Trong khuôn khổ đề tài, chúng tôi chỉ chọn ra những vấn đề nổi bật nhất để ngniên cứu kỳ, đề tài có nhiệm vụ giải quyết những vấn đề sau: Nhận diện các đơn vị tư trong tiếng Mông; xác đị
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI &NHÂN VĂN
VIỆT NAM
M ã Số: CB.04.16Chủ tr ì đê tài: TS N guyễn V ãn H iệu
H à Nội, th án g 06 n ăm 2006
Trang 2M ục L ục
rò*
C hư ơng 1: N hững khái niệm cơ sở liên q u a n đến đề tài 10
Chưoìig 2.Tiêu chí p h ân loại và mô tả từ ghép tiếng M ông Lềnh 40
2 ỉ ỉ Những tiêu chỉ phán loại đã cỏ và tiêu chí phân loại từ ghép 40
tiêng Mông.
Trang 33.1.1 Vẩn đề nghiên cứu từ ghép lảy 80
3.1.3 Tiêu chí phân loại từ ghép láy và các loại từ ghép lảy trong 85
tiếng Mong.
ỉ 2.1 Vài nét khái quát về ngữ âm tiếng M ông làm cơ sở mô tả từ 87
ghép láy
Trang 4Cac tài liệu khoa học, cũng như các truyền thuyết đều cho chúng ta biết rằng người Mông là tộc người dí cư vào Việt Nam sớm nhất khoảng 300 năm
và muộn nhất là 100 năm về trLTỚc Mông là tên tự gọi co nghĩa là người (Hmông7) Các dân tộc khác còn gọi dân tộc pày với các tén Miêu, Mèo, Mẹo Căn cứ vào đặc điêm về dân tộc học và ngôn ngừ học người ta chia tộc Mông ra làm các ngành: Mông Trắng (Hmôngz Đcrư), Mông Hoa (Hmongz Lẻnhl), Mòng Đỏ (Hmongz Siz), Mông Đen (Hmóngz Đuz), Mông Xanh (Hmongz Njưôz), Na Miểu (Mèo nước)[l 5,56] Trong đó, cũng có ý kiến cho rằng Mông Hoa và Mông Đỏ là một [56-23]
Tiếng Mông là một ngôn ngữ không có chử viết Năm 1961 phương án chừ Mông theo tự dạng Latinh đã được chính phủ Việt Nam phê chuản (cụ thể
bộ chữ được xây dụng theo ngừ âm ngành Mông Lềnh Sa Pa - Lào Cai) có bổ sung thêm một số àm vị của các ngành Mông khác, gồm 59 phụ âm ícó 3 âm
Trang 5vị phụ âm cùa ngành Mông Đơư và Mông Sua), 28 vần và 8 thanh [60,156] Những năm 70 phong tr o học chữ Mông phát triển khá mạnh ở hầu hêt các tinh miền núi phía Bắc nước ta nơi có đồng bào Mỏng sinh sổng Nhưng đển nay vui nhiều nguyên nhân khác nhau mà tình hình học chữ Mông đã không còn phát triển như trước kia nữa.
Ngoài Việt Nam ra, các cư dân Mông còn cư trú ở một địa bàn khá rông lớn thuộc phía Nam Trung Quốc, Lào, Thái Lan, Miến Điện và đặc biệt sau năm 1975 cộng đồng người Mông di cư sang sinh sống ở các nước rứui Mỹ, Pháp, Úc con sổ lên tới hàng trăm nghìn người (chủ yếu di cư từ Lào) [15,147], Trong các quốc gia kể trên, Trung Quốc có số lượng ngươ Môna đông đảo hơn cả với hơn 7 triệu người (sổ liệu thống kê 1990) phân bố ở các tỉnh Quý Châu, Hồ Nam, Vân Nam, Tứ Xuyên, Quảng Tây, Hải Nam và Hồ Bắc Trong 56 dân tộc ở Trung Quốc, dân tộc Mông (Miêu) chỉ đúng sau cáo dân tộc Hán, Choang, Mãn, Hồi [68,1-2] Trên thực tế cho thấy các cư dân Mông ở Việt Nam vẫn có quan hệ với các cư dân đồng tộc ở các nưóc khác, đặc biệt là nhừng địa bàn sát biên giới giữa Việt Nam với Trung Quốc và Lào
Cho đến nay chang ta đêu biêt đên tiêng Mông là một ngôn ngữ đơn lập nám trong họ ngôn n2ữ Miao-Yao (Mông-Mien) Nhung trên thực tế đã từng có nhiều ý kiến khá k-hác nhau về vấn đề phân loại theo quan hệ họ hàng của ngôn ngữ này Một số nhà ngôn ngữ học xếp ngôn ngừ M ông thuộc nhánh Miao-Yao ngữ hệ Hán -Tạng (trong đó phải kể đến các nhà khoa học Trung Quốc) [15,155] Trong những ý kiên đáng chú ý ta còn phải kể đến P.K Benedict với quan điềm qui các ngôn ngữ trong khu vực thành 2 họ cơ bản:
họ Hán-Tạng và Nam-Thái (Austro-Thai) Trong đó vị trí các ngôn ngữ Miao
- Yao được định vị trong họ Nam Thái như sau [15,155]’
Trang 6Nam-Thái (Austro-Thai)
Nam đáo (Austronesian) AT-Sub (cơ tầng Nam-Thái)
Nam Á (Austroasiatic)Còn A.G Haudricourt từng bước đem so sánh cả hệ thống thanh điệu và
cả lớp từ vựng CƯ bản giữa các ngôn ngừ Miao-Yao với các ngôn ngừ Hán- Tạng và Nam A Ồng đã cho rằng "các ngôn ngừ Miao-Yao hình như tạo nên mối liên hệ giữa các ngôn ngữ Nam Á và các ngôn ngữ Tạng-Miến" [dẫn theo 19,153] Đây cũng chính là cơ sở để một hướng các nhà ngôn ngữ sau này không xếp các ngôn ngừ Miao-Yao vào Nam Á hay Hán-Tạng mà là một họ ngôn ngừ độc lập vì những Ịđen giai của A.G Haudricourt "không thuần tuý là
sự so sánh 1 r vựng mà là sự phục nguyên, một thao tác thể hiện tính quy luật của những chuyển đổi âm thanh" [15,153] Ke thừa những nghiên cứu đi trước, Martha Ratliff đã đưa ra một bảng phân loại các ngôn ngữ Mông-Miến (Miao-Yao) khá chi tiết [73,19] trong đó tác giả đã định vị ngcinh Mông trẳng (Hmông Đơưz) như sau:
Họ ngôn ngừ (language Family):
Nhóm ngôn ngừ:
Nhánh: thuộc các phương ngôn
M ông - Miến (Hmong-Mien)Mông (Hmongic)
Tứ Xuyên - Quí Châu - Ván Nam (Sichuan-Quizhou-Yunnan) còn gợi là nhánh Mông phía Tây (West Hmongic branch)
Trang 7Tiểu nhánh: Tứ Xuyên-QuíChâu-VânNam (Sichuan-Quizhou-Yunnan)
Khi xem xét vị trí mối quan hệ thân thuộc giữa nhóm Mèo Dao và các ngôn ngữ Đông Nam Á, GS Phạm Đức Dương lại có giả thiết rất khác Trước hết ông phân chia các ngôn ngữ ở khu vực Đông- Nam Á thành 3 dòng: Đồng -Thái, Môn-Khơme và Mã Lai Sự phân chia các dòng ngôn ngừ
ở đây chủ yếu dựa vào sự phân chia cấu tạo từ căn hay chính là đặc điểm cấu trúc ngôn ngữ Theo phương pháp phân loại này, ông cho rang “Nhóm Mèo Dao là ngôn ngữ có gốc Nam Á mô phỏng theo cơ chế dòng Tạng Miến nên quá trình đơn tiết hoá diễn ra theo sơ đồ cấu tạo âm tiết từ c c v c > c v c và đang có xu hướng CV” [17, 238]
Cuốn từ điển Bách khoa thư ngôn ngữ [115, Tập II, 187] đã phân các ngôn ngữ Hmong- Mien (Miao-Yao) thành hai nhánh chính Mông (gồm có: Dananshan Hmong, eastern Hmong, Northern Hmong, Westen Hmong, Hmong Daw, Hmong Njua, Red Miao, Pa Heng, Punu) và Mien (Dao) (gồm có: Ba Pai, Mien, Biao Micn, Iu mien, Mun, She), ở đây Hmong Leng (Mông Lenn) được xác định như một tên gọi khác của ngành Hmong Njua (Mông Xanh) nằm trong nhánh Mông
Như vậy, họ ngôn ngữ Miao-Yao (Mông-Miền) ở Việt Nam có thể được
sơ đồ hoá cung với các ngôn ngữ thành viên như sau [15,147]:
— N hánh Miao—A hóm M ỉao (tiếng Mông, tiếng Pà Thèn)
IIỌ M ÈOD A O
-_ N hánh D a o -_-_ Nhỏm Dao (tiếng Dao) 2.1 Tỉnh hình nghiên cứu tiếng M ông
Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên c ru tiếng Mông Chúng ta
có thể điểm đến một số công trình tiêu bièu trong và ngoài nưưc ở các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau như: vê ngừ âm và ngừ âm lịch sử có các công
Trang 8trình của Chang Kưn (1953), A.G Haudricourt (1954), Nguyễn Văn Lợi(1972), Martha Ratliff (1985, 1987, 1992), Wang Fushi (1979,1985), Phạm Đức Dương (1988) Các công irình về từ pháp, cú pháp có F.M Savina (1916), Nguyễn Năng Tân (1970), Marybeth Clark (1980,1989), Judith Wheaton Fuller (1985, 1987), Annie Jaisser (1984,1987), Nerida Jarkey (1991), Elizabeth Riddle (1989), Wang Fushi(1985), Somroedee Dej-amom (2001) Các công trình kể trên về bình diện nghiên cứu ngữ âm và ngừ âm lịch sử coi như được hoàn thiện và có hệ thống hơn cả còn vấn đề cấu tạo từ thì chỉ được quan tâm nghiên cứu ở những khía cạnh nhất định, chưa thực sự toàn diện Vân cấu tạo tử ghep vì thế chưa đưa ra nghiên cứu như một đối tượng miêu tả độc lập mà chỉ mới được đề cập đến một cách khái lược lồng vào trong các vân đê nghiên cứu khác.
