Ngôn từ viết là công cụ để thống nhất ngổn ngữ đối với những người có thói quen lời nói khác nhau, nó gắn bó với thực tế ngôn ngữ - xã hội của người Việt Nam trong các giai đoạn lịch sử.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XẢ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐỂ TÀI ĐẶC BIỆT CẤP ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI■ • *
Trang 2DANH SÁCH CÁC NHÀ KHOA HỌC THAM GIA NGHIÊN cứu ĐỂ TÀI “ LỊCH sử VIỆT NGỮ HỌC”
• TS NGUYỄN HUY CẨN Viên Thông tin, Trung tôm KHXH & NV Quốc gia
PGS.ĨS TRẨN TRÍ DÕI Phó Chủ nhiêm khoa Ngôn ngũ học,
ĐHKHXH & NV
GS.TS PHẠM ĐỨC DƯƠNG Nguyên Viên trưởng Viện Đông Nam Á, Trung tâm
KHXH & NV Quốc gia
GS.TS NGUYỄN THIỆN GIÁP Chủ nhiêm bô môn Việt ngữ học, khoa Ngôn ngữ
học ĐHKHXH & NV
PGS.TS C A O XUÂN HẠO Trung tâm KHXH & NV Quốc gia
TS NGUYỄN VĂN HIỆP Cán bộ giàng dạy khoa Ngôn ngữ học,
ĐHKHXH&NV
TS LỄ TRUNG HOA Trung tâm KHXH & NV Quốc gia
ĐHKHXH&NV
PGS.TS NGUYỄN VĂN KHANG Trưởng phòng Ngôn ngữ học xã hội, Viên Ngôn
ngữ học
PGS ĐINH TRỌNG LẠC Khoa Ngữ văn Đai học Sư pham Hà Nội
TS VŨ ĐỨC NGHIÊU Trưỏng phòng khoa học, ĐHKHXH & NV
KHXH& NV Quốc gia
PGS.TSKH LÍ TOÀN THANG Viện trường Viên Ngôn ngữ học, Trung tâm KHXH &
NV Quốc gia
TS CHU BÍCH THU Trưởng phòng từ điển học, Viện Ngôn ngữ học
GS.TS ĐO ÀN THIỆN THUẬT Khoa Ngôn ngữ học, ĐHKHXH &NV
PGS.TS VƯƠNG TOÀN Phó viên trưởng viện Thông tin khoa học xã hội,
Trung tâm KHXH & NV Quốc gia
PGS.TS NGUYỄN NGỌC TRÁM Nguyên Trưởng ban từ điển học, Viên Ngôn ngữ
học
FGS.TS NGUYỄN VĂN TU Nguyên Phó chủ nhiêm khoa Ngữ văn, Đọi học
Tổng hợp Hà Nôi
Trang 3MỤC LỤC
T rang
MỞ ĐẦU .3
Chương ỉ. TIẾNG VIỆT VÀ VIỆT NGỬHỌC 13
• Sự hình thành và phát triển của tiếng V iệt 14
• Quá trình nghiên cứu tiếng Việt 26
Chương 2 VIỆT NGỮHỌC GIAI ĐOẠN c ổ TRUNG Đ Ạ I 33
• Những suy nghĩ ban đầu về tiếng Việt qua sự sáng tạo chữ N ôm 34
• Những nghiên cứu đầu tiên về tiếng Việt của các giáo sĩ phương T ây 45
• Những nghiên cứu về tiếng Việt của Lê Quý Đôn 53
• Những cuốn từ điển đối chiếu đầu tiên đáng chú ý 63
Chương 3. VIỆT NGỮHỌC GIAI ĐOẠN CẬN HIỆN Đ ẠI 74
• Lịch sử nghiên cứu ngữ âm tiếng V iệt 75
• Lịch sử nghiên cứu từ vựng tiếng V iệt 95
• Lịch sử nghiên cứu cú pháp tiếng Việt 105
• Lịch sử nghiên cứu phong cách học tiếng V iệt 132
• Lịch sử nghiên cứu ngữ dụng học tiếng V iệt 157
• Lịch sử nghiên cứu phương ngữ tiếng V iệt 172
• Việc nghiên cứu lịch sử tiếng V iệt 182
• Từ điển và từ điển học Việt N am 216
• Việc nghiên cứu ngôn ngữ học xã hội 248
Trang 4-2-• Một số hướng nghiên cứu mới của việt ngữ học ở Việt Nam
hiện nay 265
• Việt ngữ học ở nước ngoài 280
Chương 4. CÁC NHÀ VIỆT NGỮHỌC 302
• Giới thiệu chung 303
• Giáo sư Nguyên Tài cẩn - Nhà Việt ngữ học đầu tiên nhạn giải thưởng Hồ Chí Minh 308
• Trương Văn Chình - Nguyễn Hiến Lê với "Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam" 3 11 • Vietnamese - Without veneer - Tiếng việt không son phấn Một cách nhìn miêu tả về tiếng Việt của Nguyễn Đình Hòa 320
• Giáo sư Lê Khả K ế - Tấm gương nhân cách 342
• Trương Vĩnh Ký - Nhà văn h oá 345
• Giáo sư Hoàng Phê và sự nghiệp nghiên cứu ngôn ngữ học của ông 355
• Nguyễn Kim Thản - Một trong số những người gây dựng nên nền ngữ học Việt Nam hiện đ ạ i 365
• Các công trình, tác phẩm khoa học của giáo sư Hoàng Tuệ 369
• Lê Ngọc Trụ - Nhà chính tả học và từ nguyên từ học xuất sắc 373
Chương 5. NHỚ LẠI VÀ SUY NGHĨ 380
• Nguyễn Lân - Hồi kí giáo dục (Trích) 381
• Phan Ngọc - Con đường vào ngôn ngữ học của tôi 390
• Nguyễn Văn Tu - Dấu chân để lạ i 417
• Phạm Đức Dương - Cái duyên của tôi với ngôn ngữ học 427
NHŨNG CÔNG TRÌNH KHOA HỌC PHẢN ÁNH KẾT QUÁ NGHIÊN cú u CỦA ĐỂ TÀI ĐÃ ĐƯỢC CÔNG B ố TRÊN CÁC SÁCH VÀ TẠP CHÍ CHUYÊN NGÀNH 456
Trang 5MỞ ĐẦU
