Tại kỳ họp thứ III của ủ y ban pháp luật thuộc Ban thư ký SEV, khái niệm ĐTTTNN được ghi nhận như sau: "trong các Hiệp định đã được ký kết giữa các nước xã hội chủ nghĩa với nước ngoài v
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VÃN
======*b»0"óv======
DỀ TÀI MỈIIIÍỈN c ứ t IỈIIOA IIỌC
CẤP ĐẠI HỌ C Q U Ố C GIA
QUÁ K H Ứ -H IỆ N TẠI-TƯƠNG LAI
M Ã SỐ: QX - 99 - 05
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VÃN
= = === = û0«Ã==== = =
l)i? TÀI NGHIÊN CỨU KIIOA IIỌC
CẤP ĐẠI HỌC QUỐC GIA
QUÁ KHỨ - HIỆN TẠI - TƯƠNG LAI
MÃ SỚ: QX - 99 - «5
Cán bộ phối hợp nghiên cứu :
Trang 3BẢNG KÝ HIỆU VIẾT TẮT
có hiệu lực chỉiỉỉg
Trang 4MỤC LỤC
P H Ẩ N M Ở Đ Ầ U
1 Sự Cần thiết thực hiện đề t à i 6
2 Tinh hình nghiên cứu 6
3 Mục đích và phạm vi nghiên cứu 7
4 Cơ sở lý luận và phương pháp luận nghiên cứu 7
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 8
6 Kết cấu đề tài 8
N Ộ I D Ư N G C H ÍN H CHƯƠNG I - vế KHÁI NIỆM "Đnu TƯ NƯỚC NGOÀI" vn MỘT s ố KHÁI NIỆM Cơ BẢN KHÁC TRONG PHÁP IUỘT ĐÂU TƯ TRƯC TI€P NƯỚC N G O À I TỌI V l ệ T N Í Ì M 9
1.1 S ự HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRlỂN k h á i n i ệ m "ĐẤU t ư NƯỚC NGOÀI” 9
1.1.1 Nhận xét chung về "Đầu tu nước n g o à i" 9
1.1.2 Quan niệm của các nước trên thê giới về "Đầu tư nước ngoài" 12
1.1.3 Quan niệm của Việt Nam về "Đầu tư nước n goài" 18
1.2 S ự HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIEN KHÁI NIỆM "DOANH NGHIỆP LIÊN DOANH" 24
1.3 S ự HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIÊN KHÁI NIỆM "NHÀ ĐẤU T Ư " 29
1.4 S ự HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIEN m ộ t s ố KHÁI NIỆM K H ÁC 33
1.4.1 Họp đồng B O T 33
l 4.1.1 Khái niệm cơ b ả n 33
1.4.1.2 Một số vấn dề pháp luật Việt Nam về các dự án đầu tư theo hình thức Hợp dồng Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao (BOT) tại Việt N a m 7 ^36
1.4.2 Khu chếxuất, Khu công nghiệp, Khu công nghệ cao 45
1.4.2.1 Khu chế xuâì 45
1.4.2.2 Khu côníi nehiệp 53
1.4.2.3 Khu còng nghệ cao 55
1.4.3 Họp đồng hợp tác kinh doanh .58
Trang 5CHƯƠNG 2: TổN G ỌUHN vế ỌUIÍ TRÌNH HÌNH THÀNH vn PHÁT TRL6N
Cơ SỞ IV LUẬN vn THỰC TI€N V€ pháp LUỘT đ ầ u Tư n ư ớ c n g o à i
TRỰC Tlẽp TỌI VlêTNRM 60
2.1 S ự HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIEN p h á p l u ậ t đ ầ u t ư t r ự c t i ế p NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TRƯỚC NĂM 1988 60
2.2 GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 1988 ĐẾN NĂM 1996 63
2.2.1 Từ 1988 đến hết tháng 6 năm 1990 63
2.2.2 Từ tháng 7 nãm 1990 đến hết năm 199 2 66
2.2.3 Từ cuối nãm 1992 đến năm 1996 69
2.3 GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 1996 ĐẾN NAY 72
CHƯƠNG 3: LUẬT ĐÂU Tư NƯỚC NGOÀI TẠI V lậ NflM NĂM 1996, LUẬT sửn DỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ Diếu củn LUẬT ĐÂU Tư NƯỚC NGOÀI TẠI VlệT um NĂM 2000 vn MỘT SỐ VỐN Đế IV LUỘN, THỰC TI€N DỘT Rfì CÂN X Ử I V 87
3.1 S ự CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT ĐAU T ư NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM NĂM 1996 VÀ NỘI DUNG c ơ BẢN CỦA LUẬT ĐÓ 87
3.1.1.Sự cần thiết ban hành Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996 87
3.1.2 Nội dung cơ bản của Luật đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam n ã m l 9 9 6 90
3.2 LUẬT SỬA ĐỔI, Bổ SUNG MỘT s ố ĐlỂU CỦA LUẬT ĐẤU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM NĂM 2000 97
3.2.1 Sự cần thiết ban hành Luật đầu tư nước ngoài sửa đổi năm 2 0 0 0 98
3.2.2 Những sửa đổi, bổ sung Luật đầu tư nước n g o à i 99
3.2.2.1 Về các ưu đãi liên quan địa bàn đầu tư nước n g o à i 99
3.2.2.2 Về nguyên tắc nhất trí trong Hội đồng quản trị của doanh nehiệp liên doanh 100
3.2.2.3 Về việc chuyển đối hình thức doanh ng h iệp 100
3.2.2.4 Về biện pháp dám bảo đầu tư nước ngoài khi có thay đổi của pháp luật 101
3.2.2.5 Về quyền sỉrdụnt> nuoại t ệ 101
3.2.2.6 Về việc chuyển nhượng v ố n 103
3.22.1 Về việc mở tài khoản ở ngân hàng nước nszoài 103
3.2.2.8 Về t h u ế 101
Trang 63.2.2.9 Về quyền hạn và nghĩa vụ tài s ả n 105
3.2.2.10 Về chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp 106
3.2.2.11 Về quản lý Nhà nước về đầu tư nước ngoài 108
3.3 MỘT SỐ VÂN ĐỂ LÝ LUẬN VÀ THựC TIEN m ớ i đ ặ t r a c ấ n x ử LÝ 110
3.3.1 Một số vấn đề lý luận 110
3.3.2 Một so vấn đề thực tiễn đặt ra cần xem x é t 118
CHƯƠNG 4: TIÊN TRÌNH - PHƯƠNG HƯỚNG - ÍỈIỆN PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐTTTNN TẠI V lậ NflM 122■ • •
4.1 ĐẨU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM TRONG TIẾN TRÌNH MỞ CỬA HỘI NHẬP 122
4.1.1 Nhìn lại quá trình hội nhập kinh te quốc tê của Việt Nam trong những nãm gần đ â y 122
4.1.2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam trong tiến trình hội n h ậ p 126
4.1.3 Quá trình mở cửa hội nhập từ 1986 đến 2000 132
4.1.3.1 Chính sách đổi mới, mở cửa đơn phương để hội nhập giai đoạn 1986-1990 132
4.1.3.2 Chính sách đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ quốc tế giai đoạn 1991-1995 133
4.1.3.3 Hội nhập thị trường khu vực và thị trường thế giới từ 1996-2000 136
4.2 PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐTTTNN TẠI VIỆT NAM 146
4.2.1 Mục tiêu đổi m ớ i 147
4.2.2 Hệ thống các quan điểm đổi m ớ i 149
4.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VỂ CÁC BIỆN PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐTTTNN TẠI VIỆT NAM 152
4.3.1 Nghiên cứu so sánh các biện pháp bảo đảm và khuyên khích ĐTTTNN trong luật ĐTNN của các nước NICs, Châu Á, ASEAN, Trung Quốc, Ân Đ ộ 1 ỈMỆ.Uy.u.i j.cL.hu±.i} 152
4.3.1.1 Các quy định liên quan đến quyền sở hữu 152
4.3.1.2 Các đảm bảo cơ bản dối vứi nhà dẩn t ư * 157
4.3.1.3 Các ưu tiên về bảo hộ dành cho nhà Đ T N N 159
4.3.1.4 Chuyển vốn, các khoản vay và lợi nhuận ra nước rmoài 165
4.3.1.5 Về thuế thu nhập doanh nghiệp 167
Trang 74.3.1.6 Miễn thuế và giảm thuế 170
4.3.1.7 Khấu trừ thu nhập chịu th u ế 176
4.3.2 Biện pháp hoàn thiện 178
4.3.2.1 Về vấn đề thu hút đầu tư của nước n g o à i 178
4.3.2.2 Các biện pháp đảm bảo việc đổi mới hoàn thiện pháp luật ĐTTTNN tại Việt N a m 184
K Ế T L U Ậ N 189
D A N H M Ụ C T À I L IỆ U T H A M K H Ả O 192
Trang 8PH ẦN M Ở ĐẦU
1 Sự Cần thiết thực hiện đề tài
Hoàn thiện hệ thống pháp luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam là một công việc mang tính thường xuyên và lâu dài Nó đòi hỏi chúng ta, những nhà làm luật cần có sự nghiên cứu sâu sắc tỉ mỉ các quy định pháp luật cũng như những tác động của nó đến đối tượng điều chỉnh, ở nhiều quốc gia đang phát triển, Đầu tư trực tiếp nước ngoài được xem như chiếc chìa khóa của sự tăng trưởng kinh tế
Đầu tư trực tiếp nước ngoài mặc dù là một vấn đề mang tính tất yếu khách quan của quá trình quốc tế hóa mọi mặt trong đời sống kinh tế, xã hội, song nó chỉ
có thể diễn ra với những điều kiện nhất định mà ở đó yêu cầu hoàn thiện về pháp luật có ý nghĩa quan trọng Kể từ khi Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987, chúng ta đã nhanh chóng thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà đầu tư và thu được những thành quả đáng khích lệ Việc thực hiện Luật này đã thúc đẩy nhịp độ và quy mô đầu tư ngày một tăng, chứng tỏ sự thành công của Nhà nước ta trong việc xây dựng hệ thống pháp luật nhầm khuyến khích và thu hút các dự án Đầu tư trực tiếp nước ngoài Cùng với tiến trình phát triển của lịch sử, việc Quốc hội ta ban hành Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996 và gần đây nhất Luật đầu tư nước ngoài tại Việt nam được sửa đổi bổ sung ngày 9/6/2000 đã xóa dần khoảng cách giữa Luật đầu tư nước ngoài và Luật đầu tư trong nước, tiến tới từng bước xác lập môi trường đầu tư thống nhất tại Việt Nam
Tuy nhiên, cho tới nay nhiều vấn đề, lý luận và thực tiễn về pháp luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam vẫn còn chưa được làm rõ, hàng loạt những vấn đề pháp lý phức tạp vẫn cần phải chờ thời gian giải quyết Tất cả những bức xúc dỏ đật
ra sự cần thiết nghiên cứu đề tài này
2 Tình hình nghiên cứu
Việc nghiên cứu pháp luật Đáu tư trực tiếp nước rmoài tại Việt Nam thời gian qua đã dược nhiều Luật gia và Kinh tế 2Ĩa quan tâm Một số công trình niíhiên cứu
Trang 9của GS TS Đào Trí ú c , TS Ngô Bá Thành, TS Hoàng Thế Liên, TS Hoàng Phước Hiệp, GS TS Lê Hồng Hạnh, TS Trần Ngọc Đường, TS Nguyễn Cửu Việt, GS Lưu Văn Đạt, TS Đoàn Năng, TS Hà Hùng Cường, đã đề cập tới các khía cạnh khác nhau của pháp luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam Những công trinh nghiên cứu đó đã góp phần vào việc làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt N a r \ ở nước ngoài, vấn đề lý luận và thực tiễn pháp luật Đầu tir trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam đã được một số giáo sư, luật gia ở CHLB Đức, Pháp, Thuỵ Điển, Hoa Kỳ, ú c , Nhật Bản nghiên cứu Tuy vậy, sự phân tích và đánh giá của họ về lý luận và thực tiễn pháp luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam chưa sâu sát và có những kết luận chưa thật chính xác, thoả đáng.
