Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta có nhiều chính sách quan tâm cho người khuyết tật nói chung và người khiếm thị nói riêng như: Trợ cấp kinh phí hằng tháng, được miễn hoặc giảm một số khoản
Trang 1LUẬN V N T SĨ ÔN TÁ
N – 2018
Trang 2LUẬN V N T SĨ ÔN TÁ
N – 2018
Trang 3Em chân thành cảm ơn PGS.TS Trịnh Văn Tùng đã tận tình hỗ trợ và định
hướng nghiên cứu trong suốt quá trình em thực hiện đề tài
Em trân trọng cảm ơn!
Quảng Ninh, tháng 4 năm 2019
Học viên
Nguyễn Hồng Minh
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
NVCTXH Nhân viên Công tác xã hội
Ngân hàng NN và PTNT Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 2
MỞ ĐẦU 5
1 Tính cấp thiết của đề tài 5
2 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 7
2.1 Ý nghĩa khoa học 7
2.2 Ý nghĩa thực tiễn 7
3 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 8
3.1 Đối tượng 8
3.2 Khách thể 8
3.3 Phạm vi nghiên cứu 9
4 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 9
4.1 Mục đích nghiên cứu 9
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 9
5 Câu hỏi và giải thuyết nghiên cứu 9
5.1 Câu hỏi nghiên cứu 9
5.2 Giả thuyết nghiên cứu 10
6 Phương pháp nghiên cứu, thực hành 10
6.1 Phương pháp nghiên cứu 10
6.1.1 Phương pháp phân tích tài liệu 10
6.1.2 Phương pháp phỏng vấn sâu 10
6.1.3 Phương pháp quan sát 10
6.2 Phương pháp thực hành công tác xã hội 11
7 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 13
8 Cấu trúc của luận văn 20
Chương 1CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI……… ………21
1.1 Khái niệm công cụ 21
1.2 Các lý thuyết áp dụng 24
Trang 61.3 Quan điểm của Đảng, nhà nước trong việc nâng cao sự tự tin, hòa nhập
cộng đồng cho người khiếm thị 30
1.4 Một số đặc điểm của người khiếm thị 31
1.4.1 Đặc điểm tâm sinh lý của người khiếm thị 31
1.4.2 Khả năng của người khiếm thị 32
1.4.3 Nhu cầu của người khiếm thị 33
1.5 Tổng quan đời sống của người khiếm thị thôn Đông Trung, Xã Đông Xá, huyện Vân Đồn 34
1.6 Một số kỹ năng Công tác xã hội được ứng dụng 40
Tiểu kết chương 1 46
Chương 2: HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC TỪ CỘNG ĐỒNG TRỢ GIÚP THÂN CHỦ KHIẾM THỊ HỌC TẬP SỬ DỤNG MÁY VI TÍNH 47
2.1 Các nguồn lực tại cộng đồng trợ giúp người khiếm thị học tập sử dụng máy vi tính 47
2.1.1 Nguồn lực từ chính bản thân người khiếm thị 47
2.1.2 Nguồn lực từ gia đình người khiếm thị 49
2.1.4 Cộng đồng 50
2.1.5 Bạn bè 50
2.1.6 Nguồn lực từ chính quyền địa phương 51
2.2 Cách thức vận động nguồn lực trợ giúp thân chủ 53
2.2.1 Lên kế hoạch trợ giúp 53
2.2.2 Quản lý nguồn lực 59
2.2.3 Sử dụng nguồn lực 59
2.2.4 Hỗ trợ sau đào tạo 60
2.3 Kết quả đạt được và bài học kinh nghiệm 61
Tiểu kết chương 2 62
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 63
Kết luận 63
Kiến nghị 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Công tác xã hội là một lĩnh vực còn mới mẻ trong xã hội Việt Nam CTXH
đã được Nhà Nước công nhận là một nghề và có những định hướng phát triển nhất định từ sau Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg ngày 25/3/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển nghề Công tác xã hội giai đoạn 2010-
2020 Sau khi Đề án được phê duyệt, các hoạt động công tác xã hội đã được các
cơ quan cũng như các tổ chức xã hội quan tâm thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, góp một phần hỗ trợ các đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương giải quyết khó khăn và hòa nhập với cuộc sống của cộng đồng Người khuyết tật là một trong những đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương, họ luôn cần sự trợ giúp của gia đình, sự chung tay của xã hội Người khuyết tật được phân chia thành nhiều nhóm khuyết tật khác nhau, trong đó có nhóm khuyết tật nhìn, được gọi là người khiếm thị, họ là những người bị suy giảm hoặc thị giác không hoạt động được, thị lực của họ chỉ còn một phần hoặc mù hoàn toàn Từ đó, người khiếm thị gặp rất nhiều khó khăn, rào cản trong cuộc sống hằng ngày… Họ là những người gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống hằng ngày, tương lai, bản thân họ cần được quan tâm về các vấn đề: vật chất, tinh thần, tâm lý…họ cần được sự hỗ trợ
và giải quyết các khó khăn trong cuộc sống, đặc biệt là vấn đề việc làm để có thể
tự nuôi sống bản thân
Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta có nhiều chính sách quan tâm cho người khuyết tật nói chung và người khiếm thị nói riêng như: Trợ cấp kinh phí hằng tháng, được miễn hoặc giảm một số khoản đóng góp cho các hoạt động xã hội, được chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, học văn hóa, học nghề, việc làm, trợ giúp pháp lý, tiếp cận công trình công cộng, phương tiện giao thông, công nghệ thông tin, dịch vụ văn hóa, thể thao, du lịch và dịch vụ khác phù hợp với dạng tật và mức độ khuyết tật… để người khiếm thị được hưởng các chính sách của nhà nước và việc hòa nhập cộng đồng được hiệu quả thì vai trò của nhân viên công tác xã hội đóng vai trò quan trọng
Trang 8Hiện nay, số người khiếm thị trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh là trên 1000
người - Báo cáo Đại hội đại biểu Hội người mù tỉnh Quảng Ninh lần thứ VII,
nhiệm kỳ 2017-2022, trên địa bàn xã Đông Xá là 15 người - Báo cáo Đại hội đại biểu Hội người mù huyện Vân Đồn lần thứ I, nhiệm kỳ 2017-2022 Mặc dù Đảng
và Nhà nước đã có nhiều chính sách để giải quyết, trợ giúp nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho người khiếm thị nhưng vẫn còn không ít người khiếm thị vẫn đang rất khó khăn về vật chất cũng như tinh thần cần tới sự trợ giúp, quan tâm từ xã hội Những chính sách hiện nay đang thực hiện là rất cần thiết và góp phần quan trọng vào giải quyết khó khăn cho người khiếm thị Nhưng để giải quyết các khó khăn mà người khiếm thị đang gặp phải một các bền vững thì chính bản thân những người khiếm thị phải tự mình vươn lên, vượt qua các rào cản về tâm lý để hòa nhập cùng cộng đồng với sự trợ giúp từ cộng đồng để cùng giải quyết các nhu cầu chính đáng của ban thân
Thôn Đông Trung, xã Đông Xá, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh là thôn có nhiều người khiếm thị so với các thôn khác trên toàn xã Được sự quan tâm của cấp ủy, chính quyền địa phương về mọi mặt, trong đó có công tác đào tạo nghề cho người khiếm thị, tuy nhiên kết quả đạt được vẫn còn hạn chế, chủ yếu mới chỉ tập trung vào các việc cụ thể như đào tạo nghề cạo phoi tre, massage Hiện nay, dưới sự phát triển của khoa học kỹ thuật, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong cuộc sống đã mang lại những thành tựu to lớn Sự phát triển của công nghệ thông tin, cụ thể là máy vi tính và mạng internet sẽ mở ra những cơ hội lớn cho người khiếm thị nói riêng và người khuyết tật nói chung, họ có thể có cơ hội được thực hiện các chức năng của mình thông qua việc tiếp cận, học hỏi và sử dụng được các tiến bộ của khoa học – công nghê đó Tuy nhiên, hiện nay ở huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh chưa có lớp đào tạo kỹ năng sử dụng máy vi tính cho người khuyết tật nói chung và người khiếm thị nói riêng
Hơn thế nữa, vai trò của nhân viên công tác xã hội ngày càng được chú trọng trong nhiều vấn đề, nhiều nhóm đối tượng Một trong những đối tượng mà vai trò của công tác xã hội đã, đang và sẽ tiếp tục được đẩy mạnh đó là hỗ trợ và giải quyết các khó khăn trong cuộc sống cho người khiếm thị
Trang 9Từ những lý do trên tác giả luận văn đã chọn đề tài: “Vận động nguồn lực
cộng đồng nhằm hỗ trợ đào tạo kỹ năng sử dụng máy vi tính cho người khiếm thị (Nghiên cứu can thiệp trường hợp Thôn Đông Trung, xã Đông Xá, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh)” Với hy vọng có thể vận động các nguồn lực từ
cộng đồng để hỗ trợ đào tạo kỹ năng sử dụng máy vi tính cho người khiếm thị ở địa phương
2 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
2.1 Ý nghĩa khoa học
Luận văn làm rõ một số khái niệm công cụ như: vận động nguồn lực cộng đồng, hỗ trợ đào tạo kỹ năng sử dụng máy tính và vai trò vận động của nhân viên công tác xã hội
