1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những quan điểm cơ bản của c mác, f ăngghen, v i lê nin, hồ chí minh và đảng ta về giai cấp và liên minh giai cấp trong thời kỳ quá độ lên CNXH

154 218 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 154
Dung lượng 11,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỎ ĐẨULý luận về liên minh của giai cấp công nhân với nông dân và tầng lớp trí thức là một trong những nội dung cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin đã được Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VÃN

NHỮNG QUAN ĐlỂM c ơ b ả n c ủ a C.MAC, F.ANGGHEN,

V.I LÊNIN, HỔ CHÍ MINH VÀ ĐẢNG TA VỀ GIAI CÂP

VÀ LIÊN MINH GIAI CẤP TRONG THỜI KỲ

ĐAI H Ọ C Q U Ố C GIA HẢ NÕl TRUNG TÁM THÔNG TIN THƯ VIỀN

Hà Nội, tháng 03 năm 2005

Trang 2

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CỦA C.M ÁC VÀ P H Ả N G G H E N VE

LIÊN M IN H G IA I C ÂP T R O N G C Á C H M Ạ N G VÔ SẢN VÀ

T H Ờ I KỲ QUẢ Đ ộ L ÊN CNXH

1 Sự hình thành ]ý luận của Mác-Ăngghen về giai cấp và liên minh 16giai cấp trong cách mạng vổ sản và thời kỳ quá độ lên CNXH

2 C.Mác và Ph.Ảngghen phát triển học thuyếi của mình 34

3 C.Mác và Ph.Ảngghen phát triển học thuyết của mình trong thời 47

kỳ từ Công xã Pa ri (1871) đến cuối thế kỷ XIX

CHƯƠNG 2 LÝ LUẬN CỦA V.I.LÊNIN VỂ L IÊ N M IN H 65CÔNG - N Ô N G - T R Í THỨ C T R O N G C Á C H M Ạ N G XHCN

Trang 3

3 Xây dựng khối Đại đoàn kết dân tộc trong cách mạng Việt Nam 130

Trang 4

MỎ ĐẨU

Lý luận về liên minh của giai cấp công nhân với nông dân và tầng lớp trí thức là một trong những nội dung cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin đã được Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng đúng đắn, sáng tạo vào Việt Nam và đã góp phần to lớn tạo nên thắng lợi hoàn toàn của cách mạng dân tộc dán chủ nhân dân và những thành quả rất quan trọng trong bước đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội

l.L ý do chọn đề tài

Từ thực tiễn các phong trào cồng nhân ở châu Âu, nhất là ở Anh và Pháp, vào giữa và cuối thế kỷ thứ XIX, c Mác và Ph.Ăngghen đã tổng kết và khái quát thành một hệ thống lý luận khoa học về cách mạng vô sản, trong đó

lý luận về liên minh công, nông và các tầng lớp lao động khác Các ông đã chỉ

ra rằng, nhiều cuộc đấu tranh của cổng nhân đã bị thất bại, tổn thất, chủ yêu là

vì không tổ chức liên minh với “người bạn đồng minh tự nhiên” của mình là nông dân Đổng thời, các ông còn đặc biệt quan tâm nghiên cứu vai trò của khoa học kỹ thuật và vai trò của trí thức đối với sự phát triển của giai cấp công nhân và cuộc đấu tranh cách mạng của nó Mác và Ảngghen luôn luôn khẳng định tầm quan trọng của tầng lớp trí thức trong việc bổ sung vào giai cấp công nhân những lực lượng lao động trí óc, írong việc nghiên cứu sáng tạo ra các quy trình khoa học cồng nghệ mới, trong việc xây dựng và phát triển hệ tư tưởng của giai cấp công nhân Đặc biệt, Lênin đã nhấn mạnh: “ Về mặt kinh tế

và chính trị, chính sách kinh tế mới hoàn toàn đảm bảo cho chúng ta có khả năng xây đựng được nển móng cho nền kinh tế xã hội chủ nghĩa Tất cả “chỉ”

là tuỳ thuộc vào lực lượng văn hoá của giai cấp vô sản và ở đội tiền phons của nó” [77,27]

Đây cũng là tư tưởng rất cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lenin về vai trò của trí thức trong khối liên minh cốne- nỏng-trí thức Ngày nay trong đicu kiện phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học cónc nu hộ hiện dại vai

Trang 5

trò cùa tãng Iơp tri tnirc tăng lên rõ rệt trong cuộc đấu tranh giải phóng xã hội

do giai cấp công nhân lãnh đạo

V.I Lênin đã vận dụng và phát triển lý luận về liên minh công - nông

và các tầng lớp lao động khác của c Mác và Ph Ảngghen trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản phát triển cao, giai đọan chủ nghĩa đế quốc Chính V.I.Lênin đã

tổ chức thành liên minh công, nông và các tầng lớp lao động khác trong cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga (1917), Trong bước đầu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, V.I Lênin càng mở rộng liên minh trong những hoàn cảnh lịch sử mới Liên minh không chỉ có công, nông (dù đó là hai lực lượng cơ bản và to lớn nhất, )và có liên minh với các tầng lớp lao động khác, Khi phân tích về chuyên chính vô sản V I Lênin khảng định rõ: “Chuyên chính vô sản là một hình thức đặc biệt của liên minh giai cấp giữa giai cấp vô sản, đội tiền phong của những người lao động, với đồng đảo nhũng tầng lớp lao động không phải vô sản (tiểu tư sản, tiểu chủ, nông dân, trí thức )[72,452]

Chủ nghĩa Mác - Lênin bàn về tính tất yếu của liên minh công- nông và các tầng lớp lao động khác, chẳng nhũng chỉ trong giai đoạn cách mạng giành chính quyền, mà còn đặc biệt lưu ý trong giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội- “Trong thời đại chuyên chính vô sản” Hơn nữa V I Lênin còn nhấn mạnh vấn đề liên minh như một nguyên tắc cao nhất của chuyên chính vô sán Bởi vì, xét về nguyên tắc tập hợp lực lượng cách mạng của chuyên chính vô sản thì liên minh này đã tập hợp được lực lượng sản xuất và lực lượng cách mạng cơ bản và đông đảo nhất để xây dựng chủ nghĩa xã hội; trong đó giai cấp công nhân ỉà giai cấp tiên phong, lãnh đạo Xét vể nguyên tắc lãnh đạo của chuyên chính vô sản, thì duy nhất có giai cấp côns nhân thông qua Đảng của nó lãnh đạo hệ thống chuyên chính vô sản Nhưng vai trò lãnh đạo chì được giữ vững và thực hiện có kết quả tốt khi lãnh đạo và tổ chức tốt liên minh công- nông và các táng lớp lao độns khác với tư cách là ncn táng của nhà nước chuycn chính vỏ sản

Trang 6

tạo nnững tư tưởng của các nhà kinh điển Mác - Lênin

về Hên minh công- nông trí thức vào cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh và Đảng ta đã từng bước đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác và qua đó cũng đã bổ sung và phát triển những tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin về liên minh cống- nông trí thức theo nhiều khía cạnh khác nhau

Tuy nhiên, sự nghiệp đổi mới đất nước vẫn đang ở giai đoạn có nhiểu nhiệm vụ nặng nề mà muốn hoàn thiện nó thì phải xây dụng và phát huy được động lực chủ yếu là đại đoàn kết toàn dân tộc mà nòng cốt là liên minh công nông trí thức Thực tiễn đó, càng đòi hỏi cấp bách việc nghiên cứu một cách

có hệ thống những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, của Hổ Chí Minh và Đảng ta về liên minh công nông trí thức trong cách mạng vô sản nói chung và trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội nói riêng

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trong giới khoa học, có rất nhiểu công trình nghiên cứu về liên minh công- nông-trí thức nhưng mới chỉ đi vào một số luận điểm căn bản, đặc sắc của các nhà kinh điển và của Hổ Chí Minh

Đặc biệt là những năm gần đây, có nhiều tác giả đề cập nghiên cứu đến các khía cạnh khác nhau có liên quan tới liên minh công nhân, nông đânỵtrí thức trong thời kỳ cóng nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay Trước hết phải kể đến các công trình như: Văn Tạo: Đoàn kết trên lập trường giai cấp công nhân trong thời đại mới - Tạp chí Lao động và Công đoàn - Số 1/2002, tr 10, 56; Nguyễn Văn Khánh: Trí thức Việt Nam với sự nghiệp đấu tranh giái phóng dân tộc - Tạp chí nghiên cứu lịch sử, Số 1/2002, tr 9 - 16; Nguyễn Đức Bách: Giai cấp công nhân và tầng lớp trí thức trong nền "Kinh tế trí thức" - Đổ cương bài giảng - Học viện Chính trị Quốc gia Hổ Chí Minh - 2002; Dươrm Xuân Ngọc: Giai cấp công nhân Việt Nam trono sự nghiệp cồng nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Nxb Chính trị quốc 2Ìa, Hà Nội 2004:

Trang 7

Trong các công trình này đều đề cập đến vấn đề giai cấp công nhân và mối quan hệ của nó với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức trên cơ sở lý luân của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hổ Chí Minh và thực tiễn công cuộc đổi mới ở nước ta Nhiều tác giả đã nhấn mạnh đến xu hướng "trí thức hoá công nhân" và xem đó như xu hướng khách quan gắn liền với quá trình ra đời kinh tế tri thức.

Nhiều tác giả khác lại tập trung nghiên cứu tư tưởng Hổ Chí Minh về nông dân, nông nghiệp và kinh tế nông thôn và đã đóng góp đáng kể vào việc nêu ra, phân tích những tư tưởng của các nhà kinh điển Mác - Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về công nhân, nông dân, trí thức đã góp phần làm rõ thêm cơ sở cho đường lối liên minh công nhân, nông dân, trí thức, đường lối công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đường lối xây dụng khối đại đoàn kết toàn dân tộc hiện nay ở nước ta Những công trình tiêu biểu đó như:

Lê Ngọc Danh: Thực hiện đoàn kết toàn dân xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa - Tạp chí khoa học và chính trị - 1/2002, Ir 23 - 27; Trương Ngọc Được: Phát huy sức mạnh đại đoàn kết sức mạnh toàn dân đế thực hiện côns nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, vãn minh - Tạp chí cộng sản số 27 tháng 9/2002, tr 3 - 8; Phan Thanh Khôi: Đại đoàn kết toàn dân tộc trốn cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức - Học viện Chính trị Quốc gia

Hổ Chí Minh, 2002; Những đặc trưng và xu thế phát triển cơ cấu xã hội Việt Nam đang đổi mới - Đề tài KX 07 - 05; Phạm Ngọc Anh: Tư tường Hổ Chí Minh về xây dụng tổ chức hợp tác xã nông nghiệp ở Việt Nam - Tạp chí nghiên cứu lý luận, số 4 - 2003; Bùi Đình Phong: Quan điểm Hổ Chí Minh về phát triển nôns nghiệp - Tạp chí nghiên cứu lý luận, số 3/2001; Đức Vượng:

Tư tưởg Hồ Chí Minh về vấn đề nông dân và nông nghiệp ở Việt Nam - Tạp chí nghiên cứu lịch sử - số 1/2002; Phát triển toàn diện kinh tế xã hội nông thôn - Đc lài KX 08 (1991 - 1995); Một số vãn để vé chủ nghĩa Mác - Lênin trong thời đại ngày nay - Hội done Trung ươne chỉ đạo biên soạn giáo trình

Trang 8

Quốc gia các DỌ mon Knoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hổ Chí Minh Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội 1996.