3 Mục đích và phạm vi nghiên cứu
Để tài có mục đích nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn về pháp luật Đầu tư trưc tiếp nước ngoài của Việt Nam Tuy vậy nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn về pháp luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam là cả một vấn dề phức tạp, nén trong khuôn khổ đề tài này tác giả chỉ tập trung nghiên cứu ba vấn đề cơ bản sau:
+ Phân tích và tổng hợp các quan điểm pháp luật và thực tiễn nước ngoài về Đầu tư trực tiếp nước ngoài; phân tích và đánh giá các quan điểm lý luận và thực tiễn của Việt Nam về Đầu tư trực tiếp nước qua tìmg thời kỳ;
+ Làm rõ khuynh hướng phát triển của pháp luật và thực tiễn Việt Nam về Đầu
tư tnrc tiếp nước ngoài trong điều kiện mới hiện nay của quan hệ quốc tế
+ Kiến nghị những phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về Đầu tư trực tiếp nước n«oài của Việt Nam trong điều kiện hội nhập khu vực và toàn cầu
4 Cơ sở lý luận và phương pháp ỉuận nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, tác giả đề tài đã dựa trên cơ sở lý luận của đề tài là Chủ nghĩa Mác - Lè nin, tư tưởno Hồ Chí Minh vé Nhà nước và Pháp luật, các luận diem của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác- Lê Nin vé chính sách kinh tế mới (NEP) Các vấn đề lý luận và thực tiễn được nghièn cứu trên cơ sở áp dụrm các phươne pháp
Trang 10duy vật biện chứng, duy vật lịch sử Những phương pháp nghiên cứu cụ thể như phân tích, so sánh, tổng hợp được sử dụng trong quá trình lý giải các vấn đề.
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Kết quả của đề tài có thể góp phần vào việc nâng cao nhận thức về vai trò của pháp luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, giúp các cán bộ hoạt động trong lĩnh vực này nâng cao năng lực quản lý và điều hành Tác giả đề tài hy vọng đóng góp một phần nhỏ vào việc nghiên cứu xác định cơ sờ khoa học trong việc xây dựng
dự án hoàn thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam Bản đề tài có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho cán bộ nghiên cứu pháp luật hay làm tư liệu để biên soạn giáo trình cho sinh viên
6 Kết câu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, đề tài này gồm 4 chương và danh mục tư liệu tham khảo
Trang 11CHƯƠNG 1
VỂ KHÁI NIỆM ĐẦU T ư NƯỚC NGOÀI VÀ MỘT s ố KHÁI NIỆM C ơ BẢN KHÁC TRONG PHÁP LUẬT ĐẦU Tư
TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
1.1 S ự HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN k h á i n i ệ m "ĐẨU t ư n ư ớ c NGOÀI"
1.1.1 Nhận xét chung về "Đầu tư nước ngoài"
Trong quá trình quốc tế hoá, việc xã hội hoá sản xuất và phân công lao động trên quy mô toàn cầu đã làm tăng thêm quan hệ nhiều m ịt, nhiều chiều, quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia, tạo nên những thay đổi lớn lao trong cục diện tình hình thế giới Đằng sau bức tranh toàn cảnh đó là sự tham gia của quá trình di chuyển tư bản từ nơi này sang nơi khác, ở phạm vi quốc gia và quốc tế, mặc dù ngay từ buổi ban đầu của nền sản xuất hàng hoá, tư bản đã được luận chuyển từ nước này sang nước khác dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng chưa bao giờ trong lịch sử, người ta lại chứng kiến một sự di chuyển mạnh mẽ của tư bản trên phạm vi toàn cầu với những tác động to lớn như ngày hôm nay
Nó có thể biến một nước nghèo nàn lạc hậu thành một nước công nghiệp phát triển, có thể làm cho một quốc gia độc lập trở nên bị phụ thuộc, tạo ra sự thay đổi
về truyền thống vãn hoá Quá trình luân chuyển tư bản như vậy thường được coi
là đầu tư quốc tế
Cùng với quá trình quốc tế hoá các hoạt động thương mại, Đầu tư nước ngoài dần dần trở thành một hiện tượng phổ biến của sự phát triển ở tất cả các quốc gia trên thế giới 0 phạm vi quốc tế, Đầu tư nước ngoài được thừa nhận như một loại hình hợp tác kinh tế quốc tế mà trong đó có sự di chuyển tư bản từ quốc gia này sang quốc gia khác dưới hai dạng chủ yếu là đầu tư gián tiếp (ĐTGT) và đầu tư trực tiếp (ĐTGT)
X ít về nôi dung, ĐTGT thường được hiện diện thông qua các hình thức vay
nợ, mua bán cổ phẩn quốc tế và hỗ trợ tài chính Các hoạt động đàu tư gián tiếp
Trang 12thông qua hỗ trợ phát triển cho một quốc gia như viện trợ không hoàn lại, tín dụng ưu đãi chủ yếu do các quốc gia và tổ chức quốc tê thực hiện.
Trong khi đó ĐTTT chủ yếu do các pháp nhân và thể nhân các nước tiến
hành Tuy nhiên, sự khác biệt về mặt chủ thể này không phải lúc nào cũng rõ ràng có thể dùng làm tiêu chí cho sự phân loại đầu tư trực tiếp, gián tiếp bởi vì cũng có trường hợp Nhà nước tham gia vào các hoạt động ĐTTT với tư cách là nhà đầu tư (xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng theo hợp đồng BOT, BTO,
BT v.v )
Trái lại, các hoạt động ĐTGT đôi khi do cá nhân hoặc pháp nhân thực hiện Chẳng hạn các công ty phát hành trái phiếu quốc tế hoặc cá nhân đầu tư qua thị trường chứng khoán quốc tế
ĐTTT là hiện tượng của nền kinh tế thị trường, do đó nó mang bản chất của một hoạt động kinh doanh Nói cách khác, nhà ĐTNN chỉ bỏ vốn đầu tư vào một nước khác khi họ tính toán được rằng: Việc bỏ vốn đầu tư vào nước đó sẽ an toàn
và mang lại lợi nhuận nhiều hơn lợi nhuận mà họ có thể thu được khi đầu tư vào nước khác Trong khi đó Đầu tư gián tiếp lại không giản đơn được coi là một hoạt động kinh doanh thuần tuý Quá trình di chuyển tư bản từ nước này sang nước khác được diễn ra dưới hình thức cho vay với lãi suất ưu đãi hoặc viện trợ trong nhiều trường hợp lại là những hoạt động không phải để nhằm tìm kiếm lợi nhuận trực tiếp từ vốn đầu tư Trong những trường hợp như vậy, ĐTGT được coi như một trong những phương tiện phục vụ các mục tiêu chính trị của quốc gia
Như vậy, dễ dàng nhận thấy rằng: ĐTGT chịu ảnh hưởng quyết định của các quan hệ ngoại giao và chính trị giữa các quốc gia, trong khi đó ĐTTT lại chịu
sự chi phối của nhửne quy luật kinh tế thị trường (Công thức chứa đựng các yếu
tố quan trọng thể hiện bản chất của đầu tư trực tiếp: Chi phí - Lãi suất - Thu nhập) Nói như vậy cũng không có nghĩa là ĐTGT hoàn toàn nằm ngoài sự chi phối của cơ chế thị trường và đầu tư trực tiếp cũng khône bị anh hưởng bới các quan hệ giữa các quốc gia Trong quá trình tồn tại, ĐTTT và ĐTGT khôns nhữnu phải chịu anh hưởng nhất định từ phía những yếu tố đặc trưng, mà còn phải chịu
Trang 13cả ảnh hưởng nhất định từ phía những yếu tô không đặc trưng, đôi khi những ảnh hưởng khiến cho các hoạt động đầu tư không thể diễn ra bình thường được.
Mặt khác, do ĐTGT thường được thực hiện dưới hình thức những hoạt động tín dụng (trừ trường hợp viện trợ không hoàn lại), nó luôn thách thức nước tiếp nhận đầu tư phải đối mật với nguy cơ trở thành con nợ của phía xuất khẩu đầu tư Trong khi đó, ĐTTT lại tạo ra những cơ sở vững chắc cho sản xuất kinh doanh trên lãnh thổ nước tiếp nhận đầu tư; do vậy nước chủ nhà không đối mật vơi nguy
cơ bị biến thành con nợ và không phải lo trả nợ
Một dấu hiệu khác nữa dễ nhận thấy và có thể coi là dấu hiệu đặc trưng cơ bản để phân biệt hai loại hình hoạt động đầu tư này là tính trực tiếp và tính gián tiếp của chúng ĐTTT được hiểu là việc trực tiếp đưa vốn vào nước khác để sản xuất kinh doanh và theo đó nhà đầu tư có trách nhiệm trực tiếp tham gia vào việc kinh doanh quản lý và sử dụng vốn đầu tư của mình Trong khi đó ĐTGT lại được đặc trưng bởi sự tách biệt gián đoạn giữa nhà đầu tư và vốn đầu tư Một trong những hình thức phổ biến của ĐTGT mà hiện nay đang có xu hướng ngày càng tãng đó là việc các nhà ĐTNN dùng vốn của mình mua cổ phiếu của doanh nghiệp ở nước ngoài theo những tỷ lệ cổ phần bị giới hạn ở mức không thể tham gia trực tiếp vào việc điều hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó ở giác độ đầu tư này, thật khó có thể dùng các tiêu chí đã trình bày ở trên để phân định đâu là ĐTTT, đâu là ĐTGT (bởi vì các yếu tố về mục đích, chủ thể hoàn toàn không có gì đặc biệt so với ĐTTT)
Dưới giác độ kinh tế, ĐTTT là một trong những hình thức của hợp tác kinh
tế quốc tế được đặc trưng bởi quá trình di chuyển tư bản giữa các quốc gia trên thế giới Mặc dù có nhiều khác biệt về quan niệm, nhưng nhìn chung ở tất cả các nước, đầu tư trực tiếp được hiểu như là một bộ phận của thương mại theo nghĩa
rộng của từ này mà ỡ đó có sự tách biệt ở tầm vĩ mô về chủ thể quan hệ nhưng lại
cố sự kết hợp ở tầm vi mô các chủ thể này trone việc sử dụng vốn và quản lý đối
tưựnq đầu tư theo những định hướng đựợc thỏa thuận trước Điều này có nehĩa, nếu xét về mặt chủ thể quan hệ thì ĐTTT bao giờ cũnỉí là một dạnn quan hệ kinh
tế có yếu tố nước ngoài Yếu tố nước ngoài ớ đây không chỉ phản ánh sự khác
Trang 14biệt về quốc tịch hoặc về lãnh thổ mà còn xác định tư bản trong ĐTTT được di chuyển có thể phải vượt ra ngoài tầm kiểm soát trực tiếp của một quốc gia.
Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở đây thì đầu tư trực tiếp cũng không khác mấy với các hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu hay các nghiệp vụ thương mại thông thường Trong đầu tư trực tiếp có một sự khác biệt cơ bản và nổi bật, đó là
sự kết hợp của các chủ thể khác nhau vào đối tựơng đầu tư đã thỏa thuận Mặc dù chủ thể tham gia vào hoạt động đầu tư được chia thành nhiều loại khác nhau nhưng các loại chủ thể này cùng thống nhất với nhau về hành động đầu tư đã được thỏa thuận
1.1.2 Quan niệm của các nước trên thế giới về "Đầu tư nước ngoài"
Cho tới nay vẫn chưa có khái niệm về ĐTNN được các luật gia và kinh tế các nước thống nhất sử dụng chung hoặc thừa nhận rộng rãi
Ở các nước phát triển như Anh, Mỹ, sách báo thường gắn thuật ngữ này với
khá nhiều khái niệm khác nhau thuộc kinh tê thị trường Chẳng hạn cuốn "Từ điển tiếng Anh kinh doanh" xuất bản đầu tiên năm 1982 tại London đã đưa ra 5
định nghĩa khác nhau về "Đầu tư" (investment) như sau:
+ Đó là việc đầu tư, việc dùng tiền bạc để nhận được thu nhập hoặc lợi
nhuận
+ Đó là tiền bạc được đầu tư
+ Đó là chứng khoán đặc biệt hoặc là loại chứng khoán, hoặc một vật khác
mà nhờ đó tiền bạc được đầu tư
+ Đó là vốn pháp định bao gồm các vật không sử dụng vào mục đích tiêu thụ ngay mà sỉr dụng để sản xuất ra hàng hóa tiêu dùng và các sản phẩm cơ bản khác
dựng các hiệp hội, Công ty, nhằm nhận được thu nhập từ lãi suất ngân hànehoặc lãi suất cổ phiếu hoặc lợi nhuận từ việc bán chứng khoán ước lệ'
1 X e m L o n g m a n D ictio n ary o f B usiness E nglish by J.H , A d a m L o n d o n , 1982, tr 256.
Trang 15Ngoài ra Từ điển trên còn nêu thêm 27 khái niệm có nội dung khác nhau gắn liền với khái niệm "Đầu tư" Chẳng hạn, khái niệm "Đầu tư nước ngoài" được hiểu đồng nghĩa với khái niệm "Đầu tư hải ngoại" tức là tiền bạc mà Chính phủ hoặc công dân của nước này dùng để dùng để đầu tư vào bất động sản hoặc
chứng khoán ở nước khác Khái niệm "đầu tư trong nước" được hiểu đổng nghĩa
với khái niệm :"đầu tư tư nhân", tức là toàn bộ các tài sản cơ bản mà tổ chức, cá nhân (không phải Chính phủ) mua và tất cả những thứ thuộc công sản (như các ngành công nghiệp bị quốc hữu hóa và các thiết chế công) Khái niệm "đầu tư tài chính" được hiểu đồng nghĩa với khái niệm "đầu tư cá nhân”, tức đầu tư theo yêu cầu làm giàu nhờ vào việc hùn vốn vào các công trình công cộng, phúc lợi chung
để có lợi nhuận Khái niệm "đầu tư công" được hiểu đồng nghĩa với khái niệm
"đầu tư của Chính phủ" tức là các khoản tiền mà Chính phủ đã chi cho đường xá, bệnh viện, nhà cửa mới, và các khoản chi của tư nhân cho các nhà cửa mới xây, tàu thuyền mới mua, các phương tiện đi lại và các hàng hóa chủ yếu trong xã hội nhưng không thuộc hàng hóa tiêu dùng Điều đáng chú ý là ở đây không có khái niệm ĐTTT hoặc ĐTGT mà ta thường dùng Khái niệm "Đầu tư gián tiếp” được hiểu trong một văn cảnh khác, thuộc vấn đề thị trường chứng khoán, được dùng
để chỉ tất cả những khoản đầu tư đầy đủ thuộc một nhà đầu tư hoặc do một tổ chức tài chính (như ngân hàng, quỹ hưu trí, Công ty bảo trợ đầu tư) nắm giữ
ơ Australia, khái niệm "đầu tư trực tiếp" và "đầu tư gián tiếp" được coi là hai bộ phận cơ bản cấu thành "đầu tư tài chính” Cách hiểu về "đầu tư tài chính" cũng tương tự cách hiểu ở Từ điển tiếng Anh kinh doanh nêu trên Ngoài ra, ở các nước công nghiệp phát triển, người ta còn sừ dụng thũật ngữ "đầu tư tập thể"
đe chỉ các dự án đầu tư khác nhau ở mức độ tập trung vốn loại vừa và lớn trong các lĩnh vực khác nhau nhằm đảm bảo "sự vận động tự do của tư bản", ớ các nước
xã hội chủ nghĩa cũng có những quan niệm khác nhau về đầu tư Chẳng hạn, ờ Liên xô trước đây Từ điển "Tiếng Nga" của giáo sư Ô-Xe-gôp định nehĩa "đầu
tư" là việc hùn vốn, góp phần vốn vào doanh nghiệp ở ngoài nước (cuốn Từ diên
này khônii nói đến các khái niệm, thuật ngữ khác kề cận với thuật nsữ "dầu tư"2)
2 • ~$ỸŨ x l C £ 'I I ~ C /ữ k r tp ( , C C fi~ su M ^ c tp Gt , /!■ / - U Ẵ 1 ( ' ( / ~)
Trang 16Tuy vậy "Từ điển bách khoa kinh tê công nghiệp và xây dựng" xuất bản tại
Moskva năm 1962 đã định nghĩa "đầu tư" là các chi phí cho việc thành lập những
vốn cơ bản mới, mở rộng và tái thiết những vốn cơ bản những vốn cơ bản hiện
có3 Từ điển bách khoa "kinh tế chính trị" xuất bản tại Moskva năm 1975 định
nghĩa đầu tư là "các chi phí phương tiện, vật chất, lao động và tiền tệ nhằm tái
xuất vốn cơ bản"4
Ớ Cộng hòa dân chủ Đức, các tài liệu sách báo về kinh tế và pháp lý đã đưa
ra định nghla:"đầu tư là các phương tiện (chẳng hạn: tài chính, vật liệu) nhất
định, cần thiết để đổi mới hoặc mở rộng vốn cơ bản trong các lĩnh vực kinh tế
quốc đân" hoặc là "tổng thể những chi phí vật liệu và tài chính trong toàn bộ các
ngành kinh tế quốc dân để tạo lập vốn cơ bản mới, thay vốn cơ bản đã chi, khấu
hao hết và mở rộng vốn cơ bản hiện có"5
Một sô nước xã hội chủ nghĩa khác cũng có các quan niệm tương tự như vậy
về đầu tư
Quan niệm về đầu tư tương tự được trình bày trong các tai liệu của Hội
đổng tương trợ kinh tế các nước xã hội chủ nghĩa Tại kỳ họp thứ III của ủ y ban
pháp luật thuộc Ban thư ký SEV, khái niệm ĐTTTNN được ghi nhận như sau:
"trong các Hiệp định đã được ký kết giữa các nước xã hội chủ nghĩa với nước
ngoài về khuyến khích và bảo hộ đầu tư, thuật ngữ, "đầu tư" ("góp vốn") được
hiểu là tất cả những loại giá trị vật chất mà nhà đầu tư đưa từ nước ký kết này
sang nước ký kết hữu quan theo pháp luật của nước sử dụng đầu tư"6
Các ciá trị vật chất đố có thể là bất động sản, động sản, tiền mặt và các cổ
phiếu, các hình thức tham gia cổ phần khác, các quyền của nguyên đơn đối với
các tài khoản dược góp để tạo ra các giá trị kinh tế hoặc quyền được kiện đối với
các dịch vụ có giá trị kinh tế, quyền tác giả, quyền đối với các sáng chế, cônơ
nghệ know - how, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa, các giá trị vật
chất khác được pháp luật cùa nước nhận đầu tư chấp nhận Một số Hiệp định còn
Trang 17quy định "đầu tư" bao gồm cả dấu hiệu dịch vụ, tên gọi của Công ty, tên hãng, tên gọi xuất xứ của sản phẩm, hàng hóa, "bí mật thương mại" và quyền hoạt động thương mại" quyền liên quan tới việc thăm dò, tìm kiếm khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên Khái niệm "đầu tư" không áp dụnc cho các quan
hệ pháp luật theo các hợp đồng mua bán ngoại thương truyền thống và các quyền không có giá trị tài sản"7
Qua phân tích ở trên chúng ta nhận thấy: đến nay các luật gia và kinh tế gia nước ngoài vẫn chưa có một quan niệm chung về ĐTTTNN được thừa nhận rộng rãi Việc nghiên cứu các quan niệm khác nhau và sách báo các nước đã giúp chúng ta nhìn nhận rõ hơn về các quan niệm các khuynh hướng cơ bản về định nghĩa ĐTTTNN Các quan niệm đó là:
+ Thứ nhất, ĐTTTNN là các tài sản khác nhau của tổ chức, cá nhân nước này ở nước khác Khuynh hướng định nghĩa phạm vi rất rộng các tài sản này thấy
rõ ở Luật hỗ trợ nước ngoài năm 1961 của Mỹ (Foreign Assistance Act, 1961)8, hoặc được thể hiện ở các Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư ký kết giữa các nước tư bản phát triển và các nước đang phát triển
+ Thứ hai, ĐTTTNN là sự vận động của dòng vốn, tư bản từ nước này sangnước khác với những điều kiện, mục đích nhất định Khuynh hướng định nghĩa rộng về dòng ĐTTTNN có thể thấy ở định nghĩa do Hiệp hội pháp luật quốc tế đề xuất9
4- Thứ ba, khuynh hướne định nghĩa ĐTTTNN với nội dung hẹp được nhiều nước đang phát triển sử dụng Nghiên cứu tài liệu, sách báo pháp luật các nước đang phát triển trong thời eian gần đây cho thấy, khái niệm ĐTTTNN ngày càn.2
được nhiều nước đang phát triển sử dụng để chỉ một nhóm tài sản của tổ chức, cá nhân nước này ớ nước khác hoặc để chỉ sự vận động của một số loại vốn nhất định từ nước này sane nước khác theo những điều kiện nhất định Khuynh hướng thu hẹp nội dung duợc thổ hiện rõ ở Hội thảo pháp lý quốc tế tại Pari - Pháp năm
s X e m Specific R is k Investm ent G u a ra n ty H a n d b o o k W a s h in g to n 1966, tr.44.
9 X e m L es in v e stisse m e n ts et le D év e lo p p e m e n t é c o n o m iq u e dcs pays du tiers n ionde, Paris 1%X
tr 157.
Trang 181967 về các vấn đề đầu tư, ở Hội thảo khu vực Châu Á - Thái Bình Dương tại Bắc Kinh năm 1985 về đầu tư và hợp doanh cũng như qua các văn bản pháp luật về ĐTNN được các nước đang phát triển công bố gần đây.
