Đồ ng thời, việc làm này còn có ý nghĩa góp ph ần xác định n h ữ n g nét đặc thù của lịch sử tư tưởng dân tộc trước thời kỳ du nh ập chủ nghĩa Má c - Lênin vào Việt N am và xác định trin
Trang 1Đ Ạ I H Ọ C Q U Ố C GIA HÀ NỘI
T R Ư Ờ N G Đ Ạ I H Ọ C K H O A HỌC XÃ H Ộ I VA N H Â N VĂN• * * «
Đ È T À I C ÁP Đ ẠI HỌC Q U Ó C GIA
TÌM HIỂU
T ư TƯỞNG PHAN BỘI CHÂU
VÈ TRIÉT HỌC VÀ TÔN GIÁO
Trang 3C H Ư Ơ N G 2.
M Ộ T SÓ N ỘI D U N G T ư T Ư Ở N G T R I É T H Ọ C C Ủ A P H A N BỘI C H Â U 48
3.1 P h a n B ộ i C h â u bàn về k h ía c ạ n h tôn g iá o tr o n g N h o
g iả o - trời, đạo t r ờ i, q uỷ th â n 88
3.2 Q u a n n i ệ m c ủ a P h a n B ộ i C h â u về đ o à n k ế t tôn giáo, t ự
do tôn g i á o 98
3.3 P h a n B ội C h â u p h ê p h á n n h ữ n g b iể u h i ệ n m ê tín, dị
đ o a n , h ủ t ụ c ở các tôn g i á o 113
3.4 P h a n B ộ i C h â u p h â n biệt g iữ a n h ữ n g n g ư ờ i th eo tôn
g i ả o c h ả n h tin và n h ữ n g k ẻ t h ự c dân đội lot tôn g i a o 123
3.5 T ư t ư ở n g P h a n B ộ i C h â u về s ự t ư ơ n g đ ồ n g g i ữ a các tôn
g i á o và g i ữ a tôn g i á o với dân tộc 126
K É T L U Ậ N 132
D A N H M Ụ C TÀI L IỆ U T H A M K H Ả O 136
Trang 4M Ở ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đế tài nghiên cứu
Tro ng lịch sử tư tưởng Việt N am thởi cận đại, Phan Bội Châu (1867 - 1940) là n h à yêu nước, nhà vãn hoá và nhà tư tướng lớn tiêu biểu ở nước ta tr o n g k h o ả n g hai chục n ăm đầu của th ế kỷ XX Phan Bội C hâu đã đi từ N h o giáo đến chỗ tiếp thu và truyền bá bước đầu hệ
tư tưởng tư sản, rồi dầ n tiếp cận đến chủ ng hĩa M á c - Lênin Tư tưởng của ông là mộ t tr on g nh ữn g bộ phận quan trọng tr ong di sản lịch sử tư tưởng Việt N am Ph an Bội Chảu đã để lại cho ch ú n g ta nhiều tư tưởng
có giá trị lớn trên n h iề u lĩnh vực như văn học, sử học, triết học, chính
t r \ tôn g iá o T r o n g đó lĩnh vực triết học và tôn giáo được xem là rất quan trọng Tôn g iáo là lĩnh vực rộng lớn, nhảy cảm và liên quan trực tiếp tới lĩnh vực c h ín h trị xã hội Tôn giáo luôn tác động tới ý thức hệ của con người Do vậy mà nói tới tư tưởng của Phan Bội Châu khống thể kh ô n g nói đến tư tưởng về triết học và tôn giáo của ông
Từ trước đến , đã có nhiều công trình nghiên cứu về Phan Bội Châu, đặc biệt là tr on g lĩnh vực sử học, văn học thì khá dổi dào Riêng tr ong lĩnh vực triết học và tổn giáo, tư tưởng của ông chưa được đề cập nh iề u và còn có những nhận định, đán h si á chưa thống nhất Tư tưởng c ủ a Phan Bội Châu về triết học và tôn giáo tuy chưa thành hệ thố n g n h ư n s k h ô n g kém phần tiêu biểu, đặc sắc và hàm chứa nhiều nội du ng , ý n g h ĩ a sâu sắc Do đó, việc tìm hiểu tư tưởng của ông trên lĩnh vực n à y vừa làm rõ giai đoạn bản lề của lịch sử tư tưởng
V iệ t Nam, vừa là việc làm có ý nghĩa lý luận và thời sự cấp thiết
Trong điểu kiện hiện nay, cíins với việc tiếp thu n h ữ n s giá trị tinh hoa của nh ân loại, hơn bao giờ hêt, ch úng ta phải biết siữ gìn và phát huy các giá trị bản sắc văn hoá dân tộc n h ằ m xây dựng một nến
Trang 5văn hoá tiến tiến đ ậ m đà bả n sắc dân tộc Sự n ghiệp cách mạ ng cùa
c h ú n g ta k h ô n g được ph ép đo ạn tuyệt với qu á khứ, mà phải là sự tiếp nối và phát h u y n h ữ n g tr u y ề n thống tốt đ r p , những giá trị nhân văn của dân tộc V ă n kiệ n Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của
Đ ản g Cộng V iệ t N a m đã chỉ rõ: "Trong điều kiện kinh tế thị trườ ns
và m ở rộ ng giao lưu qu ố c tế, phải đặc biệt quan tâm giữ gìn và nâng cao bản sắc văn ho á dân tộc, kết thừa và phát huy tru yền thố ng đạo đức, tập q u á n tốt đẹ p và lòng tự hào dân tộc" [37; 11], Dưới án h sáng của Nghị q u y ế t Đại hội Đ ả n g lần thứ VIII và đứng trước yêu cầu của thực tiễn, việc n g h i ê n cứu lịch sử tư tưởng Việt N a m cận đại nói chun g và việc tìm hiểu tư tưởng triết học và tôn giáo của Phan Bội Châu nói r iê ng - m ộ t di sản to lớn của dân tộc, đang là một nhu cầu cần thiết đối với c h ú n g ta Việc làm đó chả ng những có ý nghĩa cấp bách về mặt lý lu ận mà còn có ý nghĩa về mặt thực tiễn đối với sự
ng hiệp đổi mứi ở nước ta hi ện nay Đồ ng thời, việc làm này còn có ý nghĩa góp ph ần xác định n h ữ n g nét đặc thù của lịch sử tư tưởng dân tộc trước thời kỳ du nh ập chủ nghĩa Má c - Lênin vào Việt N am và xác định trinh độ tư duy triết học, lý luận về tôn giáo của xã hội Việt
N am đầu th ế kỷ XX; đặc biệt là đề tài sẽ góp phần làm rõ ý nghia các giá trị trong di th ảo củ a nh à tư tưởng lớn tiêu biểu đầu th ế kv XX của dân tộc - Phan Bội Châu
Sự h ìn h th à n h và phá t triển tư tưởng triết học và tôn giáo của Phan Bội C h âu là m ộ t quá trình phức tạp, trải qua nh iều thời kỳ khác nhau cả trước và sau n ăm 1925 ở mỗi thời kỳ đó lại có những đặc điểm nhất đ ịn h và bao ch ứa một nội dun g khá phong phú, có nh iều ý nghĩa sâu sắc cần được đi sâu tìm hiểu, n hất là thời kỳ sau nãm 1925 chưa được chú ý n s h i ẽ n cứu nhiều Xuất phát từ tình h ìn h đó, chúng tôi quyết định lựa ch ọ n đề tài nghiên cứu tìm hiểu tư tường triết học
và tôn giáo c ủ a P h an Bội Châu, đặc biệt chú ý hệ thống hoá các cỏnsz trình đi trước m à ở đó đ a n s còn nhiều ý kiến nh ận định chưa thống
Trang 6nhất với nhau, m ộ t số nội du n g tư tưởng triết học và tôn gi áo còn chưa được n g h i ê n cứu đầ y đủ.
2 Tình hình nghiên cứu cũa đề tài
Tron g cá c n h â n vật lịch sử thời Cận đại, Phan Bội Châu là một chí sĩ yêu nước vĩ đại, mộ t vị tiền bối c ách m ạ n g tiêu biểu cho tinh thần đoàn kết đ ấ u tr a n h bất kh uất của nhân dân ta v ề cuộc đời và những bài học h o ạ t đ ộ n g c ác h m ạ n g và di sản tinh thần của Ph an Bội Châu từ trước tới n a y đã có nhiều người d m hiểu ng h iê n cứu và nghiên cứu n h iề u k h ía cạ n h khác nhau, có nh iều cô n g trình có giá trị
Từ những n ă m 5 0 - 6 0 - 7 0 nửa th ế kỷ XX, mặc dầu đất nước còn chiếnt ranh, n h ư n g đã có nh iều công trình n g h iê n cứu về ông Trong
đó, có trực tiếp h a y g ián tiếp đề cập đến tư tưởng triết học và tôn giáo cua ông
Trước hết, phải kể đến những cônơ trình tiêu biểu n h ư "Tìm hiểu Phan Bội C h â u và Ph an Chu Trinh" của Tốn Q u a n g Phiệt (NXB Văn, Sử, Đia, Hà Nội, 1956) , “ Lịch sử tám mươi năm ch ố n g P h á p ” (Nxb Văn - s ử - Địa, Hà Nội, 1958) của Trần Huy Liệu, “ Phan Bội Châu, tư tưởng c h í n h trị, tư tư ơ n s triết h ọ c ” của Bùi Đãng Duy,
N gu yễ n Đức Sự, C h ư ơ n g T hâu (N xb K hoa học Xã hội, Hà Nội, 1967), sách “ Nhà yêu nướ c, nh à văn Phan Bội Châu của Viện Vãn học, (Nxb K hoa học X ã hội, Hà Nội, 1968), sách “ Sự phát triển củ a tư tưởng Việt N a m từ t h ế kỷ XIX đến cách m ạ n g th á n g T á m ” , tập 2, của Trần Vãn Giàu, ( N x b K h o a học Xã hội, Hà Nội, 1975.)
