Các loại CK vẫn được sử dụng phổ biến cho đến ngày nay ở nhiều quốc gia, đó là trái phiếu chính phủ,tín phiếu kho bạc, tín phiếu NHNN, chứng chỉ tiền gửi, thương phiếu, giấy chứng nhận n
Trang 1ĐAI HỌC Q UỐ C GIA HÀ NỘI
ĐÔI VÓI THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH
IV THUVCT vn THỰC TI€N củn V l ậ NOM
CHỦ TRÌ ĐỂ TÀI : PGS TS TRỊNH THỈ HO A MAI
Trang 2M Ụ C L Ụ C
Chương một: Vị trí của thị trường tài chính trong hệ thống tài 2 chính quốc gia
1.4 Quan hệ giữa thị trường tiền tệ và thị trường chứng khoán 14
Chương hai: Kìm hãm tài chính-xu hướng của sự điều hành.
902.1 Sự can thiệp của chính phủ trên thị trường tài chính
2.2 Hiệu quả điều hành của chính phủ đối với thị trường tài chính 67
Chương ba: Tự do hoá tài chính - con đường phát triển thị trường tài chính trong điểu kiện hiện nay
3.1 Tự do hoá tài chính - xu hướng tất yếu của toàn cầu hoá
3.2 Vai trò của chính phủ trong tiến trình tự do hoá tài chính
3.3 Phát triển thị trường tài chính Việt Nam trong điều kiện hội nhập
Kết luận
Tài liêu tham khảo
8181
86
109139140
Trang 3tố quyết định sự tăng trưởng của nền kinh tế Chính vì thế, việc xác lập trong thực tế một thị trường tài chính hoạt động có hiệu quả là một yêu cầu bức xúc đối với mọi quốc gia trong quá trình phát triển nền kinh tế Điều này phụ thuộc vào nhiều yếu tố: hệ thống luật pháp, trình độ và năng lực quản lí, trình độ và mức độ phát triển của nền kinh tế, các chính sách kinh tế v.v Đặc biệt, với những đặc trưng riêng có của mình, hoạt động của thị trường tài chính luôn gắn liền với vai trò điều tiết của Chính phủ Sự ra đời, tồn tại và phát triển của thị trường tài chính rất cần vai trò điều tiết, định hướng của chính phủ Ngược lại, việc tạo lập, điều tiết, định hướng của chính phủ nhất thiết phải thông qua cơ chế thị trường trên quan điểm tôn trọng các quy luật của kinh tế thị trường Mối quan hệ giữa chính phủ và thị trường thể hiện trong hoạt động của thị trường tài chính là rất phức tạp Và giải pháp xử lý quan hệ này ở mỗi quốc gia, từng thời
kì cũng không m ang những nét đặc thù Với đề tài “Vai trò của chính phủ đối
với thị trường tài chính- Lý thuyết và thực tiễn của Việt N a m ”, nhóm tác giá cô'
gắng làm rõ vai trò của chính phủ trong hệ thống tài chính Trên cơ sở phân tích các lý thuyết, thực tiễn của một số quốc gia, đề tai tìm kiếm cách thức phối hợp đem lại hiệu quả nhất giữa chính phủ và thị trường Đó cũng chính là những hướng giải quyết nhằm tiến tới tạo lập một thị trường tài chính lành mạnh hiệu
Trang 4quả ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế nói chung, hội nhập tài chính nói riêng.
Chương m ột VỊ TRÍ CỦA THỊ TRƯỜNG TÀI CH ÍNH TRONG
HỆ THỐNG TÀI CHÍNH Q UỐC GIA 1.1 Tổng quan về thị trường tài chính
1.1.1 Chức năng của thị trường tài chính
Sự ra đời của tiền trong quá trình phát triển lưu thông hàng hoá cho thấy, tiền chỉ thực hiện tốt chức năng của nó khi nó ở trạng thái vận động Trong nền kinh tế có sự tham gia của đồng, với việc giảm thiểu thời gian ở rỗi, để thay vào đó là trạng thái vận động, tiền đã m ang lại lợi ích cho nền kinh tế Tiền vận động là cơ hội để đáp ứng những nhu cầu
về vốn cho đầu tư tăng trưởng kinh tế, đồng thời m ang lại lợi ích cho người sở hữu nó khi nó được sinh sôi Vì lẽ đó, việc tạo các điều kiện để tiền luôn được vận động trong nền kinh tế là vấn đề quan tâm hàng đầu
của các chính phủ, là yêu cầu cơ bản của một hệ thống tài chính quốc
gia và đó cũng chính là nhu cầu khách quan để ra đời và phát triển thị trường tài chính: nơi mà đồng tiền được vân động theo những quy luật của thị trường
Sự vận động của tiền đem lại lợi ích lớn cho phát triển kinh tế, nhưng đồng thời, cũng chính sự vận động đã làm cho lượng tiền trong nền kinh
tế thay đổi, khiến việc kiểm soát nó trở nên cực kỳ phức tạp Các quốc gia, vì sự phát triển ổn định của nền kinh tế, đều phải đặt ra cho mình nhiệm vụ kiểm soát sự vận động của tiền Chính sách tiền tệ, như là một công cụ giúp chính phủ kiểm soát được khối lượng tiền trong nền kinh
tế, ra đời vì lẽ đó Như vậy, ở đâu có diễn ra sự vận động của tiền, ở đó
cần đến vai trò kiểm soát định hướng của chính phủ
Trang 5Để đem lại lợi ích cho tăng trưởng phát triển, tiền cần phải luôn được vận động từ nơi thừa đến nơi thiếu Thực chất của quá trình vận động này là tiền được chuyển từ nơi sử dụng chưa có hiệu quả, hoặc có hiệu quả thấp, đến nơi có cơ hội đạt hiệu quả cao hơn Những định chế tài chính tham gia vào sự vận động của tiền trong nền kinh tế là các chủ thể hoạt động trên thị trường tài chính Thị trường tài chính hoạt động thông qua các hoạt động của các định chế này Luân chuyển vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu, từ nơi hiệu quả thấp đến nơi hiệu quả cao hơn chính là sứ mệnh của thị trường tài chính đối với tăng trưởng phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.
7.7.2 Đặc điểm hoạt động của TTTC
Trên TTTC, dòng vốn được luân chuyển từ người cho vay đến người vay thông qua việc m ua bán hàng hoá Nếu việc thay đổi quyền sở hữu hàng hoá
là điều kiện để thị trường hàng hoá thông thường hoạt động, thì trên TTTC, khi hàng hoá được m ua bán, quyền sở hữu có thể là thay đổi và cũng có thể
là chỉ là sự thay đổi quyền sử dụng Chính sự hoà trộn những thay đổi về quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn khi thị trường hoạt động đã tạo nên tính phức tạp và cũng là nét riêng của TTTC
Trên TT tài chính sơ cấp, các hàng hoá bắt đầu đựợc tung ra TT tài chính sơ cấp còn gọi là nơi phát hành ra những giấy tờ có giá ( còn gọi là chứng khoán) lần đầu Với việc xuất hiện các CK, thị trường đã khởi sắc và khi TT hoạt động nó đã thực hiện được chức năng của nó: người vay tiền đã vay được tiền qua hoạt động bán được CK, người có tiền nhàn rỗi đã thực hiện cho vay sau hành vi m ua CK Người cho vay đã bán quyền sử dụng vốn trong một khoảng thời gian cho người đi vay Cũng như các TT khác, sức sống của TTTC, đảm bảo cho sự trường tồn của nó, biểu hiện ở số lượng người m ua người bán ngày càng tăng lên trên TT Suy cho cùng, tính hấp hẫn của TT là do tính hấp dẫn của giá trị sử dụng mà hàng hoá đem lại cho
Trang 6người m ua nó Vậy tính hấp dẫn của TTTC là do đâu? Trên TTCK, người bán CK tìm thấy khoản lợi ở khả nãng đáp ứng nhu cầu vốn đúng lúc, còn lợi ích của người m ua chính là ở khả năng sinh lời cao của đồng vốn Hơn thế nữa, nếu lợi ích của bán CK có thể đáp ứng được ngay trên TT sơ cấp, thì lợi ích của người m ua CK vẫn còn có thể tiếp tục được m ang lại, thông qua việc bán m ua lại thứ hàng hoá kỳ diệu đó Và, nếu việc m ua đi bán lại những hàng hoá ban đầu đó không có giới hạn, thì có nghĩa là khả năng sinh lợi của đồng tiền cho những nhà đầu tư kinh doanh CK cũng dường như vô tận Tiếp tục, vậy người bán CK lần đầu có tìm thấy lợi ích gì qua hoạt động mua đi bán lại của những nhà đầu tư chứng khoán này không? Câu trả lời là
có Sự hoạt động náo nhiệt của TT thứ cấp, nơi diễn ra các hoạt động m ua đi bán lại những CK đã phát hành lần đầu trên TT sơ cấp, như vừa mô tả ở trên,
đã làm cho TT sơ cấp có sức sống mãnh liệt TT thứ cấp đã tạo ra động lực kích thích sự tồn tại và phát triển hơn nữa của TT sơ cấp Cứ như vậy, thị trường tài chính (TTTC ) không ngừng hoạt động, qua các giai đoạn phát triển và trở thành điều kiện đảm bảo cho sự phát triển của nền kinh tế Chính
cơ chế hoạt động 2 cấp, tương tác nội sinh của 2 loại TT này, đã tạo nên nét đặc thù của thị trường tài chính: đặc thù cả về tiềm năng lớn m ạnh của TT đặc biệt này, và cả về tính phức tạp, tính không dễ điều tiết được của nó
M ột đặc điểm quan trọng của TTCK là, thị trường hoạt động tốt không chỉ đem lại lợi ích cho những chủ thể tham gia TT gồm người bán, người mua trên TT, m à còn đem lại ích lợi cho toàn bộ nền kinh tế, bởi hàng hoá được m ua bán trên TT là hàng hoá đặc biệt, hàng hoá vốn Vốn được vận động hợp lý đã tạo điều kiện cho cỗ máy kinh tế vận hành suôn sẻ Các công
ty niêm yết chứng khoán trên TTTC luôn là lực lượng nòng cốt trong nền KTTT Hoạt động của công ty tạo cơ hội về công ăn việc làm cho người lao động, kích thích tãng trưởng kinh tế
Trang 7TTCK phát triển biểu hiện ở quy mô, số lượng các công ty niêm yết (CTNY) trên TT, còn các công ty này lại chính là các tế bào của nền kinh tế: nền kinh tế với số lượng lớn các công ty m ạnh chắc chắn là một nền kinh tế mạnh Sự hoạt động đa lĩnh vực của các công ty này, cũng như m ạng lưới phân phối rộng khắp của chúng trên toàn quốc, đã tạo ra những ích lợi lớn cho con người trong xã hội Chừng nào còn tồn tại trên TTCK, như là nhà cung ứng hàng hoá, các công ty niêm yết còn phát huy tối đa tính hiệu quả
do có vốn để đầu tư kinh doanh Thông qua việc theo đuổi hoạt động hiệu quả và sinh lời, các công ty niêm yết, đương nhiên, đem lại cho xã hội sự phồn vinh, người tiêu dùng được mở rộng khả năng lựa chọn các sản phẩm, dịch vụ phong phú về chủng loại, với chất lượng cạnh tranh và giá cả hợp lý
