Công tác huy động vốn.Khi NH chuyển sang hình thức tự hạch toán kinh doanh đòi hỏi phải tự cân đối nguồn vốn của mình bằng các chính sách thích hợp để huy động vốn bởi huy động vốn không
Trang 1THỰC TRẠNG CHO VAY KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH TẠI
SGDI NHCTVN
2.1 KHÁI QUÁT VỀ SGDI - NHCTVN.
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển.
Từ Đại hội VI của Đảng, cùng với sự đổi mới của nền kinh tế, hệ thống
NH đóng vai trò làm động lực cho sự phát triển cũng được đổi mới Điều này được thể hiện bởi sự xuất hiện của Nghị định 53/HĐBT nay là Thủ tướng Chính phủ, đặc biệt là sự ra đời của hai Pháp lệnh NH năm 1990 - hình thành nên NH Chính sách và NH kinh doanh Từ đây đã tạo ra một sự chuyển biến căn bản trong hệ thống NH Việt Nam - đó là việc chuyển đổi từ hệ thống NH một cấp sang hệ thống NH hai cấp.
Trước đây SGDI - NHCTVN là một bộ phận của hội sở chính NHCTVN Theo Quyết định số134/QĐ-HĐQT-NHCT1 đến ngày 01/01/1999 SGDI tách khỏi Hội sở chính thành một đơn vị hạch toán phụ thuộc, hoạt động kinh doanh như các chi nhánh khác trên địa bàn Hà Nội.
SGDI - NHCTVN có trụ sở tại số 10 Lê Lai, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội Trụ
sở đặt tại một quận trung tâm của Hà Nội, tập trung nhiều DN kinh doanh (cả DN tư nhân, DNQD, hộ gia đình), nhiều đầu mối thương mại, mặt bằng dân trí cao, rất nhạy cảm về kinh tế chính trị, thực sự là địa điểm thuận lợi cho hoạt động kinh doanh Và cũng là quận có nhiều khu phố có hoạt động kinh doanh sầm uất như phố: Hàng Ngang, Hàng Đào, Hàng Bạc có rất nhiều khách du lịch nước ngoài cũng như trong nước Chính điều này đã tạo nhiều thuận lợi cho SGDI trong quá trình hoạt động như: có điều kiện mở rộng quy mô kinh doanh TD, thanh toán và các dịch vụ khác như dịch vụ
Trang 2chuyển tiền, dịch vụ tư vấn, dịch vụ cầm cố tài sản Tuy nhiên, SGDI cũng gặp nhiều khó khăn do trên địa bàn có hơn 70 NH cùng hoạt động nên sự cạnh tranh cũng rất lớn, đòi hỏi NH phải thường xuyên nỗ lực để đáp ứng nhu cầu thụ trường.
Mặc dù trong những năm đầu hoạt động kinh doanh trong cơ chế thị trường, SGDI còn gặp nhiều khó khăn do cơ sở vật chất nghèo nàn, kinh doanh đối nội là chủ yếu, sản phẩm dịch vụ đơn điệu đội ngũ cán bộ đào tạo trong cơ chế bao cấp, đông về số lượng nhưng yếu về chất lượng - nhất
là kiến thức về cơ chế thị trường Tuy nhiên trong hơn mười lăm năm xây dựng và trưởng thành, trong suốt chặng đường đổi mới, các mặt hoạt động của SGDI cũng không ngừng được lớn mạnh cả về quy mô và tốc độ phát triển, đưa SGDI nhanh chóng trở thành một chi nhánh NHTM tiên tiến, hiện đại, đáp ứng tốt mọi nhu cầu phát triển của đất nước trong sự nghiệp CNH, HĐH.
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của SGDI.