Trong luận văn, đã áp dụng những kiến thức, kỹ năng công tác xã hội để vận động nguồn lực nhằm hỗ trợ đào tạo kỹ năng sử dụng vi tính cho người khiếm thị Từ đó, kiểm chứng tính ứng dụng của phương pháp công tác xã hội cá nhân
và một số lý thuyết áp dụng trong phương pháp công tác xã hội bao gồm: lý thuyết hệ thống sinh thái (Pincus và Minahan), thuyết nhu cầu (Maslow) trong thực tế, mô hình dựa vào cộng đồng, đồng thời củng cố sâu sắc hơn những lý thuyết, kỹ năng công tác xã hội đã được học vào thực tiễn cũng như trong công việc hiện tại
Thông qua thực hiện luận văn tốt nghiệp theo hướng thực hành trong công tác xã hội cũng góp phần bổ sung về mặt lý luận cho những nghiên cứu công tác
xã hội về việc nâng cao sự tự tin, hòa nhập cộng đồng và cải thiện thêm cuộc sống cho người khiếm thị
2.2 Ý nghĩa thực tiễn
Trước tiên nghiên cứu giúp có điều kiện tìm hiểu sâu về người khiếm thị, những khó khăn trở ngại và những nhu cầu thiết yếu của người khuyết tật nói chung trên địa bàn huyện và người khiếm thị nói riêng trên địa bàn thôn Đông Trung, xã Đông Xá, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh
Nghiên cứu thực trạng hoạt động trợ giúp người khuyết tật tiếp cận và học tập máy vi tính, từ đó giúp cho địa phương có những chính sách phù hợp với
Trang 10nhu cầu, đặc điểm của người khiếm thị và huy động tối đa mọi nguồn lực để trợ giúp cho người khiếm thị
Đối với người khiếm thị: Nghiên cứu góp phần giúp người khiếm thị có được những điều kiện tốt nhất để ổn định tâm lý, tự tin, kết nối nguồn lực để hòa nhập cộng đồng và cải thiện chất lượng cuộc sống hiện tại và tương lai
Đối với Hội người mù huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh: Nghiên cứu chỉ ra vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc trợ giúp cho người khiếm thị hòa nhập cộng đồng Từ đó, thấy rõ tầm quan trọng của nhân viên công tác xã hội trong việc phối hợp trợ giúp người khiếm thị
Gia đình người khiếm thị: gia đình có cơ hội để tạo điều kiện cho người thân của mình được tham gia học tập kỹ năng sử dụng máy vi tính nói riêng và tham gia các hoạt động xã hội khác nói chung khi có điều kiện
Cộng đồng: Giúp người dân ở địa bàn nghiên cứu hiểu, thông cảm và chia sẻ hơn với người khiếm thị trong cuộc sống hằng ngày từ đó có những hỗ trợ cần thiết cho người khiếm thị khi có điều kiện
Công tác đào tạo: Quan tâm hơn nữa việc đào tạo nghề nghiệp, học tập cho đối tượng là người khiếm thị phù hợp với thực tế và phù hợp với nhu cầu cuộc sống hiện tại và tương lai
3 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng
Vận động nguồn lực cộng đồng nhằm hỗ trợ đào tạo kỹ năng sử dụng máy vi tính cho người khiếm thị
3.2 Khách thể
Người khiếm thị tại thôn Đông Trung (04 người);
Lãnh đạo Hội nguời mù huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh (03 người: 01 Chủ tịch Hội người mù, 01 Phó Chủ tịch Hội người mù, 01 ủy viên Hội người mù);
Người sáng giúp việc cho Ban lãnh đạo Hội nguời mù huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh (01 người);
Đại diện chính quyền địa phương;
Trang 11Gia đình của người khiếm thị
4 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu nhu cầu của cá nhân người khiếm thị trong việc sử dụng máy vi tính để làm việc và nhu cầu của hội người mù, của xã hội trong việc tìm kiếm người có thể sử dụng máy vi tính để làm việc Từ đó vận động nguồn lực để trợ
giúp cá nhân thân chủ trong học tập sử dụng máy vi tính, hỗ trợ công việc
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Xây dựng cơ sở lý luận, nghiên cứu về vận động nguồn lực cộng đồng nhằm
hỗ trợ đào tạo kỹ năng sử dụng máy vi tính cho người khiếm thị;
Đánh giá và phân tích đời sống của người khuyết tật nói chung và của người khiếm thị nói riêng tại thôn Đông Trung;
Đánh giá và phân tích nhu cầu được hỗ trợ của người khiếm thị trong học tập sử dụng máy vi tính;
Đánh giá và phân tích vận động nguồn lực cộng đồng để hỗ trợ người khiếm thị ở thôn Đông Trung học tập sử dụng máy vi tính
5 Câu hỏi và giải thuyết nghiên cứu
5.1 Câu hỏi nghiên cứu
Thực trạng đời sống của người khiếm thị tại thôn Đông Trung như thế nào? Nhu cầu học tập máy vi tính để tìm kiếm việc làm ra sao?
Cộng đồng thôn Đông Trung có những nguồn lực gì để hỗ trợ người khiếm thị học tập sử dụng máy vi tính và cách thức để vận động nguồn lực từ cộng đồng để hỗ trợ người khiếm thị sử dụng máy vi tính như thế nào?
Trang 125.2 Giả thuyết nghiên cứu
Đời sống của người khiếm thị tại thôn Đông Trung gặp nhiều khó khăn và
họ có nhu cầu học tập máy vi tính để tìm kiếm việc làm nuôi sống bản thân và đóng góp cho xã hội
Cộng đồng thôn Đông Trung có nhiều nguồn lực như gia đình, bạn bè, làng xóm, các tổ chức xã hội… có thể trợ giúp người khiếm thị học tập máy vi tính,
và cần phải huy động toàn diện các nguồn lực để giúp đỡ họ
6 Phương pháp nghiên cứu, thực hành
6.1 Phương pháp nghiên cứu
6.1.1 Phương pháp phân tích tài liệu
Phân tích tổng hợp các tài liệu có liên quan đến Hội người mù của huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh và các tài liệu khác có liên quan
Những tài liệu này là do Hội cung cấp và thông qua phỏng vấn sâu: Chủ tịch Hội người mù huyện Vân Đồn và người sáng giúp việc cho Hội người mù huyện
Vân Đồn
6.1.2 Phương pháp phỏng vấn sâu
Phương pháp thu thập thông tin bằng cách hỏi và trả lời trực tiếp giữa nhân viên Công tác xã hội với cán bộ quản lý, các hội viên trong Hội, thân chủ, gia đình thân chủ nhằm mục đích tìm hiểu rõ hơn về nhu cầu được đào tạo kỹ năng
sử dụng vi tính từ đó đưa ra được mô hình can thiệp nhằm huy động nguồn lực
hỗ trợ, trợ giúp cho thân chủ
Tuy nhiên trong nội dung đề tài, tập trung phỏng vấn Chủ tịch Hội người mù
huyện và người sáng giúp việc cho Hội người mù huyện Vân Đồn
Trang 136.2 Phương pháp thực hành công tác xã hội
Phương pháp can thiệp được sử dụng là phương pháp công tác xã hội với
cá nhân Trong tiến trình thực hiện, nhân viên công tác xã hội sẽ sủ dụng các kỹ năng đánh giá nguồn lực và huy động các nguồn lực để trợ giúp một cá nhân thân chủ bị khiếm thị tham gia vào học tập sử dụng máy vi tính, nâng cao kỹ năng lao động để tiếp cận việc làm Phương pháp công tác xã hội cá nhân được
sử dụng với 7 bước can thiệp Trong quá trình can thiệp, ở bước kế hoạch, nhân viên CTXH sử dụng kỹ năng đánh giá nguồn lực và huy động nguồn lực trợ giúp thành công thân chủ trong việc học tập kỹ năng sử dụng máy vi tính nâng cao cơ hội việc làm Mục đích cuối cùng là đáp ứng nhu cầu làm việc nuôi sống bản thân của thân chủ và đáp ứng yêu cầu của Hội người mù trong tìm kiếm nhân viên biết sử dụng máy vi tính để làm công tác cho Hội (Bùi Thị Xuân Mai, Nguyễn Thị Thái Lan, 2011)
5 Kế hoạch trị liệu 4.Chẩn đoán
Các kỹ năng: Giao tiếp, quan sát, lắng nghe, vấn đàm, vãng gia, tham vấn
Quá trình sử dụng phương pháp này không chỉ là tương tác giữa NVCTXH với thân chủ mà còn sử dụng trong tương tác với gia đình, với người thân, hàng xóm, cán bộ địa phương nơi ở của thân chủ
Việc xác định chuẩn xác, đúng về con người thân chủ là một yếu tố quan trọng giúp cho quá trình thực hiện can thiệp, hỗ trợ thân chủ đúng hướng, đạt kết
Trang 14quả tối ưu Do vậy, nhân viên CTXH đề ra nhiệm vụ, mục tiêu và xây dựng phương pháp thực hiện như sau:
Phương pháp, kỹ nãng,
công cụ
1 Tiếp cận TC Xây dựng được mối quan hệ
với TC, TC cởi mở khi gặp
gỡ, tiếp xúc; TC chấp nhận mình
- Giao tiếp, lắng nghe, đặt câu hỏi; quan sát, thiết lập mối quan hệ
- Nêu rõ mục đích, nguyên tắc của quá trình can thiệp
2 Thu thập thông
tin, phân tích và
xử lý thông tin
- Thông tin nhân khẩu
- Trạng thái sức khỏe, tinh thần, tâm lý, sở thích, thói quen, công việc của TC
- Thông tin về gia đình
- Các quan hệ xã hội của TC
- Thông tin về vấn đề gây tổn thương TC
- Trò chuyện, đặt câu hỏi, quan sát, lắng nghe, vãng gia, ghi nhật ký
- Làm việc trực tiếp với TC
- Khai thác qua người thân, hàng xóm, đồng nghiệp, bạn bè
- Tiếp cận với người chồng
- Kết hợp cung cấp thông tin
về BLGĐ (vừa giúp TC hiểu thêm về vấn đề, vừa xác định quan điểm, thái độ của TC trước vấn đề)
- Phân tích, xử lý thông tin
- Thống nhất với TC
Trang 15và NVXH, TC tự khẳng định vấn đề)?