Rõ ràng, TTCK trở nên cẩn thiết dường như, trước hết bởi nhu cầu vốn của những nhà sản xuất, song kết quả mà nó đem lại lại vô cùng lớn, cho cả những người tiêu dùng, cho toàn xã hội TTCK đã tác động đến tất cả thành viên trong xã hội Chính điều này giải thích sức lôi cuốn m ạnh mẽ của TTCK đối với xã hội Chẳng hạn, ở Mỹ, năm 2000 có hơn 51 triệu dân trực tiếp sở hữu hoặc cổ phiếu hoặc trái phiếu, hơn 100 triệu người khác tham gia một cách gián tiếp, thông qua việc đầu tư vào các quỹ hưu trí, công ty bảo hiểm v.v Là thị trường dẫn đầu về quy mô và uy tín, hiện nay, Sở Giao dịch Chứng khoán New York thu hút khoảng 3000 công ty niêm yết CK Các công ty này có trụ sở đặt tại khắp 50 tiểu bang của Mỹ và gần 40 nước trên thế giới Lĩnh vực kinh doanh của các công ty này vô cùng đa dạng: sản xuất xe hơi, quần áo thể thao, thực phẩm, người máy thế hệ mới, thăm dò dầu khí, khai thác bất động sản, trồng cây gây rừng, điều hành các trung tâm thương mại, xây nhà chung cư, cung cấp dịch vụ y tế, vui chơi giải trí v.v Công chúng ở hầu hết các quốc gia trên thế giới đang ngày càng tham gia đông đảo vào TTCK một cách trực tiếp hoặc gián tiếp
1.1.3 Phăn loại TTTC
Trang 8Cũng như các TT khác, trên thị trường tài chính (TTTC), tính đa dạng về nhu cầu sử dụng vốn đã tạo nên tính đa dạng về các loại CK được m ua bán Tính đa dạng và phức tạp của TTTC cho thấy, các cách thức thực hiện các
quan hệ vay mượn là hết sức phong phú Cùng với sự phát triển kinh tế, các
quan hệ vay mượn lại ngày càng phức tạp, do vậy TTTC cũng ngày càng phát triển Các hàng hoá, như là các công cụ vay mượn, cũng phát triển theo nhằm mục đích thúc đẩy lại chính sự phát triển của các quan hệ vay mượn
đó Tuy vậy, sự phân loại TTTC vẫn có thể đật ra dựa trên những tiêu chí nhất định Người ta có thể phân loại TTTC theo thời hạn của việc sử dụng vốn vay, theo đó có thị trường tiền tệ (TTTT) và thị trường vốn (còn gọi là TTCK) Việc phân tích hoạt động của từng thị trường bộ phận của thị trường tài chính giúp làm rõ hơn đặc điểm hoạt động của TT này
1.2 Hoạt động của thị trường tiền tệ
T h ị trường tiền tệ là thị trường tài chính, ở đó diễn ra những quan hệ vay
mượn ngắn hạn, hay là nơi gặp gỡ của cung và cầu về tiền trong một khoảng thời gian ngắn
Về lịch sử, TT tiền tệ gắn liền với sự ra đời và hoạt động của hệ thống ngân hàng Là tổ chức đi vay để cho vay, các NHTM luôn phải cân đối hai nhu cầu: kinh doanh có lợi nhuận cao và đảm bảo tính thanh khoản cao Việc luôn phải có một khoản dự trữ là nguyên tắc cao nhất cho mọi hoạt động của các NHTM Nhưng dự trữ tiền mặt không sinh lợi cho ngân hàng, trong khi nếu chuyển hoá số tiền mặt đó thành những chuẩn tệ thì tạo ra cho ngân hàng những khoản lợi nhất định Trong hoạt động của m ình, các NH thường giữ tiền mặt tại quỹ rất ít, khoản dự trữ còn lại sẽ được chuyển thành các chuẩn tệ sinh lời Khi cần đến khoản tiền mặt nhiều, NHTM có thế bán chuẩn tệ để thu về tiền m ặt trên TT tiền tệ Sau này TT tiền tệ được mở rộng hơn và cũng đánh dấu sự phát triển của TTTC quốc gia Các doanh nghiệp
Trang 9cũng có cơ hội tham gia TT tiền tệ Chuẩn tệ là những giấy tờ có giá, khi cần chúng có thể được bán đi để chuyển sang tiền m ặt một cách nhanh chóng.Các chứng khoán trên TT tiền tệ có thời hạn ngắn, vì vậy chúng có độ an toàn cao, và tính lỏng cũng cao Chính vì vậy, chúng được các NHTM và các công ty lớn sử dụng tối đa để thu lãi từ vốn dư thừa, mà họ mong đợi có được chỉ m ột cách nhất thời Chúng trở thành hàng hoá thông dụng trên TT tiền tệ Sự không đồng bộ về nhu cầu giữ tiền mặt và giữ những chuẩn tệ này giữa các NH đã tạo ra cung cầu về tiền khác nhau, từ đó hình thành thị trường tiền tệ Tiền vận động trên TT này mang chức năng chủ yếu là phương tiện thanh toán, vừa là nơi tăng mức sinh lời của tiền, vừa là nơi điều hoà tiền mặt nhanh chóng giữa nơi thừa và nơi thiếu Giao dịch giữa các ngân hàng ở thời kỳ đầu được tập trung trên TT tiền tệ liên ngân hàng Khi quan hệ thương mại quốc tế phát triển, TT tiền tệ còn là nơi buôn bán tiền giữa các quốc gia, TT ngoại hối được ra đời từ đó.
Trên thị trường tiền tệ, các quan hệ vay mượn trong ngắn hạn có thể được thực hiện qua các hình thức sau:
1 Vay mượn giữa các trưng gian tài chính, trong đó quan trọng là các NHTM Các giao dịch này hình thành thị trường giữa các tổ chức tín dụng
Đây là thị trường dành riêng cho các NHTM và các tổ chức tín dụng, Kho bạc Nhà nước, NHTW và những người môi giới chuyên nghiệp giữa người đi vay và người cho vay
Sự hoạt động thường xuyên của thị trường này giúp các tổ chức tín dụng
hỗ trợ cho nhau về vốn, điều hoà nguồn vốn hợp lý giữa các tổ chức này, qua
đó các tổ chức tín dụng sử dụng hợp lý hơn nguồn vốn đi vay của mình; nền kinh tế, nhờ đó, sử dụng nguồn tài chính một cách hiệu quả nhất Thông qua thị trường tiền tệ, NHTW tăng cường khả năng giám sát của m ình đến hoạt động của các NHTM Những thông tin quan trọng trên thị trường, như lãi
Trang 10suất sẽ giúp chính phủ đưa ra những quyết định đúng đắn, phù hợp trong việc thực thi chính sách tiền tệ của mình.
2.Vay mượn bằng cách phát hành những chứng khoán có giá, có thời hạn ngắn < 1 năm Các giao dịch này hình thành thị trường chứng khoán ngắn hạn Có rất nhiều loại chứng khoán ngắn hạn khác nhau và nó sẽ ngày càng
được bổ sung nhiều hơn, cùng với quá trình cải cách và phát triển kinh tế, nhằm đáp ứng nhu cầu cho vay và đi vay ngày càng đa dạng Các loại CK vẫn được sử dụng phổ biến cho đến ngày nay ở nhiều quốc gia, đó là trái phiếu chính phủ,tín phiếu kho bạc, tín phiếu NHNN, chứng chỉ tiền gửi, thương phiếu, giấy chứng nhận nợ của các NHTM Việc giao dịch các chứng khoán này tạo nên những thị trường khác nhau:
- Tín phiếu Kho bạc là một công cụ giúp Chính phủ thực hiện nhu cầu vay nợ trong khoảng thời gian ngắn, đáp ứng những nhu cầu chi tiêu cấp thiết, thường là do thiếu hụt ngân sách tạm thời gây ra, thực hiện mục tiêu của chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ Các Tín phiếu này có thời hạn là 3,
6 hoặc 12 tháng, và một mức lãi suất đi kèm Người mua Tín phiếu chính là người cho Chính phủ vay Sau thời gian cho vay, họ sẽ được hoàn trả toàn bộ sô' tiền m ua Tín phiếu cộng với khoản tiền lãi Các Tín phiếu Kho bạc có thể được thanh toán ngay khi mua, dưới hình thức tín phiếu chiết khấu, hoặc thanh toán vào thời điểm đáo hạn của Tín phiếu đó Các Tín phiếu Kho bạc
có thể bán rộng rãi trực tiếp cho công chúng, hoặc cho các tổ chức có nhu cầu mua, bằng cách phát hành qua NHTW
- Giấy chứng nhận tiền gửi là một công cụ vay nợ do ngân hàng bán cho người gửi tiền Nó thanh toán lãi hàng năm theo một khoản đã định Khi đến
kỳ hạn thanh toán, người mua được trả hết mức mua ban đầu Trước đây giấy chứng nhận tiền gửi không thể bán lại cho người khác và không thể được hoàn trả trước kỳ hạn, nếu người m ua không chịu một khoản phạt đáng
Trang 11nhà đầu tư tài chính, các NHTM đã phát hành loại chứng chỉ tiền gửi có thể
mua bán lại ở thị trường thứ cấp Ngày nay nó trở thành công cụ rất được các
NHTM sử dụng
- Thương phiếu là công cụ vay nợ ngắn hạn Người bán, do đó, người có nhu cầu vay là các NHTM và các công ty Người m ua thương phiếu sẽ đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn cho các ngân hàng và công ty này
- Hối phiếu được ngân hàng chấp nhận: là một dạng chứng khoán do một công ty phát hành nhằm đáp ứng nhu cầu vay vốn trong thời gian ngắn Hối phiếu có độ tin cậy cao về khả năng hoàn trả của công ty bằng việc đảm bảo của ngân hàng M uốn đạt điều đó, công ty phải có khoản tiền gửi bắt buộc
có giá trị bằng giá trị hối phiếu tại ngân hàng Hối phiếu của người cho vay vẫn được đảm bảo thanh toán đầy đủ, ngay cả khi công ty bán hối phiếu đã phá sản, vì th ế nó là hối phiếu được ngân hàng chấp nhận hay hối phiếu ngân hàng
Ngoài các công cụ vay nợ trên, trên TT tiền tệ mỗi quốc gia còn có nhiều công cụ khác Sự đa dạng, phong phú của các loại công cụ này gắn liền với sự phát triển của hệ thống nhân hàng, hệ thống tài chính mỗi nước.Như vậy, thị trường tiền tệ là nơi điều hoà lượng tiền mặt một cách nhanh chóng giữa nơi thừa và nơi thiếu Các khoản vay, trả của các ngân hàng trên thị trường tiền tệ sẽ không làm thay đổi tổng khối tiền gửi của hệ thống thị trường nói chung tại NHNN Tuy nhiên, khi có sự tham gia của Kho bạc nhà nước vào thị trường tiền tệ, qua các hoạt động m ua bán Tín phiếu Kho bạc, thì khối tiền đó sẽ có thay đổi tuỳ vào mức độ tham gia của Kho bạc Và điều quan trọng là, sự thay đổi này sẽ làm xuất hiện tình trạng thừa hoặc thiếu tiền trong hệ thống các NHTM Điều này cho thấy vai trò quan trọng của NHNN trong việc sử dụng các biện pháp can thiệp vào thị trường tiền tệ Chính vì vậy, thị trường tiền tệ luôn chịu sự chỉ đạo chặt chẽ của NHNN Khi cung nhỏ hơn cầu tiền mặt, NHNN dùng các công cụ để
Trang 12bơm thêm tiền qua thị trường tiền tệ, và ngược lại, NHNN sẽ rút bớt tiền ngoài lưu thông khi nhận thấy cung đã lớn hơn cầu về tiền.