Ngay từ công trình "từ điển Mèo-Pháp'’ (Dictionaire M iao-Tseu- Francais- 1916) của F.M Savina có kèm theo phần giới thiệu ngừ pháp tiếng Mông đã thực sự mang tính mở đầu cho những nghiên cứu về cấu trúc tiếng Mông sau này Công trình " Mông ngữ 2Ĩản chí" do tác giả Wang Fu Shi chủ biên (Bẳc Kinh 1985) là một công trình nghiên cứu về tiếng Mông một cách
toàn diện nhât vê các lĩnh vực ngừ âm, từ vựng và ngừ pháp, phương ngôn bằng cứ liệu các ngành Mông ờ Trung Quốc Trong công trình này tác giả cũng có ít nhiều đề cập đến vấn đề cấu tạo từ của một số phương ngữ Mông Nhung đây cũng chi là nil ùng giới thiệu khái lược giúp cho người đọc có một cái nhìn chung về ngôn ngữ này chứ không đi sâu vào miêu tả chi tiết
Ở Việt Nam, cấu tạo từ tiếng M òng cũng ít được các nhà nghiên cứu quan tâm Trong bài viết "Vài nét về tiếng Mèo ờ Việt N a m -1973" “láy từ và
từ láy tiếng M eo -1975” tác giả Nguyền Văn Lợi cùng đã điểm qua một số phương thức cấu tạo từ tiếng Mông Ket quả các bài viết cũng vẫn dừng lại ở những giới thiệu ban đầu thuân tuý vê khía cạnh câu trúc trên tư liệu tiếng
Mông ở Việt Nam khái quát ở các bình diện cấu tạo từ Chứ chưa đi sâu mô tả
Trang 92 Ý nghĩa lý luận, ý nghĩa thực tit n và tính thòi sự của đề tài:
2.1.Đây sẽ là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thong và
cơ bản lĩnh vực cấu tạo từ ghép tiếng M ông/ Ket quả nghiên cứu của đề tài trong chừng mực nhất định sẽ đóng góp cả về phương diện lý luận và thực tiễn cho việc nghiên cứu ngôn ngữ Mông ờ Việt Nam
2.2 Đổi với tiếng Mông, một ngôn ngữ có loại hình đơn lập nhung có nhiều đặc điểm không hẳn tương đồng với tiếng Việt thì việc chọn ra một phương phftp nghiên cứu đơn vị ngữ trong tiếng Mông một cách hợp lý sẽ có
ý nghĩa lý luận to lớn Một mặt nó sẽ là tiên đề đê chúng ta dân tiếp cận các ngôn ngữ khác trong nhóm ngôn ngừ này Mặt khác, những cứ liệu nghiên cứu đươc sẽ£Óp phần làm sáng rõ thêm những vấn đề thuộc về lý thuyết đối với các ngôn ngữ phương Đông >
2.2 Tiếng Mông là một bộ phận quan trọng trong nhóm các ngôn ngữ Mông-Dao (Miao-Yao) Ở Việt Nam, tiếng Mông có vị trí gần như một trong
số ít nhừng ngôn ngữ được coi là "ngôn ngữ phổ thông vùng" ở địa bàn thuộc biên giưi Việt-Trung Ch' oh vì vậy, nghiên cứu sâu \ à hệ thổng một đon vị cú pháp cơ bản trên tư liệu tiếng Mông ở Việt Nam là một việc làm cấp thiết Mỏt mặt nghiên cứu cấu tạo từ tiếng Mông trên bình diện đông đại sè cho phép chúng ta hiểu biết thêm về ngòn ngữ này một cách tỉ mỉ và có hệ thống Ngoài ra, qua đó chúng ta cũng có thể hiểu được những cơ chế cấu tạo chung của các đơn vị từ ghép của các ngôn ngừ Mông - Dao trong mối liên hệ với các ngôn ngừ khác trong khu vực
Trang 102.3 Việc nghiên cấu tạo từ ghép trong tiếng Mông còn có thể cung cấp
tư liệu cho việc hệ thống hoá, tổng kết những đặc trưng cơ bản nhất, những
mối liên hệ, loại hình của các ngôn ngữ Mỏng - Dao ở khu vực Đông Nam Á
2.4 Việc nghiên cứu ngôn ngữ dân tộc Mông cũng góp phần thực hiện
chính sách ngôn ngữ của Đảng và Nhà nước ta đối với vùng có người d ín tộc
thiểu số cư tru theo đúng nghị định 53/CP của chính phủ và nghị quyết Trung
ương 9 của Đàng
3 TV Ấ • 1 I • A r ^ I • A T A Ầ » ^ •
Đôi tượng nghiên cứu va nhiêm vụ cua đê tài:
3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài là cấu tạo từ ghép trong tiếng
Mông chủ yếu dưa trên cử liệu ngành Mông Lenh ở Việt Nam
3.2 Nhiệm vụ của đề tài:
Đây là lần đầu tiên từ ghép trong tiếng Mông được chọn làm đối tượng
nghiên cứu riêng cho một đề tài khoa học Ỏ đề tài này đơn vị từ ghép được
đưa vào quan sát, miêu tả cùng với những đặc trưng cấu tạo cơ bản nhất của
chúng Trong khuôn khổ đề tài, chúng tôi chỉ chọn ra những vấn đề nổi bật
nhất để ngniên cứu kỳ, đề tài có nhiệm vụ giải quyết những vấn đề sau:
Nhận diện các đơn vị tư trong tiếng Mông; xác định các đơn vị cấu tạo
từ (hình vị) và nêu ra những đặc điểm về hình thái và ngữ nghĩa của chúng
Miêu tả cấu tạo và những đặc trưng ngữ pháp và ngừ nghĩa của các đơn
vị từ ghép trong tiếng Mông Đồng thời ở một mức độ cho phép có thể so
sánh với tiếng Việt để làm sáng tỏ thêm những nhận xét trong đề tài
4 P liưong pháp nghiên cứu
4.1 Phương ph áp thu thập tư liệu:
a Tư liệu trình bày trong đề tài được thu thập trên cơ sở tiếng Mông thuộc ngành Mông Lẻnli ờ Việt Nam Phương ngừ Mông Lềnh được coi là
tiêu biểu bởi vì:
- Hiện nay bộ chữ Mông đang sử dụng về cơ bản được xây dựng trẽn
Trang 11cơ sở ngữ âm của ngành Mông này Điêu này sẽ thuận lợi cho chúng tôi ghi chép khi điền dã để lấy tư liệu.
- Đây là phương ngữ khá phổ biến vì có những đặc điểm ngôn ngữ được coi là tiêu biểu cho các ngành Mông ờ Việt Nam Trong các công trình của mình, nhiều nhà ngôn ngữ thường lấy phương ngữ này làm tư liệu nghiên cứu chính
-Địa bàn điền dã chính cũng như tư liệu viên được chúng tôi chọn chủ yếu là dân tộc M ông Lềnh cư trú tại Sa Pa- tỉnh Lào Cai
- Chúng tôi chủ trương nghiên cứu tiếng M ông hiện đại, có nghĩa là những ngữ liệu dùng miêu tả phải được các đối tượng người Mông thường xuyên sử dụng Ngay cả một số câu trúc đã quá cô chỉ xuât hiện rât ít trong văn học dân gian mà không còn sử dụng sẽ được chúng tôi xem xét ở những khía cạnh nhất định chứ không khái quát thành những trường hợo điển hình cho câu tạo từ ghép tiếng Mông
b Tư liệu được thu thập từ hai nguồn chính:
- Thu thập băng các tư liệu ngữ văn đã có mà chủ yếu qua 2 cuốn từ điển Việt -M ô n g và Mông- Việt Mặt khác, chúng tôi thu thập từ các ấn phẩm báo chí, sách công cụ song ngữ và đơn ngữ, truyện dân gian đã được xuất bản bằng tiêng Mông
- Sau khi đã thu thập tư liệu là các đơn vị từ, chúng tôi tiến hành nghiên cưu điền dã nhằm kiểm tra tư liệu đã thu thập được
4.2 Phương ph áp nghiên cửu và x ử lỷ tư liệu:
Đẻ tài dùng phương pháp quy nạp, từ quan sát, phân tích, mô tả tư liệu đen lý eiai và hệ thống hoá các vấn đề về cấu tạo từ ghép tiếng Mông
Hướng nghiên cứu cùa người viết vẫn chủ }ếu lấy phương phap miêu ta đồng đại theo hướn£ truyền thống làm cơ bản
Khi tiến hành mô tả, phân tích tư liệu chúng tôi sử dụng tòng hợp các
Trang 12phương pháp và thao tác mà ngôn ngữ học truyền thống và ngôn ngừ học chức nãng thường dùng, cụ thể là: thống kê phân loại, phân bố, phân tích thành tố cú pháp, cải biến, phân tích ngữ cảnh để xử lý những truỡng hơp cụ thể và giúp cho người đọc hình dung rõ hơn diện mạo của cấu tạo từ tiếng Mông
Ngoài ra, khi thực hiện đề tài chúng tôi còn dùng phương pháp so sánh đôi chiêu ngôn ngữ học Nhưng trong đề tài, chúng tôi không đặt ra việc so sánh đò chiếu như một mục đích bắt b.uộc mà chì dùng chúng như một phương tiện làm nổi bật những lý giải cần thiết khi miêu tả ở những luận điểm
cụ thể
5.Bố cục của đê tài
Ngoài phẩn mở đầu và kết luận, đề tài của chúng tôi bao gồm 3 chương với các nội dung chính sau:
Chương 1; Cơ sở lý thuyết liên quan đến để tài.
Chương 2\ Phân loại và mô tả từ ghép trong tiếng Mông.