Ngoài ra còn rất nhiều tác giả, tuy không trực tiếp nghiên cứu vấn đề liên minh công nông trí thức nhưng cũng đề cập đến và làm sâu sắc một số quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hổ Chí Minh và của Đảng ta

về liên minh công nông để phục vụ cho đề tài của mình Có thể nêu ra một số công trình như: Kinh tế xã hội nồng thôn Việt Nam ngày nay Nxb Tư tưởng văn hoá - 1991; Phan Đại Doãn: Quản lý xã hội nông thôn nước ta hiện nay - Nxb Chính trị quốc gia - Hà Nội 1996; Chu Hữu Quý: Phát triển toàn diện kinh tế xã hội nông thôn, nông nghiệp Việt Nam Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1996; Bùi Ngọc Khánh: Nghiên cứu chính sách xã hội nông thôn, nông nghiệp Việt Nam Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1996; Phát triển toàn diện kinh tế xã hội nồng thôn - Đề tài KX 08 (1991 - 1995)

Tuy nhiên, cho tới nay, vẫn chưa có một công trình tổng hợp, hệ thống những tư tưởng, quan điểm của các nhà kinh điển Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về liên minh công nhân - nóng dân và trí thức Đặc biệt là từ sau khi CNXH bị đẩy lùi ở Liên x ỏ cũ và ớ một số Iiước Đông Âu, trong bối cảnh thế giới hiện nay, trong giai đọan cách mạng Việt Nam hiện nay, việc hệ thống, tổng hợp các quan điểm cơ bản của các nhà kinh điển Mác - Lênin, tư tưởng Hổ Chí Minh và quan điểm của Đảng CSVN là một nhiệm vụ quan trọng của công tác lý luận và giáo đục lý luận ở nước ta Nhận thức rõ sự cần thiết và ý nghĩa của hướng nghiên cứu này trong tình hình hiện nay, nhóm nghiên cứu chúng tôi đã mạnh dạn chọn đề tài: “Nhũng quan điểm cơ bản của c Mác, Ph Ảngghen, V.I Lê-nin, Hồ Chí Minh và Đảne CSVN về giai cấp và liên minh giai cấp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu để tài

Việc thực hiện để tài là nhàm mục đích làm rõ thêm cơ sở lv luận của Đảns và Nhà nước ta vé đường lối xây dựng khối liên minh cône nhan-nong

Trang 9

dân-trí thức cho giãiđ o ạn đổi mới hiện nay làm nòng cốt của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phẩn đưa sự nghiệp đổi mới đất nước đến thắng lợi hoàn toàn.

Nhiệm vụ chính của đề tài sẽ tập trung phân tích nhũng tư tưởng của các nhà kinh đ i ể ^ M á c - Lênin, của Hổ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta

về liên minh công - nông - trí thức theo các khía cạnh sau:

Xét về lợi ích cơ bản và mục tiêu của chuyên chính vô sản đó là xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản vì lợi ích của toàn thể nhân dân Nhưng đại đa số nhân dân lại gồm giai cấp công nhân, nông dân và các tầng lớp lao động khác Vì vậy, về mặt chính trị - xã hội, công nhân, nông dân, trí thức tất yếu phải liên minh với nhau trong cách mạng xã hội chủ nghĩa

Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, tức là khi cách mạng chuyển sang giai đoạn mới, thì cùng với tính tất yếu chính trị - xã hội, tính tất yếu của liên minh xét về mặt kinh tế lại nổi lên với tư cách là nhân tố quyết định, quyết định cuối cùng cho sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội (cho dù tất yếu về chính trị vẫn là nhân tố dẫn dắt, hàng đầu)

V.I Lênin đã đặc biệt lưu ý một nội dung cơ bản nhất của bước chuyến giai đoạn cách mạng giành chính quyền sang “thời đại chuyên chính vô sản”

là : chính trị đã chuyển trọng tâm san® chính trị trong lĩnh vực kinh tế, đấu tranh giai cấp cùng với nội dung và hình thức mới [Xem:71,214] Dưới góc độ liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức trong xây dựng chủ nghĩa

xã hội, khi phân tích tư tưởng của các nhà kinh điển Mác - Lênin, Hổ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về tính tất yếu kinh tế ờ một nước nông nghiệp đi lên chủ nghĩa xã hội, cần phân tích theo những góc độ chủ yếu sau đây:

Tất yếu phải gắn chặt với nông nghiệp với công nghiệp, với dịch vụ, khoa học và công nghệ trong một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất

Từ một nước nông nghiệp đi lên, thì tất yếu trước tiên phải đặc biệt chú trọnc nông nghiệp để cho nông nghiệp thực sự trở thành co' sở để tiến hành cổnc nghiệp hoá hiện dại hoá đất nước; từng bước hình thành nén công

Trang 10

nghiệp hiện ơại cỏ Kna nang cải tạo toàn bộ nền kinh tế quốc dân Đây là một vấn đề lý luận và thực tiễn rất cơ bản mà chính Lênin đã phân tích sâu sắc nhiều lần, từ những năm 1918 đến 1924 Thậm chí, V.I Lênin còn nêu vấn đề rất cụ thể rằng, ở một nước tiểu nông chiếm đa số, nếu không có kinh tế nông nghiệp và nông dân vững mạnh, không có dự trữ về lương thực thì không thể xây dựng được nền công nghiệp [Xem:75,368].

Cần thoả mãn những lợi ích kinh tế thiết thân trước mắt cho công nông thì mới tiến tới thực hiện lợi ích kinh tế lâu dài, cơ bản nhất của toàn xã hội, tức là hình thành những cơ sở kinh tế của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản

Nông nghiệp, công nghiệp và nhiều lĩnh vực kinh tế đời sống, phải gắn liền với sự phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ ngày càng hiện đại thì mới có thể xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản

Có chính quyền rồi, nếu không giải quyết vấn đề kinh tế trong liên minh thì bản thân công nhân, nhất là nông dân và đại da số nhân dân dù đã thoát khỏi ách nô lệ, áp bức, bóc lột nhưng không thể thoát khói đói nghco, bệnh tật, mù chữ Những nội dung kinh tế và vãn hoá xã hội của liên minh, khi được thực hiện tốt, chính là giải quyết một cách cơ bủn những vấn đề đặt

ra đó trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội

Trong khi thực hiện đề tài, chúng tôi sẽ cố gắng làm rõ một số khía cạnh sau:

Vai trò của công nhân, của nông dán, của trí thức trong khối liên minh công nhân, nônơ dân, trí thức

Vai trò của khối liên minh côns nhân, nông dàn, trí thức đối với việc thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân

Nhữnc nội clung chú yếu của liên minh công, nông, trí thức Irons cách mạng vô sản

Trang 11

Phương thức, con đường, biện pháp xây dựng và củng cố khối liên

minh công- công - trí thức.

Vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản trong quá trình xây dựng khối liên minh công- nông - trí thứcnhằm thực hiện các nhiệm vụ của cách mạng

3.Phương pháp tiếp cận và nghiên cứu

Để tiện cho việc phục vụ nghiên cứu, giảng dạy chúng tôi cố gắng tôn trọng những vấn đề theo các thời kỳ lịch sử, bám sát các tư tưởng có trong các tác phẩm của các nhà kinh điển, trong các tác phẩm của Hồ Chí Minh và văn

kiện của Đảng CSVN Tuy nhiên, vì khối lượng tư liệu quá lớn, khuôn khổ của

đề tài có hạn, nhiều chỗ chúng tôi cũng chỉ có thể tóm tắt những tư tưởng cơ

bản mà thôi Chúng tôi cũng sử dụng phương pháp lôgic và lịch sử, phân tích

và so sánh, nghiên cứu tài liệu để làm rõ những luận điểm trong các giai đoạn

lịch sử khác nhau của các nhà kinh điển Mác - Lênin, tư tưởng Hổ Chí Minh

và quan điểm của Đảng ta Đối chiếu với kinh nghiệm hiện thực của CNXH

thế giới và của nước ta, nhiều vấn đề mới theo chủ đề này chúng tôi cũng chưa

thể đưa vào được và hy vọng sẽ có những công trình tiếp theo, nghiên cứu sâu

hơn, bổ sung thêm những khía cạnh mới về liên minh công nhân, nông dân, trí

thức trong giai đoạn hiện nay

4.Ý nghĩa của đề tài

- Góp phần nhỏ vào việc hệ thống hóa các quan điểm lý luận của C.Mác, Ph.Ảngghen, V.I.Lênin, Hổ Chí Minh, ĐCSVN, chống lại sự xuyên

tạc, sự lầm lạc trong công tác lý luận

-Trực tiếp phục vụ cho công tác nghiên cứu, giảng dạy và học tập trong

các trường Đại học và Cao đẳng ở nước ta hiện nay, nhất là đối với công tác

đào tạo chuyên ban CNXHKH, Triết học Mác-Lênin và Đào tạo sau đại học

5 Kết cấu của để tài

Trang 12

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phần nộídung chính được chia làm 3 chương:

Chương 1 Lý luận của C.Mác, Ph.Ảngghen về liên giai cấp trong cách mạng vô sản và thời kỳ quá độ lên CNXH

Chương 2 Lý luận của V.I.Lênin về liên minh công-nông-trí thức trong cách mạng xã hội chủ nghĩa và thời kỳ quá độ lên CNXH

Chương 3 Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về liên minh công- nông- trí thức trong cách mạng Việt-nam

Trang 13

Đến những năm 40 của thế kỷ XIX đã diễn ra nhiều cuộc cách mạng tư

sản ở Hà Lan, Anh, Pháp và Bắc Mỹ, chủ nghĩa tư bản phát triển nhanh ở Tây

Âu và Bắc Mỹ Nhưng mâu thuẫn vốn có của chủ nghĩa tư bản ngày càng trở nên gay gắt hơn, đối kháng giai cấp và cuộc đấu tranh giai cấp càng trở nên quyết liệt hơn Ngay từ giữa những năm 30 phong trào Hiến chương ở Anh đã trở thành phong trào chính trị có tính chất quần chúng rộng lớn ở Pháp cuộc khởi nghĩa của công nhân Liông nổ ra năm 1831 và 1834 đã báo hiệu một giai đoạn mới của cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội tư sản ở Đức giai cấp vô sản cũng tiến công mạnh mẽ vào giai cấp tư sản mà tiêu biểu là cuộc khỏi nghĩa của thợ dệt Xilêdi năm 1844

Giữa những năm 40 của thế kỷ XIX, trung tâm của phong trào cách mạng chuyển sang nước Đức, trong khi nước này đang phải hoàn thành cuộc cách mạng tư sản Cuộc cách mạng tư sản Đức diễn ra trong những điều kiện lịch sử phát triển hơn so với nước Anh trong thế kỷ XVII và nước Pháp trong thế kỷ XVIII Giai cấp tư sản Đức khiếp sợ cách mạng và thoả hiệp với giai cấp phong kiến nhằm chỏng lại phong trào cách mạng của quần chúng ỉao dộng, Giai cấp vô sản Đức đấu tranh một mặt, chống lại giai cấp phong kiến

và mặt khác chống lại chính giai cấp tư sản Cuộc đấu tranh của họ còn mang tính tự phát và chưa tìm thấy lý luận khoa học dẫn đường Tất cá những học thuyết xã hội chủ nghĩa lúc ấy đều khônc đáp ứng dược yêu cáu và lợi ích của

Trang 14

giai cấp vô sản Hoạt động trong phong trào vô sản Đức, khái quái thực tiễn đấu tranh của giai cấp vô sản quốc tế, kế thừa tinh hoa tư tưởng của mọi thời đại, bằng thiên tài của mình, Mác và Ảngghen đã sáng lập ra chủ nghĩa xã hội khoa học - lý luận khoa học dẫn đường cho giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh chống lại giai cấp tư sản, lật đổ chủ nghĩa tư bản và xây dựng một xã hội mới cộng sản chủ nghĩa Điểm căn bản cốt lõi của học thuyết Mác, hòn đá thử vàng đối với người macxit đó là việc có thừa nhận và thực hiện chuyên chính

vô sản hay không

Học thuyết của Mác và Ảngghen là sản phẩm của một thời đại lịch sử

mà xét đến cùng do sự phát triển kinh tế xã hội quyết định Nhưng mặt khác,

nó lại là kết quả hợp quy luật, hợp lôgic của tiến trình phát triển lý luận, tư tưởng của nhân loại trong khi nó kế thừa được những tinh hoa tư tưởng của nhân loại Cần thấy rằng trong khi kế thừa tinh hoa tư tưởng nhân loại, Mác và Ảngghen đã phải phê phán, loại bỏ những yếu tố lạc hậu, phản động thuộc hệ

tư tưởng của giai cấp bóc lột phản động Chúng ta đều biết triết học Hêghen và Phoiơbắc là một trong những tiền để lý luận cho sự ra đời của chủ nghĩa Mác Hơn nữa, để đấu tranh thắng lợi với Nhà nước tư sản, cần phải bóc trần những lớp sơn hào nhoáng, giả tạo của Nhà nước tư sản, phải làm cho những quan điểm chính trị của các giai cấp bóc lột không áp đặt cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động được nữa, phải vạch rõ bản chất giai cấp tư sán của Nhà nước tư sản và luận chứng một cách khoa học thái độ của giai cấp vô sản đối với Nhà nước này cũng như đối với Nhà nước nói chung Chính Mác và Ảngghen đã thực hiện nhiệm vụ lịch sử này