Tiếng Việt là thứ của cải lâu đời vô cùng quý báu của dân tộc Nó là người bạn đường thân thiết của mỗi người Việt Nam chúng ta Chúng ta không thể hình dung, mỗi ngày lại không nghe ai nói một điều gì và không nói một điều gì với ai đó Từ lâu, người Việt Nam đã quan tâm, chú ý đến tiếng nói của mình - người bạn chung thuỷ qua chặng đường phát triển của dân tộc, nhưng để hiểu được người bạn gần gũi, thân thiết ấy chẳng dễ dàng gì
Khi chưa có chữ viết hoặc chữ viết chưa phát triển và phổ cấp (chữ Nôm) thì nhận thức của người Việt về tiếng Việt chủ yếu là xác định ró sự khác nhau giữa cái “ của mình” và cái “ của người khác” Mỗi làng, mỗi vùng có những đặc trưng riêng về mặt phát âm, vốn từ vựng, thành ngữ khác với các đặc điểm
về phát âm, về từ vựng và thành ngữ của các làng, các vùng khác Những đặc trưng “ của người khác” thường bị chế riẻu (chửi cha không bằng pha tiếng).Thực tế chi ra rằng, việc nắm vững thói quen lời nói sinh hoạt hàng ngày
và sự đánh giá của những người sử dụng ngôn ngữ chưa có chữ viết không có tính hệ thống Khi chưa có chữ viết, người Việt không thể miêu tả hệ thống ngôn ngữ, không thể giải thích hệ thống ngữ âm, ngữ pháp của tiếng Việt Việc hiếu thói quen lời nói hàng ngày mang tính tiền lệ, còn hệ thống ngôn ngữ chưa được nhận thức Khi chưa có chữ viết, thói quen lời nói của tiếng Việt có thể thay đổi theo lịch sử mà không được người Việt nhận thức Cùng với sự hình thành chữ viết, thói quen lời nói trở nên phức tạp hơn Bên cạnh các loại lời nói có tính chất phương ngữ, tổn tại cả những lời nói miệng gần gũi với ngôn ngữ văn học viết và các tiểu loại của nó Ngôn ngữ viết là ngôn
từ nhân tạo xét ở khía cạnh các kí tự và các nguyên tắc viết và đọc - không
Trang 6phải như các tiền lệ về lời nói trong gia đình mà được các nhà sáng tạo quy định và được phố thông qua nhà trường Ngôn từ viết là công cụ để thống nhất ngổn ngữ đối với những người có thói quen lời nói khác nhau, nó gắn bó với thực tế ngôn ngữ - xã hội của người Việt Nam trong các giai đoạn lịch sử.
-4-Khi chữ viết phát triển, đặc biệt là khi chữ quốc ngữ được phổ cập, thì nhận thức của người Việt cũng đổi khác Trước hết, những người có học và quần chúng biết đọc biết viết có một nhận thức khái quát về tiếng Việt Nhận thức khái quát đó phân biệt những hiện tượng chuẩn mực, toàn dân với những hiện tượng không đặc trưng cho chuẩn mực, tách chuẩn khỏi những cái mới , những phương ngữ, khẩu ngữ, biệt ngữ, những cách dùng cũ, đồng thời phân tích tính phong cách của các biến thể lời nói
Bcn cạnh nhận thức chung, khái quát về tiếng Việt còn tồn tại nhận thức
cá nhân của các tác giả về riếng Việt Nhận thức cá nhân thể hiện rất rõ trong ngổn ngữ văn học nghệ thuật Các nhà văn đều muốn có ngôn ngữ riêng của mình Trong ngôn ngữ tác giả, ngoài những từ ngữ mới của tác giá, còn sứ dụng rộng rãi các biệt ngữ, từ ngữ địa phương, khẩu ngữ Tất cả những cái đó tồn tại và được tiếp nhận trên cơ sở các chuẩn mực chung của ngôn ngữ Ngôn ngữ cá nhân là cơ sở của cái mới trong ngôn ngữ văn học, tạo nên phong cách nghệ thuật
Ngoài nhận thức khái quát về tiếng Việt của cả cộng đồng, và nhận thức
vé tiếng Việt của từng cá nhân, còn một loại nhận thức khác về tiếng Việt Đó
là nhận thức của các chuyên gia nghiên cứu và giảng dạy tiếng Việt Có thể nói đây là nhận thức khoa học về tiếng Việt Các nhà Việt ngữ học so sánh các hình thức và ý nghĩa có mặt trong các tác phẩm ngôn từ, so sánh các từ, các câu, các văn bản trong bản thân tiếng Việt cũng như so sánh tiếng Việt với các ngôn ngữ khác Trên cơ sở đó, hình thành những hệ thống miêu tả đối với tiếng Việt Nhận thức khoa học về tiếng Việt khiến cho tiếng Việt trở thành một đối tượng để học tập Nhận thức này dần dẫn thâm nhập vào nhận thức
Trang 7chung của cộng đồng, và nhận thức riêng của từng người khiến cho họíấ trở thành những người có văn hoá, có giáo dục, có trí tuệ trong sử dụng ngôn ngữ.Nhận thức khoa học về tiếng Việt được phát triển mạnh mẽ khi ở Việt Nam các trường đại học và các viện nghiên cứu được thành lập, khi nhu cầu nghicn cứu và giảng dạy tiếng Việt được mở ra rộng rãi.