Chương 3: Phân ìoại và mô tả từ ghép láy trong tiếng Mỏng.
rò * ^
Trang 13Chương 1: Những khái niệm cơ sở liên quan đến
đề tài
1.1 v ấ n đề từ tro n g tiếng M ông
Có thể nói rằng, từ là một đơn vị phức tạp của ngôn ngữ học Quan niệm về đơn vị ngôn ngừ này nhìn chung vẫn chưa được thống nhất trong giới nghiên cứu Thậm chí nhiều hướng nghiên cứu còn hoài nghi có sự tôn tại của đơn vị từ hoặc họ không đề cao đơn vị từ như một đơn vị ngôn ngữ cơ bản
Đại diện cho khuynh hướng này là các tác giả thuộc trường phái miêu
tả Mĩ, các tác giả của ngữ pháp tạo sinh và một sô nhà ngôn ngữ chức năng luận của Pháp Đổi với họ, khíi niệm từ không cần thiết vì khái niệm này không mang tính phổ quát mà chỉ trên tư liệu của một ngôn ngữ nhất địiih nào
đỏ Khi nhận xét về khuynh hướng này GS Đỗ Hữu Châu đã phận xét “Chu nghĩa miêu tả Mĩ mặc dầu vẫn đưa ra những đinh nghĩa về từ, nhưng trong thực tế xem các hình vị là đơn vị cơ bản của sự miêu tả cấu trúc câu và cấu trúc ngôn ngừ Hình vị và từ được xem cùng một tính chất, đông nhất theo quan hệ phân bố Sự khác nhau về chất lượng giữa hình vị và từ không còn nữa” [11,11] Nhà ngôn ngữ học người Pháp A Martinet cho rằng “Việc tìm tòi một định nghĩa chính xác cho khái niệm từ trong ngôn ngữ học đại cương
vị tất là một việc làm hợp lý” [40,166] Từ đó ông đã chủ trương: “ (khái
niệm) ngữ đoạn tự lập (,syntagme autonome) hơn là khái niệm từ” Ngừ đoạn
tự lập là sự kết hợp hai hay nhiều monème (tức là một tín hiệu tối giản mang
nghĩa) mà chức năng của nó không phụ thuộc vào vị trí của nó trong câu Bên cạnh đó, Ch Bally cũng có quan niệm từ phải được nhường chỗ cho các đơn
vị lớn hơn từ trong câu Nhìn chung, khuynh hướng coi nhẹ vai trò của đơn vị
từ thường ít được u n g hộ
Đối lập với khuynh hướng trên, phần lớn các nhà ngôn ngữ học đều chấp nhận có sự tồn tại của đơn vị từ Những trên thực tế cỏ rất nhiêu định
Trang 14nghĩa khác nhau về từ Điều đó phần nào cho thấy sự quan tâm của giới ngôn ngữ dành cho đơn vị này và cũng cho thấy sự phức tạp trong việc nhân diện bản chất của đơn vị từ trong các ngôn ngữ khác nhau Chính F de Sausure
cũng đã thừa nhận ràng từ “một cái gì đó trung tâm trong toàn bộ cơ cấu ngôn
ngữ, mặc dù khái niệm này rất khó định nghĩa” [45,181]
Tuy là đơn vị phức tạp trong hệ thống ngôn ngữ nhumg những nghijn cửu về từ vẫn đạt được những thành tựu đáng khích lệ Nhìn chung, các nhà ngôn ngừ học đều đánh giá cao vị trí của từ trong hệ thống ngôn ngừ, theo đó tất cả các đơn vị khác của ngôn ngữ bằng cách này hay cách khác đều bị qui định bởi sự có mặt của từ Chẳng hạn, Smimiski coi từ là đơn vị tất yếu của ngôn ngữ, là đơn vị ngôn ngừ cơ bản tồn tại một cách hiển nhiên
Quan điểm xem xét từ như là một đơn vị nhiều mặt là đnág chú ý hơn
cả Đóng góp to lớn cho sự hìah thành và phát triển quan điểm này là các nhà ngôn ngữ học Xô Viết như: A.A Reformatskij, S.E Jakhontov Chẳng hạn định nghĩa A.A Reformatskij về từ như sau “từ là đơn vị độc lập của ngôn ngừ, chức năng cơ bản của nó là định danh; khac với hình vị là những đơn vị nhu nhất có ý nghĩa của ngôn ngữ, từ có tính chấl độc lập (mặc dù nó có thể được cấu tạo từ một hình vị); về mặt ngữ pháp, nó được định hình theo quy luật của một ngôn ngữ nhất định, và không nhừng nó có nghĩa vật thể mà nó còn có nghĩa trừu tượng nữa Khác với câu, là đơn vị có thuộc tính thông báo trọn vẹn, từ không có tính chất thông báo (tuy nó có thể thực hiện vai trò của câu) nhưng nhờ từ mới xây dựng đựoc câu để thực hiện thông báo Đồng thời
từ luôn luôn có liẻn hệ vói ban chất vật chất của tín hiệu, nhờ dí- mà từ phân biệt được với nhau, tạo thành những thể thống nhất của ý nghĩa và cái được biểu đạt bang âm thanh Môi quan hệ giữa từ và khái niệm không đơn giản như người ta tưởng, bởi vì không phải từ nào cùng biểu thị khái niệm” (dẫn theo [29,17])
Trang 15Khi xem xét đơn vị từ trong các ngôn ngữ có loại hình đơn lập, tác giả Cao Xuân Hạo đã nhận xét từ là một đơn vị mà “cương vị ngôn ngừ học chưa được lập thức một cách đầy đủ minh xác để làm cơ sờ cho việc xác đ'nh tính phổ quát của đơn vị đó cũng như việc phân định nó trong những ngôn ngừ cócấu trúc khác với ngôn ngữ Ấn  u Ta không khỏi cảm giác 1È trong các thứtiếng ở Châu Âu, từ được người bản ngữ phân định dễ dàng” [24] Đối với các ngôn ngữ đơn lập ở châu Á như :tiêng Việt, tiêng Hán, tiêng M ông , tình hình nhận diện từ không đơn giản như vậy Thoạt tiên, từ được tiêp nhận một cách tiên nghiêm nhung dân dân giới Đông phương học nhận ra răng
‘'Bên cạnh các đơn vị quen gọi là từ, trong các ngôn ngữ đơn lập còn có một loại đơn vị mang tính chất trung gian giữa t r và hình vị trong ngôn ngữ Án
Âu Đơn vị này trong các ngôn ngừ đơn lập có quan hệ chặt chẽ với âm tiết
mà Druganov gọi là morphosyìỉabema” [19] Như vậy đối với các ngôn ngữ
đơn lập có tồn tại dơn vị từ và đơn vị từ có những đặc trưng không hẳn là tương đồng với các ngôn ngữ Án Âu Đây chính là đặc điểm quan trọng để chiiìng ta xem xét đơn vị từ trong ngôn ngừ thuôc loại hình đơn lập (trong đó
có tiêng Mông) Tác giả Đinh Văn Đức cũng đã chỉ ra đơn vị từ trong các ngôn ngữ đơn lập khác với các ngôn ngữ Án Âu ở những đặc điểm chủ yếu sau:
-Không cớ hiện tượng biến hình
-Có hiện tượng từ trùng với căn tố
-Từ ghép có mô hình của kêt cấu tự do (từ tô)
-Trong câu có hiện tượng từ như tách biệt với nhau
Nhận ra được những đậc điểm khác với các ngon ngừ biển hình, các nhà ngôn ngừ học Việt Nam trong những năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu đơn vị từ trên quan điêm đa phương diện Các tác giả Việt Nam đều thừa nhận có tôn tại đơn vị gọi là từ trong hệ thống ngôn nsử và khi nghiên cứu luôn xem xét từ nhiều khía cạnh khác nhau Chúng ta có thể kể ra
Trang 16hàng loạt những tác giả nghiên cứu về lĩnh vực từ với các công trình tiêu biểu của họ như: Lẽ Văn Lý, Nguyễn Văn Tu (1968), Nguyễn Tài c ẩ n (1975), Hồ
Lê (1976), Đỗ Hữu Châu (1981, 1985), Nguyễn Thiện Giáp (1985)
Có hàng loạt những định nghĩa khác nhau về từ, nhung tựu trung lại các định nghĩa đều xác nhận từ là “ Đơn vị cấu trúc -n g ữ nghĩa cơ bản của ngôn ngữ dùng để gọi tên các sự vật và thuộc tính của chúng, các hiện tượng,các quan hệ của thực tiễn, là một tổng thể các dau hiệu ngữ âm, ngừ nghĩa vàngừ pháp đặc trưng cho từng ngôn ngữ Các dấu hiệu đặc trưng của từ là có tính hoàn chỉnh, tính có thể phân chia thành các bộ phận và khả năng tái hiện lai dễ dàng trong lời nói Từ có thể phân chia thành các cấu trúc; cấu trúc ngữ
âm của từ, cấu trúc hình thái của từ và cấu trúc ngừ nghĩa của từ c ấ u trúc ngữ âm của từ là toàn bộ các hiện tượng âm thanh tạo nên vỏ âm thanh của từ Cấu trúc hình thái của từ là toàn bộ các hình vị tạo nên từ; cấu trúc ngữ nghĩacủa từ là toàn bộ các nghĩa khác nhau của từ” [55,330] Tác giả Dỗ Hữu Châu(1985) cũng chỉ ra đơn vị từ có 4 đặc điêm chính sau:
a Có hình thức ngữ âm và ý nghĩa;
b.Có tính sẵn có, cổ định, bắt buộc;
c.Là những đơn vị thực tại, h ’ển nhiên của ngôn ngữ
d.Là đơn vị nhỏ nhất có khả năng hoạt động độc lập trong câu
Theo chúng tôi việc nhận diện đơn vị từ trong một ngôn ngừ cần phảinhìn dưới nhiều góc độ khác nhau và quan trọng là phải đặt từ theo cái nhìn loại hình với đầy đủ các đặc điêm cua ngôn ngữ đang xét Vì tiếng Mông là một ngôn ngừ có loại hình đơn lập giống như tiếng Hán, tiếng Việt nên chúng tôi chấp nhận quan niệm từ của các nhà nghiên cứu Việt ngừ đi trước để làm
cơ sở cho việc nhận diện từ trong tiếng Mông Việc nhận diện từ theo hướng
này cũng thừa hưởng kinh nghiệm từ các tác giả nghiên C'SLI đơn vị tư của các
ngôn ngữ dân tộc thiểu số khác trong khu vực như Neuvền Hừu Hoành (1993), Phan Văn Phức (1993)
Trang 17Cũng giống như các tác gici đi trước, chúng tôi quan niệm tư tiếng Móng có những đặc trưng chính như sau:
• về cấp độ: Thừa nhận một sự phân chia các đơn vị hai mặt cùa
ngôn ngữ thành ba cấp độ: hình vị-từ-câu, lừ trong tiếng Mông thuộc về một cấp độ riêng, lớn hom hình vị và nhỏ hơn câu
• về kích thước vật chất' Từ có vỏ ngữ âm bền vững.