Tiếp đến, trên cá c tạp chí khoa học xã hội đãn g tải nh iể u bài nơhiên cứu sâu sắc Trê n các tạp chí ng h iê n cứu đ a n c tai nh iêu bai
Trang 7viết về Phan Bội Châu Nhất là trong các dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông, tạp c h í N g h iê n cứu Lịch Sử sò 104/1967 đăng bài:
“ Góp p h ầ n đ á n h giá tư tưởng Phan Bội C h â u ” của Hương Phố;
“ Phan Bội C hâu và cô n g cuộc vận động đồng bào Thiên chúa iáo đầu th ế kỷ X X ” c ủ a Đ ặ n g Huy Vân Tạp chí N ghiên cứu Lịch sử sô' 105/1967 có bài củ a Trần Huy Liệu “ Phan Bội Châu tiêu biểu cho những cuộc vận đ ộ n g yêu nước đầu th ế kỷ X X ”
Tạp ch í Tri ết họ c số 7/1967 đăng bài “ Thử nêu một vài nhận xét
về tư tưởng triết h ọ c của Phan Bội C h â u ” của tác giả Lê Sỹ Thắng,
“Tư tưởng triết học, tư tưởng chính trị của Phan Bội C h â u ” của Bùi Đăng Duy
Tạp chí N g h i ê n cứu Lịch sử số 5/1978 có bài: “ Tìm hiểu thêm
về tư tưởng bạo đ ộ n g của Phan Bỏi C h â u ” của Chương Thâu và Đinh Xuân Lâm
Tạp ch í Triết học số 1/1981 có bài “N h â n sinh triết học của Phan Bội C h â u ” c ủ a Lê Văn Hảo và Chương Thâu
Từ khi đất nước được thống nhất, hoà bình, nhất n 2 ần đâv từ sau Đổi mới, dưới án h sáng của tư duy đổi mới, nhiều c ô n s trình quan trọng về Ph an Bội Châu được lần lượt ra đời Tiêu biểu nhất phải
kể đến các sác h như: “ Phan Bội Châu Toàn tậ p ” 10 tập do Chương Thâu biên soạn, N x b T h u ặ n Hoá, Huế, xuất bản nãm 1990 Chươ ns Thâu cũng là một n h à Phan Bội Châu học hàng đầu với ngót 100 đầu sách và cô ng trình n g h iê n cứu chuyên về Phan Bội Châu
Ngoài ra, cò n phải kể đến : ‘;Tân thư, Tân vãn và xã hội Việt Nam cuối th ế kỷ X IX đầu thế kỷ X X ” do Đinh Xuân Lâm chủ biên, Nxb Chính trị Q u ố c gia, Hà Nội, 1997
“ Xu h ướ ng đổi mới trong lịch sử Việt N a m ” do Đinh Xuan Lâm chủ biên, N x b V an hoá T h ô n g tin, Hà Nội, 1998
Trang 8“ Lịc h sử c ậ n h iệ n đại Việ t N a m , mộ t số vấn đề n g h iê n c ứ u ” do
Đ inh X u â n L ả m c h ủ biên, N x b T h ế giới, Hà Nội, 1998
“ Phan Bội C h âu và xã hội Việt N a m ở thời đại của ô n g ” của G.• • • « • oBouđarel, N x b V ă n hoá T h ô n g tin, Hà Nội, 1997
“ Lịch sử V iệ t N a m (1 89 7 - 1918 )” , N x b K h o a học Xã hội, Hà Nội, 1999 do C h ư ơ n g T hâu và tập thể tác giả chủ biên
“ Phan Bói C h â u một số vấn đề vãn hoá - xã hội - chính trị” do Chương T h âu c h ủ biê n, N xb T h u ậ n Hoá, Huế, 2002
“ N g h iê n cứu về Phan Bội C h â u ” do Chương T h âu biên soạn, Nxb Chính trị Q u ố c gia, Hà Nội, 2004
Sách “ L ịch sử Việt N a m ” tập 2, 1858 - 1945 do Đinh Xuân Lâm và tập thể tác gia biên soạn, N x b Giáo dục, Hà Nội, 2003
Sách “ P h o n g trào dân tộc của Việt N a m và quan hệ của nó với Nhật Bản và c h â u á Tư tưởng Phan Bội C hâu vể cách m ạ n g th ế giớ i” của M Shiraishi, N x b Chín h trị Quố c gia, Hà Nội, 2 0 0 0
N h ờ có t h u ạ n lợi về tư liêu và phư ơ ng ph áp mới m à các tạp chí cũng xuất hiện n h i ề u bài ng h iê n cứu g ó p ph ần làm sá ng rõ về con người và tư tưởng c ủ a Pha Bội Châu, đán g chú ý hơn cả có:
Tạp chí K h o a h ọc Xã hội, số 1/1995 có bài “ Bước đầu tìm hiểu mối qu an hệ giữa P h a n Bội Châu và Phan Châu T r i n h ” của Trần Hồng Hạnh
Tạp ch í T h ô n g tin K h o a học Văn hoá số 12/1997 có bài “ Phan Bội Châu d a n h n h â n đổi mới đầu th ế kỷ X X ” củ a Ch ươ n g Thâu
Tạp ch í N g h i ê n cứu Lịch sử số 4 /1 9 9 6 có bài ‘T á n thư, tân học thời đại N h ậ n thức lịch sử” của N g u y ễ n Văn Hổng
Trang 9Tạp c h ’ T r iế t họ c số 2/199 7 có bài “ Ảnh hưởng của Tân thư, tân văn trong tư tư ưng Phan Bội Châu và Phan Châu T r i n h ” của Lê Sỹ Thắng.
Trên tạp ch í Triết học số 4/1997 có bài “ Mấy đặc điểm của các nhà Nho d a y tân đầu th ế kỷ XX qua tìm hiểu cái nhìn phương Tây cỉia h ọ ” của Đỗ Thị H oà Hới Số 1/1999 có bài “ Quan niệ m của Phan Bội Châu về bả n tín h của con ngườ i” của N g u y ễ n Văn Hoà Số 6/1999
có bài “ Mẫu ngư ờ i lý tưởng tr o n s tư tưởng Phan Bội C h â u ” của
N g u y ễ n Thị T u y ế t Mai Số 2/1998 có bãi “Tìm hiểu mối quan hệ giữa
“ lý ” và “ k h í ” tr o n g tư tưởng Phan Bội C h a u ” của N g u y ễ n Văn Hoà
Số 117/2000 có bài “ Quan niệm của Phan Bội Châu về phương pháp hoạt đ ộ n g ” của Lê N g ọ c Thông Số 9/2005 có bài “ Ảnh hưởng của triết học p h ươ ng Tây qua quan niệm của Phan Bội Châu về con
n g ườ i” của Đỗ Thị Hoà Hới
Trên tạp chi N g h iê n cưu Lịch sử số 6 /1999 có bài: “ Tìm hiếu về Phan Bội Châu và vấn đề đoàn kết lương giáo chông Ph áp đàu thế kỷ
X X ” của Phạm H ồ n g Tung
Tạp c h í N g h i ê n cứu Tôn giáo số 1/2001 có bài “ Quan niệm của Phan Bội Châu về tôn g i á o ” của Lê Ngọc Thông
Nhân dịp 130 n ãm ngày sinh cùa Phan Bội Châu vào năm 1997
và nă m 2005 kỷ n iệ m 100 năm phonợ trào Đ ồ n s Du trong cả nước, tại
Hà Nội, Huế, N g h ệ An, thành phố Hồ Chí Minh đêu có các hoạt đỗrng, hội th ảo k h o a học và xuất bản nhiều tập kỷ \ ế u có giá trị
Phải ghi n h ậ n trong các nghiên cưu về con người và tư tướng của Phan Bội Chủu có các luận án Tiến sĩ: Phan Bội Châu - conngười và sự n g h iệ p cứu n ư ớ c ” - Luận án Phó Tiến sỹ Sử học của Chương Thâu, Viện Sử học, 1981
Trang 10“ Tư tưởn g triết học và chính tp ’ - Luận án Tiến sĩ Triết học
c e a Lê N g ọ c T h ô n g , Đại học Khoa học xã hội và nh ân văn 2001, đã
xuất bản th àn h sách , N xb Lao động, Hà Nội, 2003
Do vị th ế q u a n trọng và ảnh hưởng to lớn của Phan Bội Châu
trong thời cậ n đại cho nên giới Việt N am học th ế giới đã chú V
nghiên cứu từ n h iề u góc độ về ông Các học giả tiêu biểu: ỏ Trung
Quốc có H oàng Dật Cầu, Từ Thiện Phước, Lương Chí M i n h , ở Nhật
Bản có M Shir aishi, K a w a m o to K unie, ở Pháp có J Chesne aux, G
Bouđarel, D H e m é r y , c R obequain, s P h u ô c n iổ , ở Mỹ có D.G
Marr, ở Đức có J Unse lt, ở Anh có w J Duiker Các c ô n s trinh của
họ dồi dào vé tư liệu và từ các góc nhìn của người đứng bên ngoài
nên đều là n h ữ n g nhận xét cần được tham khảo, xem xét nghiêm cẩn
Do điều kiện chủ yếu trong đề tài này chúng tôi chú trọng hơn
đến công trình củ a các học giả Việt Nam với một khố i lượng rất lớn
Với khố i lượng di thảo đồ sộ, nội dun g pho ng phú của Phan Bội
Châu nên có nh iề u cô n g trình nghiên cứu về ông, đề cập đến rất nhiều
lĩnh vực trong cuộ c đời, tư tưởng của ông Tuy nhiên, nhìn c h u n s lại,
chủ yếu là các n g h iê n cứu ở lĩnh vực văn học, sử học, lĩnh vực triết
học còn ít Đề tài của ch ún g tôi nghiên cứu tư tưởng triết học và tôn
giáo ở lát cắt khái quá t trong di thảo Phan Bội Châu, nên chỉ cố gắng
phát hiện n h ữ n g nh ận xét của các công trình đi trước về các vấn đề
liên quan đến tư tưởng triết học và tôn s iá o của ông
* Về nhận định tư tưởng triết học Phan Bội Châu: Trong các công trình còn có nh iều ý kiến khác nhau, nhưng gần đây nhất, trong
luận án Tiến sĩ Triết học ‘T ư tư ởn s triết học và ch ín h trị của Phan
Bội C h â u ” của N g u y ễ n Vàn Hoà đã có sự k ế thừa kết quả của giới
ng hiên cứu Việt N a m về vấn đề này, như: Bai Đ ăng Duy Ng uyễn
Đức Sự, Ch ươ n g T h â u , Lê Sỹ Tháng để đưa ra kết luận:
Trang 11“T h ế giới q u a n củ a ông là duy vật Song ở ông, chủ ng hĩa duy
vật còn ở h ìn h thức thấp, và thiếu triệt để, do đó ông khôn g tránh
khỏi nhữn g d a o đ ộ n g nhất t h ờ i” [58;83]
Dường n h ư cá c tác giả này đều có căn cứ để rút ra kết luận đó là
dựa vào ở chỗ P h a n Bội Châu giải quyế t vấn đề quan hệ giữa “ lý ” và
“k h í ” trong m ộ t vài tác p h á m riêng lẻ, rưi rạc, nh ư vậy, đến đây, lập
Irường của P h a n Bội Châu đã được kết luận Trong luận án Tiến sĩ
Triết học “T h ế giới q u a n của Phan Bội C h â u ” của Lê N g ọ c Thông, tác
giả luận án này c ũ n g chia sẻ quan niệm đó Tuy nhiên, tác giả này
còn đi sâu ph ân tíc h lập trường duy vật của Phan Bội Châu thể hiện
trong lĩnh vực xã hội quan , nh ân sinh quan Đồng thời, tác giả cũng
chỉ ra tính chất, lập trường giai cấp và xuất phát, mục tiêu cứu nước ở
Phan Bội Châu Cãn cứ nhận xét chủ yếu vẫn là dựa vào tư liệu của
những tác giả trước Tác giả đã mạnh dạn đổ xuất một số cách xử lý
các tư liệu đó, n h ư n g lập luận còn chưa thật thuyết phục, cần được
tiếp tục đi sâu lý giải
* N h ậ n xét về tư tưởng biện chứng, hay các yếu tố biện chứng ở Phan Bội Châu: T r o n g cô n g trình tập thể “Tư tưởng ch ính trị, tư tưởng
triết học của P h a n Bội C h â u ” của Bùi Đăn g Duy, N g u y ễ n Đức Sự,
Chương Thâu, có n h ậ n xét ràng, Phan Bội Châu đã thể hiện một trình
độ tư tươnií biện c h ứ n g nhất định, các tác giả đặc biệt chú ý đề cập
đến việc ảnh h ư ở n g củ a phép biện chứn Phật ơiáo, Đ ạo giáo, ở Phan
Bội Châu, n g o à i an h hưởng chủ đạo của Nho giáo: Ở Phan Bội Cháu,
người đã đá n h dấu trinh độ tư tư ở n s cua thời đại, nh ữn g nhân tố của phép biện ch ứn g: Tư tưởng về mối tương quan giữa “ n h ủ n v và “ q u ả ” trong xã hội học, về sự thố ng nhất và mâu thuẫn s iữa “ c ó ” và
“ k h ô n g " , giữ a “ s á t " và “ s i n h ” trong tư tưởnơ triết học Phật giáo, nhữn g nhân tố b iệ n ch ứn g trong khoa học quán sự c ủ i Tôn Tứ Với
n h ữ n s hiểu biết đó, khi tiếp xúc với phép biện c h ứ n s của chú n s h ĩ a
Trang 12Mác, người ta sẽ k h ô n g cò n hoàn toàn đứng trước một điều quá xa lạ
n ữ a ” [30; 185]
Cùng k h o ả n g thời gian này, Lê Sỹ Thắ ng lại nh ận định, đánh
giá cao yếu tố p h é p biện chứng tự phát ở tư tưởng Phan Bội Châu:
“Đ iểm nổi bật tr o n g phươ ng pháp tư tưởng Phan Bội Châu là phép
biện chứng tự p h á t ” [ 1 2 3 ; .] đã vượt cao lên so với người đương thời
Điều đáng nói là tro n g các công trình này, các tác giả chưa có điều
kiện tư liệu đầy đủ, vì thế, họ chưa có thể khái quát nêu lên những
vấn đề xu yên suốt tr ong toàn bộ các trước tác của Phan Bội Châu, vì
thế, họ cũ ng ch ưa khái quát được ý nghĩa, tác dụng qu an trọng của
những vấn đề tổn g qu an này như là thế giới quan, phươ ng pháp luận,
quy định, ảnh h ưở ng rất nhiều đối với những q u a n n iệ m khác ở Phan