-5-Ngành Việt ngữ học manh nha từ lâu, nhưng nó chỉ thực sự phát triển từ cuối TK XIX đầu thế kỉ XX, nhất là từ sau cách mạng tháng tám tới nay Trong các giáo trình đại học và những công trình nghiên cứu về tiếng Việt, các nhà Việt ngữ học đều có điểm qua lịch sử nghiên cứu vấn đề mà họệ quan (X tâm Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu lịch sử của Việt ngữ học một cách toàn diện mà điều này lại vô cùng cần thiết đối với việc nghiên cứu và giảng dạy tiếng Việt hiện nay, khi quy mô đào tạo bậc thạc sĩ và tiến sĩ ngữ văn ngày càng mở rộng, khi đặt ra nhu cầu cấp bách phải biên soạn những
bộ sách giáo khoa tốt về văn và tiếng Việt cho học sinh phổ thông
Chúng tôi - những cán bộ giảng dạy ở khoa Ngôn ngữ học, trường ĐHKHXH & NV Đại học Quốc gia Hà Nội, với sự cộng tác của nhiều nhà khoa học có uy tín ở Viện Ngôn ngữ học và nhiều trường Đại học khác trong
cả nước đã thực hiện đề tài đặc biệt cấp Đại học Quốc gia Hà Nội với nhan đề
L ỊC H SỬ V IỆ T N G Ữ HỌC
Mục đích của chúng tôi là nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống vấn đề lịch sử Việt ngữ học Khi bắt tay vào việc chúng tôi mới thấy hết những khó khăn phức tạp của vấn đề Trước hết, cái tên Việt ngữ học có thể mới xuất hiện gần đây, nhưng những nghiên cứu về tiếng Việt thì đã có từ lâu Cần phái sưu tầm, tập hợp những tài liệu trực tiếp hay gián tiếp bàn về tiếng Việt qua các thời kì lịch sử Mặt khác, không chỉ người Việt ở Việt Nam mới nghiên cứu tiếng Việt, mà việc nghiên cứu tiếng Việt còn được tiến hành bởi những người ngoại quốc, ớ những quốc gia khác nhau Phán ánh thành tựu nghiên cứu tiếng Việt ở nước ngoài, của những người nước ngoài cũng là một
Trang 8-6-nhiệm vụ phải lặ’ quan tâm tới Rồi những lí thuyết ngôn ngữ học của thế giới
dã ánh hướng đến việc nghiên cứu tiếng Việt như thế nào.
Một vấn đề rộng lớn như vậy, trong giới hạn 2 năm của một đề tài cấo
Đại học Quốc gia, khó mà bao quát hết được Vì thế, chúng tôi nghĩ rằng đây
mới chỉ là một cái nhìn tổng quan ban đầu về Việt ngữ học mà thôi.
Đế tiến hành đề tài này, chúng tôi vận dụng những phương pháp sau đây:
1 Phương pháp quy nạp: cần phải sưu tầm, thu nhập tài liệu, cần phải
thống kê, phân tích cụ thể các luận chứng, luận cứ để rút ra những nhận định thích đáng ciiứ không xuất phát từ những nhận định chủ quan võ ểđoán của mình.
2 Phương pháp lịch sử cụ thể Nghiên cứu lịch sử Việt ngữ học đòi hỏi
không phải chỉ mô tả mà phải nhận định đánh giá về từng vấn đề, từng tác giả
Sự nhận định đánh giá ấy cần phải dựa trên một quan điểm lịch sử cụ thể, nghĩa là phái thấy những đóng góp và hạn chế cụ thể của từng giai đoạn lịch sử
3 Phương pháp phân tích tổng hợp nhiều mặt Để bảo đảm sự đánh
giá đúng mực, mỗi vấn đề sẽ được nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau: Đánh giá khái quát tình hình nghiên cứu của từng giai đoạn; đánh giá thành tựu cụ thể về các mặt trong mỗi giai đoạn nhất định; đánh giá khách quan về những tác giả, tác phẩm tiêu biểu kết hợp với những suy nghĩ tự đánh giá của những người trong cuộc.
Nội dung nghiên cứu cụ thể như sau:
1 Tiếng Việt và Việt ngữ học Trong phần này chúng tôi phác hoạ quá
trình hình thành và phát triển của tiếng Việt; những nhu cầu đòi hỏi phải nghiên cứu tiếng Việt và vạch ra phương hướng tìm hiểu thành tựu của Việt ngữ học qua các thời kì.
Trang 9-7-2 Nhũng thành tựu của Việt ngữ học trong giai đoạn cổ trung đại.
Thành tựu ở giai đoạn này chưa nhiều Chúng tôi tập trung tìm hiểu những Vấn đề sau:
2.1 Nhũng suy nghĩ ban đầu về tiếng Việt qua sự sáng tạo chữ Nôm
2.2 Những nghiên cứu đầu tiên về tiếng Việt của các giáo sĩ phương Tây 2.3 Những nghiên cứu về tiếng Việt của Lê Quý Đôn
2.4 Những cuốn từ điển đối chiếu đầu tiên đáng chú ý.
- An Nam dịch ngữ
- Từ điển Việt - Bồ - La
- Chỉ Nam ngọc âm giải nghĩa
3 Những thành tựu của Việt ngữ học giai đoạn cận hiện đại
Thành tựu của Việt ngữ học thời cận hiện đại rất phong phú và đa dạng
So với giai đoạn trước nhận thức về tiếng Việt giai đoạn này sâu sắc hơn nhiều, lại thể hiện ớ nhiều lĩnh vực rất khác nhau Tiêhg Việt chẳng những được nghiên cứu ở trong nước mà còn được nghiên cứu ở nước ngoài, chẳng những được người Việt mà còn được nhiều người nước ngoài nghiên cứu.