• về ỷ nghĩa: Từ là một đơn vị độc lập có nghĩa Nghĩa của từ có tính
từ vựng-ngừ pháp và có tính thành ngữ
• về chức năng: Chưc năng quan trọng nhất của từ là đinh danh
Ngoài ra, nó còn một số chức năng khác như dụng học, chức năng
cú ph?D học
• Vê năng lực hoạt động:Từ phải được vận dụng và tái hiện tự do
trong lời nói Đây là một đặc điểm quan trọng giúp phân biệt từ với các hình vị
• M( i quan hệ với các đơn vị khác trong hệ thống ngôn ngữ: từ được
cấu tạo từ những hình vị và luôn thuộc về một kiểu cấu tạo nhất định Từ cũng là cơ sở đê câu tạo câu
Như vậy, một đơn vị ngôn ngữ trong tiếng Móng có vỏ ngữ âm mang đày đủ những đặc trung nêu trên đều được coi là từ Xét trên phương diện lý
thuyết thì những đặc trưng của từ sẽ giúp chúng ta nhận diện đơn vị từ trong tiếng Mông, đồng thời giúp chúng ta làm cơ sở để phân biệt đơn vị từ với các đơn vị ngôn ngữ khác trong tiếng Mông như (hình vị, cụm từ, câu)
Ví du: Chúng ta có thể nhận diện được các đơn vị từ tham gia cấu tạo câu sau trong tiêng Mông:
(1) Tuz nxeik puôr lênhx tâu môngữ cơưv (Trai gái tất cả đều được đi
Trang 18Chúng tôi thấy ví dụ trên tồn tại 7 từ mang đầy đủ những đặc trưng như
đã trình bày ở trên đó là: (tuz (trai)/ nxeik (gái)/ pu ô r (tât cả) /ỉênìix (người) /tâu (được) / môngl ( đi) / cơưv ( học).
1.2 V ấn đề hình vị tro n g tiếng M ông
1.2.1 Quan niệm về hình vị trong tiếng M ông
Vấn đề hình vị trong ngôn ngữ học vẫn luôn là một đề tài gây nhiều tranh cãi và chưa hẳn đã thống nhất trong giới nghiên cứu Các hướng nghiên cứu đều cho thấy hình vị là đơn vị cơ bản nhỏ nhất của ngôn ngữ gẳn liền với
từ ở đây chúng tôi chỉ điểm qua nhửng quan niệm về hình vị tiêu biểu và từ
đó lựa chọn một quan điểm phù hợp với loại hình tiếng Mông để làm cơ sở cho việc nghiên cứu
Trước hết phai nhận thấy ràng khái niệm hình vị xuất hiện nhờ vào kết quả nghiên cứu cấu trúc từ sau khi đã phân chia thành hai bộ phận là căn tố và phụ tố Trong các hướng nghiên cứu hình vị mang tính chất mơ đầu, chúng tôi nhận thấy các quan niệm về hình vị đều dựa trên các ngôn ngữ biến hìnli-tổng hợp tính, tác g'ả Bôduen de Kưrtenne là người đầu tiên đưa ra khái niệm h nh
vị (morfema) Theo ông “hình vị là bộ phận nhỏ nhất có nghĩa của từ” “hình
V ị với ý nghĩa đã được chi ra, xác định các bộ phận không độc lập của từ như căn tố (gốc từ) và phụ tố ở các dạng: tiền tố, trung tố, hậu tố và đuôi từ” (dẫn theo [29,25]) Qua đây ta thấy quan niệm hình vị của Bôduen de Kurtenne chù yếu áp dụng cho các ngôn ngữ biến hình, khi mà cấu tạo từ thường gồm hai bộ phận là căn tố và phụ tố
Tác giả L.B'oomfiel, đại diện cho trường phái miêu tả Mỳ lại có cách nhìn khác về hình vị Ong cho rằng “Hình vị được xác định là đoạn âm thanh tối thiểu trong mối quan hệ ngừ âm và ngừ nghĩa, các đoạn này phải phân biệt với các đoạn khác'’, “hình vị là hình thái ngôn ngừ nhỏ nhất'’ Có thể nói đây
là mòt quan niệm thích hợp với các ngôn ngừ có loại hình phân tích tính Vô
Trang 19\ -nh trung, định nghĩa này đã xóa nhoà ranh giới giữa nhừng hình vị và từ
Theo đó, hình vị cũng có thể là từ và cũng có thê là bộ phận của từ
Trong lịch sử nghiên cứu Việt ngữ, các nhà nghiên cứu cũng đã có nhiều điểm chưa hẳn đã thống nhất trong việc định nghĩa đơn vị này Nhung hầu hết các tác giả đều thống nhất xem hình vị là một đơn vị “có một kiều có
tổ chức tổi giản dùng làm thành tố để trực tiếp tạo nên tất cả mọi kiểu đơn vị khác còn lại; đơn vị đó được xem là đơn vị gốc, đơn vị tế bào cùa ngừ pháp Kiêu đơn vị đó, trong thuật ngữ ngôn ngữ học, thường được gọi là hình vị, moóc phem hay từ tố” và “ hình vị là đơn vị nhỏ nhất mà có mang ý nghĩa, mang giá trị ngữ pháp” Tác giả Trần Ngọc Thêm cũng đưa ra một cách hiêư tương tự về đơn vị hình vị trong tiếng Việt “Hình vị là đơn vị ngôn ngữ, có nghĩa, nhỏ nhất và không độc lập về cú pháp” Nhìn chung cách hiểu trèn \ ề hình vị được xem là phù hơp và trùng vơi ý kiến cùa nhiều nhà Việt Ngừ học
Nhung vấn đề lại không chỉ đơn gi.m là tìm đến một định nghĩa chưng nhất về hình vị, mà phải chỉ ra được những đặc trưng mang tính loại hình của tiếng Việt, một ngôn ngữ đơn lập điển hình Mấu chốt vấn đề ờ đây là ranh giới hình vị đến đau và liệu có tôn tại đơn vị “hí 111 tiết” trong tiếng Việt
Tác giả Đỗ Hữu Châu đã đưa ra một số các quy định cho việc xác định hình vị:
Quy đinh về chức năng: mỗi hình vị phải thuộc về một loại hình đảm
nhiệm một chức năng nhất định trong việc cấu tạo nên nghĩa biêu niệm của từ
Ouy định về ngữ nghĩa: mồi hình vị phải thuộc về mọt loại binh vị tạo
nên một trong các thành phân ngừ nghĩa của từ-ngừ nghĩa: thành phân từ loại, thành phần ý nghĩa tương liên và thành phân V nshĩa từ vụng thuần khiết Mặt khác , mồ i h ì n h vị p h ải là ý n g h ĩ a h ẹ p nhất, cụ thê h ó a t ư n g th a n h p h ầ n V nghĩa kể trên
Trang 20Quy định về khả năng hiện thực hóa (cảm rỉnh hóa): mỗi hình vị phải được hiện thực hóa (mặc dâu không nhất thiết phải có quan hệ một đối một) bằng sự đối lập về ngừ âm trong một hệ dọc các hình thức ngữ âm.
Với tư cách là đơn vị cấu tạo từ, tác giả đã quan niệm hình vị trong tiếng Việt là “những hình thức ngữ âm cố định, bất biến, nho nhất (hay tôi giản) với dạng chuân tối thiểu là một âm tiết, tự thân có nghĩa, (nghĩa miêu tả hay nghĩa tương liên) có thể chịu tác động của các phương thức tạo từ đễ tạo
ra từ” [11,135] Theo quan niệm này, vô hình trung tác giả đã không thừa nhận sự trùng khớp giữa hình vị và âm tiết, phủ nhận khái niệm “hình tiết” như một số tác giả khác Theo ông dạng chuẩn tối thiểu là một âm tiết, điều này có nghĩa là hình vị có thể lớn hơn một âm tiết
Khi nghiên cứu các ngôn ngữ đơn tiết tính {monoo Aìabaisme) ở Đông
Nam Á Ju.Ja Plam nhận xét “các ngôn ngừ đơn lập ở Đông Nam Á (trong đỏ
có nhiều ngôn ngữ dân tộc Việt Nam) có những đặc điêm riêng xác định vê quy trình cấu tạo từ trong lĩnh vực cấu tạo từ ghép Những đặc điểm cơ bản
của cấu tạo từ lại do tính chất Kinh vị âm tiết trong cấu trúc từ của các ngôn
ngữ đó quy định” [44,85] V.B Kasevich cũng đông tình với quan điêm hình vị-âm tiết và coi đó là ‘nét đặc thủ của các ngôn ngữ âm tiết tính” [24,69]
Nhiều tác giả Việt Nam cũng tán đồng theo cách hiểu này Một trong những kiến giải đi theo hướng này phải kể đến tác giả Nguyễn Tài c ẩ n (1975) Ông cũng đã nhận ra rất đúng bản chât cua đơn vị hình tiết trong tiếng Việt và goi đơn vị này là tiếng “mỗi tiếng như thê chính là một đơn vị gổc,-một hinh vị- của ngữ pháp tiếng Việt: tiếng là đơn vị có đủ cả hai đặc trưng “đơn giản nhất về tổ chức” và “có giá trị về mặt ngữ pháp” [7,13]
Đối với tiếng Mông, một ngôn ngữ đơn lập điển hình giổng tiếng Việt thì một cách hiẻu “hình tiết” hay “tiếng” là hoàn toàn hợp lý và giản tiẹn nhất Chính từ cách hiểu này chúng ta có thể nhận diện được hình vị tiếng Mông với những đặc điêm chính sau:
Trang 21- Mỗi hình vị trong liếng Mông có kích thước của mội âm tiết, nghĩa là nó đã tối giản về mặt tổ chức, không thể tách ra được nừa.
