Trước tình hình đó, công ty đã mạnh dạn thay thế một số thiết bị, dây truyền công nghệ sản xuất mới với giá trị gần 4 tỷ đồng, nghiên cứu thay đổi mẫu mã sản phẩm, đa dạng hoá sản phẩm,
Trang 1THỰC TRẠNG CƠ CẤU BỘ MÁY QUẢN TRỊ Ở CÔNG TY DỤNG CỤ CẮT VÀ
ĐO LƯỜNG CƠ KHÍ
A Thực trạng chung:
I-/ SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN:
Công ty Dụng cụ Cắt và Đo lường cơ khí là doanh nghiệp Nhà nước, hạch toán kinh tế độc lập dưới sự lãnh đạo của Tổng Công ty Máy và Thiết bị công nghiệp – thuộc Bộ Công nghiệp Công ty được Nhà nước giao vốn, quyền quản
lý và sử dụng vốn đông thời làm nghĩa vụ với Nhà nước và với người lao động theo chế độ hiện hành Công ty là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, được tự
do tiến hành sản xuất kinh doanh theo quy định của pháp luật, chịu sự điều chỉnh trực tiếp của Luật doanh nghiệp của Nhà nước Việt Nam.
1-/ Sự hình thành và phát triển:
Tiền thân của Công ty là một phân xưởng dụng cụ của Công ty Cơ khí Hà nội Công ty được thành lập ngày 25/3/1968 theo quyết định số 74/QĐ/KB2,
do Bộ trưởng Bộ Công nghiệp nặng ký (nay là Bộ công nghiệp) Lúc này Công
ty mang tên Nhà máy Dụng Cụ cắt gọt, có trụ sở tại 26 đường Nguyễn Trãi, Đống Đa, Hà nội (nay là quận Thanh Xuân).
Cho đến nay, trải qua hơn 30 năm phát triển để phù hợp với điều kiện, tình hình sản xuất kinh doanh của từng thời kỳ, Công ty đã có 3 tên gọi khác nhau.
Ngày 17/08/1970 Nhà máy Dụng Cụ Cắt Gọt được đổi tên thành Nhà máy Công cụ số 1.
Ngày 22/05/1995, Nhà máy Công cụ số 1 được thành lập lại theo quyết định 292/QĐ/TCNSDT của Bộ công nghiệp lấy tên là Công ty Dụng Cụ cắt và
Đo lường cơ khí
Tên viết tắt của Công ty là DUFUDOCO, tên giao dịch tiếng Anh là: Cutting and Measuring Tools Company.
Nhiệm chính của Công ty là sản xuất và kinh doanh dụng cụ cắt gọt kim loại, dụng cụ đo kiểm, dụng cụ cầm tay, phụ thùng cơ khí,thiết bị công tác phục
vụ cho nghành giàu khí, chế biến lương thực thực phẩm, xây dựng và các nghành kinh tế khác Sản phẩm của Công ty là các tư liệu sản xuất phục vụ các nghành kinh tế công nghiệp trong nước và ngoài nước, tham gia trên thị trường tư liệu sản xuất.
Trong cơ chế cũ, nhiệm vụ của Công ty là sản xuất và cung cấp sản phẩm của mình cho các doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp nước ngoài theo chỉ tiêu của cấp trên giao cho Thời kỳ bao cấp, tình hình sản xuất kinh doanh của nhà máy không gặp nhiều khó khăn, mặc dù hiệu quả kinh tế không cao Song thực chất mọi hoạt động của quá trình sản xuất kinh doanh từ mua
Trang 2sắm yếu tố đầu vào, tổ chức sản xuất, tiêu thụ sản phẩm đều do cấp trên chỉ định Các doanh nghiệp trong thời kỳ này không được tự chủ trong kinh doanh, không tiến hành hạch toán độc lập, họ không phải nghiên cứu thị trường, lập phương án kinh doanh và trên thị trường không có sự cạnh tranh Chính vì vậy các doanh nghiệp cũng không hoàn toàn chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh của mình.
Cuối những năm 1980, thực hiện chủ trương mới của Đảng ta, chuyển nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường, có sự kiểm soát của Nhà nước Các doanh nghiệp Nhà nước có quyền quản lý, sử dụng vốn, tự chủ kinh doanh, tiến hành hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, Nhà nước quản lý bằng pháp luật và cơ chế chính sách.