Tính đến năm 2003, SGDI có khoảng 228 nhân viên, hầu hết các cán bộ trong NH đều có kinh nghiệm lâu năm công tác, gắn bó với NH từ thời kỳ mới hoạt động Trình độ cán bộ đã được nâng lên, 6,3% có trình độ thạc sỹ, 70% có trình độ Đại học và Cao đẳng, đội ngũ cán bộ ngày càng được đào tạo chuyên sâu, có nghiệp vụ giỏi, được đào tạo và trẻ hoá Mỗi cán bộ NH đã chủ động, sáng tạo, phát huy cao độ tinh thần dám làm, dám chịu trách nhiệm Bên cạnh
đó, Ban lãnh đạo NH thường xuyên chú trọng nâng cao trình độ cán bộ lãnh đạo về mọi mặt NH cũng luôn quan tâm đến công tác đào tạo, thường xuyên tổ chức các lớp học bồi dưỡng trình độ nghiệp vụ cho cán bộ trong NH Đây chính
là nhân tố có tính chất quyết định sự phát triển của SGDI.
Trang 3Ngày 20/10/2003, Chủ tịch Hội đồng quản trị NHCTVN đã ban hành quyết định số 153/QĐ-HĐQT-NHCTVN1 về mô hình tổ chức mới của SGDI theo dự án hiện đại hoá NH Cụ thể:
Cơ cấu tổ chức của SGDI - NHCTVN được thể hiện ở mô hình sau:
Trang 4BAN GIÁM ĐỐC
Phòng Tổ chức hành chính Phòng Kế toán giao dịch Phòng Thông tin điện toán Phòng Khách hàng số 1 (DN lớn) Phòng Tài trợ thương mại Phòng Khách hàng cá nhân Phòng Khách hàng số 2 (DN vừa và nhỏ) Phòng Kế toán tài chính Phòng Tổng hợp tiếp thị Phòng Tiền tệ kho quỹ Phòng Kiểm tra nội bộ
Trang 52.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh chủ yếu tại SGDI - NHCTVN.
Năm 2003, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục phát triển vững chắc, nhiều chỉ tiêu kinh tế tăng trưởng vượt kế hoạch đề ra Tăng trưởng GDP đạt 6,9%, cao nhất so với cùng kỳ từ năm 1998 đến nay; giá trị sản xuất công nghiệp tăng 15,7%; vốn đầu tư phát triển tăng 20,5% Hoạt động kinh tế đối ngoại khá thuận lợi, giá cả nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực tăng dẫn đến kim ngạch xuất khẩu tăng 32,6%.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả khả quan thì năm 2003 cũng có một
số vấn đề đáng quan ngại Trước hết là giá trị sản xuất công nghiệp tăng cao nhưng tăng nhiều ở những sản phẩm có tỷ lệ giá trị tăng thêm thấp và phụ thuộc lớn vào nguyên liệu nhập khẩu như dệt may, giầy dép, lắp rắp hàng điện
tử Vốn đầu tư gia tăng nhưng hiệu quả đầu tư vẫn còn thấp, giá vốn, giá bất động sản cao làm cho hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp Nhập siêu giá tăng
cả về kim nghạch và tỷ lệ, tăng 24,3% so với cùng kỳ năm 2002 Giá tiêu dùng
có xu hướng giảm dần chỉ tăng 2,1% so với tháng 12 năm 2002.
Trên thị trường tài chính tiền tệ trong nước cũng có diễn biến không thuận Lãi suất VND luôn có xu hướng gia tăng và đứng ở mức cao làm cho chênh lệch lãi suất đầu vào đầu ra thu hẹp, ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh
NH Lãi suất ngoại tệ giảm thấp, chênh lệch lãi suất VND và ngoại tệ là rất cao dẫn đến hiện tượng hoán đổi tiền gửi từ ngoại tệ sang VND, trong khi người vay vốn lại thích vay ngoại tệ hơn vì lãi suất thấp làm cho việc điều hành vốn kinh doanh của NH gặp nhiều khó khăn.
Mặc dù có những khó khăn, song được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của NHCTVN, NHNN Thành phố Hà Nội, Cấp uỷ, chính quyền và các cơ quan chức năng địa phương, sự hợp tác có hiệu quả của khách hàng, SGDI đã nỗ lực phấn đấu vươn lên để phát triển kinh doanh và đạt được một số kết quả tốt.
Trang 62.1.3.1 Công tác huy động vốn.