- Trong quá khứ, TC đã làm
gì để giải quyết vấn đề đó?
- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến vấn đề của TC và mức độ ảnh hưởng
- Làm việc trực tiếp với TC, gia đình, hàng xóm, tổ dân phố, tổ chức công đoàn cơ sở
- Liệt kê, phân tích
- Phân tích, xử lý thông tin
- Viết báo cáo
7 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Xã hội hiện nay ngày càng phát triển, quyền con người ngày càng được quan tâm, đi cùng với nó là các nhu cầu của con người và đặc biệt là quyền con người cần được đảm bảo thực hiện đầy đủ để phù hợp với sự phát triển tiến bộ và công bằng xã hội Chính sách phát triển kinh tế đi đôi với đảm bảo an sinh xã hội đang được Đảng và Nhà nước quan tâm hơn bao giờ hết, sự đảm bảo về mức độ bao phủ của hệ thống an sinh xã hội lên mọi cá nhân trong xã hội luôn được coi trọng và thể chế hóa trong các văn bản luật pháp cụ thể, đặc biệt là các chính sách hỗ trợ đối với các nhóm người yếu thế trong xã hội nhằm đảm bảo sự đối
xử công bằng và cơ hội bình đẳng ngang nhau Tuy nhiên hiện nay hiệu quả của việc thực hiện các văn bản pháp luật hỗ trợ đảm bảo an sinh xã hội do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn tới việc một số người khi hưởng các quyền lợi đã được quy định còn có những hạn chế nhất định Cộng đồng người khuyết tật nói chung và người khiếm thị nói riêng hiện nay gặp vô vàn những khó khăn trong cuộc sống, họ bị mất đi nhiều cơ hội để hòa nhập phát triển trong
đó có việc họ ít có cơ hội tiếp cận các công trình công cộng do mang trong mình
Trang 16những khiếm khuyết cơ thể, cộng với sự hỗ trợ hạn chế từ cộng đồng và gia đình, những rào cản mà người khiếm thị gặp phải từ môi trường xã hội là rất nhiều và chúng ta có thể nhìn thấy rất rõ Đã có rất nhiều những nghiên cứu khoa học xã hội liên quan đến người khuyết tật nói chung như: Nghiên cứu về tâm sinh lý của người khuyết tật; Nghiên cứu về quy mô sự tăng giảm về số lượng người khuyết tật qua các giai đoạn các thời kỳ cụ thể; Sự phân bố địa vực của người khuyết tật; Sự tiếp cận các công trình giao thông, y tế, trường học, bệnh viện; các nghiên cứu về đánh giá xác định các dạng tật, phân loại khuyết tật, nghiên cứu về việc thực thi chính sách pháp luật về NKT…nhằm giúp người khuyết tật có thể hòa nhập xã hội tốt hơn
7.1 Các nghiên cứu nước ngoài
Nghiên cứu nước ngoài “Disability and social inclusion in Ireland, Brenda Gannon and Brian Nolan, 2011” (Khuyết tật và hòa nhập xã hội ở Ireland, Brenda Gannon and Brian Nolan, 2011) Nghiên cứu xem xét NKT có hoàn cảnh khó khăn hòa nhập xã hội, trong đó nghiên cứu: thu nhập, trình độ học vấn, kinh tế, và tham gia xã hội và đồng thời chỉ ra rằng yếu tố mặc cảm tự ti là một trong những yếu tố cản trợ NKT tham gia hòa nhập xã hội và 6 cuộc sống hàng ngày Báo cáo này nêu lên sự khác biệt giữa NKT và không khuyết tật trong việc tham gia hòa nhập cộng đồng Thông qua việc thống kê các số liệu thu thập được để đánh giá mức độ đói nghèo, sự tham gia giáo dục của NKT Đồng thời tìm hiểu thêm mức độ ảnh hưởng của NKT đến cuộc sống hàng ngày và tới những người khác Báo cáo cũng nhấn mạnh đến yếu tố khuyết tật có ảnh hưởng lớn đến đời sống của NKT, thiết kế nơi làm việc không phù hợp với các dạng tật, sự kỳ thị của cộng đồng và việc tiếp cận giao thông đi lại còn khó khăn Nghiên cứu nước ngoài “The National Disability Strategy report, Council of Australian Gorvement 2012” (Báo cáo chiến lược Quốc Gia về NKT, Hội đồng chính phủ Úc, 2012) Chiến lược NKT quốc gia đã đưa ra bản kế hoạch mười năm để cải thiện cuộc sống cho NKT Úc Kế hoạch này sử dụng sự đồng bộ và thống nhất của tất cả các ban ngành địa phương về chính sách và chương trình qua đó cho phép NKT thực hiện đầy đủ các chức năng, tiềm năng của họ như
Trang 17những công dân khác Chiến lược này đóng góp một vai trò không nhỏ trong việc bảo vệ, thúc đẩy quyền lợi cho NKT, từ đó đảm bảo các chính sách mà NKT và gia đình họ được hưởng Một trong sáu khía cạnh ưu tiên hành động giành cho NKT, gia đình và người chăm sóc họ có khía cạnh liên quan đến hỗ trợ cho NKT, đó là “NKT có thể được tiếp cận các công trình giao thông, công viên, các tòa nhà và nhà ở, thông tin kĩ thuật số và công nghệ truyền thông, đời sống dân sự , thể thao, giải trí văn hóa… “Thứ hai là Quan tâm đến hệ thống giáo dục dành cho NKT và khả năng tham gia học tập của NKT” Chiến lược này sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ bảo vệ, thúc đẩy và thực hiện các quyền con người của người khuyết tật Nó sẽ giúp đảm bảo rằng các nguyên tắc làm cơ sở Công ước được kết hợp vào các chính sách và chương trình ảnh hưởng tới người khuyết tật, gia đình và người chăm sóc họ Vì lợi ích của tất cả mọi người, các rào cản đối với những đóng góp có thể được thực hiện bởi những người có khuyết tật, gia đình và người chăm sóc cần được loại bỏ Chiến lược vượt ra ngoài hệ thống 7 chuyên gia hỗ trợ người khuyết tật được cung cấp bởi khối thịnh vượng chung, các quốc gia và vùng lãnh thổ theo Hiệp định người khuyết tật quốc gia (NDA) Dựa vào những luận điểm của hai công trình nghiên cứu báo cáo trên để phục vụ cho nghiên cứu khoa học của mình Hai công trình nghiên cứu khoa học nên trên đã tập trung rất nhiều vào khả năng hòa nhập xã hội của người khuyết tật, đưa ra những luận điểm về sự khó khăn mà NKT phải đối mặt trong cuộc sống Nhưng việc đưa ra các hướng hỗ trợ cụ thể cho người khuyết tật vận động tiếp cận các công trình cơ quan trụ sở làm việc công cộng như UBND và TYT thì chưa được đề cập mà chỉ nói về thực trạng khó khăn mà NKT gặp phải mà thôi
7.2 Các nghiên cứu trong nước
Báo cáo Quốc gia về thực hiện quyền con người ở Việt Nam theo cơ chế kiểm định kỳ phổ cập (UPR) chu kỳ II Báo cáo này được soạn thảo theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 60/251 ngày 15/3/2006 của Đại hội đồng Liên hợp quốc, Nghị quyết số 5/1 ngày 18/06/2007 và Quyết định số 17/119 ngày 19/6/2011 của Hội đồng Nhân quyền nhằm kiểm điểm tình hình thực hiện các quyền con người
Trang 18trên lãnh thổ Việt Nam Tại mục Người khuyết tật số thứ tự 66 ghi Việt Nam đã
ký Công ước về quyền của người khuyết tật năm 2008 và dự kiến hoàn thành thủ tục phê chuẩn trong năm 2014, cũng như đang nỗ lực xây dựng và hoàn thiện luật pháp, chính sách nhằm thúc đẩy quyền của người khuyết tật Trong lộ trình phê chuẩn Công ước về quyền của người khuyết tất, Việt Nam đã ban hành Luật