Tinh trạng thừa tiền hay thiếu tiền trong các NHTM được phản ánh trên thị trường tiền tệ, qua biến động của lãi suất Lãi suất hình thành trên thị
trường tiền tệ là lãi suất cho vay giữa các NHTM, nó được quy định bởi
tương quan cung cầu tiền vay giữa các NHTM Mức lãi suất này lại có ảnh hưởng đến lãi suất cho vay của các NHTM đối với các doanh nghiệp sản xuất Lãi suất trên thị trường tiền tệ thay đổi khá linh hoạt, NHNN không trực tiếp ấn định mức lãi suất này Ngược lại, căn cứ vào sự thay đổi lãi suất trên thị trường tiền tệ, NHNN có thể đánh giá được tình hình cung cầu vốn trong nền kinh tế, từ đó có những quyết định phù hợp trong việc can thiệp vào thị trường tiền tệ
Như vậy, là một bộ phận của thị trường tài chính, thị trường tiền tệ có hai chức năng cơ bản, đó là cân đối điều hoà vốn khả dụng giữa các NHTM; cân đối các nguồn vay và cho vay giữa các tổ chức tín dụng Hai chức nãng trên được thể hiện qua hai loại nghiệp vụ trên TTTT, đó là nghiệp vụ cho vay ngắn hạn của NHTW với các tổ chức tín dụng, hoặc của các tổ chức tín dụng với nhau Sự hoạt động của thị trường tiền tệ trong nền kinh tế sẽ tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, an toàn cho các NHTM Tính thanh khoản của các khoản tiền gửi có điều kiện được đảm bảo Các nguồn tiền sẽ được
sử dụng đúng mức và có hiệu quả hơn Các doanh nghiệp có cơ hội tìm được nguồn vốn với giá hợp lý hơn Sự có mặt của thị trường tiền tệ sẽ làm cho vấn đề lưu thông thứ hàng hoá cao cấp như tiền, vốn, ngoại tệ được đảm bảo, nền kinh tế thị trường phát triển thêm một bước: đa dạng hơn, đồng bộ hơn, tạo cơ sở hạ tầng vững chắc cho sự nghiệp phát triển kinh tế nói chung
1.3 Thị trường chứng khoán
T h ị trường c h ứ n g k h o á n , còn gọi là thị trường vốn Trên TTCK, tiền
Trang 13một quá trình sản xuất mới Vì thế, thị trường CK là nơi diễn ra các quan hệ vay mượn vốn trong thời gian dài > 1 năm Phương thức thực hiện các quan
hệ vay mượn này là: người có nhu cầu vay bán các CK có thời hạn dài 2, 5,
10 năm, hoặc dài hơn Người cho vay sẽ mua các chứng khoán đó
Là nơi diễn ra việc m ua bán các CK có thời hạn dài, hoạt động của thị trường vốn đảm bảo cho các dòng vốn dài hạn được vận động liên tục Thị trường vốn cung cấp tài chính cho các khoản đầu tư dài hạn của Chính phủ, của các doanh nghiệp So với hàng hoá trên thị trường tiền tệ, hàng hoá trên thị trường vốn có độ rủi ro cao hơn, và cũng vì thế, nó là những hàng hoá đem lại cho nhà đầu tư sự ưa thích hơn, bởi khả năng đem lại lợi tức cao của chúng
Các CK trên thị trường này bao gồm:
Trái phiếu là một loại CK quy định lãi suất nhất định, cần phải trả trong
một thời kỳ nhất định Có rất nhiều loại trái phiếu khác nhau Tuỳ theo chủ thể phát hành có trái phiếu chính phủ, trái phiếu công ty Tuỳ theo khu vực phát hành có trái phiếu trong nước, trái phiếu quốc tế Trái phiếu quốc tế gồm trái phiếu nước ngoài và trái phiếu Châu Âu, trong đó trái phiếu nước ngoài là trái phiếu do một nước phát hành trên thị trường tiền tệ nước ngoài, nhằm huy động vốn nước ngoài Trái phiếu châu Âu có đặc điểm: người vay tiền (nhà phát hành trái phiếu) ở một nước, còn trái phiếu được phát hành ở một nước khác, hoặc ở trung tâm quốc tế của một số nước
C ổ phiếu là một loại CK xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp
của cổ đông đối với thu nhập và tài sản của một công ty cổ phần Người sở hữu cổ phiếu gọi là cổ đông Các cổ đông được hưởng các quyền đối với công ty, căn cứ vào mức độ nấm giữ cổ phiếu (tức là tỷ lệ góp vốn vào công ty) Lợi ích của cổ đông gắn chặt với kết quá hoạt động kinh doanh cua công
Trang 14Thị trường chứng khoán hoạt động, dòng vốn được luân chuyển từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn, từ đó đáp ứng nhu cầu vốn cho tăng trưởng phát triển của các DN nói riêng, của nền kinh tế nói chung Đó là chức năng quan trọng của TTCK Quá trình luân chuyển vốn trong nền kinh tế liên qua đến việc lựa chọn ra những công ty, hay dự án có triển vọng để được nhận vốn một cách xứng đáng Chỉ có thị trường mới có khả năng này, thị trường sẽ xử lý và chuyển thông tin đến các nhà đầu tư Kết quả là những công ty hay dự án tốt, có triển vọng, có thể nhận được vốn theo yêu cầu với chi phí rẻ (đó là tình huống giá chứng khoán của DN tăng hơn mệnh giá, thậm chí tăng cao hơn giá niêm yết -
cổ tức phải trả giảm , tức là chi phí vốn rẻ); hoặc tình huống chứng khoán bán được với lãi suất không cao lắm, hoặc cổ tức phải trả không cao bằng những CK khác, nhưng vẫn được các nhà đầu tư trên TTCK mua Nhà đầu tư CK vẫn mua những CK này, vì đối với họ, yếu tố hấp dẫn của một chứng khoán không chỉ là lãi suất, m à còn là sự an toàn, uy tín của DN phát hành chứng khoán Sự phân bổ vốn (tức là việc cho vay) càng thông qua TT nhiều, cũng tức là, nguồn vốn tạo ra bằng con đường xin cho càng ít, thì khả năng giám sát DN, giám sát dự án càng lớn Như vậy, để thực hiện dòng luân chuyển vốn trong nền kinh tế, thị trường chứng khoán đã tham gia vào việc quản lý và sử dụng nguồn vốn một cách có hiệu quả: vốn sẽ dễ dàng chuyển đến những doanh nghiệp hoạt động tốt, dựa trên việc sử dụng vốn có hiệu quả Ngược lại, vốn sẽ chối từ những doanh nghiệp yếu kém, nơi nguồn vốn bị sử dụng lãng phí, không hiệu quả Ngoài ra
sự hiện diện của TTCK trong nền kinh tế đã tạo ra môi trường đầu tư mới cho công chúng Tạo ra tính thanh khoản cho các loại chứng khoán, chia sẻ rủi ro cho các trong đầu tư, định giá hợp lý các CK trên thị trường là những nét hấp dẫn của thị trường đối với nhà đầu tư
Giá cả cân bằng của bất cứ thị trường nào đều là tín hiệu đầy đủ, phản ánh thực trạng thị trường Cũng như vậy, chỉ số giá chứng khoán cung cấp
Trang 15vốn trong nền kinh tế Chỉ số giá CK trên thị trường có thể là con số trung bình, được hình thành trên cơ sở giá của toàn bộ các chứng khoán đang giao dịch trên thị trường ( ví dụ, chỉ số Hangseng ở TTCK Hồng Công, chỉ sô' VN-Index trên TTCK Việt Nam), cũng có thể chỉ gồm một nhóm các CK như chỉ số Nikkei - 250 trên TTCK Nhật Bản, chỉ số Dow Jones trên TTCK
Mỹ v.v Trong cách tính thứ hai, những CK được chọn để tính toán phải là
CK của những công ty lớn, có sức mạnh trong nền kinh tế và được m ua bán nhiều nhất trên thị trường Do cách tính như vậy nên chỉ số chứng khoán vẫn phản ánh xu hướng vận động chung của toàn bộ thị trường: chỉ số giá CK tăng cho thấy toàn bộ, hoặc phần lớn CK tâng giá, ngược lại, chỉ số giảm tức
là phần lớn các CK đang giảm giá
Diễn biến của chỉ số giá cả liên quan chặt chẽ với tình hình phát triển kinh
tế, thông qua hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong nền kinh tế
và các chính sách kinh tế vĩ mô của chính phủ Thị trường CK hoạt động tốt, chỉ số giá chứng khoán tăng đều, đó là dấu hiệu tốt: các doanh nghiệp trong nền kinh tế đang m ở rộng s x và đồng vốn đang được sử dụng có hiệu quả, nền kinh tế đang ở vào giai đoạn tăng trưởng Ngược lại, sự chao đảo của thị trường, biến động m ạnh của chỉ sô' chứng khoán theo huớng sụt giảm thường
là dấu hiệu của một thời kỳ suy thoái kinh tế
1.4 Quan hệ giữa thị trường tiền tệ và thị trường chứng khoán
Trong lịch sử phát triển của thị trường TC, thị trường tiền tệ hình thành trước Ban đầu, nhu cầu tiền, cũng như nhu cầu tiết kiệm trong dân cư chưa cao và chủ yếu diễn ra trong một thời gian ngắn Hệ thống ngân hàng, cùng với các tổ chức trung gian tài chính phi ngân hàng, đã từng tồn tại và phát triển rất lâu, trước khi xuất hiện thị trường tài chính ở mỗi quốc gia Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nhu cầu về vốn dài hạn cho đầu tư xuất hiện và thị trường vốn đã ra đời để đáp ứng nhu cầu đó TTCK đã ra đời với
Trang 16tư cách là m ột bộ phận của thị trường tài chính, nhằm đáp ứng nhu cầu mua bán các chứng khoán.