Thời điểm này, hàng loạt các doanh nghiệp Nhà nước đặc biệt là các doanh nghiệp cơ khí đều gặp khó khăn, thi trường tiêu thụ bị thu hẹp, thiếu việc làm, kinh doanh thua lỗ, đời sống công nhân viên gặp nhiều khó khăn Công ty Dụng Cụ cắt và Đo lường cơ khí cũng không nằm ngoài thực trạng này: sản phẩm làm ra tiêu thụ chậm và giảm sút do công nghệ lạc hậu, năng suất lao động thấp, sản phẩm chưa đạt chất lượng cao, khó cạnh tranh với hàng ngoại, đội ngũ quản lý chưa có kinh nghiệm kinh doanh trong cơ chế thị trường Trước tình hình đó, công ty đã mạnh dạn thay thế một số thiết bị, dây truyền công nghệ sản xuất mới với giá trị gần 4 tỷ đồng, nghiên cứu thay đổi mẫu mã sản phẩm, đa dạng hoá sản phẩm, tận dụng tối đa tiềm năng sẵn có về lao động, máy móc, thị trường truyền thống, phát động phong trào thi đua lấy sáng kiến thực hành tiết kiệm, tạo điều kiện nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành Vì vậy sang những năm 1990 tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty đã từng bước ổn định, thu nhập của người lao động đựoc nâng cao, thị trường dần được mở rộng, sản xuất kinh doanh đã có lãi và bắt đầu tích luỹ.
Thời kỳ 1989 - 1991 thu nhập bình quân người lao động của công ty là 210.000đ/người/tháng
Thời kỳ 1995 - 1997 thu nhập bình quân người lao động của công ty là 600.000 - 680.000đ/người/tháng tăng so với thời kỳ trước đó là hơn 200% Giá trị tổng sản lượng tăng từ 4.434 tỷ đồng năm 1992 lên 9,0478 tỷ đồng năm 1997 tăng 104% và 12,701 tỷ đồng năm 1999 tăng 186,4%.
2-/ Kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh trong những năm gần đây của Công ty.
Vào cuối những năm 1980 đầu những năm 1990, do chưa thích ứng được với cơ chế thị trường, do máy móc thiết bị lạc hậu, năng xuất lao động thấp, chất lượng sản phẩm kém không đủ sức cạnh tranh với hàng ngoại nhập, nhu cầu trên thị trường thay đổi thích hàng ngoại hơn hàng nội Tất cả các nguyên nhân trên đã đẩy Công ty vào tình trạng vô cùng khó khăn, sản xuất bị thu hẹp,
Trang 3lực lượng lao động giảm xuống chỉ còn 1/3 so với trước, đời sống cán bộ công nhân viên gặp nhiều khó khăn.
Trước tình hình đó, được sự chỉ đạo đúng đắn và sát sao của Tổng công ty Máy và Thiết bị công nghiệp, cùng với sự nỗ lực phấn đấu không ngừng của toàn thể cán bộ công nhân viên trong Công ty, thực hành tiết kiệm, phát huy sáng kiến Công ty đã tổ chức lại sản xuất, đầu tư đổi mới công nghệ, nghiên cứu tìm tòi phương án kinh doanh, mở rông thị trường và đổi mới tư duy quản
lý Đặc biệt, khi chuyển sang cơ chế thị trường, chế độ bao cấp bị xoá bỏ, người lao động nhận thức được rằng sự sống còn của Công ty gắn liền với việc làm và đời sống của họ Vì vậy, họ gắn bó và cống hiến sức lực nhiều hơn, có trách nhiệm hơn với Công ty nhằm thực hiện mục tiêu chung đã đề ra của Công ty Tất cả sự cố gắng trên đây đã tạo nên một tổng hợp lực từng ngày đưa Công ty thoát khỏi tình trạng làm ăn kém hiệu quả, nâng cao thu nhập cho người lao động, góp phần nhỏ bé vào tiến trình Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá của đất nước htông qua việc nâng cao tay nghề lực lượng lao động, cung cấp các thiết bị kỹ thuật công nghiệp cao cho các ngang kinh tế khác trong toàn quốc
so với năm 1997 Nộp ngân sách nhà nước năm sau cao hơn năm trước Công
ty đảm bảo việc làm cho hơn 400 cán bộ công nhân viên, đạt mức thu nhập bình quân 710000đ/người/tháng năm 1999 Những thành tựu trên mà Công
ty đã đạt được trong mấy năm gần đây do nhiều nguyên nhân mang lại.Song một nguyên nhân đóng vai trò quan trọng là sự cố gắng nỗ lực của toàn thể
Trang 4cán bộ công nhân viên trong Công ty, sự đoàn kết nhất trí trong hành động, lao động hăng say, thực hiện tiết kiệm trong sản xuất, phát huy sáng kiến cải tiến
kỹ thuật Trong 3 năm qua, Công ty đã áp dụng 218 sáng kiến cải tiến kỹ thuật làm lợi cho Công ty gần 450 triệu đồng Nghiên cứu, thiết kế và chế tạo thành công dàn máy sản xuất kẹo mềm và kẹo cứng với giá thành chỉ bằng 50% giá nhập ngoại, các sản phẩm dụng cụ, phụ tùng cơ khí kỹ thuật cao cho ngành dầu khí.