về người khuyết tật năm 2010 và xây dựng các văn bản thi hành Trong giai đoạn 2010-2013, đã có 13 văn bản dưới Luật được ban hành có liên quan tới người khuyết tật trong các lĩnh vực truyền thông, thể thao, du lịch, tiếp cận an sinh xã hội và thúc đẩy thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ Số 67 ghi chính sách chung của Nhà nước là khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho người khuyết tật thực hiện bình đẳng về các quyền về 8 chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và phát huy khả năng của họ để ổn định đời sống, hoà nhập cộng đồng, tham gia các hoạt động xã hội Người khuyết tật được Nhà nước và xã hội trợ giúp chăm sóc sức khoẻ, phục hồi chức năng, tạo việc làm phù hợp và được hưởng các quyền khác theo quy định của pháp luật Số 68 ghi Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án Trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2012 – 2020 nhằm đẩy mạnh thực hiện các chính sách trợ giúp người khuyết tật theo quy định của Luật Người khuyết tật, đồng thời thực hiện cam kết của Chính phủ Việt Nam về 7 lĩnh vực
ưu tiên trong Thập kỷ thứ II Thiên niên kỷ Biwako về người khuyết tật khu vực châu Á - Thái Bình Dương Đề án chia làm 2 giai đoạn với những chỉ tiêu cụ thể nhằm thúc đẩy sự hòa nhập của người khuyết tật trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, lao động, xây dựng, giao thông, công nghệ thông tin, văn hóa, thể thao, pháp lý… Bên cạnh đó, Chính phủ cũng triển khai một loạt các chính sách trợ giúp người khuyết tật như đề án trợ giúp phục hồi chức năng cho người tâm thần; tham gia và thực hiện các sáng kiến của quốc tế và khu vực; tăng cường sự tham gia của người khuyết tật và bảo vệ quyền của người khuyết tật; hỗ trợ thành lập các tổ chức tự lực của người khuyết tật; trợ giúp đào tạo nghề và tạo việc làm; cải thiện khả năng tiếp cận và sử dụng các công trình văn hoá, công cộng và các dịch vụ xã hội cơ bản khác của người khuyết tật Trong báo cáo này
có quy định và luận điểm liên quan đến việc hỗ trợ cải thiện khả năng tiếp cận
Trang 19và sử dụng các công trình văn hoá, công cộng và các dịch vụ xã hội cơ bản khác của người khuyết tật nói chung, sự hỗ trợ người khuyết tật vận động tiếp cận các công trình trụ sở làm việc có nằm trong hạng mục người khuyết tật Nghiên cứu này sẽ cụ thể hơn những cách hỗ trợ NKT VĐ tiếp cận các công trình công cộng
là UBND và TYT Nghiên cứu của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội với đề tài: “Vai trò của tổ chức người tàn tật trong việc xây dựng các chính sách, chương trình quốc gia về về dạy nghề và việc làm cho người khuyết tật của bộ thương binh lao động và xã hội” Nghiên cứu này cũng nói đến việc xây dựng và thực hiện 9 các chính sách cho người khuyết tật để họ được đáp ứng nhu cầu việc làm của mình, họ được tư vấn hỗ trợ dạy nghề, qua đây người khuyết tật biết được những nơi có thể nhận mình vào làm việc, để có thể có một công việc phù hợp với bản thân, tuy nhiên hai đề tài nêu trên nội dung chủ yếu là định hướng và giải quyết nhu cầu việc làm cho NKT, mà chưa hề đề cập đến nhu cầu tiếp cận của NKT vận động với các công trình công cộng Nghiên cứu hòa nhập
xã hội: “Giảm thiểu sự kì thị và phân biệt đối sử với NKT Việt Nam” - Viện ngiên cứu phát triển xã hội, Ban Tuyên Giáo Trung ương và Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam, 2010 Nghiên cứu này chỉ ra rằng có 14 khó khăn mà NKT đang gặp phải trong đó có khó khăn trong việc tiếp cận các công trình công cộng Nghiên cứu khoa học: “Mặc cảm tự ti của NKT trong quá trình hòa nhập xã hội” - Đinh Thị Thủy, 2013 Nghiên cứu đánh giá những yếu tố tác động ảnh hưởng của mặc cảm tự ti đến cuộc sống của NKT VĐ và làm rõ vai trò hoạt động hỗ trợ can thiệp của cán bộ địa phương đối với NKT VĐ có mặc cảm tự ti Nghiên cứu khoa học: “Biện hộ thực hiện chính sách xây dựng công trình công cộng phù hợp với người khuyết tật vận động dựa vào cộng đồng, nghiên cứu tại hai trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn và trường đại học Khoa học tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội” 2014 Công trình đẩy mạnh các hoạt động biện hộ thực hiện chính sách xây dựng công trình công cộng phù hợp với người khuyết tật vận động dựa vào cộng đồng và được nghiên cứu tại trường học, đối tượng người khuyết tật chủ yếu là sinh viên, đề tài này có nhiều luận điểm phù hợp để
áp dụng vào công trình nghiên cứu đi sau là hỗ trợ người khuyết tật vận động
Trang 20tiếp cận sử dụng các công trình công cộng cụ thể là cơ quan, công trình trụ sở làm việc, công trình cũng bổ sung và làm rõ sự hỗ trợ về biện hộ thực hiện chính sách xây dựng công trình công cộng phù hợp với người khuyết tật vận động 10 Theo Dantri.com về chương trình người khuyết tật tiếp cận các công trình công cộng thì phần lớn các công trình đang xây dựng và sử dụng đều thiếu phương tiện và trang thiết bị cũng như các giải pháp thiết kế tiếp cận sử dụng đối với người khuyết tật, là rào cản hạn chế người khuyết tật hòa nhập cộng đồng, phát huy năng lực, đóng góp cho xã hội Hiện nay các công trình công cộng ở nước ta mới chỉ đáp ứng một phần nào các công cụ để hỗ trợ người khuyết tật tiếp cận, nói chung người khuyết tật còn rất nhiều khó khăn rào cản để tiếp cận sử dụng các công trình công cộng một cách đầy đủ và đúng nghĩa hòa nhập xã hội Hoạt động hỗ trợ trong công tác xã hội được ví là xương sống trong công tác xã hội đối với tất cả mọi hoạt động trợ giúp đối tượng, đối với đối tượng người khuyết tật vận động và sự hỗ trợ tiếp cận sử dụng các công trình công cộng liên quan lại
ít được nghiên cứu và đề cập Nghiên cứu xin được chỉ ra thực trạng các công trình công cộng UBND, TYT tại địa bàn đáp ứng việc sử dụng cho NKT VĐ như thế nào cũng như thực trạng và nhu cầu tiếp cận sử dụng của người khuyết tật vận động tại đây đối với các hạng mục công trình công cộng này, các cơ quan
tổ chức liên quan đến hỗ trợ vận động chính sách, hỗ trợ tư vấn pháp lý để người khuyết tật có cơ hội nói lên nguyện vọng sử dụng và được đáp ứng phù hợp với quyền lợi tiếp cận sử dụng ngang bằng với những người không khuyết tật Đề tài cũng nghiên cứu cách hỗ trợ phù hợp, đánh giá thực tiễn tại địa vực nghiên cứu
và các chính sách pháp luật liên quan đến người khuyết tật
Người khuyết tật luôn nhận được sự quan tâm từ Đảng, Nhà nước và toàn xã hội Đã có những nghiên cứu khoa học, những công trình, dự án dành cho người khuyết tật nói chung và người khiếm thị nói riêng ngày càng nhiều như: Việc làm, hội nhập xã hội, hôn nhân gia đình… Một trong những đối tượng, dạng tật được xã hội quan tâm hiện nay đó là người khiếm thị (người mù)
- “Nghiên cứu mô hình gậy có gắn đèn và âm thanh dành cho người khiếm
thị” của Bốn sinh viên đang học năm 4 Khoa Giáo dục đặc biệt, Trường ĐH Sư
Trang 21phạm TP HCM), trong đó có 3 khiếm thị, được tặng giải thưởng “Tài năng khoa học trẻ Việt Nam” và xứng đáng đoạt giải nhất (Bùi Văn Lâm, 2016)
Cả nhóm đã nghiên cứu, thăm dò thông tin từ các trường khiếm thị như Trường Phổ thông đặc biệt Nguyễn Đình Chiểu, Trung tâm Bảo trợ khiếm thị Nhật Hồng và nhận được yêu cầu cần một cây gậy có khả năng phát ra âm thanh
để cảnh báo mọi người xung quanh, đồng thời phải có khả năng phát ra ánh đèn
để cảnh báo khi đi trong đêm tối
Mục đích của nghiên cứu này là giúp người khiếm thị tự tin, an tâm khi đi đường
- Đề tài nghiên cứu khoa học mang đầy tính nhân văn: Căn hộ cho người