Việc nghiên cứu các thị trường bộ phận của TTTC cho thấy: giữa thị trường tiền tệ và TTCK có mối liên hệ chặt chẽ Đó là mối liên hệ giữa hai
bộ phận cấu thành một cơ thể sống: TTTC nằm trong hệ thống tài chính - tiền tệ quốc gia và ngày càng mang tính quốc tế Chính vì vậy, bất kì một biến động kinh tế nào khi tác động lên thị trường này, cũng sẽ có ảnh hưởng lan truyền đến thị trường kia Chẳng hạn, lãi suất thay đổi, tỷ giá hối đoái thay đổi chắc chắn sẽ có hiệu ứng trên thị trường vốn dài hạn Trong những thời kỳ xảy ra khủng hoảng tài chính, tính lan truyền này bộc lộ rất rõ Sự lan truyền đó thể hiện sự tự điều chỉnh của TTTC, nhằm hướng tới sự tối ưu lợi ích cho các chủ thể tham gia thị trường và cho toàn bộ nền kinh tế Cũng
vì thế, mọi rào cản làm hạn chế tính phụ thuộc tác động lẫn nhau giữa các thị trường sẽ làm tổn hại đến hoạt động của thị trường và cũng là làm giám quá trình sử dụng đồng vốn có hiệu quả trong nền kinh tế
Việc nghiên cứu TTTC quốc gia cũng chỉ ra rằng, cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế, TTTC càng phát triển Biểu hiện của sự phát triển đó
là ranh giới giữa các công cụ tài chính, cũng như tiêu chí phân loại các thị trường bộ phận sẽ ngày càng có tính tương đối Các công cụ mới không ngừng ra đời bên cạnh các công cụ truyền thống Chúng được lưu thông đan xen giữa các thị trường và chuyển hoá lẫn nhau Các bộ phận của TTTC càng trở nên gắn bó chặt chẽ với nhau TTTC sẽ ngày càng trở nên đa dạng, phức tạp và khó kiểm soát
Khi xem xét mối quan hệ giữa thị trường tiền tệ và thị trường chứng khoán cũng cần chỉ rõ quan hệ giữa hoạt động của các ngân hàng thương mại với thị trường chứng khoán
Nguồn vốn bằng tiền được coi là dầu mỡ bôi trơn cỗ máy kinh tế vận
Trang 17đường Các con đường đó chính là những kênh khác nhau, dẫn vốn từ trạng thái nhàn rỗi, đến trạng thái vận động, trong đó kênh dẫn vốn qua các TGTC và qua TTCK là quan trọng nhất Trong các TGTC, ngân hàng là trung gian tài chính quan trọng nhất Như vậy, TTCK là NHTM là hai kênh luân chuyển vốn quan trọng trong nền kinh tế thị trường của các quốc gia
Có thể nói, TTCK có vị trí đồng hạng so với các ngân hàng thương mại trong vấn đề tạo ra sự vận động của vốn trong nền kinh tế Bởi vì, chỉ khi TTCK hoạt động m ạnh mẽ bên cạnh một hệ thống ngân hàng hiện đại, lành mạnh,
hệ thống tài chính quốc gia mới khẳng định được mình trong sự phát triển kinh tế
Giữa hai con đường này, tuy có những điểm chung dễ nhận thấy, nhưng cũng có những điểm rất riêng Sự vận động của tiền qua trung gian tài chính mang tính gián tiếp, bởi, với con đường vận động này, lợi ích cúa người cho vay (người có tiền nhàn rỗi) và người đi vay (người có nhu cầu đầu tư) không gắn một cách trực tiếp, mà chỉ gián tiếp, qua các trung gian tài chính,
tổ chức m à cả người cho vay và người đi vay cùng có quan hệ giao dịch Trong mỗi cuộc giao dịch, cho dù người đi vay sử dụng đồng tiền có hiệu quả hay không, thì lợi ích của người cho vay cũng không vì thế mà bị ảnh hưởng: đối với họ, khoản lợi ích kiếm được từ việc cho vay luôn là một mức lãi suất cố định Ngược lại, dòng tiền đi qua thị trường chứng khoán gắn bó chặt chẽ lợi ích của hai chủ thể này Nếu hoạt động kinh doanh bằng vốn vay được từ TTCK của doanh nghiệp không có hiệu quả, thì lợi ích của người cho vay, biểu hiện qua trái tức và cổ tức, chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng Tuy vậy, TTCK có vai trò cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển kinh tế ở nhiều quốc gia, đó chính bởi TTCK chứa đựng nhiều yếu tố hiệu quả Khả năng này lại xuất phát từ chính sự gắn kết chặt chẽ lợi ích của những người đứng ở hai đầu dòng luân chuyển của vốn Chỉ có sự gắn kết đó mới tạo ra
cơ chế kiểm soát lẫn nhau giữa họ: người cho vay phải cân nhắc lựa chọn
Trang 18người vay đáng tin cậy, về phía người đi vay, họ luôn đứng trước áp lực phải
sử dụng đồng vốn vay có hiệu quả nhất, vì sự tồn tại ngắn hạn, cũng như vì
sự tăng trưởng lâu dài của hãng mình, trong cơ chế thị trường
Hoạt động của hệ thống ngân hàng đã tạo nguồn cung ứng vốn quan trọng cho xã hội Song, do nguyên tắc hoạt động “ đi vay để cho vay” , lấy an toàn
là phương châm cao nhất, các NHTM đã không thể huy động được hết tiền tạm thời nhàn rỗi trong dân, nhất là những nguồn vốn tức thời và nhỏ bé Ngay cả khi hoạt động của hệ thống NH được đánh giá là khởi sắc, thì lượng tiền này trong dân còn khá lớn Trong khi đó, TTCK, với cơ chế hoạt động 2 cấp, phát hành lần đầu và mua bán lại các chứng khoán đã phát hành; với sự tham gia của đông đảo các nhà đầu tư, tự nó đã tạo ra khả năng luân chuyển những đồng vốn nhỏ đến nơi có nhu cầu đầu tư
Hơn nữa, trong khi, không phải tất cả tiền vào ngân hàng đều trở thành vốn đầu tư, chỉ một phần nhỏ được cho vay đầu tư dài hạn (ở Việt Nam tỉ lệ này là khoảng 20% ), thì ngược lại, tiền vào TTCK đều là vốn đầu tư Đó là bởi cổ phiếu không có thời hạn, còn trái phiếu cũng đều là những công cụ
nợ trung và dài hạn TTCK còn được gọi là thị trường vốn cũng vì vậy Mọi
sự bất ổn trong hoạt động của ngân hàng, như tốc độ huy động vốn giảm, tình trạng ứ đọng vốn kéo dài, tốc độ tăng huy động vốn so với tốc độ tăng
dư nợ cho vay không hợp lý, hay tình trạng nợ khó đòi của ngân hàng tăng quá mức cho phép v.v đều ảnh hưởng đến dòng lưu chuyển của vốn, làm hạn chế, thậm chí, làm mất tính hiệu quả của việc sử dụng đồng vốn trong nền kinh tế Nhưng với TTCK thì khác, mặc dù sự biến động của chỉ sô' giá
CK thể hiện rõ nét hoạt động của TTCK, nhưng không phải vào thời kỳ chao đảo của TTCK, khi giá CK lên xuống chóng mặt, nền kinh tế cũng lâm vào khủng hoảng Giá CK vẫn bất ổn ngay cá khi hoạt động kinh doanh của các công ty niêm yết diễn ra theo đúng kế hoạch và không ảnh hưởng đến
Trang 19khủng hoảng, nhưng không phải bao giờ sự chao đảo của TTCK cũng luôn kéo theo sự suy thoái của nền kinh tế.
Nếu tiền đi qua hệ thống ngân hàng còn có thể gặp rào cản, làm hạn chế khả năng sử dụng nó tối ưu nhất (chẳng hạn những can thiệp quá mức của nhà nước vào hoạt động cho vay của NHTM ), thì TTTC nói chung, TTCK nói riêng, lại m ở ra cho tiền một kênh vận động tự do, theo hướng từ nơi sử dụng có hiệu quả thấp đến nơi có hiệu quả cao hơn Các công ty niêm yết (CTNY) hoạt động tốt sẽ là nhân tô' cơ bản làm tăng giá các CP của công ty
đó trên TT, và điều này cũng có nghĩa là, cơ hội vay thèm vốn trên TTCK được m ở ra cho chính công ty này Ngược lại, vốn sẽ chối bỏ những công ty hoạt động kinh doanh kém, thông qua việc mất giá CP của họ trên TTCK
Vì thế có thể khẳng định vốn đi qua TTTC có nhiều cơ hội được sử dụng có hiệu quả hơn qua hệ thống ngân hàng
Khi đánh giá cao khả năng sử dụng đồng vốn có hiệu quả của TTCK cũng cần phải nhấn m ạnh một điều là, dòng vốn qua TTCK cũng hoàn toàn được tự do ào ạt rút ra, khi môi trường đầu tư có dấu hiệu không lành mạnh Các cuộc khủng hoảng tài chính thực chất là dòng chảy ra ồ ạt của nguồn vốn, vượt khỏi tầm khống chế của quốc gia, được gây ra bởi hành động bán tháo CK để thu hồi vốn của các nhà đầu tư nước ngoài (ĐTNN) Các dòng chảy này sẽ xuất hiện khi có dấu hiệu mất giá của đồng bản tệ Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực Châu Á, với điểm xuất phát là Thái Lan, là một minh chứng Chính điều này đã in dấu ấn rủi ro cho TTCK, hạn chế tính hấp dẫn của TT này so với NH, với tư cách là hai lĩnh vực đầu tư sinh lời đối với các nhà đầu tư tài chính Song, phải chăng tạo ra dòng chảy tự do cho tiền trong nền kinh tế là một hạn chế của TTCK, cần phải khắc phục? Hoàn toàn không! Khủng hoảng tài chính không phải là sự thất bại cúa TT vốn Nếu đi tìm căn nguyên của sự rút chạy một chiểu của dòng vốn trong thời kỳ khủng hoảng tài chính xảy ra, thì điều cần khắc phục lại chính là những sai
Trang 20lầm, thiếu sót trong chính sách điều hành của nhà nước Ở các quốc gia xảy
ra khủng hoảng, những nhà quản lý KT đã không làm tốt nhiệm vụ lập ra một trật tự cơ bản cho TT Trái lại, họ đã trở thành người hỗ trợ cho những phương án sử dụng đồng vốn phi hiệu quả, dưới danh nghĩa là những dự án đầu tư m ang đậm tính đầu cơ Sẽ không quá nặng lời khi buộc tội rằng, chính phủ ở các nước có khủng hoảng chính là kẻ gây ra sự chốn chạy của các dòng vốn, tạo nên sự bất ổn của TTTC quốc gia
Hội nhập quốc tế (HNQT) TTTC là quá trình mở cửa TTTC quốc gia đổ đón nhận sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài, đồng thời mở cứa nền KT đẽ tạo khả năng cho các nhà ĐT trong nước tham gia các TTTC nước ngoài Tham gia TTTC trong nước của các nhà đầu tư nước ngoài lạo khá năng để các lổ chức
cá nhân nước ngoài có thê kinh doanh trên TTTC cúa một quốc gia, hoặc hưởng thụ các lợi ích cua TTTC nước này Ví dụ, một công ty chứng khoán nước ngoài
có thể kinh doanh CK trên TTCK Việt Nam Ngược lại, tham gia vào các TTTC nước ngoài, các nhà đầu tư trong nước có cơ hội mớ rộng hoạt động kinh doanh hoặc hưởng thụ các dịch vụ trên TTTC nước ngoài Nhu' vậy, hội nhập TTTC quốc tế là một xu hướng khách quan Quá trình này cần phải được điều chinh một cách chủ động, nhằm tạo dựng khả năng đón nhận sự tham gia cúa nhà đầu
tư nước ngoài vào TTTC trong nước, đồng thòi thúc đáy sự tham gia cúa các nhà đầu tư trong nước vào TTTC quốc tế
Trang 21Chương hai K Ì M H Ã M T À I C H Í N H -X U H Ư Ớ N G C Ủ A S ự Đ l Ể U
H À N H T H Ự C T I Ễ N V À N H Ũ N G V Ấ N Đ Ể Đ Ặ T R A
2.1 Sự can thiệp của chính phủ trên thị trường tài chính
2.1.1 Điều tiết của N H TƯ đối với NHTM:
Điều tiết của NH TƯ đối với NHTM thường được thể hiện trên các mặt:
Duy trì sự thống trị của sở hữu nhà nước trong hệ thống ngân hàng thương mại.
Các NHTM là định chế tài chính quan trọng trong hệ thống tài chính Để kiểm soát được hệ thống tài chính - lĩnh vực then chốt của nền kinh tế từ đó điều tiết kinh tế vĩ mô, Nhà nước luôn cố gắng khống chế hoạt động cứa các NHTM Cách thức kiểm soát, khống chế các định chê tài chính này một cách triệt đê nhất chính là sở hữu chúng Đã có những lập luận có tính lý thuyết ủng hộ sở hữu nhà nước hơn là sở hữu tư nhân trong lĩnh vực ngân hàng khi dựa trên những
lý lẽ rằng:
(1) Chính phủ phân bổ tín dụng tốt hơn khu vực tư nhân do chính phủ tính
đến lợi ích tổng thể của xã hội hơn là lợi ích cục bộ của bộ phận Hơn nữa, trong một môi trường thể chế yếu kém, các ngân hàng tư nhân sẽ không thể khắc phục được những thiếu sót về thông tin và việc ký kết hợp đổng, và nế có khác phục được thì cũng mất rất nhiều thời gian Vào những năm 50, 60, khi người ta đang tìm cách để giúp các quốc gia đang phát triển cất cánh theo hướng tãng trưởng
tự lực bền vững thì sờ hữu Nhà Nước đôì với khu vực ngân hàng dường như là một cách thực hiện điều này Sở hữu Nhà Nước sẽ giúp cho việc trích nộp một
Trang 22phần thặng dư từ nguồn tài chính (bằng cách đánh thuế khu vực tài chính) và chỉ định tín dụng dễ dàng hơn nhiều.