Khi NH chuyển sang hình thức tự hạch toán kinh doanh đòi hỏi phải tự cân đối nguồn vốn của mình bằng các chính sách thích hợp để huy động vốn bởi huy động vốn không chỉ là cơ sở tạo ra nguồn vốn để cho vay và thực hiện các nghiệp vụ khác của NH mà còn giúp NH tăng tính chủ động trong kinh doanh đồng thời tạo nên sự độc lập tương đối với NHNN.
Nhận thức được điều này, SGDI đã có những biện pháp và phương thức hợp lý để huy động vốn từ các thành phần kinh tế, đảm bảo cho hoạt động của mình như tập trung mọi nỗ lực để khai thác nguồn vốn, thường xuyên khảo sát, nghiên cứu các hình thức huy động vốn, kỳ hạn, lãi suất của các NHTM trên địa bàn để xây dựng chiến lược huy động vốn có hiệu quả, lãi suất sát với mặt bằng lãi suất chung trên thị trường, đảm bảo hài hoà lợi ích của NH, khách hàng và có tính cạnh tranh Chủ động tiếp cận và có kế hoạch làm việc với các đơn vị thường có số dư tiền gửi lớn tại SGDI, áp dụng chính sách ưu đãi lãi suất phù hợp để khơi tăng nguồn vốn, chú trọng khai thác nguồn vốn có giá
rẻ Đẩy mạnh khai thác nguồn vốn trung và dài hạn để cho vay trung và dài hạn Tiếp tục củng cố, HĐH công nghệ thanh toán qua NH để thu hút nguồn vốn thanh toán; chú trọng nâng cấp các Quỹ tiết kiệm, Phòng giao dịch, nâng cao phong cách giao dịch văn minh của cán bộ để tạo ấn tượng tốt đẹp đối với khách hàng.
Với những biện pháp cụ thể đó SGDI luôn có lượng vốn huy động dồi dào.
Cụ thể tình hình huy động vốn của SGD trong một số năm gần đây được thể hiện qua biểu sau:
Trang 7Biểu 1: Hoạt động huy động vốn tại SGDI - NHCTVN.
Đơn vị: Tỷ đồng.
Chỉ tiêu TiềnNăm 2001% TiềnNăm 2002% Tiền Năm 2003% 2003/2002
Tiền %
Tổng vốn huy động 11.702 100 14.605 100 15.158 100 +553 +3,8 1.Theo TPKT
- TG Doanh nghiệp 8.210 70,1 10.877 74,5 11.530 76 +653 +6
- TG dân cư 3.492 29,9 3.728 25,5 3.628 24 -100 -2,7 2.Theo kỳ hạn
- Không kỳ hạn 6.977 59,7 9.518 65,2 9.396 62 -122 -1,3
- Có kỳ hạn 4.705 40,3 5.087 34,8 5.762 38 +675 +13,3 3.Theo đơn vị tiền
tệ
- Bằng VND 9.052 77,3 11.934 81,7 12.958 85,5 +1.024 +8,6
- Bằng ngoại tệ 2.650 22,7 2.671 18,3 2.200 14,5 -471 -17,6
Nguồn: Báo cáo hoạt động kinh doanh của SGDI - NHCTVN.
Với nhiều hình thức huy động vốn phong phú, hấp dẫn qua nhiều kênh huy động của dân cư, DN, thị trường liên NH, thị trường tiền tệ bằng cả VND và ngoại tệ, nguồn vốn của SGDI đã tăng trưởng liên tục Qua số liệu ở biểu 1 ta thấy nguồn vốn huy động của SGDI có chiều hướng tăng lên rõ rệt Tính đến 31/12/2002 tổng vốn huy động đạt 14.605 tỷ đồng, tăng so với năm 2001 là 2.903 tỷ đồng, số tương đối tăng 24,8% Năm 2003, nguồn tiền gửi khách hàng
là các công ty, tổng công ty tăng mạnh làm tăng tổng nguồn Cụ thể: Nguồn vốn huy động đạt 15.158 tỷ đồng, tăng 553 tỷ đồng so với năm 2002 (với số tương đối tăng 3.8%).
