệu nông dân, nỗ lực thu hẹp khoảng cách giữa nông thôn và thành thị
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực chính trị là tăng cường giáo dục và nâng cao năng lực thực hành dân chủ của nông dân để phát huy dân chủ và tăng cường xây dựng pháp quyền ở khu vực nông thôn, từng bước để người nông dân thực hiện quyền làm chủ của mình theo quy định của pháp luật
Xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực văn hóa chủ yếu là trên cơ sở tăng cường đầu tư và xây dựng dịch vụ văn hóa công ở khu vực nông thôn, thực hiện nhiều hình thức và nhiều hoạt động văn hóa quần chúng để làm phong phú đời sống văn hóa tinh thần của cư dân nông thôn
Xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực xã hội là tăng cường sự đầu tư của nhà nước đối với sự nghiệp công ở nông thôn nhằm phổ cập giáo dục và phổ cập nghề, tăng cường đầu tư xây dựng hệ thống chăm sóc y tế ở khu vực nông thôn, thiết lập và hoàn thiện hệ thống bảo đảm xã hội ở nông thôn
Xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực pháp quyền có nghĩa là đồng thời với xây dựng kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, phải nỗ lực hoàn thiện hệ thống pháp luật theo yêu cầu của xây dựng nông thôn mới, thực hiện tốt công tác tuyên truyền pháp luật; nâng cao ý thức pháp luật của người nông dân, nâng cao sự hiểu biết và năng lực của nông dân trong việc sử dụng pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích của mình, TS Nguyễn Trọng Bình, (2018)
1.2.4 Xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam
Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, ngày 04-6-2010, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 800/QĐ-TTg, phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 Sau hơn 5 năm thực hiện, ngày 16-8-2016, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1600/QĐ-TTg, phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020 Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới là một chương trình tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng được triển khai trên phạm vi nông thôn toàn quốc Mục tiêu đặt ra là xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa Mục tiêu
cụ thể đến năm 2015 có 20% số xã đạt tiêu chuẩn Nông thôn mới (theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới); đến năm 2020 có: 50% số xã đạt tiêu chuẩn Nông thôn mới; khuyến khích mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phấn đấu có ít nhất một huyện đạt chuẩn nông thôn mới Chương trình giao cho các bộ, ngành, chính quyền địa phương những nhiệm vụ cụ thể trong việc hỗ trợ, hướng dẫn các địa phương triển khai thực hiện và hoàn thành các tiêu chí nông thôn mới Huy động tối
đa nguồn lực của địa phương (tỉnh, huyện, xã) để tổ chức triển khai Đồng thời, huy động vốn đầu tư của doanh nghiệp đối với các công trình có khả năng thu hồi vốn trực tiếp và huy động các khoản đóng góp theo nguyên tắc tự nguyện của nhân dân
Những kết quả bước đầu trong xây dựng nông thôn mới
Về kết quả thực hiện xây dựng nông thôn mới, theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tính đến cuối năm 2017 cả nước có 3.289 xã (đạt 36,84%) được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới (mục tiêu là 31%); có 50 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn/hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới Cả nước còn
121 xã đạt dưới 5 tiêu chí, giảm 136 xã (vượt mục tiêu năm 2017 giảm số xã dưới 5 tiêu chí xuống dưới 150 xã) Bình quân tiêu chí/xã đạt 14,25 tiêu chí, vượt mục tiêu đạt 14 tiêu chí Cả nước đã huy động được khoảng 269.561 tỷ đồng để thực hiện Chương trình Trong đó, vốn ngân sách trung ương: 8.000 tỷ đồng Vốn ngân sách địa phương: 33.887 tỷ đồng, trong đó, 51 tỉnh nhận hỗ trợ từ ngân sách trung ương
đã bố trí được khoảng 19.528 tỷ đồng Vốn lồng ghép từ các chương trình, dự án khác là: 38.076 tỷ đồng Vốn tín dụng: 158.420 tỷ đồng Vốn doanh nghiệp đóng góp là 12.218 tỷ đồng Nhân dân và cộng đồng đóng góp 18.959 tỷ đồng
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn dẫn số liệu điều tra của Tổng cục Thống kê cho thấy, từ năm 2011 - 2017, cả nước đã hoàn thành một khối lượng đường giao thông gấp hơn 5 lần của giai đoạn 2001 - 2010, có 99,4% tổng số xã trên
