1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Làng xã thanh trì ( ngoại thành hà nội ) đầu thế kỷ XIX qua tư liệu địa bạ gia long 4(1805)

162 66 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 162
Dung lượng 9,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số luận án Tiến sĩ lịch sử chọn đề tài khai thác và nghiên cứu địa bạ như Nguyên Thu Thuỷ nghiên cứu về ruộng đất và kinh tế nông nghiệp huyện Đông Sơn Thanh Hoá đầu thế kỷ XIX, Pha

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XẢ HỘI & NHÂN VĂN

LÀNG XÃ THANH TRÌ (NGOẠI THÀNH HÀ NỘI)

Trang 2

MỤC LỤC■ ■

Trang

Chương 2: Bức tranh khái quát làng xã Thanh Trì đầu thế kỷ

Chương 3: Chê độ sở hữu tư nhân về ruộng đất và tình

Trang 3

Mỏ ĐẦU

1 Hằng số của văn minh Việt Nam là nông thôn - nông nghiệp - nông dân Việt Nam hiện vẫn là một nước nông nghiệp Đến nay, trên 75% dân số Việt Nam vẫn là nông dân, hầu hết trong số đó đang sống ở khu vực nông thôn, trong các làng xã, hoạt động kinh tế chủ yếu vẫn là nông nghiệp Mục tiêu phấn đấu mà Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra là đến năm 2020 Việt Nam phải cơ bản trở thành một nước công nghiệp Như vậy, công nghiệp hoá, hiện đại hoá là nhiệm vụ trọng tâm của cách mạng Việt Nam trong thời gian tới, trong đó công nghiệp hoá, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn có một vị trí cực kỳ quan trọng Làng xã, nông dân, nông nghiệp, nông thôn vừa là chủ thể, vừa là đối tượng của công cuộc cải biến lớn lao này.

Công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nói chung, khu vực nông thôn nói riêng, nhanh hay chậm, triệt để hay không triệt để phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó việc hiểu rõ, hiểu sâu về làng xã, trong lịch sử và hiện tại, là một tiền đề hết sức quan trọng Với cách đặt vấn đề như vậy, bất luận một nghiên cứu nào góp phần nâng cao nhận thức về làng xã, đều có ý nghĩa, không chỉ về học thuật mà cả về thực tiễn.

Đề tài khoa học L à n g x ã Thanh Trì (ngoại th à n h H à N ội) đầu th ế kỷ

X IX qua tư liệu địa bạ được triển khai là nhằm vào những mục tiêu khoa

học và thực tiễn nêu trên.

2 Làng xã, cả truyền thống và hiện đại, là vấn đề thu hút sự quan tâm của giới học giả từ rất sớm, cả trong nước cũng như quốc tế Đã có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị về đề tài này được công bố Tuy nhiên, nghiên cứu làng xã truyền thống qua địa bạ thì lại là một hướng tiếp cận mới được triển khai trong vài chục năm trở lại đây, thành tựu rất đáng ghi nhận, nhưng mới chỉ là bước đầu.

Trang 4

Trước những năm bẩy mươi giới khoa học cả hai miền Nam, Bắc hầu như chưn có một nghiôn cím nỉ\o vồ địa bạ Một trong những người đáu liên nhận thức giá trị to lớn của địa bạ và gần như là người đầu tiên trực tiếp khai Ihiíc nguồn lư liệu này mội cách có hộ thống là cô Giáo sư Nguyễn Đức

Nghinh ở trường Đại học sư phạm Hà Nội I Năm 1974 luận văn Tình hình phân phối ruộng đất ở x ã Mạc Xá giữa hai thời điểm 1789 - 1805 được đăng liên tạp chí Nạhiên cứu ì ịch su 1 mở đầu một loạt các bài viết của tác giả

công bố kết quả nghiên cứu địa bạ ở một số địa phương vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ Liên tục những năm sau đó tác giả vẫn thuỷ chung gắn bó với mảng đề tài mà mình yêu thích này và cho đến nay đã có hàng chục luận văn nghiên cứu về địa bạ được công bô Địa bàn mà tác giả tập trung nghiên cứu là huyộn Từ Liêm và một số làng xã xung quanh Hà Nội và đặc biệt là lỉnh Th.íi Bình2.

ở miên Nam, học giả Nguyễn Đình Đầu và những cộng tác viên là những người đầu tiên khai thác tư liệu địa bạ Công viộc được bắt đầu từ những năm tám mươi và hiện vẫn đang được tiếp tục Địa bạ được khai thác tập trung chủ yếu ở các tỉnh phía nam và hiện đã có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị được công bố Tuy nhiên cũng phải thấy một thực tế là, mặc dù khối lượng địa bạ mà học giả Nguyễn Đình Đầu và các cộng tác viên khai

' Nguyên Đức Nghinh: T ình hình phân p h ố i ruộng đất ở x ã M ạc Xú giữa hai thời điểm

1789 - ỉ 805, NCLS, số 157, 1974

2 Có thể kể: T ình hình p h â n p h ố i ruộng đất của thôn Đ ịnh C ông giữa hai thời điểm 1790 -

1805 (NCLS, số 161, 1975J,- v ề tải sản ruộng đất của m ột sô' chức dịch trong làng x ã

thuộc huyện T ừ L iêm vào cuối th ế kỷ XVỈỈỈ đẩu th ế kỷ XIX (NCLS, số 165, 1975J; Xã Thượnệ P húc giữa hai thời điểm 1790 - 1805 (NCLS, số 173, \9 1 1 ); M ấ y tư liệu ruộng đất công lùng x ã dưới triêu T ây Sơn (NCLS,sỗ 175, 1977J; Ruộng đ ấ t công m iên Đ ông

T hái Bìnlị vào những năm cuối th ế kỷ XVỈỈỈ đầu th ế kỷ XIX (NCLS, số 256, 1991); M ột s ố

tư liệu ruộng đấ t vùng K iến XiSơỉig - T hái bình m ẩy năm đầu thé kỷ XIX (NCLS, số 244,

1989 - viết chung với N guyễn Thị Thanh Nhàn); M ấ y tư liệu ruộng đ ấ t Ở T h ú i N inh (Thái

B ình ) cuối tliề kỷ X V III đầu th ế k ỷ X IX (NCLS, số 250, 1990 - viết chung với Bùi Thị Minh

Hiên)

Trang 5

thác là rất lớn (hầu hết các làng xã từ Nam Bộ trở ra cho đến Trung Trung Bộ), nhưng mới chỉ bao gồm những thông tin hết sức cơ bản, hay phần lớn thông tin vẫn chưa được khai thác3.

Ngoài ra còn có một số học giả khác cũng chú ý khai thác và sử dung

tư liệu địa bạ trong các chuyên khảo của mình (như Trương Hữu Quýnh, Nguyễn Cảnh Minh, Bùi Quý Lộ, Đào Tố Uyên, Nguyễn Hải Kế ) Gần đây

xu hướng của các nhà khoa học là ngày càng chú ý đến nguồn tư liệu này khi nghiên cứu về lịch sử nông thôn - nông nghiệp Việt Nam truyền thống Một

số luận án Tiến sĩ lịch sử chọn đề tài khai thác và nghiên cứu địa bạ (như Nguyên Thu Thuỷ nghiên cứu về ruộng đất và kinh tế nông nghiệp huyện Đông Sơn (Thanh Hoá) đầu thế kỷ XIX, Phan Phương Thảo nghiên cứu về chính sách quân điền của Minh Mệnh qua tư liệu địa bạ )

Từ đầu những năm chín mươi, Chương trình nghiên cứu địa bạ của

Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam và giao lưu văn hoá thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội do Giáo sư Phan Huy Lê chủ trì đã được triển khai Đến nay, ngoài một số luận văn in trên các tạp chí chuyên ngành đã có hai công trình

quy mô lớn được công bố là Địa bạ Hà Đông và Địa bạ Thái Bình4 Khác với

những nghiên cứu địa bạ trước đây nguồn tư liệu địa bạ thường được khai thác và xử lý theo hướng phục vụ cho những mục đích nghiên cứu cụ thể, nhóm nghiên cứu thuộc Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam và giao lưu văn hoá chủ trương, về cơ bản, chỉ công bố tư liệu Điều này được sự hoan nghênh của giói nghiên cứu không chỉ trong nước mà cả quốc tế.

3 Có thể kể: T ổng kết nghiên cứu địa bạ: N am Kỳ lục tỉnh, Thành phố Hồ Chí Minh, 1994;

N ghiên cứu địa bạ triều N guyễn: Gitì Đ ịn h , Thành phô Hồ Chí Minh, 1994; N ghiên cứu địa bạ triều N g u yễn : H à T iê n , Thành phố Hồ Chí Minh, 1994; N ghiên cứu địa bạ Bìỉìlì

Đ ịnh (3 tập), Thành phố Hổ Chí Minh, 1995

4 Phan Huy Lê, Vũ Minh Giang, Vũ Văn Quân, Phan Phươiỹg Thảo: Đici bạ H à Đ ô n g , Hà

Nội 1995; Phan Huy Lê, N guyễn Đức Nghinh, Vũ Minh Giang, Vũ Văn Quân, Phan

Phương Thảo: Đ ịa bạ T h ú i B ìn h , Nxb Thế giới, Hà N ội, 1997.

