1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ứng dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học sinh học 8 để phát triển năng lực tự học cho học sinh trung học cơ sở

121 480 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 2,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu hỏi nghiên cứu Nguyên tắc và quy trình dạy học Sinh học 8 theo mô hình lớp học đảo ngược như thế nào để có thể phát triển được năng lực tự học cho người học và nâng cao được chất lư

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

BÙI PHƯƠNG ANH

ỨNG DỤNG MÔ HÌNH LỚP HỌC ĐẢO NGƯỢC

TRONG DẠY HỌC SINH HỌC 8 ĐỂ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ

HỌC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM SINH HỌC

HÀ NỘI – 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

BÙI PHƯƠNG ANH

ỨNG DỤNG MÔ HÌNH LỚP HỌC ĐẢO NGƯỢC

TRONG DẠY HỌC SINH HỌC 8 ĐỂ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ

HỌC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM SINH HỌC CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

BỘ MÔN SINH HỌC

Mã số: 8.14.01.11

HÀ NỘI – 2020

Trang 3

i

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các Thầy, Cô trong Khoa Sư Phạm – Trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội đã giúp đỡ tận tình

giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tác giả xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất tới TS Lê Thị Phượng – GV Khoa Sư phạm – Trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà

Nội đã tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp

Tác giả xin cảm ơn các Thầy, Cô trường THCS Trưng Vương đã tạo điều kiện

thuận lợi, giúp đỡ trong quá trình TN sư phạm

Qua đây, tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè, những người đã

luôn cổ vũ động viên trong những năm học vừa qua

Trong quá trình thực hiện và trình bày khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế, vì vậy tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của

các Thầy, Cô để được hoàn thiện hơn khóa luận tốt nghiệp

Tác giả xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng 02 năm 2020

Tác giả

Bùi Phương Anh

Trang 4

ii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 5

iii

DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ

Hình 1.1 Mô tả lớp học đảo ngược 19

Hình 2.2 Giao diện Edmodo 39

Hình 2.3 Cách tạo group cho lớp học 39

Hình 2.4 Video bài giảng và tài liệu cung cấp cho quá trình học tại nhà 40

Hình 2.5 Bài tập đánh giá sau khi hoàn thành nghiên cứu các video bài giảng 42

Hình 2.6 Ghép cặp HS để giúp đỡ nhau trong quá trình học tập 42

Hình 2.7 GV tổng quan kiến thức và giải đáp thắc mắc 43

Hình 2.8 GV cho HS tiến hành các dự án và thí nghiệm 43

Hình 3.1 Nội dung lí thuyết được thiết kế dưới dạng video để HS nghiên cứu tại nhà 76

Hình 3.2 HS đóng kịch và tham gia phỏng vấn chuyên gia tại buổi hoạt động ngoài trời “Tìm hiểu về căn bệnh tan máu bẩm sinh Thalasmia” 76

Hình 3.3 HS thực hành tự xét nghiệm nhóm máu của bản thân 77

Hình 3.4 Video bài giảng giao cho HS nghiên cứu tại nhà 78

Hình 3.5 HS xây dựng mô hình hệ tuần hoàn 78

Hình 3.6 Các video bài giảng 79

Hình 3.7 HS tiến hành thí nghiệm đo dung tích phổi 80

Hình 3.8 Nghiên cứu khoa học thiết kế máy lọc khí di động 81

Biểu đồ 1.2 Kênh phương tiện được sử dụng để tìm hiểu về lớp học đảo ngược 33

Biểu đồ 3.1 Kết quả bài kiểm tra số 1 88

Biểu đồ 3.2 Kết quả điểm bài kiểm tra số 2 89

Biểu đồ 3.3 Kết quả điểm bài kiểm tra số 3 89

Trang 6

iv

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Sự khác nhau giữa lớp học truyền thống và lớp học đảo ngược 21

Bảng 2.1 Các nội dung có thể ứng dụng mô hình lớp học đảo ngược trong chương trình Sinh học 8 43

Bảng 2.2 Mục tiêu bài học chuyên đề “Tuần hoàn” 47

Bảng 2.3 Tiến trình dạy - học chuyên đề “Tuần hoàn” 49

Bảng 2.4 Mục tiêu bài học chuyên đề “Hô hấp” 56

Bảng 2.5 Tiến trình dạy - học chuyên đề “Hô hấp” 58

Bảng 2.6 Mục tiêu bài học chuyên đề “Thiết lập khẩu phần ăn đầy đủ dinh dưỡng” 63

Bảng 2.7 Tiến trình dạy học chuyên đề “Thiết lập khẩu phần ăn dinh dưỡng” 64

Bảng 3.1 Các kĩ năng của năng lực tự học 73

Bảng 3.2 Bảng hỏi kiểm tra mức độ phát triển năng lực tự học của HS khi hoạt động theo mô hình lớp học đảo ngược 74

Bảng 3.3 Mức độ phát triển năng lực tự học của HS tại 2 lớp TN 83

Bảng 3.4 Mức độ phát triển năng lực tự học của HS tại 2 lớp ĐC 85

Bảng 3.5 Bảng tần suất điểm 3 bài kiểm tra sau TN 87

Bảng 3.6 Các tham số đặc trưng thu thập từ các bài kiểm tra 90

Bảng 3.7 Kiểm định giả thuyết thống kê điểm các bài kiểm tra trong TN 92

Trang 7

v

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii

DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ iii

DANH MỤC CÁC BẢNG iv

MỤC LỤC v

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

1.1 Xuất phát từ tính cấp thiết của việc đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay 1 1.2 Xuất phát từ thực trạng dạy và học Sinh học 8 2

1.3 Xuất phát từ đặc điểm dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược 3

2 Mục đích nghiên cứu 4

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Câu hỏi nghiên cứu 5

5 Giả thuyết khoa học 5

6 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 5

6.1 Đối tượng nghiên cứu 5

6.2 Khách thể nghiên cứu 5

7 Phạm vi nghiên cứu 5

7.1 Nội dung nghiên cứu 5

7.2 Thời gian nghiên cứu 5

8 Phương pháp nghiên cứu 6

8.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận 6

8.2 Phương pháp điều tra, khảo sát 6

8.3 Phương pháp tham vấn chuyên gia 6

8.4 Phương pháp thực nghiệm 6

8.5 Phương pháp xử lý số liệu 7

9 Những đóng góp mới của đề tài 7

10 Cấu trúc luận văn 7

Trang 8

vi

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 8

1.1 Cở sở lí luận 8

1.1.1 Lịch sử nghiên cứu 8

1.1.1.1 Lịch sử nghiên cứu trên thế giới 8

1.1.1.2 Lịch sử nghiên cứu ở Việt Nam 11

1.1.2 Năng lực và năng lực tự học 14

1.1.3 Khái niệm dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược 18

1.1.4 Đặc điểm của dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược 19

1.1.5 Nguyên tắc tổ chức hoạt động theo mô hình lớp học đảo ngược 24

1.1.6 Quy trình dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược 26

1.1.7 Một số công cụ hỗ trợ dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược 26

1.1.8 Kết hợp một số hình thức dạy học tích cực trong mô hình lớp học đảo ngược 29

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 31

1.2.1 Mô hình lớp học đảo ngược 31

1.2.2 Mối quan hệ giữa ứng dụng mô hình lớp học đảo ngược trong phát triển năng lực tự học 33

Tiểu kết chương 1 34

CHƯƠNG 2 ỨNG DỤNG MÔ HÌNH LỚP HỌC ĐẢO NGƯỢC TRONG DẠY HỌC SINH HỌC 8 ĐỂ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 35

2.1 Cấu trúc chương trình sách giáo khoa và chuẩn kiến thức, kỹ năng Sinh học 835 2.2 Quy trình dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược nhằm phát triển năng lực tự học của HS 37

2.2.1 Nguyên tắc xây dựng quy trình 37

2.2.2 Quy trình dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học Sinh học 8 nhằm phát triển năng lực tự học của HS 37

2.3 Thiết kế một số giáo án có sử dụng PPDH theo mô hình lớp học đảo ngược 46

2.3.1 Thiết kế hoạt động dạy học bài “Tuần hoàn” theo mô hình lớp học đảo ngược 46

Trang 9

vii

2.3.2 Thiết kế hoạt động dạy học bài “Hô hấp” theo mô hình lớp học đảo

ngược 56

2.3.3 Thiết kế hoạt động dạy học bài “Thiết lập khẩu phần ăn đầy đủ chất dinh dưỡng” theo mô hình lớp học đảo ngược 63

Tiểu kết chương 2 71

CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 72

3.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 72

3.2 Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 72

3.3 Đối tượng của thực nghiệm sư phạm 72

3.4 Phương pháp thực nghiệm 72

3.5 Kết quả quá trình thực nghiệm sư phạm 75

3.5.1 Kết quả thực nghiệm định tính 75

3.5.2 Kết quả đánh giá sự phát triển năng lực tự học của HS 82

3.5.3 Kết quả của việc tiếp thu kiến thức 87

Tiểu kết chương 3 93

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 94

1 Kết luận 94

2 Khuyến nghị 94

3 Hướng phát triển của đề tài 95

TÀI LIỆU THAM KHẢO 96 PHỤ LỤC

Trang 10

Theo yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện về giáo dục thì đổi mới nội dung, phương pháp, đánh giá là rất cần thiết Đặc biệt, quan trọng hơn là đổi mới về PPDH theo hướng dạy học phát triển năng lực nhằm tạo ra những con người năng động, sáng tạo, có tư duy khoa học, trở thành nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu của xã hội

Mục đích giáo dục tại các quốc gia hiện nay không chỉ thuần túy là truyền thụ kiến thức, kĩ năng loài người đã tích lũy mà còn đặc biệt quan tâm tới việc bồi dưỡng năng lực sáng tạo ra những tri thức mới, phương pháp mới và cách giải quyết vấn đề mới Luật Giáo dục năm 2005 (sửa đổi năm 2009) nêu rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS”

Trong Nghị quyết số 88 ngày 28/11/2014 của Quốc hội đã đề cập: “Mục tiêu giáo dục phổ thông là tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho

HS Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lí tưởng, truyền thống văn hóa, lịch sử, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kĩ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời”

Trang 11

2

Trong thời gian qua, đã có không ít các công trình nghiên cứu về PPDH mới có hiệu quả, theo hướng phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất cho người học Một số phương pháp mới đã được áp dụng, tuy nhiên chất lượng dạy học trong nhà trường nói chung và trường THCS nói riêng vẫn chưa hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu của đổi mới giáo dục

1.2 Xuất phát từ thực trạng dạy và học Sinh học 8

Sinh học là môn học khoa học tự nhiên được dạy ở trường học từ lớp 6 bậc THCS nên HS đã được tích luỹ vốn kiến thức về tự nhiên và xã hội nhất định Đặc biệt, môn Sinh học lại có mối liên kết với các môn học khác như: Toán học, Địa lí, Vật lí, Hóa học, Giáo dục công dân do đó, việc ứng dụng kiến thức môn học trong cuộc sống rất phong phú và có liên quan đến nhiều rất ngành nghề trong xã hội Đây

là điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng các PPDH tích cực, phát triển năng lực cho người học

Chương trình Sinh học 8 tập trung kiến thức về sinh học cơ thể người và vệ sinh thân thể Đây là những nội dung rất hay và cực kì lí thú khi giúp HS có thể được tìm hiểu về cấu tạo và khám phá về cách thức vận động của chính cơ thể mình, vì vậy rất dễ tạo được hứng thú học tập cho các người học Tuy nhiên, thực tiễn dạy học ở trường phổ thông cho thấy, môn Sinh học chỉ được coi là môn học không quá quan trọng và các GV cũng không muốn đầu tư quá nhiều cho một tiết dạy môn sinh học Đối với một tiết Sinh học thông thường, GV thường chỉ áp dụng các phương pháp truyền thống như truyền đạt kiến thức còn HS thì thụ động tiếp thu kiến thức, học thuộc lý thuyết thuần túy từ đó tạo cảm giác nhàm chán Các PPDH tích cực chưa được áp dụng nhiều cũng một phần là do điều kiện cơ sở vật chất ở các trường phổ thông chưa được tốt, CNTT chưa được sử dụng nhiều trong các tiết dạy Để HS có được kiến thức vững chắc làm nền tảng cho các nghề nghiệp liên quan đến lĩnh vực Sinh học sau này đòi hỏi các nhà khoa học, GV phải nghiên cứu tìm ra những phương pháp hiện đại nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, năng lực học tập, tạo cho các em có cơ hội được tìm tòi, sáng tạo và tự do nêu ra ý kiến của bản thân

Trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể ban hành tháng 12 năm 2018,

Bộ Giáo dục đưa ra 10 năng lực cần hình thành cho HS bao gồm 3 năng lực chung và 7

Trang 12

3

năng lực đặc thù: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mỹ, năng lực thể chất Với môn Sinh học, có 3 nhóm năng lực đặc thù: năng lực nhận thức Sinh học, năng lực tìm hiểu thế giới sống và năng lực vận dụng kiến thức [1] Để vừa có thể truyền thụ kiến thức, vừa đảm bảo nhiệm vụ phát triển năng lực cho HS đòi hỏi GV phải đặt HS vào vị trí chủ thể của hoạt động nhận thức để từ đó hoạt hóa sự chủ động, tự giác và tính tích cực tham gia các hoạt động trong mỗi giờ học Có nhiều phương pháp mới đã được đưa ra nhằm đáp ứng mục tiêu giáo dục, trong đó, mô hình lớp học đảo ngược là một biện pháp hiệu quả, đã được ứng dụng tại rất nhiều quốc gia có nền giáo dục phát triển như Mỹ, Úc

1.3 Xuất phát từ đặc điểm dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược

Dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược - Flipped Classroom là một trong những mô hình dạy học hiện đại và đáp ứng được những yêu cầu nêu trong điều 28.2 Luật Giáo dục (năm 2005) Lớp học đảo ngược là một dạng lớp học mà ở đó người học tiếp thu nội dung bài học trực tuyến qua việc nghiên cứu các video, các bài giảng ở nhà, còn bài tập về nhà hay bài tập thực hành thì GV và HS sẽ cùng thảo luận, giải quyết ở trên lớp thay vì GV giảng bài trên lớp sau đó người học thực hành

ở nhà Với mô hình này, sự tương tác giữa người dạy và người học được cá nhân hóa hơn, phát huy hết năng lực của người học Thay vì giảng bài như thường lệ, công việc chính của người dạy là hướng dẫn Với người học, thay vì tiếp thu thụ động thì sẽ phải tự tiếp cận kiến thức ở nhà, tự mình trải nghiệm, khám phá, tìm tòi các thông tin liên quan về bài học Nói một cách khái quát, mô hình này giúp người học phát huy và rèn luyện khả năng làm chủ quá trình học tập của chính bản thân, không còn bị động, phụ thuộc trong quá trình khám phá tri thức Hiện nay, mô hình lớp học này đang được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới và được biết đến với tên:

“Flipped Classroom” hay “phương pháp Thayer” [11]

Một trong số các quốc gia trên thế giới đã áp dụng thành công theo mô hình lớp học đảo ngược là Mỹ Trong một cuộc khảo sát do Sophia Learning và Flipped Learning Network tiến hành vào tháng 5 năm 2014 cho thấy số lượng GV áp dụng

Trang 13

Ở Việt Nam, việc sử dụng mô hình lớp học đảo ngược đã có những bước đi đầu tiên Một số cơ sở giáo dục đã sử dụng mô hình Flipped Classroom trong giảng dạy như Đại học FPT, Anh ngữ Việt Mỹ VATC, Trung tâm Anh ngữ Quốc tế Apollo và các trang web giáo dục trực tuyến như Zuni.vn và Moon.vn Trong đó, đại học FPT

đã triển khai mô hình này trên 4 lớp với 100 sinh viên Kết quả cho thấy, số sinh viên thi đỗ thực hành tại Đại học FPT tăng từ 30% ở các lớp thông thường lên 53% khi áp dụng mô hình lớp học đảo ngược [11] Như vậy, tuy đã có một số đơn vị giáo dục áp dụng mô hình Flipped Classroom như đã kể trên, nhưng con số này xem ra còn quá khiêm tốn ở Việt Nam và chưa được áp dụng nhiều ở cấp THCS

Với những tất cả lý do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Ứng dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học Sinh học 8 để phát triển năng lực tự học cho học sinh Trung học cơ sở ”

2 Mục đích nghiên cứu

Ứng dụng mô hình lớp học đảo ngược để tổ chức dạy học một số nội dung kiến thức Sinh học 8 THCS nhằm phát triển năng lực tự học cho HS THCS

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu các quan điểm dạy học tích cực, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn việc sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học

- Đánh giá thực trạng sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy HS học hiện nay ở THCS

- Xây dựng quy trình thiết kế một số hoạt động dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược

Trang 14

5

- Đề xuất một số nội dung trong chương trình Sinh học 8 có thể áp dụng mô hình lớp học đảo ngược

- Thiết kế một số hoạt động dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược đối với một

số nội dung kiến thức Sinh học 8 THCS

- Xây dựng quy trình tổ chức dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược

- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính khả thi của đề tài, sơ bộ đánh giá hiệu quả của mô hình lớp học đảo ngược đối với một số nội dung kiến thức Sinh học 8 THCS

4 Câu hỏi nghiên cứu

Nguyên tắc và quy trình dạy học Sinh học 8 theo mô hình lớp học đảo ngược như thế nào để có thể phát triển được năng lực tự học cho người học và nâng cao được chất lượng dạy học?

5 Giả thuyết khoa học

Nếu vận dụng mô hình lớp học đảo ngược để tổ chức dạy học một số nội dung kiến thức Sinh học 8 - THCS thì sẽ phát triển được năng lực tự học của HS để từ đó nâng cao hiệu quả việc dạy – học

6 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

6.1 Đối tượng nghiên cứu

- Dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược

- Quá trình hình thành năng lực tự học ở HS THCS

6.2 Khách thể nghiên cứu

- Quá trình dạy học Sinh học 8 THCS

7 Phạm vi nghiên cứu

7.1 Nội dung nghiên cứu

Nghiên cứu việc ứng dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học nội dung kiến thức Sinh học 8 chương III (Tuần hoàn), IV (Hô hấp), VI (Trao đổi chất và năng lượng), IX (Thần kinh và giác quan) và XI (Sinh sản)

7.2 Thời gian nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu từ tháng 2 năm 2019 đến tháng 12 năm 2019

Trang 15

6

8 Phương pháp nghiên cứu

8.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

- Nghiên cứu tài liệu về chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước về đổi mới giáo dục và đổi mới PPDH của Bộ GD - ĐT

- Nghiên cứu các tài liệu về lý luận dạy học, lý luận dạy học Sinh học làm cơ sở lý luận cho đề tài: tài liệu về PPDH, các luận văn, luận án có cùng hướng nghiên cứu, tâm lý học sư phạm

- Nghiên cứu cơ sở lý luận của mô hình lớp học đảo ngược

- Nghiên cứu và phân tích cấu trúc nội dung chương trình sách giáo khoa (theo tài liệu chuẩn kiến thức) và các tài liệu về sinh học tế bào làm cơ sở cho việc xây dựng

kế hoạch dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược

8.2 Phương pháp điều tra, khảo sát

- Điều tra về thực trạng giảng dạy và học tập môn Sinh học nói chung và Sinh học 8 THCS nói riêng

- Sử dụng phiếu điều tra, bảng hỏi, dự giờ, phỏng vấn, tham khảo giáo án, sổ điểm của GV

- Khảo sát điều tra về thực trạng dạy học và hiểu biết về mô hình lớp học đảo ngược trên đối tượng GV và HS

- Điều tra về chất lượng HS ở các lớp để lựa chọn lớp TN và ĐC

- Khảo sát năng lực tự học của HS trước và sau thực nghiệm

8.3 Phương pháp tham vấn chuyên gia

- Tham khảo ý kiến các chuyên gia, các giảng viên và GV có nhiều kinh nghiệm: chuyên gia, cán bộ quản lý, GV, HS về mô hình lớp học đảo ngược, thuận lợi và khó khăn khi vận dụng mô hình lớp học đảo ngược trong giảng dạy Sinh học 8