+ Ở Indonesia, theo Điều luật số 1 năm 1967 về ĐTNN của Indonesia thì
"đầu tư trong luật này chỉ có nghĩa là ĐTTT của người nước ngoài được thực hiện phù hợp với hoặc dựa trên các quy định của luật này nhằm mục đích thực hiện kinh doanh tại Indonesia với nhận thức rằng người chủ sở hữu vốn phải trực tiếp gánh chịu rủi ro của việc đầu tư" ĐTTT được xác định là việc chuyển vào Indonesia:
* Ngoại tệ không phải là đồng tiền của Indonesia, và với sự chấp thuận của Chính phủ được sử dụng để cấp vốn cho doanh nghiệp ở Indonesia
* Thiết bị cho doanh nghiệp kể cả quyền phát triển công nghệ và các nguyên liệu nhập khẩu vào Indonesia với điều kiện thiết bị nói trên không được thanh toán bằng ngoại tệ của Indonesia
* Phần lợi nhuận mà theo quy định của Luật này được phép chuyển ra nước ngoài nhưng lại được sử dụng để cấp vốn cho doanh nghiệp ở Indonesia
+ Nếu phân tích so sánh quan niệm của Indonesia, Trung Quốc và một số nước khác với Việt Nam về ĐTNN thì sẽ thấy khái niệm ĐTNN của Việt Nam
và Indonesia có khá nhiều điểm tương đồng và chỉ giới hạn trong phạm vi các hoạt động đầu tư trực tiếp, ở Luật ĐTNN của Trung Quốc hoặc Luật khuyên khích đầu tư của Thái Lan thì khái niệm ĐTNN lại bao hàm các nội dung khác Trong các văn bản pháp luật về ĐTNN ở Trung Quốc, thật khó có thể tìm ra được một điều khoản nào định nghĩa một cách rõ ràng về ĐTNN hay ĐTTT Theo pháp luật của Trung Quốc thì ĐTNN bao gồm cả các hoạt độne ĐTTT và ĐTGT,
có nghĩa là nó không chỉ bao gồm việc nhà ĐTNN trực tiếp đưa vốn của họ vào sản xuất kinh doanh tại Trung quốc, mà còn bao gồm cả các hoạt độne đầu tư khác như cho vay tín dụng, mua cổ phẩn các doanh nghiệp cùa Trunc Quốc mà trong đó nhà đầu tư không trực tiếp tham gia vào việc kinh doanh sử dụníĩ hoặc quản lý điều hành đối tượne mà họ đã bỏ vốn đầu tư
Trang 19Ở Thái Lan, trong Luật khuyến khích đầu tư, khái niệm ĐTTN lại khône hề được nhắc đến bởi nó chỉ là một bộ phận của các hoạt động đầu tư được Luật này điều chỉnh Các hoạt động đó có thể là đầu tư trong nước hoặc ĐTNN nhưng nó phải trực tiếp do nhà đầu tư tiến hành (hay nói cách khác, đó phải là các hoạt động ĐTTT nhưng không có sự phân biệt về quốc tịch của nhà đầu tư hay nguồn gốc của vốn đầu tư).
Rõ ràng các quan niệm ĐTNN của các quốc gia như thế nào là tùy thuộc rất nhiều vào các yếu tố khách quan và chủ quan khác nhau, đặc biệt tuỳ thuộc vào: quan niệm về tính kinh tế hoặc phi kinh tế của ĐTNN mà quốc gia đó theo đuổi trong những thời kỳ nhất định Nó phản ánh một trong những đặc điểm có tính chất chính trị - pháp lý - kinh tế của ĐTTT: ĐTTTNN dù đạt đến quy mô nào và
có vai trò to lớn tới đâu thì vẫn chỉ là một bộ phận của toàn bộ công cuộc đầu tư
và luôn được đặt trong những mối quan hệ qua lại biện chứng với các bộ phận khác Trong nền kinh tế, các hoạt động đầu tư ở các nước đang phát triển chủ yếu tồn tại dưới hai dạng chính sau:
+ Đầu tư trone nước bao gồm đầu tư Nhà nước và đẩu tư tư nhân trong nội
bộ quốc gia, không có yếu tố nước ngoài ở đây
+ ĐTNN bao gồm ĐTTT và ĐTGT với sự tham gia của dòng vốn quốc tế từ các nước đổ vào
Trong cơ cấu đầu tư này, ĐTTTNN không phải là một nội dune có thể chứa đựng tất cả các bộ phận khác hoặc bao trùm các vấn đề đầu tư nói chung Do vậy nên dù ĐTTT có tầm quan trọng thế nào đi nữa thì nó cũng không thể tách khỏi mối quan hệ gắn bó với các hoạt động đầu tư khác, không thể nằm ngoài sự quản
lý đầu tư ở tầm vĩ mô của Nhà nước
Xuất phát từ quan niệm của các quốc eia về mối quan hệ này được phản ánh trong các đạo luật về đầu tư, khái niệm ĐTTTNN có thể được phân định rạch ròi hoặc được đặt trons khái niệm chiins về đầu tư hao quát cho mọi hoạt độnỉi đầu
tư nói trên Nhưrm dẫu sao thì cũng phải thừa nhận I'ằntz mõi quốc 2Ía đều V thức
rõ vai trò của ĐTTTNN đối với nền kinh tế và có những sách lược riêng, giải pháp riêng để thu hút và quản lý nguồn vốn ĐTTTNN, mặc dù có thủ ĐTTT
Trang 20không được điều chỉnh ở những văn bản pháp luật riêng biệt hay định nghía một cách rõ ràng tách biệt.
1.1.3 Quan niệm của Việt Nam về "đầu tư nước ngoài"
Cũng như một số nước khác trong khu vực, Việt Nam bắt đầu chính sách
"mở cửa" từ một bước khởi đầu không mấy khả quan Là một nước nông nghiệp lạc hậu, nền kinh tế mang tính tự nhiên, tự cung tự cấp, chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh, lại trải qua hơn 30 năm thực hiện một chính sách kinh tế k ế hoạch tập trung quan liêu bao cấp, nên nhìn chung so với các nước, nước ta có nhiều khó khăn trong quá trình cạnh tranh thu hút dòng ĐTNN để phát triển kinh tế Việt Nam không có những lợi thế so sánh quốc tế, không giàu tài nguyên thiên nhiên như Indonesia để có thể dùng các thu nhập từ dầu lửa của mình xây dựng
cơ sở hạ tầng cần thiết cho sự phát triển Chúng ta cũng không có được sự trợ giúp về kinh tế từ các nước tư bản như Thái lan và Indonesia đã có trong thời gian qua Chúng ta cũng không có những lợi thế như Trung quốc với cộng đồng Hoa kiều hơn 20 triệu đang cư trú ở nước ngoài cũng như những mối liên hệ với Hồng Kông Ngược lại, Việt Nam đã phải trải qua một chặng đường dài chiến tranh gian khổ, đã từng một thời là mục tiêu của chính sách bao vây có lập kinh tế do các quốc gia thù địch tiến hành Việc thực thi chính sách kinh tế kế hoạch tập trung cho đến đầu những năm 1980 đã bộc lộ những hạn ch ế và sự không thích hợp với tiến trình phát triển của đất nước Trong bối cảnh đó, chúng ta phải tự tìm tòi cho mình một hướng đi mới, cách tư duy mới
Ngay sau ngày thống nhất đất nước, Việt Nam đã có những quan điểm cơ bản định hướng về sự điều chỉnh chính sách và cơ chế quản lý kinh tế nói chung, kinh tê đối ngoại nói riêng với những bước đi gắn liền với thực tiễn đất nước và nhữntí biên động của tình hình kinh tế thế giới khi xu thế quốc tế hóa đời sống kinh tế ngày càng tăng Báo cáo chính trị tại Đại hội IV của Đ ảrg ta năm 1976
dá nêu rõ "không n i ừng mớ rộng và hợp tác quốc tê trên các lĩnh vực kinh tế, khoa học kỹ thuật đẩy mạnh các hoạt động ncoại thươnu đó là đòi hỏi'khách quan của thời đại"10 Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương :”trong quan hệ hựp tác
10 X e m Báo cáo ch ín h trị tại Đại hội IV Đ ả n g C ộ n g sàn Việt N a m n ă m 1976
Trang 21kinh tế với các nước, cần tranh thủ vốn và kỹ thuật để tận dụng mọi khả năng tiềm tàng về tài nguyên và sức lao động của nước ta nham nhanh chóng đưa nước
ta lên trình độ tiên tiến của thế giới"11 Chủ trương cho nước ngoài, các nhà tư bản ở các nước tư bản phát triển đầu tư vào Việt Nam cũng nhằm mục đích nêu trên, góp phần vào việc thực hiện đường lối xây dựng nền kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa Ngày 18/4/1977, Thủ tướng Chính phủ đã ký Nghị định
sô 115-CP ban hành Điều lệ Đầu tư nước ngoài ở Việt Nam, Điều lệ Đầu tư 1977 hoan nghênh việc Đầu tư của tổ chức, cá nhân nước ngoài vào Việt Nam dưới các hình thức khác nhau, không phân biệt chế độ chính trị, kinh tế, xã hội Trong Điều lệ Đầu tư 1977, khái niệm ĐTTTNN được định nghĩa như sau: Được coi là đầu tư của nước ngoài ở Việt Nam, việc đưa vào sử dụng ở Việt Nam những tài sản và vốn sau đây nhằm xây dựng những cơ sở mới hoặc đổi mófi trang bị kỹ thuật, mở rộng các cơ sở hiện có:
+ Các loại thiết bị, máy móc, dụng cụ (gồm cả những thứ dùng cho việc thí nghiệm), phương tiện vận tải, vật tư kỹ thuật cần thiết cho mục đích nói trên
+ Các quyền sở hữu công nghiệp: bằng sáng chế phát minh, phương pháp công nghệ, bí mật kỹ thuật (know - how), nhãn hiệu chế tạo
+ Vốn bằng ngoại tệ hoặc vật tư có giá trị ngoại tệ, nếu phía Việt Nam xét thấy cần thiết
+ Vốn bằng ngoại tệ để chỉ lương cho nhân viên và công nhân làm việc ở các cơ sở hoặc tiến hành những dịch vụ theo quy định của Điều lệ này (điều 2)
Như vậy, theo Điều lệ đầu tư 1977 thì ĐTTTNN ở Việt Nam không phải là
sự vận động của bất cứ vốn (tư bản) nào từ nước ngoài vào Việt Nam với mục đích thành lập một xí nghiệp sản xuất hay doanh nghiệp dịch vụ như Hiệp hội pháp luật quốc tế quan niệm Căn cứ vào Điều lệ đầu tư 1977, sự vận động của vốn và tài sàn chỉ được coi là ĐTTTNN ở Viêt Nam, nếu có đủ hai điều kiện sau:
" X e m Báo cáo c h ín h trị tại Đại hội IV Đ à n g C ộ n g sàn Việt N a m n ă m 1976
Trang 22- Điều kiện thứ nhất, đưa vào sử dụng ở Việt Nam những tài sản và vốn đã
được quy định ở Điều 2 Điều lệ đầu tư 1977 Danh mục những tài sản và vốn này không được mở rộng một cách tùy tiện
- Điều kiện thứ hai, nhằm mục đích xây dựng cơ sở mới, hoặc đổi mới trang
bị kỹ thuật các cơ sở hiện có Cùng với nội dung này, Nhà nước Việt Nam đã chấp thuận đồng thời hai loại đầu tư: đáu tư kỹ thuật (technical investment) và đầu tư tài chính (Financial Investment): đầu tư tài chính phải lồng vào đầu tư kỹ thuật và đầu tư vốn đơn thuần chỉ được chấp nhận trong những trường hợp và với những điều kiện nhất định Nhà nước ta đã cho phép đầu tư theo 3 hình thức: hợp tác sản xuất chia sản phẩm, xí nghiệp hoặc Công ty hỗn hợp và xí nghiệp tư doanh chuyên sản xuất hàng xuất khẩu Rõ ràng đây là một khái niệm ĐTTTNN tiến bộ được xây dựng có tham khảo kinh nghiệm của nước ngoài (một vấn đề đáng lưu ý là vào thời kỳ này, đã có nhiều nước xã hội chủ nghĩa quan tâm đến các dự án có vốn ĐTNN, chẳng hạn như Nam Tư đã thông qua khá sớm các văn bản pháp luật kêu gọi ĐTTTNN dưới hình thức xí nghiệp liên doanh Đến đầu những năm 80, phần lớn các nước xã hội chủ nghĩa đã xây dựng dược một cơ chế pháp lý cho phép bảo hộ và khuyến khích dòng ĐTTTNN vào nước mình, nhưng vẫn duy trì một cơ chế kế hoạch tập trung Việt Nam tuy có nghiên cứu kinh nghiệm nhiều nước về vấn đề thu hút ĐTTTNN song vẫn chưa thoát ra ngoài xu hướng chung của các nước xã hội chủ nghĩa
Khái niệm ĐTTTNN cũng cần được hoàn thiện ngay trong quá trình thực hiện Điều lệ đầu tư 1977 Ngày 17/07/1984, Bộ chính trị Việt Nam đã ra Nghị quyết số 19 về quan hệ kinh tế giữa nước ta với nước ngoài trong đó có đoạn :"Cần bổ sung và hoàn thiện Điều lệ đầu tư đã ban hành để có tính hấp dẫn hơn, nghiên cứu xây dựng một số quy định có liên quan tới xây dựng Bộ luật đầu tư hoàn chỉnh"12 Tiếp sau đó, Nghị quyết Hội nchị lần thứ 7 ngày 20/12/1984 của Ban chấp hành Trung ương (Khoá V) về phương hướng nhiệm vụ kế hoạch kinh
tế xã hội năm 1985 đã nhấn mạnh "Nghiên cứu han hành Luật đầu tư mới để mớ rộníỉ hợp tác và tranh thủ tín dune của các nước xã hội chủ nehĩa và các nước
X e m N g h ị qu ỵ êt s ố 19 n g à v 1 7 /07/1984 về q u an hê kin h t ế giữa Việt N a m với nước ngoài.