Trang 6

Tuy nhiên, ngay cả với những nghiên cứu thuộc loại thứ nhất thì việc

khai thác địa bạ cũng mới chỉ dừng lại chủ yếu ở việc tìm hiểu về các quan

hộ sở hữu ruộng đất, trong khi đó tư liệu địa bạ có nội dung hết sức phong

phú Đành rằng vấn đề đất đai là nội dung chủ yếu của địa bạ nhưng nếu khai

thác triột để nguồn tư liệu này chúng ta có thể vẽ lên bức tranh tương đối

toàn cảnh của các làng xã trên nhiều phương diện, nhất là có sự kết hợp khai

thác với các nguồn tư liệu khác Đề tài khoa học này sẽ triển khai việc

nghiên cứu theo hướng trên.

Đối với trường hợp huyện Thanh Trì, bài viết Tình hình phân phối

ruộng đất của thôn Định Công giữa hai thời điểm 1790 - 1805 của Nguyễn

Đức Nghinh đến nay gần như vãn là nghiên cứu duy nhất được công bố khai

thác nguồn tư liệu địa bạ (thôn Định Công thuộc tổng Khương Đình huyện

Thanh Trì).

trữ chủ yếu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm và Cục lưu trữ Nhà nước với

18.519 đơn vị, trong đó, tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm là 1.635 đơn vị, tại

Cục lưu trữ Nhà nước là 16 844 đơn vị (chủ yếu tại Trung tâm lưu trữ quốc

gia I, Hà Nội) Có thể nói, phần lớn các làng xã được thành lập từ thế kỷ XIX

về trước đều có địa bạ.

Theo quy định của Nhà nước, khi lập địa bạ mỗi làng xã phải làm

thành ba bản (gọi là giáp, ất, bính) Bản giáp nộp cho triều đình, bản ất lưu

giữ ở trấn, tỉnh, bản bính do làng xã quản lý Sưu tập địa bạ tại Viện Nghiên

cứu Hán Nôm hầu hết đều là những bản sao do Viện Viễn Đông bác cổ Pháp

tiến hành vào đầu thế kỷ XX từ các bản lưu tại địa phương (tỉnh hoặc làng

xã) Địa bạ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm cũng chỉ bao gồm các làng xã từ

Hà Tĩnh trở ra Địa bạ tại Cục lưu trữ Nhà nước đều là những bản chính, là

bản giáp lưu trữ tại triều đình và phần lớn còn giữ lại được đến ngày nay (hầu

hết các làng xã từ Nam ra Bắc, nếu được lập trong khoảng thời từ giữa thế kỷ

XIX trở về trước đến 1804 đều có địa bạ trong sưu tập này)

Trang 7

v ề niên đại, hầu hết địa bạ được lập vào đầu thế kỷ XIX Địa bạ có niên đại Gia Long và Minh Mệnh bao gồm 17.604 đơn vị, chiếm 95,06% Các niên đại trước và sau đó có nhưng chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ.

Địa bạ được viết bằng chữ Hán theo những quy định thống nhất của Nhà nước (về khổ giấy, các nội dung khai báo), ngoài ra vẫn có phần mở để nếu địa phương có điều gì đặc biệt thì bổ sung thêm vào.

Huyện Thanh Trì vào đầu thế kỷ XIX thuộc phủ Thường Tín trấn Sơn Nam Thượng Toàn huyện có 12 tổng và 100 xã thôn sở trại Tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm chỉ có 1 tập địa bạ huyện Thanh Trì Trong khi đó tại Cục lưu trữ Nhà nước địa bạ các làng xã Thánh Trì hầu như có đầy đủ Niên đại của địa bạ Thanh Trì hầu hết được lập vào năm 1805, là đợt lập địa bạ đầu tiên dưới triéu Nguyễn Trong công trình này chúng tôi sử dụng nguồn tư liệu địa bạ của huyện Thanh Trì hiện đang lưu trữ tại Cục lưu trữ Nhà nước Ngoài ra, bên cạnh địa bạ, các nguồn tư liệu khác có liên quan cũng được kết hợp khai thác, sử dụng.

4 Địa bạ là nguồn tư liệu thuộc loại đám đông nên việc áp dụng phương pháp định lượng để khai thác nguồn tư liệu này là cần thiết và chắc chắn sẽ có kết quả tốt Tuy nhiên, phương pháp này chỉ phát huy hiệu quả trong việc thống kê các loại hình đất đai, tức là các sử liệu có thể đo đếm được Trong khi đó, như trên đã nói, thông tin địa bạ còn phong phú hơn và mục đích của công trình này, ngoài nghiên cứu về các quan hệ ruộng đất, còn phải triệt để khai thác các thông tin khác, để cùng với thông tin về ruộng đất vẽ lên bức tranh toàn cảnh của các làng xã Chính vì thế, ngoài phương pháp định lượng, phương pháp mô tả cũng được áp dụng Trong các thao tác nghiên cứu, nhằm vào mục đích được xác định nêu trên, các phương pháp nghiên cứu cụ thể sẽ được kết hợp sử dụng một cách linh hoạt.

5 Kết cấu công trình gồm 3 chương.

Chương I Vài nét địa bàn nẹhìên cứu và nẹuầũ tư liệu

Chương II Bức tranh làn ạ x ã Thanh Trì dầu th ế kỷ XlXqua địa bạ

Trang 8

Chương III C h ế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất và tình hình phân hoá

xã hội.

Công trình được hoàn thành với sự động viên thường xuyên của Ban Chủ nhiộm khoa Lịch sử trường Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội, của TS Trần Kim Đỉnh, nguyên Trưởng phòng Khoa học trường Đại học KHXH&NV, những ý kiến đóng góp về chuyên môn của GS Phan Đại Doãn, PGS.TSKH Vũ Minh Giang, PGS.TS Nguyễn Quang Ngọc Nhân đây xin được bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc.

Hoàn thành công trình này các tác giả gặp không ít khó khăn, đặc biệt

là việc tiếp cận tư liệu (khối lượng tư liệu lớn, thông tin phong phú nhưng phức tạp, lại phải chuyển từ chữ Hán sang chữ Việt ) Chúng tôi đã hết sức

cố gắng song chắc vẫn còn, và không thể tránh khỏi nhiều thiếu sót, nhiều hạn chế Rất mong nhận được sự chỉ bảo và những ý kiến đóng góp của các nhà khoa học.

Hà Nội, 10 2002

Các tác giả

Trang 9

CHƯƠNG 1

1.1 Vài nét về huyện Thanh Trì.

Thanh Trì nay là một trong 5 huyện ngoại thành Hà Nội (cùng với Từ Liêm, Đông Anh, Sóc Sơn, Gia Lâm), nằm ở phía đông nam thành phố, gồm

23 xã và 1 thị trấn (thị trấn Văn Điển).

Thanh Trì phía đông giáp huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên với ranh giới tự nhiên là sông Hổng, phía tây giáp huyện Thanh Oai tỉnh Hà Tây, phía nam giáp huyện Thường Tín tỉnh Hà Tây, phía bắc giáp các quận Hai Bà Trưng, Thanh Xuân thuộc nội thành Hà Nội Diện tích tự nhiên toàn huyện là 9.791 ha, dân số trên 20 vạn người (1999) Huyện Thanh Trì hiện nay chỉ là một phần của huyện Thanh Trì xưa, do một số làng - xã đã nhập vào nội thành Hà Nội, một số làng - xã đã cắt sang Hà Tây, trong khi đó cũng có một

số làng - xã được cắt từ hai huyện Thanh Oai và Thường Tín thuộc tỉnh Hà Tây về Thanh Trì.

Địa thế Thanh Trì thuộc vùng đồng bằng trCng với nhiều sông ngòi và đầm hổ Sông Hồng qua địa phận huyện Thanh Trì từ xã Thanh Trì đến xã Vạn Phúc, làm ranh giới tự nhiên với tỉnh Hưng Yên Sông Tô Lịch chảy từ phía bắc đến phía nam huyện, sông Nhuệ chảy phía tây nam, sông Kim Ngưu và sông Lừ chảy phía đông bắc Đầm có nhiều, lớn nhất là đầm Linh Đường (hay Linh Đàm, còn gọi Đầm Vân hay Đầm Đại), là dấu vết để lại của một đoạn sông Tô Lịch đã đổi dòng Đầm Thịnh Liệt (Đầm Sét) nổi

tiếng với cá rô ngon được Nguyễn Trãi nhắc đến trong D ư địa chí từ thế kỷ

XV5 Đầm Vạn Xuân - tên gọi như một ghi nhớ về quốc gia độc lập của người Việt thời Tiền Lý Đầm Mực gắn với truyền thuyết vể người học trò thuỷ thần của thầy giáo nổi tiếng Chu Văn An thế kỷ XIV và gắn liền với

5 Nguyền Trãi: T o à n tậ p , N xb Khoa học xã hội, Hà N ội, 1976

Trang 10

chiến thắng vĩ đại của quân và dân Đại Việt trong trận đại phá Mãn Thanh sáng mồng 5 Tết Kỷ Dậu (1789) dưới sự chỉ huy của anh hùng dân tộc Quang Trung - Nguyẽn Huệ

Vì có nhiều sông ngòi, hồ, đầm cho nên trong cơ cấu đất đai huyện Thanh Trì công châu thổ và các loại đất bãi ven sông, loại công pha, công pha trì chiếm một tỷ lệ đáng kể và vì thế nó cũng đóng một vai trò nhất định trong đời sống cư dân, dù không phải làng xã nào cũng có các loại đất đai trên.