8.4 Phương pháp thực nghiệm

Tổ chức giảng dạy thực nghiệm, phát phiếu điều tra, so sánh, đối chiếu kết quả trước và sau quá trình TN ở từng lớp và giữa các lớp nhằm kiểm tra tính đúng đắn

và hiệu quả của đề tài

- Lớp TN: là lớp được tiến hành giảng dạy theo mô hình lớp học đảo ngược

- Lớp ĐC: là lớp được tiến hành giảng dạy theo phương pháp truyền thống

Trang 16

9 Những đóng góp mới của đề tài

- Góp phần xây dựng cơ sở lí luận của dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược

- Vận dụng cơ sở lý luận của dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược để xây dựng quy trình thiết kế các hoạt động dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược, đồng thời xây dựng quy trình tổ chức các hoạt động đã thiết kế vào dạy học Sinh học 8 nhằm phát triển năng lực tự học ở HS THCS

- Đánh giá được hiệu quả việc vận dụng dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược nhằm phát triển năng lực tự học ở HS THCS trong dạy học Sinh học 8

- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là nguồn tài liệu bổ sung cho việc nghiên cứu và vận dụng hiệu quả mô hình lớp học đảo ngược, nhằm hình thành và phát triển năng lực tự học ở HS trong dạy học Sinh học nói riêng và dạy học ở trường THCS nói chung

10 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày trong 3 chương

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương 2 Ứng dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học sinh học 8 để

phát triển năng lực tự học cho học sinh Trung học cơ sở

Chương 3 Thực nghiệm sư phạm

Trang 17

“học tập suốt đời: một động lực xã hội” sẽ giúp con người đáp ứng những yêu cầu thế giới thay đổi nhanh chóng Điều này thể hiện những đòi hỏi chẳng những có thật

mà còn đang ngày càng mãnh liệt hơn Không thể thỏa mãn những đòi hỏi đó được,

nếu mỗi con người không học cách học Học cách học chính là học cách tự học

Trong cuốn “Tự học – Lí luận và thực tiễn” của tác giả Sandra Kerka (1999), cho rằng quan niệm sai lầm lớn nhất là cố gắng để nắm bắt được bản chất của TH trong một định nghĩa duy nhất Tác giả cho rằng cho dù nghiên cứu hay thực hành, học cá nhân hay học nhóm, mỗi một cá nhân người học có phương pháp, có năng lực riêng biệt – chính sự riêng biệt ấy cho thấy năng lực tự học và việc tự học của mỗi cá nhân là khác nhau

Công trình “Học tập một cách thông minh” của Michael Shayer và Philip Adey, NXB viện Đại học mở Buckingham, 2002 (Bản tiếng Anh: Learning Intelligence)

đã đưa ra nhiều biện pháp giúp HS học tập một cách thông minh Các tác giả chú trọng vào tìm hiểu nhu cầu, mong muốn của HS từ đó đưa ra những gì cần giúp đỡ các em trong quá trình tự học Bên cạnh đó Michael và Phillip còn quan tâm đến những giao tiếp của HS khi hoạt động nhóm, thông qua những ghi chép về các đoạn hội thoại của các em có thể kết luận mức hiểu bài cũng như mức độ tích cực của HS khi tự học

Trang 18

9

Richard Smith, giáo sư tại Đại học Warwick, trong cuốn sách “Tự học”, của nhà xuất bản Đại học Oxford (2008), ông lại cho rằng tự học có nghĩa là người học tự chủ Theo ông đây không hẳn là một phương pháp trong dạy học mà là một mục tiêu quan trọng của giáo dục Ý tưởng về tự chủ của người học không phải là mới, ông còn gọi thuật ngữ này với cách gọi khác như: Cá nhân hóa, người học độc lập Điều này có ý nghĩa là người học phải có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm và ra quyết định đối với việc học của mình Tác giả James H.Tronge với công trình

“Những phẩm chất của người GV hiệu quả”, NXB Giáo dục 2011, người dịch Lê Văn Canh đã nhấn mạnh đến việc GV tạo lập một môi trường học tập hiệu quả cho

HS, trong đó có việc khuyến khích và phát triển năng lực tự học đáp ứng những nhu cầu cá nhân của các nhóm HS chuyên biệt trong lớp học Ông chú trọng việc hỗ trợ các hoạt động tích cực của HS thông qua thủ thuật đặt câu hỏi và thảo luận Công trình “Nghệ thuật và khoa học dạy học”, NXB Giáo dục năm 2011, của nhà giáo dục học nổi tiếng người Mĩ Robert J.Marazano, GS Nguyễn Hữu Châu dịch lại đề cập đến việc hình thành năng lực tự học cho HS thông qua việc trả lời các câu hỏi lớn trong mỗi chương Những câu hỏi này tập trung vào việc hình thành thái độ học tập tích cực cho HS, năng lực vận dung kiến thức và kiểm nghiệm các giả thuyết về kiến thức mới và làm thế nào để xây dựng bài học một cách hiệu quả

Như vậy, qua các nghiên cứu tiêu biểu của các nhà giáo dục học và tâm lý học thế giới về tự học và năng lực tự học chúng tôi nhận tự học ấy: tự học là yếu tố quyết định cho xu hướng học tập suốt đời của mỗi cá nhân trong xã hội hiện đại Việc phát triển năng lực tự học là vô cùng cần tự học iết, ảnh hưởng to lớn và trực tiếp tới việc học của người học

Mô hình lớp học đảo ngược

Eric MaZur ở đại học Harvad đã phát triển phương pháp “hướng dẫn theo cặp” vào những năm 20 của thế kỉ XX Ông nhận thấy rằng việc sử dụng máy tính trong việc giảng dạy giúp ông hướng dẫn học viên chứ không phải diễn thuyết Mazur đã

xuất bản một cuốn sách vào năm 1997 “Peer Instruction: A User's Manual Series in Educational Innovation” Cách tiếp cận của ông là chuyển thông tin chuyển ra khỏi lớp

Trang 19

10

học và đồng hóa thông tin vào lớp học, cho phép ông huấn luyện các sinh viên trong

việc học của họ thay vì các bài giảng [19]

Tại hội thảo quốc tế lần thứ 11 về dạy và học đại học, Baker trình bày “Lớp học đảo ngược: sử dụng công cụ quản lí khóa học trực tuyến để GV trở thành người hướng dẫn” Bài báo của Baker đưa ra một mô hình mẫu của một lớp học đảo ngược [13]

Năm 1993, Alison King xuất bản công trình “From sage on the stage to guide on the side” (Từ nhà thông thái trên các tượng đài thành người đồng hành bên cạnh

bạn) Trong đó, King đặc biệt chú trọng vào việc GV cần sử dụng thời gian ở lớp để

tổ chức cho HS tìm hiểu ý nghĩa của bài học hơn là truyền đạt thông tin Mặc dù

chưa đưa ra khái niệm Flipped Classroom nhưng công trình của King thường được

các nhà giáo dục trích dẫn như là sự thúc đẩy và cách tân cho phép dành không gian

lớp học vào các hoạt động học tập tích cực [22]

Đến năm 2000, các tác giả Lage, Platt và Treglia xuất bản công trình “Inverting the Classroom: A gateway to Creating an Inclusive Learning Environmen” (Đảo

ngược lớp học - cánh cửa dẫn đến sự sáng tạo môi trường học tập trọn vẹn), trong

đó giới thiệu các nghiên cứu về lớp học đảo ngược tại các trường cao đẳng Nghiên cứu của họ tập trung vào khoa kinh tế của 2 trường cao đẳng Lage, Platt, và Treglia khẳng định rằng người ta có thể tận dụng thời gian học (di chuyển trình bày thông tin qua bài giảng ra khỏi lớp học truyền thông như máy tính hoặc VCR) để đáp ứng nhu

cầu của sinh viên với một loạt các phong cách học tập [24]

Trong bài thuyết trình lớp học đảo ngược (2006), Tenneson và McGlasson trình

bày một phương cách cho GV cân nhắc xem họ có nên đảo ngược lớp học của mình hay không và đưa ra các cách để cải tiến quá trình dạy Đồng thời, bài thuyết trình này

cũng đi sâu vào hệ thống quản lí việc học trên máy tính [15]

Năm 2007, Jonathan Bergmann và Aaron Sams, hai GV hóa học trường THPT Woodland Park (Mỹ), ghi lại những bài giảng của mình và cung cấp cho HS vì nhiều lý do khác nhau đã không đến lớp một cách đầy đủ để theo kịp chương trình,

qua đó họ đã xây dựng mô hình Flipped Classroom, làm thay đổi hoàn toàn cách dạy của GV, cách học của HS Họ là đồng tác giả của mô hình “Flip Your

Trang 20

11

Classroom: Reach Every Student in Every Class Every Day” (Đảo chiều lớp học:

tiếp cận từng HS trong từng lớp theo từng ngày), có ý tưởng đơn giản: “Điều gì sẽ xảy ra nếu chuyển bài tập ở lớp thành bài tập ở nhà và bài tập ở nhà thành bài tập ở lớp?” Sau đó, cả hai tác giả đã tiếp tục đặt ra giả thiết: “Điều gì sẽ xảy ra nếu thôi hướng dẫn trực tiếp và ghi hình sẵn những bài giảng để các em có thể truy cập ở nhà?” Hai ông đã nghiên cứu và đưa ra quan điểm của mình: “Để lấy ấy lại được thời gian quý báu từ bài tập ở lớp, GV có thể tiến hành cách học theo dự án, tương tác trong cách thức giả lập hoặc vấn đề cần giải quyết, khuyến khích đặt câu hỏi và phát triển khả năng làm chủ vấn đề của HS Mô hình học đảo chiều này thậm chí mang lại nhiều cơ hội hơn nữa cho những người tán thưởng phong trào dạy theo mô hình một - một Điểm mấu chốt ở đây là khi phải vật lộn với vấn đề của mình, thì trong phòng học đã có sẵn người thầy ở đó để giúp các em vượt qua” Jonathan và Aaron đã nhận được phần thưởng của tổng thống vì những thành công trong mô

hình Flipped Classroom [18]