Trang 23khác cũng như các tổ chức kinh tê quốc tế Có chính sách rộng rãi hơn để thu hút thêm nguồn vốn từ bên ngoài13
Để thực hiện Nghị quyết đã ban hành vào thời điểm này, một Tiểu ban nghiên cứu và xây dựng Luật đầu tư đã được ban thành lập vào tháng 2/1985 dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chính phủ người phụ trách trực tiếp là Chánh phó Chủ tịch HĐBT Trần Quỳnh, về sau là Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch) với sự tham gia của đại diện các bộ, ngành có liên quan
Qua kinh nghiệm thực hiện Điều lệ đầu tư 1977 cùng với kết quả nghiên cứu kinh nghiệm của nước ngoài (mà đặc biệt là của các nước trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương) Chính phủ đã đi đến kết luận cần phải có một quan niệm mới về chính sách pháp luật trong lĩnh vực ĐTTNN tại Việt Nam, và cần hoàn thiện khái niệm ĐTTTNN tại Việt Nam Nhiều báo cáo của các chuyên gia nước ngoài cũng đã nhấn mạnh vấn đề này (chẳng hạn: một số bản báo cáo của nhóm chuyên gia ESCAP vào giúp Việt Nam xây dựng hệ thống pháp luật về ĐTNN, chuyển giao công nghệ, công ty và khu chế xuất tháng 5, tháng 7 nãm
Nghiên cứu về mặt nội dung pháp lý, chúng ta thấy: khái niệm ĐTTTNN được xác định trone Luật ĐTNN tại Việt Nam năm 1987 là một bước tiến đáns
kể về lý luận pháp luật về ĐTNN ở nước ta và các nước Trên cơ sở phân tích khái niệm ĐTNN của Việt Nam theo Luật ĐTNN tại Việt Nam, chúng ta có thể nhận ra một vài điểm đáng lưu ý sau:
X e m N g h ị q u y ế t Hội nghị lan thứ VII n g ày 2 0 /1 2 /1 9 8 4 về phư ơ n g hư ớ n g n h iệ m vụ k ế h o ạch kinh
t ế - xã hội n ă m 1985.
Trang 24+ Khái niệm ĐTTTNN theo quan niệm này là việc đưa trực tiếp một sô' loại
vốn, tài sản nhất định từ nước ngoài (nước nhà đầu tư) vào Việt Nam (nước nhận đầu tư) hay nói một cách khác, đó là sự vận động của tư bản từ nước ngoài vào Việt Nam theo những điều kiện nhất định Tổng thể các phương tiện tài chính và tài sản khác của nước ngoài được đưa vào Việt Nam nhằm phát triển các lĩnh vực khác nhau cho nền kinh tế quốc dân chỉ là những tiền đề cần thiết của ĐTTTNN tại Việt Nam
+ Khái niệm ĐTTTNN tại Việt Nam được hiểu là "Việc các tổ chức, cá nhân nước ngoài trực tiếp đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất
kỳ tài sản nào" Khái niệm ĐTTTNN xác định trong Luật ĐTNN năm 1987 có nội dung rộng hơn, phong phú hơn, sâu sắc hơn, hoàn thiện hơr nội dung khái niệm ĐTTT được xác định trong Điều lệ đầu tư 1977
+ Khái niệm ĐTTTNN tại Việt Nam theo Luật ĐTNN tại Việt Nam 1987 không những chứa đựng nội hàm về sự vận động của vốn (tư bản), tài sản nhất dịnh từ nước - nhà đẩu tư sang nước - người tiếp nhận đầu tư, mà còn bao gồm sự hoạt động nhất định của nhà đầu tư hoặc đại diện hợp pháp của họ nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong điều kiện nhất định Như chúng ta đã biết, mục tiêu của Việt Nam trong chính sách thu hút ĐTTTNN bao gồm:
+ Tranh thủ được vốn và kỹ thuật hiện đại, kinh nghiệm và phương pháp quản lý tiên tiến, đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật cao và đội nsũ cán bộ giỏi
+ Nhanh chóng tạo được chỗ đứng ngày càng vững chắc trong phân công lao động quốc tế mà trước hết là phân công lao động xã hội chủ nghĩa, để tạo được một thế mạnh trên thị trường thế giới
+ Hệ quả của hai mục tiêu trên là khai thác có hiệu quả tài nguyên của đất nuớc, tạo thêm công ăn việc làm đẩy mạnh xuất khẩu và các dịch vụ thu ngoại tệ, tăng tích luỹ cho sự công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Thône thường việc sử dụng các ncuòn vốn, kỹ thuật được đau tư vào một nước thường dẫn đến việc thành lập ở nước tiếp nhận đau tư một cơ sỏ sản xuất hoặc một doanh nghiệp nào đó kế thừa có phát triển Điều lệ đáu Ur 1977 Luật
Trang 25ĐTNN tại Việt Nam 1987 đã thừa nhận ba hình thức ĐTTTNN ở Việt Nam, đó là: Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh, xí nghiệp liên doanh (Joint Venture), xí nghiệp 100% vốn nuớc ngoài Đây là điểm quan trọng,
là quan niệm mới, phát triển lý luận pháp luật về ĐTNN Điều này được thực tiễn kiểm nghiệm trong thời gian qua
Để làm sáng tỏ hơn về khái niệm "Đầu tư nước ngoài" chúng ta hãy xem xét thêm về khái niệm" đầu tư trong nước
Ngày 22/6/1994 Quốc hội đã thông qua Luật khuyến khích đau tư trong nước, trong đó tại Điều 2, có định nghĩa :"Đầu tư trong nước là việc bỏ vốn vào sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam của tổ chức cá nhân quy định tại Điều 1 của Luật này", tức của tổ chức, công nhân Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoai cư trú lâu dài ở Việt Nam Như vậy trong một chừng mực nào đó, hoạt động Đầu tư nước ngoài và hoạt động đầu tư trong nước của người Việt Nam định cư ở nước ngoài không được phân định rõ, cho dù Quy chế pháp lý cả hai loại đầu tư này khác biệt nhau
Một khái niệm mới cũng thường được bàn đến trong thời gian gần đây đó là
"đầu tư nước ngoài gián tiếp" ĐTNNGT được hiểu, không giống như cách hiểu
"Investment Portfolio" nước ngoài vẫn dùng, mà được hiểu là các khoản vốn vay nước ngoài (có lãi hoặc không có lãi) theo các thời hạn khác nhau, các nguồn vốn
hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), các khoản viện trợ đặc biệt (SAP) từ nước ngoài Tuy vậy cho đến nay Việt Nam chưa có đạo luật kiểu Luật ĐTNN tại Việt Nam để xử lý các mối quan hệ đó, để có cách hiểu thống nhất ở Việt Nam
về ĐTNNGT
Một điểm đáng lưu ý nữa khi nghiên cứu khái niệm ĐTTTNN ở Việt Nam theo Luật ĐTNN, đó là cần phân biệt khái niệm này với khái niệm ĐTTTNN theo các Hiệp định về khuyến khích và bảo hộ đầu tư mà Việt Nam đã ký kết với các nước khác
Theo các Hiệp định này, thuật nsĩr "đầu tư" dược sử tiling đê chỉ các loại tài san mà các nhà đầu tư nước ký kết này đã dùníi để dầu tư vào nước ký kết hữu quan kia Khái niệm đó cũng được sử dụng để chỉ các giá trị tài sản cùa các nhà
Trang 26đầu tư của các nước hữu quan Danh mục các tài sản và các giá trị tài sản được gọi là "đầu tư" đó rất rộng, chẳng hạn có thể là 'cổ phần", "bản quyền", "bất động sản" hoặc "yêu sách về tiền được sử dụng để tạo ra giá trị kinh tế", "yêu sách về
dịch vụ có giá trị kinh tế" V.V
Như vậy xét về tổng thể, có khá nhiều cách quan niệm về ĐTTTNN, song chủ yếu vẫn là hai cách tương đối phổ biến trong thực tiễn pháp luật và điều ước quốc tế về ĐTTTNN, đó là:
+ Quan niệm ĐTTTNN với tính cách là sự vận động của tư bản nước này sang nước khác với những mục đích nhất định
+ Quan niệm ĐTTTNN với tính cách là tổng thể những tài sản hoặc giá trị tài sản mà tổ chức, cá nhân của nước này dùng để đầu tư vào nước khác theo những điều kiện nhất định
Qua đó, chúng ta có thể nói rằng: Việc sử dụng quan niệm này hay quan niệm khác đều có lý do, cơ sở nhất định nhằm đáp ứng những đòi hỏi của giao lưu quốc tế
1.2 S ự HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIÊN KHÁI NIỆM "DOANH NGHIỆP LIÊN DOANH"
Doanh nghiệp liên doanh đang bàn ở đây là một trong hai loại hình của doanh nghiệp có vốn ĐTNN theo quy định về ĐTTTNN của nước ta
Nếu như trong Luật ĐTNN tại Việt Nam năm 1987 còn tồn tại thuật ngữ:
"Xí nghiệp liên doanh" thì đến Luật ĐTNN tại Viêt nam năm 1996 đã được thay thế bằng thuật ngữ: "doanh nghiệp liên doanh" Sự phát triển khái niệm này đã được sửa đổi, bổ sung qua các lần sửa đổi luật nhằm xây dựng một khái niệm hoàn thiện và chỉ đúnc nội hàm của nó
Xét về mô hình của doanh nghiệp liên doanh chúng ta có thể nhận thấy ràng: trước đày Luật ĐTNN năm 1987 chỉ cho phép xí nghiệp liên doanh có hai bên là bên Việt Nam và bên nước ngoài Như vậy mõi hên liên doanh chỉ cho phép là một tổ chức (đối với Việt Nam) hoặc tổ chức của một quốc gia (đối với bên nước ngoài) Nếu có nhiều nước muốn tham eia vào xí nghiệp liên doanh thì
Trang 27họ phải thoả thuận trước với nhau để họp thành một bên nước ngoài Tương tự, các bên Việt Nam khi muốn tham gia vào xí nghiệp liên doanh thì họ cũng phải thoả thuận hợp thành một bên Việt Nam Đây là một hạn chế lớn trong Luật ĐTNN tại Việt Nam năm 1987 Quy định này gây nên trở ngại cho các bên tham gia liên doanh khi tham gia đầu tư vào Việt Nam mặc dù họ rất muốn Do đó mục đích thu hút vốn đầu tư vào Việt Nam của Luật ĐTNN năm 1987 bị hạn chế.