khiếm thị: “Căn hộ hòa nhập” do ba Sinh viên Trần Thị Minh Tâm, Nguyễn
Thị Bích Ngọc và Lê Nguyễn Bảo Trọng thực hiện dưới sự hướng dẫn của giảng viên Trần Đình Nam vừa đoạt giải nhất Sinh viên nghiên cứu khoa học năm
2004 của Trường Đại học Kiến trúc TP.HCM
Nhóm Sinh viên đã thiết kế căn hộ hòa nhập dựa trên các nghiên cứu tỉ mỉ
về mặt bằng, ánh sáng, màu sắc và vật liệu để tạo dựng một căn hộ thuận tiện cho người khiếm thị khi sử dụng sinh hoạt, giao tiếp với cộng đồng, phù hợp với việc phát triển của các chung cư trong tình hình hiện nay
Báo cáo “Một vài suy nghĩ về công tác xã hội người khuyết tật” của Th.s
Phạm Thị Xuân - Trường Đại học Lao động xã hội tại ngày hội công tác xã hội Quốc tế lần thứ XI Báo cáo tập trung vào những vấn đề:
Một số vấn đề chung về người khuyết tật (cách gọi về người khuyết tật, số lượng người khuyết tật, nguyên nhân khuyết tật)
Những khó khăn/thách thức với người khuyết tật và gia đình người khuyết tật (sự kỳ thị và phân biệt đối xử, người khuyết tật ít có cơ hội tiếp cận học hành, học nghề; trong tình yêu đôi lứa và hôn nhân gia đình; khó khăn với gia đình có người khuyết tật)
Công tác chăm sóc và cung cấp các dịch vụ cho người khuyết tật và gia đình
có người khuyết tật (hỗ trợ về tinh thần, tâm lý cho người khuyết tật; phục hồi
Trang 22thể chất, giải quyết vấn đề việc làm, dạy nghề, nâng cao năng lực cho người khuyết tật; phát huy khả năng của người khuyết tật; tổ chức hoạt động giao lưu)
Nghiên cứu “Mô hình người khuyết tật Việt Nam và kết quả bước đầu
của công trình phục hồi chức năng dựa vào gia đình và cộng đồng” của Bác
sỹ Trần Trọng Hải
Nhìn chung, các báo cáo, nghiên cứu phần lớn tập trung nghiên cứu vào những vấn đề chung của người khiếm thị, chủ yếu là tập trung vào các nghiên cứu về việc phục vụ cho sinh hoạt, cuộc sống hàng ngày cho người khiếm thị nhằm mục đích giúp người khiếm thị tự tin hòa nhập cộng đồng và nâng cao chất lượng cuộc sống cho họ
8 Cấu trúc của luận văn
- Phần mở đầu
- Phần nội dung nghiên cứu gồm 2 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2: Huy động nguồn lực từ cộng đồng trợ giúp thân chủ khiếm thị học tập sử dụng máy vi tính
- Phần kết luận và kiến nghị
Danh mục tài liệu tham khảo
Trang 23Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Khái niệm công cụ
Người mù
Trước hết, người mù hay chính xác hơn là người mù mắt là người do tổn thương thị giác không còn nhìn thấy ánh sáng đối với cả hai mắt (thị lực bằng không) Miền nam gọi là đui đây là những người mù hoàn toàn hay còn gọi là
mù tuyệt đối Tuy nhiên ở nhiều nước, theo định nghĩa pháp lý chính thức, người ta cũng coi như là mù những người mù thị lực trung tâm (nhìn thẳng giữa mắt) đối với con mắt nhìn rõ trong hai con sau khi đã tu chỉnh (correction) dưới 1/20 với thị lực này, người mù không thể phân biệt các ngón tay đối với một bàn tay để trước mắt cách khoảng 50 cm Người mù chỉ phân biệt được một cách lờ
mờ ánh sáng lọt qua các cửa sổ một gian phòng Muốn đi lại người mù không thể dùng mắt mà phải quờ quạng, muốn tìm các đồ vật trong phòng phải sờ soạng tất nhiên không thể nhìn rõ nét mặt của người, không đọc được chữ thường trong sách Cũng có nước như nước Ý chẳng hạn, người ta còn mở rộng định nghĩa mù ra đến những người có thị lực khá hơn trong hai mắt là 1/10 nhưng phần lớn đều theo tiêu chuẩn trên
Ở nước ta, chưa có định nghĩa chính thức về tiêu chuẩn mù Nhưng bản thân tiêu chuẩn giám định y khoa về các di chứng vết thương dẫn đến tổn thương cơ quan thị giác, có quy định xếp loại như sau:
- Chấn thương khoét bỏ hai nhãn cầu không lắp được mắt giả…… 97%
- Mù tuyệt đối hai mắt ( thị lực sáng tối âm tính) ……… … 91%
- Mù hai mắt thị lực từ sáng tối đến đếm ngón tay 3 cm ….81% đến 85%
Trang 24Quốc tế còn quy định những người kém mắt (người loà) là những người có thị lực đối với con mắt nhìn rõ hơn trong hai mắt dưới 4/20 Đối với những người này, với thị lực còn lại khó sử dụng trong học hành và hoạt động nghề nghiệp (tức là khó đọc và viết chữ thường mà không có dụng cụ trợ giúp)
Đối chiếu với bảng giám định y khoa của nước ta, những người kém mắt thuộc vào hai loại sau đây:
- Thị lực của mắt tốt hơn trong hai mắt từ 1/20 đến 1/10…….71 đến 75%
- Thị lực của mắt tốt hơn trong hai mắt từ 1/10 đến 2/10… 61 đến 70% Tiêu chuẩn mù trên đây không chỉ làm căn cứ cho các quốc gia thi hành các chính sách trợ giúp như: Giáo dục, việc làm, trợ cấp bù đắp….mà còn làm căn
cứ cho các Hội kết nạp hội viên Thông thường các Hội người mù chỉ kết nạp những người có thị lực dưới 1/20 ( tức 0,5 phần 10), còn các Hội người mù và Người kém mắt thì kết nạp những người có thị lực dưới 4/20 ( tức là dưới 2 phần 10)
Trung gian giữa hai loại mù và kém mắt nói trên, còn nhiều loại tổn thương hay rối loạn khác về mắt như: chột, lác (lé hiếng), thông manh ( hay quáng gà), loạn thị, cận thị, viễn thị….họ đều là những người hỏng mắt hay tàn tật về thị lực
Một điều cần nói là những người bị mù và kém mắt đều chỉ bị tổn thương ở mắt, tức là chỉ bị tổn thương về giác quan thị giác mà thôi, còn các giác quan khác như: Thính giác, súc giác, vị giác, khứu giác, thần kinh, trí tuệ, thể lực vẫn trong tình trạng bình thường
Đây là điểm quan trọng để nhận xét, đánh giá chính xác các ảnh hưởng của thiếu khả năng nhìn đối với người mù
Trong thực tế, tật mù có khi còn kèm theo những tàn tật khác Ví như: tổn thương về não, về nghe, về tay, chân……Cũng có khi do tổn thương về các bộ phận khác dẫn đến mù, thực chất mắt lại không bị tổn thương ở não dẫn đến bị
mù
Trang 25
Trong các trường hợp này, khi nhận xét, đánh giá, ta phải coi những người này như là những người đa tật (nhiều loại tàn tật khác nhau) trong đó có tật mù, có khi phải nhìn nguyên nhân tàn tật khác là chính, còn nguyên nhân mù là thứ yếu
Mù mắt là cái dễ nhìn thấy nhất, do đó, các khó khăn, trở ngại do các nguyên nhân tàn tật khác gây ra, người ta cũng dễ cho là tại tật mù, dẫn đến nhận xét, đánh giá thiếu khách quan, khoa học [23]
Người khiếm thị
Người khiếm thị là người sau khi được điều trị và /hoặc điều chỉnh khúc xạ
mà thị lực bên mắt tốt vẫn còn từ dưới 3/10 đến trên mức không nhận thức được sáng tối, và bệnh nhân vẫn còn khả năng tận dụng thị lực này để lên kế hoạch và thực thi các hoạt động hàng ngày.Trong ngôn ngữ thường ngày để nói tránh người ta gọi người mù là người khiếm thị nhưng thực ra hai khái niệm này khác nhau,người mù hoàn toàn không có khả năng nhận thức sáng tối Để chỉ chung người khiếm thị và người mù người ta dùng thuật ngữ người mù lòa (visually impaired) mà đôi khi còn có tên khác là người suy giảm thị lực
Thống kê trên thế giới vào năm 2002 cho thấy ước tính hiện nay có khoảng
161 triệu người mù lòa, trong đó có 124 triệu người khiếm thị và 37 triệu người