Giáo sư Bill Brantley trình bày một mô hình lớp học đảo ngược ở Hội thảo dạy

và học của Hiệp hội khoa học chính trị Mỹ tháng 2/2007 Ông miêu tả cách sử dụng

hai phiên bản cho lớp học trong khi gửi tài liệu qua phần mềm Learning

Management System (LMS) [22]

Cũng vào năm 2007, Jeremy Strayer công bố một nghiên cứu thực hiện tại Đại

học bang Ohio với nhan đề “Những ảnh hưởng của lớp học đảo ngược đối với môi trường học: so sánh hoạt động giữa lớp học truyền thống và lớp học đảo ngược có

sử dụng một hệ thông minh” Nghiên cứu nêu bật tầm quan trọng của việc chú trọng

tới sự liên kết của hoạt động trên lớp và ngoài lớp học có thể tiêu cực hoặc tích cực

ảnh hưởng tới việc tham gia học của HS [22]

1.1.1.2 Lịch sử nghiên cứu ở Việt Nam

Năng lực tự học

Nguyễn Cảnh Toàn, một trong những tác giả có công nghiên cứu rất nhiều về tự học và làm thế nào để tự học có hiệu quả, ông cùng một số tác giả xuất bản khá nhiều đầu sách viết về vấn đề này tiêu biểu như: “Quá trình dạy tự học”, NXB Giáo dục 1996; “Học và dạy cách học”, NXB Đại học Sư phạm 2002; “Tự học như thế

Trang 21

12

nào cho tốt”, NXB Thành phố Hồ Chí Minh năm 2009; “Học để đuổi kịp và vượt”, NXB Lao động năm 2010 Qua tham khảo các đầu sách trên chúng tôi thấy ông cho rằng: tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ như: quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp và có khi cả cơ bắp cùng các phẩm chất của mình,

cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm lĩnh một lĩnh vực nào đó của nhân loại, biến nó thành sở hữu của mình Những tác phẩm trên như lời tâm sự, đúc rút kinh nghiệm về tự học đồng thời cũng là những cẩm nang quý giá

về nghiên cứu phương pháp tự học Trong cuốn “Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới” NXB Giáo dục (2008), Thái Duy Tuyên đã đề cập nhiều đến vấn

đề tự học Tác giả đã dành hẳn chương VIII để nói về việc bồi dưỡng năng lực tự học Trong chương này tác giả đã đề cập đến các vấn đề chủ yếu: khái niệm tự học, nội dung hoạt động tự học, những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tự học, một

số vấn đề cấp thiết như xây dựng động cơ học tập, làm việc với sách, nghe và ghi khi nghe giảng, đọc sách - một dạng tự học quan trọng và phổ biến, dạy trên lớp thế nào để HS có thể tự học và biên soạn SGK theo hướng bồi dưỡng phương pháp tự học Theo tác giả, hình thức và đối tượng tự học hết sức phong phú và đa dạng Đối với mỗi người trong suốt cuộc đời có lẽ đều phải trải qua các dạng tự học, mỗi người cần tự tìm tòi rút kinh nghiệm để xây dựng cho mình một phương pháp tự học riêng và phù hợp đối với bản thân

Bên cạnh đó rất nhiều nguồn tài liệu về lí luận dạy học, PPDH đề cập đến các kĩ thuật, các PPDH như: dạy học nhóm, dạy học dự án, dạy học hợp tác, kĩ thuật bể cá,

kĩ thuật tia chớp, khăn trải bàn, sơ đồ tư duy… Đó là những phương pháp và kĩ thuật dạy học đã và đang áp dụng thành công ở nhiều môn học, trong đó có môn Sinh học Với những phương pháp và kĩ thuật dạy học này, góp phần thúc đẩy khả năng học tập, tăng cường tính chủ động, sáng tạo cho HS điều này có ý nghĩa rất lớn vào việc hình thành và phát triển năng lực tự học cho HS Những nguồn tài liệu

đó tiêu biểu như: Dạy học hiện đại - lí luận, biện pháp, kĩ thuật của Nguyễn Thành Hưng, Lí luận dạy học kĩ thuật phương pháp và quá trình dạy học của Nguyễn Văn Cường và Bernd Meier, Tiếp cận hiện đại hoạt động dạy học của Đỗ Ngọc Đạt, Dạy học và học đọc: sách tham khảo cho GV và người tự học của Phạm Toàn và Nguyễn

Trang 22

13

Trường……Lương Việt Thái và nhóm nghiên cứu với đề tài Phát triển chương trình giáo dục phổ thông theo định hướng phát triển năng lực người học, đề tài khoa học cấp Bộ - Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, 2011, nhấn mạnh các PPDH nhằm phát triển toàn diện HS, đáp ứng được yêu cầu của đổi mới PPDH theo hướng tiếp cận năng lực người học trong đó có năng lực tự học

Lớp học đảo ngược

Ở Việt Nam, đã có một số cơ sở giáo dục sử dụng mô hình Flipped Classroom

trong giảng dạy như: Đại học FPT, Anh ngữ Việt Mỹ VATC, Trung tâm Anh ngữ Quốc tế Apollo và các trang web giáo dục trực tuyến như Zuni.vn và Moon.vn Tuy nhiên, ở khối THPT HS chưa được tiếp cận với phương pháp này một cách cụ thể

và có hệ thống nên phương pháp này vẫn được coi là một PPDH mới mẻ

Việc nghiên cứu lí luận về PPDH theo mô hình lớp học đảo ngược đã được một

số tác giả đề cập đến trong một số bài báo, tạp chí giáo dục chẳng hạn như:“Dạy học theo mô hình Flipped Classroom” của Nguyễn Chính (GV trường đại học

Khánh Hòa) trên báo Tia Sáng (Bộ Khoa học Công nghệ ngày 4/4/2016) tập trung sâu nghiên cứu về việc thiết kế và xây dựng các web học tập online và quy tắc ứng

dụng mô hình này cho các tiết học trên giảng đường đại học – điều mà “Cơ hội với học tập đảo ngược” của Phạm Anh Đới (GV đại học FPT) trên Tạp chí Công nghệ

Giáo dục số 4 (Đại học FPT) cũng hướng tới để chữa căn bệnh “chán giảng đường

cho sinh viên Còn với“Áp dụng mô hình lớp học đảo ngược trong hoạt động dạy học ngoại ngữ” của Trần Tín Nghĩa (GV Đại học Hà Nội) trên Tạp chí Khoa học

Ngoại ngữ số 46 (tháng 3 năm 2016) thì đi sâu làm rõ những ích lợi của việc ứng dụng mô hình trong học ngôn ngữ thứ 2 sao cho thuận tiện và tiết kiệm tối đa thời gian Bên cạnh đó, nguyên tắc thiết kế các bài giảng video để upload lên các trang

xã hội học tập cũng được làm sáng tỏ trong “Lớp học đảo ngược- mô hình dạy học kết hợp trực tiếp và trực tuyến” của Nguyễn Văn Lợi trên Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ số 34 (2014) và "Tổ chức lớp học đảo ngược học phần kiến trúc máy tính với sự hỗ trợ của hệ thống học tập trực tuyến" của Nguyễn Quốc Khánh trên tạp chí thiết bị giáo dục số 127, tháng 03 năm 2016 Đặc biệt với “Dạy học theo

Trang 23

14

dự án với mô hình lớp học đảo ngược trong B-learning” của Ngô Tứ Thành,

Nguyễn Thế Dũng trên , Tạp chí Khoa học số 8A (Đại học Sư phạm Hà Nội), 2015 không chỉ nêu ra được những ích lợi to lớn khi áp dụng mô hình trong không chỉ các kiến thức giảng dạy trên giảng đường đại học mà còn trong cả chương trình phổ thông các cấp

Tuy nhiên, số đề tài nghiên cứu về áp dụng mô hình lớp học đảo ngược vào từng phần cụ thể trong từng môn học còn rất hạn chế, đặc biệt là môn Sinh học

1.1.2 Năng lực và năng lực tự học

1.1.2.1 Khái niệm về năng lực

Trong Tự Điển Webster's New 20TH Century (1965): “Năng lực là khả năng đáp ứng thích hợp và đầy đủ các yêu cầu của một lĩnh vực hoạt động” Cùng quan điểm với các ý kiến trên là F.E Weinert khi tác giả cho rằng: “Năng lực là những kĩ năng, kĩ xảo học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ xã hội và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt” [16]

Ở Việt Nam, các vấn đề “năng lực” cũng đã được đề cập Tự học eo Từ điển Tiếng Việt: “Năng lực là phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn tự học ành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” Trong các chương trình dạy học của các nước tự học uộc khối OECD hiện nay, người ta cũng sử dụng

mô hình đơn giản hơn, phân chia năng lực tự học ành hai nhóm chính, đó là các năng lực chung và các năng lực chuyên biệt

Tóm lại, trong luận văn này, chúng tôi lựa chọn định nghĩa để mô tả về năng lực dựa trên chương trình Giáo dục phổ tự học ông tổng tự học ể của Bộ Giáo dục và

Đào tạo (ban hành vào tự học ành 12/2018): “Năng lực là tự học uộc tính cá nhân được hình tự học ành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến tự học ức, kĩ năng và các nhóm tự học uộc tính cá nhân khác như hứng tự học ú, niềm tin, ý chí, tự học ực hiện tự học ành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ tự học ể” [1] làm cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu

Trang 24

15

1.1.2.2 Năng lực tự học

Năng lực tự học là năng lực hết sức quan trọng vì tự học là chìa khoá tiến vào tự học ế kỉ XXI, một tự học ế kỉ với quan niệm học suốt đời, xã hội học tập Vì vậy, quan trọng nhất đối với HS là học cách học để có năng lực tự học mới có tự học ể học suốt đời được