(2) Tín dụng do khu vực tư nhân cung cấp chỉ tập trung vào một số ít người chứ không cho toàn xã hội;
(3) Ngân hàng tư nhân có xu hướng chấp nhận quá nhiều rủi ro, mạo hiểm hơn ngân hàng quốc doanh do các ngân hàng tư nhân sẽ quan tâm đến các hoạt động mang tính đánh bạc thay vì phân bổ các nguồn lực một cách khôn ngoan.Quan điểm ngược lại thì nhấn mạnh đến tầm quan trọng của các lực lượng thị trường trong phân bố tín dụng và cho rằng việc chính phủ vừa đồng thời sở hữu ngân hàng vừa thiết lập các quy định và giám sát ngân hàng sẽ tạo ra mâu thuẫn về lợi ích Như vậy, về lý thuyết khó có thể nói sở hữu nhà nước trong ngân hàng là tốt hay xấu, dẫn đến tăng trưởng nhanh hay chậm, tăng hay giảm khả năng khủng hoảng ngân hàng Câu trả lời được giải đáp dựa trên nghiên cứu thực nghiệm N ghiên cứu thực nghiệm của Ngân hàng Thế giới tiến hành cho
107 nước và của trường Đại học Harvard cho 95 nước đã đi tới cùng kết luận sau đây: ở những nước m à sở hữu nhà nước trong hệ thống ngân hàng lớn hơn thì, chênh lệch lãi suất cho vay và huy động lớn hơn; tín dụng dành cho khu vực tư nhân thấp hơn; khu vực tài chính ngoài quốc doanh phát triển kém hơn; hệ thống tài chính phát triển chậm hơn, năng suất thấp hơn, tăng trưởng kinh tế thấp hơn.Mặt khác, ở những nước này ít có sự giám sát của lực lượng thị trường đối với các ngân hàng và không khuyến khích khu vực tư nhân đầu tư vào kỹ năng giám sát ngân hàng vì tất cả rủi ro chính phủ sẽ gánh chịu và khủng hoảng ngân hàng xảy ra nhiều hơn
Những phí tổn của sở hữu nhà nước trong hệ thống ngân hàng cho thấy trong thời kỳ bình thường hoặc sau khủng hoảng, chính phủ nên giảm sở hữu của mình trong hệ thống ngân hàng Trong thời kỳ khủng hoảng, chính phủ không nên sử dụng biện pháp sở hữu ngân hàng đế vượt qua khủng hoảng Chính
Trang 23đó tiếp tục tồn tại hay đóng cửa mà để thị trường tự quyết định người thắng, người thua Thay vào đó, chính phủ nên tập trung xây dựng cách tiếp cận tổng thể để vượt qua khủng hoảng.
Xét ở khía cạnh tăng trưởng kinh tế, vấn đề quan trọng là bảo đảm cho
người dân tiếp cận được các dịch vụ tài chính hơn là người cung ứng các dịch vụ
đó Những nước có hệ thống tài chính trong nước còn nhỏ bé ngày càng nhận thức rõ rằng họ không thể đóng cửa thị trường tài chính và chỉ cho phép các ngân hàng trong nước cung ứng tín dụng cho các khách hàng trong nước
Tuy nhiên, nhiều nước lo ngại rằng ngân hàng nước ngoài sẽ gây ra nhiều biến động hơn cho hệ thống tài chính và nền kinh tế của họ và không thực hiện tốt chức năng cung ứng tín dụng cho các doanh nghiệp trong nước
Mặc dù về lý thuyết điều này có thể hiểu được, nhưng số liệu thực tế cho thấy không nhất thiết phải lo ngại như vậy Ngân hàng nước ngoài đã góp phần đa
dạng hóa sản phẩm và chia sẻ rủi ro khi ngân hàng nước ngoài thua lỗ, chính
phủ không phải hỗ trợ họ và do vậy giảm chi phí của ngân sách nhà nước Những nước có tỷ lệ sở hữu ngân hàng nước ngoài thấp hơn và sở hữu nhà nước cao hơn thường khủng hoảng nhiều hơn Tuy nhiên, cần quản lý thận trọng trong quá trình mở cửa và không nên cùng một lúc mở cửa tất cả cho các ngân hàng nước ngoài Hơn nữa, các dòng vốn nước ngoài chảy vào có thể làm tăng tính biến động trong nền kinh tế, vì vậy không nên mở cửa hoàn toàn cho tất cả các dòng vốn cùng một lúc, khi mà chính phủ chưa xây dựng được một khung khổ pháp lý vững chắc
ở Trung Quốc, trước 1979, hệ thống ngân hàng hoạt động theo mô hình
hệ thống 1 cấp, trong đó Ngân hàng Nhân dân Trung Hoa (PBC) có chức năng quản lí hầu hết các giao dịch tài chính và chịu trách nhiệm về việc in tiền và quản lí ngoại hối Hai ngân hàng chuyên doanh thuộc PBC là Ngân hàng Trung Hoa (BOC) và Ngân hàng kiến thiết nhân dân Trung Hoa (PCBC) hoạt động với chức năng tài trợ vốn cho k ế hoạch kinh tế và được coi là các kho bạc Nhà Nước
Trang 24của cá chính quyén địa phương Từ 1979 đến 1984 là quá trình tiến hành chuyên đổi sang mô hình ngân hàng 2 cấp Năm 1984, PBC chính thức đi vào hoạt động như một NH TƯ và đây chính là cơ sở để quá trình đa dạng hóa cơ cấu sở hữu các NHTM được thực hiện Luật Ngân hàng thương mại (1995) đã tăng cường việc chuyển đổi sang một hệ thống ngân hàng định hướng thị trường, đa dạng sở hữu và hoạt động độc lập hơn Mặc dù các NHTM Nhà Nước vẫn còn đóng vai trò chủ đạo trong hệ thống ngân hàng, song từ đây một cơ cấu ngân hàng độc quyền đã không còn hiện hữu ở Trung Quốc.
Cũng giống như ở Trung Quốc, trong thời kì bao cấp, ở Việt Nam, hệ thống ngân hàng hoạt động theo mô hình 1 cấp Hệ thống ngân hàng thực hiện đơn thuần việc phân bổ, cấp phát tín dụng cho các doanh nghiệp Nhà Nước, các địa phương; cả hệ thống ngân hàng thuộc sở hữu Nhà Nước và chịu sự chi phối gần như hoàn toàn của NHTƯ
Hiện nay, cơ cấu của hệ thống ngân hàng Việt Nam gồm: 6 NHTM Nhà Nước; 37 NHTM cổ phần; 27 chi nhánh ngân hàng nước ngoài; 4 ngân hàng liên doanh; 5 công ty tài chính; 8 công ty cho thuê tài chính; 40 văn phòng đại diện ngân hàng nước ngoài Trong đó các NHTM Nhà Nước chiếm tỉ trọng tài sản lớn nhất trong tổng tài sản của hệ thống ngân hàng: 77% năm 2002, tiếp đó là các chi nhánh ngân hàng nước ngoài và ngân hàng liên doanh: hơn 12% và các NHTM cổ phần 10% Trong tương lai, theo chủ trương của Đảng và Nhà Nước,
tỉ trọng của các NHTM cổ phần và các ngân hàng liên doanh sẽ tiếp tục tăng lên Quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà Nước nói chung và NHTM Nhà Nước nói riêng đang được tiến hành rộng khắp
2 Sự chi ph ô i lãi suất
Trong nền kinh tế thị trường, hầu hết các NHTƯ sử dụng lãi suất là công
cụ điều hành chính sách tiền tệ nhằm mục đích khuyến khích tiết kiệm và phát triển chiều sâu thị trường tài chính, tạo ra khả năng và điều kiện cho việc phân
Trang 25trên thị trường, có lợi cho đầu tư và phát triển, góp phần đem lại sự cân đối cung
- cầu tiền tệ, ổn định tiền tệ, hướng các nguồn lực tài chính vào các lĩnh vực hoạt động có hiệu quả và tỷ suất lợi nhuận cao nhất đảm bảo cho các tổ chức tín dụng trang trải được các chi phí hoạt động
Thị trường tiền tệ là m ột bộ phận của thị trường tài chính, ở đó các công cụ vay
nợ ngắn hạn được m ua bán, trao đổi như: tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi, thương phiếu, hợp đồng m ua lại, các khoản vay nợ giữa các NHTM, các công cụ phái sinh lãi suất và phái sinh tiền tệ ,
Thị trường tiền tệ đóng vai trò quan trọng trong việc truyền dẫn các quyết định về chính sách tiền tệ, do những thay đổi của chính sách tiền tệ tác động trước hết đến thị trường tiền tệ Mức độ chiều sâu và tính thống nhất của thị trường tiền tệ là cơ sở cho NHTƯ điều hành chính sách tiền tệ một cách có hiệu quả, vì nó đảm bảo cho việc phân phối vốn hợp lí và tạo ra mức lãi suất ngắn hạn thống nhất
Lãi suất trên thị trường tiền tệ là giá cả của việc sử dụng tiền vốn trong một thời gian nhất định mà người cho vay đòi hỏi người vay phải trả khi sử dụng khoản tiền của m ình - giá cả của các công cụ vay nợ ngắn hạn Mức lãi suất này chịu tác động của các nhân tổ chủ yếu: quan hệ cung cầu vốn, mức độ rủi ro thanh toán, rủi ro thị trường, lạm phát, tỉ suất lợi nhuận bình quân của nền kinh
tế, mức biến động của tỉ giá và lãi suất của thị trường quốc tế, chi phí quản lí kinh doanh của cá TCTD, bao gồm cả chính sách thuế của Nhà nước đối với tiền gửi dân cư và hoạt động tín dụng của NHTM Các nhân tố này được NHTƯ lượng hóa để xác định tính hợp lí và dự báo chiều hướng biến động của lãi suất thị trường, từ đó có sự tác động thích hợp thông qua việc điều hành công cụ chính sách tiền tệ để hướng lãi suất thị trường biến động phù hợp với các mục tiêu của chính sách tiền tệ Lãi suất trên thị trường tiền tệ có thể chia thành 2 nhóm như sau:
Trang 26+ Nhóm lãi suất chịu tác động của quan hệ cung cầu vốn: (1) lãi suất tín phiếu kho bạc (thường là lợi kỳ hạn 3 tháng), đóng vai trò là lãi suất chuẩn, thấp nhất trên thị trường tiền tệ (2) lãi suất các công cụ huy động vốn của các trung gian tài chính như tiền gửi, chứng chỉ tiền gửi, hối phiếu được NHTM chấp nhận, (3) lãi suất vay vốn giữa các NHTM trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng (4) lãi suất của các khoản tín dụng ngắn hạn của các NHTM cho các doanh nghiệp vay là lãi suất cao nhất trên thị trường tiền tệ, lãi suất của các NHTM lớn áp dụng cho vay các doanh nghiệp có uy tín là mức lãi suất thấp nhất trong các lãi suất cho vay và thường gọi là lãi suất cho vay cơ bản.