Trên cơ sở kịp thời nhận biết được những hạn chế đó ngày 30 tháng 6 năm
1990 Nhà nước ta đã sửa đổi thành: các bên Việt Nam và bên nước ngoài có thể liên doanh Đây là một bước tiến quan trọng trong quá trình hoàn thiện Luật ĐTNN tại Việt Nam
Tuy nhiên ttrong thời gian ban hành Luật ĐTNN tại Việt Nam năm 1987, việc nhìn nhận các hợp đồng kinh tế còn quá nhiều hạn chế, thành phần kinh tế tư nhân hình như chưa được thừa nhận, trong cơ chế bao cấp quan niệm và quy định
về các thành phần kinh tế có ảnh hướng đến các quy định của pháp luật, cụ thể ở điều 2 khoản 2 Luật ĐTNN tại Việt Nam năm 1987 quy định: bên Việt Nam là một bên gồm các tổ chức Việt Nam có tư cách pháp nhân
Quy định này được giải thích cụ thể tại điều 4 NĐ139-HĐBT ngày 05/9/1988: các tổ chức kinh tế gồm có các đơn vị kinh tê quốc doanh, các công
ty hợp doanh, hợp tác sản xuất Với quy định đó các tổ chức kinh tế tư nhân không được tham gia vào liên doanh mà các đơn vị này phải cùng chung vốn vào cùng các tổ chức kinh tế quy định tại điều 4 NĐ139-HĐBT thì mới được phép liên doanh với nước ngoài
Do tình hình xã hội thay đổi, cơ chế bao cấp không phù hợp, nền kinh tế hình thành và phát triển, chấp nhận sự tổn tại của nhiều thành phần kinh tế, trong
đó nền kinh tế tư nhân được coi như một nhân tố tổn tại khách quan và tham gia tích cực vào sự phát triển của nền kinh tế quốc gia, do vậy phải có một quy chế pháp lý phù hợp cho thành phần kinh tế này
Trước thực tế đó, ngày 30/6/1990 Luật sửa đổi, bổ sung một số điếu của Luật ĐTNN tại Việt Nam năm 1987 đã mớ rộng phạm vi quy định cho các các thành viên tham gia vào liên doanh: Bên Việt Nam là một bên gọm mội hoặc
Trang 28nhiều tổ chức kinh tế Việt Nam, có tư cách pháp nhân thuộc mọi thành phần kinh
Với quy định trên công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần thành lập theo Luật công ty ngày 21/12/1990 được phép liên doanh vì chúng là những tổ chức có tư cách pháp nhân Tuy nhiên với doanh nghiệp tư nhân không được áp dụng quy định này bởi họ không có tư cách pháp nhân, không được tham gia với
tư cách là chủ thể độc lập trong liên doanh Muốn tham gia họ buộc phải ở một trong hai loại hình công ty nói trên
Trong khi đó lực lượng kinh tế tư nhân (doanh nghiệp tư nhân) thực tế chiếm một tỷ lệ không nhỏ, với lượng vốn khá nhiều Mặt khác càng mở rộng phạm vi đầu tư càng tạo điều kiện thuận lợi cho việc học hỏi kinh nghiệm của nước ngoài trong quản lý kinh doanh cũng như quản lý thị trường Trước yêu cầu bức xúc này, việc quy định cho doanh nghiệp tư nhân được liên doanh trực tiếp với bên nước ngoài là một việc làm cần thiét của pháp luật Việt Nam
Ngày 23/12/1992, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật ĐTNN tại Việt Nam năm 1987 đã ra đời Tại điều 2, khoản 2 đã quy định cụ thể: "Bên Việt Nam là một bên gồm một hoặc nhiều doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế" Quy định này đã thừa nhận sự liên doanh trực tiếp của doanh nghiệp tư nhân với bên nước ngoài
Theo quy định của Điều 6 Luật ĐTTTNN tại Việt Nam năm 1996 thì:"Hai bên hoặc nhiều bên được hơp tác với nhau để thành lập doanh nghiệp liên doanh tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh"
Doanh nghiệp liên doanh này tham gia quan hệ ĐTNN tại Việt Nam với tư cách là chủ thể của quan hệ pháp luật kinh tế quốc tế, là hình thái hợp tác kinh tế
có yếu tố quốc tế (yếu tố nước ngoài) là hình thức tổ chức việc sử dụng vốn nước ngoài nhằm giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội của đất nuớc
Điẽm đạc trưng của loại hình doanh nghiệp liên doanh có vốn ĐTNN ớ Việt Nam được thể hiện ở chỗ các doanh nghiệp này được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn không có giới hạn luật dinh của vốn pháp định Các
Trang 29doanh nghiệp này không nhất thiết phải được lập trong một khu vực hành chính- kinh tế đặc biệt kiểu đặc khu kinh tế, khu chế xuất hoặc một khu vực kinh tế đặc biệt khác Các doanh nghiệp liên doanh có vốn ĐTNN đều là pháp nhân Việt Nam có "quốc tịch" Việt Nam Ngoài những đặc trưng nói trên, việc tổ chức và hoạt động của cơ quan lãnh đạo các doanh nghiệp liên doanh này còn có hai đặc trưng đáng chú ý.
+ Bên tham gia doanh nghiệp liên doanh chỉ định người của mình tham gia Hội đồng quản trị theo tỷ lệ tương ứng với phần góp vốn vào vốn pháp định của
doanh nghệp, nhưng trong moi trường hơv, nếu doanh nghiẻp liên doanh có môt bên Viêỉ N am hoăc có môt bên nước ngoài, thì bên Viêỉ N am hoác bên nước ngoài ít nhất có hai thành viên irons Hỏi đồng quản tri.
+ Những vấn đề quan trọng nhất trong tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp liên doanh do Hội đồng quản trị quyết định theo nguyên tắc nhất trí.
Đó chính là hai nguyên tắc lớn trong pháp luật của Việt Nam về ĐTNN mà nhiều luật gia nước ngoài chưa hiểu hết ý nghĩa của nó đối với những nước đang thiếu vốn, thiếu công nghệ nhưng vẫn quyết tâm phấn đấu tiến lên theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đó còn là những công cụ pháp lý quan trọng trong cơ chế điều chỉnh pháp luật các quan hệ ĐTTTNN tại Việt Nam
Doanh nghiệp liên doanh được coi là một hình thức ĐTTT nấp dẫn đối với các nhà ĐTNN, vì nó chẳng những tạo ra việc thâm nhập thị trường một cách hiệu quả, mà còn hạn chế đến mức cao nhất rủi ro có thể xảy ra Ngoài ra trong giai đoạn đầu các nhà ĐTNN thích hợp tác đầu tư với các doanh nghiệp Việt Nam theo hình thức doanh nghiệp liên doanh vì các lý do cơ bản sau:
+ Hình thức doanh nghiệp liên doanh có ưu thế hơn doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài tronìỊ tranh thủ sự hiểu biết và hỗ trợ của đối tác Việt Nam t rong
các khâu hình thành, thẩm định và thực hiện dự án
+ Phạm vi, lĩnh vực và địa bàn hoạt động của doanh nghiệp liên doanh rórrs, hưn doanh nỵhiệp 100% vốn nuớc ngoài
Trang 30Tuy nhiên, những năm gần đây, các nhà ĐTNN có xu hướng giảm sự quan
tâm đối với loại hình này, vì:
+ Sau một thời gian tiếp cận với thị trường Việt Nam, các nhà ĐTNN, đặc biệt là các nhà đầu tư Châu Á đã hiểu rõ hơn về pháp luật dành cho ĐTTTNN tại Việt Nam;
+ Trong thực tiễn đã phát sinh nhiều tranh chấp trong quản lý, điều hành doanh nghiệp Các tranh chấp này một phần do sự yếu kém về trình độ của bên Việt Nam;
+ Khả năng tham gia liên doanh của Việt Nam có hạn vì thiếu cán bộ, thiếu vốn Trong số các doanh nghiệp liên doanh đã được cấp giấy phép, bên Việt Nam chỉ góp 35% vốn pháp định trong đó 90% là giá trị quyền sử dụng đất, 8-9% là giá trị nhà xướng, tài sản hiện có và chỉ có 1-2% là tiền và thường khó khăn trong việc thực hiện;
+ 98% đối tác Việt Nam tham gia doanh nghiệp liên doanh là các doanh
nghiệp Nhà nước, 2 % còn lại thuộc các tổ chức kinh tế ngoài quốc doanh, bao
gồm các hợp tác xã, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn và doanh nghiệp tư nhân Bởi vậy, nhiều trường hợp cơ quan quản lý Nhà nước đã can thiệp quá sâu vào quá trình tổ chức, sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp
Cho tới nay, các nhà ĐTNN đều thừa nhận quy định về doanh nghiệp liên doanh của pháp luật Việt Nam là rõ ràng và có thể chấp nhận được Tuy vậy, cũng có một số ý kiến khác nhau về nguyên tắc nhất trí trong Hội đồng quản trị Trong thực tế có những trường hợp các bên cố tình hoặc do thiếu hiểu biết đã vận dụng sai nguyên tắc này, eây khó khăn, ách tắc đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh
Ngoài ra, thực tiỗn hoạt động ĐTNN còn đặt ra yêu cầu phải xử lý các quan
hệ phát sinh khi một tronc các bên liên doanh bị giải thể, phá sản hoặc khi doanh nghiẹp cùng với tổ chức cá nhân nước ngoài thành lâp doanh nehiệp liên doanh mới theo Luật ĐTNN tại Việt Nam năm 1996
Trang 31Các nhà Đầu tư nước ngoài, theo quy định của Luật ĐTNN tại Việt Nam năm 1996 là những tổ chức kinh tế nuớc ngoài hoặc cá nhân nước ngoài trực tiếp đưa vốn, công nghệ và các tài sản khác được Chính phủ Việt Nam chấp thuận vào Việt Nam để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc để thành lập doanh nghiệp có vốn ĐTNN tại Việt Nam theo những quy định nhất định của pháp luật Việt Nam.
Nhà nước Việt Nam hoan nghênh và khuyến khích các nhà ĐTNN đầu tư vào Việt Nam theo những điều kiện và thủ tục được quy định trong pháp luật Việt Nam hoặc trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia
Tổ chức kinh tế nước ngoài nói ở đây là tổ chức kinh tế được thành lập theo một trình tự pháp luật nhất định và đáp ứng các điều kiện của "Luật quốc tịch" (lex societatis) của tổ chức kinh tế đó Việc xác định "quốc tịch" của tổ chức kinh tế ở các nước được tiến hành theo các dấu hiệu, nguyên tắc pháp lý khác nhau được quy định trons pháp luật dân sự - thương mại của các nước hữu quan, trong đó đáng chú ý nhất là nguyên tắc nơi tổ chức kinh tế đăng ký điều lệ, nơi đăng ký hoạt độnỄỉ kinh doanh chính, nơi đật trụ sở hoặc cơ quan điều hành chính của tổ chức kinh tế liên quan Qua nghiên cứu và phân tích những quy định khác nhau trone pháp luật dân sự thương mại của các nước, các điều ước quốc tế
về việc thành lập các tổ chức kinh tế và các quy định của pháp luật Việt Nam, đặc biệt là các quy định của Bộ luật dân sự Việt Nam năm 1995 cho thấv: có thê
có tổ chức kinh tế nước ngoài không có tư cách pháp nhân theo pháp luật của nước mà nó mang quốc tịch (chẳng hạn, các côns ty đối nhân) nhưng lại có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam (chảne hạn, theo quy định tại điều 94 và
Trang 32điều 113 Bộ luật dân sự) Như vậy ở đây có xung đột pháp luật về nãng lực pháp luật dân sự của pháp nhân Pháp luật, thực tiễn các nước thường giải quyết vấn đề
đó theo quy tắc Lex societatis Tuy vậy, Điều 832 BLDS Việt Nam lại quy định các ngoại lệ liên quan về việc này, đặc biệt các giao dịch dân sự được xác lập thực hiện tại Việt Nam thì phải tuân theo pháp luật Việt Nam
Các cá nhân nước ngoài, dưới góc độ là nhà ĐTNN, theo quy định của Luật
quốc tịch Việt Nam nãm 1998 có thể hiểu là người không có quốc tịch Việt Nam,
họ có th ể có quốc tịch của một, hai hay nhiều nước khác, hoặc không có quốc
những cá nhân nước ngoài trực liếp đưa vốn vào Việt N am bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào được Cliính phủ Việt N am chấp nhận đ ể hợp lác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc đ ể thành lập doanh nghiệp liên doanh với doanh nghiệp Việt Nam thuộc mọi thành phần kinh t ế hoặc đ ể tliành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài ỉheo quy định của Luậl đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt N am mới được công nhận là nhà Đầu tư nước ngoài.