Năng lực tự học là khả năng xác định được nhiệm vụ học tập một cách tự giác, chủ động; tự đặt được mục tiêu học tập để đòi hỏi sự nỗ lực phấn đấu tự học ực hiện; tự học ực hiện các phương pháp học tập hiệu quả; điều chỉnh những sai sót, hạn chế của bản tự học ân khi tự học ực hiện các nhiệm vụ học tập tự học ông qua

tự đánh giá hoặc lời góp ý của GV, bạn bè; chủ động tìm kiếm sự hỗ trợ khi gặp

khả năng tự mình tìm tòi, nhận tự học ức và vận dụng kiến tự học ức vào tình huống

mới hoặc tương tự với chất lượng cao Giáo dục năng lực tự học củ a người học là một phương tự học ức giáo dục cơ bản, trong đó, nhà trường và xã hội tạo ra các

nhân tố có tính quy định việc hình tự học ành, phát triển nhân cách, tính tự chủ, tự sáng tạo và tự chịu trách nhiệm của người học đối với mọi hoạt động học tập, nhận

tự học ức khoa học, hoạt động sống của chính mình [5]

1.1.2.3 Cấu trúc và vai trò của phát triển năng lực tự học

Theo chúng tôi, năng lực tự học được thể hiện ở kiến thức về phương pháp tự học

bộ môn, kĩ năng tự học và tinh thần thái độ học tập mà chúng tôi đã đề cập tới ở mục nội dung của năng lực tự học Tất cả những nội dung đó được biểu hiện ở các thành tố sau:

Tự làm việc với các tài liệu học tập: Tài liệu học tập ở đây chúng tôi tập trung chủ yếu vào SGK và các tài liệu tham khảo khác SGK là tài liệu học tập cơ bản cho

HS Nội dung của SGK cung cấp cho HS hệ thống tri thức khoa học qua đó rèn luyện khả năng tư duy logic, năng lực tự học, giáo dục tư tưởng đúng đắn cho HS

Có năng lực tự làm việc với SGK có nghĩa là HS hiểu được vai trò tác dụng cũng như cấu trúc của SGK Từ những hiểu biết này trong quá trình dạy học GV sẽ giúp

Trang 25

Vận dụng các thao tác tư duy vào học tập: Đây là một năng lực rất quan trọng cần phát triển cho HS trong học tập ở trường THCS Phát triển năng lực tư duy không chỉ giúp HS lĩnh hội và nắm vững các khái niệm, nêu quy luật mà còn giáo dục các em tính kiên trì trong học tập góp phần phát triển các năng lực nhận thức, đặc biệt là khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn cuộc sống Để có năng lực tư duy HS cần được được rèn luyện các hoạt động như: phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa và khái quát hóa Hiện nay chúng ta đang sống trong một “thế giới phẳng” do vậy có rất nhiều nguồn thông tin, nhiều tư liệu tham khảo, nhiều tư tưởng, nhiều quan niệm nếu không có khả năng tự đánh giá, không được định hướng đúng HS rất dễ hiểu nhầm hoặc hiểu sai một vấn đề

Tự ghi chép khi nghe giảng: Khi học tập trên lớp, HS phải biết vận dụng nhiều thao tác như nghe giảng, ghi chép, suy nghĩ, trả lời câu hỏi, trao đổi, thảo luận, hoạt động nhóm… Trong những hoạt động đó HS cần phải biết kết hợp các thao tác nghe, ghi chép và suy nghĩ trả lời câu hỏi Phát triển được năng lực này sẽ giúp HS học tập hiệu quả hơn, linh hoạt hơn trong tư duy, giáo dục ý thức tự giác, kiên nhẫn

và khả năng tư duy nhanh Vì vậy trong quá trình nghe giảng hay nghe phần thuyết trình, HS phải biết chọn lọc kiến thức để ghi chép theo ý hiểu của cá nhân Để việc lắng nghe có hiệu quả, HS phải luôn chú ý đến hoạt động của GV, phải theo sát các mục mà GV ghi trên bảng và kết hợp với SGK, trước khi nghe phải tìm hiểu qua nội

Trang 26

17

dung (tên chủ đề, các câu hỏi, các nguồn tài liệu) chuẩn bị các công cụ ghi chép Tốc độ nói sẽ nhanh hơn tốc độ ghi nên GV cần hướng dẫn HS cách ghi chép cho phù hợp, vừa ghi chép vừa suy nghĩ về vấn đề Một số KN trong ghi chép như ghi thành các mục để dễ theo dõi, ghi những ý chính, ghi theo ý hiểu, dùng các chữ viết tắt và kí hiệu quy ước một cách nhất quán, có những nội dung có thể khái quát bằng

sơ đồ, bảng biểu

Tự phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề: Trong quá trình dạy và học ở THCS việc phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề là rất quan trọng Phát hiện vấn đề là trong quá trình học GV đặt HS vào các tình huống có vấn đề (đó là những tình huống có chứa đựng những mâu thuẫn giữa những điều đã biết với điều chưa biết, giữa những ý kiến trái ngược nhau hoặc khác với những điều HS đã biết) có tác dụng kích thích các hoạt động nhận thức cũng như các hoạt động xã hội của người học HS tham gia giải quyết vấn đề theo những cách khác nhau dưới sự hướng dẫn của GV, qua đó HS lĩnh hội được tri thức mới cũng như nội dung bài học Giải quyết các vấn đề là việc liên hệ kiến thức cũ và mới, phân tích rõ đặc điểm để tìm ra giải pháp nếu chưa thể tìm ra câu trả lời nên phản hồi lại với GV hoặc trao đổi với bạn bè Vấn đề được đặt ra phải dựa vào kiến thức có liên quan đến nội dung bài học, khi đưa ra sẽ kích thích sự tò mò, hứng thú của HS Vấn đề được xây dựng dựa vào một tình huống, sự việc, hiện tượng… có trong cuộc sống cụ thể Bên trong đã chứa đựng những mâu thuẫn, không trừu tượng, thúc đẩy được động cơ học tập của người học Vấn đề không quá phức tạp cũng không quá đơn giản, có nhiều cách thể hiện và giải quyết vấn đề, từ nhiều nguồn tài liệu tham khảo, các phương tiện thông tin hay từ sự hướng dẫn của GV Việc phát hiện và tự giải quyết vấn đề còn được thể hiện qua việc trình bày và làm bài thi

Tự kiểm tra - đánh giá, ôn tập và củng cố kiến thức: Việc tự ôn tập củng cố kiến thức là công việc rất quan trọng, điều này giúp HS có được kiến thức cơ bản, tạo nền tảng cho việc phân tích, tư duy giải quyết các vấn đề môn học Thực hiện hoạt động tự ôn tập củng cố kiến thức chính là việc HS hoàn thành các bài tập do GV đưa ra trước và sau mỗi giờ học Hình thức của việc tự ôn tập củng cố kiến thức chủ yếu diễn ra hai loại hình là năng lực tự học ở nhà và trên lớp Với việc tự ôn tập

Trang 27

tư tưởng đạo đức Hoạt động tự kiểm tra đánh giá thực chất là một trong các hoạt động tự học Phát triển cho HS khả năng tự kiểm tra đánh giá, tự ôn tập và củng cố kiến thức góp phần đổi mới PPDH theo hứng tích cực hóa người học, từ đó nâng cao chất lượng dạy học bộ môn, nó có ý nghĩa trên cả ba mặt: kiến thức, KN và thái

độ

Để đánh giá chính xác năng lực tự học của HS được hình thành sau khi ứng dụng

mô hình lớp học đảo ngược thì cần dựa vào các tiêu chí sau đây:

- Xác định nhiệm vụ học tập tự giác, chủ động, có mục tiêu học tập cụ thể

- Lập kế hoạch tự học đối với từng đối tượng cụ thể

- Thực hiện kế hoạch học tập theo các công đoạn khác nhau, các hình thức tự học phù hợp

- Tự kiểm tra – đánh giá kết quả tự học về từng đối tượng, từ đó chủ động điều chỉnh thời gian, cách học phù hợp để đạt hiệu quả tự học cao

Đặc biệt, “để tiện cho việc đánh giá thì mỗi tiêu chí cần phân ra các mức độ khác nhau để cụ thể hóa việc đánh giá Ví dụ, tiêu chí thực hiện kế hoạch học tập cần chia nhỏ thành các mức độ đạt được như: chưa thực hiện được kế hoạch, thực hiện được một phần kế hoạch, thực hiện được kế hoạch nhưng còn nhiều bất cập, chưa phù hợp, thực hiện tốt kế hoạch cho kết quả mong muốn”[16]

1.1.3 Khái niệm dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược

Mô hình dạy học lớp học đảo ngược được áp dụng ở Mỹ cách đây hơn 10 năm (2007) Năm 2015, mô hình này được bầu chọn nằm trong top 5 những xu hướng trong công nghệ giáo dục Mỹ Lớp học đảo ngược là mô hình giáo dục tiên tiến được ứng dụng dựa trên sự phát triển của công nghệ E-Learning và phương pháp đào tạo hiện đại [8]

Trang 28

19

Các lớp học đảo ngược mô tả một “sự đảo ngược của giáo dục truyền thống”, nơi

HS được tiếp xúc với nguồn thông tin mới bên ngoài lớp học, thường là thông qua việc đọc hoặc xem bài giảng, xem video và sau đó thời gian học được sử dụng để làm các công việc lĩnh hội kiến thức mang tích thách thức thông qua các chiến lược như giải quyết vấn đề, thảo luận hoặc tranh luận

Trong mô hình lớp học đảo ngược, HS nghiên cứu các bài giảng ở nhà thông qua các trang web học tập còn giờ học trên lớp sẽ được dành cho các hoạt động hợp tác giúp củng cố thêm các khái niệm đã tìm hiểu HS sẽ chủ động trong việc tìm hiểu, nghiên cứu lý thuyết hơn, các em có thể tiếp cận bài giảng bất kỳ lúc nào, có thể dừng bài giảng lại, ghi chú và xem lại nếu cần (điều này là không thể nếu nghe GV giảng dạy trên lớp) Công nghệ E-learning giúp HS hiểu kỹ hơn về lý thuyết từ đó sẵn sàng tham gia vào các buổi học nhóm, bài tập nâng cao tại giờ học trên lớp [15]