Trong sự đa dạng đó, chúng tôi lựa chọn cách trình bày theo từng vấn đề
cụ thể Trong phần này, chúng tôi đi sâu tìm hiểu những vấn đề sau đây:
3.1 Lịch sử nghiên cứu ngữ âm tiếng Việt
3.2 Lịch sử nghiên cứu từ vựng tiếng Việt
3.3 Lịch sử nghiên cứu cú pháp tiếng Việt
3.4 Lịch sử nghiên cứu phong cách học tiếng Việt
3.5 Lịch sử nghiên cứu ngữ dụng học tiếng Việt
3.6 Lịch sử nghiên cứu phương ngữ tiếng Việt
3.7 Việc nghiên cứu lịch sử tiếng Việt
3.8 Từ điển và từ điển học Việt Nam
3.9 Việc nghiên cứu ngôn ngữ học xã hội
Trang 10Ngoài phần giới thiệu chung, chúng tôi đi sâu hơn vào một số nhà Việt ngữ học được nhiều người biết đến.
1 GS.TS NGUYỄN TÀI CAN
2 TRƯƠNG VĂN CHÌNH - NGUYỄN HIÊN LÊ
5 Suy nghĩ của người trong cuộc
Trong phần này chúng tôi muốn ghi lại những suy nghĩ, trăn trở, tâm sự của một số nhà Việt ngữ học trong quá trình nghiên cứu tiếng Việt Vì thời gian có hạn, chúng tôi mới nhận được sự hợp tác của các vị sau đây:
Kết cấu của chuyên luận và sự phân cống các phần của chuyên luận như sau:
PGS Phan Ngọc
GS Phạm Đức Dương
GS Nguyễn Lân PGS Nguyễn Văn Tu
Trang 113.2 Lịch sử nghiên cứu từ vựng tiếng Việt PGS Nguyễn Văn Tu viết
3.3 Lịch sử nghiên cứu cú pháp tiếng Việt
TS Nguyễn Văn Hiệp viết 3.4 Lịch sử nghiên cứu phong cách học tiếng Việl PGS.TS Đinh Trọng Lạc viết
3.5 Lịch sử nghiên cứu ngữ dụng học tiếng Việt
TS Nguyễn Huy cẩn viết 3.6 Lịch sử nghiên cứu phương ngữ tiếng Việt PGS.TS Trần Trí Dõi viết
3.7 Việc nghiên cứu lịch sử tiếng Việt
TS Vũ Đức Nghiêu viết 3.8 Từ điển và từ điển học Việt Nam
TS Chu Bích Thu viết 3.9 Việc nghiên cứu ngồn ngữ học xã hội tiêng Việt PGS.TS Nguyễn Văn Khang
3.10 Một số hướng nghiên cứu mới của Việt ngữ học ở Việt Nam hiện nay
TS Nguyễn Huy cẩn viết 3.11 Việt ngữ học ở nước ngoài PGS TS Vương Toàn viết
Trang 12-10-chương 4: Các nhà Việt ngữ học
4.1 Giới thiệu chung GS.TS Nguyễn Thiện Giáp viết 4.2 GS.TS Nguyễn Tài cẩn - nhà Việt ngữ học đầu tiên được nhận giải thưởng Hồ Chí Minh
GS.TS Nguyễn Thiện Giáp viết 4.3 Trương Văn Chình - Nguyễn Hiến Lê với “Khảo luận ngữ pháp Việt Nam”
PGS.TSKH Lí Toàn Thắng viết 4.4 Vietnamese - without veneer Tiếng Việt không son phấn một cách nhìn miêu tả về tiếng Việt của Nguyễn Đình Hoà
TS Lương Văn Kế viết 4.5 GS Lê Khả Kế - tấm gương nhân cách
GVC Trịnh Quý viết 4.6 Trương Vĩnh Ký - nhà văn hoá
PGS.TS Cao Xuân Hạo viết 4.7 GS Hoàng Phê và sự nghiệp nghiên cứu ngôn ngữ học của ông
PSG.TS Nguyễn Ngọc Trâm viết 4.8 Nguyễn Kim Thản - một trong số những người gây dựng nên nền ngữ học Việt Nam hiện đại
Hồ Hải Thuỵ viết 4.9 Các công trình, tác phẩm khoa học của giáo sư Hoàng Tuệ PGS Đào Thản Viết
4.10 Lê Ngọc Trụ - nhà chính tả học và từ nguyên học xuất sắc
TS Lê Trung Hoa viết
Trang 13-11-chương 5: Nhớ lại và suy nghĩ
5.1 Nguyễn Lân - Hồi kí giáo dục 5.2 Phan Ngọc - Con đường vào ngôn ngữ học của tôi 5.3 Nguyễn Văn Tu - Dấu chân để lại
5.4 Phạm Đức Dương - Cái duyên của tôi với ngôn ngữ học.
Kết luận: Tiếng Việt được quan tâm nghiên cứu từ lâu, nhưng Việt ngữ
học - với tư cách là một bộ môn khoa học nghiên cứu về tiếng Việt thì chỉ mới hình thành gần đây trong thời cận hiện đại (tạm lấy mốc từ 1858 tới nay), nhất
là chí đạt được thành tựu rực rỡ từ sau cách mạng tháng Tám đến nay.
Cái nhu cầu thôi thúc, cần phải nghiên cứu tiếng Việt một cách sâu sắc là:
- Nhu cầu sáng tạo chữ viết cho tiếng Việt, chữ Nôm và chữ quốc ngữ
- Nhu cầu họac tập và giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ, và như
một ngôn ngữ quốc gia, phương tiện giao tiếp chung của tất cả các cộng đồng dân tộc ở Việt Nam.
