Phần này trình bày các khái niệm cơ bản và bản chất chiến lược doanh nghiệp và quy trình quản trị chiến lược trong doanh nghiệp. Hoạt động quản trị chiến lược của nhà quản lý là một tập hợp các quyết định và hành động; thể hiện thông qua kết quả của việc hoạch định, thực thi và đánh giá các chiến lược; được xây dựng nhằm đạt được các mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp. Đây là một hoạt động diễn ra liên tục nhằm xác lập và duy trì phương hướng chiến lược và hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; cũng như thực hiện những quyết định phản ứng phù hợp và kịp thời trước những biến động của môi trường trong và ngoài doanh nghiệp. Quy trình quản trị chiến lược trình bày trong chương này được xây dựng trên cơ sở kiến thức và kinh nghiệm thực tế của tác giả, và các bước chủ đạo của quy trình sẽ được trình bày trong các tài liệu tiếp theo.
Trang 1CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CHIẾN LƯỢC DOANH NGHIỆP
Có nhiều định nghĩa về doanh nghiệp theo các quan điểm tiếp cận lý luận khác nhau cùng với sự phát triển của quản trị học Theo quan điểm tân cổ điển, doanh nghiệp
là một “hộp đen” (black box) tập hợp mọi yếu tố cần thiết để tổ chức triển khai hoạt động sản xuất kinh doanh Jensen và Meckling (1976), theo học thuyết người đại diện (agency
theory), định nghĩa doanh nghiệp là “liên minh nhiều chủ thể (chủ sở hữu, nhà quản lý,
đối tác) và các chủ thể có thể theo đuổi nhiều lợi ích khác nhau” Tiếp cận về chi phí
giao dịch (transaction cost economics), Wiliamson OE (1975) đưa ra định nghĩa doanh
nghiệp là “một mạng lưới những hợp đồng đặc thù” Trên cơ sở nguồn lực (Resource- based View), Barney (1991) và Grant (1991) lại hiểu theo nghĩa doanh nghiệp là “nơi tập
trung các nguồn lực”.
Dù theo quan điểm tiếp cận nào, một cách khái quát, doanh nghiệp là một tổ chức
hoạt động “có chiến lược”, có kế hoạch nhằm mục đích sản xuất, kinh doanh, phân phối
sản phẩm, dịch vụ hoặc cả sản phẩm dịch vụ đến khách hàng và/hoặc người tiêu dùng Để thực hiện nhiệm vụ này, doanh nghiệp tự tổ chức, huy động và tác động lên các nguồn lực (nguyên vật liệu, tài chính, nguồn nhân lực, trang thiết bị máy móc, thông tin) trong một phạm vi nhất định và tuân thủ các luật lệ của môi trường, nhà nước; trên cơ sở đảm bảo mục tiêu lợi nhuận ở mức nhất định
1.1 CHIẾN LƯỢC DOANH NGHIỆP
1.1.1 Định nghĩa và đặc điểm
Theo quan điểm thực nghiệm, Alfred Sloan (quản lý tại General Motors từ 1923 đến
1946) chỉ ra rằng “chiến lược được xây dựng trên nền tảng các điểm mạnh và điểm yếu” Theo Chandler (1962), “Chiến lược nhằm xác định các mục tiêu và mục đích căn bản, dài
hạn và cách thức hành động cũng như phân bổ các nguồn lực cho phép doanh nghiệp đạt được các mục tiêu, mục đích đó”6 Còn Porter (1985) khẳng định: “Chiến lược, đối mặt
với cạnh tranh, là tổ hợp các mục tiêu mà doanh nghiệp cố gắng đạt được và các phương tiện để đạt các mục tiêu đó” Ông nhấn mạnh ba nguyên tắc cơ bản của chiến lược là: (1)
tạo ra một vị thế độc tôn và giá trị trên thị trường; (2) tạo sự cân bằng thông qua lựa chọn
“không làm những gì”; và (3) đạt được sự “phù hợp” tổng thể thông qua tổ chức điều phối hợp lý các hoạt động trong doanh nghiệp để hỗ trợ chiến lược mà doanh nghiệp đã chọn
6
Strategy is defined as “the determination of the basic long-term goals of an enterprise, and the adoption of courses of action and the allocation of resources necessary for carrying out these goals” (Chandler, 1962).
