Xây dựng một tình huống về áp dụng tập quán, trong tình huống có tình tiết: hai bên tranh chấp ở 2 địa phương khác nhau và tại 2 địa phương đều có tập quán để áp dụng. Qua đó, phân tích các điều kiện để được áp dụng tập quán đó I.MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN: 1. Khái niệm: Tập quán là thói quen đã thành nếp trong đời sống xã hội, trong sản xuất và sinh hoạt thường ngày, được cộng đồng nơi có tập quán đó thừa nhận và làm theo như một qui ước chung của cộng đồng. Áp dụng tập quán là sử dụng các xử sự được cộng đồng địa phương, dân tộc thừa nhận như là chuẩn mực ứng xử đối với các thành viên trong cộng đồng dân tộc, địa phương đó. Ví dụ: Việc áp dụng các đơn vị đo lường giạ lúa; chục ở miền Nam hay việc chia thịt thú rừng ở các vùng dân tộc…
Trang 1MỞ ĐẦU
Luật dân sự điều chỉnh các quan hệ đa dạng, phức tạp về nhiều phương diện: chủ thể, khách thể, nội dung; hơn nữa, những quan hệ này không ngừng phát triển cùng với sự phát triển của xã hội nói chung và khoa học kĩ thuật nói riêng Vì vậy, khi ban hành các văn bản pháp luật, nhà lập pháp không dự liệu hết được các quan hệ xã hội cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật Việc này tạo lỗ hổng trong pháp luật dân sự Hơn nữa, các quy định của pháp luật tồn tại ở dạng tĩnh tương đối (chỉ thay đổi khi bị sửa đổi) nhưng các quan hệ xã hội lại biến đổi không ngừng Bởi vậy, sẽ tồn tại những trường hợp không có quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ xã hội đang tồn tại Để khắc phục hiện tượng này nhằm để các quan hệ xã hội được điều chỉnh bằng pháp luật, BLDS đưa ra nguyên tắc áp dụng áp dụng tập quán
(Điều 3 BLDS) Để tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này, em xin chọn Đề bài 3: “Xây dựng một tình huống về áp dụng tập quán, trong tình huống có tình tiết: hai bên tranh chấp ở 2 địa phương khác nhau và tại 2 địa phương đều có tập quán để áp dụng Qua đó, phân tích các điều kiện để được áp dụng tập quán đó” cho bài tập
lớn cuối kì của mình
NỘI DUNG
I.MỘT SỐ VẤN Đ Ề LÝ LUẬN:
1 Khái niệm:
Tập quán là thói quen đã thành nếp trong đời sống xã hội, trong sản xuất và sinh hoạt thường ngày, được cộng đồng nơi có tập quán đó thừa nhận và làm theo như một qui ước chung của cộng đồng
Áp dụng tập quán là sử dụng các xử sự được cộng đồng địa phương, dân tộc thừa nhận như là chuẩn mực ứng xử đối với các thành viên trong cộng đồng dân
Trang 2tộc, địa phương đó Ví dụ: Việc áp dụng các đơn vị đo lường giạ lúa; chục ở miền
Nam hay việc chia thịt thú rừng ở các vùng dân tộc…
2 Nguyên nhân áp dụng tập quán trong giải quyết các tranh chấp dân sự:
Các quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của BLDS vô cùng phong phú, luôn có sự thay đổi, biến dạng những quan hệ xã hội hiện có hoặc phát sinh những quan hệ xã hội mới Trong khi những quan hệ xã hội này không ngừng vận động, biến đổi cùng với sự phát triển của xã hội thì các quy phạm pháp luật lại có sự ổn định trong từng giai đoạn nhất định Như vậy, những trường hợp không có quy phạm pháp luật điều chỉnh một quan hệ xã hội đang tồn tại là điều tất yếu Đặc biệt, BLDS lại điều chỉnh rất nhiều quan hệ phức tạp nên việc xuất hiện các trường hợp thiếu sót là không ít