+ Nhóm lãi suất do NHTƯ công bố được sử dụng để điều hành chính sách tiền tệ bao gồm lãi suất chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất cho vay qua đêm, lãi suất định hướng thị trường liên ngân hàng, lãi suất nghiệp vụ thị trường
m ở, Không giống như nhóm lãi suất nêu trên được xác định chủ yếu theo quan hệ cung cầu vốn, các lãi suất này được NHTƯ xác định tùy thuộc vào chính sách và mục tiêu kinh tế vĩ mô
ở mỗi quốc gia khác nhau, cách thức, phương pháp mà NHTƯ sử dụng để điều hành lãi suất có những khác biệt nhất định Tùy thuộc vào tình hình cụ thể
về mức độ phát triển của thị trường tiền tệ hay mục tiêu kinh tế vĩ mô ở mỗi nước mà mức độ, các công cụ cũng như chiều hướng tác động của NHTƯ tới lãi suất là khác nhau
ở M ỹ, Cục Dự trữ Liên bang (FED), với tư cách là NHTƯ, sử dụng kết hợp lãi suất định hướng liên ngân hàng và lãi suất chiết khấu để kiểm soát lãi suất thị trường tiền tệ Lãi suất định hướng liên ngân hàng được thực hiện trên nghiệp vụ thị trường mở, các NHTM gửi tiền cho nhau vay qua đem theo mức lãi suất này FED xác định và công bố mức lãi suất định hướng liên ngân hàng trong từng thời kỳ tùy theo mục tiêu của chính sách tiền tệ Trước đây, bên cạnh lãi suất định hướng liên ngàn hàng, FED sử dụng lãi suất chiết khấu là lãi suất
Trang 27định hướng liên ngân hàng, tránh tình trạng các NHTM vay vốn qua cửa sổ chiết khấu với lãi suất thấp và cho vay lại theo lãi suất thị trường, FED thực hiện cho vay chiết khấu đối với các tổ chức gửi tiền dưới 3 hình thức: tín dụng sơ cấp, tín dụng thứ cấp và tín dụng m ùa vụ.
NHTƯ châu Âu (ECB) hiện đang sử dụng lãi suất tái cấp vốn, lãi suất cho vay qua đêm, lãi suất tiền gửi qua đêm để kiểm soát các mức lãi suất của NHTM
từ đó kiểm soát lãi suất thị trường Lãi suất tái cấp vốn là lãi suất được áp dụng đối với các khoản vay của các NHTM khi vay ECB từ kênh tái cấp vốn có kỳ hạn 2 tuần, sự thay đổi lãi suất tái cấp vốn cho they tín hiệu “nới lỏng” hay “thắt chặt” tiền tệ của ECB Ngoài ra, ECB sử dụng lãi suất cho vay qua đêm và lãi suất tiền gửi qua đêm đóng vai trò như là trần và sàn lãi suất trên thị trường tiền
NHTƯ M alaixia thì điều hành chính sách tiền tệ nhằm mục tiêu kiểm soát lạm phát thông qu việc thực hiện các cơ chế điều tiết các NHTM NHTƯ áp dụng cơ chế cho phép NHTM có thiếu hụt trong thực hiện các dòng thanh toán vãng lai vào cuối ngày giao dịch có quyền vay qua đem tại NHTƯ Phương thức cho vay ở đây có thể được sử dụng không hạn chế chừng nào các NHTM còn có tài sản hợp pháp để cầm cố và không có bất cứ một tín hiệu xấu nào về tình hình tài chính Cũng theo cách này, NHTM nếu có dư thừa có thể gửi sô' dư thừa đó tại NHTƯ theo lãi suất tiền gửi Các lãi suất tiền gửi và cho vay như vậy sẽ tạo
ra các giới hạn đối với lãi suất liên ngân hàng qua đêm như là lãi suất trần và lãi suất sàn NH TƯ M alaixia điều tiết tiền tệ chủ yếu thông qua việc cho vay trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất cho vay trên thị trường liên ngân hàng đóng vai trò điều tiết, định hướng các mức lãi suất của NHTM
Các N H TƯ đều lựa chọn một trong các loại lãi suất thuộc quyền công bô' của mình làm các công cụ điều hành chính sách tiền tệ và thường gọi là lãi suất chính thức Sự thay đổi của lãi suất chính thức một mặt, tác động trực tiếp lên các mức lãi suất của các NHTM ,mặt khác, có tác dụng định hướng cho sự thay
Trang 28đổi của các mức lãi suất đó Thông qua đó có tác động đến các hoạt động của nền kinh tế.
Lãi suất chính thức của NHTƯ tác động đối với nền kinh tế theo nhiều kênh khác nhau, tạo thành cơ chế truyền dẫn của chính sách tiền tệ Khi NHTƯ thay đổi lãi suất chính thức, tác động tới các lãi suất bán buôn ngắn hạn trên thị trường tiền tệ Ngay sau đó, các NHTM sẽ điều chỉnh lãi suất cho vay cơ bản, thông thường bằng mức thay đổi cảu mức lãi suất chính thức và làm thay đổi lãi suất cho vay Lãi suất tiết kiệm cũng được điều chỉnh để đảm bảo mức chênh lệch với lãi suất cho vay để NHTM có lãi Tuy nhiên, những lãi suất này không phải bao giờ cũng thay đổi một khoảng chính xác bằng mức thay đổi của lãi suất chính thức
Tùy theo điều kiện thị trường tài chính - tiền tộ mỗi nước và mục tiêu chính sách tiền tệ, NH TƯ lựa chọn phương thức điều hành lãi suất thích hợp Phần lớn NH TƯ lựa chọn lãi suất cho vay qua đêm là lãi suất chính thức FED
sử dụng lãi suất định hướng liên ngân hàng, lãi suất chiết khấu NHTƯ các nước đang phát triển sử dụng lãi suất tái cấp vốn vì công cụ có tính thị trường ở mức cao như nghiệp vụ thị trường mở phát huy tác dụng còn hạn chế NHTƯ thay đổi lãi suất chính thức dựa vào biến sổ chủ yếu là: lạm phát, tăng trưởng kinh tế, tình trạng vốn khả dụng của NHTM, giá tài sản trên thị trường vốn và lãi suất trên thị trường quốc tế
ở Việt Nam, thời gian qua, NHNN đã thực hiện đồng thời 2 cơ chế điều hành lãi suất:
+ Cơ chế kiểm soát trực tiếp lãi suất kinh doanh của NHTM ( và TCTD nói chung) bằng việc quy định mức lãi suất tiền gửi, cho vay, trần lãi suất cho vay, lãi suất cơ bản và biên độ trê n ,
+ Cơ chế kiểm soát gián tiếp lãi suất kinh doanh của NHTM bằng việc công bố lãi suất tái cấp vốn, tái chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm khi NHNN
Trang 29tái cấp vốn cho các NHTM và lãi suất chào mua, chào bán trên nghiệp vụ thị trường mở.
Về cơ ch ế kiểm soát trực tiếp, NHNN công bố các mức lãi suất cụ thể để
cá NHTM làm cơ sở ấn định các mức lãi suất kinh doanh Đây là biện pháp hành chính, can thiệp trực tiếp vào hoạt động kinh doanh của các NHTM, được các NHTƯ sử dụng phổ biến trong điều kiện thị trường tiền tệ chưa phát triển, tác động của các công cụ chính sách tiền tệ gián tiếp còn yếu Cơ chế này thay đổi qua các thời kỳ như sau:
- Giai đoạn 1900 - 6/1992: Thực hiện cơ chế lãi suất “âm ”, NHNN quy định các mức lãi suất tiền gửi và cho vay, mục tiêu là chống khủng hoảng, chống lạm phát
- Giai đoạn 6/1992 - 1995: Thực hiện cơ chế lãi suất thực dương, NHNN quy định sàn lãi suất tiền gửi và trần lãi suất cho vay, mục tiêu chủ yếu là kiềm chế lạm phát, góp phần tăng trưởng kinh tế
- Giai đoạn 1996 - 7/2000: Tiếp tục cơ chế lãi suất thực dương nhưng nới lỏng hơn bằng việc thực hiện co chế trần lãi suất cho vay, có áp dụng một số mức trần khác nhau cho khu vực thành thị và nông thôn
- Giai đoạn 8/2000 - 5/2002: Thực hiện cơ chế lãi suất cơ bản theo quy
định của Luật NH NN Việt Nam Từ tháng 8/2000, NHNN công bô' lãi suất cơ bản hàng tháng, các NHTM ấn định lãi suất cho vay không vượt quá biên độ 0.3% /tháng đối với cho vay ngắn hạn, 0.5% /tháng đối với cho vay trung, dài
- Từ tháng 6/2002 trở đi: Thực hiện cơ chế lãi suất thỏa thuận mà theo đó, NHTM ấn định lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam trên cơ sở cung cầu vốn thị trường và mức độ tín nhiệm đối với khách hàng vay
Về cơ chế kiểm soát gián tiếp:
NHNN điều hành các mức lãi suất tái cấp vốn trên cơ sở diễn biến và mục tiêu kinh tế vĩ mô, nội dụng chính sách tiền tệ “thắt chặt” hay “nới lóng ’ và thực
Trang 30hiện vai trò là người cho vay cuối cùng trên thị trường nội tệ liên ngân hàng, quá trình này diễn ra như sau:
- Giai đoạn 1990 - 1997: Trong giai đoạn này, NHNN thực thi chính sách
tiên tệ thắt chặt và nới lỏng dần nhằm kiềm chế lạm phát và góp phần tăng trưởng kinh tế, cho nên đã thực hiện cho vay tái cấp vốn đối với các NHTM Nhà Nước với các mức lãi suất khác nhau đối với từng NHTM Từ 1991 - 3/1993, lãi suất tái cấp vốn được quy định mức cụ thể; từ tháng 4/1993 - 1995, lãi suất tái
cấp vốn được tính bằng % so với lãi suất cho vay của NHTM, NHNN đã nhiều
lần điều chỉnh tăng lãi suất tái cấp vốn lên mức bằng lãi suất cho vay của NHTM đối với khách hàng để buộc các NHTM phải huy động vốn từ thị trường, khống chế gia tăng khối lượng tín dụng để hạn chế tốc độ gia tăng của tổng phương tiện thanh toán, góp phần giảm áp lực của lạm phát
- Giai đoạn 1998 - 2000: Nền kinh tế chịu ảnh hưởng nặng nề của khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu á và phát triển chậm lại như có tính chu kỳ Việc điều hành chính sách tiền tệ của NHNN nhằm hạn chế đến mức thấp nhất tác động xấu từ bên ngoài, đồng thời ngăn chặn đà giảm sút tăng trưởng kinh tế Tháng 1/1998, NH NN tăng lãi suất tái cấp vốn để hạn chế tố độ gia tăng tổng phương tiện thanh toán, kiềm chế lạm phát Nhưng năm 1999, thực hiện chủ trương kích cầu của Chính Phủ và chỉ số giá cả tiêu dùng có xu hướng giảm, NHNN đã điều chỉnh giảm 4 lần lãi suất tái cấp vốn từ 1,1%/tháng xuống0,5%/tháng Tháng 11/1999, NHNN đưa vào sử dụng nghiệp vụ chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá cho các NHTM, lãi suất chiết khấu được quy định ở mức thấp hơn 0,05% /tháng so với lãi suất tái cấp vốn Năm 2000, NHNN tiếp tục điều chỉnh giảm lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu từ mức0,5% /tháng và 0,45% /tháng xuống còn 0,4% /tháng và 0,35% /tháng Tháng 7/2000, NHNN đưa vào sử dụng nghiệp vụ thị trường mở, lãi suất thị trường mở được hình thành qua các phiên giao dịch
Trang 31- Giai đoạn 2001 đến 2002: Tiếp tục chủ trương kích cẩu của Chính Phủ,
NHNN thực thi chính sách tiền tệ “nới lỏng một cách thận trọng”, lãi suất tái cấp vốn và lãi suất chiết khấu tiếp tục duy trì ở mức thấp như năm 2000 đê tạo điếu kiện cho các NHTM vay ngắn hạn, có đủ vốn khả dụng hoạt động kinh doanh
- Từ 2003, NHNN đã có sự điều chỉnh cơ chế điều hành mà theo đó, lãi suất tái cấp vốn đóng vai trò lãi suất trần, lãi suất tái chiết khấu là lãi suất sàn trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng, lãi suất thị trường mở đóng vai trò là công
cụ điều hành thường xuyên của NHNN
Có thể nói, NHNN điều hành lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn và lãi suất chiết khấu tương đối linh hoạt, phù hợp với mục tiêu, chính sách tiền tệ, cung cầu vốn thị trường
vay chỉ định
Cho vay chỉ định là việc Chính Phủ yêu cầu các ngân hàng, mà thường là các ngân hàng quốc doanh, thực hiện việc cho vay đối với các đối tượng nào đó với mức lãi suất ưu đãi nhằm thực hiện kế hoạch Nhà nước Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, phần lớn hoạt động cho vay của các ngân hàng đều là cho vay theo chỉ định của Chính Phủ Nền kinh tế được điều hành bởi các mệnh lệnh của Chính Phủ trong những chương trình đã được k ế hoạch hóa Các chức năng của hệ thống ngân hàng không được phát huy một cách đầy đủ, hoạt động kinh doanh của các ngân hàng bị can thiệp sâu sắc
Để thực hiện việc cho vay chỉ định, NHTƯ phải thông qua các tổ chức tín dụng chuyên môn hóa, trong đó quan trọng nhất là các NHTM Nhà Nước Với nguồn vốn được quyên fchủ động bố trí, NHTƯ rót tín dụng rẻ cho các NHTM Nhà Nước Các ngân hàng này cho vay lại theo lãi suất không cân băng nhằm khuyến khích xuất kháu, cung cấp tín dụng trong nóng nghiệp, các dự án cóng nghiệp m à Chính Phủ muốn trợ cấp Do Chính Phú có ý định phán phối tín
Trang 32dụng rất chi tiết và có thể thay đổi trong những khoảng thời gian ngắn nên các NHTM Nhà Nước đã phân tán bớt gánh nặng hành chính khổng lồ tiềm tàng cho Chính Phủ.