cả nước có đường ô tô đến trung tâm xã, đặc biệt có nhiều xã ở những địa bàn vùng núi cao, địa hình phức tạp (Hà Giang, Cao Bằng, Yên Bái, Thanh Hóa, Nghệ An ) cũng đạt được tiêu chí này
Tính chung về tiêu chí giao thông, 4.850 xã đã đạt (54,3%), 7.611 xã đạt tiêu chí thủy lợi (đạt 85,3%), 4.983 xã đạt tiêu chí trường học (đạt 55,8%), 4.681
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
xã đạt tiêu chí cơ sở vật chất văn hóa (đạt 52,4%), 6.330 xã đạt tiêu chí nhà ở dân cư (đạt 70,9%)
Một trong những hạn chế, bất cập của xây dựng nông thôn mới thời gian qua
là vấn đề nợ đọng xây dựng cơ bản Do nóng vội, chạy theo thành tích, tiến độ, một
số địa phương huy động quá mức sự đóng góp của người dân hoặc đầu tư, triển khai các công trình xây dựng kết cấu hạ tầng trong khi chưa bố trí được đầy đủ nguồn vốn, dẫn đến nợ đọng xây dựng cơ bản tăng cao, năm 2016, nợ đọng xây dựng cơ bản trong xây dựng nông thôn mới cả nước lên đến 15.000 tỷ đồng Trong hai năm qua, vấn đề này đã được chấn chỉnh, khắc phục từng bước Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, từ mức 15.000 tỷ đồng nợ đọng xây dựng cơ bản trong xây dựng nông thôn mới vào đầu năm 2016 thì tới nay, số này đã giảm 70%, chỉ còn khoảng hơn 4.900 tỷ đồng Đến hết tháng 01-2018, toàn quốc có 26/63 tỉnh, thành phố không có nợ đọng xây dựng cơ bản thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới Trong đó, năm 2017 có thêm 11 địa phương báo cáo đã xử lý hết nợ Đến nay, tổng số nợ đọng xây dựng cơ bản còn khoảng 4.943 tỷ đồng (giảm 10.284 tỷ đồng so với thời điểm 31-01-2016; giảm 4.872 tỷ so với thời điểm cùng kỳ năm trước) Tuy nhiên, vẫn còn một số tỉnh có nợ đọng xây dựng cơ bản lớn, nhưng kết quả xử lý còn chậm, nhất là các địa phương tự cân đối ngân sách, như Vĩnh Phúc, Hải Phòng,
Xây dựng và hoàn thiện kết cấu hạ tầng nông thôn, bên cạnh việc cải thiện điều kiện sinh sống, sản xuất còn góp phần thúc đẩy giao lưu hàng hóa, phát triển kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa Đời sống kinh tế khu vực nông thôn
có nhiều khởi sắc và đây là một trong những kết quả rõ nét của Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới Các bộ, ngành, địa phương triển khai nhiều giải pháp thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo tín hiệu của thị trường; đầu tư cho cơ giới hóa, hiện đại hóa sản xuất nông nghiệp; thực hiện có hiệu quả Chương trình khoa học và công nghệ phục vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn
2016 - 2020; ưu tiên thúc đẩy phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị, nhất là sản xuất nông nghiệp sạch - an toàn Trong tổ chức sản xuất, phát triển kinh tế, các địa phương đã tập trung đầu tư và đã phát triển được khoảng 21.000 mô hình sản xuất liên kết theo chuỗi giá trị, ứng dụng công nghệ cao trên diện rộng, dần hình thành
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
được một số vùng sản xuất tập trung theo hướng hàng hóa, trong đó, đã có 744 chuỗi nông sản an toàn Mô hình mỗi xã một sản phẩm đặc trưng cũng đang được tích cực triển khai, mang lại hiệu quả rõ rệt Hiện nay, cả nước có khoảng 4.823 sản phẩm đặc sản cấp xã, huyện có lợi thế, trong đó mới có 1.086 sản phẩm (khoảng 22,52%) có đăng ký/công bố tiêu chuẩn chất lượng; có 695 (14,4%) sản phẩm có đăng ký bảo hộ
sở hữu trí tuệ
Kinh tế phát triển, góp phần giải quyết vấn đề việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống nhân dân Tính tới hết năm 2017, cả nước có 62,3% số xã đạt tiêu chí thu nhập, 58,5% số xã đạt chuẩn tiêu chí giảm hộ nghèo, 94,8% số xã đạt tiêu chí lao động có việc làm Riêng tiêu chí tổ chức sản xuất, cả nước có 71,2% số xã đạt do rà soát lại theo yêu cầu mới của bộ tiêu chí quốc gia Cả nước đã có 4.795 xã đạt tiêu chí môi trường và an toàn thực phẩm (đạt 53,7%); 76,7% số xã đạt tiêu chí văn hóa
so với cuối năm 2016
Bên cạnh những kết quả đạt được trong xây dựng nông thôn mới thời gian qua, vẫn còn những hạn chế, bất cập cần khắc phục, chấn chỉnh trong thời gian tới Trước hết, đó là vấn đề nợ đọng xây dựng cơ bản Thời gian qua, tuy đã khắc phục,