Mặt khác, do tổ chức quản lý, sản xuất phù hợp với sự đổi mới của cơ chế quản lý, đánh giá và xác định phương án kinh doanh đúng đắn, đồng thời Công
ty đã tiến hành đổi mới trang thiết bị, nâng cấp nhà xưởng như: nâng cấp phân xưởng nhiệt luyện, xây dựng nhà điều hành sản xuất kinh doanh 3 tầng, mua mới 28 thiết bị mới (máy dập 400 tấn, máy cắt tôn 12mm, máy ép nhựa )
đã nâng cao năng lực sản xuất, cải thiện điều kiện làm việc, góp phần không nhỏ vào sự phát triển chung của Công ty.
Trên đây là những thành tựu mà Công ty đã đạt được, song trước mắt và tươnh lai gần, Công ty còn phải đối phó với nhiều thách thức, thị trường có nhiều biến động - đặc biệt là thị trường khác hàng đặt gia công Ngành cơ khí nói chung vẫn tronng tình trang tìm lối thoát Năm 1999 Công ty đã thực hiện chậm 25 hợp đồng trị giá 1.106.000.000đ trong đó có 685.000.000đ đến hết năm 1999 vẫn chưa có hàng giao cho khách Nguyên nhân chủ yếu là do cơ cấu sản phẩm phức tạp, tỷ trọng sản phẩm mới cao làm cho thời gian chuẩn bị kỹ thuật kéo dài, tổ chức cung cấp vật tư chậm, công nghệ sản xuất còn chưa hoàn thiện gây khó khăn cho tổ chức sản xuất
Vì vậy trong thời gian tới Công ty cần xây dựng phương án sản xuất kinh doanh phù hợp sao cho vừa giả quyết khó khăn trước mắt vừa tính đến hiệu quả lâu dài.
Biểu 2:
Kế hoạch năm 2000 của Công ty:
so với năm 2000 TT 1999(%)
1 Giá trị TSL(theo giá bán)
3 Thu nhập bình quân 710 100
(1000đ/người/tháng)
II-/ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ KỸ THUẬT:
1-/ Quy mô và loại hình sản xuất:
Trang 5Trong mấy năm gần đây, do nhu cầu thị trường thay đổi, sản phẩm truyền thống của Công ty đã bị thu hẹp, Công ty đã tiến hành nghiên cứu, chế thử nhiều loại sản phẩm mới Vì vậy chủng loại của Công ty cũng rất đa dạng, phong phú, cơ cấu sản phẩm phức tạp, nhiều loại sản phẩm đang trong giai đoạn vừa sản xuất vừa hoàn thiện.
Sản phẩm chính của Công ty hiện nay là các loại dụng cụ cắt gọt kim loại gồm: bàn ren, tarô, mũi khoan, dao phay, dao tiện, lưỡi cưa, calíp với sản lượng 22 tấn /năm Ngoài ra công ty còn sản xuất một số loại sản phẩm khác như tấm sàn chống trượt, phụ tùng cơ khí, neo cầu, dao cắt tấm lợp, thanh trượt với sản lượng 200 tấn/năm Những năm trước đây công ty đi vào chuyên môn hoá những sản phẩm chính như: dụng cụ cắt gọt kim loại và phi kim loại Khi chuyển sang kinh doanh trong cơ chế thị trường, Công ty vừa coi trọng khai thác những mặt hàng truyền thống, vừa sản xuất thêm những mặt hàng mới nhằn tạo thêm việc làm, sử dụng hết năng lực về trang thiết bị máy móc, nhà xưởng và lao động.