Bội Châu, c h ẳ n g hạ n như: quan niệm về lịch sử, qu an n iệ m về xã hội,
xây dựng dườn g lối cứu nước, vấn đề con người, vấn đề nhân sinh,
vấn đề tôn g i á o T ro n g đề tài này, chún g tôi thu ận lợi k ế thừa được
thành tựu của người đi trước về phương diện tư liệu, kết quả nghiên
cứu, vì thế, c h ú n g tôi đặc biệt quan tâm các tác p h ẩ m trong thời kỳ
1925 - 1940, tro n g đó, đặc biệt khai thác hai tác p h ẩ m “ Khổng học
đ ă n g ” , “ Chu dịch qu ỏ c vãn diễn g iải” Đây là các tác phẩm chứa cìựns
nhiều nội du ng tư tưởng triết học và tôn giáo Tuy nhiên, chúng tôi
k h ô n s đi sâu nêu và phân tích các luận điểm cụ thể, mà chú ý khai
thác các nội du n g tổn g quát, tổng quan: quan niệ m về bản n guyên của
th ế giới, qu an n iệ m về sự vận động, biến đổi củ a th ế giới, quan niệm
về sự thốnơ nhất tự nhiên - xã hội - con người, như là Đạo, Lý, ‘'đạo
n g ư ờ i” , “đạo củ a n s ư ờ i quân tử” , từ đó, thấy được tác động quv
định của nh ữn g vấn đề này đến các nội dung, q u a n n iệ m về tổn giáo ở
ông
* Nhận xét về tư tưởnc tôn giáo ở Phan Bội Châu, n h ữ n s tư liệu mới được côn g bố tronơ “ Phan Bội Châu Toan t ậ p ” đã si ú p các tác
Trang 13giả đi sau n h ư Lê N g ọ c T h ôn g, Ph ạm H ồ n g T u n g nêu lên một số nhận
xét mới lạ trước đ â y ít được quan tâm Tu y nhiên, do k h u ô n khổ của
hướng tập tr ung n g h iê n cứu ở Lê N g ọ c T h ô n g là tìm hiểu tư tưởng
triết học chính trị, hướng tập trung của P h ạ m H ồ n g T u n g là sử học
nên các nội d u n g tư tưởng Phan Bội C hâu về tôn giáo còn mờ nhạt,
vẫn còn nhiều k h í a cạ n h ch ưa được phân tích đầy đủ
Tóm lại, trên đâ y ch ú n g tôi điểm lại m ộ t số c ô n s trình tiêu biểu
của người đi trước Đó đều là những tài liệu quý bá u , n h ữ n s mốc
nghiên cứu q u a n tr ọ n g về Phan Bộ- Châu Đa số các c ô n g trình nàv
đều tiếp cận từ gó c độ sử học, văn học, m ộ t số tiếp cận ở góc độ triết
học N h ư vậy, c h o đến nay, chưa có mộ t có n g trình nà o nghiên cứu
toàn diện về tư tư ởn g triết học chỉnh thể, tư tưởng tôn giáo của Phan
Bội Châu Ph an Bội Châu là nhà tư tưởng tiêu biểu c ủ a Việt N am thời
cận đại ở ông, tư tưởng về triết học và tôn g iáo có n h iề u điểm đặc
sắc đáng ng h iê n cứu Mặc dù còn nhiều đ iể m hạn chế, s ong trong đấy
con chứa đựng n h ữ n g nội dun g hết sức p h o n g phú Do đó, việc tiếp
tục đi sâu n g h iê n cứu tư tưởng triết học và tôn giáo củ a Phan Bội
Châu là một việc cầ n thiết Xuất phát từ tình hình đó, trong khu ôn
khổ đề tài, c h ú n g tôi tập trung làm rõ n h ữ n g vấn đề tư tưởng triết học
và tôn giáo c h u n g nhấ t, xu yê n suốt, có ý n g h ĩa chỉ đạo đến hoạt động
và các nội d u n g tư tưởng khác ở Pnan Bội Châu Đặc biệt, chú tr ọne
khai thác nh iều tr o n g tác ph ẩm “ K h ổ n g học đ ă n g ” và “ Chu dịch quốc
văn diễn g iả i”
3 M ục đíc h n ghiê n cứu và nh iệm vụ của đề tài.
của tư tưởng về triết học và tôn giáo của Phan Bội Châu Từ đó, nêu
lên n h ữ n s nội d u n ơ tư tưởng về triết học và tôn giáo c ủ a ô n s , bước
Trang 14đầu đá n h giá đ ó n g gó p của ông đối với lịch sử tư tưởng Việt Nam ở hơn hai thập n iên đ ầ u của t h ế kỷ XX.
* Để thực h iệ n mục tiêu trên, n h iệ m vu của đề tài hướng đến là:
1
+ Phân tíc h n h ữ n g cơ sở thực tiễn về kinh tế - chính trị - xã hội
trong và ngoài nướ c cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX và tiền đề tư tưởng tác đ ộ n g tới tư tưởng triết học và tôn giáo của Phan Bội Châu
+ Nêu và p h â n tich một số nội dun g tư ttrởng về triết học và tôn giáo của Ph an Bội Châu
+ Bước đầu p h â n tích ý ng hĩa và nêu lên đươc vai trò của những
tư tưởng đó đối với việc hình thành các đường lối chủ trương cừu nước của ô ng c ũ n g nh ư đối với tiến trình phát triển của lịch sử tư tưởng Việt N a m đ ầu t h ế kỷ XX
4 Cở sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Đề tài được thực hiện trên cơ sở những nguyên lý, nhữns quan điểm cơ bản của chủ ngh a Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điêm của Đảng Cộng sân Việt Nam về ton giáo và chính sách tôn siáo hiện nay về ké thừa và phát huy những giá trị truyền thống dân tộc
4.2 Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện c h ứ n s và lịch sử triết học, nhấ t là lịch sử triết học phương Đông, đề tài đã sử dụng các phương pháp cụ thể chu yếu sau: Logic lịch sử, phân tích tổng hợp, so sánh và hệ th ố n g h o á Ngoài ra, c h ú n c tôi còn sử dụng hệ th ố n s phương pháp liên n s à n h tôn giáo học Mác xít nh ằm tái hiện một cách chân thực n h ữ n g q u a n điểm về triết học và tôn giáo của Phan Bội Châu
Trang 155 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng c u a đề tài là tìm hiểu các vấn đề liên q u a n tư tư ưn s của Phan Bội Châu Đặc biệt chú trọng đi sâu tìm hiểu tư tưởng vể-, triết học và tôn g iáo củ a ông
Phạm vi n g h i ê n cứu:
Các vấn đề lý giải cơ sở thực tiễn và lý luận của tư tưởng về trết học và tôn giáo c ủ a Ph an Bội Châu, các nội d u n g tư tư ởn g triết học và tôn giáo thể h iện q u a Phan Bội Châu Toàn tập, N x b T h u ậ n Hoá, H uế
1990, in và bản in n ã m 200 0 ở Hà Nội
6 Ý nghĩa của đề tài
Đề tài góp phần vào việc làm rõ, kế thừa, hệ thống hoá và bổ sung, làm đầy đủ và sâu sắc hơn nhận thức về tư tưởng triết học và tôn giáo ở thời đại mình của Phan Bội Châu Từ đó, đề tài chẳng những cung cấp thêm cứ liệu góp phần xây dirng nội dung môn học lịch sử tư tưởng Việt Nam, làm tài liệu nghiên cứu về tõn giáo trong hiện thực xã hội nửa đầu thế kỷ XX mà còn có thể làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến Nấn đề tư tưởng triết học và tôn giáo trong hiện thực xã hội nửa đầu thế kỷ XIX tại Việt Nam
7 Kết quả nghiên cứu của đề tài.
- Kế q uả n g h i ê n cứu đã cô ng bố 3 bài báo trên tạp chí
- Hướn g dẫn mộ t kh oá luận cử nh ân triết học
8 Bõ cục của đề tài
Ngoài phần m ở đdu, kết luận, và tài liệu th am kh ả o , nội dun g chính của đề tài được c hia thành 3 c h ươ ng và 10 tiết
Trang 161.1 Cơ sở thực tiễn của tư tưởng triết học và tòn giáo ở Phan Bòi C hâu.
1.1.1 N h ữ n g biến chuyển trong nước và thê giới cuối thê kỷ X I X đau thẻ kỷ X X.
* Xã hội Việt N a m trỏ thành xã hội thuộc địa nửa pìỉoỉỉg kiến.
Sau khi nổ sú n g xâm lược nước ta ở Đà N ẵ n g (1/ 9/1858), thực dân Pháp đã vấp phải sự kh á n g cự mãnh liệt củ a nhân dân ta Đến năm 1883, triều đ ìn h nhà N g u y ễ n đầu hàng thực dân Pháp, xã hội Việt N am từ tính chất phong kiến dần dần trở thà nh thuộc địa nửa
ph on g kiến và bị cu ố n hút và quỹ đạo của chủ ng h ĩa tư bản Pháp Xã hội thuộc địa nửa ph ong kiến ở Việt Nam được biểu hiện cụ thể trên các mặt như sau:
Về kinh tế, m ụ c đích của thực dân Pháp khi xám lược Việt Nam
là m u ố n biến Việt Nam thành một thị trường độc ch iế m đế bóc lột
Trang 17nhân cô n g rẻ mạ t, vơ vét n g u ồ n n s u y ê n liệu và nô n g sản s iá re, bán giá cao nh ữn g h à n g c ô n g n g h iệ p của Pháp n h ằ m đ ả m bảo cho vốn đầu
tư của Pháp thu đ ượ c lợi n h u ậ n tối đa Để thực hiện m ụ c đích đó, thực dân Ph áp đã ch ủ tr ươ ng , m ộ t mặt, duy trì p h ướ ng thức sản xuất p h o n s kiến; mặt kh ác, từ n g bước du nh ập phươ ng thưc sản x uất tư bản chủ nghĩa Vì vậy n ề n tả n g và cơ cấu kinh tế của xã hội Việt N a m lúc bấy giờ có nh ữn g b iế n c h u y ể n mới, có cả hai p hươ ng thức sản xuất c ù n s song song tồn tại: p h ươ n g thức sản xuất p h o n g kiến và phương thức sản xuất tư bả n c h ủ ngh ĩa Dưới sự tác đ ộ n g củ a hai p hư ơ ng thức xã hội đó đã làm c h o n ề n tảng, cơ cấu kinh tế c ủ a xã hội Việt N a m biến đổi theo ch iề u h ư ớ n g dần đi vào quỹ đạo mới, tiến bộ hơn - quỹ đạo
tư bản chủ ng h ĩa , n h ư n g là mộ t thứ tư bản chủ n g h ĩa th u ộ c địa, phụ thuộc hoàn toàn vào c h ín h quốc Tuy bị hút vào quỹ đạo tư bản chủ nghĩa và mặc dù c ò n nhiều hạn chế, so ng nền k in h tế đươ ng thời đã tác độ ng m ạ n h mẽ đế n cơ cấu kinh tế tr u y ền th ốn g, làm thu hẹp, biến dạng quan hệ k in h t ế cũ, nền sản xuất nông n g h iệ p k h ổ n g còn giữ vai trò độc tôn n h ư trước Các thương diốm, c ô n g trường, xí nghiệp, nhà máy, hầm mỏ, đ ồ n đ iề n đã ra đời Sự biến c h u y ể n tr ong cơ cấu kinh
tế đã tạo điều k iệ n th u ậ n lợi cho các luồ n g tư tưởng mới ở bên ngoài
du nhập vào M ặ t k h á c , "nó cũ n g làm phá sản ch ín h sác h b ế quan toả cảng của triều đ ìn h n h à N g u y ễ n , làm cho Việt N a m tiếp xúc được với thế giới, nhất là với c h â u Âu tư bản chủ n ghĩa, mặt dâu thực dân Pháp
đã ch ăn g một h à n s rào qu an t h u ế khá chặt chẽ và bắt bu ộ c Việt N am chỉ được số ng với th ân phận ke phụ thuộc, làm cái đuôi của tư bản Pháp và chỉ được p h é p có qu an hệ với riêng mộ t nước P h áp mà thôi" [ 13 2 ; 2 1 ] Nền k in h t ế Việt N a m ở thời kỳ c uối t h ế kỷ X I X đầu th ế kỷ
XX, về cản bản là n ển kinh tế tự cunơ, tự cấp "Trên thực tế, các lực lượns sản xuất - xã hội cũ vẫn giữ một vai trò qu an trọng Lúc nàv
tr o n s xã hội Việt N a m đan g diễn ra một c u ộ c cọ xát s a y go giữa cái
cũ và cái mới K ết th ú c , nh ié u khi đán g tiếc lại là sự c h iế n tháng của
Trang 18cái cũ" [ 114; 120] Chủ ng h ĩa tư bản ra đời chậm và yếu ớt Sự tác
đô ng của điều k iệ n kinh t ế đó đã làm cho tính chất cổ truyền của xã
hội Việt N a m bị b iê n dạng và bị phá vỡ dần về mọi mặt c ù n s với sự phát triển của n ề n sản xuất tư b ả n chủ nghĩa Chính điều nàv đã ả n h hưởng một c á c h q u y ế t định đến nội dung, tính chất và chiều hướng phát triển của to àn bộ đời sống tinh thần của xã hội nói chung và tư tưởng triết họ c, tư tưởng về tôn giáo của Phan Bội Châu nói riêng
Vê chính trị, n h a m khai thác thuộc địa với quy mô ngày càng
lớn, thực dân P h áp đã thiết lập và kiện toàn cơ cấu mọi mặt của bộ máy thống trị từ t i u n g ương đến địa phương Một chính quyền thực dân vừa bao tr ù m lên, vừa song song tồn tại với chính quyề n bù-nhìn phong kiến Việt N a m Đi đôi với việc đàn áp phong trào đấu tranh của nh ân dân ta, thực dân Pháp thực hiện những chính sách hết sức thâm độc Chẳ ng h ạ n chính sách "chia để trị" - đặt ra ba chế độ chính trị kh ác nhau tương ứng với ba miền của đất nước là Bấc Kỳ, Trung