Mác và Ảngơhen luôn luôn nhấn mạnh ý nehĩa lớn lao của các tư tưởng liến bộ của các bậc tiền bối Các ông đã sử dụrts những mặt cốt yếu nhất của các tư tưởng này trong các nghiên cứu sáns tạo của mình, cải tạo chúnơ theo

hệ thống của mình trong bức tranh chung của chù nshĩa duy vật biện chứne áp dụng cho việc nghiên cứu xã hội và chính trị

Trang 15

Khi nghiên cứu các giai cấp trong xã hội, các đại biểu của kinh tế chính trị học cổ điển (A.Smit, Đ.Ricacđô), ở mức độ nhất định đã chuẩn bị cho cách hiểu về bản chât của Nhà nước như là công cụ của sự thống trị giai cấp Một vấn đề rất có ý nghĩa nữa là các nhà tư tưởng này đã đặt Nhà nước đối lập với

xã hội, tạo ra khả năng tách Nhà nước và pháp luật ra thành các đối tượng phân tích độc lập Rútxô và nhiều người khác cho ràng, trình độ phát triển của sinh hoạt kinh tế quy định bức tranh tương ứng của Nhà nước và ở mức độ này hay mức độ khác, chính chế độ tư hữu đã làm nảy sinh Nhà nước và pháp luật Các nhà kinh tế chính trị học Anh cũng đã luận chứng về sự khác biệt của Nhà nước với xã hội, làm sáng tỏ thêm vai trò của sự bất bình đẳng về tài sản trong việc hình thành Nhà nước Trong khi đó các ông vẫn khẳng định rằng Nhà nước xuất phát từ xã hội chứ không phải cái gì ở ngoài xã hội và nó phải phục

vụ xã hội Chính Adam Smit đã gắn liền sự xuất hiện Nhà nước với sự xuất hiện bất bình đẳng về tài sản Sản phẩm của nó chính là việc xuất hiện sự thống trị và bị Ihống trị, những mầm mống của quản lý công dân nhằm bảo toàn xã hội và trước hết là những người có của

Tư tưởng của Hêghen về sự phân định xã hội công dân và Nhà nước cũng có ý nghĩa không nhỏ Ông cho rằng xã hội công dân là một thế giới lợi ích vật chất, một hệ thống các nhu cầu Mạc dầu Hêahcn trình bày mối quan

hệ giữa xã hội và Nhà nước theo quan điểm duy tâm nhưng tư tưởng về phép biện chứng của mối quan hệ này lại là thiên tài

ở đây cũng phải kể đến những tư tưởng và quan điểm của X.Ximông Ông đã trình bày tư tưởng, dưới hình thức phôi thai, về các ihiết chế chính trị được đặt trên cơ sở của sự phát triển kinh tế, rằng cái quyết định cách mạng chính trị là các nhân tố khách quan và chủ quan

Nguyên lý có tính chất nguyên tắc của X.Ximồng về đấu tranh giai cấp như là dấu hiệu chung cho bất kỳ xã hội nào trong lịch sứ bao hàm mầm mỏYig của cách hiểu duv vật về đấu tranh siai cấp (tuy nhicn cách hicu của ỏng VC eiai cấp và cơ cấu ciai cấp thì lại hoàn toàn duy lâm) Vào thòi kỳ áy ônc đã

Trang 16

giãi thích một cách thiên tài rằng cuộc cải biên chính trị trong cách mạng tư sản Pháp bắt nguồn từ những biến đổi lớn lao trong tồn tại xã hội Ảngghen cũng thừa nhận đây là một luận điểm thiên tài so với thời đại của X.Ximông.

Các nhà sử học Pháp thời kỳ Phục hưng đã để lại nhiều tư tưởng quý báu TTieo họ chính lịch sử xã hội công dân là cơ sở của lịch sử đấu tranh giai cấp Ph.Guizot, O.Thierry, Ph.Mignet coi quan hệ sở hữu như là cơ sở của chế

độ chính trị của mỗi nước (nhưng họ lại quan niệm một cách duy tâm rằng, mối liên hệ chủ yếu của xã hội loài người, cơ sở của nó lại là tư tưởng được mọi người thừa nhận như là chân lý) Trong khi chưa hiểu được thực chất nguồn gốc các giai cấp, chưa thừa nhận những nấc thang thực tế của cuộc đấu tranh giai cấp, các nhà sử học Pháp thời kỳ ohục hưng đã đi đến kết luận rầng đấu tranh giai cấp đã làm nên toàn bộ lịch sử của nhân loại Chính Ảngghen năm 1894 nhận xét rằng: "Nếu Mác là người phát hiện ra cách hiếu duy vật về lịch sử thì Thierry, Mignet, Guizot, tất cả những nhà sử học Anh, ngay từ trước năm 1850, đã chứng tỏ rằng người ta cũng đi theo hướng đó"[84,790]

Mác và Ảngghen đã kế thừa những tư tưởng tích cực của các bậc tiền bối nhưng không phải đơn giản sao chép lại như nhicu học giá tư sản dã xuyên tạc (họ đã đồng nhất lý luận của Mác- Ảngghen với những quan điểm của Hêghcn, của các nhà dân chủ tư sản và thậm chí với học thuyết Platon) Trôn thực tế, sự xuất hiện của chủ nghĩa Mác nói chung ý nghĩa của một bước ngoặt cách mạng trong lịch sử tư tưởng của nhân loại

Mác và Ảngghen đã vạch rõ những nhân tố khách quan của cuộc cách mạng vô sản, vai trò lịch sử của giai cấp vô sản, sự sụp đổ tất yếu của Nhà nước tư sản và sự ra đời tất nhiên của nền chuyên chính vô sản Học (huyết của Mác-Ảngghen về chuyên chính vô sản, về Nhà nước dưới chủ nghĩa xã hội và sự ticu vong của Nhà nước đónc vai trò quan trọns đặc biệt trona học thuyết của Mác và Ảngchcn Mác-Ảngghcn đã phát tricn học thuyết nàv trorm cuộc đấu tranh với các học thuyết lư sản và tiêu tư sản Trong các kết luận của

Trang 17

mình Mác -Ảngghen dựa trên sự phân tích thực tế, nghiên cứu kinh nghiệm của phong trào quần chúng, sự thống nhất giữa lý luận chính trị và thực tế.

1 Sự hình thành lý luận của Mác -Ảngghen về giai cấp và liên minh giai cấp trong cách mạng vô sản và thời kỳ quá độ lên CNXH

Trong thời kỳ làm "báo Sông Ranh", vấn đề Nhà nước và pháp luật luôn chiếm vị trí trung tâm trong nghiên cứu của Mác Mặc dù triết học Hêghen vẫn còn ảnh hưởng đáng kể đến quan điểm lý luận của Mác về Nhà nước nhưng quan hệ thực tế của Mác đối với Nhà nước Phổ thì hoàn toàn đối lập với các quan điểm của Hêghen Mác hoàn toàn bác bỏ quan điểm của Hêghen về Nhà nước Phổ chuyên chế Quan điểm dân chủ của Mác đối lập với quan điểm quân chủ của Hêghen

Mác khác với Hêghen ở chỗ Mác là người bảo vệ quấn chúne nhân dân Chủ nghĩa dân chủ-cách mạng của Mác vào thời kỳ này thể hiện bằng việc coi chế độ Nhà nước hiện thời là phi lý và nhất thiết phải thay thế bàng một Nhà nước lý tính, dân chủ Tư tưởng của Hêghen về Nhà nước lý tướng của lý tính được Mác thể hiện theo một nghĩa khác Đó là một giả thuyết về một Nhà nước phục tùng ý chí của nhân dân và vì lợi ích của nhân dân Mác đã sử dụng

tư tưởng này để phê phán Nhà nước phong kiến phi lý đương thời Chính việc phân tích thực tiễn, cụ thể đã đặt nhũng cơ sở đầu tiên đế Mác thực hiện bước ngoặt từ chủ nghĩa duy tâm sang chủ nghĩa duy vật, từ chủ nghĩa dàn chủ sang chủ nghĩa cộng sản

Thời kỳ làm "Báo Sông Ranh" tuy ngắn ngủi (cuối 1842 đến đầu 1843) nhưng đà giúp Mác khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực của triết học HcRhcn, đưa ông đốn chỗ đoạn tuyệt với phái Hêshen trẻ, bắt đầu sự chuyển hướng của Mác sang một thế giói quan mới Những bài báo vể chế độ kiểm duyệt, về chê' độ đại diện, phân chia đảng cấp, về sự ức hiếp nông dán nghèo,

VC tình trạng bấn cùne của nồng dân, vể tệ quan liêu của các quan chức đã làm cho Chính phủ Phổ theo dõi và mùa xuân năm 1843, chúns đà ra lệnh

Trang 18

đóng của tờ báo Khi bị kết tội tuyên truyền cách mạng và thậm chí tuyên

truyền chủ nghĩa cộng sản, Mác bác bỏ lời buộc tội đó và nhấn mạnh rằng: Chủ nghĩa cộng sản là vấn đề mang tính chất thời đại, ý nghĩa của nó ngày

càng tăng lên cùng với sự phát triển của xã hội và công nghiệp Vì thế ống

không có quyền làm ngơ, không biết đến chủ nghĩa cộng sản.

Một bước tiếp theo rất quan trọng trong việc hình thành tư tưởng chính trị cùa Mác là tác phẩm "Bản thảo kinh tế - triết học" (viết từ tháng 4 đến tháng 8 năm 1844) Học thuyết về sự " tha hoá" chiếm vai trò quan trọng trong tác phẩm này Từ việc phân tích lĩnh vực sản xuất, ông chỉ ra nguồn gốc các đối kháng giai cấp, chỉ ra mối quan hệ kinh tế - chính trị giữa bóc lột và bị bóc lột, giũa thống trị và bị thống trị Ông vạch rõ sức mạnh của đồng tiền trong

xã hội tư bản như là quyển lực chính trị Như vậy sự tha hoá trong lĩnh vực kinh tế quy định những hình thức khác của tha hoá bao gồm cả lĩnh vực chính trị Nhà nước tư sản là sản phẩm của sự tha hoá lao động cũng như các yếu tố khác của thượng tầng kiến trúc, nó thực hiện chính sự tha hoá đối với giai cấp công nhân, biến giai cấp công nhân thành người lao động nô lệ trong xã hội tư sản Nhưng chính xã hội tư bản lại tạo ra các tiền đề cho việc thú tiêu "sự Iha hoá" lao động Thủ tiêu chế độ tư hữu, giai cấp vô sản thủ liêu "sự tha hoá" lao động trong mọi hình thức của nó, kể cả sự tha hoá Nhà nước - pháp quyen Những triển vọng tương lai tuy được phác hoạ một cách trìu tượng và khái quát, nhưng đã tạo những cơ sở quan trọng cho việc hình thành học thuyết chính trị của Mác và Ảngghen Câu hỏi lớn nhất vẫn chưa trả lời được: Làm cách nào để đi đến tương lai lý tưởng đó ? Câu trả lời nằm trong quá trình nghiên cứu sáng tạo tiếp theo của hai ông

“Gia đình thần thánh hay là phê phán sự phê phán có tính chát phê phán- Chống Bru-nỏ BdU-ơ và đồng bọn” là tác phẩm đầu tiên do C.Mác và Ph.Ảng- ghcn cộng tác viết ra Tác phẩm này được viết vào khoản2 tháng Chín đến tháng Mười một năm 1844 và xuất bản vào tháng Hai 1845 ở Phran-phuốc trẽn sông Mai-nơ