Huyện Thanh Trì xưa có tên là Long Đàm Tên gọi Long Đàm (Đầm Rồng) - như nhiều người giải thích - có lẽ xuất phát từ chỗ vùng đất này có nhiéu đầm hồ rộng lớn (như hổ - đầm Linh Đường hay Linh Đàm, đầm Thanh Liệt hay Đầm Sét, đầm Vạn Xuân, Đầm Mực ) Tên gọi Long Đàm mới thấy xuất hiộn lần đầu trong các bộ sử ghi chép về thời Trần (1226 - 1400), bấy giờ là huyộn Long Đàm thuộc châu Thượng Phúc lộ La Thành (sau đổi thành lộ Đông Đô) Thời thuộc Minh (đầu thế kỷ XV) đổi huyện Long Đàm thành huyện Thanh Đàm thuộc châu Phúc Yên (tên mới của châu Thượng Phúc - Đông Đô), đến năm 1419 sáp nhập vào huyện Đông Quan (kinh thành Thăng Long - Đông Đô thời Lý - Trần - Hổ) Đến đòi Lê Thánh Tông, niên hiệu Quang Thuận (1460 - 1469) huyện Thanh Đàm lại tách ra, lệ vào phủ Thường Tín thuộc đạo thừa tuyên (sau là xứ, rồi trấn) Sơn Nam (sau, đến năm 1741 tách ra thành hai trấn Sơn Nam Thượng và Sơn Nam Hạ, huyện Thanh Trì phủ Thường Tín thuộc Sơn Nam Thượng) Tinh hình này được duy trì cho đến đầu thế kỷ XIX Năm 1831 vua Minh Mệnh tiến hành cải cách hành chính lớn, chia đặt các tỉnh Cả nước được chia thành 29 tỉnh

và 1 phủ, trong đó có tỉnh Hà Nội Địa giới tỉnh Hà Nội bấy giờ rất rộng, bao gồm cả khu vực kinh thành Thăng Long - Đông Đô - Đông Kinh cũ và một phần lốn trấn Sơn Nam Thượng (tương đương hầu hết khu vực nội thành Hà Nội, huyện Thanh Trì, một phần tỉnh Hà Tây và toàn bộ tỉnh Hà Nam ngày nay) Huyện Thanh Trì lúc này thuộc phủ Thường Tín tỉnh Hà Nội Cơ cấu

Trang 11

hành chính này được duy trì cho đến năm 1888 khi Hà Nội trở thành nhượng địa của thực dân Pháp.

Về tên gọi, đến thời Lê Thế Tông (1573 - 1599) do kiêng tên huý của vua, huyộn Thanh Đàm đổi thành huyện Thanh Trì (Lê Thế Tông tên huý là

Lê Duy Đàm) Đến thời Trịnh Tráng (1623 - 1657) lại đổi chữ thanh có nghĩa là trong thành chữ thanh có nghĩa là xanh do kiêng huý vương hiệu của chúa (Trịnh Tráng vương hiệu là Thanh Đô Vương với chữ thanh có nghĩa là trong).

v ể quy mô, theo sách D ư địa chí của Nguyễn Trãi, huyện Thanh Đàm thời Lê sơ bao gồm 78 xã , 5 thôn, 3 sở6 Đầu thế kỷ XIX, theo sách Các trấn tổn% xã danh bị lãm huyện Thanh Trì bao gồm 12 tổng với 100 xã, thôn, trại,

_ 7

sở

Cuối thế kỷ XIX sau khi chiếm được nước ta thực dân Pháp tiến hành nhiéu cải cách hành chính Năm 1888 Pháp lấy Ihành phô' Hà Nội làm nhượng địa (khu vực nội thành gồm hai huyện Thọ Xương và Vĩnh Thuận và các làng Hoàng Mai, Mai Động, Phương Liệt tổng Hoàng Mai, Khương Trung tổng Khương Đình, Vĩnh Tuy tổng Vĩnh Trung huyện Thanh Trì gộp làm huyện Hoàn Long) Phần còn lại của tỉnh Hà Nội được chia làm hai tỉnh: tỉnh Hà Nam và tỉnh Hà Đông Phần còn lại của huyện Thanh Trì thuộc phủ Thường Tín tỉnh Hà Đông.

Về quy mô, vào đầu thế kỷ XX, huyện Thanh Trì vẫn gồm 12 tổng vói

102 xã thôn, không kể số xã thôn đã sát nhập vào huyện Hoàn Long Như vậy, số xã thôn vẫn tăng so với đầu thế kỷ XIX mặc dù một số đã nhập vào huyện Hoàn Long Sở dĩ có tình hình này vì trong khoảng trên dưới một thế

kỷ, từ đầu thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, có một số xã, thôn mới được thành lập trên cơ sở tách ra từ các xã cũ (xem bảng số 1)

6 Nguyễn Trãi : T o à n tập, sđd.

7 Tên ìàng xã V iệt NíHìì đầu t h ế kỷ XIX thuộc các tỉnh từ N ghệ T ĩnh trỏ ra, Nxb Khoa học

xã hội, Hà N ội, 1981.

Trang 12

Danh sách làng xã huyện Thanh Trì

(so sánh hai thời điểm đầu th ế kỷ XIX và đầu th ế kỷ XX)

Bảng l 8

(đầu XIX)

Xã thôn (đầu XX

Ghi chú

1 Thanh Trì Thanh Trì Thanh Trì Nay thuộc Thanh Trì

2 Thanh Trì Đ ồng Nhân Châu Đồng Nhân Nay thuộc Thanh Trì

3 Thanh Trì VTnh Hưng T ế Trường Nay thuộc Thanh Trì

5 Thanh Trì Khuyến Lương Khuyến Lương Nay thuộc Thanh Trì

6 Thanh Trì Yên Duyên Yên Duyên Nay thuộc Thanh Trì

7 Thanh Trì Thuý Ái Châu Thuý Lĩnh Nay thuộc Thanh Trì

8 Thanh Trì thôn Thượng

sở Yên Duyên

Yên Duyên Sở Thượng

Nay thuộc Thanh Trì

sờ Yên Duyên

Yên Lương Nay thuộc Thanh Trì

10 Hoàng Mai Hoàng Mai - Nay thuộc quận Hai Bà

Giáp Nhất Nay thuộc Thanh Trì

(Thịnh Liệt)

Giáp Nhị Nay thuộc Thanh Trì

8 Một số tổng đổi tên vào đầu thế kỷ XX: tổng Hoàng Mai đổi thành tổng Thịnh Liệt, tổng Quang Liệt đổi thành Thanh Liệt, tổng VTnh Hưng Đặng đổi thành VTnh Ninh.

Trang 13

15 Hoàng Mai Giáp Tứ

(Thịnh Liột)

Giáp Tứ Nay thuộc Thanh Trì

16 Hoàng Mai Giáp Lục

(Thịnh Liệt)

Giáp Lục Nay thuộc Thanh Trì

17 Hoàng Mai Giáp Thất

(Thịnh Liệt)

- Nay thuộc Thanh Trì

18 Hoàng Mai Giáp Bát

(Thịnh Liệt)

Giáp Bát Nay thuộc Thanh Trì

19 Hoàng Mai Phương Liột - Nay thuộc quận Đống

Nay thuộc quận Hai Bà

28 Khương Đình t Hạ (Định Công) Định Công Hạ Nay thuộc quận Hai Bà

29 Khương Đình Kim Lũ Kim Lũ Nay thuộc Thanh Trì

30 Khương Đình Cự Lộc Cự Lôc Nay thuộc quận Thanh

Trang 14

(Nhân Mục Môn) Xuân

31 Khương Đình - Giáp Nhất Nay thuộc quận Hai Bà

33 Quang Liệt Quang Liệt Thanh Liệt Nay thuộc Thanh Trì

34 Quang Liệt Bằng Liệt Bằng Liệt Nay thuộc Thanh Trì

35 Quang Liột Pháp Vân

(Hoằng Liệt)

Pháp Vân Nay thuộc Thanh Trì

(Hoằng Liệt)

Tứ Kỳ Nay thuộc Thanh Trì

37 Quang Liệt Linh Đường

(Linh Đường)

Linh Đàm Nay thuộc Thanh Trì

38 Quang Liệt Đại Từ

(Linh Đường)

(Nhập vào tổng Khương Đình)