Kỳ và Nam Kỳ; c h ín h sách "dùng người Việt trị người Việt" - gây chia rẽ người m i ề n Bắc với người miền Nam, miền Trun g, gây hận thù giữa người có tôn g iá o và người không theo tôn giáo, giữa người Việt với đa số với các d â n tộc thiểu số, dụ dỗ nhưng phần tử phong kiến đầu hàn g duy trì cá c tổ chức bộ máy quản lý cũ kỹ lạc hậu ở các lãng
xã và bộ máy vu a q u a n phon g kiến để công cụ bóc lột nhân dân ta, đúng n h ư đồn g ch í Lê Duẩn đã viết: "Để bóc lột nhân dân lao động chủ yếu là nô n g dân nước ta, đế quốc Pháp kh ố n g phá bỏ c h ế độ phong kiến, để c ho chủ nghĩa tư bản phát triển tự do, trái lại c h ú n s rất cần duy trì c h ế độ ph on g kiến đó Chúng nuôi dưỡng c h ế độ phong kiến chính là để bóc lột theo lối tư bản chủ ng hĩa nặng nề hơn, mạnh
và nhiều hơn" [29;22] Tình hình đó đã làm cho mâu thuẫn 2 Ìữa toàn thổ dân tộc Việt N a m với tư bản Pháp xâm lược cang thêm 2 ay gắt
Để giải qu y ết m âu th u ẫ n đó, đòi hỏi phải huy động sự đồng tám, hiệp lực của mọi lực lư ợn g yêu nước, tiến bộ v ù n s dậy d ù n s bao lực của
Trang 19mình đán h đổ á c h th ố n g trị củ a bọn thực dân Pháp Chính yêu cầu này đã ảnh h ư ở n g và được phản ánh đ ậm nét trong tiến trình phát triển tư tưởng c ủ a P h a n Bội Châu K h ô n g phải ng ẫu nh iên mà ô n s đã
đề xướng th u ý ế t "mười hạng mười đồng t â m ”; ông qua n tâm đến vêcị
x â y dựng k h ố i đ o à n kết toàn dân, đoàn kế t lương giáo, tìm kiểm những nét tương đ ồ n g va kh ác biệt giữa ch ủng tộc này với chi ng tộc khác, giữa con ng ườ i với con vật Ông làm n h ư vậy là đ ể hitỵ động, tập hợp và x â y d ự n g lực lượng cách mạng, p h ả n hoá k ẻ thù, kích động
và tăng cường tỉn h thầ n q uậ t cường cùa dân tộc, c ổ vũ cho chủ trương
"bạo động vũ tr a n g " của mình trong quá trình đấu tranh giành độc lập cho dân tộc.
Vê giáo du e , n h ằ m mục đích nô dịch nh ân dân Việt Nam, thực
dán Pháp đào tạo độ i ngũ những người chỉ biết thừa h à n h hơn là sáng tạo Thực dân P h á p đã xây dựng một nền giáo dục thực dân nửa phong kiến M ộ t mặ t, ch ú n g tìm mọi cách loại bỏ nh ữn g ảnh hưởng tích cực của vãn h o á cổ truyền dân tộc: lợi d ụ n g nh ữn g mạt hạn ch ế trong nền g iáo d ụ c p h o n g kiến đã trở nên quá ư lạc hậu so với xu thế phát triển c h u n g c ủ a thời đại, k h u y ế n kh ích lối học kh o a cử để kìm hãm nhân dân ta tr o n g vòng tối tãm, dốt nát và phục vụ cho công cuộc thực dân h o á c u a chúng Đề cập đến vấn đế này, Phan Bội Châu
đã viết: "Từ sau kh i mất nước, cố nh iên người Ph áp chẳng những
kh ôn g đem lại c h o người Việt mộ t nền giáo d ụ c tốt đẹp mà họ càng ngày cà ng cư ỡ ng bứ c người Việt N a m theo nền giáo dục nô lệ, trâu ngựa Khi mới c h i ế m Việt Nam, người Ph áp rất k h u y ế n khích cái học
từ ch ươ ng k h o a c ử n h ư văn bát cổ thơ phú, h u ẫ n hỗ, từ chương Trẻ
em sáu tuổi đã bắt vùi đầu vào cái họ c ấy cho đến chết" [10 ;526]
Mặt khác, thực d â n Pháp từng bước xây d ự n e mộ t nền giáo dục thực dân để phục vụ c h o công cuộc khai thác thu ộc địa với quy mô ngay càng lớn và t ã n s c ườ ng nô dịch nhân dân ta vể mọi mat T r o n s tác
Trang 20phẩm "Việt N a m v o n g quốc sử", Phan Bội Châu viết: "Ở trong nước, người Pháp dặt m ộ t trường đại học Pháp, một trường học Pháp - Việt nhưng r h ỉ dạ y viết văn Pháp, nói tiếng Pháp có thể tạm thời làm nô lệ cho Pháp m à thôi, cò n mu ốn tới chỗ tinh thâm uyên bác tất cả những việc hữu dụn g, thì người Việt N a m k h ô n g được thấy" [9; 147].
N ãm 1906, thực dân Pháp tiến hành "cải cách" giáo dục, bằng cách tạo ra m ộ t nề n giáo dục lai căng què quặt, gọi là nền giáo dục Pháp - Việt Đ â y là nền giáo dục nh ằm mục tiêu: tuyên truyền cho chính sách xâm lược bóc lột của Pháp; truyền bá tiếng Pháp và tạo ra ảnh hưởng cua văn hoá Pháp đối với các trí thức vãn thân; tiếp tục đào tạo một số ngưừi làm tay sai cho Pháp N h ư n g tước tinh thần phản khán g q u y ế t liệt của nhân dân ta, cùng với các phon g trào yêu nước như D uy Tân , Đông kinh nghĩa thục và nhất là Đông Du đã nhanh ch ón g lan rộ ng , gây ảnh hưởng lớn trong quần chúng nhân dân, công cuộc "cải c ác h " giáo dục của thực dân Pháp k h ô n g thu được kết quả mong m u ố n và kh ô n g đạt được ý đồ là lợi dụn g giáo dục phong kiến để phục vụ c ô n g cuôc thực dân hoá Đăc biệt, dưứi tác động cùa chiến tranh th ế giới lần thứ nhất, nhận thấy cái học kh oa cử lạc hậu
đó kh ông thể tiến hà n h mãi được và để nh ằm xoá bỏ ảnh hưởng của tầng lớp sĩ phu yêu nước trong xã hội, thực dân Pháp buộc phải ra quyết định bãi bỏ hẳ n việc học chữ Hán ở trường học và bãi bỏ hẳn
ch ế độ kh oa cử (ở Bắc kỳ vào năm 1915 ở Tru ng Kỳ vào năm 1918)
Từ đây, nền g iáo dụ c cũ chính thức c h ấ m dứt sự tồn tại của mình và thay vào đó là m ộ t nền giáo dục mới Thực chất của nền giáo dục đó
đã được Phan Bội Châu vạch rõ: "Từ nãm 1920, sau khi bỏ lối học khoa cử rồi, n h ữ n g người hơi hiểu biết trong ch ú n g tôi đều nghển cổ chờ xem nén gi áo dục mới minh mong moi th ế nào K hông ngờ, nền giáo dục mới mà người Pháp đem ra thi hành, làm cho c h ú n s tôi thât vọng vô cùng Bơi vì cái gọi là nền giáo dục mới chỉ làm cho người Việt N am trở th à n h những cơn trâu, con ngựa cực kỳ n s o a n ngoãn,
Trang 21nhưng tên nô lệ m ắ t mù, tai điếc, ch àn tay tê liệt m à thôi Đ á n g thương biết ch ừ n g nào!" r 10 ; 5 2 8 ] "Trẻ em sáu tuổi mới cho vào trường, đọc sác h g iá o kh o a đã là quên kh ấy mình là người Việt N a m rồi" [10;529] Đó là mộ t nến giáo dục hủ bại, nô dịch, n h ằ m phục vụ cho ý đồ bành tr ư ớ n g và tăng thê m ảnh h ưở ng của Ph áp đối với nhân dân ta, đi đến thu p h ụ c dân tộc Việt N am, b iến người Việt N a m thành những kẻ chỉ b iết p h ụ c tùng K hô ng thể n h ư t h ế được ! Trước yêu cầu sống còn của dân tộc và xu hướng phát triển của thời đại, cần phải nhanh ch óng m ở m a n g dân trí, chấn hưng dân khí, vun tr ổng nh ân tài
Chính tình hình thự c tiễn nà y đ ã giúp cho Ph a n Bội C h á u nh ận thức
rõ hơn sức m ạ n h c ủa con ngươi, con người có trí thức; vai trò và vị tí của giáo dục, đ à o tạo đối với sinh mện h của đất nước; tính năng động, sáng tạo c ủ a c on người trong suy n g h ĩ và hành độ n g ; ông nhận thức rõ p h ả i p h à n kh á n g ch ổ n g lại nhưng chính sách vãn hoá - giáo đục - tư tưởng t h â m độc đ ầy thít tính cùa thực dân P h á p nh ằ m nô dịch vĩnh viễn V i ệ t N a m
V ề tình hình tôn giáo, từ cuối thế kỷ XIX, bước san g đầu th ế kỷ
XX, tình hình tôn g iá o Việt N am có những vận động, biến c h u y é n to lớn Đó là hệ q u ả tất yếu của những thay đổi của tình hình kinh tế chính trị và n h ữ n g ch ín h sách cai trị thâm độc của thực dân Pháp Trước hết phải n h ắ c đến chính sách của thực dân Ph áp lợi d ụ n g tôn giáo để xâm lược nước ta và sau đó tiếp tục sử d ụ n g tôn giáo làm công cụ để duy trì á c h th ố n g trị đó
Tuy nhiên, đời số n g tôn giáo còn có nh ữn g vận đ ộ n g khác Cuối thế kỷ XIX xuất hiệ n một loạt các phong trào yêu nước dưới màu sắc tôn giáo huyền bí, n h ư ph o n g trào Phật giá o Bửu Sơn Kỳ H ươ n s , phong trào T h iê n Đ ia hội, đã nò ra liên tiếp kh iế n cho thực dân Pháp
lo sợ, đối phó
Trang 22Sang t h ế kỷ X X, có sự xuất hiện của chấn hưng Phật giáo, của
“hiện tượng tôn g iá o m ớ i ” N ăm 1926, đạo Cao Đài ra đời Tiếp ngay sau đó năm 1939, p h ậ t giáo Hoà Hảo cũng đã được hình thành và phát triển9 rất nhanh R ồ i hàn g chục các “ ống đ ạ o ” ra đời Điều đó phản ánh nhu cầu củ a n h â n dân về đời sống tinh thần, mà các tổn giáo mới phần nào đền bù, đ á p ứng được những mong mỏi của họ
Thời kỳ này, hệ thố n g “Tam giáo du n g t h ô n g ” đang bị uy hiếp, suy thoái, các tôn g iá o cũ và mới khác có mặt tại Việt N am đều có những vận đ ộ n g th a y đổi thích ứng với tình hình mới Nho giáo suy yếu, mất vị trí c h ín h th ố n g độc tôn của nó, trong khi Phật s iá o mất sự trợ sức củ a cu n g đ ìn h , cù ng các tệ nạn kéo theo cũng đang có nguy cư mất tín đồ Đ ứ n g trướ c hiện thực ấy, nh ữn g người đứng đầu Phật giáo
đã kêu gọi c hấ n h ư n g Phật giáo trên toàn quốc Còn có hiện tượng muốn ch ấn hưng K h ổ n g giáo
Phong trào c h ấ n hưng Phật giáo những năm 30 và 40 diễn ra khá phức tạp, m ộ t m ặ t do sự nhúng tay của thực dân Pháp, một mạt
do các trí thức phậ t tử m u ố n canh tân tôn giáo truyèn thống, một mặt
là nh ữn g người yêu nước mu ốn tiếp tục sử dụ n g phong trào Phật giáo
để cứu nước Tuy có nhiều sự chi phối giăng co, song phong trào cũng đạt được mộ t s ố kết quả tích cực
Cũng trong giai đoạn này, Thiên chúa giáo trở thành vân đề bức xúc Đ ạo Th iên c h u á truyền vào nước ta từ thé kỷ XVII, quá trình truyền đạo vào nước ta rất đặc biệt, nó gắn liền với quá trình xâm chiếm và thôn tính nước ta của thực dân Pháp Đến cuối thế kỷ XIX đáu the kỷ XX lịch sử truyền đạo Thiên c h ú a trong sự liên quan liên đới với th ế lực thực dà n thực sự trở thành vấn đề thời sự n ó n s bỏno trở thành đối tượng củ a cuộc đấu tranh về mặt ý thức hệ tôn s iá o ẩn sâu trong ph o n g trào đấu tranh chốnR thực dân Pháp của dân tộc
Trang 23Khác với giai đo ạn trước, lúc này cùng với tính chất mới của
phong trào đ ấ u tr a n h giải p h ó n g dân tộc cuộc đấu tranh tư tưởng giữa
duy vật và d u y tâ m , vô thần và hữu thần diễn ra gay gắt, nó không thể
hiện ở ' m ặ t tư tư ởn g m à nó còn gắn với vấn đề ph ong hoá và chủ
quy ền của dâ n tộc Cuộc đấu tranh đó sẽ là mảng chính tr o n s bức
tranh sinh h o ạ t tôn giáo Việt N am giai đoạn này và về sau này Vì
thế, vừa ph ản á n h sá t thực tiễn tư tưởng của Phan Bội Châu về tôn
giáo ch iếm m ộ t vị trí qu an trọng trong việc xây dựng đ ư ờ n s lối cứu
nước của ông, vưa đ á p ưng phần nào yêu cầu thực tiễn đó
hội Việt N am.