Cho vay chỉ định đem lại rất nhiều sự méo mó cho thị trường tín dụng Có nhiều minh chứng cho điều này Cụ thể: giữa năm 1970 và nám 1973, ở Cô lôm bia, tỉ lệ lạm phát là 18% Do vậy, xét về mặt giá trị vốn tiền gửi, các hộ gia đình nhận được lãi suất danh nghĩa 8% có nghĩa là lãi suất thực - 10% Trong khi đó những người nhận được tín dụng từ những NHTM chuyên trợ cấp thì thu được một khoản quà không đòi mà có
Hơn nữa, trong một hệ thống tài chính bị kìm hãm và rất nhỏ bé, khoán cung ứng tiền tệ (M 3) chỉ bằng khoảng 23% của tổng thu nhập quốc dân thì sự gia tăng số lượng của các tổ chức tín dụng chuyên môn hóa phục vụ cho các chương trình trợ cấp tín dụng của Chính Phủ là một gánh nặng và đem đến sự không hiệu quả cho nền kinh tế Cô lôm bia
Nguyên nhân của tình trạng cho vay chỉ định luôn tồn tại ở các quốc gia đang phát triển bất chấp những khuyến cáo về tác dụng méo mó của chúng là sự chưa phát triển của thị trường vốn Chính Phủ buộc phải mở ra các tuyến tín dụng được thiết kế chuyên dụng để cung cấp nguồn vốn cho sự phát triển của nền kinh tế Điều này cũng giải thích cho sự ra đời của quá nhiều tổ chức tín dụng chuyên môn hóa cũng như sự tham gia của rất nhiều các NHTM Nhà Nước phục vụ cho các chương trình trợ cấp của Chính Phú
Như vậy sự kìm hãm tài chính là một quá trình phản ứng theo một vòng tròn Sự kém phát triển của thị trường vốn khiến Chính Phủ ở các quốc gia đang phát triển phải thực hiện việc cho vay chỉ định - một hành động kìm hãm tài chính, kìm hãm sự phát triển của thị trường vốn
ở Việt Nam, trong thời gian qua và hiện nay, ngoài các tổ chức tín dụng đầu tư Nhà Nước, một số tổ chức tín dụng thương mại quốc doanh như: Ngân
Trang 33Ngân hàng Ngoại thương, Ngân hàng Công thương cũng được Nhà Nước giao nhiệm vụ làm đầu mối cho vay các dự án đầu tư thuộc nguồn vốn tín dụng đầu
tư Nhà Nước theo k ế hoạch Nhà Nước, được Nhà Nước cấp bù lãi suất Như vậy, các NHTM vừa hoạt động kinh doanh: cho vay mọi đối tượng kể cả cho vay đầu
tư theo lãi suất thị trường, đảm bảo kinh doanh có lãi; vừa hoạt động theo nội dung bao cấp: cho vay đầu tư theo lãi suất ưu đãi, được Nhà Nước cấp bù lãi suất Sự kết hợp này tạo điều kiện khai thác các tổ chức sẵn có, kinh nghiệm hoạt động của các NHTM , song không làm tách bạch chức năng hoạt động thương mại của các ngân hàng, trong khi đó tổ chức quản lí tín dụng đầu tư Nhà Nước là Quỹ hỗ trợ đầu tư pt có mạng lưới đến 61 tỉnh thành phố hoạt động chưa hết công suất
N guồn vốn tín dụng đầu tư Nhà Nước là vốn của NSNN hoặc vốn huy động theo k ế hoạch Nhà Nước được NSNN đảm bảo; việc quản lí sử dụng và hoạt động của tín dụng đầu tư Nhà Nước phải tuân thú chủ trương và lợi ích của của Nhà Nước Do đó, cơ chế tín dụng đầu tư Nhà Nước phải chịu sự chi phối, điều chỉnh bởi các văn bản quy phậm pháp luật của Nhà Nước về hoạt động đầu
tư và tín dụng đấu tư như: nghị định của Chính Phủ về quản lí đầu tư và xây dựng, nghị định về hoạt động tín dụng cũng như các thông tư, chỉ thị của Chính Phủ, các nganh liên quan đến hoạt động đầu tư và tín dụng đầu tư
Nghị định của Chính Phủ về quản lí đầu tư và xây dựng là văn bản dưới luật, song đó là văn bản pháp lí của Nhà Nước làm cơ sở để xây dựng cơ chế quản lí vốn tín dụng đầu tư Nhà Nước Thời kì trước đổi mới, hoạt động đầu tư
và xây dựng hoàn toàn m ang tính bao cấp: tất cả mị đối towngj đầu tư thuộc các lĩnh vực sản xuất và phi sản xuất đều được sử dụng vốn đầu tư từ NSNN Cơ sở pháp lí để quản lí hoạt động đầu tư và xây dựng được chi phối bởi điều lệ quản lí
về đầu tư và xây dựng ban hành theo nghị định 232 — HĐBT ngày 6/6/1998 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trướng ( nay là Thủ tướng Chính Phú) Theo nghị định này đối tượng và phạm vi cấp phát không hoàn lại vốn đầu tư cùa NSNN rất
Trang 34rộng nên Nhà Nước chi phối, can thiệp vào hoạt động đầu tư và xây dựng toàn diện, cụ thể đối với chủ đầu tư (bên A) cũng như các nhà đầu tư (bên B) và các
cơ quan quản lí cấp trên của họ Sau khi có chủ trương về đổi mới về quản lí kinh tế của Đảng và Nhà Nước, từ 1990 đén nay đã có 6 lần thay đổi, bỏ sung nghị định của Chính Phủ về “quy chế quản lí đầu tư và xây dựng” như:
Trang 35hoàn thiện thì nguồn vốn mới được phân bổ một cách hiệu quả tới những nơi thiếu vốn và đem lại khả năng sinh lời lớn nhất.
2.1.2 Sự can thiệp của chính phủ đối với thị trường ngoại hối.
*Trước hết cần khẳng định rằng sự điều tiết N hà Nước đối với thị trường ngoại hối là rất cần thiết.