Trang 2Mintzberg (1994) khẳng định con người sử dụng “chiến lược” bằng nhiều phương
pháp khác nhau Theo ông, có bốn phương pháp tiếp cận chiến lược chính, gồm: (1) chiến
lược là một kế hoạch, một “phương thức thế nào đó”, một phương tiện để đạt được mục tiêu này đến mục tiêu khác; (2) chiến lược là một khung hành động theo thời gian; ví dụ, một doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm xa sỉ đã áp dụng chiến lược “khách hang cao cấp”; (3) chiến lược là hoạt động định vị, thể hiện các quyết định của doanh nghiệp cung cấp các sản phẩm hoặc dịch vụ nào đó trên những thị trường nào đó; và (4) chiến lược
chiến lược như sau: “Chiến lược là khung ra quyết định của doanh nghiệp, cho phép xác
định và cụ thể hóa các mục tiêu, mục đích, từ đó hình thành các chính sách và kế hoạch chủ đạo để đạt được các mục tiêu, và xác định tập hợp các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, loại hình tổ chức kinh tế và nhân sự hiện hữu hoặc hướng đến, và bản chất các hoạt động kinh tế và phi kinh tế mang lại cho các cổ đông, nhân viên, khách
Một cách khái quát, chiến lược thể hiện các mục tiêu doanh nghiệp mong muốn thực hiện và những hành động được đưa ra nhằm có được những mục tiêu đó Về bản chất, chiến lược thường đặt trọng tâm vào những định hướng của doanh nghiệp trong dài hạn, liên quan đến xu thế phát triển và nhu cầu của khách hàng, cạnh tranh, định vị tương lai của doanh nghiệp; qua đó giúp doanh nghiệp xây dựng được hệ thống sản xuất kinh doanh phù hợp và từng bước phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Chiến lược cũng liên quan đến các quyết định mang tính chiến lược từ các hoạt động hàng ngày như sản xuất kinh doanh, xây dựng, phát triển các mối quan hệ bên trong
và ngoài doanh nghiệp, đến các chính sách với người lao động, hoạt động quản lý, giám sát, điều hành
Chiến lược doanh nghiệp cần xây dựng dựa trên những lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp Lợi thế cạnh tranh là yếu tố tạo sự khác biệt, nâng cao sức mạnh của doanh nghiệp trên thị trường Chính vì vậy, việc đưa ra phương hướng cho doanh nghiệp cũng cần phải lưu ý đến yếu tố này Đó có thể là lợi thế về sản phẩm, vị trí địa lý, quy mô, dịch vụ Doanh nghiệp cần phải xây dựng lợi thế cạnh tranh có giá trị lâu dài, như thế mới đảm bảo hơn về sự tồn tại và phát triển trong tương lai
7 (1) strategy is a plan, a “how”, a means of getting from here to there; (2) strategy is a pattern in actions over time; for example, a com-pany that regularly markets very expensive products is using a “high end” strategy; (3) strategy is position; that is, it reflects decisions to offer particu-lar products or services in particular markets; and (4) strategy is perspective, that is, vision and direction
8 “Corporate strategy is the pattern of decisions in a company that determines and reveals its objectives, purposes, or goals, produces the principal policies and plans for achieving those goals, and defines the range
of business the company is to pursue, the kind of economic and human organization it is or in-tends to
be, and the nature of the economic and non-economic contribution it intends to make to its shareholders, employees, customers, and communities”
Trang 3Chiến lược cũng có thể đươc xem như một phương pháp đánh giá, kiểm định và hiệu chỉnh về sự phù hợp trong định hướng và các hoạt động của doanh nghiệp với môi trường kinh doanh Cũng có thể coi chiến lược là một cơ hội đổi mới đối với doanh nghiệp Chiến lược doanh nghiệp không chỉ phụ thuộc vào những yếu tố thuộc về môi trường kinh doanh mà cả giá trị kỳ vọng của những đối tác quyền lực bên trong đến doanh nghiệp (cổ đông, các nhà quản lý, nhân viên) và các bên liên quan (đối tác kinh doanh, khách hàng, xã hội, chính phủ) Vì vậy, chiến lược đưa ra vừa là định hướng tương lai, vừa là động lực để doanh nghiệp nỗ lực thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu chiến lược