Sự tác đ ộ n g đ ồ n g thời của hai phương thức sản xuất, cùng với
việc thực thi n h ữ n g ch ín h sách vê kinh tế, chính trị và văn hoá, giáo
dục của thực dân P h á p đã làm cho cơ cấu, vai trò của các giai cấp
trong xã hội V iệt N a m có sự phân hoá, biến đổi phức tạp, tạo ra một
bộ mặt xã hội mớ i - xã hội thuộc địa nửa phát triển
Giai cấ p địa chu bị phân hoá thành các bộ phận khác nhau Đại
bộ phận giai cấ p nà y đi vào con đường thoả hiệp, đầu h à n s thực dân
Pháp và để d u y trì, bảo vệ quyền lợi ích kỷ của mình, họ đã liên
minh, cấu kết với thực dân Pháp để đàn áp, bóc lột nhân dân ta ngày
càng th ậ m tệ hơn "Sự cấu kết giữa hai lực lượng thực dân và p h o n s
kiến đã tạo ra m ộ t lực cản hết sức lớn đối với sự phát triển của xã hội,
nó kìm h ãm cá c yế u tố mới" [114:151] Bộ phận còn lại có thái độ bất
hợp tác với thực dân Pháp, qu ay lưng với thực tế, bi qu an trước thời
cuộc, sốn g ẩn dật Tu y nhiên, c ũ n s có một số người trong bộ phận
này, do ho àn c ả n h bãt buộc, phai ra làm quan nh ưn g là để chờ thời,
che mắt kẻ địch Đ ày là lớp người có tinh thần yêu nước, chịu c h u n e
số phận với nỗi k h ổ nh ụ c của nhân dân, n h ư n s họ bất lực
Trang 24T ầng lop s ĩ p h u , mặc dù họ bị tác độn g bởi các chính sách giáo
due của thực dân P h á p , nhưng gần cuối t h ế kỷ XIX, họ vẫn đ ứ n s hàng đầu trong "tứ d â n " Trước diễn biến phức tạp của thời cuộc, đặc biệt
từ sau phong trào Cần Vương thất bại cho đến khi x uấ t hiện phong trào cách m ạ n g do giai cấp vô sản lãnh đạo Lửa H ươ n g Sơn vừa tắt thì đã nổi lên n h ữ n g cuộc vận động Duy Tân, Đ ô n g Du, Đ ô n s kinh nghĩa thục, Q u a n g Ph ục , những phong trào bạo động , nh ữn g hội kín - tất cả đều do các sĩ p hu duy tân yêu nước tổ chức và lã nh đạo Chính
họ đã góp phần tích cực vào việc thức tỉnh tinh thần yêu nước của dân tộc T h ô n g qua h oạt độ n g thực tiễn và bàn g sự nhạy c ả m của mình, tầng lớp sĩ phu y ê u nước tiến bộ đã nhìn thấy sự hạn c h ế bất lực của
hệ tư tưởng p h o n g kiế n trong việc giải qu y ết vấn đề giải ph ón g dân tộc, họ đã biết k ế th ừ a nh ữn g tinh hoa tru yề n th ố n g c ủ a dân tộc, hãm
hở tiếp xúc với n h ữ n ơ trào lưu tư tưởng dân chủ tư sản mới qu a "Tãn thư", "Tân vãn" và q u a hình mẫu của các xã hội T r ư n g Quốc, Nhật Bản, Pháp "Họ đã bề n hỉ kiên trì để đưa nh ữn g tư t ư ở n s mới me này đến cho nhàn dân T u y có những hạn c h ế về lịch sử n h ư n g họ thực sự
là những ch iếc cầu nối cho sự chuvển đổi tìm h ư ớ n s đi lên của dân tộc" [52;34] Họ có vị trí xứng đánơ t r o n g sự phát t r i ê n tư tưởng của
d à n t ộc, c h u y ể n t ừ p h ạ m t rù ý t h ứ c hệ t r u y ề n t h ố n s Sciru ý t h ư c hệ có
Trang 25tính chất dân c h ủ tư sản M ộ t trong n h ữ n g ngườ i tiêu biểu cho tầng lớp này chính là Ph an Bội Châu.
N ô n g d ân là th à n h phần chiếm đại đa số tro n g xã hội, chiếm
:9
khoảng 90% dân số tro n g cả nước Trên cơ sở biến đổi của quá trinh kinh tế - xã hội, giai cấp nô n g dân ng ày c à n g đi s â u vào con đ ư ờ n s bần cùng vì sưu cao, th u ế nặng Giai cấp n ô n g dân bị bọn đ ế quốc và phong kiến áp bức bó c lột nặ ng nế và gán h chịu mọi thảm hoạ của
ch ế độ thực dân p h o n g kiến, đời sống củ a họ n e à y cà n g điêu đứng Bọn thực dân c ù n g với bè lũ quan lại bù n h ìn đã d ù n g n h ữ n s chính sách đầy thủ đo ạn n h ằ m xiết chặt ách th ố n g trị, cướp đoạt rưộng đất, tăng th u ế cũ, đặt t h u ế mới, đàn áp dã m an n h ữ n g người c h ố n g đối Nông dân sống tr o n g cả nh lầm than rên xiết, m ộ t cổ hai tr òng và hai tầng áp bức Họ là mộ t lực lượng hùn g hậu m a n g tr ong minh truyền thống quật cườn g bất khuất của dân tộc và là chủ lực quân của các cuộc cách mạng , n h ư n g do thiếu sự đẫn đư ờ ng củ a hệ tư tưởng tiên tiến, phong trào đề u lần lượt thất bại N h ư n g họ k h ô n g có khả năn g lãnh đạo cách m ạ n g , bởi vì họ khôn g đại diệ n cho mộ t phươ ng thức sản xuất tiên tiến Lực lượng hùn g hậu này chỉ trở th à n h đội qu ân chủ lực đô ng đảo củ a c ác h mạ ng và tìm ra án h s á n g soi đườn g cho mình
đi đến thắ ng lợi khi được đặt dưới sự lãnh đạo của Đ ả n g Cộ ng sản
"Có đi với giai cấ p côflg nhân thì nô ng dân mới trở thà nh một lực lượng vĩ đại" [ 2 9 ; 2 5 ]
Bôn canh các giai cấp đại diên tiêu bi ểu ch o xã hội Việt Nam truyền thống thì n h ữ n g giai cấp mới được nẩy sinh từ p h ư ơ n s thức sản xuất tư bản chủ n s h ĩ a nh ư vô sản và tư sản c ũ n g dần dần được hình thành, phát triển và ch o tới k h o ả n g cuối n h ữ n g n ă m 20 của thế kỷ
XX, các giai cấp đó mới đủ độ trưởng th à n h để bước lên vũ đài chính trị oiành qu y ề n lãnh đạo Cách mạng Việt N am
Trang 26Giai cấp t ư sản V iệ t N a m hình thành sau giai cấp công nhân và
phân hoá thà nh ha i bộ phận: tư san mại bản và tư sản dân tộc Giai cấp tư sản Việ t N a m trước chiến tranh th ế giới thứ nhất mới chỉ là một tầng lớp n hỏ bé Sau chiến tranh th ế giới lần thứ nhất (1914 - 1918), từ một tầ n g lớp xã hội mới, họ đã c h u y ể n thà nh một giai cấp
xã hội và bắt đầu bước lên vũ đài chính trị, g óp phần mình vào p h o n s trào đấu tranh c ủ a dâ n tộc Nhưng, do địa vị kinh tế của giai cấp tư sản Việt N a m bi ch èn ép, rất nhỏ bé và thấp kém so với tư bản nước ngoài, cũng n h ư so với hệ thố ng sản xuất của xã hội thực dân phong kiến đương thời, nên thái độ chính trị của giai cấp tư sản Việt N am rất bạc nhược Đ ầu t h ế kỷ XX, họ kh ôn g đủ sức nắm lấy ngọn cờ lãnh đạo cuộc đấu tranh giải ph ón g dân tộc
Giai cấp cô n g nhân Việt N a m ra đời sớm tr o n s thời kỳ thực dân
Pháp khai thác th u ộ c địa lần thứ nhất Nó là sản phẩm của nền kinh tế thuộc địa - tư b ản Pháp N h ưn g lúc này, giai cấp công nhân Việt Nam chưa đủ độ tr ưởng thành để tự giác nhận n h iệ m vụ của lịch sử giao phó, còn là giai cấp "tự nó" Sở dĩ như vậy là vì giai cấp cống nhân Việt N am tuy đã ra đời, nhưng còn ờ trong giai đoạn "tự phát", chưa tìm thấy được ánh s áng của chủ nghĩa M ác - Lênin, chưa thấy rõ được
sự khác biệt củ a giai cấp mình, chưa thấy được rằng minh có nhữnơ quyền lợi khác với nhữnơ giai cấp khác, chưa thấy rõ sứ mệnh vẻ vang của minh, c hưa thấy rõ ban chất bóc lột của nhà tư bản
Từ nh ữn g điều kiện thực tiễn trên đã giải thích một phần nào lý
do vì sao Phan Bội C hâu lại chọn nhà Nho là người đi đầu
Sau ch iến tranh th ế giới lần thứ nhất (1 9 1 4 - 1918) dưới tác động cùa thời kỳ khai thác thuộc địa lần thứ hai và đạc biệt, dưới ảnh hưởng của các h m ạ n s tháng mười Nga, p h o n s trào cô n g nhân đd có bước phát triển mới Cuộc bãi công của cô n g nhân Ba Son í 1925) là điểm đánh dấu khởi đáu cho quá trình phát triển mới đó Từ đâ>, cuộc
Trang 27đấu tranh của giai cấ p cô n g nh ân Việt N am bước đầu đi vào đấu tranh
tư giác và c ù n g với tiến trình phát triển của nó, yếu tố tự giắc ngày càng dần dần tă n g tiến Cho đến cuối năm 1928 đau n ăm 1929, nó đòi hỏi phải có m ộ t Đ ả n g Cộ ng sản để tổ chức và lãnh đạo p h o n s trào cách mạng Việt N a m N g ày 3 tháng 2 năm 1930, Đản g Cộng sản Việt Nam ra đời là bước ng o ặt vĩ đại trong lịch sử cách m ạ n g Việt Nam
Từ đây, cách m ạ n g Việ t N a m thuộc qu yền lãnh đạo tuyệt đối của giai cấp công nhân V iệt N am , mà đội tiên phon g của nó là Đảng Cộng sản Việt Nam Từ đâ y, giai cấp cô n g nhân Việt N a m mới nắm vững n s ọ n
cờ lãnh đạo c ách m ạ n g Việt N a m đi đến thắng lợi Và cũng từ đây, giai cấp công n h â n Việt N a m mới chuyển từ giai cấp "tự nó" thành giai cấp "vì nó" và "cho nó"
Dưới tác đ ộ n g của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, tầng
lớp tiểu tư sản V iệ t N a m cũng bắt đầu xuất hiện và từng bước trưởng
thành Họ bao g ồ m các thị dân, thợ thủ công và giới học sinh, sinh viên, trí thức số n g c h t yếu ở' thành thị Cùng với quá trình mư rộng các thành ph ần k in h tế tư bản chủ nghĩa, tầng lớp tiểu tư sản ngày càng đông và p h â n hoá thành hai thái cực: một bộ ph ận trở nên siàu
có, trở thành cá c n h à tư bản kinh doanh trong các ng à n h nghề khác nhau và có địa vị tr on g xã hội; một bộ phận kh ác thì bị bần cùng hoá,