Vỉ du:
Cêr : con đường
Lux : con chồnBên cạnh đó cũng có những hình v< khóng tự thân mang nghĩa, tự nó không qu< chiếu vào một khái niệm cụ thể nào Nhưng sự hiện diện của nó rõ ràng đem lại một ý nghĩa nhát định đói với cấu trúc Cia từ Ví dụ như hình vị
vaos trong từ điJLZ vaos (đen ngòm) Hình vị vaos ờ đây không mang nghĩa nhưng kl i kết hợp với đuz (đen) thì nó đã làm cho cẩu trúc nghĩa của từ thav đổi Cụ thể là từ đuz vaos đã có sắc thái nghía khác với nghĩa của từ đuz Qua
đây cũng nhận thấy rằng ý nghĩa của một đơn vị hình vị là bao gồm cả ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngừ pháp
Đổi với tiếng Mông, cũng giống như các ngôn ngừ đơn lập khác, đặc trưns “cỏ nghĩa” giúp chúng ta phân biệt hình vị với các đơn vị của cấp độ âm
vị học (âm vị, âm tiêt) Đặc trung “không có tinh độc lập vê cú pháp” giúp chúng ta phản biệt giữa hình vị với từ trong tiếng Mông
1.2.2 C ả c ỉo ạ hình vị trong tiếng Mông.
1.2.2.1 Phăn loại chung
Trang 22Cách phân chia truyền thống của ngôn ngữ học đại cương tách hình vị thành hai loại là căn tố và phụ tố Tiếp đó, căn cứ vào vị trí chiếm giữ trong
từ, các phụ tố lại được chia ra thành tiền tố, trung tổ và hậu tổ Song cách phân chia này chỉ vận dụng được trong những ngôn ngữ biến hình tổng hợp tính chứ không có khả năng vận dụng Vdo các ngôn ngừ đơn lập như tiếng Mông
Căn cứ vào những đặc điểm về chức năng và ngữ nghĩa của những đon
vị cơ sở trong tiếng Mông, chúng tôi phân loại chúng theo hai tiêu chí: 1/Tiêu chí về nghĩa: Chia làm 2 loại là những đơn V’ có nghĩa và những đơn vị vô nghĩa; 2/ Tiêu chí về cách dùng: Chia làm hai Loại độc lập và không độc lập
Tù hai tiêu chí này, chúng ta có thể phân hình vị tiếng M ông thành 4 loại cơ bản sau:
Loại I: Đây la loại hình vị vừa có nghĩa lại vừa độc lập Chúng là cơ sở của phương thức từ hóa hình vị đế tạo ra các từ đơn trong tiếng Mông Trên phương diện cấu tạo từ, chúng là cái lõi để gắn kết các hình vị cùng loại và khác loại với nhau Loại hình vị này, có thê nói chúng giữ vai trò quan trong nhất và là nền tảng để hình thành các phương thức cấu tạo từ trong tiếng Mông
Ví du:
Têỉ, tuôs, cêr, ndê -+ têỉ (tay), tuôs (chết), cêr (đường), ndê (lên)
Hình vị loại này trong tiêng Mông có những đặc điểm tương tự với cái gọi là căn tổ trong các ngôn ngữ Ấn Âu Tuy nhiên đối với tiếng Mông, hình
vị có thể hoàn toàn có khả năng độc lập trở thành từ (như đối với ví dụ trên) Trong khi đó, căn tổ hầu như không có năng lực đứng một mình để thành từ
và chúng chỉ trở thành từ khi kết hợp với các hình vị khác mà cơ ban là các phụ tổ
Loại II: Đây là loại hình vị có nghĩa nhưng khòng độc lập Chúng chì chuyên đừng làm hình vị trong một sổ tổ hợp nhất định mà không có khả
Trang 23năng độc lập để trở thành từ Nói cách khác, chúng luôn bị ràng buộc bời các yếu tố xung quanh và chỉ xuất hiện ở trong những tổ hợp.
Ví du:
H âu —*■ hâu traos (từ trường)
Ở ví dụ trên, hình vị hâu chi xuất hiện trong các từ ghép theo kiểu hâu traos (tù trưởng) trong đó hâu mang nghĩa là “đầu” Hình vị hâu
không bao giở đúng độc lập với cương vị là một từ đơn ngay cả khi biểu thị ý
nghĩa “đầu” nó cũng xuất hiện với tư cách là một từ ghép tâu hâu (đầu) Các
hình vị kiểu này phần lo n có nguồn gốc ngoại lai
Loại III: Đây là loại binh vị khcng có ý nghĩa từ vựng chân thực (rông nghĩa), nhưng lại có ý nghĩa về ngữ pháp
Ví du: Tưz, haz, tsênhv (đã, còn, đang )
Loại IV: Đây là loại hình vị không độc lập và vô nghĩa Giông như loại
2, chúng không thể đứng một mình để thành các từ đơn được Thế nhưng chúng lại tự thân vô nghĩa Đương nhiên, cái gọi “vô nghĩa” ở đây được hiểu theo một trường hẹp, tức là chúng không mang một nét nghĩa nào rõ rệt Muốn thấy được chhng có khả năng, có tác dụng giải thích vê mặt ngừ nghĩa thì phải đặt chúng trong một tổ hợp
Ví du:
Vaos —► đuz vaos (đen nghịt) Trong ví dụ trên, hình vị vaos tự thân nó rồng nghía, nhung nếu xét cả tổ hợp đuz vaos thì hình vị vaos có tác dụna ngừ nghĩa để khiến cho nghĩa cùa từ đuz vaos khác với đuz.
Chúng ta có thể khái quát được các loại hình vị tiêng Mông như sau:
Trang 24ỉ 2.2.2 Các loại hình vị gốc Hán.
a Vài nét về sự tiếp xúc Hán-Mông.
Lịch sử thiên di của dân tộc Mông từ vùng Tây-Nam Trung Quốc xuống các quốc gia Đông Nam Á (trong đó có Việt Nam) diễn ra cách đây khoảng trên dưới 300 năm 1 Trước ihời gian đỏ, tiếng Mông đa có một thời gian khá dài tiếp xúc với tiếng Hán Đối với người Mông ờ Việt Nam việc tiếp xúc với tiếng Hán không dừng lại mà nó vẫn con tiếp tục bởi những đặc thù về địa lý cư trú, môi trường giao tiêp ở những vùng sát biên giới Việt- Trung Chính những sự tiếp xúc này đã hình thành một hệ thong từ vựns vay mượn Hán trong tiếng Mông mà hâu hêt vay mượn từ tiếng Hán thuộc phương ngôn Hán Tây N am 2 Ngay khi chúng ta so sánh nhừng lớp từ ngữ này với tiếng Hán ở diện đồng đại thì chúng ta vẫn nhận ra đươc khối lượng
1 Tác giả Kei Q u in cy (1 ^ 8 8 ) cho ràng người M ông di cư từ Trung Q uốc xu ổne Đ ỏng Nam Á (sớm nhất đến V iệt N am ) vào năm 1740 [1 0 ,6 0 ],
2 Phương ngôn Hán Tây Nam (Sou th w est Madarin D ialect), phổ biến ở các tinh Vân Nam , Tứ
Trang 25từ vay mượn Hán tồn tại khá phổ biến trong tiếng Mông Chung tôi gọi !ơp từ
này là lớp từ gốc Hán hay từ Hán-Mông Những ví dụ sau được xem là những
từ gốc Hán trong tiếng Mông Lềnh:
Phổ thông
Cá Cựu3 (Vân Nam)
Q uảng Nam (Vân Nam)
Q uảng Nguvên (Tứ xuyên)
Việt
Vấn đề từ vay mượn Hán trong tiếng Mông đã được nhiều học giả nước
ngoài quan tâm nghiên cứu nhu Kun Chang (1953), Ying Lin (1972), Downer
(1973), Ballard (1986), David R Mortensen (2000) Nhìn chung hầu hết các
công trình nghiên cứu trên dua vào nguồn tư liệu từ người Mông ở Trung
Quốc, Thái Lan, Lào và một số lớn từ những người Mông đang định cư ở Mỹ
(chủ yếu đến từ Lào) Các công trình này phần lớn nghiên cứu o khía cạnh
ngữ âm lịch sử, nhưng cũng đà chỉ rõ được những tương ứng về ngừ âm giữa
từ gốc Hán trong tiếng Mông với tiếng Hán qua các giai đoạn lịch sử khác
nhau
b Các loại hình vị gốc Hán trong tiếng Mông.
Trong tư liệu của chúng tối những hình vị gôc Hán chiêm số lượng khá
lớn ở tiếng Mông Chúng được hệ thống ngôn ngữ Mông tiếp nhận qua một
quá trình lịch sử lâu dài trong sự tích hợp do tiếp xúc của hai ngôn ngừ Hán-
Mông Tất cả những đơn vị hinh vị gốc Hán được tiếp nhận trong hệ thống từ
3 Tư liệu do tác già làm việc với các tư liệu 'viên ỡ các địa phươns này (Cá Cựu ('ÍIB) thuộc cháu
H ồnc Hà (S3Õ]), Quãng Nam' n ^ ỊÍ thuộc cháu Văn Sơn ( Í l i í ) (Vân N a m -23$)), Q uáne N tu ỹ ẽ n (r~7Ẹ) ( phía
Trang 26vựng tiếng Mòng Lềnh ơ các giai đoạn khác nhau đều là nhừng đơn vị cơ sở
để cấu tẹo nên từ ghép tiếng Mông
Ví du :
-Vay mượn từ tiểng Hán cận - hiện đại (Mordem Chinese)
- Vay mượn từ tiếng Hán trung đại (Middle Chinese and Early CentralSinitic) [70, 36]
-Vay mượn từ tiếng Hán cổ đại (Old Chinese) [70, 51 ]
Căn cứ vào những đặc điểm về chức năng và ngữ nghĩa của những đơn
vị hình vị cơ sở gổc Hán trong tiếng Mông, chúng tôi phân loại chúng theo hai tiêu chí: 1 /Tiêu chí vê nghĩa: Chia làm 2 loại là những đơn vị có nghĩa từ vựng và nhũng đơn vị có nghĩa ngữ pháp; 2/ Tieu chí về cách dùng: Chia làm hai loại độc lập và không độc lập Từ hai tiêu chí này, chúng ta có thể phân hình vị gốc Hán thành 3 loại cơ bản sau:
(l)L o ạ i 1: Những hình vị vừa có nghĩa lại vừa độc lập Chúng có thể làm cơ sở của phương thức từ hóa hình vị để trờ thành các từ đơn trong tiếng Mông Trên phương diện cấu tạo từ chúng sẽ là bộ phận cơ sở để gẳn kết các
Trang 27hinn vị cung loại và khác loại với nhau để tạo thành từ ghép gốc Hán trong tiếng Mông.