Thứ nhất, điều tiết nhà nước đối với thị trường ngoại hối nhằm ổn định tí
giá hối đoái, thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia và mục tiêu kinh tê vĩ mô
M ột tỷ giá nội tệ/ngoại tệ ổn định sẽ tạo thuận lợi cho cả xuất khẩu và cả nhập khẩu, nhất là vay nợ nước ngoài Ở Việt Nam, nếu tỷ giá VND/USD tàng, tức là Đồng V iệt Nam giảm giá mạnh so với Đôla Mỹ, thì xuất khẩu được lợi, nhưng nhập khẩu và vay nợ nước ngoài bị thiệt hại Đồng thời giá thu mua hàng xuất khẩu thường xuyên tăng, chi phí các mặt hàng nhập khẩu tãng, tác động làm tăng chỉ số giá chung Hơn nữa làm tăng gánh nặng nợ nước ngoài khi tính
ra VND
Nếu tỷ giá tăng nhiều sẽ kích thích các hoạt động đầu cơ không lành mạnh Các nhà kinh doanh tư nhân không chính thức và các ngân hàng thương mại thường xuyên kỳ vọng vào tỷ giá tăng, nên sẽ đầu cơ USD Tác động dây chuyền lại làm cho tỷ giá VND/USD tăng, gây bất lợi cho nền kinh tế
Tuy nhiên hệ quả của sự điều tiết có thể tạo nên một mức tí giá không hợp
lý, một sự ổn định của tier giá hối đoái Ở Việt Nam, có một nghịch lý là trong gần 2 năm qua, nhất là từ đầu năm đến nay, trong khi lãi suất nội tệ thường xuyên tăng thì tỷ giá giữa Đồng Việt Nam và Đôla Mỹ (VND/USD) lại ổn định.Trong 7 tháng đầu năm 2005, tỷ giá VND/ƯSD trên thị trường tự do theo
số liệu công bố của Tổng cục Thống kê chỉ tăng có 0,5% , còn tý giá giao dịch giữa các ngân hàng thương mại với khách hàng và tý giá trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng chỉ tăng dưới 0,40% Cụ thê năm 1998 tăng 9,6%, 1999: 1,1%, 2004: 3 4% 2001: 3,8% , 2002: 2,1%, 2003: 2,2%, 2004: 0,40% và dự báo cả
Trang 36năm 2005 cũng sẽ chỉ ở mức 0,4% Thực trạng trên có thể được lý giải bởi một
số nguyên nhân chính sau đây:
+)Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trương theo đuổi mục tiêu kiềm chế lạm phát trong điều hành chính sách tiền tệ Không chỉ tỷ giá VND/USD ổn định, mà tỷ giá giữa Đồng Việt Nam so với một số ngoại tệ chủ chốt khác, nhất
là với đồng tiền của các quốc gia có quan hệ thương mại, vay nợ và đầu tư lớn với Việt Nam cũng tương đối ổn định Cơ chế điều hành tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước trong những năm gần đây đã có linh hoạt theo diễn biến của thị trường ngoại hối Cơ chế điều hành đó được thực hiện bằng biện pháp công bô tỷ giá giao dịch bình quân hàng ngày trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng
+) Tỷ lệ nhập siêu ở Việt Nam trong những năm gần đây giảm so với
trước đây Nếu như trong giai đoạn 1993-1998, tỷ lệ nhập siêu của Việt Nam bình quân trên 30% /năm , có năm tới 53,6%; thì từ năm 1999 đến nay tý lệ này bình quân chỉ còn 15% /năm, năm 1999 chỉ có 1,7% và năm 2004 là 21% Đổng thời, mức độ nhập siêu được bù đắp bằng cán cân vốn và cán cân thanh toán, nguồn thu vãng lai Nhất là nguồn kiều hối đạt trên 3,0 tỷ USD vào năm 2004 Lượng khách du lịch quốc tế khoảng 3,0 triệu người/năm chi tiêu một lượng lớn ngoại tệ tại Việt Nam Nguồn ngoại tệ từ thu hút đầu tư nước ngoài, vay nợ và viện trợ,
Do đó cung ngoại tệ tăng khá, trong khi đó cầu ngoại tệ tăng chậm Thị trường ngoại tệ hoạt động tương đối ổn định
+) Lãi suất tiền gửi ngoại tệ từ năm 2001 đến nay giảm mạnh và có khoảng cách xa so với tiền gửi nội tệ Lãi suất tiền gứi nội tệ tại ngân hàng thương mại cùng kỳ hạn gấp 2-3 lần lãi suất USD Gần đây lãi suất tiền gửi USD
có tăng, nhưng lãi suất tiền gửi nội tệ cũng tăng, nên vẫn giữ mức độ chênh lệch khoảng 2-3 lần Trong khi đó, tỷ giá lại ổn định, nên nhiều người có xu hướng lựa chọn Đ ồng V iệt Nam gửi ngân hàng
Trang 37+) Các "cơn sốt" USD trên thị trường nước ta những năm gần đây hầu như
không xẩy ra như các năm của thập niên 90 Trong năm 2004 chỉ có 2-3 đợt biến động nhẹ do yếu tố tâm lý về phát hành tiền mới có mệnh giá lớn hơn và một số yếu tố khách quan khác Từ đầu năm 2005 đến nay chỉ có 1 đợt biến động nhẹ và diễn ra chỉ 1-3 ngày sau đó lại trở lại bình thường Hay nói cách khác, thị trường ngoại tệ trong nước ổn định
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ động điều hành đê tỷ giá biến động 2 chiều, nên hầu như loại bỏ được yếu tố đầu cơ, lại càng làm cho thị trường ngoại
tệ ổn định Cả người dân lẫn doanh nghiệp tính toán nếu đầu cơ ngoại tệ, hay lựa chọn USD gửi ngân hàng thương mại sẽ bị thiệt so với Đồng Việt Nam Do đó lại càng làm cho cầu ngoại tệ tăng chậm
+) Nền kinh tế Việt Nam đạt được sự tăng trưởng khá ổn định( 7,5%/năm) Kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân trên dưới 20%/năm Thâm hụt ngân sách giảm và được bù đắp bằng phát hành tín phiếu và trái phiếu Chính phủ, công trái quốc gia, vay nợ trong dân Nợ nước ngoài tính so với kim ngạch xuất khẩu giảm Thu nhập bình quân tính theo đầu người và sức mua trên thị trường xã hội tăng khá Dự trữ ngoại hối quốc gia và quỹ dự trữ ngoại tệ bình
ổn tỷ giá ở mức lớn nhất từ trước tới nay, đạt trên 14 tuần nhập khẩu Vì thế, sức
Khi đồng tiền quốc gia - nội tệ ổn định xét trên quan hệ với các ngoại tệ mạnh, thì sẽ tạo lòng tin cho các nhà đầu tư nước ngoài, tạo sự an tâm cho đông đảo dân chúng và các doanh nghiệp Người dán mạnh dạn bỏ vốn ra làm ăn, tạo điểu kiện thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Việc đầu cơ vàng cúa người dân hầu như không còn, việc đầu cơ và cất trữ ngoại tệ đã giảm mạnh Thiết nghĩ, trong giai đoạn tới, Chính phủ cần kiên trì đeo đuổi chính sách tỷ giá
ổn định, nhất quán m ục tiêu ổn định sức mua Đồng Việt Nam, cho dù còn có một sô ý kiến khác nhau về vấn đề nhạy cảm này
Trang 38Đối với Trung Q uốc, từ ngày 21/7/2005, họ mới tuyên bố chấm dứt gần 1 thập kỷ cố định tỷ giá đồng NDT vào đồng đôla Mỹ trong một khung dao động rất hẹp là 8,26-8,28 USD/NDT (kể từ năm 1996) để chuyển sang cơ chê tỷ giá mới linh hoạt hơn, quản lý tỷ giá đồng tiền dựa trên sự biến động của một rổ các đồng tiền của các nước đối tác thương mại chính của Trung Quốc Trung Quốc
đã gắn chặt đồng NDT vào USD chỉ nhằm tạo ra tính ổn định cho tỉ giá và đồng NDT Điều đó cho thấy tính ổn định của tỉ giá quan trọng đến mức nào đến môi trường vĩ mô của nền kinh tế
T hứ hai, điều tiết Nhà Nước đối với thị trường ngoại hôi còn nhằm cải
thiện cán cân thanh toán quốc tế
Cán cân thanh toán quốc tế thể hiện quan hệ thu chi quốc tế của một nước với nước ngoài Cán cân thanh toán phản ánh đầy đủ những xu hướng biến động cung và cầu về ngoại tệ trong các giao dịch quốc tế nên có tác động lớn đến tỉ giá hối đoái Khi cán cân thanh toán quốc tế bội thu, lượng ngoại tệ cháy vào trong nứoc dẫn đến cung về ngoại tệ cao hơn cầu Trường hợp này tỉ giá vận động theo xu hướng giảm giá đồng ngoại tệ Ngược lại, khi cán cân thanh toán quốc tế bội chi, lượng ngoại tệ chạy ra nước ngoài tăng đẫn đến nhu cầu về ngoại tệ cao hơn khả năng cung ứng Trường hợp này tỉ giá vận động theo xu hướng tăng giá đồng ngoại tệ Ở nhiều nước, NHTƯ bằng các công cụ trong tay
có thể tiến hành việc điều tiết tỉ giá để thực hiện mục tiêu của mình về cán cân thanh toán quốc tế
Cải cách ngoại hối và tỉ giá hối đoái có vai trò quan trọng đối với xuất khẩu của Trung Quốc.Trong một thời gian dài, ti giá hối đoái từng mất di vai trò
là yếu tố điều tiết cung cầu irên thị trường, là tín hiệu chi dần với các tín hiệu ngoại thương cứa Trung Quốc Kể từ năm 1979 khi Trung Quốc bát dầu chính sách cải cách và mó' cửa kinh tê thì ti giá đã dán lây lại được chức nâng đích thực của mình
Trang 39Vào những năm 1978, Trung Quốc bắt đầu thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế và thúc đẩy xuất khẩu Sau khi chính phủ trao quyền kinh doanh ngoại thương cho các địa phương và các doanh nghiệp, tỉ giá không còn đơn thuần là công cụ hạch toán trong việc hoạch định kế hoạch ngoại thương mà bắt đầu đóng vai trò như là tín hiệu chỉ dẫn đối với hoạt động xuất nhập khẩu Để chống lại tác động tiêu cực của việc đồng tiền được định giá quá cao, Trung Quốc đã thực hiện một loạt các biện pháp cải cách hệ thống ngoại hối Tỉ giá chính thức được hạ xuống để bù đắp cho chi phí xuất khẩu Chế độ giữ lại ngoại
tệ được ban hành theo đó các doanh nghiệp xuất khẩu và chính quyền địa phương được phép giữ lại một tỉ lệ nhất định thu nhập ngoại tệ để trang trải nhập khẩu Thị trường ngoại hối được hình thành để giúp doanh nghiệp xuất khẩu có thể chuyển đổi ngoại tệ được giữ lại tại các mức giá thuận lợi hơn Những biện pháp của nhà nước đưa ra có tác dụng trong việc nâng cao hiệu quả xuất khẩu, bất chấp việc giá trong nước của các mặt hàng xuất khẩu không ngừng tăng Điều này được thể hiện qua các điểm sau đây:
1 Những biện pháp mà nhà nước đưa ra được thực hiện theo hướng “tự do hóa” hoặc có tính chất “cởi trói” đối với các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu Trong m ột thời gian dài các doanh nghiệp này hoạt động trong điều kiện giá cả bị bóp m éo cao độ theo hướng bất lợi cho xuất khẩu do sự can thiệp của nhà nước Việc chính phủ dỡ bỏ những biện pháp kiểm soát mang tính hành chính và trao thêm quyền tự chủ thường là các biện pháp quan trọng đầu tiên và
có tính đặc trưng đối với các nước chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường
2 Các biện pháp áp dụng chế độ giữ lại ngoại tệ, phá giá đồng tiền và thành lập các trung tâm hoán đổi ngoại tệ đã có tác dụng kích thích trực tiêp hoạt động xuất khẩu của Trung Quốc Từ năm 1981 đến 1993, tỉ giá chính thức của NDT được ấn định chủ yếu dựa vào chi phí trung bình đế có được ngoại tệ Chi phí trung binh để có được ngoại tệ là số đơn vị nội tệ phải bỏ ra để có được
Trang 401 đơn vị ngoại tệ Khi chi phí có được ngoại tệ gia tãng thì tỉ giá được điều chỉnh theo hướng hạ dần xuống để khuyến khích xuất khẩu Vòng phá giá đầu tiên diễn ra vào tháng 1/1981 với việc áp dụng tỉ giá kết toán nội bộ (ISR) Mức tỉ giá này là 2,8 NDT/USD và được ấn định xuất phát từ mức chi phí có được ngoại
tệ trong năm 1987 là 2,53 NDT, cộng thêm biên độ 10% đối với khu vực xuất khẩu Đến đầu năm 1985, do giá cả trong nước tăng mạnh nên chính phủ phải tăng trợ cấp để hỗ trợ cho xuất khẩu, đồng thời dưới áp lực quốc tế ngày càng tăng, Trung Quốc đã xóa bỏ chế độ tỉ giá kết toán nội bộ và thực hiện phá giá NDT Từ năm 1985 đến 1993, chính phủ Trung Quốc đã thực hiện phá giá NDT nhiều lần với quy mô khác nhau để khuyến khích hoạt động xuất khẩu Kết quả
là tỉ giá chính thức giảm từ 2,8 NDT/USD xuống 5,32 NDT/USD vào cuối năm 1993
Tuy nhiên, cho đến tận năm 1993, tỉ giá chính thức của NDT vẫn thấp hơn mức chi phí để có được ngoại tệ Vào năm 1983, tỉ giá chính thức là 2,8 NDT/USD nhưng chi phí trung bình để có được thu nhập ngoại tệ là 3,02 NDT Đến năm 1993, tỉ giá chính thức là 5,32 NDT/USD, trong khi chi phí đẻ có được thu nhập ngoại tệ là 6,32 NDT
Tại sao các doanh nghiệp xuất khẩu vẫn có động lực xuất khẩu khi chi phí
có được ngoại tệ cao hơn tỉ giá chính thức? Nguyên nhân là ở chỗ mức chênh lệch giữa chi phí trung bình để có được ngoại tệ và tỉ giá hối đoái chính thức không phản ánh trung thực mức sinh lời của xuất khẩu Theo quy định thì những doanh nghiệp xuất khẩu phải nộp lại toàn bộ thu nhập ngoại tệ cho chính phủ, nhưng chế độ giữ lại ngoại tệ ban hành vào năm 1979 cho phép những doanh nghiệp xuất khẩu và cá chính quyền địa phương được giữ lại một lượng ngoại tệ nhất định Khi cần họ có thể dùng NDT để mua lại lượng ngoại tệ đó từ chính phủ theo tỉ giá hiện hành với điều kiện là việc sử dụng phải phù hợp với quy định chung Do nội tệ được định giá cao, việc cho phép các doanh nghiệp mua