Cơ sở khoa học của phương pháp này là thang đo tư duy Bloom (2001) Theo thang đo này, “nhớ, hiểu” lý thuyết là những hoạt động đòi hỏi mức tư duy thấp nhất, do đó, HS có thể tự xử lý một mình tại nhà, còn “áp dụng”, “phân tích” và

“sáng tạo” là các hoạt động đòi hỏi mức tư duy đào sâu hơn và cần được thực hiện tại lớp, khi có thầy cô và bạn bè cùng thảo luận, chia sẻ, hỗ trợ Mô hình “Dạy học đảo ngược” là phù hợp với thang đo tư duy Bloom [7] [8]

Hình 1.1 Mô tả lớp học đảo ngược

1.1.4 Đặc điểm của dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược

1.1.4.1 Sự khác nhau giữa mô hình lớp học đảo ngược với mô hình dạy học truyền thống

Trang 29

20

Sự khác nhau giữa lớp học đảo ngược với lớp học truyền thống ở cách tổ chức và quy trình thực hiện Nếu ở lớp học truyền thống, GV là trung tâm, HS đến lớp học bài mới dưới sự giảng dạy của GV và sau đó về nhà làm bài tập thì ở lớp học đảo ngược, HS sẽ là trung tâm, HS xem trước bài giảng, tự chủ động khám phá kiến thức ở nhà và đến lớp để trao đổi, thảo luận với GV, bạn bè để hiểu vấn đề một cách sâu, rộng hơn

Trong mô hình lớp học đảo ngược, HS sẽ chủ động trong việc tìm hiểu, nghiên cứu lý thuyết hơn, các em có thể tiếp cận video bất kỳ lúc nào, có thể dừng bài giảng lại, ghi chú và xem lại nếu cần (điều này là không thể nếu nghe GV giảng dạy trên lớp) Công nghệ E-Learning giúp HS hiểu kỹ hơn về lý thuyết từ đó sẵn sàng tham gia vào các buổi học nhóm, bài tập nâng cao tại giờ học của lớp Điều này giúp việc học tập hiệu quả hơn, giúp người học tự tin hơn

Bên cạnh đó, lớp học đảo ngược cho phép GV dành thời gian nhiều hơn với từng

cá nhân HS chưa hiểu kỹ bài giảng và tại lớp học, HS có thể chủ động tham gia các cuộc thảo luận

Mô hình lớp học đảo ngược có tính khả thi cao đối với HS có khả năng tự học, có

kỷ luật và ý chí Hiệu quả của phương pháp đã được kiểm chứng từ lâu ở nhiều quốc gia có nền giáo dục phát triển mạnh mẽ như Australia, Mỹ và các nước châu Âu…[12]

Ở lớp học truyền thống, HS đến trường ngồi nghe giảng bài thụ động và hình thức này được giới chuyên môn gọi là “Low thinking” Sau đó, các em về nhà làm bài tập và quá trình làm bài tập sẽ khó khăn nếu HS không hiểu bài Lúc này cha mẹ các em sẽ phải đóng vai người thầy “bất đắc dĩ” để giúp con mình làm bài và hầu hết đều không thành công trong vai trò này, hoặc rất vất vả vì phụ huynh không có chuyên môn [8]

Như vậy, nhiệm vụ truyền đạt kiến thức mới thuộc người thầy, và theo thang tư duy Bloom thì nhiệm vụ này chỉ ở những bậc thấp (tức là “Biết" và “Hiểu”), còn nhiệm vụ của HS là làm bài tập vận dụng và nhiệm vụ này thuộc bậc cao của thang

tư duy (bao gồm “Ứng dụng”, “Phân tích”, “Đánh giá” và “Sáng tạo") Điều trở

Trang 30

Cách học này đòi hỏi HS phải sử dụng nhiều tới hoạt động trí não nên được gọi

là “High thinking" Như vậy những nhiệm vụ bậc cao trong thang tư duy được thực hiện bởi cả thầy và trò Phương pháp này không cho phép HS ngồi nghe thụ động nên giảm được sự nhàm chán Mặc dù vậy, muốn quá trình dạy học đảo ngược, khiến HS thành công thì những giáo trình E-Learning phải rất bài bản và hấp dẫn để lôi cuốn được HS tập trung vào việc học GV phải quản lý và đánh giá được việc tiếp thu kiến thức thông qua các bài tập nhỏ đi kèm với giáo trình [12]

Có thể tóm tắt sự khác nhau giữa lớp học truyền thống và lớp học đảo ngược như sau:

Bảng 1.1 Sự khác nhau giữa lớp học truyền thống và lớp học đảo ngược

- GV chuẩn bị giáo án lên lớp

- HS nghe giảng và ghi chép bài trên

Trang 31

22

người định hướng và hướng dẫn

- Không phù hợp với thang tư duy

Bloom vì người thầy có nhiệm vụ

truyền đạt kiến thức, và theo thang tư

duy Bloom thì nhiệm vụ này chỉ ở

những bậc thấp (tức là “Biết" và

“Hiểu”) Còn nhiệm vụ của HS là làm

bài tập vận dụng và nhiệm vụ này thuộc

bậc cao của thang tư duy (bao gồm

“Ứng dụng”, “Phân tích”, “Đánh giá” và

“Sáng tạo")

- Phù hợp với thang tư duy Bloom là do

đã có sử đảo ngược Nhiệm vụ của HS

là tìm hiểu các kiến thức ở những bậc thấp “Biết” và “Hiểu”, còn GV thì giúp

đỡ HS trong quá trình khám phá và mở rộng thông tin, đồng thời rèn luyện khả năng tư duy ở những bậc cao hơn bao gồm “Ứng dụng”, “Phân tích”, “Đánh giá” và “Sáng tạo"

- Khả năng tư duy và hoạt động trí não

- HS không có nhiều thời gian để trao đổi

với GV nếu không hiểu kĩ bài giảng

- HS chưa hiểu kĩ bài giảng có nhiều thời gian hơn để trao đổi với GV

1.1.4.2 Ưu điểm của mô hình lớp học đảo ngược

Mô hình lớp học đảo ngược giúp người học có trách nhiệm hơn cho việc học tập, tìm hiểu và nghiên cứu kĩ hơn, sâu hơn nội dung cốt lõi một cách độc lập hoặc theo nhóm trước khi tiếp cận với bài học trên lớp Điều này cho phép tạo ra các cơ hội để người học có thể áp dụng các kiến thức và kỹ năng cho một loạt các hoạt động sử dụng tư duy bậc cao hơn [13]

Việc “đảo ngược” các hoạt động truyền thống cho phép hướng đến nhiều đối tượng trong cùng một thời điểm, mang tính hỗ trợ và thúc đẩy hơn là điều tiết quá trình dạy học (điều thường diễn ra trong dạy học truyền thống) Các cơ hội học tập trở nên có ý nghĩa hơn đối với người học khi họ được tạo điều kiện tiếp cận với thông tin, cách học phù hợp với phong cách học và năng lực cá nhân, sự hướng dẫn học tập cụ thể làm tăng tính chủ động, tích cực và động cơ học tập cá nhân, khả

Trang 32

Bên cạnh đó, mô hình còn cung cấp nội dung chương trình học tập một cách có định hướng, tối ưu hóa thời gian ở lớp GV xác định rõ nội dung và mục đích bài học cho HS, từ đó HS chủ động khám phá, trải nghiệm và lĩnh hội Từ đó làm tăng tính tích cực, chủ động sáng tạo của HS phù hợp với định hướng phát triển năng lực

ở HS

Cuối cùng, mô hình lớp học đảo ngược giúp chia sẻ những bài giảng, video, tài liệu hay và bổ ích tới cộng đồng một cách dễ dàng, không tốn kém

1.1.4.3 Hạn chế của mô hình lớp học đảo ngược

Bên cạnh những ưu điểm mô hình lớp học đảo ngược vẫn tồn tại một số hạn chế sau:

Không phải gia đình tất cả các HS đều có cơ sở hạ tầng về truyền thông đồng đều Không phải tất cả HS đều dễ dàng truy cập, lấy được bài giảng của GV để nghiên cứu

Tiếp theo là “một số lượng ngày càng nhiều các phụ huynh và nhà giáo dục không tin rằng chúng ta cần đánh cắp thời gian ở nhà của trẻ em bằng các bài tập về nhà bắt buộc Với các em, thời gian ở nhà cần thiết dành cho những đam mê riêng, cho sự kết nối với bạn bè và gia đình, để vui chơi hoặc tham gia các hoạt động xã hội, thể thao…” [11] [18]

Ngoài ra, do chưa hiểu thấu đáo về lớp học đảo ngược, nhiều GV sẽ đưa ra những biện pháp “sư phạm tồi”, như lời của Nielsen thuật lại “Khi tôi chia sẻ ý tưởng về lớp học đảo ngược cho một nhà quản lý, bà lập tức phấn khích nói lại với tôi: thật tuyệt vời! Chúng tôi sẽ có nhiều thời gian hơn ở lớp học để chuẩn bị cho

HS giải các đề thi” Không phải các trường đều sẵn sàng để HS học tập theo một nhịp độ hợp với sự phát triển của từng HS Liệu các trường có nhận thức được rằng:

Trang 33

24

“không phải ai cùng một lứa tuổi cũng cần phải đồng thời ở cùng một giai đoạn như nhau về nhận thức?” [18]

Nếu tổ chức không cẩn thận, chỉ mang tính hình thức thì lớp học đảo ngược cũng

là một dạng của lớp học truyền thống Tuy nhìn qua thì mô hình này có vẻ hiện đại, mới mẻ nhưng bản chất vẫn là GV đưa ra bài giảng của mình và HS theo đó để thực hiện

1.1.5 Nguyên tắc tổ chức hoạt động theo mô hình lớp học đảo ngược

Lớp học đảo ngược đảm bảo nguyên tắc phải lấy người học làm trung tâm Thời gian ở lớp được dành để khám phá các chủ đề sâu hơn và tạo ra những cơ hội học tập thú vị Trong khi đó, những bài giảng, những video giáo dục trực tuyến được thiết kế để truyền tải nội dung bên ngoài lớp học Ở lớp học đảo ngược, việc truyền tải nội dung có thể ở nhiều hình thức, do GV thiết kế Ở lớp học đảo ngược, HS có thể chủ động làm chủ các cuộc thảo luận