bị phá sản có xu h ướ n g gia nhập vào h à n s n s ữ giai cấp c ô n s nhân Trí thức, học si nh và sinh viên là bộ phận năng đ ộ n s nhất trong tầ n s lớp tiểu tư sản Họ ch ín h là những người tiếp thu và truyền bá tư tưởng tiến bộ sau nà y vào trong nhân dân
Như vậy, ở tr ong thời kỳ này, cơ cấu giai cấp của xã hội Việt Nam có nhiều biế n đ ộ n g phức tạp nhưng chưa đạt đến mức làm thav đổi căn ban cơ cấu xã hội cổ truyền Tuy các lực lượng xã hội mới đã xuất hiện v à t ừ n s bước t r ư ở ạ g t h a n h CÙIỊƠ với s ự xuất hiện c u a phươns thức sản x uất mới, nhưng lực lượn s xã hội mới này ch 1 là
Trang 28thiểu số và n ắ m tr o n g tay mộ t cơ sở k inh tế rất nhỏ bé N ô n g dân vẫn
là lực lượng đ ô n g đ ảo nhất, nh ưn g giờ đây họ lại phải gánh chịu th êm
mộ tầng áp bức bó c lột mới cực kỳ dã man và tàn bạo của thực dân Pháp; họ bị thực dan Pháp giam hãm trong cảnh ng h è o đói và lạc hậu Tương ứng với cơ cấu giai cấp phức tạp đó, kiến trúc thượng tầng của
xã hội cũng k h ô n g ké m phần phức tạp - bao gồm n h iề u hệ tư tưởnẹ khác nhau Tinh h ìn h đó đa ảnh hưởng k h ô n g nhỏ đến tư tưởng củ a Phan Bội Châu
1.1.2.Biên c h u y ể n của tỉnh hình t h ế giới tác độn g vào Việt Nam.
Cuối t h ế kỷ X IX đầu th ế kỷ XX, chủ n g h ĩa tư bản c h u y ể n q u a một giai đo ạn mới - giai đoạn chủ n g h ĩa đ ế quốc Các nước đ ế quốc
đã tiến hành x â m lược các quốc gia và dân tộc nhỏ yếu khác Các
"chính quốc" đàn áp, bóc lột một cách tàn bạo các dân tộc thuộc đia
Do vậy, cuộc đấu tranh giải phó ng dân tộc phát triển mạn h mẽ Vấn
đề dân tộc đã trở th à n h vấn đề có liên qu an đến nh iều nước, thành vấn
đề đấu tranh giải p h ó n g của các dân tộc thu ộc địa c h ỏ n g chủ ny hĩa đ ế quốc Phong trào đấ u tranh giải phóng dân tộc ngày c à n ° gắn chặt với phong trào đấu tr a n h của giai cấp c ô n g nhân Cũng ch ín h trong bối cảnh đó, các trào lưu tư tưởng phương Tây có điều k iện xâm nhập, tác động một c ách m ạ n h mẽ đến các nước phươ ng Đông
Cuối th ế kỷ X IX , đầu th ế kỷ XX, với thắ ng lợi cua cô n g cuộc Duy Tân, Nhật Bản đã trở thánh một c ư ờ n ,T quốc Đặc biệt, việc Nhật B,m đại thắng tr o n g cu ộc chiến tranh với N ga (1 9 0 4 - 1905) đã làm cho ảnh hưởng củ a N h ật Ban gia tăng m ạ n h mẽ đối với nước ta T r o n2 [úc cách mạng Việ t N a m đang kh ủ n g h o ả n s về đ ườ n g lối thì tấm gương của Nhật Bản có sức thu hút m ạ n h mẽ đối với sự suy n ghĩ của các sĩ phu yêu nướ c, tiến bộ lúc bấy giờ K h ô n s phải ng ẫu nhiên mà Phan Bội Châu đã ch ọ n hướnơ Đ ô n s du (đi Nhật Ban) đế cầu viện, xem xét, học hỏi và hi vọng tìm t h ấ y con đườn g cứu nước Phan Bội
Trang 29Châu viết: "Trận N g a - Nhạt chiến tranh mà Nhật đại thắ ng thật có chỗ hay cho c h ú n g tôi rất lớn Trong óc c h ú n g tôi đến đây có một th ế giới mới lạ m ở ra" [10; 171] Các tư tưởng cải cách Nhậ t Bản có ít nhiều ảnh hưừng đ ế n tư tưởng triết học và tôn giáo của Phan Bội Chãu.
Ở Trưng Q u ố c , sau chiến tranh T ru n g - Nhật (1895 ), cu ộc đấu
tranh của nhân dâ n T ru n g Quốc tiến lên mộ t bước mới; tầng lớp sĩ phu tiến bộ và tần g lớp trí thức tư sản m ạ n h dạn đòi cải cách Sự kiện
"Mậu Tuất ch ính biến " (18 98) và cùng với "Tân thư", "Tân văn" mang
tư tưởng tư sản và văn minh phương Tây (th ố n g qua sác h báo Trung Quốc) tràn vào nước ta gây nên những ph ân hoá về tư tưởng ở ‘trong nước; chúng tạo đi ều kiện thuận lợi cho ph o n g trào D uy Tân của các
sĩ phu yêu nước tiến bộ ở đầu th ế kỷ XX Đ án h giá về sự ảnh hưởng tích cực của nh ữn g sự kiện trên, Phan Bội Châu viết: "Nếu mà không
có cuộc ch ánh b iến nước Tàu (1898), cùng cuộc N g a - Nhật chiến tranh (1904), sách mới Khương Lương tru yề n sang, thì giấc mộnsí bát
cổ của sĩ phu ta, e đến ngày nay cũng chưa nguôi" [ 1 7 ; 4 3 2 ]
Năm 1911, cu ộ c cách mạng Tân Hợi ở T ru n g Q u ố c thành c ố n s
và nước Trung H oa dân quốc ra đời đã làm cho "Châu á thức tỉnh" và nhân dân ta vô c ù n g phấn khỏi Sự kiện này đã có tác dụng tích cực đối với sự tiến triển trong tư tưởng, tình c ảm của Phan Bội Châu trên con đường hướn g tới dân chủ tư sản và tạo điều kiện th u ậ n lợi cho sự
ra đời của Việt N a m Q u a n g Phục hội (1912)
Sau bao lần thất bại trên con đường hoạt độn g c á c h m ạ n s Phan Bội Châu làm vào tình trạng b ế tắng về mặt tư tưởng Chín h giữa lúc
đó, thắng lợi của c ác h m ạ n g tháng Mười N ga đã đ e m lại cho Phan Bội Châu một luồng sinh khí mới và một niềm tin vào con đường giành độc lập cho dân tộc T h ắ n g lợi của cách m ạ n g th á n g Mười đã lam cho điều kiện lịch sử và tương quan lực lượng trên t h ế 2 ĨỚĨ thav đỏi Bọn
Trang 30đ ế quốc và các t h ế lực ph ản đ ộ n s k h ố n g thể làm mưa làm gió như trước được nữa " C u ộ c đấu tranh giải ph óng dân tộc ở châu Á mặc dùcòn phải trải q u a m ộ t thời kỳ đầy khó kh ăn nhưng n h ữ n s tiền đề lịch
về tư tưởng của m ì n h và một con đường cứu nước giải phóng dân tộc
Ba năm sau c á c h m ạ n g th á n g Mười (19 20 ), N g u y ễ n Ái Quốc đã bắt gặp "Sơ thảo lần th ứ nhấ t nh ữn g luận cương về vấn đề dân tộc và vấn
đề thuộc địa" c ủ a L ê n in - bắt gặp cái cẩm nang cần thiết cho dàn tộc, tìm thấy con đ ườ n g giải phóng cho dân tộc N ãm 1925, Người về Quảng Châu tích cực tru yề n bá chủ ng hĩa M ác - Lênin vào Việt Nam Tuy chưa được g ặ p trực tiếp, nhưng Phan Bội Châu đã có sự tiếp xúc gián tiếp, lúc này ô n g chịu ảnh hưởng của chủ ng hĩa M á c - Lênin và
có ý định cải tổ V iệ t N a m Q uang phục hội thà nh tổ chức Việt Nam Quốc dân Đ ả n g c h o phù hợp với xu th ế c ách mạ ng mới Chưa kịp thực hiện thì th án ơ 6/ 1 9 2 5 trẽn đường từ Hàn g Châu về Quảng Châu, đến ga Bắc T h ư ợ n g Hải, ông bị thực dân Pháp bất cóc giải về Việt Nam Chún g đ ịn h x ử án nặng nhưng làn sóng đấu tranh của nhân dân phản đối C h ú n g b u ộ c phải giảm án, giam lỏng ông ở Huê
T ầ n ẹ lớp trí thức T â y học cũng có sự phân hoá thành hai xu
hướns: xu hư ớ ng hợ p tác với Pháp theo chủ ng hĩa Pháp - Việt đề huề
và xu hướng c h ố n g Ph áp theo rư tưởng cách m ạ s dân tộc Dưới ảnh hưởng của ph o n g trào c h ố n g Pháp, của cách m ạ n e th á n g mười Nga,của cách m ạ n g T r u n s Q u ố c và với hoạt đ ộ n s của Nguyễn Ái Quốc, một số người ch ân c h ín h đầy nhiệt huyết tr o n s tầng lớp nàv đã được Nguyễ n Ái Q u ố c g iác ngộ chủ nghĩa Mác - Lênin Họ ch ín h là những
Trang 31người góp phần tr u y ề n bá chủ nghĩa M ác - Lênin vào trong quần
chú ng và đưa p h o n g trào yêu nước lên một trình độ mới cao hơn về
chất
Tất cả nh ữn g tình hình trên đây đã dội vào Việt N a m và ảnh
hưởng sâu sắc đế n sự hình thành, phát triển tư tưởng triết học, chinh
trị của Phan Bội Châu
k ỷ X X
Dưới tác động của điểu kiện kinh tế, xã hội ở Việt Nam đầu thế kỷ
XX, đời sống tư tưởng có sự biến đổi phức tạp và phân hoá sâu sắc thành ba
nhóm cơ bản như sau:
Nhóm tư tMỞng bảo thủ trì trệ: Những người thuộc nhóm này từ chối
mọi sự đổi mới, khư khư giữ lấy nhtfng lề thói cũ Họ muốn giữ nguyên các
nguyên lý, mệnh đề đã từns làm cốt lõi của hệ tư tưởng phong kiến lạc hậu
Trước thực tế sôi động, họ đã mất khả năng thích ứng, co lại, từ chối mọi
vận động, biến đổi, trở nên bảo thủ, phản động Trong số đó, có người
muốn giữ nguyên tư tưởng chuvên chế cũ, duy trì tất cả những gì cổ xưa,
"trung thành" một cách mù quáng với mọi giáo lý, tín điều của Nho giáo
bất chấp hiện thực đang biến đổi Chủ nghĩa thực dân Pháp mang danh
nghĩa truyền bá tư tưởng dân chủ tư sản, nhưng do xuất phát từ quyền lợi
ích kỷ, duy trì và phát triển các tôn siáo cũ và mới, nhằm kìm hâm nhân
dân trong vòng ngu dốt, mất khả nãns đề kháns, mất khả năng nhận thức
chân lý Đây là những lực cản trở sự phát triển tư tương dãn tộc, ngăn cản
tat ca nhữns gì đổi mới, tiến bộ
Nhóm tư tưởng nô dịch mất gốc: Không đứns vững trước nhũng cám
dỗ thấp hèn và hoảnơ sợ trước sức mạnh của kẻ thù, một số nsười đã trở nên
vong ân, bội nshĩa, căt đứt quá khứ vẻ vang của dân tộc, n s ậ m miệng, cú:
đầu cam tàm làm nô lệ cho thực dan Pháp và sùng bái p h ư ơ r a Ta\ một cách
Trang 32mừ quáne Tư tưởng của nhóm này là một trong những chướng ngại đối với
sợ phát triển tư tưởng của dân tộc
Nhóm tư tưởng tiến bộ: Tiếp nối truyền thống Iquât cường của dân
tộc, tầng lớp sĩ phu yêu nước duy tân đã đứng ra đảm nhận sứ mệnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam nhằm giành lại độc lập cho dân tộc và canh tân đất nước Mọi tâm huyết của họ lúc bấy giờ đều tâp trung vào việc giải quyết vấn đề đó Họ vượt qua nhũn? hạn chế của giai cấp phong kiến - thành phần xuất thân của họ, bất chấp mọi khó khăn, hiểm nguy, dũng cảm chống lại các lực lượng ngãn cản sự phát triển tư tưởng của dân tộc Cũng chính họ là ngưữi thu nhận và truyền bá tư tưởng có tính chất dân chủ tư sản vào trong nhân dân, góp phần đưa trình độ nhận thức của dân tộc chuyển biến va phát triển lên một bước mới
Xuất phát từ một mục đích chung là cứu nước, giải phóng dân tộc và canh tân đất nước, tầng lớp sĩ phu yêu nước Việt Nam hồi đầu thế kỷ XX được lịch sử trao cho nhiệm vụ lãnh đạo cách mạng Việt N a m trong khi chờ đợi giai cấp công nhân Việt Nam đủ độ trưởng thành để bước lên vũ đài chính trị Nhưng do hạn chế của thời đại, của giai cấp phong kiến mà họ xuất thân, cũng như do hạn chế cua bản thân của mỗi người nên ở họ có sự phân hoá thành hai xu hướng khác nhau: bạo động và cải cách, cùng với hai cách thức tiến hành khác nhau để cùng đi đến mục đích chung
Xu hướng thứ nhất, đoàn kết nhân dàn đoàn kết đấu tranh, đánh đuổi thực dân Pháp, rồi tiến hành canh tân xã hội Phan Bội Chàu là nsười đứns đầu xu hướng này
Xu hướng thứ hai, đoàn kết nhân dân canh tân, dân chủ hoá xã hội, dựa vào Pháp đánh đổ vua quan phong kiến, noi theo phươns Tây đến khi
có thực lực thì mới hành động giành độc lập dân tộc Phan Châu Trinh là người đại diện tiêu biểu cho xu hướng này
"Sự khác nhau giữa Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh thực ra khốns phải là sự bất đồng có thể chia tách một người cộng hoà với một người quân chủ Điều chia tách hai người và làm cho con đường đi của ho khuc nhau
Trang 33khống phai là quan niệm về mục đích cuối cùng, mà là về các phươnc pháp
phải dùng để đạt đến mục đích đó" [6;33]
Hai xu hướng này cùng song song tồn tại và phát triển irons sự tác
động qua lại lẫn nhau, tao thành một cao trào yêu nước chống Pháp trong
những nãm đầu Ihế kỷ XX, đánh dấu một sự chuyển biến quan trọns trong
lịch sử tư tưởng Việt Nam Do xuất phát từ một mục tiêu chung là chủ
nghĩa yêu nước là cứu nước giải phóng dân tộc và canh tân đất nước nên cả
hai xu hướng này thẩm thấu vào nhau theo những mức độ khác nhau trong
Tiến trình tư tưởng của Phan Bội Châu đều có nội dung cua cả hai khuynh
hướng Cội nguồn tư tưởng của ông chính là chủ nghĩa yêu nước Việt Nam
truyền thống được nâng cấp, phát triển lên nhờ tiếp nhận các tinh hoa văn
hoá Đồng - Tây trong điều kiện có thể của mình Điều này chúng ta sẽ tiếp
tục phân tích ở trong chương 2, chương 3
1.2 Tiền đề lý luận của tư tưởng triết học và tôn giáo ở Phan Bội
Châu.
Cháu vê triết học và tôn giáo
Chúng ta điều biết ràng Phan Bội Châu xuất thân từ một gia đinh Nho
giáo và bản thân ông của là nhà Nho Điều kiện gia đình và bản thân như
vậy chắc chắn đã có ảnh hưởng nhất định tới nhãn quan của ône đối với các
vấn đề triết học, tôn giáo và tình hình tôn eiáo trong hiện thực Xét theo
lôgic thì đã có ý kiến cho rằng ảnh hưởng này chỉ có thể là loại ảnh hưởng
tiêu cực Bởi lẽ ho nhận xét một phía bề ngoài Nho giáo và nhà Nho thường
nhìn nhận các triết thuyết, các tôn giáo khác với con mất kỳ thị Đối với nhà
Nho thì chỉ có đạo Khổng - Mạnh mới là "chính đạo", còn tất cả những đạo
khác chỉ là “tà thuyết” , "tà giáo" Hơn nữa, Phan Bội Châu lại sinh trưởng ở
một vùng quê vốn là một trong những nơi diễn ra phong trao "Binh Tây, sát
tà" khá quyết liệt hồi cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX Thế nhưng, khi trực
Trang 34tiếp lãnh đạo phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân ta, ngay từ những năm đầu thế kỷ XX, Phan Bội Châu đã vượt ra khỏi khuôn khổ triết Nho, vượt lên kỳ thị học thuyết, sớm xướng lẽn ngọn cờ đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo.
Phan Bội Châu sinh năm 1867, tại Đan Nhiễm, Nam Đàn, Nshệ An trong mộr gía đình Nho nghèo thanh bạch, sớm có chí thương dân cứu quốc
Ông bắt đầu hoạt động yêu nước từ rất sớm Năm 9 tuổi, ông đã biết chơi
trò "bình Tây" N ăm 17 tuổi ông viết hich "Bình Tây thu Bắc" và nám 19 tuổi ông lại lập ra "hội thiếu sinh quân" để đánh Pháp, nhưng chưa kịp hành động thì bị thực dân Pháp phát hiện và giải tán Sau những thất bại đầu tiên này Phan Bội Châu chuyên tâm vào học hành làm chỗ bay nhảy mải sau, mặt khác thì thời gian dùi mài kinh sử cũng chính là lúc ông có dịp nghiền ngẫm về nguyên nhãn mất nước, về nguyên nhân thất bại của các phong trào kháng chiến trước đó và về kế sách cứu nước sau này Có lẽ đây chính
là thời gian mà ông nhận thức được thực chất vai trò của tri thức, giá trị của học thuyết phương Đông, của con đường cứu nướ, trước hết là vấn đề đoàn kết dân tộc, đoàn kết các tôn giáo lại với nhau vì mục tiêu giái phóng dân tộc
Năm 1900, Phan Bội Châu đỏ giải nguyên tại khoa thi hương Trường Nghệ, tháng 9 năm đó thân phụ ông qua đời, thế là ông vừa "có cái hư danh
để che mắt đời” , vừa nhẹ gánh gia đình để dấn thân vào con đường cứu nước như một nhà cách mạnơ thực thụ Đây cũng là thời gian bước nsoặt dan đến những tư tưởng về triết học và tôn giáo của ôns Theo kế hoạch trù tính cùng với Đặn<i Thái Thân và mạt số người khác, trước hết ông thực hiện nhiều chuyến đi khảo sát tình hình đất nước ta và ngầm kết giao lực lượng hào kiệt bốn phương để mưu đại sự, cùng một muc tiêu là tìm cách cứu nước cứu dân, đã gặp gỡ các đồns sự có đức tin tôn siáo và họ eiao kết thần tình vú' nhau
Trang 35Từ nãm 1901 đến 1904, ông đã ra Bắc, đến tận khu căn cứ Yên Thế
để tiếp xúc với nghĩa quân Đề Thám; vào Nam đi khắp Lục tỉnh, tới tận cả vùng núi Thất Sem gặp các nhà yêu nước của Bửu Sơn Kỳ H ư ơ n s đang tu hành ẩn dật Ông còn lặn lội lên cả vùng Thượng Du kết giao với anh hung sơn lâm, hào kiệt; Ông cũng xin vào học ở trường Giám (Huế) đế ngầm liên lạc với các nhân sĩ yêu nước trong giới quan lại ở kinh thành Chính trong lúc quảng g:ao đó mà ông đã có dịp tiếp xúc với nhân sĩ nhiều tôn giáo, tiếp xúc với nhiều giáo dân, được biết đến những mặt tích cực và hạn chế đang tồn tại trong các học thuyết, các tôn giáo khác n h a u Dường như ông
đã hiểu được tình cảnh, tâm tư và đặc biệt là tấm lòng yêu nước nồng nàn của họ Sau này, sau những lần tiếp xúc với đồng bào Công giáo, ông thấy được vấn đề mấu chốt của đoàn kết dân tộc là đoàn kết tôn giáo mà cụ thể
là xoá bỏ sự ngăn cách giữa lương và giáo
Sau này ông kể lại một trong những lần tiếp xúc đáng ghi nhớ nhất của ông như sau: "Tôi từ biệt ông Tiểu La (Nguyễn Hàm) chạy hết các địa phương thầm kết giáo đồ từ Quảng Bình trở ra Bắc Cụ Thông ở Mô Vinh,
cụ Truyền ở Mỹ Dụ, cụ Thông ở Quỳnh Lưu, cụ Ngọc ở Ba Đồn thảy sơ thông được tình tố hết cái đám mây mù nghi ngờ nhau vì lương giáo, quét một trận mà sạch bong, đó cũng là một việc thích lắm Việc này Ngô Quảng thật là một người phụng hành rất có công [23; 127] Ngav sau đó dường như ông đã đặt vấn đề công giáo vận" trons việc xây dựns lực lương cách mạng và thuyết phục các đồng sự rồi giao cho Ngô Quảng - một người cùng chí hướng với mình thực h iệ n
Sau những sự kiện đó, thirc hiện chủ trươns của Duy Tân Hội, đầu năm 1905 ông cùng với Tãng Bạt Hổ sang Nhật cầu nsoại viện Trên đường
đi từ Nghệ An ra Hải Phòng, có một số đồng chí đưa tiễn và giúp đỡ ông Trons lần bí mật xuất dương này, ông đã nhận được sự siúp đỡ nhiệt tìnhcủa đồns bào giáo dân Ở các vùng ông di qua và nhiều 2 Íáo dán đã cho con
em tham gia vào phong trào Đông Du, nhiều người đã thực sự là hạt nhân
Trang 36của phong trào Rõ ràng tư tưởng của Phan Bội Châu đã xâm nhập được vào quần chúng nhân dân biến thành một phong trào chống Pháp duy tân trong
vùng có giáo dán.