Thực tế, hoạt động lập pháp ở nước ta còn nhiều thiếu sót, hạn chế bởi trình độ chuyên môn của nhà lập pháp chưa cao nên vẫn có những “lỗ hổng” trong một số quy phạm pháp luật dân sự cũng như các ngành luật khác Khi ban hành các văn bản pháp luật, các nhà lập pháp khó có thể dự liệu hết những trường hợp, các quan hệ xã hội cần thiết phải điều chỉnh và có thể phát sinh trong thực tế Đây là một hiện tượng khá phổ biến, ví dụ như việc không có quy định về thu mua, hụi, họ Ngoài ra, do nước ta có nhiều dân tộc khác nhau, và ở mỗi dân tộc lại có những phong tục, tập quán khác biệt nên nhà làm luật tuy có dự tính trước nhưng vẫn để cho phong tục tập quán điều chỉnh Trong quá trình sinh sống từ lâu đời, có rất nhiều các phong tục tập quán đã nảy sinh và trở thành một hiện tượng không thể loại bỏ Vậy nên dù dự tính trước, các nhà làm luật vẫn để phong tục tập quán điều chỉnh thay vì sử dụng các quy phạm pháp luật điều chỉnh Việc này đã giúp pháp luật trở nên linh hoạt hơn, khiến người dân thực hiện, chấp hành pháp luật tự giác hơn, tránh gây mâu thuẫn, tranh chấp khi những quy định cụ thể của luật không
phù hợp với phong tục tập quán địa phương Ví dụ như trong việc xác định dân tộc
cho trẻ em tại Khoản 1 Điều 28 BLDS, tuy có dự tính trước nhưng các nhà làm luật
Trang 3vẫn quy định: “Trong trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau thì dân tộc của người con được xác định là dân tộc của cha đẻ hoặc dân tộc của mẹ
đẻ theo tập quán hoặc theo thỏa thuận của cha đẻ, mẹ đẻ” Vì nếu các nhà làm luật
quy định cụ thể dân tộc của đứa trẻ là dân tộc của bố đẻ (hoặc mẹ đẻ) sẽ gây mâu thuẫn, tranh chấp cho nhiều dân tộc theo chế độ mẫu hệ hoặc chế độ phụ hệ
II ĐIỀU KIỆN ÁP DỤNG TẬP QUÁN TRONG GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP DÂN SỰ:
Mặc dù trong xã hội tồn tại rất nhiều các quan hệ xã hội mà phong tục, tập quán có thể điều chỉnh, nhưng không phải tất cả những phong tục tập quán đó đều có thể được áp dụng trong pháp luật Như vậy, các điều kiện cơ bản để có thể áp dụng phong tục tập quán giải quyết các tranh chấp dân sự của các chủ thể bao gồm:
- Quan hệ xã hội phát sinh tranh chấp phải thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật Dân sự
- Hiện tại trong pháp luật dân sự chưa có quy phạm pháp luật trực tiếp điều chỉnh quan hệ xã hội phát sinh đó và các bên trong quan hệ cũng không có thỏa thuận
- Với các quy phạm và chế định hiện có không thể giải quyết được tranh chấp
- Có tập quán được cộng đồng thừa nhận như chuẩn mực ứng xử trong các trường hợp đó (tập quán có thể vận dụng để giải quyết các tranh chấp phát sinh)
- Việc áp dụng phong tục tập quán này không được trái với pháp luật và các quy tắc quy định trong BLDS 2005
- Ngoài ra còn một số các điều kiện khác như: Các bên trong giao dịch không có thỏa thuận; Giải quyết theo trình tự áp dụng tập quán trước, nếu không có tập quán mới áp dụng quy định tương tự pháp luật…
III XÂY DỰNG TÌNH HUỐNG VỀ ÁP DỤNG TẬP QUÁN:
Trang 41.Xây dựng một tình huống về áp dụng tập quán, trong tình huống có tình tiết: hai bên tranh chấp ở 2 địa phương khác nhau và tại 2 địa phương đều có tập quán để áp dụng:
Tình huống:
A và B là hai người bạn chơi thân với nhau từ hồi bé, cả hai đều sinh ra và lớn lên ở Đoan Hùng (Phú Thọ) và vừa mới tốt nghiệp đại học Sau khi ra trường,
A và B cùng nhau tìm hiểu về thế mạnh ở quê mình và đã quyết định cùng nhau góp vốn mở một cửa hàng X “kinh doanh bưởi Đoan Hùng” đặt ngay tại nhà A Sau một thời gian bán hàng với chất lượng đảm bảo kết hợp với việc quảng cáo, tiếp thị, của hàng X dần dần tạo được uy tín và càng ngày cửa hàng càng nhận được những đơn hàng có giá trị cao