xử lý được phần lớn số nợ đọng xây dựng cơ bản tuy nhiên, phần còn lại là hơn 4.900 tỷ đồng là phần khó xử lý nhất, đã qua một thời gian nhưng vẫn chưa xử lý được Vì vậy, thời gian tới các địa phương còn nợ đọng xây dựng cơ bản phải có các giải pháp đồng bộ, quyết liệt để giải quyết triệt để vấn đề này
Khoảng cách chênh lệch về kết quả xây dựng nông thôn mới giữa các vùng, miền còn khá lớn, cụ thể: Vùng Đồng bằng sông Hồng có 63,33% số xã đạt chuẩn, Đông Nam Bộ là 63,22%, miền núi phía Bắc chỉ đạt 15,53%, Tây Nguyên 22,5%, Đồng bằng sông Cửu Long 29,43%, Duyên hải Nam Trung Bộ 30,87% Đây cũng là vấn đề cần khắc phục
Theo kế hoạch của Ban Chỉ đạo các Chương trình mục tiêu quốc gia, mục tiêu tới hết năm 2018, cả nước có khoảng 39% số xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới, tăng khoảng 5% so với năm 2017, có ít nhất có 54 đơn vị cấp huyện được Thủ tướng Chính phủ công nhận đạt chuẩn/hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới Bình quân tiêu chí/xã cả nước tăng thêm tối thiểu 0,5 tiêu chí/xã so với năm 2017; giảm số xã đạt dưới 5 tiêu chí xuống dưới 60 xã
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Ngoài ra, vấn đề ô nhiễm môi trường ngày càng có dấu hiệu nghiêm trọng ở một số địa bàn, nhất là ở một số làng nghề Rác thải sinh hoạt nông thôn ngày càng trở thành một vấn đề phức tạp, chưa có biện pháp quản lý, giải quyết hiệu quả Tình hình ô nhiễm môi trường ở một số địa bàn nông thôn ngày càng phức tạp, khó xử lý, trong đó có ô nhiễm nguồn nước ở các tuyến sông, kênh, mương Chất lượng vệ sinh,
an toàn thực phẩm, nông sản trên phạm vi cả nước tuy có tiến bộ nhưng sự chuyển biến chưa rõ nét, vẫn đang là vấn đề nổi lên được xã hội quan tâm, Trần Mai, (2018)
1.2.5 Tình hình xây dựng nông thôn mới tại huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
Ngay từ khi triển khai Chương trình nông thôn mới, theo chỉ đạo của tỉnh Tuyên Quang huyện Sơn Dương đã thành lập bộ máy quản lý, chỉ đạo điều hành thực hiện Chương trình nông thôn mới cụ thể: Thành lập BCĐ, tổ giúp việc BCĐ và
cử 03 cán bộ chuyên trách thuộc phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn để theo dõi, tổng hợp Chương trình; Ở cấp xã thành lập BCĐ, Ban quản lý và bố trí 01 cán
bộ Địa chính - xây dựng để theo dõi nông nghiệp và nông thôn mới; cấp thôn, xóm thành lập Ban phát triển nông thôn BCĐ các cấp đều đã phân công các thành viên phụ trách địa bàn cụ thể, để chỉ đạo thực hiện Chương trình Mục tiêu Quốc gia xây dựng Nông thôn mới theo kế hoạch hàng năm
1.2.5.1 Công tác tổ chức, chỉ đạo, điều hành, quản lý
Xác định xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ trọng tâm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội nhằm xây dựng nông thôn mới phát triển nhanh và bền vững
Ủy ban nhân dân huyện đã tham mưu cho Ban Chấp hành Đảng bộ huyện (khóa XIX) ban hành Chương trình hành động số 06-CTr/HU ngày 22/3/2012 về thực hiện Nghị quyết số 27- NQ/TU ngày 23/11/2011 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh (khóa XV) về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 – 2015, định hướng đến năm 2020
Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế nâng cao thu nhập, đổi mới hình thức tổ chức sản xuất; chỉ đạo các xã đăng ký, lựa chọn mô hình thôn điểm, kiểu mẫu về xây dựng nông thôn mới; tập trung chỉ đạo thực hiện thường xuyên liên tục
03 tiêu chí theo Nghị quyết HĐND huyện gồm các tiêu chí Thu Nhập, Tổ chức sản xuất, Môi trường và An toàn thực phẩm
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế nâng cao thu nhập, đổi mới hình thức tổ chức sản xuất triển khai xây dựng Kế hoạch phát triển hợp tác xã giai đoạn
2018 – 2020; chỉ đạo xây dựng và ban hành các Đề án về phát triển nông nghiệp hàng hóa huyện Sơn Dương giai đoạn 2018 – 2025; đề án về phát triển sản xuất nông nghiệp hữu cơ giai đoạn 2019 – 2025; đề án phát triển sản phẩm bột sắn dây giai đoạn 2019 - 2025; Kế hoạch thực hiện chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP)