Như vậy một điều dễ nhận thấy là nhiều cá nhân nước ngoài có mặt tại Việt Nam có quan hệ với quá trình đưa vốn, công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam hoặc thực hiện các dự án có vốn ĐTNN không phải là cá nhân nước ngoài đầu
tư vào Việt Nam Trong khi đó, cá nhân nước ngoài định cư tại Việt Nam có thể
là nhà ĐTNN tại Việt Nam (chẳng hạn nhà ĐTNN tại khu chế xuất) nếu họ bảo đảm các điều kiện quy định của Luật ĐTNN tại Việt Nam Trong khi đó họ cũng
có thể là "chủ đầu tư" theo Luật khuyến khích đầu tư trong nước năm 1994, nếu đáp ứng các điều kiện do Luật đó quy định
Ngoài ra, đối với ncười Việt Nam định cư ở nước ngoài, họ cũng có thể trở thành "nhà Đầu tư nước ntioài", nếu đáp ứng được các điều kiện của Luật ĐTNN tại Việt Nam
Nhữnẽ ngưừi Việt Nam đó khi ĐTTT về nước có quyền lựa chọn Quy chê nhà ĐTNN theo Luật ĐTNN tại Việt Nam hoặc Quy chế "chủ đẩu tư" theo Luật khuyến khích đầu tư trong nước, nhưng mỗi dự án chỉ được áp du n ỉ một trong
Trang 33hai Quy chế cụ thể đó (Nghị định số 29/CP ngày 12 tháng 5 năm 1995 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật khuyến khích Đầu tư trong nước điều 2,3,'4,5)
Các nhà đẩu tư Việt Nam, theo quy định của Pháp luật về ĐTNN tại Việt
Nam, chủ yếu là công dân, doanh nghiệp Việt Nam thuộc mọi thành phần kinh
Các nhà đầu tư Việt Nam tham gia quan hệ pháp luật ĐTNN bằng cách ký kết hợp đổng hợp tác k nh doanh hoặc hợp đồng liên doanh với các nhà ĐTNN theo quy định của Pháp luật Việt Nam Nhà đầu tư Việt Nam tham gia quan hệ ĐTNN tại Việt Nam có thể là doanh nghiệp nhà nước được thành lập theo Luật doanh nghiệp nhà nước, hoặc công ty TNHH, công ty cổ phần được thành lập theo Luật công ty 14, doanh nghiệp tư nhân được thành lập theo Luật doanh nghiệp
tư nhân15, hoặc hợp tác xã được thành lập theo Luật Hợp tác xã Khi tham gia quan hệ ĐTNN tại Việt Nam, các nhà đầu tư Việt Nam, tuy được thành lập theo các Luật khác nhau, đều có Quy chế nhân thân là Pháp Luật Việt Nam, "quốc tịch " Việt Nam (Lex Societatis Việt Nam)
Do các nhà đầu tư Việt Nam là các doanh nghiệp có Lex Societatis Việt Nam, nên các giao dịch dân sự - thương mại với các nhà ĐTNN tại Việt Nam phải tuân theo Pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế giữa Việt Nam và nước ngoài hữu quan có quy định một nguyên tắc khác Trong trường hợp giao dịch dân sự - thương mại đó được xác lập hoặc thực hiện ở nước ngoài thì quy chế nhân thân của các nhà đầu tư Việt Nam vẫn không thay đổi, tuy vậy quy chế trái vụ lại được xác định tuỳ thuộc vào địa điểm xác lập hoặc thực hiện
ciao dịch, tức là theo quy íắc Lex Loci actus, trừ trường hợp các bên có sự thoả
thuận quy tắc khác Pháp luật Việt Nam không cấm nhà đầu tư Việt Nam thực hiện Quy chế pháp lý ưu đãi tại nước ngoài, theo quy định của Pháp luật nước ngoài trong quá trình đầu tư ra khỏi Việt Nam Nhưng ngay cả trong trường hợp như vậy, các nhà đầu tư Việt Nam vẫn phải tuân thủ Pháp luật Việt Nam, là Pháp luật của nước mà nhà đầu tư có quốc tịch
N - 15 T ừ n g à y 0 1 /0 1 /2 0 0 0 các d o a n h n g h iệ p loại này sẽ dược th ành lập theo Luật D oanh n ghiép
n ă m 1999
Trang 34Bên cạnh các doanh nghiệp nhà nước, công ty, doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã tham gia quan hệ ĐTNN tại Việt Nam với tính cách là nhà đầu tư Việt
Nam, phải tính đến cấc doanh nghiệp 100% vốn đầu tư của Việt Nam được thành lập trong khu c h ế xuất, khu cồng nghiệp, khư công nghệ cao có vốn Đầu tư nước
ngoài theo quy định cùa Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Tuy các doanh
nghiệp này là doanh nghiệp Việt Nam, có "quốc tịch" Việt Nam nhưng là loại
doanh nghiệp Sui generis, với một quy chế đặc thù dành cho khu chế xuất, khu
công nghiệp, khu công nghệ cao đó Các giao dịch dân sự - thương mại của các doanh nghiệp này với các doanh nghiệp Việt Nam nám ngoài khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao nói trên được điều chỉnh theo Quy chế đặc biệt, tương tự như các quy chế áp dụng cho các giao dịch dân sự - thương mại có yếu
tố nước ngoài, ở đây có thể phát sinh "xung đột pháp luật có tính nội địa" trong Pháp luật Việt Nam, và quan hệ trao đổi hàng hoá ở đây giữa các doanh nghiệp trong-ngoài khu chế xuất, dưực coi là quan hệ xuất nhập khẩu và tuân theo pháp Iuậl về xuất nhập kh ẩu 16
Người Việt Nam định cư ở nước ngoài cũng có thể trở thành "nhà đầu tư Việt Nam", có quyền và nghĩa vụ nhất định khi tham gia quan hệ ĐTNN tại Việt Nam Với tư cách là nhà đầu tư Việt Nam, khi đầu tư về nước, họ phải chung vốn với tổ chức kinh tế Việt Nam ớ trong nước thành"nhà đầu tư Việt Nam" theo đúng nghĩa đầy đủ của nó, thành "Bên Việt Nam" để hợp tác đầu tư với bên hoặc các bên nước ngoài (Nghị định số 18/CP ngày 16 tháng 4 năm 1993 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật ĐTNN tại Việt Nam - điều 3)
Trong trường hợp này, người Việt Nam định cư ở nước ngoài chỉ được xem xé! công nhận lù nhừ dầu tư Việt Nam theo Luậl dầu tư nước ngoài tại Việt Nam khi cùng với các doanh nghiệp Việt Nam hoặc các bệnh viện, trường học, viện nghiên cihi trong lĩnh vực công nghệ, khoa liọc kỹ íluiậỉ, khoa học íự nliiên1 liợp thành Bên Việl Nam tham gia quan hệ Đầu tư nước ngoài.
16 X e m Đ iều 18 Luật Đ T N N n ă m 1996
17 X e m Đ iều 65 Luật Đ T N N n ă m 1996
Trang 35"N hà đầu tư Việt Nam" có th ể là cơ quan quản lý nhà nướccó iham quyền được Chính phủ chỉ định, ký kết và thực hiện hợp đổng BOT, BTO, BT theo quy
định của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Đây là trường hợp "Nhà đầu tư Việt Nam đặc bịêt" tham gia hợp tác đầu tư theo quy định của Luật ĐTNN tại Việt Nam với những quyền hạn và trách nhiệm riêng biệt Xét về mặt lý luận pháp luật, các cơ quan quản lý nhà nước nói trên tham gia hợp tác đầu tư với các
tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam với tư cách là các chủ thể đặc biệt của quan hệ pháp luật ĐTNN tại Việt Nam Nói rộng ra, Nhà nước Việt Nam, trong trường hợp đặc biệt này tham gia quan hệ pháp luật ĐTNN của Việt Nam với tư cách là chủ thể có chủ quyền, một chủ thể đặc biệt thông qua các cơ quan hành pháp của mình Trường hợp này khá phổ biến trong lý luận và thực tiễn pháp luật của các nước về hợp tác xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng theo hợp đồng BOT và các loại hợp đồng tương tự
1.4 S ự HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIEN MỘT s ố KHÁI NIỆM KHÁC
1.4.1 Hợp đồng BOT
1.4.1.1 Khái niệm cơ bản
Khái niệm hợp đồng BOT (nghĩa tiếng Anh: Bitỉld - Operate - Transfer,
Xây dựng- kinh doanh - chuyển giao) được sử dụng chính thức lần đầu tiên vào năm 1983, do Thủ tướng Thổ Nhĩ Kỳ nêu ra Sau này khái niệm ùó đã được phát triển dưới màu sắc và phạm vi khác nhau, với các loại hợp đồng khác nhau, chẳng hạn BOO (Build - own - operate), BRT (Build - rent - transfer), BOOT (Build - own - operate - transfer), BOOST (Build - own - operate - Subsidize - transfer) Tuy nhiên, dù là dưới hình thức, màu sắc, quan niệm nào đi nữa thì tất
cả đểu hướntí tới đầu tư và xây dựng những côns trình cơ sở hạ tầrm theo yêu cầu của Chính phủ nước nhận đầu tư
Đẽ thực hiện dự án BOT người ta phải thành lập công ty thực hiện dự án thuộc khu vực tư nhàn như là một hộ máy làm nhiệm vụ tìm kiếm nsuổn tài chính, xây dựng, bảo dưỡng và vận hành cône trình kết cấu ha tấna tronn mót thời gian nhất định, sau đó chuyển giao quyén sớ hữu cỏrm trình cho Chính phú
Trang 36nước nhận đầu tư Các mô hình tài chính mang đặc tính BOT đã được áp dụne cho việc xây dựng nhiều cơ sở hạ tầng như: các nhà máy điện ở Anh, Mỹ, các dự
án dầu mỏ ở biển Bắc và Nauy, các tuyến đường giao thông ở Thái Lan, Ôxtrâylia, Hồng Kông
Tuy nhiên, các dự án BOT cũng gặp phải những khó khăn, cản trở rất khác nhau, do nhiều điều kiện chủ quan, khách quan đưa lại trong thời gian khá dài vận hành dự án
Rút kinh nghiệm các nước, ngày 09/12/1992 Quốc hội Việt Nam thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ĐTNN năm 1987/1990 trong đó tại điểm 15 Điều 2 của Luật này có quy định về đầu tư theo hợp đồng BOT
Ngày 23 tháng 1 năm 1993, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 87/CP về Quy chế đầu tư theo hợp đồng xây dựng, kinh doanh và chuyển giao
(BOT) nhằm cụ thể hoá các quy định trong Luật ĐTNN nói trên Theo đó, Công
ty BOT là công ty có vốn Đầu tư nước ngoài thành lập theo pháp luật Việt Nam
lỉể tliực hiện dự Ún xây dựng, khai thác, kinh doanh công trình hạ tầng và các
công trình hạ tầng khác được Chính phủ cho phép theo hình thức hợp đồng BOT trong một thời gian nhất định; Hết thời hạn, công trình đó được chuyển ÉŨao không bổi hoàn cho Chính phủ Việt Nam
Theo phương thức đầu tư này, Chính phủ phải công bố trước các dự án BOT, sau đó tổ chức đấu thầu, chọn thầu hoặc đàm phán trực tiếp với nhà ĐTNN Nhà ĐTNN đã được Chính phủ lựa chọn phải ký hợp đồng BOT với cơ quan nhà nước
có thẩm quyền, thành lập công ty BOT theo Luật ĐTNN tại Việt Nam dưới hình thức doanh nghiệp có vốn ĐTNN, ký hợp đồng với các nhà thầu, nhà thầu phụ (nước ngoài, Việt Nam) để xây dựng, cung ứng, sử dụng, bảo hiểm, tư vấn
Hợp đổn£ BOT là một văn bản pháp lý thể hiện sự hợp tác chặt chẽ giữa Chính phủ và nhà ĐTNN Đê thu hút vốn và công nchệ của nước ngoài vào cônc trình CƯ sớ hạ tầng, Chính phủ phải tạo cho họ một cơ hội thu lợi nhuận cần thiết,