đã đề ra
Với vai trò phản ánh các mục tiêu kỳ vọng và những hành động triển khai nhằm đạt được những mục tiêu đó, chiến lược doanh nghiệp mang một số đặc điểm chính sau (Johnson và các cộng sự, 2005):
• Chiến lược có thể nhằm mục đích thích nghi với môi trường kinh doanh của doanh nghiệp Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải linh động, nhạy bén về nguồn lực trước những biến động tương lai Đạt được vị thế chiến lược trên thị trường có vai trò đặc biệt quan trọng với doanh nghiệp, đảm bảo các sản phẩm và dịch vụ phù hợp với nhu cầu thị trường;
• Tuy nhiên, chiến lược cũng có thể hướng đến tạo dựng cơ hội, môi trường kinh doanh trên cơ sở xây dựng các nguồn lực và năng lực mới;
• Chiến lược doanh nghiệp chịu tác động không chỉ của các lực lượng môi trường
và khả năng chiến lược của doanh nghiệp, mà cả của các giá trị và mong muốn của những người nắm quyền lực và có ảnh hưởng đến doanh nghiệp
Chiến lược gắn liền với các quyết định cần đưa ra; các quyết định chiến lược này cũng có một số đặc điểm đáng chú ý sau (Johnson và các cộng sự, 2005):
• Về bản chất, việc đưa ra các quyết định mang tính chiến lược khá phức tạp Sự phức tạp này là đặc trưng của chiến lược và các quyết định chiến lược, đặc biệt tại các doanh nghiệp có phạm vi hoạt động trên địa bàn rộng như các công ty đa quốc gia, hoặc nhiều chủng loại sản phẩm và dịch vụ
của doanh nghiệp Câu hỏi mà các nhà chiến lược doanh nghiệp thường xuyên được đặt ra
Trang 4là có nên tập trung vào lĩnh vực này, vào một hay nhiều lĩnh vực? hoặc các câu hỏi về kinh doanh, phát triển các dòng sản phẩm? tấn công hay phòng thủ thị trường, khu vực nào?
• Các quyết định chiến lược thường nhằm đạt được lợi thế nào đó trong cạnh tranh
• Việc đưa ra các quyết định chiến lược đôi khi được thực hiện trong những tình
huống không chắc chắn hay bất ổn về điều kiện, kết quả tương lai
doanh nghiệp, bởi 2 nguyên nhân: Thứ nhất, nếu các hoạt động nghiệp vụ không theo đúng chiến lược đã đề ra thì chiến lược đó sẽ không thể thành công được; Thứ hai, ở cấp
độ nghiệp vụ, doanh nghiệp có thể sẽ đạt được lợi thế cạnh tranh chiến lược
• Các quyết định chiến lược đòi hỏi hoạt động quản lý tích hợp toàn doanh nghiệp Các nhà quản lý ở các cấp khác nhau phải giải quyết các vấn đề mang tính chiến lược,
có liên quan hoặc phải kết hợp giữa nhiều bộ phận với nhau trên cơ sở đạt được sự đồng thuận và hợp tác với các nhà quản lý khác, vốn có thể có quyền lợi và mục đích khác nhau
• Các nhà quản lý cũng phải duy trì và phát triển các mối quan hệ cũng như mạng lưới quan hệ với các đối tác bên ngoài doanh nghiệp, như với các nhà cung cấp, phân phối, khách hàng
• Các quyết định chiến lược thường liên quan đến sự thay đổi trong doanh nghiệp,
do vậy thường rất khó được chấp nhận vì sức ỳ về vận hành, nguồn lực và văn hóa của
tổ chức
1.1.2 Các cấp chiến lược
Theo Vancil và Lorange (1975), quá trình hoạch định chiến lược diễn ra ở ba cấp độ trong doanh nghiệp, bao gồm (1) chiến lược ở cấp lãnh đạo cao nhất hay chiến lược cấp doanh nghiệp (Corporate strategy), (2) ở các đơn vị kinh doanh hay chiến lược cấp kinh doanh (Business strategies) và (3) ở các bộ phận chức năng của các đơn vị kinh doanh hay chiến lược cấp chức năng (Operational strategy) Ở mỗi cấp khác nhau, nội dung chiến lược là khác nhau
Trang 5Hình 1: Các cấp chiến lược doanh nghiệp
Nguồn: theo Vancil và Lorange (1975)
Chiến lược cấp công ty, sau đây gọi tắt là chiến lược doanh nghiệp, tiếp cận doanh
nghiệp một cách tổng thể nhằm đáp ứng kỳ vọng của các bên liên quan, của khách hàng