Ngày 10/10/2015, cửa hàng X nhận được một bản hợp đồng đề nghị mua một số lượng bưởi lớn của công ty Y (có trụ sở tại Bến Tre) Sau khi hai bên thương lượng và đã đi tới thống nhất ký hợp đồng mua bán với nhau tại cửa hàng
X có nội dung cơ bản như sau:
Công ty Y đặt mua 100 thùng bưởi Đoan Hùng (chục quả/thùng) với giá hai bên đã thỏa thuận là 180.000 đồng/thùng Sau khi ký hợp đồng, công ty Y phải thanh toán trước 20% giá trị hợp đồng (tức 3.600.000 đồng), công ty Y sẽ thanh toán nốt phần còn lại (tức 14.400.000 đồng) ngay sau khi cửa hàng X giao đầy đủ số bưởi tới địa chỉ mà công ty Y yêu cầu
Ngày 20/11/2015, sau khi cửa hàng X giao đủ 100 thùng bưởi theo như thỏa thuận đến địa chỉ công ty Y đã yêu cầu thì bất ngờ, công ty Y chỉ trả nốt 50% giá trị hợp đồng, 30% còn lại (tức 5.400.000 đồng) công ty Y không trả và nói đó là tiền bồi thường hợp đồng với lý do cửa hàng X đã không giao đủ số lượng bưởi như đã thỏa thuận trong hợp đồng
Trang 5Bất ngờ và bức xúc với thông tin này, A và B đã liên lạc với công ty Y và được người đại diện bên đó giải thích là mỗi thùng cần phải đóng gói 1 chục quả bưởi, tức 12 quả bưởi, trong khi đó mỗi thùng bưởi mà cửa hàng X giao cho công
ty Y chỉ có 10 quả bưởi, tức bị thiếu 2 quả/ thùng Như vậy cửa hàng X đã không giao đủ số bưởi như đã thỏa thuận trong hợp đồng nên công ty Y đòi bồi thường
A, B cho rằng việc giải thích của công ty Y là vô lý nên cửa hàng X sẽ không bồi thường cho công ty Y Vì vậy, A đã khởi kiện công ty Y ra Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng (tỉnh Phú Thọ)
2 Áp dụng tập quán giải quyết tranh chấp trong tình huống trên:
Trong tình huống trên, cửa hàng X và công ty Y đều quy ước trong hợp đồng là đóng gói 1 chục quả bưởi trong mỗi thùng (tức đều quy ước tính theo đơn vị chục) Tuy nhiên, do phong tục tập quán ở hai vùng miền là khác nhau nên đã xảy ra tranh chấp Cửa hàng X nằm ở huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ, miền Bắc, theo tập quán ở đây thì một chục được hiểu là 10, còn công ty B có trụ sở tại Bến Tre (thuộc vùng Nam Bộ), theo phong tục tập quán nơi đây thì một chục được hiểu là 12 Cả hai vùng đều có tập quán khác nhau, đơn vị chục là chuẩn mực được sự đồng thuận của hầu hết mọi người trong vùng miền đó sử dụng và đã có từ lâu đời Chính vì vậy, để giải quyết vụ việc tranh chấp này ta phải áp dụng Điều 3 của BLDS năm 2005:
“Điều 3 Áp dụng tập quán, quy định tương tự của pháp luật
Trong trường hợp pháp luật không quy định và các bên không có thỏa thuận thì có thể áp dụng tập quán; nếu không có tập quán thì áp dụng quy định tương tự của pháp luật Tập quán và quy định tương tự của pháp luật không được trái với những nguyên tắc quy định trong Bộ luật này.”
Theo đó, ta thấy:
Trang 6Thứ nhất, theo Điều 1 của BLDS năm 2005 quy định:
“Điều 1 Nhiệm vụ và phạm vi điều chỉnh của Bộ luật Dân sự
Bộ luật Dân sự quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác; quyền, nghĩa vụ của các chủ thể về nhân thân và tài sản trong các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là quan hệ dân sự).
Bộ luật Dân sự có nhiệm vụ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng; bảo đảm sự bình đẳng và an toàn pháp lý trong quan hệ dân sự, góp phần tạo điều kiện đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân, thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội.”