C h ữ Hán tương ứng Nghĩa tiếng Việt Tiếng Mông Lềnh
Từ ghép gốc Hán
Congz finhx (Công bằng) Liv hav (Lọi hại) Minhx pêv (Minh bạch) Pav chuôz (Bại gia)
Ở các ví dụ trên, các hình vị gếc Hán finhx, hav, minhx, pav vừa hoạt
động như những từ đơn và vừa tích cực tham gia các kết hợp tạo thành các từ ghép gốc Han trong liếng Mông Lenh
BạiBại trận Thất bại Bại gia(2) Loại 2: Những hình vị vừa có nghĩa nhung lại không độc lập Chúng chỉ chuyên đung làm thành tổ cấu tạo trong một số từ ghép nnất định
Trang 28mà không có khả năng tạo thành từ độc lập Chúng ta xem xét các tổ hợp từ ghép sau:
Ở các ví dụ trên, chúng ta nhận thấy các hình vị mỉnhx, ziv, lix là những
hình vị phụ thuộc, chung không thể tồn tại độc lập với tư cách như một từ đơn
mà chúng chỉ có thể tồn tại trong các cấu trúc t J ghép và là m ột bộ phận cẩu
tạo nên các từ ghép mỉnìix ziv, zóngx ziv, yênhx ỉix Trong từ ghép minhx ziv hình vị mỉnhx với nghĩa “danh” nhưng người ban ngữ dùng nghĩa này chi trong các từ ghép còn khi dùng vơi tư cách là từ đơn thì lại dùng một từ “b ê ”
thuần Mông
(3)Loại 3: Đây là nhũng hình vị có thể tồn tại độc lập nhưng lại khôno,
có nghĩa từ vụng chân thực (những hư từ), nhưng chúng vẫn được nhận ra bới những ý nghĩa ngữ pháp mà chúng biểu thị
Việt
Những hình vị này có sức sản sinh từ ghép hạn chế hơn và có số lượng
ít hơn so với hai loại trên
Ví du :
M ông Lềnh Chừ Hán tương ứng Nghĩa Việt Từ ghép gốc Hán
Trang 29Qua nhữr.g phân tích ở trcn, chúng ta có thể hình dung các loại hình vị goc Hán trong tiếng Mông Lềnh trong bảng tổng họp như sau:
lập
Finhx, hav, minhx, yẻnhx
Loại 2
Minìĩx, ziv, li.x
Lơirv, hưngr, VZV
Các loại hình vị gốc Hán kể trên sẽ làm đơn vị cơ sờ đê cấu tạo nhũng
từ ghép gốc Hán và sẽ được chúng tôi trình bày kĩ ở chương 2 của đề tài
1.3.Các phương thức cấu tạo từ tiếng Mông và quan niệm từ ghép trong đề tài.
Thông thường chúng ta thường xem các đơn vị hình vị như nhũng đơn
vị nguyên liệu tham gia quá trình hình thành các từ Hay nói cách khác trong một qui trình sản sinh ra từ thì hình vị là nguyên liệu và từ sẽ là sản phâm cùa quá trình đó Tác giả Đồ Hữu Châu đã chỉ rõ “phương thức cấu tạo từ là những cơ chế, những quá trình xử lý nguyên liệu hình vị đó cho ta các từ của một ngôn ngữ”
Ỏ đây, vai trò của hình vị là rất quan trọng trong các phương thức cấu tạo từ Mồi phương thức cấu tạo từ có những đặc điểm riêng của mình trong cách lựa chọn, xử lý các đơn vị câu tạo Chính vì vậy, sản phẩm từ của mồi phương thức sẽ có những đặc trưng riêng “nêu phát hiện được phương thức cũng có thể đoán biết hình vị được sư dụng là loại hình vị nào Ngược lại, biết hình vị thuộc loại nào cũng có thể biết phương thức xử lý chủng sẽ là phươne thức gì?” [11, 72] Như vậy, thực chất việc nghiên cứu phương thức cấu tạo
từ chính là phát hiện những cách lựa chọn và xử lý khác nhau đối với các đơn
Trang 30vị cấu tạo (các hình vị) Ọuá trình xác định các phương thức cấu tạo từ, về cơ
bản cùng chính là xác định các kiểu từ khác nhau về mặt cấu tạo
Trên cơ sở xem xét tư liệu tiếng Mông, chúng tôi cho rằng trong tienR
Mông hiện đại có tồn tại bốn phương thức cấu tạo từ cơ bản như sau:
- Phương thức từ hóa hình vị —> từ đom.
- Phương thức ghép -> từ ghép.
- Phương thức láy —> từ ghép lảy
1.3 ỉ.P h ư ơn g thức từ hoả hình vị tạo thành từ đơn.
Đây là một phương thức cấu tạo từ hết sức căn bản trong tiếng Mông,
v ề bản chất của phương thức này là “Iám cho các hình thức ngữ âm có nghĩa
mang những đặc điểm ngữ nghĩa (tức có cấu trúc biểu niệm) và những đặc
điểm ngữ pháp của từ, do đó hoạt động như các từ đã được tồn tại từ lâu” [11,
74] Như vậy đây là một quá trình “chuyên hóa” vê chât của các hình vị Nội
dung của quá trình “chuyển hóa” này là nhờ đ jợ c cấp những đặc trưng ngừ
nghĩa và ngũ’ pháp nhất định mà các hình vị chuyển thành các từ
Sản phẩm của quá trình từ hóa hình vị là các từ đơn trong tiếng Mông Nhưng không phải bất kỳ một hình vị nào trong tiếng Mông cũng có
thể trở thành từ đơn dưới tác động cua phương thưc từ hóa hi ih vị Chủ yếu là
các loại hình vị (ỉ) và (III) có thể tham gia phương thức này
Từ đơn trong tiếng Mông có những đặc điểm cơ bíin sau:
a về mặt 11 g ừ âm: Các tư đơn được hình thức từ một hình vị trong quá
trinh từ hóa hình vị Chính vì vậy trong tiếng Mông hình thức ngữ âm của từ
đơn là một âm tiết
Ví du ìimao (đêm), kêì (tháp), nav (mẹ), n\'i (xẻ)
b Đặc điểm hình thái, ngừ nghĩa:
Trang 31Phần lớn từ đon tiếng Mông trong quá trình tham gia vào tổ chức lời nói, đều có khả năng trờ thành một đơn vị cấu tạo từ (hình vị) để tạo ra các đơn vị từ vựng khác dưới sự tác động của các phương thức láy, ghép:
Ví du: từ nkhâu (cong) trong nkhâu vaos (cong queo); chuôv (kẹp) trong chuôv côngz (cái bẫy), grax trong hmôngr grax (ruôc)
Mỗi một từ đơn cũng có íhể tương ứng với một sổ cấu trúc nghĩa biểu niệm khảc nhau
Ví du: từ háu trong tiếng Mông có thể có hai nghĩa bieu niệm, nghĩa thứ Iihất chỉ người có quyền chức, có vị thế cao trong xã hội puôz tăngz hâu (những người có chức quyền) Nghĩa thứ hai chỉ cái vung ỉuz hâu ỉáux câuz (cái vung nôi).
1.3.2.Phương thức gh ép-từ ghép
Trong các ngôn ngữ đơn lập, phương thức ghép là phươne thức cấu tạo
từ đặc biệt quan trọng Xét về bản chất phương thức ghép (hay còn gọi là phương thức tổ hợp) là phương thức tạo từ bằng cách kết hợp các hình vị có quan hệ ngữ nghĩa với nhau
Chấp nhận một quan niệm cấu tạo từ ghép như đã nêu, chúng ta thấy sự
tổ hợp các hình vị trong tiếng Mông để tạo từ ghép có một vị trí cao trong việc cấu tạo từ của ngôn ngữ này, GS Nguyễn Văn Lợi đã cho răng phương thirc ghép là “phương thức cấu tạo từ cơ bản” của tiếng Mông [35, 162] Lýgiải về vị trí cao của phương thức ghép, GS Bùi Khánh Thế cho ràng “sự đơn tiết hóa là đặc trưng quan trọng của quá trình biến đổi ngôn ngừ ở Việt Nam”
và hệ quả tất yếu của điều này là sự mất dần sức sản sinh của phương thức cấu tạo từ bằng phụ tố và cùng vơi nó là sự phát triển của phương thức ghép, đang dần trở thành phương thức chính để bổ sung vốn từ Như vậy, từ ghép trong tiếng Mông được hiểu là những đơn vị từ được hình thành bàng phương thức ghép
1.3.3.Phương thức lảy-íừ gh ép láy
Trang 32Trong các ngôn ngữ đơn lập láy là một phương thức cấu tạo từ khá phổ biến, v ề bàn chất phương thức láy là việc tạo ra từ láy chủ yếu do sự nhân đôi của hình vị gốc bằng những quan hệ ngữ âm nhất định Nhìn chung, khi nghiên cứu vê tư ghép láy, CdC tác giả Việt ngữ học có những cách tiêp cận và những kiến giải riêng biệt GS Hoàng Văn Hành (1985) đã tổng kết thành 3 quan niệm chính nghiên cứu về từ ghép l^y như sau:
• Láy là phụ tố
• Láy là ghép
• Láy là sự hòa phối ngữ âm có giá trị biểu trưng hóaTrong ba quan điểm nghiên cứu về từ ghép láy đã kể trên, chúng ta thấy quan điểm thứ hai và thứ ba la những quan điểm về từ ghép láy được
nhiều người ủng hộ hơn cả Tiêu biểu cho quan điểm lảy là ghép là các tác
giả Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Tài c ẩ n , Hồ Lê Còn các tác giả B õ à ig Tuệ, Hoàng Văn Hành, Đinh Trọng Lạc thì nghiêng vê phía
quan điểm láy là sự hòa phổi ngữ âm cỏ giả trị biểu trưng hóa 5
Chính phương thức láy sẽ cho chúng ta những đơn vị từ ghép láy trong tiếng Mông
Ví du: Những từ sau được coi là những từ ghép láy trong tiếng Mông
Blix + bluôx —* blix bluôx (bì bõm)
Muôs + juôr —* muôs juôr (bạc nhược)
Nyir + nyur —> nyir nyur (lỗ chỗ)
1.3.4.Phương thúc chuyên loại.