- Ngôn ngữ là linh hồn của dân tộc Vì thế việc nghiên cứu tiếng Việt được tăng cường còn xuất phát từ niềm tự hào về dân tộc và tiếng nói dân tộc Chúng tôi đã tìm hiểu những thành" tựu của Việt ngữ học qua từng chặng đường lịch sử Với những cứ liệu mà chúng tôi có được, có thể tạm chia thành hai giai đoạn như sau:
- Việt ngữ học thời cổ trung đại
- Việt ngữ học thời cận hiện đại Những thành tựu của Việt ngữ học giai đoạn đầu gắn với việc hình thành chữ Nôm, chữ quốc ngữ và sự ra đời của những cuốn từ điển đối chiếu đầu tiên Những thành tựu của Việt ngữ học giai đoạn sau thể hiện ở nhiều mặt, nhiều lĩnh vực khác nhau: ngữ âm, ngữ nghĩa, cú pháp, phong cách học, phương ngôn học, lịch sử tiếng Việt v.v
Trang 14Đề tài này đã tập hợp được một số lượng lớn các nhà Việt ngữ học có tên tuổi trong cả nước tham gia.
Công việc phải làm thì nhiều mà thời gian thì hữu hạn Những kết quả nghiên cứu phản ánh trong chuyên luận này chỉ là bước đầu Trong tương lai cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn nữa Trước hết, thu thập tài liệu đầy đủ hơn bởi vì những gì chúng tôi có được hôm nay chắc chắn chưa phải là tất cả Thứ hai, cũng cần đánh giá sâu hơn ảnh hưởng của những lí thuyết ngôn ngữ học tới việc nghiên cứu tiếng Việt Cuối cùng, với thời gian chúng ta sẽ có điều kiện đánh giá xác đáng hơn đóng góp cụ thể của từng giai đoạn, từng tác giả, từng học thuyết đối với sự phát triển của Việt ngữ học.
Trang 15-13-Chương1
Trang 16Căn cứ vào những tài liệu mới được công bố gần đây, hiện nay có thể kết luận: tiếng Việt là một ngôn ngữ thuộc nhóm Việt - Mường, tiểu chi Việt Chút, nằm trong khối Việt Katu thuộc khu vực phía đông của ngành Môn Khmer, họ Nam Á.
Trong nhóm Việt - Mường, ngoài tiếng Việt và tiếng Mường (Mường Sơn
La, Mường Thanh Hóa, Mường Nghệ An) còn có tiếng Nguồn cũng được coi
là ngôn ngữ bà con gần nhất với tiếng Việt.
Trong tiểu chi Việt Chứt, ngoài nhóm Việt Mường còn có nhóm Pọng Chứt gồm các ngôn ngữ Chứt, Pọng (bao gồm Mày, Rục, Sách, Mã Liêng, Arem) ở vùng núi các tỉnh phía nam khu IV và các tiếng như Ahơ (Phon Soung), Maleng (Pakađan), Thà Vựng ở Lào Đây là những bà con xa hơn của tiếng Việt.
Proto Việt Chứt không tách trực tiếp từ Proto Môn Khmer mà tách ra từ khối Proto Việt Katu Thời gian chia tách này xảy ra cách đây trên 4000 năm, địa bàn cư trú ban đầu của cư dân nói tiếng Proto Việt Chứt là vùng kéo dài từ khu vực miền núi Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị sang đến Trung Lào Từ
đó, một bộ phận cư dân đã vượt Trường Sơn, tràn ra miền Bắc Nếu bộ phận cư dân Proto Việt Chứt ở lại quê hương cũ, vẫn giữ quan hệ tiếp xúc với cư dân Katu, Bana, Khmer thì bộ phận cư dân Proto Việt Chứt di cư ra Bắc lại có những quan hệ tiếp xúc mới với những cư dân nói ngôn ngữ thuộc họ Thái - Kađai (như tổ tiên của người Tày, người Nùng, v.v ) Sự tiếp xúc với Thái - Kađai rất sâu đậm, tạo ra một sự hòa nhập về nhiều mặt, trong huyết thống, trong văn hóa vật chất cũng như tinh thần Sự diễn biến mạnh mẽ của tiếng
Trang 17-15-Việt, tiếng Mường theo hướng từ bỏ nhiều nét Môn Khmer vốn có trong nguồn gốc của mình để chuyển thành những ngôn ngữ hoàn toàn âm tiết tính như ngày nay cũng bắt nguồn từ sự tiếp xúc với loại hình họ Thái - Kađai Tiếp theo đó, một bộ phận cư dân Việt Mường phía Bấc đã rời bỏ vùng đồi núi, tỏa VC đồng bằng, sinh sôi phát triển mạnh ở vùng châu thổ sông Hồng,
dó là tiền để cho việc hình thành cái nôi của vùng Kinh sau này.
Sự tiếp xúc với người Hán, tiếng Hán, nền văn hóa Hán đã xảy ra trước khi người Hán xâm lược, nhưng để lại dấu ấn sâu đậm vãn là sự tiếp xúc trực tiếp trong suốt 1000 năm Bắc thuộc, nhưng ảnh hưởng của tiếng Hán, nền văn hóa Hán không tỏa ra đồng đều trên toàn lãnh thổ bị chiếm đóng Ảnh hưởng
đó ở vùng phía Bắc sâu đậm hơn vùng ở phía Nam, ở vùng đồng bằng sâu đậm hơn ớ vùng núi Chính vì vậy, sự khác biệt vốn đã có giữa nhóm Pọng Chúi và nhóm Việt Mường ngày càng rõ nét và cuối cùng đã phân hóa thành hai nhóm ngôn ngữ cách đây 2000 đến 2500 năm Trong nội bộ nhóm Việt Mường về sau lại phân hóa thành tiếng Việt ở miền châu thổ Sông Hồng và tiếng Mường
ở miền thượng du Hòa Bình Sơn La, Phú Thọ Sự phân hóa này diễn ra cách đây từ 1000 - 1500 năm.