Hiện nay Công ty tiến hành sản xuất chủ yếu theo đơn đặt hàng, duy có ít mặt hàng truyền thống thì tiến hành sản xuất hàng loạt để cung ứng trên thị trường, ngoài ra Công ty còn nhận gia công cơ khí cho các doanh nghiệp trong
và ngoài nước Với cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp 20% giá trị sản xuất công nghiệp là sản phẩm dụng cụ cắt (sản phẩm truyền thống) và 80% giá trị sản xuất là sản phẩm khác làm theo yêu cầu của khách hàng.
2-/ Tình hình máy móc thiết bị và cung ứng nguyên vật liệu của Công ty.
Ngay từ khi mơi thành lập, hầu hết các máy móc, thiết bị dùng cho sản xuất đều nhập từ Liên Xô (cũ) với nhiều chủng loại khác nhau Cho đến nay hệ thống thiết bị này đã cũ, không phù hợp với tình hình sản xuất mới, song Công
ty vẫn chưa có điều kiện đầu tư mới một cách đồng bộ, do kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh mấy năm gần đây còn chưa ổn định Mặt khác do qui mô sản xuất bị thu hẹp nên hầu hết các máy móc thiết bị chỉ được sử dụng khoảng
từ 50-60% công suất thiết kế Vì vậy nếu tiến hành thay mới hàng loạt những thiết bị sẽ gây lãng phí lớn, trong khi đó Công ty vẫn phải trích khấu hao hàng năm đưa vào chi phí sản xuất, điều này sẽ đẩy giá thành lên cao nó sẽ gây ra nhiều bất lợi cho công ty Như vậy việc đầu tu đổi mới trang thiết bị cần được cân nhắc kĩ lưỡng, trên cơ sở tính toán so sánh kếy quả có khả năng mang lại với chi phí bỏ ra và chu kì sống của sản phẩm
Biểu 3:
Danh mục máy móc thiết bị năm 1999:
Stt Tên thiết bị Số lượng(cái) Nước chế tạo
1 Máy tiện các loại 34
6 Liên xô Tiệp khắc
Trang 616 Đức Việt nam
2 Máy khoan cac loại 5
3 7
Việt nam Liên xô Đức
3 Máy mài các loại 7
80 11 1 1
Việt nam Liên xô Đức Đài loan Nhật
5 1
Liên xô Đức Hungary
1 1 2
Việt nam Nhật Rumany Liên xô
6 Máy dập
Loại 2,5 tấn Loại 5 tấn Loại 250 tấn Loại 400 tấn
3 3 1 1
Việt nam Việt Nam Liên xô Liên xô
1 Việt nam Liên xô
1 Trung quốc Liên xô
10 Máy ép, lăn số, máy cắt ren
1 2
Việt nam Liên xô Tiệp khắc Đức Với số lượng thiết bị như trên và khả năng sử dụng từ 50-60% công xuất thiết kế thì nguyên vật liệu và năng lượng cũng phải cung cấp đầy đủ cho sản xuất Khối lượng nguyên vật liệu và năng lượng dùng cho sản xuất của công ty một phần là nguồn nước còn hầu hết là phải nhập ngoại Chính điều đó cũng làm ảnh hưởng tới giá thành sản phẩm Hàng năm công ty cần một khối lượng lớn nguyên vật liệu và năng lượng như sau:
Biểu 4:
Nguyên vật liệu và năng lượng năm 1999:
Trang 7Stt năng lượng - nhiên liệu Tên nguyên vật liệu - Nhu cầu sử dụng (tấn/năm)
hạ được là bao Điều đó ảnh hưởng lớn tới việc duy trì và phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm do có sự cạnh tranh gay gắt của một số doanh nghiệp khác Vì vậy, Công ty cần có những giải pháp thu hút vốn đầu tư, đổi mới máy móc thiết bị và công nghệ để theo kịp xu hướng phát triển chung của nền kinh tế trong và ngoài nước, trong khu vực cũng như trên thế giới.