Ủy ban nhân dân huyện đã ban hành Quyết định số 3281 ngày 23/6/2017 Quyết định kiện toàn Văn phòng điều phối Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới huyện Sơn Dương giai đoạn 2016-2020; 32/32 xã đã kiện toàn Ban chỉ đạo xã để thực hiện triển khai thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020, bố trí công chức ĐCNN-XD-MT chuyên trách
về nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới
Ban hành các văn bản chỉ đạo thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới; xây dựng kế hoạch hàng năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới; xây dựng và ban hành quy chế làm việc của Ban chỉ đạo thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện
và phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên phụ trách các tiêu chí, các xã trên địa bàn huyện
Chỉ đạo các xã thành lập Ban chỉ đạo, Ban quản lý, tổ giúp việc xã và Ban phát triển các thôn; xây dựng kế hoạch cụ thể theo nội dung Đề án đã được phê duyệt
để triển khai thực hiện
Hàng năm tổ chức kiểm tra, giám sát kết quả thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới tại các xã trên địa bàn huyện
Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện đồng bộ, sâu sát, quyết liệt có sự tham mưu kịp thời, phối hợp chặt chẽ giữa các phòng ban chuyên môn, các cơ quan Thành viên Ban chỉ đạo huyện tạo sự thống nhất trong thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện một cách hiệu quả
1.2.5.2 Công tác tuyên truyền, vận động, đào tạo, tập huấn
- Công tác thông tin tuyên truyền, quán triệt về Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới đã được Cấp ủy, chính quyền, MTTQ và các tổ chức
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
chính trị - xã hội huyện quan tâm tổ chức thực hiện sâu rộng với nhiều hình thức đa dạng phong phú thông qua hệ thống thông tin công cộng, thông qua các hội thi do các tổ chính trị-xã hội tổ chức, nội dung hội thi gắn với tuyên truyền về xây dựng nông thôn mới cho các hội viên, đoàn viên và mọi tầng lớp nhân dân
- Ủy ban Mặt trận tổ quốc huyện đã triển khai cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư gắn với xây dựng nông thôn mới” Kết quả thực hiện từ năm 2016 – 2018, đã thay đổi nội dung 08 cụm pa nô tại trung tâm huyện, treo 342 băng zôn, 845 pano khẩu hiệu tuyên truyền về xây dựng nông thôn mới, tuyên truyền lưu động được 28 buổi Đài Truyền thanh -Truyền hình huyện đã xây dựng 100 phóng sự, cập nhật 460 tin, bài về chương trình xây dựng nông thôn mới Chỉ đạo UBND các xã phối hợp với các tổ chức chính trị-xã hội tuyên truyền cho đoàn viên, hội viên và nhân dân về Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới tại hội nghị ở xã, thôn, trên hệ thống loa truyền thanh của xã, thôn được 1.105 buổi, phục vụ trên 1.000.000 lượt người nghe Qua đó đã tạo sự chuyển biến sâu sắc về nhận thức và từng bước nâng cao ý thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và nhân dân trong xây dựng nông thôn mới, dân chủ cơ sở được tăng cường, vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư được nâng lên, nhân dân, phấn khởi, tin tưởng, tích cực, chủ động tham gia xây dựng nông thôn mới
- Công tác đào tạo, tập huấn: Uỷ ban nhân dân huyện phối hợp với Văn phòng điều phối Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới tỉnh tổ chức tập huấn Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới cho Ban chỉ đạo, Ban quản lý của huyện, các xã và cán bộ chuyên môn giúp việc các xã, ban phát triển các thôn với trên 2200 lượt người tham gia Ban chỉ đạo huyện đã xây dựng kế hoạch và
tổ chức tập huấn cho Ban chỉ đạo, Ban quản lý, cán bộ giúp việc xã với trên 280 lượt người tham gia
- Thực hiện tốt công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân nông thôn; Trong 3 năm 2016-2018, Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện đã tổ chức được 36 lớp, trong đó 23 lớp lĩnh vực nông nghiệp, 13 lớp lĩnh vực phi nông nghiệp với 1.260 lao động được đào tạo, tập huấn; phối hợp với các cơ quan, đoàn thể huyện tổ chức tập
huấn và bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho hơn 2.480 lượt người tham gia