Nay thuộc Thanh Trì

39 Quang Liệt Tựu Liệt Tựu Liệt Nay thuộc Thanh Trì

41 Cổ Điển Văn Điển Văn Điển Nay thuộc Thanh Trì

42 Cổ Điển Cương Ngô Cương N gô Nay thuộc Thanh Trì

43 CỔ Điển Quỳnh Đô Quỳnh Đô Nay thuộc Thanh Trì

44 Cổ Đ iển Yên Ngưu Yên Ngưu Nay thuộc Thanh Trì

45 Cổ Điển Đồng Trì Đ ồng Trì Nay thuộc Thanh Trì

46 Cổ Điển Lưu Phái Lưu Phái Nay thuộc Thanh Trì

ích Vịnh Nay thuộc Thanh Trì

50 Cổ Đ iển Huỳnh Cung Huỳnh Cung Nay thuộc Thanh Trì

Trang 15

51 Cổ Điển Yên Kiện Nay thuộc Thanh Trì

52 Nam Phù Liột Tự Khoát

(Nam Pliìi Liột)

Tự Khoát Nay thuộc Thanh Trì

53 Nam Phù Liệt Yên Việt

(Nam Phù Liệt)

Việt Yên Nay thuộc Thanh Trì

54 Nam Phù Liệt Hưu Liệt

(Nam Phù Liột)

Mỹ Liệt Nay thuộc Thanh Trì

55 Nam Phù Liệt Đ ông Phù Liệt Đ ông Phù Liệt Nay thuộc Thanh Trì

56 Nam Phù Liệt Tranh Khúc Tranh Khúc Nay thuộc Thanh Trì

57 Nam Phù Liệt Đ ông Trạch Đông Trạch Nay thuộc Thanh Trì

58 Nam Phù Liột Hoa Ả Mỹ Ả Nay thuộc Thanh Trì

59 Nam Phù Liệt Văn Uyên Văn Uyên Nay thuộc Thanh Trì

60 Nam PliCi Liộl Tương Trúc Tương Trúc Nay thuộc Thanh Trì

61 Nam Phù Liệt - Đại Ninh Nay thuộc Thanh Trì

62 Vĩnh Hung Đặng VTnh Hưng Đặng Vĩnh Ninh Nay thuộc Thanh Trì

63 Vĩnh Hung Đặng Đại Áng Đại Áng Nay thuộc Thanh Trì

64 VTnh Hưng Đặng Vĩnh Bảo VTnh Thịnh Nay thuộc Thanh Trì

65 Vĩnh Hưng Đặng Nguyệt Áng Nguyệt Ang Nay thuộc Thanh Trì

66 Vĩnh Hưng Đặng Vĩnh Hưng Trung VTnh Trung Nay thuộc Thanh Trì

(Hà Liễu)

Khánh Vân Nay thuộc Hà Tây

68 Hà Liễu ĐỖ Hà (Hà Liễu) ĐỖ Hà Nay thuộc Hà Tây

(Hà Liễu)

Hoàng Xá Nay thuộc Hà Tây

(Hà Liễu)

Liễu Nội Nay thuộc Hà Tây

(Hà Liễu)

Liễu Ngoại Nay thuộc Hà Tây

Trang 16

72 Hà Liễu th Tứ (Vĩnh Dụ) - Nay thuộc Hà Tây

(Hà Liễu)

Xuân Nê Nay thuộc Hà Tây

83 Ninh Xá Duyên Trường Duyên Trường Nay thuộc Hà Tây

92 Ninh Xá Hoa Nhị Phương Nhị Nay thuộc Hà Tây

93 Vạn Phúc Vạn Phúc châu Vạn Phúc châu Nay thuộc Thanh Trì

94 Vạn Phúc Yên M ỹ châu Yên Mỹ Nay thuộc Thanh Trì

96 Thâm Thị Thâm Thị Thâm Thị N ay thuộc Hà Tây

97 Thâm Thị Thâm Dương Thâm Dương Nay thuộc Hà Tây

98 Thâm Thị Thâm Đ ộng Thâm Đ ộng Nay thuộc Hà Tây

Trang 17

99 Thâm Thị Thâm Xuyên Thâm Xuyên Nay thuộc Hà Tây

103 Vân La Thị (Vân La) Vân La Thị Nay thuộc Hà Tây

104 Vân La Thượng (Vân La) Vân LaThượng Nay thuộc Hà Tây

105 Vân La Nội (Van La) v a n La Nội Nay thuộc Hà Tây

107 Vân La Đ ông Thai Đông Thai Nay thuộc Hà Tây

109 Vân La Dương Cảo Dương Tảo Nay thuộc Hà Tây

Từ sau Cách mạng tháng Tám thành công đến nay địa giới hành chính huyên Thanh Trì có nhiều thay đổi v ể cơ bản cho đến trước đợt điểu chỉnh lớn về địa giới Thủ đô Hà Nội lần thứ nhất (1961) Thanh Trì vẫn là một huyện thuộc tỉnh Hà Đông Tuy nhiên, ngay sau ngày giải phóng miền Bắc, toàn bộ khu vực phía bắc Thanh Trì được lập thành một quận thuộc về Thủ

đô Hà Nội - quận 7 (bấy giờ Hà Nội gồm 8 quận, 4 quận nội thành và 4 quận ngoại thành) Ngày 20 tháng 4 năm 1961, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà khoá II, kỳ họp thứ II ra Nghị quyết sáp nhập huyện Thanh Trì vào thành phố Hà Nội, là một trong bốn huyện ngoại thành, bao gồm phần lớn các làng xã của huyện Thanh Trì cũ Số làng xã còn lại gồm tổng Hà Liễu (14 xã), tổng Vân La (8 xã), tổng Thâm Thị (8 xã), tổng Ninh Xá (7/11 xã), tổng cộng là 37 xã thôn (đầu thế kỷ XX là 41 xã thôn) được sáp nhập vào tỉnh Hà tây, chủ yếu là vào huyện Thường Tín, một số vào huyện Thanh Oai

và thị xã Hà Đông Từ đó đến nay còn một số đợt điểu chỉnh địa giới hành chính nữa nhưng không lớn, theo đó một số làng xã phía bắc huyện giáp với

Trang 18

nội thành qua quá trình đô thị hoá đã được sáp nhập vào các quận nội thành (quận Hai Bà Trưng), nhất là khi lập quận mới (quận Thanh Xuân).

Quan sát bảng 1 thì thấy huyện Thanh Trì hiện nay so vói huyện Thanh Trì đầu thế kỷ XX trở về trước có sự thu hẹp đáng kể Huyện Thanh Trì hiện nay chỉ bảo gồm 57/100 đơn vị xã thôn của huyện Thanh Trì xưa, chiếm tỷ lệ trên 57%, số còn lại đã nhập về tỉnh Hà Tây và hai quận Hai Bà Trưng, Thanh Xuân thuộc nội thành Hà Nội Tuy nhiên, Thanh Trì cũng được cắt thêm một số xã của huyện Thanh Oai tỉnh Hà Tây: các xã Nhân Hoà, Siêu Quần, Tả Thanh Oai và thôn Thượng Phúc thuộc xã Tả Thanh Oai.

Trong để tài nghiên cứu này các nội dung được trình bày là theo phạm

vi địa giới huyện Thanh Trì vào đầu thế kỷ XIX Điều này xuất phát từ chỗ, mặc dù có sự co giãn nhưng huyện Thanh Trì ngày nay vẫn cơ bản là huyện Thanh Trì đầu thế kỷ XIX Mặt khác, cũng như nhiều lĩnh vực nghiên cứu khác, chúng tôi tôn trọng tính lịch sử của vấn đề - ở đây là làng xã huyện Thanh Trì vào đầu thế kỷ XIX.

1.2 Vài nét về nguồn tư liệu

1.2.1 Địa bạ và thông tin địa bạ

Quản lý ruộng đất là một nội dung trọng tâm của quản lý Nhà nước thời phong kiến, ở Việt Nam, ruộng đất chủ yếu là ruộng đất thuộc phạm vi quản lý của các làng xã, bao gồm cả ruộng đất công và ruộng đất tư, và các loại đất đai khác Vì lẽ đó, để quản lý ruộng đất, cơ sở kinh tế của quản lý nông thôn nói chung, Nhà nước phải lấy làng xã làm đơn vị Địa bạ ra đời từ

Dưới thời phong kiến có nhiều loại văn bản quản lý đất đai nhưng địa

bạ của các xã thôn thường là loại văn bản có giá trị pháp lý cao nhất vì nó được lập theo sự chỉ đạo của Nhà nước, việc đo đạc đất đai cũng được thực hiện dưới sự tổ chức của Nhà nước Trong lịch sử Việt Nam, lần đầu tiên Nhà nước lập sổ địa bạ là vào năm 1092 dưới triều Lý, bấy giờ gọi là điền tịch9.

9 Đ ại V iệt s ử kỷ toàn thư, tập 1, Nxb Khoa học xã hội, Hà N ội, 1993, tr 296.