3-/ Số lượng và trình độ lao động:
Sự thành công của công ty không chỉ phụ thuộc vào hiệu năng của máy móc thiết bị mà còn phụ thuộc vaò hiệu quả của đối tượng lao động và bố trí hợp lý lực lượng lao động sẽ làm tăng năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất kinh doanh Hiện nay Công ty có 433 lao động trong
đó người lao động gián tiếp là là 168 người chiếm 38,8%, lao động trực tiếp là
265 người chiếm 61,2% Trong năm 1999 lao động có mặt là 410 người với tỷ
lệ chi phí trên tiền lương là 23%, trên giá trị tổng sản lượng là 28,4%.
Cơ cấu bậc thợ của công nhân sản xuất năm 1999:
Số
Trang 8(3×2) +(19×3)+(23×4)+(42×5)+(84×6)+(41×7)
Bậc thợ bình quân = =5,4
212
Bậc thợ bình quân của Công ty là 5,4 điều đó chứng tỏ Công ty có ưu thế
về chất lượng lao động, cần phải phát huy hết lợi thế này sao cho vẫn đảm bảo lợi ích của người lao động và người sử dụng lao động.
Quản lý lao động là vấn đề hết sức phức tạp và khó khăn Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, nhu cầu của con người ngày một cao và phong phú, động
cơ làm việc cũng có nhiều thay đổi Mỗi lúc, mỗi điều kiện, hoàn cảnh, mỗi nhóm người cần có phương pháp quản lý khác nhau Với đội ngũ cán bộ công nhân viên hùng hậu như vậy, lãnh đạo Công ty cần tìm một phương pháp hữu hiệu nhất sao cho thu hút được sự cố gắng, đồng tâm nhất trí trong hành động, làm việc hết sức mình vì mục đích chung Suy cho cùng thì nguồn lực con người
là quan trọng nhất, nó là nguồn lực của mọi nguồn lực Nếu Công ty có máy móc thiết bị tốt, công nghệ sản xuất hiện đại , phương án sản xuất tốt ưu mà không có đội ngũ cán bộ công nhân viên có trình độ, nhiệt huyết hăng say với công việc thì cũng không đạt hiệu quả cao trong hoạt động sản xuất kinh doanh Vì vậy cần phải có sự kết hợp đồng bộ giữa con người và các trang thiết bị.
4-/ Quy trình công nghệ và tổ chức sản xuất:
Hiện nay Công ty có 8 phân xưởng thuộc khối sản xuất chịu sự chỉ đạo của Phó giám đốc sản xuất bao gồm: phân xưởng khởi phẩm, phân xưởng cơ khí I, phân xưởng cơ khí II, phân xưởng dụng cụ, phân xưởng cơ điện, phân xưởng
mạ, phân xưởng nhiệt luyện và phân xưởng bao gói.
Toàn bộ quá trình tổ chức sản xuất của Công ty như sau:
Kho kim khíPX
Khởi phẩmTiêu thụ
Cơ khí I cơ khí II, dụng cụ cơ điện
Px nhiệt luyện
Px bao góiKho thành phẩmCác yếu tốđầu v o(NVL)à
Trang 9a Quy trình công nghệ sản xuất bàn ren :
Trang 10Máy phay vạn năng
Máy phay chuyên dùng
Trang 11Máy tiện tự độngNhiệt luyện
Tẩy rửa nhuộm đen
Máy cánMáy phay Lăn số
In số
Nhập khoChống gỉ
Trang 12e Quy trình công nghệ sản xuất lưỡi cưa máy:
Máy phay
Tẩy rửa
Nhập kho
Viết hoặc in sốMáy m i sà ắcMáym i phà ẳng 2
Trang 13g Quy trình công nghệ sản xuất thanh trượt :
Thép
Máy phay vạn năngMáy ép
Cắt đoạn (Máy dập 130 T)Dập móng (Máy dập 400 T)Nhập kho
Máy dập 130 tấn
Thép tấm
Máy khoan
Máy m i là ỗLắp ráp
M i là ưỡi
Nhập kho
Th nh phà ẩm
M i trònà
Trang 14Hiện nay Công ty đang quản lý và sử dụng nhiều quy trình công nghệ sản xuất khác nhau để sản xuất sản phẩm cung cấp cho thị trường Mỗi loại sản phẩm được sản xuất trên một dây chuyền công nghệ đặc thù, mỗi phân xưởng đảm nhận một hay nhiều công đoạn của quá trình sản xuất Như vậy, từ khi đưa nguyên vật liệu vào sản xuất cho đến khi tạo thành sản phẩm cuối cùng phải trải qua nhiều giai đoạn chế biến khác nhau, thành phẩm của phân xưởng này sẽ là bán thành phẩm của phân xưởng tiếp theo Điều này quy định việc tổ chức sản xuất phải nghiêm ngặt, đảm bảo sự liên thông giữa các phân xưởng được liên tục, thông tin qua lại rõ ràng, chính xác nhằm hạn chế đến mức tối thiểu khả năng sản xuất bị gián đoạn.