Xét về cơ cấu nguồn vốn:
Nguồn tiền gửi dân cư, đặc biệt là nguồn tiền gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ giảm mạnh do lãi suất thấp lại đóng băng qúa lâu không khuyến khích được khách hàng gửi tiền.
Trang 8Trong khi đó tiền gửi bằng VND lại tăng nhanh qua các năm: Năm 2003 huy động tiền gửi bằng VND tăng 1.024 tỷ đồng so với năm 2002, với số tương đối tăng 8,6% Có được kết quả này là do trong các năm qua người dân được sự tư vấn của các NH, cùng với việc theo dõi diễn biến của lãi suất, tỷ giá, giá vàng, mức lạm phát nhìn dài hạn trong hơn 10 năm qua cho thấy nếu nắm giữ đồng Việt Nam, tức là mua trái phiếu kho bạc Nhà nước, hay trái phiếu NHTM bằng nội tệ - VND thì rõ ràng có lợi hơn rất nhiều so với mua trái phiếu hay gửi tiết kiệm, hoặc cất trữ bằng USD Bởi vì lãi suất VND cao, lãi suất USD thấp, trong khi đó tỷ giá ổn định, giá vàng biến động phức tạp Do đó trong cả ngắn hạn và cả dài hạn tính cả trượt giá thì gửi nội tệ vẫn có lợi hơn so với gửi ngoại tệ.
Cơ cấu tiền gửi của NH có ảnh hưởng tới thu nhập của NH Những khoản tiền gửi loại này mang lãi suất thấp, thậm chí không phải trả lãi, luôn mang theo phí dịch vụ đối với khách hàng và chính nó đem lại thu nhập nhiều hơn Do vậy, SGDI
đã thu hút và giữ một khối lượng tiền gửi cơ sở từ các DN - mang lãi suất thấp và
tỏ ra trung thành với SGDI hơn các khoản tiền gửi khác.
Tiền gửi DN và tiền gửi không kỳ hạn luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn huy động Cụ thể qua các năm SGDI đã đạt được những kết quả cụ thể trong việc huy động vốn từ tiền gửi DN:
Năm 2001 đạt 8.210 tỷ đồng, chiếm 70,1% trong tổng nguồn vốn huy động Năm 2002 đạt 10.877 tỷ đồng, chiếm 74,5%.
Năm 2003 đạt 10.981 tỷ đồng, chiếm 72,4%.
Qua đây ta có thể thấy nguồn vốn huy động của SGDI chủ yếu là tiền gửi thanh toán của các DN, nhờ vậy SGDI không phải trả lãi hoặc trả với lãi suất rất thấp cho khoản tiền gửi này Do đó SDGI phải tận dụng lợi thế này để thu hút nguồn vốn cho kinh doanh bởi khách hàng là DN luôn có những nguồn vốn nhàn rỗi rất lớn, hơn nữa chi phí cho những nguồn vốn này tương đối thấp so với tiền gửi tiết kiệm bởi vì khách hàng gửi vào không vì mục đích sinh lời mà vì mục đích thanh toán Nguồn vốn này có ý nghĩa rất quan trọng đối với SGDI, nó quyết định
Trang 9một phần trong lợi thế cạnh tranh của SGDI Tuy nhiên tiền gửi DN và tiền gửi không kỳ hạn lớn cũng tạo ra bất lợi cho hoạt động kinh doanh của SGDI vì rằng các DN và dân cư có thể rút vốn bất kỳ lúc nào họ cần gây bị động về nguồn vốn.
Vì thế, bên cạnh việc huy động vốn nhàn rỗi từ các công ty, tổng công ty, SGDI cũng không ngừng kích thích các nguồn tiền gửi có kỳ hạn Ta thấy nguồn tiền gửi
có kỳ hạn tăng nhanh qua các năm: năm 2002 tăng 382 tỷ đồng so với năm 2001, năm 2003 tăng 675 tỷ đồng so với năm 2002.