Trang 19

Thời Lê sơ, ngay sau kháng chiến chống Minh thắng lợi, năm 1428 Lê Lợi

đã ra lệnh cho các địa phương tiến hành điổu tra, khám xót vổ tinh hình sở

hữu ruộng đất, lập lại địa bạ trong 1 năm10 Trong Quốc triều hình luật, điều

437 quy định cứ 4 năm làm lại điền bạ một lần để phản ánh đúng tình hình ruộng đất của các làng xã Các thế kỷ về sau công việc lập và tu bổ địa bạ được tiến hành trong nhiều năm Đáng tiếc là hiện nay chúng ta mới chỉ tìm được một số rất ít địa bạ trước thế kỷ XIX (tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm có

2 địa bạ niên đại 1694 và 1695, 2 địa bạ niên đại 1789, 1 địa bạ niên đại

1790 và 1 địa bạ niên đại 1795 Tuy nhiên, điểu chắc chắn là trong dân gian vẫn còn giữ được nhiêu địa bạ có niên đại trước thế kỷ XIX.

Nhà Nguyễn sau khi bình định xong cả nước (1802) đã ý thức ngay được tầm quan trọng của việc lập địa bạ Năm 1803, tức chỉ 1 năm sau khi lên ngôi, Gia Long đã sai lập địa bạ các trấn thuộc Bắc Hà, tức vùng Đàng Ngoài thuộc quyền cai trị của chúa Trịnh trước đây Công việc cơ bản hoàn thành vào năm 1805 (trừ hai huyện Thọ Xương và Vĩnh Thuận thuộc phủ Hoài Đức, nay thuộc nội thành Hà Nội và ba trấn đạo Ninh Bình, Thanh Hoá

và Nghệ An) Năm Gia Long thứ 9 (1810) quyết định triển khai công việc tại các tỉnh từ Quảng Bình vào đến cực nam Trung Bộ Tuy nhiên việc lập địa bạ

ở đây tiến hành có vẻ chậm nên phải tới những năm cuối thời Minh Mệnh mới xong Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831) tiến hành lập địa bạ ba trấn Ninh Bình, Thanh Hoá và Nghệ An, công việc hoàn thành trong hai năm 1832 và

1834 Năm Minh Mệnh thứ 13 (1834) tiếp tục hoàn thành địa bạ hai huyện nội thành Hà Nội (Thọ Xương và Vĩnh Thuận) Năm 1836 đo đạc lại ruộng đất là lập sổ địa bạ các tỉnh Nam Kỳ.

Như vậy, cho đến hết thời Minh Mệnh vê cơ bản nhà Nguyễn đã lập xong sổ địa bạ trên toàn quốc Từ thời Thiệu Trị (1841) cho đến hết thời Bảo Đại (1945) công việc còn lại chỉ là bổ sung thêm Vì thế, trong số các địa bạ hiện đang lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm và Cục lưu trữ Nhà nước,

'"Đ ại V iệt s ử ký toàn thư, tập 2, Nxb Khoa học xã hội, Hà N ội, 1993, tr 298

Trang 20

hai sự tập địa bạ lớn nhất, số địa bạ có niên đại Gia Long và Minh Mệnh chiếm tới 95,06%.

Sưu tập địa bạ tại Viện Nghiên cứu Hán Nồm do EFEO tiến hành trước năm 1945 Đây hầu hết là các bản sao chép lại địa bạ lúc bấy giờ do các làng xã quản lý Theo thống kê, số địa bạ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm hiện có 526 tập với 1635 đơn vị địa bạ bao gồm 70.662 trang phân bố ở 94 huyện thuộc 18 tỉnh Bắc Kỳ và 2 tỉnh Trung Kỳ thời Pháp thuộc, tương đương với 17 tỉnh Bắc Bộ và 3 tỉnh Trung Bộ hiện nay Như vậy, so với sô' làng xã thì sưu tập địa bạ ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm thiếu rất nhiều (chỉ bằng 30,9% số xã thôn)

Sưu tập địa bạ tại Cục lưu trữ Nhà nước là sưu tập địa bạ lớn nhất hiện nay Đây là kho địa bạ của triều đình Huế do bộ Hộ quản lý, trước năm 1945 được lưu trữ tại Tàng thư lâu Năm 1960 chính quyền Sài Gòn chuyển kho địa bạ này lên Đà Lạt và đầu năm 1975 được chuyển về Sài Gòn Sau ngày miển Nam được hoàn toàn giải phóng kho địa bạ này do Cục lưu trữ Nhà nước quản lý, bảo quản tại Trung tâm lưu trữ quốc gia II (Thành phố Hổ Chí Minh) Cuối năm 1991 được chuyển ra Hà Nội, bảo quản tại Trung tâm lưu trữ quốc gia I.

Sưu tập đại bạ này bao gồm hầu hết các tỉnh thành trên toàn quốc Đây

là những địa bạ chính thức (bản giáp) do triều đình Nguyễn quản lý, mang đầy đủ chữ ký và dấu ấn của những người chịu trách nhiệm từ làng xã đến bộ

Hộ Toàn bộ kho địa bạ này đóng thành 10.044 tập, mỗi tập thường có 1 địa

bạ, nhưng cũng có một số tập có trên 2 địa bạ, vì thế tổng số địa bạ hiện có ở đây là 16.884 đơn vị Số địa bạ này phân bố ở các miền như sau: Bắc Kỳ 4.296 tập với 8.704 địa bạ, Trung Kỳ 5.246 tập với 6.465 địa bạ, Nam Kỳ

484 tập với 1715 địa bạ Có thể nói phần các làng xã Việt Nam được thành lập từ giữa thế kỷ XIX trở về trước đều có địa bạ trong sun tập này (những làng xã được lập về sau cũng có rải rác trong sưu tập địa bạ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, nhưng số lượng không nhiều, nội dung cũng đơn giản hơn).

Trang 21

Tổng cộng ci\ hai kho địa bạ ở Viộn Nghiôn cứu Hán Nôm và Cục Lưu trữ Nhà nước là 10.570 tập với 18.519 địa bạ Đây quả thật là khối tư liệu đổ

sộ vào bậc nhất trong các tư liệu lịch sử của Việt Nam còn lại đến ngày nay.

Thông tin địa bạ rất phong phú Tuy được lập theo mẫu thống nhất của Nhà nước nhưng do đặc thù của (ừng địa phương, từng thời điểm lập địa bạ nên nó cũng có những khác biệt nhất định Để hình dung cụ thể dưới đây giới thiộu nội dung một địa bạ điển hình vùng đồng bằng Bắc Bộ lập vào năm 1805 (phân tích theo thứ tự trình bày trong địa bạ):

1 Đơn vị hành chính: Đây là mục mở đầu của một địa bạ, cho biết tên

xã (thôn, trại, sở) thuộc tổng, huyộn, phủ, trấn; tiếp đó là họ tên các sắc mục (hoặc hương mục), xã trưởng, thôn trưởng, khán thủ cùng toàn thể xã dân xin khai địa bạ.

2 Tổng diện tích các loại ruộng đất: Ngoài thông tin về tổng diện tích mục này còn cho biết diộn tích thực trưng, diện tích hoang hoá, một sô xã ven sông thường có hiộn tượng đất bãi ven sông khi bổi khi lở cũng được cước chú cụ thể.

3 Địa giới xã (thôn, trại, sở): Mục này cho biết bốn phía đông tây nam bắc của xã (thôn, trại, sở) giáp với những xã thôn nào, lấy vật gì làm mốc giới, chẳng hạn như cột gỗ, cột đá, như đường (thậm chí nói rõ đó là loại đường nào, đường thiên lý hay đường nhỏ), như sông (cũng như thế, nói rõ là sông lớn hay sông vừa hay sông nhỏ)

4 Các loại đất đai:

4.1 Công điển (hoặc công thổ): tổng diện tích; tình hình đất đai (thực trưng, lưu hoang); thòi vụ (ruộng mùa, ruộng chiêm, ruộng hai vụ), đẳng hạng (hạng nhất, hạng nhì, hạng ba); các xứ đổng (diện tích, tên gọi, giáp giới, tình hình đất đai, thời vụ, đẳng hạng); các thửa ruộng (diện tích, giáp giới, tình hình đất đai, thời vụ, đẳng hạng, cách thức sử dụng).

4.2 Tư điển (hoặc tư thổ): tổng diện tích; tình hình đất đai (thực trưng, lưu hoang); thời vụ (ruộng mùa, ruộng chiêm, ruộng hai vụ); đẳng hạng

Trang 22

(hạng nhất, hạng nhì, hạng ba); các xứ đồng (diện tích, tên gọi, giáp giới, tình hình đất đai, thời vụ, đẳng hạng); các thửa ruộng (diện tích, giáp giới, tình hình đất đai, thời vụ, đẳng hạng, tên chủ sở hữu và quê nếu là phu canh).

4.3 Thần từ Phật tự điền (nói chung là ruộng tôn giáo tín ngưỡng): tổng diện tích; tình hình đất đai (thực trưng, lưu hoang), thời vụ (ruộng mùa, ruộng chiêm, ruộng hai vụ); đẳng hạng (hạng nhất, hạng nhì, hạng ba); các

xứ đổng (diện tích, tên gọi, giáp giới, tình hình đất đai, thời vụ, đẳng hạng); các thửa ruộng (diện tích, giáp giới, tình hình đất đai, thời vụ, đẳng hạng, cách thức sử dụng).