Do đó, có thể thấy tranh chấp giữa cửa hàng X với công ty Y là đối tượng điều chỉnh của BLDS Sự việc tranh chấp trên thuộc nhóm quan hệ tài sản của đối tượng điều chỉnh của BLDS
Thứ hai, hiện tại trong BLDS năm 2005 chưa có những quy định hướng dẫn
về đo lường đơn vị chục Không chỉ trong pháp luật dân sự chưa có quy phạm pháp luật trực tiếp điều chỉnh quan hệ xã hỗi phát sinh này mà ngay cả trong hợp đồng thỏa thuận mua bán của cửa hàng X với công ty Y cũng không có thỏa thuận với nhau về đơn vị đã được nêu ra trong hợp đồng (đơn vị chục)
Thứ ba, với quy phạm về đơn vị đo lường (đơn vị chục) như tình huống trên
thì hiện tại chưa có chế định được đưa ra để giải quyết tranh chấp giữa cửa hàng X và công ty Y
Thứ tư, một số đơn vị đo lường ở mỗi vùng là không giống nhau Ví dụ, một
chục ở miền Bắc là mười nhưng khái niệm chục trên đất Nam Bộ là một con số biến thiên theo quy luật chuẩn của mỗi vùng, mỗi tỉnh thành Chục là mười mấy
Trang 7tùy theo mỗi địa phương: Ở Mỹ Tho chục là mười hai, Bến Tre chục mười hai, Cái Bè chục mười bốn, Vĩnh Long chục mười bốn, Cần Thơ chục mười hai, riêng ở Sa đéc chục là mười tám,…Đó là một chuẩn mực được sự đồng thuận của hầu hết mọi người trong vùng miền đó Tập quán này không trái với những quy định của pháp luật Vậy nên, trong tình huống tranh chấp trên, các cơ quan có thẩm quyền có thể áp dụng tập quán để giải quyết vụ việc này
Cuối cùng, tập quán trên được mọi người trong địa phương áp dụng thường
xuyên, phổ biến trong các trường hợp ngoài đời sống
IV NHẬN XÉT CỦA BẢN THÂN VỀ VIỆC PHÁP LUẬT CHO PHÉP ÁP DỤNG TẬP QUÁN:
1.Ưu điểm:
Các phong tục tập quán rất gần gũi và thiết thực với đời sống nhân dân nên đã điều chỉnh rất nhiều các quan hệ khác nhau trong đời sống xã hội Chính vì vậy, việc áp dụng phong tục tập quán đã giúp khắc phục các thiếu sót của các nhà làm luật, giúp cho nền luật pháp của nước ta được bổ sung và hoàn thiện hơn, giúp pháp luật trở nên linh hoạt và mềm dẻo hơn Không những vậy, vì phong tục tập quán đã là những “chuẩn mực ứng xử” được cả cộng đồng dân cư thừa nhận, nên việc thực thi sẽ được tiến hành có hiệu quả và tự giác hơn rất nhiều
Nguyên tắc pháp chế trong lĩnh vực tố tụng dân sự đòi hỏi cơ quan nhà nước không thể từ chối giải quyết tranh chấp theo yêu cầu của người dân với lý do quan hệ pháp luật dân sự mà các bên tranh chấp chưa được pháp luật quy định Nhờ áp
Trang 8dụng phong tục tập quán vào việc giải quyết tranh chấp dân sự, quyền và nghĩa vụ, lợi ích hợp pháp của các bên tham gia giao dịch dân sự sẽ được đảm bảo thực hiện Việc áp dụng phong tục tập quán trong pháp luật sẽ tạo tiền đề quan trọng để các nhà lập pháp có thể dựa vào để hoàn thiện và bổ sung hệ thống pháp luật
2 Nhược điểm:
Việc áp dụng phong tục tập quán trong giải quyết các tranh chấp ở nước ta những năm qua chưa đem lại nhiều hiệu quả Một trong những nguyên nhân chính là việc các cơ quan xét xử không áp dụng các phong tục tập quán trong những trường hợp cần thiết, gây nhiều bất bình trong nhân dân Thực tế khảo sát ở một số tỉnh miền núi thường xuyên áp dụng phong tục, tập quán cho thấy, có đến một nửa số bản án, quyết định viện dẫn tập quán để giải quyết tranh chấp không được Viện kiểm sát, Toà án cấp phúc thẩm chấp nhận Ngay đối với các đoàn thể xã hội cũng chỉ chấp nhận, đồng tình với 58,3% các bản án, quyết định có áp dụng tập quán Mặc khác là do các quy định về việc áp dụng phong tục tập quán trong pháp luật nước ta quy định chưa rõ, nhiều quy định làm các chủ thể áp dụng lúng túng
Ví dụ, Điều 265 BLDS 2005 “ranh giới (giữa các bất động sản liền kề) cũng có thể được xác định theo tập quán hoặc theo ranh giới đã tồn tại từ 30 năm trở lên mà không có tranh chấp” Câu hỏi đặt ra ở đây là nếu vừa thỏa mãn cả điều kiện có tập quán điều chỉnh và cả điều kiện có ranh giới tồn tại từ 30 năm trở lên không có tranh chấp, thì sẽ áp dụng theo căn cứ nào, vì mỗi căn cứ sẽ cho những kết quả hoàn toàn khác nhau
KẾT LUẬN
Trang 9DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật dân sự Việt Nam, Tập 1, Nxb.
Công an nhân dân, 2015
2 BLDS năm 2005
3 TS Ngô Huy Cương, “Cụ thể hoá quan điểm về tập quán pháp theo Nghị quyết số 48/NQ – TW của Bộ chính trị”, Khoa Luật – ĐH Quốc gia Hà Nội, 2009
4 Website: www.thongtinphapluatdansu.wordpress.com