mù[2], 90% trong số đó đang sống ở các nước đang phát triển (11,6 triệu người ở khu vực Đông Nam Á, 9,3 triệu người ở khu vực Tây Thái Bình Dương, 6,8 triệu người ở Châu Phi), 1,4 triệu trẻ em dưới 15 tuổi bị mù Ngoài ra trên thế giới còn có hàng triệu người khác bị mù chức năng vì tật khúc xạ(cận thị,viễn thị,loạn thị),80% người mù trên 50 tuổi.Cứ 5 giây trôi qua lại có thêm một người
bị mù và cứ một phút trôi qua lại có một đứa trẻ vĩnh viễn không nhìn thấy ánh sáng.Hàng năm cả thế giới phải tiêu tốn hơn 42 tỷ đôla Mỹ cho việc chữa trị các bệnh về mắt.Khoảng 75% trong số các bệnh gây mù có thể tránh được bằng các phương pháp điều trị hoặc phòng ngừa[4].Thống kê riêng ở Anh về tuổi khởi phát bệnh mù lòa cho thấy 31% người trả lời nói rằng bắt đầu mắc bệnh khi còn ở độ tuổi lao động (từ 17 đến 59 tuổi), nhưng 56% cho rằng bệnh khởi phát từ khi 60 tuổi trở về sau Chỉ có 8% bắt đầu bị bệnh khi mới dưới 16 tuổi [24]
Trang 26Cộng đồng
Là một khái niệm mô tả những hình thức quan hệ và quan niệm về trật tự của những thành viên chung sống trên cơ sở những giá trị chung, có sự cố kết nội tại, không xuất phát từ những tính toán lợi ích riêng lẻ, hoặc những quy tắc, những văn bản luật định, mà bởi những mối liên hệ sâu hơn hướng tới một sự thống nhất về tinh thần như: Huyết thống, láng giềng, phường hội… (Lê Văn
Phú, 2007) hay những rủi ro và nhiều yếu tố khác có thể ảnh hưởng tới chức
năng xã hội của cá nhân, gia đình hay nền an sinh của cộng đồng
Cộng đồng trong quan niệm Mác-xít là mối liện hệ qua lại giữa các cá nhân, được quyết định bởi sự cộng đồng các lợi ích của các thành viên có sự giống nhau về các điều kiện tồn tại và hoạt động của những con người hợp thành cộng đồng đó, bao gồm các hoạt động khác của họ, sự gần gũi giữa họ về tư tưởng, tín ngưỡng, hệ giá trị và chuẩn mực, nền sản xuất, sự tương đồng về điều kiện sống cũng như các quan niệm chủ quan của họ về các mục tiêu và phương tiện hoạt động
Cộng đồng là một nhóm xã hội hay một tổ chức cùng chung môi trường, mối quan tâm Trong cộng đồng người, những nhu cầu, mong muốn, niềm tin, nguồn lực
Vận động nguồn lực cộng đồng
Nguồn nhân lực, gồm sức khoẻ, kiến thức, tay nghề, kinh nghiệm của những lao động chính trên địa bàn có ý nghĩa quyết định trong giải quyết tốt các vấn đề của cộng đồng Việc chú ý phát huy mặt tích cực, hạn chế tiêu cực trong mối quan hệ xã hội tại cộng đồng là cần thiết [25]
1.2 Các lý thuyết áp dụng
Lý thuyết nhu cầu của Maslow
Nhà tâm lý học Abraham Maslow (1908-1970) được xem như một trong những người tiên phong trong trường phái Tâm lý học nhân văn (humanistic psychology), trường phái này được xem là thế lực thứ 3 (the Third Force) khi thế giới lúc ấy đang biết đến 2 trường phái tâm lý chính: Phân tâm học (Psychoanalysis) và Chủ nghĩa hành vi (Behaviorism)
Trang 27Năm 1943, ông đã phát triển một trong các lý thuyết mà tầm ảnh hưởng của
nó được thừa nhận rộng rãi và được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm cả lĩnh vực giáo dục Đó là lý thuyết về Thang bậc nhu cầu (Hierarchy of Needs) của con người Trong lý thuyết này, ông sắp xếp các nhu cầu của con người theo một hệ thống trật tự cấp bậc, trong đó, các nhu cầu ở mức độ cao hơn
muốn xuất hiện thì các nhu cầu ở mức độ thấp hơn phải được thỏa mãn trước
Trong thời điểm đầu tiên của lý thuyết, Maslow đã sắp xếp các nhu cầu của con người theo 5 cấp bậc:
Hình 1: Tháp nhu cầu của Maslow
Nhu cầu cơ bản: Bao gồm các nhu cầu cơ bản của con người như ăn, uống,
ngủ, không khí để thở, tình dục… Đây là những nhu cầu cơ bản nhất và mạnh nhất của con người Trong hình kim tự tháp, chúng ta thấy những nhu cầu này được xếp vào bậc thấp nhất: bậc cơ bản nhất Maslow cho rằng, những nhu cầu
ở mức độ cao hơn sẽ không xuất hiện trừ khi những nhu cầu cơ bản này được thỏa mãn và những nhu cầu cơ bản này sẽ chế ngự, hối thúc con người hành động khi nhu cầu cơ bản này chưa đạt được, một khi nhu cầu này được đáp ứng con người mới đi có nhu cầu để đi lên điều thỏa mãn cao hơn Như một nhà
Trang 28chính trị gia từng nói: “Lòng tham của con người là vô hạn, một khi người ta
mong muốn được cái này rồi lại muốn được một cái cao sang hơn”
Nhu cầu về an toàn: Nhu cầu an toàn thể hiện trong cả thể chất lẫn tinh thần Con người cần có một môi trường sống an toàn, sức khỏe được đảm bảo để
họ tồn tại và phát triển
Nhu cầu về xã hội: Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu mong muốn thuộc
về một bộ phận, một tổ chức nào đó hoặc nhu cầu về tình cảm, tình thương Nhu cầu về xã hội ( nhu cầu được yêu thương, gắn bó, hòa nhập) Gia đình là nhóm
xã hội cơ bản nhất của con người Tình yêu thương, đùm bọc của cha mẹ, anh chị em trong gia đình tạo nên cảm giác an toàn, được che chở và được bảo vệ Nếu nhu cầu này không được thoả mãn, đáp ứng, nó có thể gây ra các bệnh trầm
trọng về tâm lý
Nhu cầu được quý trọng: Mỗi cá nhân sinh ra đều cần được bình đẳng,
được lắng nghe, không bị coi thường và được ghi nhận về sự hiện diện cũng như chính kiến của cá nhân Nhu cầu cầu được quý trọng còn được gọi là nhu cầu tự trọng vì nó thể hiện 2 cấp độ: nhu cầu được người khác quý mến, nể trọng thông qua các thành quả của bản thân, và nhu cầu cảm nhận, quý trọng chính bản thân, danh tiếng của mình, có lòng tự trọng, sự tự tin vào khả năng của bản thân
Nhu cầu được thể hiện mình: Nhu cầu được hoàn thiện, phát triển trí tuệ,
được thể hiện khả năng và tiềm lực của mình… Không phải ngẫu nhiên mà nhu cầu này được xếp đặt ở mức độ cao nhất Nhu cầu của một cá nhân mong muốn được là chính mình, được làm những cái mà mình “sinh ra để làm” Nói một cách đơn giản hơn, đây chính là nhu cầu được sử dụng hết khả năng, tiềm năng
của mình để tự khẳng định mình, để làm việc, đạt các thành quả, cống hiến cho
cộng đồng xã hội [2 0]
Ứng dụng lý thuyết vào nghiên cứu: Việc tìm hiểu nhu cầu của nhóm thân chủ là khâu không thể thiếu trong việc thực hành công tác xã hội Thông qua việc ứng dụng lý thuyết nhu cầu của Maslow, nhân viên công tác xã hội có được đánh giá chính xác trong nhu cầu của thân chủ Từ đó, có bước đi đúng hướng
và chính xác trong việc trợ giúp thân chủ của mình
Trang 29cá nhân, để thay thế các hành vi đang có song không còn phù hợp Nói cách khác, con người có thể học hỏi để tập trung nghĩ về việc nâng cao cái tác giả luận văn, điều đó sẽ sản sinh ra các hành vi, thái độ thích nghi và cũng cố nhận thức
Trong quá trình trị liệu hành vi, cán sự xã hội cần kiểm soát những phản ứng
và quản lí những vấn đề bất ngờ Các kĩ năng kiểm soát phản ứng bao gồm các hoạt động mô hình hóa, đào tạo kĩ năng xã hội, đào tạo sự quyết đoán trong quản
lý những vấn đề bất ngờ Ở đâu có sự vượt quá về những hành vi không mong muốn cần sử dụng một trong những kĩ năng sau:
Tăng cường khả năng không tương thích với hành vi
Tăng cường một cách tiêu cực về những hành vi không được mong muốn Làm giảm tần suất qua việc phá hủy nghĩa là rút bỏ sự củng cố hành vi không theo mong muốn
Trừng phạt những hành vi không theo mong muốn [21]
Công tác xã hội hành vi là trợ giúp thân chủ tăng tốc độ học hỏi thông qua
sử dụng các kĩ năng can thiệp một cách chuyên nghiệp của nhân viên công tác