Ứng dụng CNTT trong dạy học là điều kiện quan trọng để triển khai lớp học đảo ngược Cụ thể, các công cụ CNTT sẽ hỗ trợ người học [15] [24]:

- Nắm bắt được các nội dung chính một cách thuận lợi, phù hợp năng lực, phong cách học và với tốc độ học tập (ví dụ: tài liệu bài giảng số hóa, các nội dung đa phương tiện tương tác),

- Trình bày các học liệu phù hợp với phong cách học, phương thức học khác nhau (ví dụ: văn bản, video, âm thanh, đa phương tiện),

- Tạo cơ hội thảo luận, trao đổi và tương tác trong và ngoài lớp học (ví dụ: các công

cụ trao đổi trực tuyến, chia sẻ xã hội, trả lời khảo sát, bỏ phiếu, các công cụ thảo luận, công cụ tạo nội dung),

- Cung cấp thông tin kịp thời cho phép tạo các cảnh báo, cập nhật và nhắc nhở người học (ví dụ: micro-blogging, công cụ thông báo),

- Cung cấp thông tin phản hồi tức thì, ẩn danh cho người dạy và người học nhằm mục đích đánh giá và đánh giá cải tiến, điều chỉnh vì sự tiến bộ của người học (ví dụ: câu hỏi kiểm tra nhanh, câu hỏi thăm dò/khảo sát, các công cụ đánh giá theo tiến trình )

Trang 34

Kết quả của việc nắm vững kiến thức chính là năng lực của HS HS ban đầu nộp bài kém chất lượng thì phải chỉnh sửa lại bài đó trước khi tiếp tục chuyển sang bài khác Trước khi đảo ngược, học nắm vững là điều không cần thiết ở hầu hết các trường Việc giảng bài khác nhau cho các nhóm HS với trình độ và khả năng khác nhau là không thể Việc kiểm tra cũng không thể hiện được bởi những HS tiếp thu nhanh có thể tiết lộ bài kiểm tra cho những người sau

Tim Kelly, người chiến thắng giải thưởng Presidential Award cho toán và khoa học đã áp dụng nguyên tắc học nắm vững vào lớp học đảo ngược cùng với đồng nghiệp của ông Cotrey là Sullian và Mike Brust Sullian ước tính rằng: 1 khóa học

có 12 bài thì mỗi bài cần 40-60 giờ học ở ngoài trường và bắt buộc với năm thứ nhất [21]

Áp dụng nguyên tắc học nắm vững vào lớp học đảo ngược xóa bỏ 2 việc mà GV thường làm ngoài lớp học đó là: soạn bài hằng ngày và chấm bài trên giấy Việc chấm bài được làm một là trực tiếp trên máy tính, hai là ở lớp Thay thế bài giảng bằng các hoạt động cá nhân hoặc nhóm làm tăng hoạt động ở trên lớp Mỗi HS sẽ

có việc để làm trên lớp Ở một số lớp, HS chọn cách để biểu lộ việc nắm vững bài của mình: kiểm tra, viết, nói, tranh luận và thậm chí là thiết kế một trò chơi có liên quan [18]

Trang 35

26

1.1.6 Quy trình dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược

Để dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược, đầu tiên GV sẽ thiết kế các bài giảng, video hoặc chia sẻ các tài liệu sau đó đưa lên mạng cho HS Với sự phát triển của CNTT việc này hoàn toàn dễ dàng và có thể nhờ sự trợ giúp của các công cụ như: Moodle, Edmodo, E-Learning Lab, Facebook… GV có thể tạo các lớp học trên mạng, thêm HS của mình vào lớp học sau đó tải các bài giảng, video, tài liệu lên HS xem bài giảng ở nhà và tự trải nghiệm, khám phá kiến thức, từ đó có thể rút

ra những kết luận về bài học, nếu không hiểu thì sẽ trao đổi với GV trên lớp Sau

đó, lên lớp HS thực hành, thảo luận với GV và các bạn khác để hiểu hơn bài học

Có thể khái quát quy trình dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược sau khi tham khảo thêm về phương pháp thực hiện giúp ứng dụng mô hình này hiệu quả hơn tại các trang web như educacause và edutopia blog [17, 18] bằng sơ đồ (Hình 1.2):

Hình 1.2: Quy trình dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược

1.1.7 Một số công cụ hỗ trợ dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược

Để tổ chức được lớp học đảo ngược hiệu quả, GV cần sự trợ giúp của một số công

cụ hỗ trợ Và có rất nhiều công cụ hỗ trợ với những tính năng ưu việt khác nhau như:

Công cụ mạng học tập xã hội

Lựa chọn chủ đề dạy học thích hợp

GV thiết kế các bài giảng, video, share các

tài liệu tham khảo lên mạng

HS xem bài giảng, video, tài liệu ở nhà

Lên lớp HS thực hành, thảo luận, trao đổi

với nhau và với GV trên lớp

Trang 36

27

Những công cụ này sử dụng sức mạnh của phương tiện truyền thông xã hội giúp cho việc học tập và kết nối được dễ dàng hơn

Edmodo nhờ có môi trường tương tác gần giống với Facebook, việc kết nối trực

tuyến cho lớp học trở nên đơn giản hơn với Edmodo

Grockit cũng là một trang mạng xã hội giúp HS kết nối với nhau trong giờ học EduBlogs là trang web cho phép GV và HS thiết lập blog học tập, an toàn và

hiệu quả Hiện tại trên thế giới, cộng đồng EduBlogs khá đông đảo và hoạt động chuyên về giáo dục

Skype là phương tiện liên lạc, truyền thông tuyệt vời cho lớp học, kết nối mọi

lúc, mọi nơivới chất lượng hình ảnh, âm thanh và đường truyền cực tốt

Wikispaces là nơi chia sẻ bài học và tư liệu trực tuyến của GV với HS hoặc cho

phép HS hợp tác xây dựng kho tri thức wiki của mình

Pinterest Bạn có thể gắn bất cứ hình ảnh nào bạn thấy thú vị lên Pinterest Ngoài

ra đây còn là nơi thu thập giáo án, các bộ dự án và tư liệu giảng dạy hữu ích

Schoology Thông qua trang này, GV có thể quản lý bài giảng, chia sẻ nội dung

và kết nối với những người trong cùng lĩnh vực giáo dục

Quora là một công cụ được dùng với nhiều mục đích, cực kỳ hữu hiệu cho

những người làm giáo dục GV có thể sử dụng Quora để kết nối với những nhà chuyên môn hoặc thu hút HS vào thảo luận sau giờ học

Ning Là công cụ cho phép tạo ra một hệ thống mạng xã hội theo cách cá nhân

hóa, hữu ích cho cả GV và sinh viên

OpenStudy Được sử dụng để khuyến khích HS cùng nhau học bằng cách sử

dụng một cách thức học tập xã hội

ePals Không chỉ có chức năng kết nối mọi người ở bất cứ nơi đâu, ePals là công

cụ rất mạnh để giúp HS học các ngôn ngữ và hiểu các nền văn hóa khác nhau

Các công cụ tạo lớp học ảo

WiZiQ mang đến một công cụ learning trực tuyến miễn phí Công cụ hỗ trợ

E-learning này giúp tạo các buổi hội thảo qua mạng rất hiệu quả

Trang 37

28

Adobe Acrobat Connect Pro là giải pháp hội thoại hoàn toàn qua web, có thể

tạo các buổi học trực tuyến, các lớp học ảo và các nhóm có khả năng đồng bộ, chia

sẻ

Công cụ cung cấp tài liệu học tập

Những công cụ dưới đây giúp GV chuẩn bị bài giảng thú vị và hiệu quả

Khan Academy Là nơi GV có thể thu thập những tư liệu giảng dạy tuyệt vời cho

các môn toán, khoa học, tài chính và các câu hỏi vấn đáp để bổ sung cho tài liệu giảng dạy trên lớp

MangaHigh GV có thể tìm thấy ở đây nhiều nguồn tư liệu cho việc học tập dựa

trên trò chơi cho môn toán

FunBrain Là kho tàng trò chơi giáo dục Ở đây, GV cũng có thể tận dụng các

công cụ hữu ích cho môn toán và việc dạy HS đọc

Educreations Là một công cụ trực tuyến dùng cho Ipad, cho phép GV và HStạo

các video cho các chủ đề học tập

Animoto Trang này hỗ trợ GV tạo các bài giảng hoặc các bài thuyết trình dưới

dạng game, có thể dùng chiếu trên lớp hoặc chia sẻ với người khác

Socrative Đây là hệ thống phản hồi cho HS có thể dùng trên máy tính cá nhân

hoặc các thiết bị di động, máy tính bảng Hệ thống này cho phép GV đánh giá quá trình học tập của HS và theo dõi điểm

Knewton Học tập thích ứng (adaptive learning) là một chủ đề nóng được nhiều

người làm giáo dục quan tâm Knewton là công cụ giúp cá nhân hóa các nội dung học tập trực tuyến theo nhu cầu của mỗi HS

Kerpoof Trên trang Kerpoof HS có thể sáng tạo việc học của mình với các trò

chơi, các hoạt động tương tác, công cụ vẽ

StudySync Với một thư viện số, các bài tập viết hàng tuần, bài viết bình duyệt

(peer review), bài tập, bài giảng đa phương tiện, StudySync là một công cụ “lợi hại”

hỗ trợ việc dạy – học

CarrotSticks Chứa rất nhiều trò chơi học toán, giúp HS vừa chơi, vừa học hiệu

quả

Trang 38

Vấn đáp ( đàm thoại ) là phương pháp trong đó GV đặt ra câu hỏi để HS trả lời,

hoặc HS có thể tranh luận với nhau và với cả GV; qua đó HS lĩnh hội được nội dung bài học Đây là phương pháp có thể áp dụng được khi tổ chức các hoạt động

ôn tập trên lớp để giúp HS tái hiện lại kiến thức hoặc trong các bài giảng trực tuyến

để làm sáng tỏ một vấn đề nào đó, GV có thể lần lượt nêu ra những câu hỏi kèm theo những ví dụ minh hoạ để HS dễ hiểu, dễ nhớ, hay cũng có thể dùng một hệ thống câu hỏi được sắp xếp hợp lý để hướng HS từng bước phát hiện ra bản chất của sự vật, tính quy luật của hiện tượng đang tìm hiểu, kích thích sự ham muốn hiểu biết

* Phương pháp đặt và giải quyết vấn đề:

Trong một xã hội đang phát triển nhanh theo cơ chế thị trường, cạnh tranh gay gắt thì phát hiện sớm và giải quyết hợp lý những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn là một năng lực đảm bảo sự thành công trong cuộc sống, đặc biệt trong kinh doanh Vì vậy, tập dượt cho HS biết phát hiện, đặt ra và giải quyết những vấn đề gặp phải trong học tập, trong cuộc sống của cá nhân, gia đình và cộng đồng không chỉ có ý nghĩa ở tầm PPDH mà phải được đặt như một mục tiêu giáo dục và đào tạo Đây là phương pháp nên được áp dụng với các hoạt động ở những bậc nhận thức cao theo thang đo Bloom Chẳng hạn, khi tổng kết kiến thức trên lớp về hệ tuần hoàn, GV có thể đưa ra tình huống “Tại sao một số loại thuốc lại chỉ nên tiêm vào tĩnh mạch?”