Tóm lại ta thấy cơ cấu nguồn vốn thường xuyên được điều chỉnh linh hoạt theo hướng có lợi cho kinh doanh của SGDI và khách hàng, các chính sách lãi suất cũng được điều chỉnh cho phù hợp với từng đối tượng khách hàng, đặc biệt là các khách hàng có quan hệ tiền gửi truyền thống Tổng nguồn vốn huy động đến 31/12/2003 vượt 3,9% kế hoạch NHCTVN giao, chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồn vốn huy động của toàn hệ thống.
Có thể nói, trong lúc việc huy động vốn gặp rất nhiều khó khăn thì đây là kết quả rất đáng khích lệ Có được kết quả này là vì ngay từ nguồn vốn còn dồi dào, SGDI đã xác định nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển kinh tế là rất lớn, vốn không bao giờ thừa cho một nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam nên đã xây dựng chiến lược tăng trưởng vốn lâu dài Ngoài ra sự tăng trưởng lớn về nguồn vốn không những là những kết quả của phong cách phục vụ văn minh, lịch sự, tận tình, chu đáo mà còn khẳng định về uy tín và vị thế của SGDI trên thương trường.
Trong thời gian tới, thị trường sẽ còn chứng kiến nhiều cuộc cạnh tranh gay gắt hơn nữa, đòi hỏi SGDI phải nỗ lực cao hơn thu hút mạnh mẽ nguồn tiền gửi của dân cư và của DN, nhằm xây dựng cơ cấu nguồn vốn ổn định, đảm bảo vững chắc cho sự phát triển của các nghiệp vụ kinh doanh.
2.1.3.2 Tình hình sử dụng vốn.
2.1.3.2.a Thực trạng hoạt động tín dụng.
Tín dụng là hoạt động tài trợ của NH cho khách hàng, thông qua nghiệp
vụ tài trợ, NHTM đã tạo tiền cho nền kinh tế, trợ giúp cho các TCKT trong hoạt
Trang 10động sản xuất kinh doanh, tăng cường hoạt động sản xuất lưu thông hàng hoá, giảm chi phí lưu thông tiền tệ, giúp ổn định và phát triển kinh tế Hoạt động TD
là hoạt động cơ bản, quan trọng của NH, nó chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản, tạo thu nhập từ lãi lớn nhất và cũng là hoạt động mang lại rủi ro cao nhất Cũng do bởi hoạt động TD là hoạt động chứa nhiều rủi ro nhất, nên chất lượng TD ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ an toàn của vốn đầu tư và cũng là nhân tố quyết định đến thu nhập của NH, tạo hình ảnh đẹp, quan hệ tốt với khách hàng Nếu chất lượng TD kém thì hàm chứa trong đó là mối nguy cơ rủi ro TD, và NH có thể bị dẫn đến tổn thất, phá sản.
Đứng trước tình hình đó, Ban Giám đốc SGDI đã luôn chú trọng đến hoạt động tài trợ nhằm đảm bảo tăng trưởng TD lành mạnh, vững chắc, cung cấp các khoản mục TD có chất lượng cao, lựa chọn khách hàng có khả năng và có
dự án khả thi để cho vay, hạn chế nợ quá hạn và nợ khó đòi tới mức thấp nhất
có thể được, từ đó tăng thu cho NH nhằm tăng cường và ổn định vốn cho NH đáp ứng nhu cầu phát triển lành mạnh và hiệu quả.
Biểu 2: Hoạt động tín dụng của SGDI.
Đơn vị: Tỷ đồng
Trang 11- Ngoài quốc doanh 142 9,5 324 15,7 415 17,7 +91 +28
Nguồn: Báo cáo hoạt động kinh doanh của SGDI - NHCTVN.