có các quyền cấn thiết, cơ hội ớ đây có thể là: thời gian vận hành, giá bán sản phẩm cùng các chính sách ưu đãi và đảm bảo đầu tư khác, là sự cam kết cùa Chính phủ sẽ chia sẻ rủi ro (nếu có), v ề phía nước ngoài, các quyền của nhà
Trang 37ĐTNN chính là quyền quản lý, kinh doanh, khai thác, bảo dưỡng công trình trong suốt thời gian đã thoả thuận trong hợp đồng Việc thực hiện các quy định
của Nghị định 87/CP và các hợp đồng BOT cho thấy cần tiếp tục xem xét phát
triển các quy định về BOT của năm 1992/1993 Các vấn đề đó đã được cân nhắc
và đưa vào Luật ĐTNN nảm 1996, Nghị định số 12/CP thi hành Luật ĐTNN năm
1996 và một sô văn bản khác Đặc biệt, các vấn đề ở đây dã được tập trung lại và
cụ thể hoá trong Nghị định số 62/1998/NĐ-CP ngày 15/8/1998 ban hành Quy chế đầu tư theo hợp đồng BOT, BTO và BT và Nghị định sổ 02/1999/NĐ-CP ngày 27/01/1999 bổ sung một sô điều của Nghị định số 62/1998/NĐ-CP nói trên
Như vậy, đến đây từ khái niệm hợp đồng BOT năm 1992 pháp luật Việt Nam đã đi đến khái niệm hợp đồng BOT mới và có bổ sung khái niệm hợp đồng BTO, hợp đồng BT
Theo quy định của Điều 2 Luật ĐTNN năm 1996 thì hợp đồng BOT là văn bản ”Ký kết giữa cơ quan nhà nước có thám quyến của Việt Nam và nhà ĐTNN
để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời gian nhất định; hết thời hạn, nhà ĐTNN chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho Nhà nước Việt Nam" Khái niệm này trong Luật ĐTNN tại Việt Nam nãm 1996
cơ bản không có gì phát triển so với khái niệm đã được thông qua năm 1992/1993 Tuy vậy, trên cơ sở khái niệm này, Luật ĐTNN tại Việt Nam năm
1996 đã thông qua khái niệm hợp đồng BTO và hợp đồng BT Hợp đồng BTO là văn bản ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam và nhà ĐTNN để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà ĐTNN chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam, Chính phủ Việt Nam dành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý
Hợp dồng BT là văn bản ký kết giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyển của Việt Nam và nhà ĐTNN dể xây dựng công trình kết cấu hạ tầne, sau khi xây dựng xong, nhà ĐTNN chuyển giao công trình dó cho Nhà nước Việt Nam, chính phủ Việt Nam tạo điều kiện cho nhà ĐTNN thực hiện dự án khác dế thu hổi vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý
Trang 381.4.1.2 Một sô vấn đ ề pháp luật Việt nam về các dự án đẩu tư theo hình
thức Hợp đồng xảy dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT) tại Việt Nam*
quan đến đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hình thức hợp đồng BOT
Việt Nam là đất nước bị chiến tranh tàn phá nặng nề Sau chiến tranh,
Đảng và Nhà nước Việt Nam đã đặt ra những mục tiêu kinh tế - xã hội to lớn để
hàn gắn vết thương chiến tranh và xây dựng đất nước, đưa Việt Nam tiến kịp các
nước trong khu vực Để đạt được các mục tiêu kinh tế - xã hội đặt ra đến năm
2000, Việt Nam cần số vốn đầu tư 40-50 tỷ USD, trong đó chương trình đầu tư
cấp bách và trọng điểm là đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng Việt Nam nhận thức
được rằng tình trạng yếu kém của cơ sở hạ tầng ở Việt Nam là một trong những
nhân tô' kìm hãm tốc độc tăng trưởng kinh tế của đất nước và ảnh hưởng đến môi
trường ĐTTTNN tại Việt Nam Việt Nam cũng nhận thức được rằng nguồn vốn
xáy dựng cơ sở hạ tầng này bao gồm nguồn vốn trong nước và nguồn vốn từ nước
ngoài, nguồn vốn trong nước là quyết định và nguồn vốn của các công ty, tổ chức
quốc tế, cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam cũng đóng vai trò quan trọng
Cũng như nhiều nước khác, Việt Nam đã xem xét bằng cách nào để có thể
xây dựng cơ sở hạ tầng, đặc biệt là những công trình ở những nơi tập trung nhiều
hoạt động kinh tế, mà không phải tự tài trợ từ nguồn thu nhập hoặc tích luỹ hạn
hẹp của mình hoặc từ các khoản vay nợ của quốc gia, Chính phủ
Với sự nghiên cứu kinh nghiệm của các nước, Chính phủ Việt Nam đã xem
xét các vấn đề này và đã kiến nghị Quốc hội bổ sung vào Luật ĐTNN tại Việt
Nam một hình thức đầu tư mới - đầu tư theo hình thức hợp đồng xây dựng - kinh
doanh - chuyển giao (BOT) Tại điều 1 khoản 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật ĐTNN tại Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 23/12/1992
(sau đây xin gọi là Luật ĐTNN 1992) có quy định: "Hợp đồng xây dựng - kinh
doanh - chuyên giao là văn bản ký kết giữa các tổ chức, cá nhân nước ngoài với
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam để xây dựng, khai thác, kinh
doanh công trình hạ tầng trong một thời hạn nhất định; hết thời hạn, tổ chức, cá
nhân nước ngoài chuyển giao không bồi hoàn cône trình đó cho Chính phủ Việt
Nam"
Tại khoản 7 Điều 1 Luật này có quy định tiếp: "Các tổ chức, cá nhân nước
ngoài đầu tư vào Việt Nam xây dựng côntỉ trình hạ tầng có thể ký kết hơp dổnii
' Bài viêt n g h iê n cứu cho Đ ề tài c ủ a TS H o à n g Phước H iệ p về: "M ột s ố \ ấ n dề p h á p luãt Việt N a m
về các dự án dầu tư theo hìn h thức h ợ p dồ n g BOT tại Việt N a m "
Trang 39xây dựng - kinh doanh - chuyển giao với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam Các tổ chức, cá nhân nước ngoài được hướng các quyền lợi và thực hiện các nghĩa vụ quy định trong hợp đồng Chính phủ quy định cụ thể về đầu tư theo hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao.
Ngày 16/4/1993, Chính phủ Việt Nam thông qua Nghị định số 18-CP quy định chi tiết thi hành Luật ĐTNN tại Việt Nam, trong đó có Điều 55, 56 và 57 nói tới hợp đồng BOT Điều 55 có nhấn mạnh hình thức đầu tư theo hợp đồng BOT ưu tiên cho những công trình hạ tầng như cầu, đường, sân bay, bến cảne, nhà máy điện, v.v tại Việt Nam Tuy vậy, Điều 55 không nói rõ "phương tiện thực hiện dự án BOT" phải là doanh nghiệp hay theo một cơ chế nào, mà chỉ nói
"được thực hiện bằng 100% vốn nước ngoài hoặc bàng vốn nước ngoài cộng với vốn của Chính phủ Việt Nam và/ hoặc của tổ chức, cá nhân Việt Nam" Điều này tuy vậy đã đưa ra khái niệm "lợi nhuận hợp lý" của chủ đầu tư trước khi chuyển giao không bồi hoàn cho Nhà nước Việt Nam
Điều 56 nhấn mạnh về một Quy chế BOT cụ thể sẽ được Chính phủ ban hành
và Điều 57 nói về hợp đồng BOT sẽ có hiệu lực khi được SCCI cấp Giấy phép đầu tư
Ngày 23/11/1993, Chính phủ Việt Nam thông qua Nghị định số 87-CP ban hành Quy chế đầu tư theo hình thức hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT) (sau đây gọi la Quy chế BOT 1993) Quy chế BOT 1993 - gồm 18 điều chia làm 5 chương, khá ngắn gọn, có tính chất "khung pháp luật" đối với các
dự án BOT Quy chế này để nhiều chỗ trống cho các bên tự thoả thuận chi tiết trong các hợp đồng cụ thể
Ngày 28/2/21994, SCCI ra Thông tư số 333 ƯB/LXT hướng dẫn thi hành Quy chế đầu tư theo hình thức hợp đổng BOT Thông tư này gồm 4 phần khá ngắn gọn, làm rõ thêm một số vấn đề pháp lý chưa được quy định rõ trong Quy
cùa Việt Nam và nhà ĐTNN để xây dựng công trình kết cấu hạ tầnu; sau khi xâv
Trang 40dựng xong, nhà ĐTNN chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam
Chính phủ Việt Nam dành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó trone một thời hạn nhất định để thu vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý
Việt Nam và nhà ĐTNN để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng: sau khi xây dựng xong, nhà ĐTNN chuyển giao công trinh đó cho Nhà nước Việt Nam Chính phủ Việt Nam tạo điều kiện cho nhà ĐTNN thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý
Ngoài ra, tại Điều 19 Luật ĐTNN 1996 có khẳng định: Nhà ĐTNN đầu tư xây dựng công trình kết cấu hạ tầng có thể ký kết với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cuả Việt Nam hợp đồng BOT, hợp đồng BTO, hợp đồng BT Nhà ĐTNN được hưởng quyền lợi và thực hiện nghĩa vụ quy định trong hợp đồng Luật cũng giao cho Chính phủ trách nhiệm quy định cụ thể về đầu tư theo hợp đồng BOT, hợp đồng BTO, hợp đồng BT
Tại điều 24 Luật ĐTNN 1996 có khẳng định các tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hợp đồng BOT, hợp đồng BTO và hợp đồng BT được giải quyết theo phương thức do các bên thoả thuận ghi trong hợp đồng
Tại điều 46 Luật ĐTNN 1996 còn thừa nhận việc miễn, giảm tiền thuê đất, mặt nước, mặt biển đối với các dự án BOT, BTO, BT theo quy định của Chính phủ
Ngày 18/2/119, Chính phủ Việt Nam thông qua Nghị định số 12 - CP quy định chi tiết thi hành Luật ĐTNN 1996 Ngay tại Điều 1 của Nghị định có khẳng định: việc đầu tư theo hợp đồng BOT, hợp đồng BTO, hợp đồng BT tuân theo các quy định tương ứng của Nghị định này và các văn bản khác của Chính phủ về BOT, BTO và BT Ngoài ra, tại các Điều 54, 56, 57, 63, 72, 93, 94 của Nghị định
có những quy định riêng cho việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng theo hợp đồng BOT, BTO, và BT
Ngày 15/8/1998, Nghị định số 62/1998/NĐCP của Chính phủ về Quy chế đầu tư theo các hình thức hợp đồng BOT, hợp đồng BTO và hợp đồng BT đã được thôncỊ qua Quy chế mới này có cân nhắc đến thực tiễn thực hiện các dự án xây dựng cơ sớ hạ tầng ở các nước trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dươne, kinh nghiệm Việt Nam qua gần 5 năm thực hiện Quy chế BOT 1993 và nhữnc đổi mới
về pháp luật Việt Nam trong linh vực này Mặc du ngắn ơọn, cư ’oản khẳne định lại Quy chế BOT 1993