HS dựa vào kiến thức đã học để đưa ra các dự đoán và giải thích của bản thân Thông qua tình huống, GV giúp HS áp dụng được kiến thức đã học vào giải thích thực tế đời sống

Trang 39

30

* Phương pháp hoạt động nhóm

Hoạt động nhóm là phương pháp nên áp dụng với các bài tập và dự án diễn ra trên lớp Phương pháp này giúp các thành viên trong lớp nói chung và ở từng nhóm nói riêng có thể chia sẻ các băn khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới Bằng cách nói ra những điều đang nghĩ, mỗi người có thể nhận rõ trình độ hiểu biết của mình về chủ đề nêu ra, thấy mình cần học hỏi thêm những gì Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ không phải là sự tiếp nhận thụ động từ GV Cần nhớ rằng, trong hoạt động nhóm, tư duy tích cực của HS phải được phát huy và ý nghĩa quan trọng của phương pháp này là rèn luyện năng lực hợp tác giữa các thành viên trong tổ chức lao động Cần tránh khuynh hướng hình thức và đề phòng lạm dụng, cho rằng tổ chức hoạt động nhóm là dấu hiệu tiêu biểu nhất của đổi mới PPDH và hoạt động nhóm càng nhiều thì chứng tỏ PPDH càng đổi mới

* Dạy học theo dự án

Dạy học theo dự án còn gọi là phương pháp dự án, trong đó HS thực hiện một nhiệm

vụ học tập phức hợp, gắn với thực tiễn, kết hợp lí thuyết với thực hành Nhiệm vụ này được người học thực hiện với tính tự lực cao, từ việc lập kế hoạch đến việc thực hiện và đánh giá kết quả thực hiện dự án Hình thức làm việc chủ yếu là theo nhóm Kết quả dự án là những sản phẩm hành động có thể giới thiệu được Đây là PPDH tích cực mà mô hình lớp học đảo ngược kết sử dụng nhiều nhất để có thể giúp HS không chỉ phát huy được khả năng của bản thân và còn xây dựng tính trách nhiệm giữa HS với những người bạn trong cùng nhóm hoạt động của mình

* Kĩ thuật đặt câu hỏi

Trong dạy học theo PP cùng tham gia, GV thường phải sử dụng câu hỏi để gợi

mở, dẫn dắt HS tìm hiểu, khám phá thông tin, kiến thức, kĩ năng mới, để đánh giá kết quả học tập của HS; HS cũng phải sử dụng câu hỏi để hỏi lại, hỏi thêm GV và các HS khác về những ND bài học chưa sáng tỏ

Sử dụng câu hỏi có hiệu quả đem lại sự hiểu biết lẫn nhau giữa HS - GV và HS -

HS Kĩ năng đặt câu hỏi càng tốt thì mức độ tham gia của HS càng nhiều; HS sẽ học tập tích cực hơn

Trang 40

31

Mục đích sử dụng câu hỏi trong dạy học là để:

- Kích thích, dẫn dắt HS suy nghĩ, khám phá tri thức mới, tạo đ/k cho HS tham gia vào quá trình dạy học

- Kiểm tra, đánh giá KT, KN của HS và sự quan tâm, hứng thú của các em đối với

- Dùng trong giai đoạn giới thiệu vào một chủ đề

- Sử dụng để tìm các phương án giải quyết vấn đề

- Dùng để thu thập các khả năng lựa chọn và suy nghĩ khác nhau

* Kĩ thuật “ Trình bày một phút”

Đây là kĩ thuật tạo cơ hội cho HS tổng kết lại kiến thức đã học và đặt những câu hỏi về những điều còn băn khoăn, thắc mắc bằng các bài trình bày ngắn gọn và cô đọng với các bạn cùng lớp Các câu hỏi cũng như các câu trả lời HS đưa ra sẽ giúp củng cố quá trình học tập của các em và cho GV thấy được các em đã hiểu vấn đề như thế nào

Tóm lại, mỗi một phương pháp và kĩ thuật dạy học lại mang đến những ưu điểm

và nhược điểm riêng để có thể phối kết hợp trong giảng dạy theo mô hình lớp học đảo ngược thì GV cần phải có sự linh hoạt trong biến tấu để giúp cho các hình thức dạy học tích cực phát huy được hết thế mạnh của mình từ đó có thể hoạt hóa được năng lực tự học, từ tìm tòi và khám phá của mỗi HS Bài giảng không còn mà khô khan mà trở nên hấp dẫn và tràn đầy những kích thích khám phá điều bí ẩn

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

1.2.1 Mô hình lớp học đảo ngược

Để tìm hiểu về việc ứng dụng mô hình lớp học đảo ngược để phát triển năng lực

tự học cho HS trong Sinh học THCS hiện nay, chúng tôi thực hiện cuộc điều tra,

Ngày đăng: 13/05/2020, 11:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Nguyễn Văn Lợi (2014), Lớp học đảo ngược - mô hình dạy học kết hợp trực tiếp và trực tuyến, Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ số 34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lớp học đảo ngược - mô hình dạy học kết hợp trực tiếp và trực tuyến
Tác giả: Nguyễn Văn Lợi
Nhà XB: Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ
Năm: 2014
13. Trần Tín Nghĩa (2016), Áp dụng mô hình lớp học đảo ngược trong hoạt động dạy học ngoại ngữ, Tạp chí Khoa học Ngoại ngữ số 46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Áp dụng mô hình lớp học đảo ngược trong hoạt động dạy học ngoại ngữ
Tác giả: Trần Tín Nghĩa
Nhà XB: Tạp chí Khoa học Ngoại ngữ
Năm: 2016
15. Ngô Tứ Thành, Nguyễn Thế Dũng (2015), Dạy học theo dự án với mô hình lớp học đảo ngược trong B-learning, Tạp chí Khoa học số 8A (Đại học Sƣ phạm Hà Nội) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học theo dự án với mô hình lớp học đảo ngược trong B-learning
Tác giả: Ngô Tứ Thành, Nguyễn Thế Dũng
Năm: 2015
16. Lê Đình Trung, Phan Thị Thanh Hội (2016), Dạy học theo định hướng hình thành và phát triển năng lực người học ở trường phổ thông, NXB Đại Học Sƣ Phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học theo định hướng hình thành và phát triển năng lực người học ở trường phổ thông
Tác giả: Lê Đình Trung, Phan Thị Thanh Hội
Nhà XB: NXB Đại Học Sƣ Phạm
Năm: 2016
17. Nguyễn Quang Vinh - Trần Đăng Cát - Đỗ Mạnh Hùng (2004), Sách giáo khoa Sinh học 8, NXB Giáo dục.Danh mục tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Sinh học 8
Tác giả: Nguyễn Quang Vinh, Trần Đăng Cát, Đỗ Mạnh Hùng
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2004
18. Ash, K.Aug (2012), Educators Evaluate Flipped Classroom, Benefits and drawback seen in replacing lectures with ondemand video, Education Week 32 (2). p. 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Benefits and drawback seen in replacing lectures with ondemand video
Tác giả: Ash, K.Aug
Năm: 2012
19. A Roehl, SL Reddy (2013), The flipped classroom: An opportunity to engage millennial students through active learning strategies, Journal of Family &Comsumer Sciences. Retrieved from https://pdfs.semanticscholar.org Sách, tạp chí
Tiêu đề: The flipped classroom: An opportunity to engage millennial students through active learning strategies
Tác giả: A Roehl, SL Reddy
Nhà XB: Journal of Family & Consumer Sciences
Năm: 2013
20. Bergmann, J., & Sams, A. (2012), Flip your classroom: Reach every student in every class every day, Eugene, OR: International Society for Technology in Education Sách, tạp chí
Tiêu đề: Flip your classroom: Reach every student in every class every day
Tác giả: Bergmann, J., Sams, A
Nhà XB: International Society for Technology in Education
Năm: 2012
21. Bergmann, J., Overmyer, J., and Wilie, B. (2012), The flipped class: Myths vs Reality, The Daily Riff. Retrieved from http://www.thedailyriff.com/articlestheflipped-classroom-conversation-689.php/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: The flipped class: Myths vs Reality
Tác giả: Bergmann, J., Overmyer, J., and Wilie, B
Năm: 2012
22. Brinkley, K (2012), Flipped Classroom, Retrieved from http://tenntlc.utk.edu/2012/04/04/flippedclassroom/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Flipped Classroom
Tác giả: K Brinkley
Năm: 2012
23. Strayer, J. E (2007), The effects of the classroom flip on the learning environment: A comparison of learning activity in a traditional classroom and a Sách, tạp chí
Tiêu đề: The effects of the classroom flip on the learning environment: A comparison of learning activity in a traditional classroom and a
Tác giả: Strayer, J. E
Năm: 2007

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w