Trong tác phẩm này cần chú ý một số nội dune sau:

Trang 19

1 Phương phấp luận khi nhận thức về GCCN.

Thực hiện một bước tiến so với “Bản thảo kinh tế - triết học”(1844) trong nhận thức về sản xuất vật chất, Mác đã coi sản xuất vật chất là cơ sở của toàn

bộ lịch sử nhân loại Mác viết, không thể nào hiểu được bất kỳ một thời kỳ lịch sử nào nếu không hiểu “công nghiệp của thời kỳ đó, phương thức sản xuất trực tiếp ra bản thân cuộc sống” [85,228]

Trong cuốn “Gia đình thần thánh”, Mác đã nêu luận điểm hết sức quan trọng về vai trò quyết định của quần chúng nhân dân trong lịch sử và về sự tăng lên của vai trò đó trong tiến trình phát triển lịch sử Mác nhận xét, vai trò của quần chúng nhân dân lao động đặc biệt thể hiện rõ trong thời kỳ cách mạng Nhưng tất cả những cuộc cách mạng diễn ra từ trước đến nay đều là những cuộc cách mạng thực hiện vì lợi ích của một thiểu số Vì vậy, tác động của quẩn chúng đối với tiến trình lịch sử trong những cuộc cách mạng đó đã bị hạn chế Nhưng sự tiến bộ xã hội ngày càng phản ánh những lợi ích của bản thân quần chúng bao nhiêu, thì quy mô ảnh hưởng của họ đến các quá trinh lịch sử cũng sẽ tâng lên bấy nhiêu Mác dự đoán rằng cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa sẽ mở ra một thời đại, khi mà “hoạt động lịch sử càng lớn lao thì do

đó, quần chúng, mà hoạt động lịch sử đó là sự nghiệp của mình, cũng sẽ lớn

lên theo” [85,123] V.I Lênin đặc biệt nhấn mạnh ý nghĩa của tư tưởng này, coi đó là một trong những tư tưởng sâu sắc nhất của Mác về sự phát triển xã

2 Về giai cấp công nhân và sứ mệnh lịch sử của nó

Gắn chặt với quá trình hình thành quan điểm duy vật về lịch sử cúa Mác

và Ăngghen là việc đề xuất ra lý luận về chủ nghĩa cộng sản khoa học, và trước hết là học thuyết về vai trò lịch sử toàn thế giới của giai cấp vô sản với tư cách là một lực lượng tác động chủ yếu và dẫn đầu của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa trong tương lai Các ông đã đề cập đến cơ sở khách quan, nội dung, điều kiện thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp cồng nhân

Tronc cuốn “Gia đình thần thánh", Mác lần đầu ticn đã nêu tư tưừng cho ràng; vai trò đó cùa siai cấp công nhân do nhữnu clicu kiên kinh tế xã hội quvếl

Trang 20

định Ong chỉ ra ràng xã hội tư bản chủ nghĩa phát triển trong khuôn khổ sự đối kháng thường xuyên của hai lực lượng: quyền tư hữu và giai cấp vô sản

Sự phát triển của các quan hệ tư bản chủ nghĩa thường xuyên tái sản xuất ra sự đối lập đó, sự đối lập mà nhà tư bản, tức kẻ tư hữu muốn duy trì Còn giai cấp

vô sản — trong điều kiện sinh sống của họ, “tất cả những điểu kiện sinh sống của xã hội hiện đại đạt tới đỉnh cao của sự vô nhân đạo” - thì lại mong muốn thủ tiêu những quan hệ đó” “ Giai cấp vô sản đang thi hành bản án mà chế độ

tư hữu, trong khi đẻ ra giai cấp vô sản, đã làm ra cho mình, cũng giốno như nó đang thi hành bản án mà lao động làm thuê, Irong khi sản xuất ra sự giàu có cho kẻ khác và sự khốn cùng cho bản thân, đã làm ra cho mình” [85,55] Như vậy, do chính ngay địa vị khách quan của mình trong xã hội tư bản chủ nghĩa, giai cấp vô sản có sứ mệnh phá huỷ xã hội đó, không kể là “Vấn đề khổng phải ở chỗ hiện nay người vô sản nào đó, thậm chí toàn bộ giai cấp vô sản, coi cái gì là mục đích của mình Vấn để là ở chỗ giai cấp vô sản thực ra là gì, và phù hợp với sự tồn tại ấy của bản thân nó, giai cấp vô sản buộc phải làm gì về mặt lịch sử” [85,56]

Giai cấp vô sản càng nhận thức được sứ mệnh lịch sử của nó - tính chất nặng nề của tệ bóc lột tư bản chủ nghĩa giúp cho nó nhận thức được sứ mệnh

ấy thì nó lại bắt đầu thống nhất nhau lại để đấu tranh chống chế độ hiện tồn

Sự thống nhất đó, Mác nhận xét, biến giai cấp vô sản thành một lực lượng hùng mạnh Mác cũng đề cập đến vấn đề sứ mệnh giải phóng của giai cấp vô sản đối với những giai cấp bị bóc lột khác căn cứ vào kinh nghiệm của những cuộc cách mạng trước đây, Mác chỉ ra rằng trong mỗi cuộc cách mạng ấy, người lãnh đạo là giai cấp được thúc đẩy bởi những lợi ích mà lúc bấy giờ, ít

ra là ở bề ngoài, thể hiện ra như là nhũng lợi ích chung của loài người Ví dụ, trong cuộc cách mạng tư sản, vấn đề là phá vỡ những quan hệ kinh tế và chính trị của chế độ phong kiến trước hết là vì lợi ích của giai cấp lư sản, mặc dầu sự phá vỡ đó có tính chất tiến bộ đối với toàn thế nhân loại Nhưng sự nhất trí giữa lợi ích của giai cấp tư sản và của những tầng lớp nhân dân bcn dưới ở đây chỉ có tính chất tạm thời và hết sức bị hạn chế

Trang 21

Ngữợc Tại VỠ1 điêu dó, 1Ợ1 ỉch giai cấp của giai cấp vô sản hoàn toàn nhất trí với những lợi ích “của số quần chúng mà những điều kiện giải phóng hiện thực khác một cách căn bản với những điều kiện trong đó giai cấp tư sản đã có thể tự giải phóng mình và giải phóng xã hội” [85,123] Tự giải phóng mình khỏi chế độ bóc lột, giai cấp vô sản cũng giải phóng toàn thể xã hội khỏi chế

độ bóc lột Lần đầu tiên trong lịch sử, lợi ích của giai cấp tiên tiến thực sự hoà làm một với lợi ích của quần chúng nhân dân hết sức rộng rãi, và theo ý nghĩa

đó, nó có được tính chất lợi ích của con người nói chung Trong những suy luận đó của Mác đã có những yếu tố đầu tiên của luận điểm mà sau này ông

sẽ phát triển, cho rằng giai cấp vô sản là một giai cấp nắm bá quyền, giai cấp thực hiện vai trò lãnh đạo trong phong trào cách mạng giải phóng của quần chúng bị áp bức trong xã hội hiện đại

Mác và Ảnghen coi giai cấp vô sản không những là người sáng tạo ra của của vật chất, mà còn là người sáng tạo ra của cải tinh thẩn nữa Hai ông viết:

“Sự phê phán có tính phê phán chảng sáng tạo ra cái gì cả, công nhân mới sáng tạo ra tất cả, sáng tạo ra tất cả đến mức ngay cả với nhữns sáng tạo tinh thần của họ, họ cũng làm cho toàn bộ sự phc phán phải hổ thẹn Công nhân Anh và Pháp đã chứng minh rõ ràng điều đó Công nhân sáng tạo ra cả con người, còn nhà phê phán thì vĩnh viễn vẫn là con quái vật, nhưng ngược lại dĩ nhiên nhà phê phán có sự thoả mãn nội tam rằng mình là nhà phê phán có tính phê phán” [85,29],

3 Về cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân

Khi phân tích vai trò lịch sử thế giới của giai cấp cổng nhân, Mác và Ảngghen đã chỉ rõ tính yếu của cuộc đấu tranh của giai cấp côns nhân trong thực tế lao động và cuộc sống hàng ngày chứ khôns phải trong tư duy như “sự phc phán có tính chất phê phán” hướng dẫn Các ông chỉ rõ : “ Nhưng nhữns công nhân côn" sản chủ nghĩa có tính quần chúnơ ấy không hể nehĩ ràng dùng “ tư duy thuần tuý", nghĩa là chỉ dựa vào những nshị luận cùa họ, là có thể thoát khỏi bọn chủ của họ và khỏi địa vị nhục nhã thực tố của han ihân họ

Họ rất đau khổ cảm thấy sự khác nhau íiiữa tổn tại và tư duy íiiữa V thức và

Trang 22

đời sõng Họ biẽt răng tài sản, tư bản, tiền bạc, lao động làm thuê và những cái như thế đểu hoàn toàn không phải là ảo ảnh trong tưởng tượng, mà là sản phẩm hết sức thực tế, hết sức cụ thể của sự tha hoá của công nhân, rằng vì vậy

họ cũng phải dùng phương thức thực tế và cụ thể để tiêu diệt chúng để cho con người có thể trở thành con người không những trong tư duy, trong ý thức mà

cả trong sự tổn tại có tính quần chúng, trong đời sống nữa” [85,80]

- Từ thực tiễn của xã hội tư bản, Mác và Ảngghen đã khẳng định rằng ,

sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản và toàn thể quần chúng phải là sự nghiệp của bản thân họ Các ông nói: “Song nếu khồng tiêu diệt nhũng điểu kiện sinh hoạt của bản thân thì giai cấp vô sản không thể tự giải phóng được[85,56].Xét về toàn bộ thì cuốn “Gia đình thần thánh” đánh dấu một cái mốc quan trọng trên con đường xây dựng những cơ sở lý luận của thế giới quan vô sản và phân gianh giới giữa Mác và Ảngghen với những người tiền bối và những địch thủ tư tưởng của hai ông Cuốn sách đó là một nấc thang cao hơn trong cái giai đoạn phát triển của các quan điểm của Mác mà công việc soạn

“Bản thảo kinh tế - triết học” đã mở đầu

Đồng thời với Mác, nãm 1845, Ảngghen xuất bản cuốn "Tinh cảnh giai cấp lao động ở Anh" Trong tác phẩm này ông nghiên cứu sự phát sinh, hình thành và phát triển của giai cấp vô sản, tình cảnh của họ tronơ xã hội tư bản, chỉ ra vai trò của giai cấp vô sản trong việc thủ tiêu chủ nghĩa tư bản

Trong tác phẩm này có một số tư tưởng cần chú ý:

- “Cuộc cách mạng công nghiệp đối với Anh có ý nghĩa quan trọng ngang với cuộc cách mạng chính trị đối với nước Pháp và cuộc cách mạng triết học đối với nước Đức nhưng sản phẩm quan trọns nhất của cuộc cách mạng công nghiệp ấy là giai cấp vô sản Anh

Chúng ta đã thấy việc sử dung máy móc đã dẫn đến sự ra đời của giai cấp

vô sản như thế nào Công nghiệp mở mang nhanh chóng đòi hỏi phải có bàn tay công nhân, tién lương tăng lên và do đó từng đám lao động từ các khu

Trang 23

nông nghiệp lũ ỉượt kéo ra thành thị Dân số tăng lên nhanh chóng lạ thường,

và hầu hết số dân tăng đó là thuộc về giai cấp công nhân” [85,348-349]

- “Tình cảnh của giai cấp công nhân Anh cũng tức là tình cảnh của tuyệt

đại đa số nhân dân Anh Đó là vấn đề số phận của hàng triệu người không tài sản ấy như thế nào, những người làm ngày nào xào ngày ấy, những người mà trí sáng tạo và bàn tay lao động đã làm nên sự vĩ đại của Anh, những người ngày càng có ý thức về sức mạnh của minh và càng ngày càng đòi hỏi cấp thiết hơn phần quyền lợi của họ trong tài sản xã hội, vấn đề ấy, từ ngày có dự luật cải cách, đã trở thành một vấn đề của toàn dân tộc” [85,350],