và hội đồng quản trị Tại cấp chiến lược doanh nghiệp, các mục tiêu được thiết lập mang tính chiến lược và dài hạn; hoạch định chiến lược là một quá trình gồm:
xác định bao nhiêu lĩnh vực kinh doanh doanh nghiệp sẽ tham gia và đó là những lĩnh vực gì?;
• Tìm kiếm và huy động các nguồn lực cần thiết để triển khai hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra;
• Phân bổ nguồn lực giữa các đơn vị kinh doanh để đảm bảo việc mục tiêu được thực hiện đồng đều giữa các bộ phận nhằm đảm bảo các mục tiêu chung của doanh nghiệp
Chiến lược cấp kinh doanh, sau đây gọi tắt là chiến lược kinh doanh, tập trung vào
hoạch định kế hoạch ngắn và trung hạn, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mỗi đơn
vị hay bộ phận kinh doanh; đồng thời phụ thuộc vào cơ cấu tổ chức (tập trung hay hỗn hợp) của doanh nghiệp Nếu như chiến lược doanh nghiệp gồm một tập hợp đồng nhất các hoạt động trong doanh nghiệp thì chiến lược kinh doanh tập trung vào các danh mục đầu tư kinh doanh của đơn vị kinh doanh liên quan Hoạch định chiến lược kinh doanh
là quá trình nhằm xác định phạm vi hoạt động của từng đơn vị kinh doanh; xác định các mục tiêu chính của đơn vị đó trong lĩnh vực hoạt động đã xác định; áp dụng các chính sách cần thiết nhằm đạt được đạt được các mục tiêu của đơn vị đó Hoạch định chiến lược kinh doanh lựa chọn các mục tiêu ngắn hạn và dài hạn của các đơn vị kinh doanh, thiết lập điều lệ doanh nghiệp sau khi xác định phạm vi hoạt động trên thị trường, khu vực hoạt động và công nghệ áp dụng của các bộ phận kinh doanh
Trang 6Chiến lược cấp chức năng, sau đây gọi tắt là chiến lược chức năng, liên quan đến
các bộ phận chức năng trong doanh nghiệp (bộ phận nghiên cứu & phát triển, tài chính, sản xuất, marketing…) được tổ chức như thế nào để thực hiện được phương hướng chiến lược ở cấp độ công ty và chiến lược kinh doanh các SBU trong doanh nghiệp Chiến lược cấp chức năng do các bộ phận trong các đơn vị kinh doanh xây dựng, là tập hợp các chương trình hành động khả thi để thực hiện từng phần của chiến lược kinh doanh của đơn vị Hoạch định chiến lược chức năng nhằm xác định các mục tiêu ngắn hạn và dài hạn cho từng khu vực chức năng (marketing, tài chính, sản xuất, nghiên cứu phát triển…), xác định bản chất và chuỗi hành động cần thực hiện để đạt được các mục tiêu đã đề ra Chiến lược cấp chức năng là một lời công bố chi tiết về các mục tiêu và phương thức hoạt động ngắn hạn được các đơn vị chức năng sử dụng nhằm đạt được mục tiêu ngắn hạn của các SBU và mục tiêu dài hạn của tổ chức Chiến lược cấp chức năng giải quyết các vấn đề liên quan đến lĩnh vực chức năng gồm (a) đáp ứng vai trò của lĩnh vực chức năng với môi trường tác nghiệp và (b) phối hợp chức năng với các chính sách khác nhau của doanh nghiệp Các loại hình chiến lược cấp chức năng cơ bản trong doanh nghiệp gồm: chiến lược sản xuất tác nghiệp, chiến lược Marketing, chiến lược sản xuất, chiến lược nghiên cứu và phát triển (R&D), chiến lược tài chính, chiến lược nguồn nhân lực … Chi tiết các chiến lược ở cấp công ty được trình bày ở chương 3; và chiến lược cấp kinh doanh ở chương 4 và 5 của quyển sách này
1.2 QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC
1.2.1 Định nghĩa và bản chất
Khái niệm quản trị chiến lược ra đời như một quy luật tất yếu và chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố kinh tế - xã hội khác nhau Đây được xem là sự tiến hóa về lý thuyết tổ chức, và bắt đầu nhận được sự chú ý, cả về mặt học thuật và môi trường kinh doanh thực
tế, từ những năm 1950 Khái niệm quản trị chiến lược thực sự phát triển vào những năm
1960 và 1970 với hàng loạt quan điểm khác nhau của các nhà nghiên cứu trên thế giới
Theo Porth (2002), “quản trị chiến lược là một nội dung trong hoạch định chiến
lược, hiện được coi là một trong những nội dung quan trọng nhất Quản trị chiến lược bao