Nhìn nhận đây là mội phương thức câu tạo từ chưa phải đã có sự thong nhất trong giới nghiên cứu Có tác giả không xem chuyển loại là một phương thức cấu tạo từ trong các ngôn ngừ đơn lập GS Đỗ Hừu Châu xem hình thức chuyển loại như “là sự tạo từ theo sự chuyển đổi cấu trúc biểu niệm và đặc
5 Chúng tỏi sẽ bàn kĩ về từ ghép láy ờ chương 3 cùa đề tài này.
Trang 33điểm ngữ pháp” và ông không cho đây là một phương thức cấu tạo từ độc lập Tác giả J.Osipov lại cho rằng “Chúng tôi xem phương thức chuyển loại là một phương thức đặc biệt cấu tạo nên những từ mới trong đó từ những thực từ thuộc một t r loại nhất định cấu tạo nên một thực từ khác, thuộc một từ loại khác (trên thực tế thường thuộc danh từ, động từ); cả hai từ (từ ban đầu và từ vừa được cấu tạo) không khác nhau về mặt ngữ âm hoặc hình thái mà chì thay đổi các thuộc tính ngữ pháp” (dẫn theo [51, 70]).
Khi r.ghiên cứu về tiéng Dao, một ngôn ngữ cùng họ với tiêng Mông, hai tác giả Đoàn Thiện Thuật và Mai Ngọc Chứ đã cho rằng “chuyển loại cũng la một trong những phương th-jc cấu tạo từ của tiếng Dao” và “Hiện tượng chuyển loại trong tiếng Dao và một loạt các ngôn ngữ Đông Nam Á khá phổ biến và ngày càng có xu hướng phát triển Có thể COI đáy là một hiện tượng cấu tạo từ đặc trưng cho những ngôn ngừ có một cấu trúc xác định về
từ ” [51, 71]
Cũng giống như các ngôn ngữ đơn lập khác, trong tiếng Mông chúng ta cũng tìm thấy rất nhiều cặp từ mà trong đó một danh từ chỉ công cụ còn một bên là một vị từ chỉ hành động sử dụng công cụ đó Những từ được hình thành 'à sản phẩm của phương thức chuyển loại trong tiếng Mông
VI du:
a Njul (khóa) —> njul (cái khóa)
Muôz lu: ỉỳul rỳỉã kraor trôngx txangx tru
(ìẩy cải khóa khóa cải cửa buồng lại)
b Txâus (đục, khắc) —► txâus (cái đục)
Muôz luz txâus txâus bê ntơur háur đeiv tax jê z
(lay cái đục khắc chữ vào bia đả).
1.3.5 Quan niệm từ ghép của đề tài.
Trang 34Trong bốn loại từ được hình thành từ bôn phương thức cấu tạo khác nhau được đưa ra ở trên, chúng ta nhận thây có các từ ghép và các từ ehép láy được cấu tạo bàng 2 đơn vị hình vị trở lẽn Ngay trong Việt ngừ, có nhà nghiên cứu cùng dựa vào đặc điểm này mà gọi gộp hai loại từ ghép và từ ahép láy thành một kiểu loại từ có phạm trù lớn hơn GS Nguyễn Tài c ẩ n đã nhìn thấy sự giống nhau giữa từ ghép và từ ghép láy và ông cho rằng “Từ láy âm là loại từ ghép trong đó, theo con mắt nhìn của người Việt hiện nay các thành tố trực tiếp được kết hợp lại với nhau chủ yếu theo quan hệ ngữ âm” GS Diệp Quang Ban khái quát hai loại từ này thành từ đa tổ và ông phân b:ệt “từ đa tố không có hiện tư<jng hòa phối r.gữ âm tạo nghĩa là từ ghép, từ đa tố có hiện hiện hòa phối ngữ âm tạo nghĩa là từ láy” [3, 565].
Trong tiếng Mông, chúng tôi quan niệm tì ghép thuộc một phạm trù phân loại lớn hơn bao gồm cả hai loại từ ghép (hình thành từ phương thức ghép) và từ ghép láy (hình thành từ phương íhúrc láy) Nói cách khác, từ ghép trong đề tài được hiểu là những đơn vị từ được cấu tạo bởi ít nhất là 2 hình vị
và hình thành bằng hai phương thức cấu tạo từ ghép Vỉ láy
Từ ghép (từ phức)
Từ ghép
M aor kâu (me)
Pê ỉeis (khản vải)
Trang 35Trong ngôn ngữ, cụm từ được xem là đơn vị trung gian mang tinh chất chuyển tiếp giữa từ và câu Việc phân biệt giữa từ ghép và cụm từ là cần thiết,
ỏ đây chúng tôi chủ yếu xem xét ở hai trưirng hợp: phân biệt từ ghép với cụm
từ tự do và phân biệt từ ghép với cụm từ cố định
Quả thực đây là một vấn đề tương đối phức tạp Trong các ngôn ngừ đơn lập như tieng Hán, tiếng Việt, tiếng M ùng , việc nhận diện từ, đặc biệt
là các từ ghép không phải dễ dàng Trong tiếng Mông, quan hệ giữa các hình
vị trong từ ghép lại rât giông với quan hệ cú pháp khiên cho việc nhận diện lại càng thêm phức tạp GS Nguyễn Văn Lợi đã nhận xét: “Do các thành tố câu tạo vốn là từ đơn tiết, có ý nghĩa từ vựng, đồng thời quan hệ giữa các thành tố trùng với quan hệ cú pháp nên trong nhiều trường hợp, sự phân biệt giữa từ ghép với cụm từ rất khó khăn” [35, 163]
Nhìn chung, giữa từ ghép và cụm ti thường có mói quan hệ qua lại với nhau Thường thì một cụm từ phục vụ cho việc miêu tả ý nghĩa của một từ ghép không được nêu ra một cách trực tiếp, nghĩa lả người la có thể đưa ra những diễn đạt mờ rộng có giá trị tương đương về nghĩa với từ ghép đó Từ ghép dung để định danh các khái niệm có liẻn hệ với toàn bộ lớp vật thể Đặc trưng lớn nhât của cụm từ là việc hiện thực hóa khái niệm trong những hoàn cảnh giao tiếp cụ thê Khác với cụm từ, từ ghép chiêm một ưu thê đặc biệt nhờ hình thức cấu tạo ngắn gọn của nó theo nguyên lý: “vỏ hình thức tối thiểu cho một thông tin tổi đa” [41] Có thể thấy rằng từ ghép và cụm tư có quan hệrất gần nhau Các nghièn cứu cho rằng sự gần gũi này là hệ quả của quá trình
từ hỏa các tô hựp có quan hệ cú pháp.
Từ lâu trong ngôn ngữ học đại cương đã có sự phân biệt giữa tư ghép với cụm từ tự do bằng những tiêu chí cơ bản sau:
-Tỉnh định hình hình thải hoàn chỉnh: Tiêu chuẩn này do GS A.I
Xmimií Skij đề xuất Theo tiêu chuẩn này, nếu xem A và B là hai đơn vị cấu tạo nên một đơn vị thứ ba mà ta đang cần xét, trons đó (x) là hình thái của A,
Trang 36(Y) là hình thái của B thì hình thái của cụm từ tự do sẽ là: A (x) B (y); h.nh
thái của từ ghép sẽ là AB (x) hoặc AB (y) Như vậy, về mặt hình thái, đặc trưng cùa từ ghép là “việc định danh toàn khối” , còn đối với cụm từ tự do, đặc trưng là “sự định hình tách rời” (dẫn theo [29, 141])
-Tính thành ngữ vê ngữ nghĩa (thành ngữ tỉnh)- Theo tiêu chí này,
nghĩa của từ không phải là tổng số ý nghĩa của những bộ phận tạo ra nó Nó mang tính qui ước và rất chặt chẽ Nó có khả năng biêu thị khái niệm một cách ôn đinh và xác định Nói cách khác, chúng ta sẽ khó giải thích được nghĩa của từ ghép mà không thông qua thao tác trừu tượng và khái quát hóa các hình vị của chúng
Tuy nhiên hai tiêu chi cơ bản trên không hẳn đã giải quyết được tất cả các trường hợp Trong từng ngôn ngừ cụ thể, chúng ta phải có những bước vận dụng thích hợp và linh hoạt, nhất là phù hợp với loại hình của ngôn ngừ đang xét
Tiêu chí thứ nhất rất khó vận dụng cho các ngôn ngữ đơn lập Bởi lẽ nhũng ngôn ngữ này không biên đôi vê hình thái của từ Do đó, những trường hợp tự nó đã chặt chẽ thì không cân đên những thủ pháp như xen kẽ, thay thế,
mư rộng, rút g ọ n đê phân biệt chúng,
Tiêu chí thứ hai trên thực tế đã xỏa nhòa ranh giới giữa từ ghép và cụm
từ cố đ'nh Do vậy, việc phân biệt hai loại này trở nên rất khó khăn Chúng ta
sẽ khó lòng phân biệt được tư ghép và cụm từ co định
Từ cơ sở những phân tích nêu trên, dưới đây chúng tôi sẽ đưa ra nhimg thao tác phân biệt từ ghép với cụm từ tự do và cụm lừ cổ định trong tiếng Mông
1.4.1.Phân biệt từ ghép với cụm từ tự do.