- “Những người vô sản đầu tiên xuất hiện trong công nghiệp và trực tiếp

do công nghiệp sản sinh ra; vì vậy chúng ta chú ý trước tiên tới nhũng công nhân công nghiệp tức là nhũng người chế biến nguyên liệu Sự sản xuất vật liệu cho công nghiệp, nghĩa là nguyên liệu và nhiên liệu, chỉ đo có cuộc cách mạng công nghiệp mới có ý nghĩa quan trọng và cũng chí lúc đó mới sản sinh một loại hình mới của giai cấp vô sản, đó là những công nhân mỏ than và mỏ kim loại Thứ ba là công nghiệp phát triển đã ảnh hưởng đến nông nghiệp, và thứ tư là công nghiệp phát triển đã ảnh hưởne đến Ai - rơ - len; chúng ta sẽ theo trình tự ấy mà nghiên cứu các loại tương ứne của giai cấp vô sản Ta cũng

sẽ thấy rằng trình độ phát triển của các loại côns nhân có lẽ chỉ trừ người Ai -

rơ - len thường Irực tiếp lệ thuộc vào mối liên hệ của họ với công nghiệp, và vì vậy mà công nhân công nghiệp là những người nhận thức được rõ ràng nhất về lợi ích bản thân của họ; cổng nhân hầm mỏ nhận thức kém một chút còn công nhân nông nghiệp thì hầu như chưa nhận thức được gì về quyền lợi của mình Trong hàng ngũ của bản thân giai cấp vô sản công nghiệp, chúng ta cũng phát hiện có sự phụ thuộc ấy; Chúng ta sẽ thấy nhữna công nhân công xưởng, con đầu lòng của cách mạng công nghiệp, ngay từ đầu cho tới nay đã là hạt nhân của phong trào công nhân, còn các côns nhân khác tham gia phong trào theo mức độ nghề thủ công của họ bị cách mạng côns nghiệp xâm chiếm như thê' nào” [85,353-354],

Trang 24

C.Mác và Ph.Ảngghen cùng nhau hoàn thành tác phẩm "Hệ tư tưởng

Đức" Đây là một tác phẩm quan trọng trong thời kỳ hình thành của chủ nghĩa Mác nói chung và học thuyết về đấu tranh giai cấp nói riêng

Trong tác phẩm này lần đầu tiên đã trình bày các cơ sở phương pháp luận chủ yếu để nghiên cứu vấn đề nguồn gốc xuất hiện Nhà nước Sự xuất hiện Nhà nước theo các ông, gắn liền với phân công lao động xã hội Với sự xuất hiện sở hữu tư nhân, sự xuất hiện các đô thị và các giai cấp đối kháng Các ông cũng đưa ra định nghĩa về Nhà nước, vạch rõ bản chất giai cấp của Nhà nước "Nhà nước là hình thức mà các cá nhân thuộc một giai cấp thống trị dùng để thực hiện lợi ích chung của họ và là hình ihức trong đó, toàn bộ xã hội công dân của một thời đại được biểu hiện một cách tập trun^, nên mọi thiết chế công cộng đều thông qua Nhà nước và mang một hình thức chính trị"[86,364] Các ông cũng phân tích Nhà nước tư sản, vạch rõ bán chất của Nhà nước tư sản Nhà nước tư sản "chẳng phải là cái gì khác mà chỉ là hình thức tổ chức mà những người lư sản buộc phải dùng đến để đảm bảo lẫn cho nhau sở hữu và lợi ích của họ, ở ngoài nước cũng như ở Irong nước" [85,364]

và đo đó các ông hoàn toàn bác bỏ tư tưởng về một Nhà nước "đứng trén các giai cấp" và chỉ rõ Nhà nước tổn tại chỉ vì sở hữu tư nhân, là biểu hiện lợi ích của giai cấp thống trị mà thôi Nhưnơ theo các ông Nhà nước tư sản đó tất yếu sẽ bị thủ tiêu và được thay thế bằng sự thống trị chính trị của giai cấp vô sản Lần đầu tiên hai ông đưa ra tư tưởng về chuyên chính vô sản, một trong những vấn đề then chốt, quan trọng của học thuyết của hai ổng Các ông nhấn mạnh đến vấn đề giành chính quyển: "Giai cấp nào muốn nấm quyền thống trị nsav cả khi quyền thống trị của nó đòi hỏi phải thủ tiêu toàn bộ hình thức xã hội cũ và sự thốns trị nói chung, như trong trường hợp của giai cấp vô sản - thì giai cấp ấy trước hết phải chiếm lấy chính quyềnM[86,294]

Sự luận chứns duy vật biện chứns về các qúa trình lịch sử trons tác phẩm này tất nhicn đã đưa hai ônII đến những kết luận rất quan trọns về 1\ luận đấu tranh siai cấp, cuộc cách mạnII vô sán và vai trò lịch sư toàn thế siới

Trang 25

cua giai cap vo san LAI ọc cách mạng cộng sản chủ nghĩa về cơ bản khác với tất cả các cuộc cách mạng xã hội trước đó: Nó không chỉ thủ tiêu hình thức sở hữu tư nhân đã lỗi thời về mặt lịch sử mà là thủ tiêu chế độ tư hữu nói chung, xoá bỏ lao động làm thuê và sự phân công lao động trước đây, thủ tiêu sự thống trị của mọi giai cấp bằng cách thủ tiêu ngay chính các giai cấp, và do đó thủ tiêu ngay chính Nhà nước[Xem:86,304].

Phát triển tư tưởng về sự giải phóng nhân loại được đề xuất từ "Bản thảo kinh tế - triết học" (1844), trong "Hệ tư tưởng Đức" Mác và Ảngghen đã làm

rõ bản chất, điều kiện và phương thức thực hiện sự nghiệp đó Trước hết, các ông khẳng định rằng đó là sự nghiệp cách mạng thực tiễn, thực hiện trong thế giới hiện thực và bằng những phương tiện hiện thực Nó nhằm giải phóng con người hiện thực, được thực hiện bởi con người hiện thực chứ khôns phải con người - phi lịch sử Và do đó các ông đã phát hiện ra con người vô sản, giai cấp vô sản với tư cách là lực lượng xã hội hiện thực có sứ mệnh lịch sử toàn thế giới lật đổ chủ nghĩa tư bản và xây dụng chủ nghĩa cộng sản ở dây cũng hình thành tư tưởng: Cuộc cách mạng cộng sản xã hội chủ nghĩa chỉ có thể thành công cùng một lúc ở tất cả hoặc nhiều nước tư bản phát triển [86,294- 296] Chỉ bằng việc các thế lực phản động và mọi kẻ thủ của chủ nghĩa Mác tìm mọi cách để ngăn cản việc xuất bản tác phẩm này, chúng la cũng thấy được ảnh hưởng to lớn của tác phẩm này "Hệ tư tưởng Đức” không được xuất bản ngay vào thời kỳ đó, nhưng các tư tưởng, các nguyên lv các kết luậri được Mác va Ảngghen nêu ra trong tác phẩm này, được các ổng trình bày dưới hình thức chín muồi và phát triển hơn trong các tác phẩm kế tiếp "Sự khốn cùng của triết học" do Mác viết năm 1847 và "Tuyên ngôn của Đảng cộng sản" do Mác và Ảngghen viết chung, xuất bản năm 1848

Trone cuốn sách xuất bản năm 1846 "Hệ thốna các mâu thuẫn kinh tế, hay là Triết học của sự khốn cùng", P.J.Pruđông (1809-1865) trình bày cương lĩnh tiểu tư sản nhầm chống lại chủ nghĩa cộng sán chống lại cuộc đấu Iranh chính trị của siai cấp vô sản, chống lại mọi Nhà nước Tron í: tác phám "Sự

Trang 26

Klion cung LUd UICITTOC-, mat; đã bóc trần thực chất của chủ nghĩa Pruđông và phát triển học thuyết chính trị của mình Theo nhận xét của V.I.Lênin, đây là tác phẩm đầu tiên chín muối về chủ nghĩa xã hội khoa học.

Pruđông trình bày một cách sai lầm về sự tác động qua lại giữa các thiết chế Nhà nước-pháp quyền với các nhân tố kinh tế Theo ổng ta vai trò quyết định trong sự phát triển xã hội là sự chuyên chế của quyền lực chính trị

và sự tác động của các thiết chế pháp quyền Mác đã vạch rõ rằng không phải chính trị và pháp luật quyết định các quan hệ kinh tế, điều đó không bao giờ

có, mà trái lại chính các điều kiện kinh tế quy định sự phát triển của chính trị, Nhà nước và pháp quyền Vạch rõ ảo tưởng của Pruđông muốn sửa chữa các thiếu sót của chủ nghĩa tư bản từ bên trên để thủ tiêu đói nghèo, Mác chỉ rõ Pruđông chỉ thấy đói nghèo là đói nghèo mà không thấy được vai trò cách mạng lịch sử của giai cấp vô sản Pruđông về nguyên tấc bác bỏ đấu tranh giai cấp và phổ biến tư lưởng điều hoà giai cấp, còn Mác trái lại luận chứng cho luận đề về sự không điều hoà được các mâu thuẫn giai cấp trong các xã hôi có giai cấp đối kháng và việc giải quyết mâu thuần ấy bằng cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa

Pruđông phủ nhận mọi Nhà nước nhưng không hề động chạm đến cơ sở của xã hội tư bản - chế độ tư hữu Chế độ tư hữu nhỏ của Pruđông là cơ sở cho

tự do của cá nhân Mác đã vạch rõ rằns, cải cách xã hội của Pruđông không

hề động chạm đến chế độ tư bản, Nhà nước và pháp quyền tư sản Đối với Mác, điều kiện của xã hội không còn Nhà nước là thủ tiêu tất cả mọi giai cấp Mác nhấn mạnh:"Trong quá trình phát triển của nó, giai cấp lao động sẽ thav thê' xã hội công dân cũ bằns một tổ chức liên hiệp, tổ chức liên hiệp này sẽ loại bỏ các giai cấp và đối kháng giai cấp và sẽ khôn£ còn có chính quyền theo đúng nghĩa của chữ ấy nữa, vì chính quyền chính là biểu hiện tập trung chính thức của sự đối kháng trong xã hội thị dân

Trang 27

Trong khi chờ đợi, sự đối kháng giai cấp vô sản và giai cấp tư sản là một cuộc đấu tranh giai cấp với giai cấp, một cuộc đấu tranh giai cấp khi đạt đến trình độ cao nhất của nó trở thành một cuộc cách mạng toàn diện .