quản trị chiến lược có nguồn gốc từ chính sách doanh nghiệp, theo đó doanh nghiệp “là
9 Strategic management emerged as part of strategic planning, which is now regarded as one of its main instruments It was incorporated into strategic management, which united planning and management in the same process
Trang 7một hệ thống, trong đó các nguồn lực kinh tế được áp dụng một cách hiệu quả thông qua
Từ khi xuất hiện, khái niệm quản trị chiến lược phát triển nhanh chóng thông qua việc xây dựng các mô hình lý thuyết và thực nghiệm Trong những năm 1960, tồn tại một số mô hình nổi bật như ma trận BCG, mô hình SWOT, Đường cong kinh nghiệm (the Experience Curve), và Phân tích danh mục đầu tư (Portfolio Analysis) Cùng với
đó là sự ra đời hàng loạt khái niệm quan trọng như phân tích cấu trúc kinh tế (economic analysis of structure), hành vi và hiệu năng (behavior and performance), năng lực khác biệt (distinctive competences), các kỹ năng (skills), và hệ thống hoạch định chiến lược (strategic planning systems)
Ngày nay, quản trị chiến lược trở thành một trong những nội dung quan trọng nhất trong hoạt động quản lý Quản trị chiến lược tạo nên một hệ thống, cho phép các nhà quản
lý doanh nghiệp có định hướng phù hợp với môi trường kinh doanh, kế hoạch phát triển dài hạn và sứ mệnh của doanh nghiệp Với vai trò quan trọng như vậy, cho đến nay, có khá nhiều quan điểm khác nhau về quản trị chiến lược
Ansoff and McDonnell (1990) cho rằng “quản trị chiến lược là một cách tiếp cận
quản trị thay đổi có tính hệ thống, gồm: định vị doanh nghiệp thông qua chiến lược và hoạch định, thích ứng chiến lược cập nhật thông qua quản trị bất ổn, và quản trị một cách
chiến lược là quá trình xây dựng, thực hiện và đánh giá các quyết định cho phép tổ chức đạt được mục tiêu cuối cùng – tạo ra giá trị cho tổ chức (Porth, 2002)
Quản trị chiến lược, về bản chất, tập trung vào các vấn đề liên quan đến việc tạo ra giá trị bền vững và tìm kiếm lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp (Bowman và các cộng
sự, 2002) Hơn nữa, quản trị chiến lược liên quan đến mối quan hệ phức tạp giữa mục tiêu tổ chức, kết quả thu được, và các yếu tố thuộc môi trường bên trong và bên ngoài doanh nghiệp
Dess và các cộng sự (2007) khẳng định “quản trị chiến lược của doanh nghiệp phải
trở thành một quy trình và một hoạt động độc lập định hướng các hành động xuyên suốt doanh nghiệp Bao gồm hoạt động phân tích, quyết định và hành động của doanh nghiệp
10 as a system in which economic resources are applied effectively with the company’s functional activities coordinated around generating profit
11 Strategic management constitutes a systematic approach to the management of changes, comprising: positioning the organization through strategy and planning, real time strategic response through the management of problems, and the systematic management of resistance during strategy implementation
Trang 8nhằm tạo ra và bảo dưỡng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp”12 Quản trị chiến lược
có 4 thuộc tính chính, bao gồm: (1) hướng tới mục tiêu tổng thể của tổ chức (directed towards the overall organization objectives), (2) có sự tham gia của nhiều bên liên quan trong việc ra quyết định (includes multiple stakeholders in decision-making), (3) đòi hỏi kết hợp các quan điểm ngắn hạn và dài hạn (requires incorporating short and long term perspectives), và (4) chấp nhận sự đánh đổi giữa hiệu quả và hiệu suất (involves the recognition of trade-offs between effectiveness and efficiency)
Stead J và Stead W (2008) định nghĩa “quản trị chiến lược là một quy trình liên
tục bao gồm các nỗ lực điều chỉnh doanh nghiệp của nhà quản trị chiến lược cho phù hợp với bối cảnh môi trường hoạt động, đồng thời phát triển lợi thế cạnh tranh của doanh