Đẻ phân biệt từ ghrp với cụm từ tự do trong tiếng Mông, chúng tôi dựa
vào hai tiêu chí cơ bản: a1 Hình thức câu tạo; b/Nội dung ý n^hĩa.
a về hình thức câu tạo:
Trang 37Mối quan hệ giừa các thành tố trong cụm từ tự do là khá lỏng lẻo Do
đó, chủng có thể tách khei tổ hợp một cách dễ dàng Nói cách khác, sự ràng
buộc giữa các thành tố trong tổ hợp là không cao Cho nên, chúng dễ bị thay
đổi bàng một loạt các thành tố khác
Ngược lại mối quan hệ giữa các thành tố trong từ ghép lại khá chặt chẽ
Các thành tổ có xu hướng gắn chặt với nhau thành một khối bền vững, ôn
định Nó rất khó tách rời hay đem hoán đổi trong những điều kiện bình
thường6
Đ( kiểm tra tiêu chí này, chúng ta cỏ thể dựa vào một số thủ pháp hình
thức mang tính kỹ thuật như xen kẽ, mở rộng, thay thế, rút g ọ n .Bản chất của
các thủ pháp này chính là để xem xét khả năng cải biến của tổ hợp Nếu một
tổ hợp chấp nhận các thủ pháp trênmà ý nghĩa của nó thay đôi th) đó là từ
ghép Còn khi đưa các thủ pháp cải biên vào mà ý nghĩa của toàn tổ hợp
không thay đổi thì đó là cụm từ tự do Chúng ta thử xét hai tổ hợp từ trong
tiếng Mông qua ví dụ sau:
Ví du:
a.Cxiv (xây) + tsêr (nhà) = cxiv tsêr (xây nhà)
b Cxiv (xây) + tsăng (dưng) = cxiv tsăng (xây dựng)
Chúng ta thấy tổ hợp (a) cxiv tsêr (xây nhà) có thể dễ chêm xen bằng
các từ khác như: cxiv ỉz ỉuz tsêr (xây một cải nhà) hoặc cxiv Iuz tsêr Yior (xây
cải nhà này) Vì vậy tổ hợp (a) là một cấu trúc không chặt chẽ và nó được coi
là một cụm từ tự do trong tiếng Mông
Đổi với tổ hợp cxiv tsăng (xây dựng) thì chúng ta không thể chem xen
bất kỳ từ nào vào trong cấu trúc Ngay cả khi chúng ta chêm từ thaz (và) vào
giữa tổ họp theo kiểu cxiv thaz tsăng (xây và dựng) thì tô họp mới mất đi V
nghĩa chỉ việc (xây dựng mang ý nghĩa khái quát) Chính vì vậy, việc chêm
6 Trong cô n g trình “N g ữ pháp tiẽng V iệt” (tr52-53) GS N gu yễn Tái c ẳ n đã phân biệt khá rõ về mặt
Trang 38xen này vr hình trung đã phá võ tính ổn định bên trong của tô hợp Tô họp
cxiv tsăỉĩg được xem là một từ ghép trong tiếng Mông.
b Nội dung ngữ nghĩa:
Cũng giống như các tác giả khác khi phân biệt về mặt nội dung ngừ nghĩa giữa cụm từ tự do và từ ghép trong các ngôn ngừ đơn lập, c h án a tôi áp dụng tiêu chí tính thanh ngữ để phân biệt chúng Như chúng ta đã biêt, tính thanh ngữ trong một to hợp sẽ là căn cứ để xem xét tư cách của tổ hợp Neu tổ hợp nào có được tiêu chí này thì nó sẽ là từ ghép và ngược lại chúng sẽ là cụm từ tự do
Ví dụ, chúng ta xét các tổ hợp sau :
a.Đuz saz (thâm độc) —> đuz (đen) + saz (gan)
b Ndâu bias (hoạt but) —» ndâu (mồm) + bias (trơn)
Đôi với các ví dụ trên, nêu chúng ta tách riêng các thành tô câu tạo thì
ta thấy nghĩa của toàn bộ tổ hơp không phải là nghĩa đơn thuần do hai thành
tổ cấu tạo Nghĩa của tổ hợp đuz saz, ndáu bias không phải là nghĩa của đuz, ndâu cộng với nghĩa của saz, bỉas Nghĩa của tổ hợp là nsihĩa trừu tượng chỉ
tính cách cua con người chứ không phải là tổng số ý nghĩa của các bộ phận tạo ra nó Chính vì vậv, chúng ta có thê xem đây là những từ ghép trong tiếng Mông
Như vậy, trong tiếng Mông từ ghép được phân biệt với cụm từ tự do bởi hai đặc trưng chù yếu là hình thức câu tạo và nội dung ngữ nghĩa theo bảng tôi r họp sau:
Trang 391.4.2 Phân biệt từ ghép vói cụm từ c định
Trong tiếng Mồng cũng nnư các ngôn ngừ thuộc loại hình đơn lập khác, việc phân biệt giừa từ ghép với cụm từ tự do thương không đơn aiản Nhưng khi xem xét từ ghép với các cụm từ cổ định thì vấn đề trở nên phức tạp hơn rất nhiều Cụm tư cố định ở một bậc cao hơn từ ghép và nó được định hỉnh bằng sự kết hợp của các từ với nhau Còn từ ghép lại là sự kêt hợp từ các hình vị khác nhau Mặc dù vậy giữa hai đơn vị này lại có những điểm rất khỏ phân biệt, nhất là khi thành phần ngữ nghĩa của cụm từ cổ định khá ồn định, hay no cách khác được co định hóa bởi các cấu true cấu tạo khá chặt chẽ cua các thành phần từ vựng Vì vậy, cụm từ cố định thường được hiểu “là những cụm từ (có ý nghĩa tính chât của cụm từ, câu tạo là cấu tạo của cụm từ), nhưng đã cố định hóa cho nên cũng có tính chất chặt chẽ, sẵn có, bat buộc, có tính xã hội như từ” (Đ H C ,71)
Để phân biệt từ ghép với cụm từ cố định trong tiếng Mông, chúng ta sẽ lần lượt xem xét các ví dụ sau:
a Đêr shangz đêr gâuv (chó năm chó trôn-lười biếng) —► đêr (chó) + shangz (năm) + đêr (chó) + gâuv (trốn)
b Đêr lơưr (chó săn) —*■ đêr (chó) + lơưr (săn)
Cả hai ví dụ (a) và (b) đều rất chặt chẽ cả về mặt cấu tạo lẫn nội dung ngữ nghĩa Do vậy, việc dựa vào các tiêu chí phân biệt như đổi với trường hợp cụm từ tự do là khó lòng phân biệt rõ ràng giữa từ ghép với cụm tư cổ định Chúng ta phải dựa vào những đặc điểm tự thân của tửng loại để có được sự phân biệt chinh xác
Cần phái nói rằng, do tính cổ định và rất chặt chẽ nên các cụm từ cố địrih ít nhiều có tính thành ngừ Chúng thường được dung vơi ý nghĩa bóng
bẩy mà phần lớn các từ ghép không có đặc điêm này Trong ví dụ (b) từ đêr ỉonn\ ý nghĩa của từ vẫn là ý nghĩa cụ thể, trực tiếp của các đơn vị đêr \ à
Trang 40lơưr Nhung nó khác với ý nghĩa của từng đơn vị ở chồ, nghĩa của từ ghép
mang tính khái quát hom mà thôi
Nghĩa của cum từ cố định thì hoàn toàn khác Khi xét đến ví dụ (a) đêr shangz đêr gâuv, chúng ta thấy, dù cho ý nghĩa bề mặt của tổ hợp nói đên
hành động của một loài động vật, nhưng khi sử dụng trong giao tiếp thì người
ta lại hiểu với nghĩa bóng để chỉ đặc tính lười biếng của con người
Tuy nhiên, cũng có một số trường họp từ ghép có đặc điểm bong bẩy
về nghĩa hay nói cách khác ý nghĩa của từ ghép không phải là dấu cộng đơn giản có thể nhận ra giữa các thành tố cấu tạo Những trường hợp này có thể tìm thấy ở các từ ghép biểu trưng7 Vi dụ:
(c) Muôs ntơưr (chữ) —► muôs (mắt) + ntơưr (giấy)
(d) Maoz saz (buồn) —► maoz (ốm) + saz (gan)
Đối vớí những trường hợp này, tiêu chí để phân biệt sẽ là kết cấu và quan hệ ngữ pháp nội bộ của tô hợp Nhìn chung, tìr ghép có câu tạo và quan
hệ nội bộ đơn giản hơn Nó thường được cấu thành từ hai hình vị và môi quan
hệ giữa hai hình vị ấy có thể đẳng lập hay chính phụ Ở cụm từ cố định lại là một khối “đầy đặn” với một kết cấu ph ic tạp và đa dạng hơn Như ở ví dụ
(a), đây có thể coi là một câu phác với đêr là thành phần chủ ngừ và shangz
và gâuv lần lượt là vị ngữ của các mệnh đe tương ứng.
Mặt khác, chức năng của từ ' ã đê định danh khái niệm Cụm từ cô định
không có được chức năng định danh ấy No thường là nhữne bài học kinh nghiệm để răn đời hoặc miêu tà những hoạt động, trạng thái, tính chất phức tạp hơn nhiều so với từ ghép Vì cụm tư cố định thường diễn đạt những khái niệm phức tạp nên nó kéo theo sự phức tạp trong cấu trúc hình thức của cụm
từ đó
Tóm !ại:Có thể nói, cụm từ và từ ghép có một sự liên hệ rõ ràng Vì
vậy, chúng ta dừ có đưa ra các tiêu chí phân biệt như thế nào đi chăng nữa
7 Từ ghép biểu trưng được chúng :ci trình bày kĩ ờ trong chương 2.