Đừng nói rằng sự vận động xã hội loại trừ sự vận động chính trị Không bao giờ có một cuộc vận động chính trị nào mà không đồng thời là vận động

xã hội

Chỉ có ở trong một chế độ không còn giai cấp và đối kháng giai cấp nữa thì những sự tiến hoá xã hội mới không còn là những cuộc cách mạng chính trị nữa".[87,258]

Trong cuộc đấu tranh chống Heinzen, Mác và Ảngghen đã phát triển và lần đầu tiên hình thành một cách chính xác và công khai tư tưởng về chuyên chính vô sản Ảngghen viết: "Kết quả tất nhiên của nền dân chủ trong tất cả các nước vãn minh là sự thống trị chính trị của giai cấp vô sản" mà sự thống trị đó lại chính là tiền đề đẩu tiên cho tất cả các biện pháp cộng sản chủ nghĩa [87,425]

Như vậy, đến cuối nãm 1847 đã có những tiền đề cần thiết để trình bày học thuyết của Mác và Ảngghen trong cương lĩnh đầu tiên của tổ chức cộng sản Tổ chức đó được hình thành với tên gọi là "Liên đoàn những người ^ộng sản" Mác và Ảnsghen đã soạn thảo cương lĩnh của "Liên đoàn" (từ tháng 12 năm 1847 đến tháng giêng năm 1848) với tên gọi "Tuyên ngôn của Đảng cộng sản" Tác phẩm này là văn kiện có tính chất cương lĩnh của thế giới quan macxit, hoàn thành quá trình hình thành chú nghĩa Mác và cơ sở triết học của

nó Trong tác phẩm này đã trình bày hết sức rõ ràng thế giới quan mới, chủ nghĩa duy vật triệt để bao trùm cả lĩnh vực đời sống xã hội, phép biện chứng như là học thuyết về sự phát triển lý luận đấu tranh giai cấp và vai trò cách mạng có tính lịch sử trên toàn thế giới của giai cấp vô sản - người sáng tạo ra

xã hội mới, cộng sản chủ nghĩa

Trang 28

"Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản" do Ảngghen thảo ra dưới hình thức vấn đáp là bản đầu tiên của cương lĩnh ấy Trong "Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản" Ảngghen định nghĩa lý luận chủ nghĩa cộng sản "Là học thuyết bàn về những điều kiện giải phóng giai cấp vô sản" Ông đã giải thích nguồn gốc lịch sử của giai cấp vô sản, sự khác nhau giữa giai cấp vô sản

và các giai cấp bị áp bức trước kia Ông cũng chỉ rõ tính chất đối kháng không thể điều hoà được của mâu thuẫn giai cấp trong xã hội tư bản và rút ra kết luận

về tính tất yếu của cuộc cách mạng cộng sản chủ nghĩa Trong điều kiện lịch

sử ỉúc đó Ảngghen đưa ra ỉuận điểm cách mạng vô sản không thể thắng lợi trong một nước, đó là một cuộc cách mạng có quy mô toàn thế giới Ảngghen cũng đặt vấn đề lật đổ giai cấp tư sản, thiết lập nền chuyên chính của giai cấp

vô sản và tiến tới việc xoá bỏ giai cấp trong tương lai cộng sản chủ nghĩa Cần chú ý rằng, đày là một trong những tác phẩm chuẩn bị cho "Tuyên ngôn của Đảng cộng sản"

40 năm sau, năm 1888, Ảngghen nhận xét rằng: "Tuyên ngôn” là tác phẩm phổ biến hơn cả, có tính chất quốc tế hơn cả trong tất cả các sách báo xã hội chủ nghĩa, đó là cương lĩnh chung của hàng triệu công nhân từ Xibia đến California" [90,514]

Ảngghen ghi nhận trong "Lời tựa" cho bản tiếng Đức xuất bán năm 1883: "Tư tưởng cơ bản và chủ đạo của Tuyên ngôn là: Trong mỗi thời đại lịch sử, sản xuất kinh tế và cơ cấu xã hội - cơ cấu này tất yếu phải do sản xuất kinh tế mà ra - cả hai cái đó cấu thành cơ sở của lịch sử chính trị và lịch sử tư tưởng của thời đại ấy Do đó (từ khi chế độ công hữu ruộng đất nguyên thuv tan rã) toàn bộ lịch sử là lịch sử các cuộc đấu tranh giai cấp đấu tranh giữa các giai cấp bị bóc lột và những giai cấp đi bóc lột, giữa nhữns giai cấp bị trị

và những giai cấp thống trị, qua các giai đoạn của sự phát triển xã hội của họ ; nhưng cuộc đấu tranh ấy hiện nay đã đến một giai đoạn mà giai cấp bị bóc lột

và bị áp bức (tức là giai cấp vô sản) không còn có thể tự giải phóng khỏi tay giai cấp bóc lột và áp bức mình (tức giai cấp tư sản) dược nữa, nếu không

Trang 29

dông Ihơi va vmn vien giai pnóng toàn thể xã hội khỏi bóc lột, ách áp bức và khỏi những cuộc đấu tranh giai cấp ." [90,509] Tư tưởng cơ bản và chủ đạo

này quán xuyến trong toàn bộ các chương, các phần của tác phẩm.

Mác và Ảngghen khẳng định một nguyên lý: "Mọi cuộc đấu tranh giai cấp đều là cuộc đấu tranh chính trị", là cuộc đấu tranh giành chính quyền Nhà nước Cuộc cách mạng vô sản là hình thái cao của đấu tranh giai cấp tạo ra nền chuyên chính của giai cấp vô sản Quyền lực chính trị, theo đúng nghĩa của nó là bạo lức có tổ chức của một giai cấp để trấn áp một giai cấp khác Giai cấp tư sản đã từng lật đổ giai cấp phong kiến và thiết lập nển chuyên chính của mình ; đến lượt mình, giai cấp vô sản sẽ lật đổ giai cấp tư sản thông qua cuộc cách mạng vô sản và thiết ỉập nền chuyên chính của giai cấp vô sản Trong "Tuyên ngôn", tư tưởng chuyên chính của giai cấp vô sản đã đươc phát triển thành lý luận chuyên chính vô sản Trong tiến trình cách mạng vô sản

"giai cấp vô sản thiết lập sự thống trị của mình bằng cách lật đổ giai cấp tư sản bằng bạo lực"[87,555]

Mác và Ảngghen đặt những cơ sở đầu tiên cho học thuyết vé một đảng cộng sản Các ông hiểu sâu sắc rằng nếu khống có một đảng cộng sản, phong trào vô sản không thể giành được thắng lợi Trong 'Tuyên ngôn" các ông đã dành riêng chương II "Nhũng người vô sản và những người cộng sản" để luân giải hàng loạt vấn đề chính trị- xã hội của phong trào vô sản và hoạt động của đảng cộng sản Các ông chỉ rõ rằng những người cộng sản chỉ khác với các đảng vô sản khác trên hai điểm: Một là, họ đấu tranh vì lợi ích chung của toàn thể giai cấp vô sản theo tinh thần quốc tế chủ nghĩa ; hai là trong các giai đoạn khác nhau họ luôn đại biểu cho lợi ích của toàn bộ phong trào Về mặt thực tiễn, họ là bộ phận kiên quyết nhất trong tất cả các đảng côns nhân ở tất cả các nước, là bộ phận cổ vũ tất cả các bộ phận khác ; về mặt lý luận, họ hơn bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ họ hiếu rõ những điều kiện, tiến trình

và kết quả chuns của phong trào vô sản Mục đích trước mắt của những người

Trang 30

cộng sản là tố chức những người vô sản thành giai cấp, lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, giai cấp vô sản giành lấy chính quyền [87,557-558]

Trong chương này các ông còn đề cập đến những vấn đề văn hoá tư sản, pháp quyền tư sản, gia đình, giáo dục, quan hệ dân tộc và giai cấp, quan

hệ giữa hệ tư tưởng, tinh thần với tổn tại xã hội, đời sống vật chất Các ông khẳng định rằng, những tư tưởng thống trị của một thời đại bao giờ cũng chỉ là những tư tưởng của giai cấp thống trị, rằng cuộc cách mạng cộng sản chủ nghĩa là sự đoạn tuyệt triệt để nhất với những tư tưởng cổ truyền Chính các ông hiểu rằng, cần phải tiến hành cả cuộc đấu tranh lý luận để làm cho giai cấp vô sản có thể thấy rõ bản chất của các khuynh hướng xã hội chủ nghĩa, tiếp cận và tiếp thu được thế giới quan khoa học Trong chương III của "Tuyên ngôn" các ông đã phàn tích một cách rõ ràng và thuyết phục về các khuynh hướng xã hội chủ nghĩa khác nhau Và trong cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản, Mác và Ảngghen đã chỉ rõ chiến lược, sách lược trong quan hệ với các đảng đối lập, phát triển tư tưởng cách mạng không ngừng v.v

Mác và Ảngghen nhận thức sâu sắc rằng "Giai đoạn thứ nhất trong cuộc cách mạng công nhân là giai đoạn cấp vô sản tự xây dựng thành giai cấp thống trị, là giai đoạn giành lấy dân chủ Giai cấp vô sản dùng sự thống trị của mình đoạt lấy toàn bộ tư bản trong tay giai cấp tư sản và tập trung tất cả công

cụ sản xuất vào trong tay Nhà nước, tức là trong tay giai cấp vô sản đã được tổ chức thành giai cấp thống trị"[87,567]

Cuộc cách mạng vô sản, ở giai đoạn đầu tiên sau khi giành được chính quyền, không thể khống sử dụng những biện pháp kiên quyết về mọi mặt nhằm cải tạo xã hội cũ và xây dựnti xã hội cộng sản Mác-Ảngghen đã nêu ra mười biện pháp cụ thê và cho ràng có thể áp dụng ở nhữns nước tư bản chủ nshía phát triển nhất lúc bấy giờ Đương nhiên, nhiều biện pháp có tính chất phổ biến và có nhữne biện pháp không thể áp dụng máy móc đối với các nước

cụ thể khác nhau

Trang 31

Trong khi Mác, Ãngghen nhấn mạnh rằng, cuộc cách mạng vô sản không chỉ là cuộc cách mạng về chính trị mà còn là và thực chất là cuộc cách mạng về kinh tế, rằng những người cộng sản có thể tóm tắt lý luận của mình thành công thức duy nhất là: Xoá bỏ chế độ tư hữu, hai ông vạch rõ bước quá

độ chính trị để đi tới xã hội không còn giai cấp, xã hội cộng sản chủ nghĩa Các ông chỉ ra rằng: "Nếu giai cấp vổ sản trong cuộc đấu tranh chống giai cấp

tư sản, nhất định phải tổ chức thành giai cấp thống trị và với tư cách là giai cấp thống trị, nó dùng bạo lực tiêu diệt chế độ sản xuất cũ, thì đổng thời với việc tiêu diệt chế độ sản xuất ấy, nó cũng tiêu diệt luôn cả những điều kiện của sự đối kháng giai cấp, nó tiêu diệt các giai cấp nói chung và cùng do đấy tiêu diệt

cả sự thống trị của chính ngay giai cấp mình Thay cho xã hội tư sản cũ, với những giai cấp và đôi kháng giai cấp của nó, xuất hiện một Nên hợp, trong đó

sự phát triển tự do của mỗi người là điểu kiện cho sự phát triển lự do của tất cả mọi người"[87,569]

Tác phẩm "Tuyên ngôn của Đảng cộng sản" có ý nghĩa lịch sử vô cùng lớn lao, nó đánh dấu sự hoàn thành quá trình hình thành chủ nghĩa Mác trên tất cả các bộ phận hợp thành của nó Lần đầu tiên, những cơ sở mà chu nghĩa Mác đã được trình bày một cách hệ thống và hoàn chỉnh Từ khi ra đời "Tuyên ngôn" đã có một ảnh hưởng to lớn đến phong trào cộng sản và công nhân quốc

tế Năm 1890, Ăngghen nhận xét ràng, lịch sử của "Tuyên ngôn" đã phản ánh được đến một mức độ nào đó lịch sử phong trào công nhân hiện đại từ năm

1848 đến nay[91,98]

Trước hết, trong tác phẩm Tuyên ngôn, c Mác và Ph Ảngghen đã lần đầu tiên nêu lên các tư tưởng cơ bản liên quan đến khái niệm giai cấp công nhân Giai cấp vô sản là giai cấp đông đảo nhất sinh ra và lớn Icn cùng với sự phát triển của nền đại công nghiệp Cuộc sống của họ phụ thuộc tất cả vào sự phát triển của nền sản xuất, của đại công nghiệp và nhũng biến động của thị trường tư bản chủ nghĩa Giai cấp tư sản càng lớn lên “ thì giai cấp vô sản, giai cấp công nhân hiện đại - tức giai cấp chi sống với điều kiện là kiếm được việc làm nếu lao động của

Trang 32

họ làm tăng thêm tư bản - cũng phát triển theo” , sản xuất tư bản chủ nghĩa càng phát triển, đại công nghiệp thay thế sản xuất nhỏ và công irường thú công thì

hàng loạt những tiểu chủ, thợ thủ công, những người buôn bán nh ỏ bị phá sản

càng tăng lên và rơi vào hàng ngũ của giai cấp vô sản Trên cơ sở phân tích tài tình sự phát triển của nền kinh tế - xã hội, của biến động trong cơ cấu xã hội giai cấp trong lòng chủ nghĩa tư bản, Mác và Ảngghen đã đưa ra nhận định khoa học hết sức cô đọng, khái quát và chính xác: các giai cấp khác thì suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, còn giai cấp vô sản thì trái lại, lớn lên và trưởng thành cùng với quá trình ấy