xã hội Hành vi của con người luôn đi kèm với nhận thức Lý thuyết nhận thức
là một phần của quá trình phát triển lý thuyết hành vi trị liệu Lý thuyết nhận thức đánh giá rằng, hành vi bị ảnh hưởng thông qua nhận thức hoặc lý giải môi trường trong quá trình học hỏi Vì vậy hành vi không phù hợp phải xuất hiện từ
Trang 30việc nhận thức sai là lý giải sai Do đó quá trình trị liệu cố gắng sửa chữa việc hiểu sai thì hành vi của chúng ta cũng có tác động trở lại một cách phù hợp với môi trường
Quá trình áp dụng lý thuyết này trong suốt quá trình trị liệu, can thiệp sẽ giúp thân chủ hiểu rõ, hiểu đúng và đi đúng hướng Không xảy ra những hành vi lệch chuẩn trong con người thân chủ
Lý thuyết hệ thống sinh thái
Lý thuyết hệ thống được đề xướng năm 1940 bởi nhà sinh vật học nổi tiếng Ludwig von Bertalanffy Ông sinh năm 1901 tại Vienna, mất năm 1972 tại NewYord - Mĩ Sau này lý thuyết hệ thống được các nhà khoa học khác nghiên cứu và phát triến như: Hanson (1995), Mancoske (1981), Siporin (1980)
Người có công đưa lý thuyết hệ thống áp dụng vào thực hành công tác xã hội phải kể đến công lao của Pincus và Minahan cùng các cộng sự của ông Tiếp đến
là Germain và Giterman Thuyết hệ thống trong Công tác xã hội sử dụng nhiều cặp khái niệm về hệ thống đóng và hệ thống mở Hệ thống đóng: Là hệ thống không có sự trao đổi năng lượng và thông tin vượt qua biên giới của nó Hệ thống mở: Là hệ thống mà năng lượng và thông tin được trao đổi bằng cách thẩm thấu qua vách ngăn biên giới của chính nó
Theo từ điển tiếng Việt: “Hệ thống là tập hợp nhiều yếu tố đối với cùng loại hoặc cùng chức năng có quan hệ hoặc liên quan với nhau để hoạt động thống nhất”
Theo định nghĩa của lý thuyết công tác xã hội hiện đại: “Hệ thống là một tập hợp các thành tố được sắp xếp có trật tự và liên hệ với nhau để hoạt động thống nhất
Như vậy, hệ thống là một tập hợp các phần tử có quan hệ tương hỗ Những thay đổi của phần tử này trong hệ thống sẽ gây ra tác động tới các phần tử khác
Có thể ví điều này như một cái chuông gió, khi có một lực tác động vào một cánh chuông nó sẽ chuyển động làm các mắt chuông khác chuyển động theo và tạo ra âm thanh
Trang 31Con người cũng chịu sự tác động nhất định của các hệ thống (tích cực hoặc tiêu cực) Vì vậy khi xem xét vấn đề của cá nhân, nhóm hay cộng đồng cần phải xem xét các mối quan hệ, tác động qua lại của các hệ thống đối với cá nhân, nhóm hoặc cộng đồng đó để chúng ta có thể khai thác những tác động tích cực của hệ thống đối với cá nhân, nhóm, cộng đồng Đồng thời hạn chế những tác động tiêu cực từ hệ các thống này đến cá nhân, nhóm, cộng đồng
Thuyết hệ thống được sử dụng trong Công tác xã hội như một công cụ trợ giúp nhân viên xã hội phải sắp xếp, tổ chức những lượng thông tin lớn thu thập được để xác định mức độ nghiêm trọng của vấn đề và tìm cách can thiệp.Việc tổ chức thông tin thành hệ thống sẽ giúp nhân viên xã hội nhìn nhận vấn đề sáng tỏ hơn
Hành vi của con người không phải bộc lộ tự phát một cách độc lập mà nằm trong mối quan hệ qua lại với những hệ thống khác trong xã hội Thật vậy, con người là một bộ phận của xã hội, chịu sự tác động của các hệ thống xã hội Sự thay đổi ở bất kỳ mắt xích nào trong hệ thống xã hội cũng tạo ra những ảnh hưởng hệ thống con nằm trong đó, cụ thể là hệ thống các cá thể thuộc xã hội đó Theo lý thuyết này, con người phụ thuộc vào những hệ thống trong môi trường xã hội trực tiếp của họ Công tác xã hội chú ý đến 3 hệ thống:
Các hệ thống thân tình/tình cảm hay tự nhiên như gia đình, bạn bè, người thân hay đồng nghiệp
Các hệ thống chính thức như các nhóm bạn bè, đồng nghiệp, hay các tổ chức công đoàn
Các hệ thống tập trung như của các tổ chức xã hội như bệnh viện, trường học…
Các hệ thống luôn có sự tác động lên cá nhân Có thể đó là sự tác động tiêu cực hoặc tích cực Bên cạnh đó không phải tất cả mọi người đều có khả năng tiếp cận sự hỗ trợ như nhau về nguồn lực có từ các hệ thống tồn tại xung quanh Như vậy mỗi cá nhân chịu sự tác động khác nhau từ các hệ thống mà họ tồn tại [22]
Trang 32Trong quá trình can thiệp, hỗ trợ cho thân chủ, nhân viên công tác xã hội đã vận dụng phù hợp và phát huy hết thế mạnh, tính ưu việt của lý thuyết này Tạo dựng mối quan hệ mới, tốt đẹp giữa cá nhân với các hệ thống hỗ trợ: Hội người
mù, gia đình, bạn bè trong Hội và ngoài Hội Từ đó, giúp cá nhân thân chủ nhận thức được tầm quan trọng của việc sử dụng máy vi tính từ đó tiếp nhậ việc học
Luật Người khuyết tật được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam Khoá XII, Kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 17/6/2010, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2011 Đây là một bước tiến quan trọng trong việc thể chế hoá đầy đủ và toàn diện các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về người khuyết tật nói chung và người khiếm thị nói riêng nhằm tạo môi trường pháp lý, điều kiện, cơ hội bình đẳng, không rào cản đối với người khuyết tật theo hướng xây dựng các chính sách đối với người khuyết tật trên cơ sở tiếp cận và bảo đảm quyền của người khuyết tật; quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước, gia đình và xã hội trong việc xóa bỏ rào cản và bảo đảm các điều kiện để người khuyết tật hòa nhập xã hội như những người bình thường khác Luật Người khuyết tật đã thể hiện tính nhân văn sâu sắc cũng như tinh thần tương thân tương ái của dân tộc ta
Đối với công nghệ thông tin và truyền thông, Luật Người khuyết tật khuyến khích các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân thiết lập những chương trình triển khai lộ trình sử dụng chữ nổi Braille, và những thiết bị kỹ thuật cho
Trang 33người khiếm thị Đối với những người khiếm thị nhất định, quyền bình đẳng có nghĩa là họ có thể tiếp cận môi trường của họ Quyền tiếp cận môi trường giúp cho người khiếm thị sống độc lập và tham gia đầy đủ vào môi trường xung quanh Tính tiếp cận không chỉ là một vấn đề đối với người khi họ gặp khó khăn trong sử dụng các công trình nhà ở, đường đi và phương tiện giao thông mà còn
là một vấn đề đối với những người khiếm khuyết thị lực Để họ tiệm cận được
xã hội, cần thiết phải có ngôn ngữ tín hiệu, chữ nổi Braille, băng casset, phông chữ cỡ to, và những công cụ phương tiện sử dụng công nghệ hỗ trợ Luật quy định cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm trong việc phê duyệt thiết kế, tăng cường thanh tra, kiểm tra nghiệm thu các công trình xây mới, đưa vào sử dụng
để bảo đảm các điều kiện tiếp cận đối với người khuyết tật Quy định này còn tạo bước đột phá mới trong việc xóa bỏ rào cản về vật chất, xã hội đối với người khuyết tật, bảo đảm quyền bình đẳng của người khuyết tật trong tham gia các hoạt động xã hội để họ có điều kiện hòa nhập cộng đồng
Các tổ chức của người khuyết tật khiếm thị ngày càng được mở rộng ở các tỉnh, thành phố, tuy nhiên vẫn còn nhiều cản trở cho người khuyết tật khiếm thị tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục, học nghề, tìm kiếm việc làm, tham gia giao thông, dẫn đến khó khăn trong cuộc sống và hòa nhập cộng đồng