Qua biểu ta thấy dư nợ TD đã tăng dần qua các năm: năm 2002 tăng 563
tỷ đồng (hay tăng 37,7%); năm 2003, SGDI vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng dư nợ cao tăng 285 tỷ đồng với số tương đối là 13,8% Có được kết quả này là do ngoài những chính sách ưu đãi đối với khách hàng như ưu đãi về lãi suất cho vay; phí dịch vụ; chú trọng khách hàng truyền thống; tăng cường tiếp thị khách hàng mới có hoạt động kinh doanh phát triển , SGDI còn chủ động
cơ cấu hệ thống khách hàng theo chương trình hiện đại hoá công nghệ giao dịch của NHCT - INCAS trên cơ sở tình hình phát triển kinh tế chung và thực trạng kinh doanh của DN Bên cạnh đó luôn chú trọng việc phân tích để nắm vững kế hoạch sản xuất kinh doanh của đơn vị trong xu hướng phát triển kinh
tế cùng địa bàn, để chủ động tiếp cận và có phương án cho vay khi khách hàng
có nhu cầu.
Tiề n
1000
800
821 826
Trung v d i à à hạn
Dư nợ khác
600 475
400
Trang 12Qua biểu đồ ta thấy, dư nợ trung và dài hạn tăng nhanh qua các năm và chiếm tỷ trọng cao trong tổng dư nợ Năm 2002 đạt 1.234 tỷ đồng, tăng so với năm 2001 là 212 tỷ đồng với số tương đối tăng 14,2%, sang năm 2003 tăng
224 tỷ đồng so với năm 2002 (18%) Điều này chứng tỏ SGDI đã tập trung cho vay các dự án dài hạn đầu tư chiều sâu nhằm tạo điều kiện cho quá trình CNH đất nước, đổi mới thiết bị công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất cho các DN Nhìn chung những năm qua SGDI đã có nhiều cố gắng trong việc tăng trưởng dư nợ TD trung - dài hạn, góp phần vào việc đầu tư vốn xây dựng phát triển kinh tế đất nước Với tỷ lệ đầu tư vốn trung - dài hạn là hợp lý, đảm bảo
an toàn.
Bước sang năm 2003, ngoài hình thức tín dụng cho vay là chủ yếu, SGDI còn mở rộng cấp TD thông qua hình thức tài trợ uỷ thác và dịch vụ bảo lãnh, góp phần tạo điều kiện cho khách hàng trong hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện cho vay sinh viên, cho vay tiêu dùng đối với cán bộ công nhân viên vì vậy đã góp phần khắc phục, ổn định cuộc sống cho người lao động, sinh viên yên tâm học tập, đồng thời làm phong phú thêm các hình thức TD trong cạnh tranh, hội nhập và phát triển.
Bên cạnh việc cho vay trung, dài hạn nhằm thực hiện mục tiêu CNH, HĐH đất nước, SGDI còn quan tâm cho vay bổ sung nguồn vốn lưu động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, thương mại - dịch vụ, luôn bám sát để nắm bắt nhu cầu vay vốn của các đối tượng khách hàng cũng như những khó khăn vướng mắc của DN để cùng giải quyết, đảm bảo an toàn - hiệu quả tiền vay.
Thực hiện phương châm tạo mọi điều kiện tối đa để phục vụ cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, trong những năm qua SGDI đã tập trung chủ yếu
Nă m
200
Năm 2003
Năm 2001
0
Năm 2002
Trang 13cho vay các DN lớn, các Tổng công ty còn với các DNNQD với nhiều nguyên nhân chưa thực sự được SGDI chú trọng và quan tâm đúng mức Bởi vậy, tỷ trọng dư nợ của DNNQD còn chiếm một tỷ lệ nhỏ trong tổng dư nợ chung Cụ thể tình hình cho vay đối với các thành phần kinh tế tại SGDI như sau:
Nếu phân loại các dự án cho vay theo thành phần kinh tế thì qua biểu trên cho thấy, hoạt động cho vay đối với các thành phần KTQD luôn chiếm đa số trong tổng dư nợ cho vay Năm 2001 dư nợ cho vay KTQD chiếm 90,5%, năm
2002 chiếm 84,3%, năm 2003 chiếm 82,3% Năm 2001 dư nợ cho vay KTNQD chỉ chiếm có 9,5% trong tổng dư nợ Nguyên nhân do các DNNQD không đủ điều kiện để được vay vốn tại Sở và SGDI cũng chỉ tập trung chú ý đầu tư vào khu vực KTQD Qua các năm dư nợ tín dụng KTNQD đã tăng lên đáng kể, tuy chiếm tỷ trọng nhỏ nhưng điều này cũng thể hiện sự quyết tâm rất lớn của SDGI Với quan điểm và định hướng đã xác định là: Tiếp cận để mở rộng cho vay đối với mọi đối tượng khách hàng thuộc mọi thành phần kinh tế, đi đôi với việc kết hợp chặt chẽ giữa củng cố bạn hàng truyền thống và đẩy mạnh thu hút khách hàng mới SGDI đã và đang tạo ra nhiều bước chuyển mới.