Lao động trong nền đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa, do không có tư liệu sản xuất, phải bán sức lao động cho nhà tư bản, lao động của họ kết hợp với (và phụ thuộc vào) máy móc tạo ra ngày càng nhiều tư bản, tạo ra giá trị thặng dư cho giai cấp tư sản, đó là các đặc trưng cơ bản, bản chất của khái niệm giai cấp công nhân mà Mác và Ảngghen đã nêu ra trong Tuyên ngôn

Bên cạnh việc trình bày khái quát các đặc trưng bản chất của giai cấp công nhân, Mác và Ảngghen cũng đồng thời phân tích và ncu ra các tư tưởng về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân

Đến một thời kỳ nhất định một kết cục tất yếu nữa là giai cấp tư sản không chỉ tạo ra giai cấp vô sản qua sự phát triển sản xuất, phát triển kinh tế, mà còn rèn giũa trang bị một phần tri thức về tổ chức đấu tranh Chính sự rèn giũa giai cấp vô sản bởi môi trường và kỷ luật lao động của nền đại công nghiệp, sự rèn giũa trong các cuộc đấu tranh chính trị chống giai cấp phong kiến dưới ngọ cờ tư sản và các cuộc đấu tranh đòi dân sinh dân chủ của chính mình đã làm cho giai cấp vô sản trở thành lực lượng có tổ chức kỷ luật Hơn thế, khi cuộc khủng hoảng chính trị xẩy ra, một bộ phận tư sản đã chạy sang hàng n°ũ giai cấp vô sản cùng như trước kia, một bộ phận của giai cấp phong kiến chạy sang hàng ngũ giai cấp tư sản Điều này cũng góp phần quan trọng trong cuộc đấu tranh tuyên truyền và siác nsộ vổ địa vị kinh tế - xã hội, vai trò chính trị của 2Ìai cấp mình trong hàng ngũ giai cấp vô sán Tóm lại là, giai cấp tư sán khône chí ròn vũ

Trang 33

khí tự giết mình, nó còn không thể không tạo ra lực lượng xã hội (giai cấp vô sản công nghiệp) có đủ khả năng để sử dụng vũ khí ấy.

Bằng sự phân tích một cách khoa học các điều kiện kinh tế - xã hội và

chính trị - xã hội của xã hội tư bản đương thời, c Mác và Ph Ảngghen đã chỉ ra

rằng chính điều kiện kinh tế xã hội và chính trị xã hội của chủ nghĩa tư bản đã quy định một cách tất yếu rằng giai cấp công nhân là lực lượng xã hội có sứ mệnh lịch sử: thủ tiêu chế độ tư bản chủ nghĩa, xây dựng chế độ mới - chế độ xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa

Trong Tuyên ngôn, Mác và Ảnghghen cũng đã luận chứng một cách cơ bản, cho nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, về sự tất yc J của cách mạng vô sản và chuyên chính vô sản

Giai cấp công nhân là giai cấp só sứ mệnh thủ tiêu chế độ tư bản chủ nghĩa, xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa Tư tưởng này là sự phân tích sâu sắc hơn, đầy đủ hơn trên cơ sở những tư liệu thực tiễn mới của năm

1847 - 1848, tư tưởng về chuyên chính vô sản đã được các ông nêu ra lần đầu tiên vào năm 1845 - 1846 trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”

Để thực hiện được điều đó, bước đầu tiên mà giai cấp công nhân sẽ thực hiện là phải trở thành giai cấp thống trị, bằng cách đập Tan bộ máy nhà nước tư sản, thiết lập chuyên chính vô sản, Bước thứ hai của tiến trình thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là giai cấp này sử dụng chuyên chính vô sản từng bước thủ tiêu chế độ bóc lột tư bản chủ nghĩa, xoá bó chế độ chiếm hữu tư nhân

tư bản chủ nghĩa, biến nó thành chế độ sở hữu xã hội đối với các tư liệu sản xuất, đổng thời làm tăng nhanh sự phát triển của lực lượng sản xuất, tạo lập, củng cố từng bước cơ sở và nền tảng kinh tế cho sự ra đời, củng cố chế độ xã hội mới.Vai trò của Đảng Cộng sản trong cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản Trong Tuyên ngôn Đảng Cộng sản, Mác và Ảngghen cũng đã luận chứng một cách khoa học, đưa ra các luận điểm cơ bản nhất của mình về Đảng Cộng sản như là một điều kiện chủ quan, quyết định trực tiếp chú yếu và là nhân tố đảm bảo cho giai cấp công nhân có thế thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của

Trang 34

Sau khi nêu ra luận điểm giai cấp cổng nhân chỉ có thể thực hiện thắng lợi

sứ mệnh lịch sử của mình, khi nó thành lập được chính đảng của mình, chính đảng ấy là Đảng Cộng sản Sự ra đời của Đảng là một tất yếu do yêu cầu tổ chức giáo dục, rèn luyện, tập hợp giai cấp công nhân Mục tiêu và các nhiệm vụ đầu tiên, trước mắt của Đảng là tổ chức lực lượng công nhân, thủ tiêu chế độ thống trị của giai cấp tư sản, dành lấy quyền thống trị chính trị cho mình Mục tiêu cao nhất và là lý tưởng của Đảng là và chỉ là: xoá bỏ mọi sự bóc lột, xoá bỏ chế độ tư hữu nói chung, xây dựng một chế độ xã hội không còn giai cấp, xã hội cộng sản chủ nghĩa

2 C.Mác và Ph.Ảngghen phát triển học thuyết của mình

Đây là một thời kỳ có nhiều sự kiện quan trọng như cách mạng

1848-1849 ở Đức, Pháp, áo Công xã Pari (1871) thành lập Hiệp hội công nhân quốc tế - Quốc tế 1(1864-1872) Nước Nga từ sau năm 1861 đã bất đầu phát triển tư bản chủ nghĩa Đầu những năm 1870 nước Đức được thống nhất, ở các nước Đông Âu, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đang trở thành quan hộ sản xuất thống trị trong xã hội, chủ nghĩa tư bản ở Mỹ phát triển tương đối nhanh và cuộc nội chiến 1861-1865 lại càng thúc đẩy nó phát triển mạnh hơn

ở Nhật cũng bắt đầu quá trình phát triển tư bản chủ nghĩa khá mạnh vào những năm 60-70 của thế kỷ XIX Sự phát triển của phong trào cách mạng, phong trào công nhân, phong trào giải phóng dân tộc đã đem lại cho chủ nghĩa Mác những tài liệu phong phú để phát triển học thuyết của mình Vào thòi kỳ này, chủ nghĩa Mác, một mặt, kiên quyết đấu tranh chống hệ tư tưởng tư sản

và tiểu tư sản ; mật khác, đã trở thành hệ tư tưởng khoa học được thừa nhận trong phong trào công nhân ở các nước lớn ở Tày Âu

Tất cả những điểu nói trên cho thấy rằng, cần phải tổng kết kinh nghiệm cách mạng, khái quát thành lý luận, bổ sung các nguyên lý mới để giúp cho quá Irình giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn tron2 điều kiện lịch sử ngày càng phát triển rất đa dạna Trone những năm 1848-1852, Mác và Ảngghen đã xuất bản một loạt tác phẩm, tons kết kinh nchiệm của cách mạng

Trang 35

"Cách mạng và phản cách mạng ở Đức", "Đấu tranh giai cấp ở Pháp 1848- 1850", "Ngày mười tám tháng sương mù của Lui Bônapáctơ Mác đã nghiên cứu một cách cụ thể những vấn đề Nhà nước dựa trên kinh nghiệm của từng cuộc cách mạng với tình huống cách mạng cụ thể Đối với Mác điều đó ngày càng trở nên cực kỳ quan trọng Bởi vì, Mác hiểu rằng, phải đập tan bộ máy Nhà nước của giai cấp tư sản, sẽ thiết lập sự thống trị của giai cấp vô sản

và với tư cách là một giai cấp thống trị trong xã hội nó được tổ chức lại thành Nhà nước Vậy Nhà nước vô sản đó sẽ có cơ cấu tổ chức- chức năng thế nào, hoạt động cụ thể ra sao, cơ chế vận hành bộ máy đó trên những nguyên tắc cụ thể nào, những con người điều hành bộ máy đó được đào tạo, sử dụng như thế nào để không bị rơi vào tình trạng quan liêu, thoái hoá Trong "Tuyên ngôn"

và trước "Tuyên ngôn" những câu trả lời đó chưa có Thực tiễn cách mạng tự

nó đặt vấn đề và đưa lại những tiền đề, tài liệu cần thiết để tìm ra cách giải quyết vấn đề Và chính Mác đã từng bước tổng kết kinh nghiệm cách mạng, khái quát về lý luận, tìm ra các câu trả lời cho các câu hỏi mà thực tiễn đặt ra

Ngay từ buổi đầu cách mạng 1848, Mác và Ảngghen đã ở trung tâm của cuộc đấu tranh chính trị, tham gia tích cực vào cuộc cách mạng ở Đức, lãnh đạo hoạt động của Liên đoàn những người cộng sản, ĩham gia công tác của

"Báo Sông Ranh mới" - cơ quan dân chủ cách mạng Đức và Châu Âu Theo dõi tiến trình cách mạng, Mác và Ăngghen nhận xét rằng, thất bại của cách mạng 1848 là thất bại của các phương hướng lý luận xã hội chủ nghĩa khác nhau, của ảo tưởng chính trị tiểu tư sản, mà theo họ chỉ cần giành lấy nền cộng hoà thì sự thống trị của giai cấp tư sản sẽ tự động bị thủ tiêu và nhường

chỗ cho giai cấp vô sản Trong tác phẩm "Đấu tranh giai cấp ở Pháp" (1850),

Mác viết rằng, chủ nghĩa xã hội khoa học hoàn toàn khác với chủ nghĩa không tưởng tiểu tư sản Chủ nghĩa xã hội đó là lời tuyên bố về một cuộc cách mạng không ngừng Đây là sự cụ thể hoá luận điểm của Mác và Ãnaghen nêu ra từ năm 1848 irons điều kiện lịch sử đương thời Đó là việc làm cho cách mạng phát triển không ngừng, cho đến khi tất cả các giai cấp ít hay nhiều hữu sản

Trang 36

đều bị gạt ra khỏi chính quyền, cho đến khi giai cấp vỏ sản giành được chính quyền Nhà nước[80,172] Và khi nói tới sự chuyển biến của cách mạng dân chủ tư sản thành cách mạng xã hội chủ nghĩa, Mác nhấn mạnh tới việc giai cấp vô sản giành chính quyền Nhà nước để xây dựng xã hội cộng sản và làm cho chủ nghĩa cộng sản thắng lợi trong tất cả các nước chủ yếu.

Vạch rõ bản chất của các Nhà nước bóc lột với tư cách là công cụ đàn

áp quần chúng nhân dân, Mác chỉ rõ rằng quần chúng nhân dân tham gia cách mạng hoàn toàn có quyền sử dụng bạo lực cách mạng để trấn áp bạo lực phản cách mạng Phát triển quan điểm duy vật biện chứng trong việc xem xét mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, ông chỉ rõ sai lầm của các học giả tư sản muốn quần chúng cách mạng phải tôn trọng luật Ị ’láp tư sản, duy trì cuộc cách mạng trong khuôn khổ pháp luật tư sản Ông nhấn mạnh, đảng của giai cấp công nhân tiến hành cách mạng không phải trên cơ

sở pháp luật tư sản mà trên cơ sở các nguyên tắc cách mạng nhằm thủ ticu ngay chính các thượng tầng pháp quyền tư sản ấy và đó cũng là một nhiệm vụ quan trọng của cách mạng vô sản Không phải xã hội phải dựa trcn luật pháp,

mà chính luật pháp phải dựa trên xã hội, phải thể hiện những quyền lợi và nhu cầu xuất phát từ chính phương thức sản xuất vật chất của xã hội

Khi phân tích bủn chất giai cấp của Nhà nước Pháp, Mác đã dề cập đến vấn đề nông dân và sự liên minh của giai cấp vô sản với các tầng lớp không vô sản trong quần chúng lao động "Quyền lực Nhà nước không phải là đứng lơ lửng trên không Bônapáctơ là đại biểu của mộl giai cấp nhất định, hơn nữa là một giai cấp đông đảo nhất trong xã hội Pháp, tức là giai cấp tiểu nông"[80,514] Nhưng triều đại Bônapáctơ không đại biểu cho người nông dân cách mạng, mà cho người nônơ dân bảo thủ, không đại hiểu cho tương lai của nông dân mà đại biểu cho quá khứ của họ

Nhưng sự phát triển của đại công nghiệp và chế độ tư bán ngày càr)2 phá vỡ n ền k i n h t ế m a n h m ú n c ủa tiểu n ôn SI và c h ế đ ộ lư b á n d ã thực s ự Irờ thành "con quý hút máu" nôn í dãn lợi ích của nôn í: dãn khôn Í2 còn hoà hííp

Trang 37

với lợi ích của giai cấp tư sản, với tư bản, mà lại mâu thuẫn với lợi ích của giai cấp tư sản, với tư bản Vì thế, người nông dân thấy rằng giai cấp vô sản thành thị, giai cấp có sứ mệnh lật đổ chế độ tư bản, là người bạn đổng minh, người lãnh đạo tự nhiên của mình[80,521] Ãngghen trong các tác phẩm của mình "Chiến tranh nông dân ở Đức", "Cách mạng và phản cách mạng ở Đức" cũng đã đưa ra những quan điểm tương tự trên cơ sở nghiên cứu cách mạng ở Đức.