4.4 Công châu thổ (trường hợp này không phổ biến, chỉ những làng ven sông mới có): tổng diện tích; tình hình đất đai (thực trưng, lưu hoang); các xứ đồng (diện tích, tên gọi, giáp giới, tình hình đất đai); các thửa ruộng (diộn tích, giáp giới, cách thức sử dụng).

4.5 Thổ trạch viên trì: tổng diện tích, các khu (diện tích, tên gọi, giáp giới, tình hình sử dụng).

4.6 Tha ma mộ địa: tổng diện tích; các khu (thuộc xứ đồng nào, diện tích, giáp giới).

4.7 Thổ phụ: tổng diện tích; các đồi gò (thuộc xứ đồng nào, diện tích, giáp giới).

4.8 Công điền của các làng xã khác toạ lạc tại địa phận bản xã (loại này không phổ biến): tổng diện tích, tên xã thôn có ruộng, các xứ đồng (diện tích, tên gọi, giáp giới, tình hình đất đai, thời vụ, đẳng hạng).

(Các mục 4.6, 4.7, 4.8 không tính vào tổng diện tích, chính xác là không tính vào diện tích tính thuế).

Như vậy, thông tin địa bạ là hết sức phong phú Mặc dù địa bạ - với nghĩa là sổ ghi chép về ruộng đất, nhưng nó không chỉ cung cấp tư liệu về ruộng đất, mà nói chung là nhiều tư liệu khác về làng xã Với những nội dung nêu trên rõ ràng nếu được khai thác triệt để địa bạ có thể giúp phác hoạ tương đối toàn diện bức tranh làng xã vào thời điểm lập địa bạ.

Trang 23

1.2.2 Địa bạ huyện Thanh Trì

Huyên Thanh Trì vào đầu thế kỷ XIX thuộc phủ Thường Tín trấn Sơn

Nam Thượng Theo sách Các trấn tổng x ã danh bị lãm, huyện Thanh Trì bao

gồm 12 tổng với 100 xã, thôn, trại, sở Hầu hết các làng xã này hiện đều còn địa bạ, đều được lập vào năm Gia Long 4 (1805) và đang được bảo quản tại Trung tâm lưu trữ quốc gia I (Hà Nội) Tuy nhiên, trong công trình này, do nhiểu hạn chế, chúng tôi không có điều kiện khai thác được hết số tư liệu trên Số địa bạ mà chúng tôi khai thác được là 50 cuốn (chiếm tỷ lệ 50%) Mặc dù chỉ chiếm 50% so với tổng số đon vị xã thôn nhưng lại được phân bố tất cả các tổng (12/12 tổng) rải tương đối đều trên địa bàn toàn huyện Vì lẽ

đó, dù chưa đầy đủ, nhưng qua đây vẫn có thể, ở một mức độ nhất định, khái quát bức tranh làng xã của huyện Thanh Trì nói chung (xem bảng 2)

Tình hình chung về tư liệu

Trang 24

Danh sách các xã thôn có địa bạ được khai thác

Bảng 3

8 Giáp Thất Giáp Bát (Thịnh Liệt) Hoàng Mai 12

12 Quan Nhân (Nhân Mục Môn) Khương Đình 14

13 Cự Lộc Hoa Kinh (Nhân Mục Môn) Khương Đình 23

14 Thượng Đình (Nhân Mục Cựu) Khương Đình 15

Trang 25

26 Hưu Liệt (Nam Phù Liệt) Nam Phù Liệt 4

27 Tự Khoát (Nam Phù Liôt) Nam Phù Liột 10

28 Yôn Viột (Nam Phù Liột) Nam Phù Liột 6

Trang 26

độ dầy mỗi địa bạ không đểu nhau Địa bạ có số trang nhiều nhất là 26 tờ (52 trang), địa bạ có số trang ít nhất là 4 tờ (8 trang) Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân Đó một mặt tuỳ thuộc vào quy mô xã thôn (xã thôn có quy mô diên tích lớn địa bạ thường gồm nhiều trang và ngược lại), mặt khác phụ thuộc vào tỷ lệ ruộng tư so với tổng diện tích (những xã thôn nhiều tư điền thổ địa bạ thường gồm nhiều trang do phải kê khai từng thửa ruộng tư và ngược lại) và cuối cùng là phụ thuộc vào mức độ manh mún hay tập trung ruộng đất (những xã thôn nhiều tư điển nhưng sở hữu manh mún địa bạ thường bao gồm nhiều trang do số thửa ruộng phải kê khai nhiều và ngược lại) Việc dịch và xử lý nguồn tư liệu địa bạ được tiến hành theo các thao tác sau: dịch và lập phiếu phân tích địa bạ (công việc của bước 1 đòi hỏi phải được tiến hành hết sức cẩn thận; mẫu phiếu phân tích địa bạ được lập trên cơ

sở phân tích nội dung thông tin của địa bạ đã được dịch), tiếp đó là nhập dữ liệu từ phiếu vào máy tính và cuối cùng là hệ thống hoá tư liệu làm cơ sở cho việc phân tích.

Đặc điểm của những nghiên cứu dựa trên nguồn tư liệu đám đông là mỗi một nhận xét được rút ra đều phải qua khao sát và xử lý một khối lượng

tư liệu lớn Trong trường hợp này, chẳng hạn, để có được những số liệu tổng quát, chúng tôi đã phải tiến hành hàng chục, có khi hàng trăm phép tính Đó

là một khó khăn lớn mà các tác giả đề tài đã phải hết sức cố gắng để vượt qua.

Chọn Thanh Trì là địa bàn khảo sát, các tác giả đề tài - ngoài những lý

do nêu ở phần Mở đầu - còn một dụng ý nữa, là muốn thông qua kết quả nghiên cứu của mình góp một phần nhỏ bé vào việc tìm hiểu lịch sử Thăng Long - Hà Nội, nhât là khi Hà Nội cùng cả nước đang hướng tới kỷ niệm

1000 năm tuổi.

Trang 27

Mặc dù Thanh Trì là huyộn ngoại thành, nhưng trong suốt lịch sử của mình, Thanh Trì luôn gắn bó chặt chẽ với kinh thành Thăng Long Thanh

Trì, vởi tir cíích \ầ “phôn dẠu” phía nam của Thãng Long, vừa bảo vệ chở che,

vừa gắn bó với mọi biến cố lớn lao trong lịch sử ngót nghìn năm lịch sử của ThAng Long - Hà Nội, cũng là của lịch sử đất nước.

Mặt khác nữa, Hà Nội của chúng ta đang trong quá trình đô thị hoá, trong đó mở rộng lãnh thổ đô thị đang diỗn ra với một tốc độ lớn Một ngày không xa, những làng quê ven đô rất có thể sẽ trở thành những phường phố

Đó là xu thế Nhưng sẽ là tốt hơn nếu trong xu thế phát triển tất yếu này, cái hiện đại không làm mất đi hoàn toàn cái truyền thống Vì lẽ đó, nghiên cứu này không chỉ mang ý nghĩa học thuật, mà còn mang ý nghĩa bảo tồn một trong những di sản quý giá của vùng đất ven đô này.

Trang 28

CHƯƠNG 2 BỨC TRANH KHÁI QUÁT LÀNG XÃ THANH TRÌ

ĐẨU THẾ KỶ XIX QUA ĐỈA BẠ.

Trong thực tế làng Việt loại hình xã bao gồm nhiều thôn (từ 2 trở lên) khá nhiều Vậy, xét dưới góc độ cộng đổng, làng trong trường hợp này có phải tương đương (bằng) xã hay không? Câu trả lời: trong thực tế hầu hết là không phải Ở đây đơn vị cộng đồng là thôn Những nhận định trên sẽ được khẳng định thêm khi xem xét trường hợp huyện Thanh Trì qua nguồn tư liệu địa bạ.

Trong số 100 đơn vị xã, thôn, sở, trại của huyện Thanh Trì đầu thế kỷ XIX phân bố cụ thể như sau (xem sơ đồ dưới):

- Xã: 12 xã thuộc loại xã bao gồm nhiều thôn và 58 xã thuộc loại nhất

Trang 29

Trong danh sách 50 đon vị xã thôn được nghiên cứu có 24 xã, 2 sở còn lại là 23 thôn thuộc xã, 2 thôn thuộc sở và 1 thôn độc lập Điều đáng nói ở đây trong trường hợp xã bao gồm nhiều thôn thì đơn vị lập địa bạ là thôn chứ

Liễu chung mà có tới 6 địa bạ của 6 thôn Trường hợp một xã chỉ bao gồm 2 thôn (như Khương Đình, Định Công) cũng vậy Trong địa bạ thời Nguyễn, bất kỳ ở đâu, bất kỳ thời điểm nào, cũng đều có tên các chức sắc trong làng, bao gồm cả bộ phận hành chính, cả bộ phận tự trị, đứng ra khai và chịu trách nhiệm về việc khai địa bạ Trong trường hợp này, đó là các xã trưởng, thôn trưởng, khán thủ (bộ phận hành chính), các sắc mục (bộ phận tự trị) Trong địa bạ không chỉ các xã, mà cả tuyệt đại đa số các thôn, đều có mặt đầy đủ

cả hai bộ phận này Cũng cần lưu ý rằng các chức danh xã trưởng, thôn trưởng không phải chỉ ở xã mới có xã trưởng hay chỉ ở thôn mới có thôn trưởng Có xã loại nhất xã nhất thôn nhưng vẫn có chức thôn trưởng Có thôn nhưng vẫn có chức xã trưởng cùng với thôn trưởng và có khi có thôn mà lại chỉ có chức xã trưởng chứ không có chức thôn trưởng Rõ ràng xã trưởng hay thôn trưởng chỉ là một chức danh cho những người đứng đầu các đơn vị hành chính - cộng đổng cơ sở xã hoặc thôn Như vậy là cả trong trường hợp xã bao gồm nhiều thôn thì các thôn đó trên thực tế cũng đã là các đơn vị độc lập, không chỉ về mặt hành chính mà cả trên phương diện cộng đồng.