hóa những đe dọa từ môi trường
Một cách khái quát, quản trị chiến lược là một thuật ngữ rộng, bao gồm việc xác định nhiệm vụ và mục tiêu của tổ chức trong bối cảnh môi trường bên trong và bên ngoài
có nhiều thay đổi Quản trị chiến lược (strategic management) là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong doanh nghiệp, đòi hỏi sự tham gia của không chỉ một cá nhân hoặc một tập thể lãnh đạo trong doanh nghiệp
Về bản chất, quản trị chiến lược được coi là xương sống của mọi quản trị chuyên ngành trong doanh nghiệp Ở đâu cần có một hệ thống quản lý bài bản, chuyên nghiệp, được vận hành tốt, ở đó không thể thiếu quản trị chiến lược Quản trị chiến lược không chỉ gắn liền với hệ thống quản trị ở cấp doanh nghiệp mà nó còn bao trùm tất cả các quản trị chức năng Đây là một hoạt động diễn ra liên tục để xác lập và duy trì phương hướng chiến lược và hoạt động kinh doanh của một tổ chức; quá trình ra quyết định hàng ngày
để giải quyết những tình huống đang thay đổi và những thách thức trong môi trường kinh doanh Như một phần trong ý tưởng chiến lược về phát triển hoạt động kinh doanh, nhà chiến lược phải vạch ra một phương hướng cụ thể, tuy nhiên những tác động tiếp đó về mặt chính sách (như doanh nghiệp có mục tiêu hoạt động mới) hoặc tác động về mặt kinh doanh (như nhu cầu về sản phẩm tăng cao) sẽ làm phương hướng hoạt động của doanh nghiệp thay đổi theo chiều khác Khi đó, nhà chiến lược sẽ phải quyết định xem nên có những hành động điều chỉnh để đi đúng hướng đã định hay đi theo một hướng mới Tương
tự như vậy, quản trị chiến lược cũng liên quan đến cách điều hành doanh nghiệp nếu các mối quan hệ với các đối tác thay đổi
12 Strategic management in an organization must become a process and a single path guiding actions throughout the organization It consists of organizational analysis, decisions and actions creating and sustaining competitive advantage
13 Strategic management as an ongoing process involving the efforts of strategic managers to adjust the organization to the environment in which it operates while developing competitive advantages
Trang 9Nhìn chung, quản trị chiến lược có một số đặc điểm chính sau (Thompson và Strickland, 1987):
• Ranh giới giữa các giai đoạn trong quy trình quản trị chiến lược đôi khi khó có thể phân biệt rõ ràng trong thực tế; thiết lập tầm nhìn chiến lược bao gồm vạch ra các mục tiêu cần đạt được của doanh nghiệp, thiết lập các mục tiêu bao gồm việc phân tích khả năng và phương pháp để đạt được các mục tiêu đã đề ra
• Nhiệm vụ của hoạch định chiến lược không bao giờ được tách rời với tầm nhìn của nhà quản trị chiến lược Chiến lược được hoạch định và triển khai thực hiện trong một môi trường động, tương tác giữa các bên trong và ngoài doanh nghiệp, với thời hạn hoàn thành công việc, và các vấn đề phát sinh không mong muốn cũng như các cuộc khủng hoảng nhất thời nội bộ hay môi trường của doanh nghiệp Quản trị chiến lược không phải
là công việc độc quyền của các nhà quản lí, mặc dù đây là chức năng quan trọng nhất của
họ nhằm đưa doanh nghiệp đến thành công mong đợi
hay thực hiện chúng không phải lúc nào cũng xuất hiện theo thời gian biểu đề ra, trong nhiều tình huống, cần được xử lý ngay tại thời điểm phát sinh
tục phát triển, biến động Nhiệm vụ “chiến lược hóa” không phải là nhiệm vụ được thực hiện một lần, trong khi các định hướng, mục tiêu chiến lược dài hạn, khi đã được thiết lập, thường ổn định Do đó, chiến lược cũng như hoạt động quản trị chiến lược doanh nghiệp phải linh động trước những thay đổi thuộc cả về môi trường bên trong và bên ngoài doanh nghiệp Đa phần chiến lược thời gian được triển khai một cách tuần tự, nhưng đôi khi trong bối cảnh khủng hoảng, một số quyết định liên quan đến chiến lược phải được đưa