Sau này trên đường hoạt động thực tiễn cứu nước, ông còn được nhiều lần chứng kiến, kiểm nghiệm nhiệt tình yêu nước của đồng bào giáo dân Nhivỉu giáo dân đã tích cực tham gia các phong trào yêu nước của Phan Bội Châu, trong đó tiêu biểu là: Đậu Quang Lĩnh, Chánh Biểu, Lê Xuân Khánh, Nguyễn Thận Đồng đặc biệt là Mai Lão Bạng, một đổng chí Đông Du xuất sắc
Bên cạnh đó, vào những năm đầu thế kỷ XX, các hoạt động chính trị,
xã hội và tôn giáo ở Việt Nam diễn ra khá sôi nổi Một mặt, các phong trào này dựa trên cơ sở của tư tưởng triết học và tín ngưỡng truyền thống sẵn có, một mặt chúng được sự chế biến gia thêm các yếu tố tư tưởng triết học phương Tây mới tiếp nhận được, một mặt dựa trên cơ sở của sự phân hoá giai cấp và lình hình chính trị mới Chính điều đó tạo nên các cục diện xã hội vô cùng phức tạp của thời thế Phan Bội Châu đã nhận thức được những biến chuyển của thực tiễn và của tư tưởng xã hội Đồng thời ông nhìn thấy được sự cần thiết nhận thức lại vấn đề triết học và tôn giáo của truyền thống đang trở thành vấn đề phức tạp nhất trong xã hội Việt Nam Thực vậy, ngoài sự trỗi dậy của các triết thuyết truyền thống trong sự va chạm với triết học phương Tây, trong giai đoạn này còn có sự ra đời của "hiện tượng có tính chất tôn giáo mới" đã thê hiện nhu cầu về đời sốns tinh thần của nhân dân, đòi giải phóng và Phan Bội Châu đã sớm nhận ra điều đó
Nhung điều này cũng phản ánh nhũng mâu thuẫn nội tại sâu sắc trong lòng chế độ thực dân phong kiến Đó cũng chính là do hệ quả của những chính sách bóc lột và đàn áp dã man, cùng những chiêu bài sử dụng tôn giáo, lợi d ụns tôn giáo vào mục đích chính trị nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chia rẽ nhãn dân với cách mans Để thực hiện âm mưu đó, chúng khôns từ một thủ đoạn nào từ dùng bã học thuật cũ mới, phố? hợp
Trang 37với chiêu bài tôn giáo cũ, mới để mê hoặc ngu dản tới việc đàn áp dã man
mọi sự kháng cư Với chính sách ấy, chúng muốn dân ta không ngóc đầu lên đươc, muốn dân ta mãi ìàm trâu ngựa cho chúng
Phan Bội Châu đã nói về thực trạng đó: "Chính phủ Pháp nhân thấy dùng vũ lực chinh phục không phải là thượng sách, nên mới mượn tôn giáo, thờ di tương Giêsu Cris và cây thánh giá làm trò rối, để ngầm thi hành chính sách tiêu diệt nòi giống người ta Đó là phép màu nhiệm nhất của nước Pháp chính phục Việt Nam, lại được nhà tôn giáo giúp cho thành công" [10,525]
Phan Bội Châu đã sớm thấy âm mưu dùng tôn eiáo để nô dịch dân ta của thực dân Pháp quỷ quyệt đến nỗi chảng những lợi d"ng Thiên chúa giáo
mà còn lợi dụng cả Phật siáo và các tôn giáo mới nữa
Trong Tạp Kí ô n s chỉ rõ: "Người Pháp bảo vệ ta, nhiều chùa chiền ở hương thôn được họ cấp bạc tiền để sửa sang lại, chúng làm như thế thật là khốn khéo vì hiểm độc Một là theo lòng ham thích của con nơười, hai là làm cho con người ta càne thêm ngu" [8; 155]
Điều đó dẫn tới hiện tượng "họp người cả nước lại mà thờ phụnơ, làm chùa, nuôi sư, in kinh, xây tháp, đắp chuông, khác tượng " [8; 153], làm cho dân ta mải mê việc thờ cúng, thoả sức bù đắp nhu cầu đền bù hư ảo bằng tín ngưỡng của mình mà quên đi mục tiêu đấu tranh gianh độc lập cho đất nước mình
Qua hoạt động thực tiễn, bên cạnh việc tố cáo sự lợi dụns tôn giáo của thực dân Pháp, Phan Bội Châu còn phê phán cả bản thân các tôn giáo với các sinh hoạt tôn giáo mê tín, dị đoan ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt độns cách mạng của nhân dân mình
Phan Bội Châu còn cho răng: "Các đạo giáo ấy không phải sinh từ nước ta mà các điều tệ hại của nó thì lại do nước ta mà sinh ra" [8; 164], Nó làm cho con người bị nô dịch, chỉ biết thở dài trước đau khổ, trái tim rviuội
Trang 38lanh, ũnh thần tê liệt trong xã hội âm thầm nhẫn nhục Đó là "cái chết
lòng", đánh mất mình, đánh mất quốc hồn, quốc tuý; làm mất đi một phần
lực lương cách mạng, thâm chí một số tín đồ bị nô dịch như vậy sẽ là lực
lượng cản trở, chống phá cách mạng
Tóm lại: Với tinh thán "tự nhiệm" của một con người yêu nước
thương nòi, Phan Bội Châu nhân thấy phải thức tỉnh nhân dân đang đắm
đuối, động viên lực lượng, kêu gọi “hồn nước” từ nhiều hướng, mà trước hết
là sự mạnh dạn phê phán các mặt hạn chế của Nho giáo như sự tự mãn: “nội
hạ ngoại di” , “hậu cổ bạc kj m ” , “trọng vương khinh bá”, mục đích là từ
phê phán cái cũ đưa đến tư tưởng giải phóng con người ra khỏi sự trói buộc
của Nho giáo, tôn giáo và các mặt trái của chúng Ông phê phán sự lợi dụng
tôn giáo theo ý đồ chính trị của bon thực dân Pháp Có thể nói rằng trong
quá trình hoạt động cách mạng của minh, ông rất chú trọng về mặt nhận
thức nâng cao tư tưởng của nhân dân Vì muốn thức tỉnh và lôi cuốn họ
hướng vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc thì cần phải giảng ơiải cho
thật dễ hiểu, phu hợp với nhận thức của họ về con đường cần phải đi Do
vậy, bước đầu Phan Bội Châu đã thành công với những quan điểm tiến bộ
về triết học và tôn giáo của mình
N a m ph ả n átih tr ong tư tưởng Ph a n Bội C h â u t ể triết hue và tôn giáo.
Trải qua mấy nghìn năm đấu trdnh dựng và giữ nước, dân tộc Việĩ
Nam đã hình thành nên tư tưởng về triết học và tôn giáo của mình Đó
chinh là sự kết tinh của quá trình hoạt động thực tiễn của cả dân tộc cùng
chung sức, chung lòng, nhằm giải quyet những nhiệm vụ do cuộc sốns đề
ra Tư tưởng triết học và tôn giáo Việt Nam, dù được nảy sinh trên cơ sờ
bản địa, hay là được k ế thừa từ ngoài vào, tất cả đều trải qua một quá trinh
vận động và phát triển ở Việt Nam, đều bị thực tiễn lịch sử Việt Nam chi
phối, nên không thế không mang nhũng nét đặc trưng, khác biệt
Trang 39Phản ánh sát đặc điểm vận động lịch sử của Việt N am thuộc về phàm trù vận động của phương thức sản xuất châu Á, trước hết, tư tưởng triết học
và tôn giáo Việt N a m có đặc điểm chưa trở thành một hệ thống kiểu như triết học phương Tây Ở Việt Nam chưa hội đủ điều kiện để xuất hiện các trường phá triết học riêng biệt, các nhà triết học như ở phương Tãy, chưa có các tác phẩm triết học chuyên biệt, mà phần lớn các tư tưởng triết học và tôn giáo được thể hiện trong dạng “Vãn-Sử-Triết bất phân” , ở Việt Nam, chưa có các học thuyết lý luận sử dụní hệ thống các khái niệm, pha'n trù riêng, mà có sự tiếp nhận tổng hợp Nho - Phật - Lão, uốn nắn các khái niệm, phạm trù của triết học Trung Quốc và Ân Độ cho phù hợp với thực tiễn Việt Nam Tuy nhiên, đáng chú ý là trong quá trình sử dung chúng, các nhà tư tưởng Việt N am đã tái cấu trúc, sắp xếp lại khiến nội dung của chúng, ít nhiều có sự thay đổi so với cách hiểu Ư Trung Quốc, Ân Độ, nhằm đáp ứng yêu cầu khách quan của thực tiễn Việt Nam Những nội dung đó đều được “cải tạo lại” trèn cơ sở của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam và được binh dân hoá trong tục ngữ, ca dao, truyện cổ tích, thần thoại
Nhìn chung biểu hiện trons lịch sử tư tưởng triết học, tôn giáo người Việt Nam không quá câu chấp chủ nghĩa duy vật hay chủ nghĩa duy tãm Trong lý giải các vấn đề đó không có nhu cầu phân chia thành trận tuyến rõ rệt Nói chung trong di sản trí tuệ dân gian và cả trong di sản trí tuệ bác học
xu hướng tư tưởng có tính duy vật và quan điểm có xu hướng vô thần chỉ xuất hiện trên từnơ vần đề, từng điểm cụ thể, còn có ở trinh độ kinh nghiệm, trực quan mà chưa thành lý luận có hệ thốns chặt chẽ Nhìn chuns, luôn có cách giải thích về vấn đề triết học và tôn giáo thiếu nhất quán, luôn tổn tại mâu thuẫn trong bản thân thế giới quan của mỗi "trườnơ phái", thậm chí tron.2 mỗi nhà tư tưởng Cho nên ở tư tưởng về triết học và tôn giáo củaw w • wPhan Bội Châu cũng có hiện tượng có quan điểm, có yếu tố được xem la duy vạt, là xét ở những nét cơ bản, chứ đi vào từng quan điếm cụ thể thì ở điểm này là duy vật, nhưng ở khía cạnh khác lại là duy tâm, ở c h i nay thi
Trang 40chống lai quan niệm duy tâm nhưng ở khía cạnh khác thì lại chấp nhận cách nhìn nhân đó Xã hội nông nghiệp không có điều kiện phát triển, khoa học tự nhiên và xã hội không xuất hiện như một hoạt động chuyên ngành riêng biệt là nguyên nhân của tinh trạng trên Đặc điểm này thể hiện rõ trong tư tưởng về triết học và tôn giáo ở Phan Bội Chãu, còn ở dạns tổng hợp nguyên thể, chưa qua phân ngành chi tiết, khoa học.
Khi tìm hiểu láp trường duy vật hoặc duy tâm trong tư tưởng của ông khi đề cập về vấn đề triết học và tôn giáo trong tính nguyên sơ tổng hợp, có thể thấy lúc thì ông thể hiện điều đó không dứt khoát trong việc giải quyết mối quan hệ giữa tâm và vật, giữa linh hồn và thể xác, siữa lý và khí Có lúc lập trường thiếu triệt để đó còn thể hiện trong việc giải thích nguyên nhân và nguồn gốc tạo nên những sự kiện lịch sử cơ bán của đất nước, xã hội và con người, như an nguy của quốc gia dân tộc, trị loạn của xã hội, hưng vong của các triều đại, vấn đề sỏ mệnh và bản tính của con người, vấn
đề đạo trời và đạo người, nói chung là nó không được đúc kết, trình bày thành hệ thòng chặt chẽ mà còn ở dạns tư tưởng hỗn hợp Văn - Sư - Triết bất phân, miễn là nhằm mục tiêu hướng tới việc xây dựng con đường gia' phóng dân tộc
Xét đến cùng các quan niệm Phan Bội Châu chưa thể vượt khỏi ràng buộc của quan niệm mang tính duy tâm có nguồn gốc từ dung thốns "Tam giáo" vứi tín ngưỡng dân gian cổ truyền, dù rằng ông có tiếp nhận nhữns tư tưởng mới trong Tân thư, Tán văn Nhà Nho Phan Bội Châu có chỗ còn thừa nhàn có "Thiên mệnh" (mệnh trời) Có khi, ông cho rằns, trời sinh ra con người và vạn vật; mỗi neười có một mệnh gọi là “mệnh trời” ; con người phải sợ và làm theo mệnh trời Một chỗ khác ông lại cho rằng, tư tưởng của con người cỏ hai phần: "thiên lý" (đạo đức phong kiến) và "nhân dục" (nhu cầu con người); giữa hai cái đó, nếu "thiên lý" thắng thi xã hội trị, còn
"nhân dục" thắng thì xã hội loạn Do đó, để xã hội trị dươc thì phải "tiếtdục" (hạn ch ế lòng m o n s muốn) và "tri túc" (biết đủ), ỏ đay còn dấu vết