Khái quát về lý luận những kinh nghiệm đấu tranh giai cấp trong thời

kỳ cách mạng 1848-1851 đã cho phép Mác và Ảngghen phát triển và cụ thể hoá những nguyên lý trong học thuyết của mình Trong bức thư gửi Vâyđơmâyê ngày 5 tháng ba năm 1852, Mác chỉ rõ: "Tôi không có cái công lao là đã phát hiện ra sự tổn tại của các giai cấp trong xã hội hiện đại, cũng như cuộc đấu tranh giữa các giai cấp ấy với nhau cái mới mà tôi đã làm là chứng minh rằng: 1 Sự tồn tại của các giai cấp chỉ gắn liền với những giai đoạn phát triển lịch sử nhất định của sản xuất; 2 Cuộc đấu tranh giai cấp nhất thiết sẽ dẫn tới chuyên chính vô sản 3 Bản thân nền chuyên chính này chỉ là bước quá độ tiến tới một xã hội không giai cấp [80,662],

Mác đã phân tích những điều kiện khách quan và âm mưu thâm độc của giai cấp tư sản khiến cho giai cấp công nhân Pari phải xuống đường đấu tranh

và đã bị giai cấp tư sản đàn áp đẫm máu, bởi vì “ Công nhân không còn có đường nào để lựa chọn nữa: hoặc phải chết đói, hoặc phải tiến hành đấu tranh” [88,44]

Mác đã khẳng định và ca ngợi vai trò tiên phong của giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh lật đổ sự thống trị của dòng Buốc Bông tháng Bảy năm

1830 góp phần dựng lên nền quân chủ tư sản và chính giai cấp công nhân trong những ngày tháng Hai lại đi đầu trong cuộc đấu tranh lật đổ nền quân chủ tư sản, góp phẩn quyết định lập lại nền cộng hoà tư sản và buộc tư sản phải xây dựng nền cộng hoà tư sản dưới hình thức xã hội

Trang 38

Thông qua việc phân tích nhiệm vụ, mục tiêu của cuộc khởi nghĩa tháng Sáu năm 1848, Mác đã chỉ ra tính chất cách mạng, tính triệt để của cuộc khởi nghĩa Ông khẳng định, đó là cuộc “Giao chiến lớn đầu tiên đã xảy ra giữa 2 giai cấp đối lập trong xã hội hiện đại giai cấp công nhân và giai cấp tư sản - đó là cuộc đấu tranh để duy trì hoặc để tiêu diệt chế độ tư sản” [88,45] Mác gọi đó: “là nội chiến, một cuộc nội chiến dưới hình thức khủng khiếp nhất của nó, tức là cuộc chiến tranh giữa lao động và tư bản” [88,46],

Theo Mác, mặc dù cuộc khởi nghĩa tháng Sáu năm 1848 thất bại nhưng mục tiêu và nhiệm vụ mà nó đặt ra đã thể hiện bản chất khác hẳn của cuộc cách mạng đó so với tất cả các cuộc cách mạng trước đó Tất cả các cuộc cách mạng trước đó (1793, 1830, tháng Hai - 1848) đều bảo vệ “ Trật tự tư sản” ; trái lại cuộc khởi nghĩa tháng Sáu năm 1848 phá hoại “trật tự tư sản” Tất cả thực tiễn đó đã chứng minh cho tính chất cách mạng, tính chất triệt để của giai cấp công nhân và do đó của sứ mệnh lịch sử của nó - điều mà Mác đã rút ra được từ cuộc đấu tranh giai cấp ở Pháp 1848 - 1850

Khi phàn tích những bài học từ sự thất bại của cuộc khởi nshía Tháng Sáu - 1848, Mác đã chỉ ra nguyên nhân thất bại của giai cấp vô sản Pari, bao gồm cả nguyên nhân khách quan (nền đại công nghiệp chưa phát triển đến độ cao, mâu thuẫn tư sản và vô sản chưa trở thành phổ biến, nổi lên hàng đầu và

có tính gay gắt) và nguyên nhân chủ quan (giai cấp vô sản chưa đú giác ngộ, chưa có chính đảng độc lập; không có đổng minh, không có vũ khí ”[88,45], Mác viết: “Công nghiệp ở Pháp còn là một hiện tượng cục bộ, cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân làm thuê trong công nghiệp với tư sản công nghiệp còn là một hiện tượng cục bộ ”; “giai cấp công nhân Pháp không tiên hành một cuộc nghiên cứu lý luận nào về nhiệm vụ của chính nó cả” và do đó:

“Giai cấp công nhân Pháp chưa đạt được đến chỗ đó, nó chưa có khả năng thực hiện cuộc cách mạng của chính nó” [88,29-30] Nhưng theo Mác, cũng không vì thể mà giai cấp công nhân mất phương hướng, bi quan và xa rời cuộc đấu tranh giải phóng của mình

Trang 39

Cách mạngvô sản là một tất yếu lịch sử là kết quả của cuộc đấu tranh

giai cấp giữa vô sản và tư sản - hai giai cấp đại biểu cho hai xu hướng đối lập trong xã hội tư bản chủ nghĩa Từ quan điểm duy vật lịch sử, Mác đã chỉ ra nguyên nhân của cuộc cách mạng ở Pháp cũng bắt nguồn từ kinh tế và sản xuất Đặc biệt Mác đã phân tích sâu sắc nguyên nhân dẫn tới cuộc cách mạng tháng Hai năm 1848 Đó là cuộc khủng hoảng công nghiệp và thương nghiệp

ở Anh ( 1845-1847); nạn mất mùa trong nông nghiệp 1845-1846, tình trạng giá cả tăng vọt năm 1847; sự thiếu hụt tài chính đi liền với sự sa hoa, íruỵ lạc của chính quyền Pháp do Lu-i Phi- líp đứng đầu

Mặc dù quá trình đấu tranh giai cấp ở Pháp ất nhanh chóng, sôi động

và phức tạp nhưng Mác luôn luôn tìm ra những vấn để căn bản của một cuộc cách mạng của mỗi thời kỳ, giai đoạn khác nhau với những mục tiêu, nhiệm

vụ, giai cấp tham gia khác nhau Chính vì vậy, mà ông phân tích rất sâu sắc tính chất của cuộc cách mạng tháng Hai và chỉ ra rằng, đó là cuộc cách mạng

tư sản, một cuộc cách mạng đem đến sự thống trị cho toàn bộ giai cấp tư sản

và củng cố nhà nước tư sản dưới hình thức mới “ Nền cộng hoà tư sản” Nhưng đối với cuộc cách mạng (khởi nghĩa) tháng Sáu năm 1848 thì ông chỉ rõ: Bản chất giai cấp công nhân, tính triệt để của nó so với tất cả các cuộc cách mạng trước đây “ Tháng Sáu đã đụng tới trật tự ấy- trật tự tư sản”[80,47];

Đặc biệt Mác đã phân tích một cách có cơ sở quá trình diễn biến, kết quả và tính chất của cuộc khởi nghĩa tháng Sáu năm 1849 của quần chúng tiểu

tư sản đo phái Núi dẫn đầu Từ đó ông chỉ rõ “ Mỗi cuộc khởi nghĩa đều mang đầy đủ tính chất của giai cấp tiến hành cuộc khởi nghĩa ấy” [80,88]

Mặc dù cuộc cách mạng của giai cấp vô sản Pari chưa thành cõng nên chưa trực tiếp bắt tay vào cải tạo xã hội tư bản và xây dựng chủ nghĩa xã hội nhưng bằng phương pháp khoa học, Mác đã chứng minh đầy sức thuyết phục

về nội dung toàn diện của cuộc cách mạng XHCN Theo ông, cách mạng vổ sản phải diễn ra trên lĩnh vực chính trị, kinh tế, tư tưởng, văn hoá Do đó cả một quá trình làu dài, giai đoạn quá độ tất yếu đi tới cuộc cách mạng triệt để

Trang 40

Từ sự phân tích những bài học thất bại của cuộc cách mạng vô sản Pari tháng Sáu 1848 và xu hướng phát triển khách quan của nó, Mác đã chỉ rõ tính quy luật phát triển "không ngừng" của cuộc cách mạng vô sản để tiến tới CNXH Ông khẳng định: “ Chủ nghĩa xã hội ấy là lời tuyên bố cách mạng không ngừng là chuyên chính giai cấp của giai cấp vô sản, coi đó là giai đoạn quá độ tất yếu để đi đến xoá bỏ những sự khác biệt giai cấp nói chung, xoá bỏ tất cả những quan hệ sản xuất làm cơ sở cho sự khác biệt ấy, xoá bỏ những mối quan hệ xã hội ứng với những quan hệ sản xuất đó, để đi đến cải biên tất

cả những tư tưởng nảy sinh từ những quan hệ xã hội đó [80,137], Chỉ có như vậy sứ r ệnh lịch sử của giai cấp vô sản mới được thực hiện thắng lợi

Với sự phân tích khoa học và thực tiễn sâu sắc, Mác cũng chỉ rõ khả năng bòng nổ và thắng lợi của các cuộc cách mạng ở các nước kinh tế lạc hậu hơn Mác cho rằng, trước lúc lan tới tim thì các cuộc bùng nổ dữ dội phải xảy

ra ở tứ chi của cơ thể tư sản, vì ở tim, khả năng giữ được thăng bằng có nhiều hơn ở tứ chi Ông cũng cho rằng mức độ ảnh hưởng của các cuộc cách mạng ở lục địa đối với nước Anh cũng đồng thời là cái phong vũ biểu chỉ rõ rằng các cuộc cách mạng ấy thực sự đụng chạm đến các điều kiện tồn tại của chế độ tư sản đến mức độ nào, hoặc chỉ đang chạm đến các thiết chế chính trị của chế

độ tư sản đến mức độ nào Dự báo thiên tài này đã được thực tiễn cách mạng sau đó chứng minh tính đúng đắn của nó

'Từ toàn bộ thất bại cay đắng của cuộc khởi nghĩa tháng Sáu 1848 của giai cấp vô sản và khởi nghĩa tháng Sáu 1849 của tầng lớp tiểu tư sản, và từ bản chất bạo lực của giai cấp tư sản, Mác đã khẳng định rằng: giai cấp vô sản không thể giải phóng được mình trong khuôn khổ nền cộng hoà tư sản Vì vậy Mác đã kết luận chỉ có: "Lật đổ giai cấp tư sản! Chuyên chính của giai cấp công nhân" [80,47]

Khi phân tích địa vị kinh tế xã hội trung gian của giai cấp tiểu tư sản ( tiểu chủ, tiểu thương , tiểu nông ,.), luôn luôn đứng ở giữa hai giai cấp đối lập trong xã hội tư sản là tư sản và vô sản, Mác đã chỉ ra rằns, eiai cấp tiếu tư sản luôn luôn bấp bênh, dao động là luôn mâu thuẫn trong việc Lĩiái quyết quyền

Ngày đăng: 12/05/2020, 22:57

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w