Trang 30

2.2 Quy mô làng xã.

Tổng diện tích 50 đom vị xã thôn thống kê được là 13752.9.9.7.0, diện tích trung bình một xã, thôn là 275 mẫu Có thể nêu ngay nhận xét: so với nhiều làng xã vùng đồng bằng Bắc Bộ quy mô làng xã ở huyện Thanh Trì nhỏ hơn nhiều Những trường hợp đã được biết: tỉnh Thái Bình - 550 mẫu /

xã, thôn; Hà Đông (cũ) - 490 mẫu / xã, thôn Gần với Thanh Trì hơn: huyện

Từ Liêm - 577 mẫu / xã, thôn Như vậy, so với toàn tỉnh Thái Bình, quy mô làng xã ở Thanh Trì chỉ bằng 50%, so với toàn tỉnh Hà Đông (cũ) chỉ bằng 56,12% và so với huyộn Từ Liêm chỉ bằng 47,66% Vì sao có hiện tượng này? Một mặt, đây có thể là một bằng chứng về tính đa dạng của bức tranh làng xã người Việt Nhưng, mặt khác, phải chăng ở Thanh Trì trong các đơn

vị hành chính - cộng đồng cơ sở loại đơn vị thôn tồn tại với một tỷ lệ đáng kể (41/100), trong khi đó, nằm kề bên - huyện Từ Liêm, đơn vị thôn chỉ là 7/91 đơn vị xã, thôn, trang, trại, phường, sở Mà thôn thì quy mô nhỏ hơn xã (như dưới đây sẽ thấy) Nhưng chỉ riêng một hiện tượng này, tức là hai huyện nằm

kề bên nhau, cùng thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ, cùng nằm sát kinh thành Thăng Long, cùng có sông Hổng làm ranh giới tự nhiên bao bọc mặt bắc (Từ Liêm), mặt đông (Thanh Trì), mà nơi thì chủ yếu nhất xã nhất thôn (Từ Liêm), nơi thì có tới 41% thuộc loại nhất xã nhị thôn, tam thôn, tứ thôn cũng đã đủ nói lên tính đang dạng của làng Việt Nhận định rằng làng Việt đồng bằng Bắc Bộ có một mẫu số chung nhưng không bao giờ là một lại có thêm một căn cứ nữa.

Con số 275 mẫu/xã thôn chỉ là nhìn chung, cho Thanh Trì và trong mối tương quan với các địa phương khác Đó không phải là toàn bộ huyện Thanh Trì Nói quy mô làng xã, thường phải phân loại, là lớn, là vừa, hay là nhỏ Nhưng bao nhiêu thì là lớn, bao nhiêu thì là vừa, bao nhiêu thì là nhỏ? Vấn đề không dễ thống nhất, ở đây tạm xếp những xã thôn có quy mô dưới

300 mẫu là loại nhỏ, từ 300 đến 700 mẫu là loại vừa và trên 700 mẫu là loại lớn (cũng có một căn cứ: qua 112 trường hơp của Thái Bình, 140 trường hợp

Trang 31

Thổ trạch viên trì

T r Tianh Trì (1) Thanh

Trì

515.7.11 2.0 2 5 5 9 1 3 0 0 19.3.8.4.0

(TT)

191.9.4.8.0 (nhiều loa-;

23.2.7.2.4 (hồ công)

4 8 3 4 1 4 4 0 326.6.6.0.0 79 4 5 4 0 12.0.0.0.0

(1'IP'Ĩ)

5.0.0.0.0 (CCTh)

60.4.8.0.0 4

Hạ thôn

Y ên Duyên)

Thanh Trì

140.5.0.5.0 10.7.0.0.0 114.9.14.6.0 0.4.0.0.0

(TT)

6.6.6.9.0 (CPh)

7.6.14.0.0 3.

0 iáp Thất Giáp

Bát

(Thịnh Liệt)

Hoàng Mai

2 5 7 0 8 5 0 4.5 1 0 7 0 21 7 5.3.0.0 7 6 11.1.0

(TT)

13.2.13.7.0 (CPh)

30

Trang 32

207.9.0.7.0 1.7.5.0.0.0 155.6.9.0.0 4 2.7.7.0

(HT)

3 4 8 0 0 (CPTr)

220.0.8.8.1 10.6.9.0.0 184.6.7.3.0 4.4.14.9.1

(TT)

2 2 9 0 0 (CP)

141.5.13.6.0 19.0.0.0.0 84.0.4.6.0 2.6.10.5.0

(TTPT)

2 6 1 4 0 0 (CPTr)

3 3.3.14.5.0

"hượng Thôn

(Định Công)

Khương Đình

235.6.3.3.0 63.1.11.7.0 111.2.3.3.0 5.2.0.0.0

(TT)

- 56.0.3.3.0 0.

o.( Đại Từ

604.8.11.2 1.3.0.0.0 283.3.5.4.0 8.8.10.8.0

(HTHP)

2 9 4 0 0 0 (C P T h)

16.6.0.0.0 3.

0 Văn Đ iển Cổ Điển 357.7.3.3.0 0.1.3.0.0 294.6.14.3.0 22.5.0.4.0

19.7.4.5.0

-iuynh Cung Cổ Điển 5 1 0.3.4.9.6 - 42 5 9 1 1 9 0 16.6.13.8.0 - 67.6.9.2.0 2Ỉ

31

Trang 33

(TTPT) Lưu Phái Cổ Đ iển 3 6 9.9.6.8.0 26.7.13.8.0 301.4.1.9.0 3 8 3 1 0 0 - 3 7 9 3 0 0

Hưu Liệt

(Nam Phù

Liệt)

Nam Phù Liệt

20 6 0 3 7 0 112.4.8.3.0 60.7.9.1.0 6 5 1 3 0 0

(TTPT)

2.4.0.0.0 (CPh)

2 3.8 3 3 0 3.

Vĩnh Hưng

Trung

Vĩnh Hưng Đặng

5 6 7 2 1 3 0 0 4 5 1.9.7.6.0 70.2.12.6.0 l.o o o o

(T D

1.6.0.0.0 (CTr)

4 2 4 8 0 0

N guyệt áng Vĩnh

Hưng Đặng

Trang 35

(Hà Liễu)

Hà Liễu 184.8.2.2.0 - 152.1.8.0.0 12.8.12.9.0

(TT)

0 3 0 0 0 (CPh)

26 5 0 0 0 2.(

Phúc Am Ninh Xá 108.5.2.3.0 3.7.6.5.0.0 94 4.0.8.0 - - 10.3.10.0 7.

0 Nhị Châu Ninh Xá 185.5.7.0.0 30.8.11.0.0 124.3.0.0.0 9.0.0.0.0

Trang 36

của Hà Đông, chỉ số trung bình trên dưới 500 mẫu, nằm trong khoảng giữa của loại vừa) Theo cách phân loại này, làng xã Thanh Trì chủ yếu có quy mô thuộc loại nhỏ (36/50 = 72%) Chỉ có 13 đơn vị (= 26%) thuộc nhóm thứ hai

và dặc biột chỉ có một đơn vị thuộc nhóm thứ ba Trong nhóm thứ nhất lại có tới 18 đơn vị quy mô dưới 200 mẫu, cá biệt có 2 đơn vị dưới 50 mẫu (xem bảng 4 )".

Trong ba loại trên, trừ loại thứ ba - quy mô lớn, chỉ có ở xã (mà cũng chỉ duy nhất 1 trường hợp), còn lại, thuộc hai loại vừa và nhỏ, ở tất cả các lớp

có mặt cả xã và thôn Điều này cho thấy nhận định xã lớn hơn thôn không phải đúng trong mọi trường hợp Có xã mà quy mô diện tích nhỏ, thậm chí rất nhỏ (dưới 100 mẫu: 4 trường hợp, trong đó có 1 trường hợp dưới 50 mẫu) Nhưng nhận định trên vẫn đúng vì tần số xuất hiộn của xã thôn ở từng lớp cụ thể không giống nhau Trong lớp có quy mô trung bình (từ 300 đến 700 mẫu) gồm 13 trường hợp nhưng chỉ có 3 thôn, còn lại xã Trái lại, trong lớp từ 200 đến 300 mẫu có 13 trường hợp là thôn và chỉ có 5 trường hợp là xã Như vậy,

dù trên thực tế trong tất cả các lớp, từ dưới 50 mẫu trở lên, đều có mặt cả xã

và thôn nhưng khuynh hướng tập trung hơn trong các lớp dưới 300 mẫu (quy

mô nhỏ) độ trù mật thuộc về thôn, còn trong các lớp trên 300 mẫu (quy mô vừa và lớn) độ trù mật thuộc về xã.