Từ năm 939, Việt Nam giành được độc lập tự chủ Mối quan hệ với tiếng Hán không còn là quan hệ trực tiếp như trước nữa Mặc dù Nhà nước phong kiên Việt Nam vẫn tiếp tục duy trì việc sử dụng chữ Hán, coi chữ Hán là văn
tự chính thức, việc tổ chức học hành, thi cử bằng chữ Hán ngày càng có quy
mô, nhưng tiếng Hán không còn là sinh ngữ như trước nữa Từ đây tiếng Việt dien biến thẹo quy luật nội tại, nó còn bắt cả kho từ ngữ gốc Hán diễn biến theo quy luật của mình.
Căn cứ vào những di chỉ đã tìm được, một số nhà kháo cổ học cho rằng người Việt cổ thời kì văn minh Đông Sơn đã có một hệ thống chữ viết, phát
Trang 18triển rực rỡ ở khoảng thế kỉ IV trước công nguyên, khi người Hán vào xâm lược chữ Việt cổ đã bị mai một.
Khi nước nhà giành được độc lập, người Việt đã sáng tạo ra chữ Nôm để ghi lại tiếng nói của mình Đây là một loại chữ được tạo ra theo nguyên tắc và trên cơ sở của chữ Hán Bên cạnh nềri văn hiến dân tộc viết bằng chữ Hán, theo truyền thống Hán, còn có một nền văn hiêh dân tộc viết bằng chữ Nôm ngày càng phát triển mạnh mẽ.
Từ khi giành được nền độc lập dân tộc thì vai trò của tiếng Việt cũng mạnh hẳn lên Mặc dù nó không được coi là ngôn ngữ chính thức dùng ở công văn, giấy tờ, học hành, thi cử nhưng trong thực tế nó vẫn trở thành ngôn ngữ
có uy thế nhất trong toàn bộ lãnh thổ Tiếng Việt bắt đầu tỏa tác dụng mạnh
mẽ vào các vùng ngôn ngữ thiểu số Lúc đầu chỉ ở phía Bắc, về sau với đà Nam tiến ồ ạt, liên tục của người Việt, ảnh hưởng đó ngày càng lan rộng Bước đầu nó lan truyền đến địa bàn khu IV, hình thành phương ngữ khu IV Sau đó tiếng Việt lại Nam tiến, tạo điều kiện để hình thành một phương ngữ mới là phương ngữ miền Nam Hai phương ngữ mới này có hoàn cảnh hình thành hoàn toàn khác nhau: Vùng phương ngữ khu IV là vùng Việt Mường chung bị Việt hóa mạnh nên trở thành Việt, do đó nó chứa đựng rất nhiều vết tích cổ, khá gần với Mường; Vùng phương ngữ miền Nam lại là một vùng do người Việt mới tạo thành vài ba thế kỉ gần đây Do đó, sự phân hóa của nó chưa có độ dày về thời gian Và nó mang nhiều nét Việt hậu kì hơn phương ngữ khu IV, đồng thời cũng tiếp thu một số đặc điểm của địa phương.
Sự hình thành chữ Quốc ngữ gắn liền với sự truyền giáo của các giáo sĩ phương Tây Chữ Quốc ngữ là một thứ chữ được xây dựng theo nguyên tắc ghi
âm, bằng chữ Latin Loại chữ này được dùng phổ biến từ rất lâu ở châu Âu Đến thế kỉ XVII, một số giáo sĩ phương Tây đem nguyên tắc ấy dùng vào việc
Trang 19-17-ghi âm tiếng Việt, tạo ra một thứ chữ thuận lợi hơn đối với mục đích truyền đạo Mấy thế kỉ tiếp theo, chữ Quốc ngữ chỉ được dùng hạn chế trong những kinh bổn đạo Thiên Chúa.
Sự áp đặt chế độ thuộc địa Pháp đưa đến việc bãi bỏ việc họo, việc thi cử, việc dùng chữ Hán; đưa đến sự thắng lợi của chữ Quốc ngữ Buổi đầu nhân dân lạnh nhạt với chữ quốc ngữ, mặc dù một số trí thức “tây học” đã ra sức cổ động cho nó Thái độ lạnh nhạt ấy thay đổi từ khi hình thành các phong trào đấu tranh văn hóa có ý nghĩa chính trị như phong trào Đông kinh nghĩa thục ở đầu thế kỉ XX Những người lãnh đạo phong trào nêu việc dùng chữ quốc ngữ lên hàng đầu trong sáu biện pháp của bản sách lược gọi là Văn minh tân học sách (1907) và lên tiếng kêu gọi đồng bào vì tương lai của đất nước mà nên dùng thứ chữ tiện lợi ấy Những tài liệu văn hóa bằng chữ quốc ngữ do phong trào này phát hành dã được phổ biến khá rộng Mặt khác, sự tiếp xúc với tiếng Pháp, với nền văn hóa Pháp đã dẫn đến sự hình thành nền báo chí Việt Nam bằng chữ Quốc ngữ, nền văn xuôi Việt Nam hiện đại, sự đổi mới trong thơ ca những sự tiếp thu về từ vựng, ngữ pháp.
Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công đã đưa lại “địa vị ngôn ngữ chính thức của quốc gia” cho tiếng Việt Từ đó, tiếng Việt đã phát triển nhanh chóng, toàn diện, có ảnh hưởng sâu rộng đến tất cả các ngôn ngữ thiểu số ớ Việt Nam.