Sự phong phú, đa dạng của ssản phẩm cùng với quy trình sản xuất phức tạp đã gây nhiều khó khăn cho quá trình tổ chức quản lý Vì vậy, Công ty đã
Trang 15thành lập nên khối sản xuất gồm một Phó giám đốc điều hành chứ không chỉ đơn thuần là một phòng sản xuất như ở một số doanh nghiệp khác.
B Thực trạng cơ cấu bộ máy quản trị của Công ty.
I-/ BỘ MÁY QUẢN TRỊ
1-/ Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị của Công ty, số lượng các phòng ban chức năng.
Bộ máy quản trị của Công ty hiện nay được chia thành ba khối chính đó là: khối kỹ thuật, khối sản xuất và khối kinh doanh Mỗi khối do một Phó giám đốc phụ trách và chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Giám đốc Ngoàira, trong bộ máy quản lý còn có các phòng ban chức năng quan trọng khác như: phòng tàI
vụ, phòng kế hoạch -kinh doanh, phòng tổ chức cán bộ làm tham mưu cho Giám đốc và chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Giám đốc.
Trong các khối chính còn bao gồm nhiều phòng ban khác làm tham mưu cho ban giám đốc và chịu sự chỉ đạo của các Phó giám đốc theo các chức năng, các lĩnh vực hoạt động tương ứng (sơ đồ trang bên).
Hiện nay Công ty có số lượng các phòng ban chức năng và phân xưởng sản xuất như sau:
* Khối kỹ thuật: * Khối sản xuất:
- Phòng thiết kế – Phân xưởng khởi phẩm
- Phòng công nghệ – Phân xưởng cơ khí I.
- Phòng cơ điện – Phân xưởng dụng cụ.
- Phòng KCS – Phân xưởng cơ điện.
- Phòng thiết kế cơ bản – Phân xưởng mạ.
• Khối kinh doanh: - Phân xưởng nhiệt luyện.
- Phòng cung tiêu – Phân xưởng bao gói.
- Phòng hành chính quản trị – Phân xưởng cơ khí II.
Trang 16Sơ đồ tổ chức bộ máy quản trị của Công ty
Giám đốcPhòng cơ điện
Px dụng cụThư viện
Px cơ khí IPhòng công nghệ
Px khởi phẩmPhó giám đốc sxPhòng thiết kếPhó giám đốc kỹ thuật
Px cơ khí II
Px cơ điện
Px mạ
Px nhiệt luyệnCửa h ng già ới thiệu sản phẩm
Trạm biến thế
Px dụng cụPhòng thiết kế cơ bảnKho dụng cụ
Phòng cung tiêuKho cơ điện
Kho sử líKiểm tra thépNghiệm thu
Đo lườngPhó giám đốc kinh doanh
Phòng y tếPhòng h nh chính quà ản trị
Kế toán trưởngKho th nh phà ẩmKho kim khíKho dầu hoá chấtKho tạp phẩmPhòng t i và ụPhòng kế hoạch kinh doanhPhòng tổ chức cán bộPhòng bảo vệ
Trang 172-/ Mô hình bộ máy quản trị:
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị của Công ty là kiểu cơ cấu trực tuyến hay còn gọi là cơ cấu hỗn hợp Kiểu cơ cấu này là kết quả của sư kết hợp giữa cơ cấu trực tuyến và cơ cấu chức năng, nhằm phát huy tối đa mặt tích cực của hai