Như thế, xét vể mặt quy mô diện tích, dù không đổng đều nhau, nhưng nhìn chung các làng xã Thanh Trì hầu hết đều có quy mô vừa và nhỏ Điều này chắc xuất phát từ nhiều nguyên nhân, nhưng một phần là do xu hướng

11 Một số lưu ý ở bảng 4:

(1) Các loại đất bãi của xã Thanh Trì tổng ThanhTrì bao gồm:

- Công châu thổ thành tang (đất trổng dâu): 10.6.6.0.0

Trang 37

tách xã khá phổ biến ở Thanh Trì cho đến đầu thế kỷ XIX với sự tồn tại một

SỐ lượng đáng kổ loại xã bao gồm nhiều thôn, trong đó mỗi thôn thực chất đã

Thứ nhất, nếu xét về phương diện sở hữu, dù là loại đất đai gì thì cũng đều thuộc hai loại hình hoặc là sở hữu công cộng, hoặc là sở hữu tư nhân.

Trong các loại đất đai theo sự phân loại của địa bạ trên thì các loại ruộng đất công bao gồm: công điền, công thổ, các loại đất bãi ven sông, các loại công pha Ta biết được điều đó, ngoài tên gọi tự nó đã phản ánh tính chất công cộng của các loại ruộng đất này, còn có một căn cứ nữa: trong địa bạ đều cho biết hình thức sử dụng là (nguyên văn): “bản xã (hoặc bản thôn, trại) đổng quân phân canh tác”, nghĩa là “bản xã (hoặc bản thôn, trại) cùng chia

Trang 38

đều canh tác” Ngoài ra còn có hai loại đất đai chắc chắn cũng thuộc sở hữu công cộng là tha ma mộ địa và thổ phụ (các gò, đống) Hai loại này địa bạ ghi là “vô thuế lộ” (không thuộc loại phải nộp thuế) và cũng không tính vào lổng diộn tích ruộng đất của các xã thôn.

Các loại ruộng đất tư bao gồm tư điển (ở Thanh Trì không có tư thổ), các loại ruộng đất của các tổ chức tôn giáo, tín ngưỡng (thần từ, Phật tự, hậu diổn, kỵ điển ), thổ trạch viên trì Trong các loại ruộng đất tư trên hai trường hợp sau cần phải giải thích.

Đối với loại ruộng thuộc các tổ chức tôn giáo tín ngưỡng: Dù có các tên gọi khác nhau (thần từ điển, thần từ Phật tự điển, thần từ Phật tự kỵ điển, hẠu thán, hẠu thần hậu Phạt) tuỳ vào từng xã thôn nhưng chúng đều có một đặc điểm chung, là ruộng của các đình, chùa, đền, miếu, v ề mặt sử dụng các địa bạ đéu ghi, cũng giống như các loại ruộng đất công là “bản xã (hoặc thôn, trại) đồng quân phân canh tác” Tuy địa bạ ghi như vậy nhưng trên thực

tế đây không phải là một loại ruộng công nếu xét về loại hình sở hữu mặc dù

vể mặt sử dụng chúng có tính chất như một loại ruộng công Chúng ta đểu biết đây thực chất là một loại ruộng hậu mà nguồn gốc chủ yếu của nó là của

tư nhân Sau này, trong các địa bạ thời Minh Mệnh loại ruộng đất trên đồng loạt được xếp vào loại tư điền.

Đối với loại thổ trạch viên trì (đất ở vườn ao): Với loại này địa bạ ghi bản xã (thôn) đồng canh cư, tức là bản xã (thôn) cùng canh tác và cư trú Địa

bạ không cho biết rõ chủ nhân của từng mảnh đất ở, từng mảnh vườn, từng cái ao Tuy nhiên đây thực chất là thuộc sở hữu tư nhân (nếu có một cái ao công xen vào thì địa bạ cũng đã ghi rõ) Sau này địa bạ thời Minh Mệnh khi trình bày loại đất đai này đã xếp vào mục tư thổ.

Thứ hai, nếu xét trên phương diện sử dụng, dù loại hình sở hữu là như thế nào thì cũng chỉ thuộc hai loại: loại ruộng (điền) và loại đất (thổ) Cũng nên hiểu theo cách phổ biến của dân gian: ruộng (điền) là loại chủ yếu canh

Trang 39

tác lúa nước, còn đất (thổ) là loại chủ yếu để trồng màu, để làm nhà ở, đào ao

và một số mục đích khác Theo cách phan biột như vẠy thì:

Hạng điền (ruộng) bao gồm: công điền, tư điền, thần từ Phật tự (nói

chung là mộng của các tổ chức tôn giáo, tín ngưỡng).

Hạng thổ (đất) bao gồm: công thổ, các loại đất bãi ven sông, các loại công pha, thổ trạch viên trì, tha ma mộ địa, thổ phụ.

Dưới đây đi sâu các loại đất đai phân theo cách phân chia của địa bạ.

2.3.1 Các loại ruộng đất công

2.3.1.1 Công điền công thổ.

Trong các loại hình sở hữu diện tích công điền công thổ là 2610.4.5.2.2, chiếm tỷ lệ 18,98% so với tổng diện tích và 35,24% so với tư điền Như vậy, xét về số lượng tuyột đối, diện tích công điền công thổ đã rất thu hẹp, trong tương quan với tổng diện tích và trong tương quan với ruộng đất tư SỐ công điền công thổ trên phân bố ở 41 đơn vị (chiếm tỷ lệ 82% số đơn vị xã thôn được nghiên cứu) Cụ thể: 37 xã thôn chỉ có công điển, 2 xã vừa có công điển vừa có công thổ (thôn Thượng Đình xã Nhân Mục Cựu tổng Khương Đình, xã Thâm Động tổng Thâm Thị), 2 xã chỉ có công thổ (xã Đại Lộ tổng Ninh Xá, châu Vạn Phúc tổng Vạn Phúc) Trong số 2610.4.5.2.2 công điền công thổ phần lớn là công điền (2464.2.10.0.8), công thổ rất ít (146.1.10.1.0) Mặc dù về số lượng tuyệt đối không nhiều nhưng sự phân bố của công điền công thổ lại rải ra trên hầu hết các làng xã Điều này cho thấy

sự tồn tại dai dẳng của hình thức sở hữu công cộng về ruộng đất trong các làng xã người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ.

Tuy nhiên, dù phân bố ở hầu hết các xã thôn nhưng số lượng công điền công thổ ở từng xã thôn không giống nhau Phần lớn số công điền công thổ tập trung ở một số xã (xem bảng 6) Trong số 2610.4.5.2.2 công điền công thổ có tới 2098.8.12.2.7 (80,48%) tập trung ở 13 xã thôn thuộc 6 tổng Đáng chú ý có 7 xã thôn tỷ lệ công điền công thổ vượt trên 50% tổng diện tích Như vậy trên thực tế mặc dù có tới 40 xã Ihôn còn tồn tại loại hình sở

Trang 40

hữu công điển công thổ nhưng loại sở hữu này chỉ thực sự có vai trò quan trọng trong đời sống cư dan ở một số ít làng xã (cụ thể: 13 làng, trong đó 7 làng người dân sống dựa chủ yếu vào loại ruộng đất này) Các làng xã vốn là các sở đồn điển (Vĩnh Hưng, Yôn Duyên) công điền còn tổn tại nhiều (vượt trên 50% tổng diện tích) Công điền tập trung ở một số làng xã thuộc một số tổng (Thanh Trì, Nam Phù Liệt, Vĩnh Hưng Đặng) Ngoài trường hợp tổng Thanh Trì (nơi có hai làng vốn là các sở đồn điền) có thể giải thích được, hai trường hợp còn lại phải chăng là một chứng cớ xác định một đặc điểm chung nào đó của đơn vị hành chính cấp tổng? Nhiều xã thôn (27/40) tuy công điền công thổ vẫn được duy trì nhưng số lượng không lớn, 10 xã thôn chỉ còn dưới

10 mẫu, cá biệt như xã Văn Điển tổng Văn Điển chỉ còn 0.1.3.0.0, hay thôn Liễu Ngoại xã Hà Liễu tổng Hà Liễu: l.o.o.o.o, thôn Pháp Vân xã Hoằng Liệt tổng Quang Liệt: 1.3.0.0.0

Công điền công thổ, theo ghi chú trong địa bạ, là loại ruộng đất được

sử dụng theo chế độ quân điền (đổng quân phân canh tác).

N hững xã thôn có nhiều công điền công thổ (I: vượt trên 50% tổng diện tích; II: lớn hơn tư điền; III: trên 50 mẫu)

Bảng số 6

tích

Công điền công thổ

3 Phương Liệt (III) Hoàng Mai 2 9 2 2 1 1 2 0 8 5 2 9 5 0 29,10

4 Thượng thôn (III)

Ngày đăng: 12/05/2020, 22:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w