Giáo sư Nguyễn Tài cẩn căn cứ vào tình thế ngôn ngữ, tức là thế tương tác giữa các ngôn ngữ, văn tự có sự tiếp xúc với nhau đã phân kì lịch sử phát triển tiếng Việt như sau(i):
N gu yền Tài c ẩ n - Thử phân kì lịch sử 12 thế ki của tiếng V iét - ngôn ngữ, số 10 1998.
Trang 20-18-A) Giai đoạn Proto Việt Có 2 ngôn ngữ: tiếng Hán (khẩu ngữ của
lãnh đạo) và tiếng Việt
1 văn tự: Chữ Hán
Vào khoảng các thế kỉ: 8, 9
B) Giai đoạn tiếng
Việt tiền cổ Có 2 ngôn ngữ: tiếng Việt (khẩu ngữ của lãnh đạo) và văn ngôn Hán
1 văn tự: chữ Hán
Vào khoảng các thế
kỉ 10, 11, 12
C) Giai đoạn tiếng
Việt cổ Có 2 ngôn ngữ: tiếng Viêt và Vãn ngôn
Hán
2 vãn tự: chữ Hán và chữ Nôm
Vào khoảng các thế
kỉ 13, 14, 15, 16
D) Giai đoạn tiếng
Việt trung đại
Có 2 ngôn ngữ: tiếng Việt và Văn ngôn Hán
3 văn tự: chữ Hán, chữ Nôm và chữ Quốc ngữ
Vào khoảng các thế
kỉ 17, 18 và nửa đầu thế kỉ 19
G) Giai đoạn tiếng
Việt hiện nay
Có 2 ngôn ngữ: tiếng Việt
1 văn tự: chữ Quốc ngữ
Từ 1945 trở đi
Nhìn lại cả chặng đường lịch sử, hơn một thế kỉ qua là thời kì tiếng Việt
đã diễn ra nhũng biến đổi toàn diện và sâu sắc.
Những nhân tố nào đã làm cho tiếng Việt có sự biến đổi phi thường như vậy?
n Như chúng ta biết, suốt hàng ngày năm Bắc thuộc và gần một trăm năm dưới sự đô hộ của thực dân Pháp, ngôn ngữ chính thức của Nhà nước lần lượt
là tiếng Hán ở dạng viết (chữ Nho) và tiếng Pháp, tiếng Việt của chúng ta chủ yếu chí là khẩu ngữ hàng ngày ở các làng xã, các địa phương Nó cũng được dùng để sáng tạo ra nền văn hóa dân gian truyền miệng và một số tác phẩm văn học bằng chữ Nôm, nhưng trong chế độ cũ, những di sản quý báu đó luôn
Trang 21luôn bị giai cấp thống trị coi là “nôm na mách qué”, là bất hợp pháp, do đó sự phát triển của nó gặp rất nhiéu khó khăn.
-19-Nhân tố khách quan làm cho từ vựng tiếng Việt biến đổi và phát triển tnrớc hết là sự nhận thức vai trò của chữ quốc ngữ Như ta biết, chữ Nôm được sáng tạo ra từ thế kỉ 19, nhưng chữ Nôm được cấu tạo theo nguyên tắc của chữ Hán Vì vậy, tuy cũng là thứ chữ ghi lại tiếng nói dân tộc nhưng nó vẫn khó học, khó phổ cập trong quần chúng, nó vẫn chỉ là sở hữu của tầng lớp nho sĩ
mà thôi Chữ quốc ngữ là loại chữ ghi âm, được cấu tạo theo nguyên tắc của chữ Latin nên dễ học, dễ phổ cập.Chữ quốc ngữ vốn do các cố đạo phương tây tạo ra phục vụ cho việc truyền bá Gia tô ở Việt Nam, vì thế ban đầu nhân dân
ta đã lạnh nhạt với nó Khi nhận ra giá trị thực tế của chữ quốc ngữ, người Việt đã sử dụng nó một cách rộng rãi, biến nó thành công cụ đắc lực trong việc phát triển ngôn ngữ, phát triển xã hội.
Mặt khác, sự tiếp xúc với tiếng Pháp, với nền văn hóa Pháp đã dẫn đến sự hình thành nền báo chí Việt Nam bằng chữ quốc ngữ, nền văn xuôi Việt Nam hiện đại, sự đổi mới trong thơ ca Lần đầu tiên tiếng Việt đã trở thành phương tiện tuyên truyền trên báo chí Thể văn chính luận, truyện ngắn, truyện dài bằng tiếng Việt đã xuất hiện Phong trào thơ mới Việt Nam ra đời Trên cơ sở
đó, tiếng Việt đã tiếp thu và Việt hóa hàng loạt từ ngữ gốc Pháp.
Cuối cùng, bối cảnh xã hội Việt Nam thời gian vừa qua là môi trường thuận lợi cho sự phát triển của chữ quốc ngữ và nền văn hóa bằng chữ quốc ngữ Từ đầu thế kỉ đến nay, ở Việt Nam đã liên tiếp diễn ra những quá trình biến động lớn lao làm cho xã hội và con người Việt Nam biến đổi sâu sắc Cùng với những luồng gió mới về tư tưởng từ phương Tây, Trung Quóc, Nhật Bản ùa vào, cùng với những phong trào vận động cách mạng của các nhà yêu nước Việt Nam, dần dần người ta đã ý thức đượcmột cách sâu sắc vai trò của tiếng nói dân tộc Tiếp theo những cuộc vận động cách mạng của các sĩ phu yêu nước đầu thế kỉ, năm 1930 Đảng cộng sản Đông Dương được thành lập.