ra một cách gấp rút, hợp lý và kịp thời Vì vậy, thực hiện chiến lược cũng là kết quả của
sự cải tiến, cập nhật không ngừng, sự tinh chỉnh trong nội bộ, là kết quả tổng hợp của các quyết định điều hành và điều chỉnh hành vi của cả doanh nghiệp, nhà quản trị chiến lược
và các thành viên
Khái quát lại, hoạt động quản trị chiến lược của nhà quản lý là một tập hợp các quyết định và hành động; thể hiện thông qua kết quả của việc hoạch định, thực thi và đánh giá các chiến lược; được xây dựng nhằm đạt được các mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp Đây là một hoạt động diễn ra liên tục nhằm xác lập và duy trì phương hướng chiến lược
và hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; cũng như thực hiện những quyết định phản ứng phù hợp và kịp thời trước những biến động của môi trường trong và ngoài doanh nghiệp
Trang 101.2.2 Vai trò, chức năng nhiệm vụ của quản trị chiến lược trong doanh nghiệp
Quản trị chiến lược là xương sống của mọi quản trị chuyên ngành trong doanh nghiệp, góp phần xây dựng một hệ thống quản lý bài bản, chuyên nghiệp, và được vận hành tốt Quản trị chiến lược không chỉ gắn liền với hệ thống quản trị ở cấp doanh nghiệp
mà còn bao trùm tất cả các quản trị chức năng Đây là một hoạt động diễn ra liên tục để xác lập và duy trì phương hướng chiến lược và hoạt động kinh doanh của một tổ chức; quá trình ra quyết định hàng ngày để giải quyết những tình huống đang thay đổi và những thách thức trong môi trường kinh doanh Như một phần trong ý tưởng chiến lược về phát triển hoạt động kinh doanh, nhà chiến lược phải vạch ra một phương hướng cụ thể, tuy nhiên những tác động tiếp đó về mặt chính sách (như doanh nghiệp có mục tiêu hoạt động mới) hoặc tác động về mặt kinh doanh (như nhu cầu về sản phẩm tăng cao) sẽ làm phương hướng hoạt động của doanh nghiệp thay đổi theo chiều khác Khi đó, nhà chiến lược sẽ phải quyết định xem nên có những hành động điều chỉnh để đi đúng hướng đã định hay
đi theo một hướng mới Tương tự như vậy, nó cũng liên quan đến cách điều hành doanh nghiệp nếu các mối quan hệ với các đối tác thay đổi
Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới chỉ ra rằng doanh nghiệp triển khai quản trị chiến lược tốt đạt hiệu quả sản xuất kinh doanh cao hơn so với các doanh nghiệp không triển khai quản trị chiến lược David (1997) tin rằng hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được cải thiện đáng kể nhờ quản trị chiến lược tốt Việc triển khai quản trị chiến lược từ khâu hoạch định, thực hiện và đánh giá chiến lược tạo thuận lợi cho phép tổ chức hoạt động một cách hiệu quả hơn Thông qua xác định mục tiêu và kế hoạch dài hạn của doanh nghiệp, quản trị chiến lược đưa ra định hướng, tăng cường phối hợp và kiểm soát các hoạt động của tổ chức Chiến lược của doanh nghiệp cung cấp định hướng cho các hoạt động của tổ chức và hướng đến đội ngũ nhân sự làm việc trong tổ chức đó (Arasa
và K’Obonyo, 2012) Ngoài ra, một mục đích khác của quản trị chiến lược là hướng dẫn
tổ chức trong quá trình đưa ra ý định chiến lược, cũng như các vấn đề cần ưu tiên trong quá trình triển khai chiến lược
Porter (1980) cho rằng phân tích khách quan môi trường bên trong và bên ngoài doanh nghiệp tạo thuận lợi cho việc cải thiện môi trường kinh doanh của doanh nghiệp
và hỗ trợ đắc lực quá trình đưa ra các quyết định quan trọng của các nhà quản lý cấp cao Ngoài ra, việc xác định các vấn đề chiến lược, phân tích chiến lược và lựa chọn chiến lược giúp doanh nghiệp phân bổ hiệu quả các nguồn lực, tạo lợi thế cạnh tranh bền vững
và đóng góp đáng kể vào công tác cải tiến đổi mới trong doanh nghiệp Đồng thời, quản trị quá trình thực hiện chiến lược, đánh giá và kiểm soát chiến lược cho phép chiến lược được thực hiện trơn tru và theo đúng kế hoạch doanh nghiệp đã đề ra