Tuy SGDI đã tập trung, chú trọng đầu tư vào khu vực KTNQD nhưng hiện nay các khu vực kinh tế này thường không đáp ứng đủ các điều kiện về bảo đảm tiền vay của NH, chẳng hạn như: điều kiện về tài sản thế chấp còn hạn chế, báo cáo tài chính chưa trung thực Nên mặc dù nằm trong khu vực đông đúc các DN và hộ kinh doanh nhỏ nhưng SGDI vẫn chưa dám mạo hiểm mở rộng TD nhiều đối với khu vực KTNQD do những nguyên nhân hạn chế của họ,
và bởi rủi ro trong TD đối với thành phần kinh tế này còn rất cao, cao hơn nhiều so với thành phần kinh tế Nhà nước Do vậy thông qua biểu đồ ta thấy
dư nợ cho vay quốc doanh và ngoài quốc doanh vẫn còn có sự chênh lệch rất lớn.
Trang 14Số liệu thống kê kinh tế cho thấy chất lượng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam chưa cao Sự tăng trưởng kinh tế năm 2003 vẫn do tăng trưởng vốn đầu
tư và tăng thêm lao động đem lại, các nhân tố khoa học công nghệ, tăng năng suất lao động và hiệu quả còn hạn chế Hơn nữa, cho tới nay các DN Việt Nam vẫn tồn tại trong sự bảo trợ cao của Chính phủ và khoảng cách về năng lực cạnh tranh giữa Việt Nam và các nước trong khu vực ngày càng lớn Mặt khác,
sự tăng trưởng TD còn phụ thuộc vào khả năng quản lý của đội ngũ cán bộ cũng như khả năng tư vấn, đánh giá về mức độ kiểm soát rủi ro của các kiểm soát viên cho Ban lãnh đạo NH.
Căn cứ vào những nhận định trên cho thấy hoạt động TD của SGDI đã phát triển đúng hướng, phù hợp với chủ trương của NHCTVN.
2.1.3.2.b Đánh giá chất lượng hoạt động TD của SGDI.
NHTM là một DN đặc biệt, kinh doanh tiền tệ, mà TD là một nghiệp vụ truyền thống và chủ yếu của NHTM Bất cứ một DN nào khi bỏ vốn vào kinh doanh đều nhằm mục đích thu hồi vốn nhanh và có lãi NH cũng vậy, cái khác của nó là vốn đi vay để cho vay vì vậy rủi ro kinh doanh của NH là lớn hơn nhiều Cho nên điều đầu tiên của một khoản vay là quan tâm chất lượng TD của khoản vay đó hay nói một cách tổng quát hơn NHTM phải luôn quan tâm đến việc bảo đảm an toàn TD.
Chất lượng TD là một chỉ tiêu tổng hợp, nó phản ánh mức độ thích nghi của NHTM với sự thay đổi của môi trường bên ngoài, thể hiện sức mạnh của một NH trong quá trình cạnh tranh để tồn tại Vấn đề đặt ra cho các NHTM là phải có biện pháp tích cực ngăn ngừa nợ quá hạn Một khi mở rộng TD NH thì điều đó cũng có nghĩa là khả năng rủi ro cũng có thể tăng lên Đây chính là vấn
đề cần được quan tâm nhằm đảm bảo an toàn, hiệu quả cho việc mở rộng TD NH.