1.4 Một số đặc điểm của người khiếm thị
1.4.1 Đặc điểm tâm sinh lý của người khiếm thị
Người xưa thường có câu: “Giàu hai con mắt, khó đôi bàn tay”, Việc thực hiện các chức năng thiếu hụt về đôi mắt dẫn tới chức năng của người khiếm thị
có thể bị giảm sút, vì vậy họ gặp nhiều khó khăn trở ngại trong sinh hoạt, trong lao động và học tập Do đó gia đình và xã hội cần có hỗ trợ với nhóm đối tượng này như: Chăm sóc sức khoẻ, phục hồi chức năng mắt, tăng cường tổ chức các lớp học chữ Braille, cung cấp các tài liệu chữ Brialle cho người khiếm thị, thiết
kế các tiện nghi nhà ở phù hợp với họ
Do hạn chế trong đi lại nên hoạt động lao động, hoạt động giao lưu dễ bị hạn chế hơn so với người không bị khuyết tật nếu không có sự hỗ trợ xã hội thì phạm vi quan hệ xã hội ở người khuyết tật khiếm thị sẽ bị thu hẹp Do đó gia
Trang 34đình và xã hội cần tạo điều kiện cho đối tượng được hoà nhập vào cuộc sống xã hội của những người bình thường
Họ cần được học văn hoá, học nghề phù hợp với tình trạng sức khỏe hiện tại của mình Từ đó đem lại cho họ niềm vui trong lao động, vừa giúp họ có thu nhập, điều này sẽ giúp họ giảm bớt tâm lý bị phụ thuộc kinh tế, tâm lý bị bỏ đi
Môi trường cộng đồng và gia đình cũng cần phải thích ứng với hoàn cảnh của người khuyết tật Cần phải thiết kế các phương tiện, tiện nghi sinh hoạt phù hợp với đặc điểm, nhu cầu của người khuyết tật
Do sự thiếu hụt dẫn đến những cản trở trong sinh hoạt, lao động nên người khuyết tật khiếm thị thường bị ức chế dẫn tới bi quan, chán nản, tự ti, hay cáu gắt, nóng nảy Họ cũng cần được cảm thông và được tôn trọng
Mặt khác, họ cũng là trong số những người có đời sống nội tâm rất nhạy cảm và tế nhị Họ rất thông cảm với những khó khăn của người khác hơn người bình thường Chính vì vậy, họ là những người hoạt động rất có hiệu quả trong các nhóm tự giúp
Trên là một số đặc điểm tâm sinh lý cũng như nhu cầu thiết yếu của người khiếm thị Nhân viên công tác xã hội muốn làm tốt vai trò của mình với người khiếm thị cũng cần tìm hiểu đầy đủ những đặc điểm, nhu cầu chung đó của người khiếm thị
1.4.2 Khả năng của người khiếm thị
Con người không chỉ tồn tại thông qua một giác quan duy nhất là thị giác, những người khiếm thị bị suy giảm hoặc mất đi thị giác thì các giác quan khác như: xúc giác, thính giác, khứu giác… vẫn còn hoạt động Xúc giác của người khiếm thị tập trung vào đôi bàn tay, vào các phần da trên mặt, ở đôi chân Xúc giác là giác quan quan trọng nhất cho người khiếm thị tiếp nhận thông tin Đôi chân giúp người khiếm thị định hướng đi lại, da mặt, da người giúp người khiếm thị nhận biết không khí xung quanh Và quan trọng nhất là đôi tay, người khiếm thị có thể tiếp nhận được chính xác các thông tin về hình dáng, kích thước, độ mịn, độ bóng, trọng lượng, nhiệt độ…người khiếm thị cũng có thể đoán biết
Trang 35hình dáng, thể trạng một người chỉ bằng cách sờ mó vào bàn tay, cùi tay của họ Đặc biệt hiện nay người khiếm thị có thể học văn hoá thông qua chữ nổi Braile Thính giác cũng là giác quan quan trọng đối với người khiếm thị Với thính giác người khiếm thị có thể tiếp nhận thông tin qua các âm thanh, nhận biết và giao tiếp với người xung quanh qua giọng nói, qua tiếng động Với thính giác, người khiếm thị cũng có thể học âm nhạc và trở thành những người chơi đàn thành thạo
1.4.3 Nhu cầu của người khiếm thị
Qua quan sát, đánh giá năng lực thực tế của người khiếm thị trên địa bàn, nhận thấy cơ bản một số cá nhân do trình độ học vấn, không có nhu cầu được hỗ trợ học tập sử dụng máy vi tính
Đối với những trường hợp còn lại, mặc dù có nhu cầu, điều kiện năng lực
cá nhân đáp ưng, nhưng điều kiện để tham gia học tập còn nhiều khó khăn, vướng mắc đặc biết là vấn đề tài chính và hiệu quả sau học tập
Mặc dù được gia đình, xã hội quan tâm, tạo điều kiện cần thiết để hòa
nhập xã hội nhưng người khiếm thị không tránh khỏi tự ti về bản thân, mặc cảm với số phận của mình Chính vì vậy mà người khiếm thị nhiều khi có những nhận thức không tích cực trong cuộc sống cũng như tương lai của chính mình Người khiếm thị luôn nghĩ rằng mình không làm được gì cả, mà xã hội cũng không cần mình cho nên bản thân họ có ước mơ, có sở thích nhưng không dám suy nghĩ đến và ngại thực hiện điều đó Luôn có những suy nghĩ tiêu cực phó mặc số phận, phó mặc tương lai
Từ việc đó của người khiếm thị mà nhân viên công tác xã hội xác định là phải áp dụng các lý thuyết, kỹ năng cần thiết để trợ giúp cho thân chủ nhằm tác động tích cực lên suy nghĩ, hành động của người khiếm thị
Mặt khác, nhân viên công tác xã hội cũng phát huy được những ứng dụng trong lý thuyết, kỹ năng vào thực tiễn một cách hiệu quả và phù hợp cho trường hợp của mình đặc biệt trong việc huy động nguồn lực và kết nối nguồn lực trong suốt quá trình can thiệp với thân chủ Các nguồn lực được huy động một cách tối
đa và hiệu quả đó là gia đình, các hội viên trong Hội, cộng đồng nhân viên
Trang 36công tác xã hội đã tận dụng tối đa các nguồn lực trợ giúp này trong quá trình hỗ trợ cho thân chủ của mình
1.5 Tổng quan đời sống của người khiếm thị thôn Đông Trung, Xã Đông Xá, huyện Vân Đồn
Người khiếm thị tại Huyện Vân Đồn
Hiện nay, trên địa bàn huyện Vân Đồn đã thành lập Hội người mù của huyện, đây là cơ quan trực tiếp và phối hợp với các cơ quan chức năng khác tham mưu cho UBND huyện trong công tác quản lý nhà nước đối với người khiếm thị Hội Người mù huyện Vân Đồn được thành lập vào tháng 4 năm 2010 trên cơ sở đồng ý của UBND tỉnh Quảng Ninh (Quyết định số 95/QĐ-UBND ngày 13/01/2010 của UBND tỉnh Quảng Ninh “V/v cho phép thành lập Hội
người mù huyện Vân Đồn”)
Tên cơ sở: Hội Người mù huyện Vân Đồn
Địa chỉ: Khu 5, thị trấn Cái Rồng, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh Hội Người mù huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh có Ban Chấp hành, các chức danh chủ chốt của Hội gồm 06 thành viên, cụ thể: Chủ tịch Hội, Phó Chủ tịch Hội, Chi hội trưởng (04 cán bộ) và người sáng trực tiếp giúp việc (01 người)
Để Hội hoạt động theo qui định, Ban chấp hành Hội xây dựng quy chế hoạt động, thực hiện theo điều lệ, chấp hành nghiêm túc theo sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp lãnh đạo Đảng, chính quyền địa phương và hướng dẫn của Hội cấp trên theo nguyên tắc thiểu số phục tùng theo đa số với tôn chỉ mục đích đúng đắn, phân công trách nhiệm rõ ràng Kiểm điểm đánh giá hiệu quả trong công tác giao ban hàng tuần Xây dựng nghị quyết trong tháng, sơ kết quy, 6 tháng đầu năm, tổng kết cuối năm và xây dựng phương hướng cho thời gian tiếp theo
Trong thời gian hoạt động, Hội đã kết nạp 21 hội viên Tổng số hội viên hiện tại là 67 người, trong đó nam: 29 người; nữ: 28 người Cơ cấu như sau:
Chia theo độ tuổi: Dưới 30 tuổi là 13 người; Từ 30 - 55 tuổi là 06 người;
Từ 55 tuổi trở nên là 48 người