Trang 22Đáng Cộng sản nhìn thấy vai trò lớn lao của tiếng nói dân tộc, có ý thức phát triển nó trớ nên một vũ khí sắc bén trong cuộc đấu tranh xã hội Thực tế, ngay từ khi mới thành lập, Đảng đã sử dụng tiếng nói dân tộc làm phương tiện tuyên truyền, giáo dục, vận động quần chúng đấu tranh Nhiều hình thức báo chí của Đảng ra đời, liên tục nhen nhóm, cổ vũ phong trào đấu tranh và đã có một ảnh hưởng to lớn trong quần chúng lao động Một dòng văn học yêu nước, cách mạng cũng hình thành và ngày càng phát triển mạnh mẽ Trên diễn đàn công khai, các loại báo chí tiến bộ.cũng như phản động, cũng hoạt động rất sôi nổi, ráo riết Đồng thời, chính thời kì này đã ra đời và phát triển trào lưu thơ mới, lãng mạn chủ nghĩa Văn xuôi, tiểu thuyết Việt Nam phô thai từ trước đã phát triển rực rỡ chưa từng thấy Sự hoạt động mạnh mẽ của báo chí quốc ngữ, sự hình thành và phát triển của ba dòng văn học hiện đại - dòng văn học yêu nước, cách mạng, dòng văn học lãng mạn và dòng văn học hiện thực phê phán - đã chứng tỏ tiếng Việt là một ngôn ngữ vô cùng phong phú, nó chứa đựng những khả năng tiềm tàng, nếu phát triển lên, tiếng Việt có thể tham gia vào nhiều lĩnh vực hoạt động của xã hội, đảm nhiệm các chức năng
xã hội khác nhau.
Nhân tố quvết định sự phát triển toàn diện và sâu sắc của tiếng Việt nói chung và từ vựng tiếng Việt nói riêng là sự kiện Cách mạng tháng Tám thành công năm 1945 Từ đãy, nước ta trở thành một quốc gia độc lập Tiếng Việt được thừa nhận là một phương tiện giao tiếp của người Việt Nam trong tất cả mọi lĩnh vực hoạt động của xã hội, từ lĩnh vực hành chính đến lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, từ lĩnh vực khoa học đến lĩnh vực giao tiếp hàng ngày, từ lĩnh vực giáo dục phổ thông đến lĩnh vực giáo dục đại học, từ lĩnh vực quân sự đến lĩnh vực ngoại giao, từ việc giao tiếp trong nội bộ người Kinh, đến việc giao tiếp giữa các dân tộc cùng chung sống trên đất Việt Nam v.v Nếu không có
sự biến đổi toàn diện và sâu sắc thì tiếng Việt không thể nào đảm đương được những chức năng xã hội mới đó.
Trang 23
-21-Sự phát triển của tiếng Việt trong giai đoạn trước, tuy rất lớn nhưng so với thời kì sau Cách mạng tháng Tám thì vẫn có tính chất từng bộ phận, từng mặt, trong đó chủ yếu là sự phát triển của các từ ngữ báo chí chính luận và các
từ ngữ văn hóa nghệ thuật mà thôi Chỉ sau Cách mạng tháng Tám tiếng Việt mới phát triển toàn diện, mới thực sự có thể đặt ngang hàng với các thứ tiếng khác như: tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức, tiếng Nga v.v
Mặt khác, Cách mạng tháng Tám làm thay đổi hoàn toàn bộ mặt xã hội Chế độ phong kiến, thực dẫn vĩnh viễn bị xóa bỏ Những sự kiện tiếp theo như toàn quốc kháng chiến, cải cách ruộng đất, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam v.v đã làm cho xã hội Việt Nam thay đổi tận gốc rễ Các giai cấp bóc lột dần dần bị tiêu diệt Các giai cấp công nhân, nông dân và nhân dân lao động thực sự đứng lên làm chủ cuộc đời mình Những biến động cách mạng như thế tất nhiên sẽ làm mất đi rất nhiều sự vật, hiện tượng hay quan hệ đã lỗi thời, lạc hậu, phản động; đồng ihời cũng làm nảy sinh hàng loạt sự vật, hiện tượng, quan hệ mới chưa hề có trong lịch sử Những biến động như thế đồng thời cũng làm lóe lên những nhận thức mới mẻ đối với tất cả các sự vật, hiện tượng, quan hệ đã và đang tồn tại trong thực tế Những sự kiện đó không thể không phản ánh trong từ vựng của tiếng Việt.
Nhân tố quan trọng nữa thúc đẩy sư phát triển mạnh mẽ của tiếng Việt là
sự kiện đất nước ta hoàn toàn đươc giải phóng, sau chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử năm 1975 Từ nay, non sông đất nước ta thu về một mối, Bắc Nam sum họp mộtnhà Toàn Đảng, toàn dân ta từ Mục Nam Quan đến mũi Cà Mau cùng nhau kề vai sát cánh xây dựng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam giàu mạnh Nếu như trước đây tiếng Việt đã là tiếng nói chung của nhân dân cả nước thì ngày nay, trong điều kiện nước nhà hoàn toàn thống nhất, tiếng Việt càng có điều kiện phát triển thành một ngôn ngữ thống nhất hơn, phong phú hơn, uyển chuyển hơn.
Trang 24-22-Ngoài những nhân tố khách quan tác động trực tiếp tới sự phát triển từ vựng của tiếng Việt đã nói ở trên, còn phải kể đến một nhân tố chủ quan không kém phầm quan trọng Đó là sự tác động có ý thức của con người vào tiến trình phát triển của ngôn ngữ thông qua chính sách ngôn ngữ của Đảng và nhà nước ta.
Trước hết, chính sách ngôn ngữ tác động vào mặt chức năng của ngôn ngữ Trong lịch sử, Hồ Quý Li và Nguyễn Huệ có ý định đưa chữ Nôm vào công việc giáo dục và hành chính nhưng chưa thành công(l) Trong phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, các sĩ phu yêu nước đã nêu việc dùng chữ quốc ngữ
lên hàng đầu trong sáu biện pháp của bản sách lược gọi là Văn minh tân học
sách (1907) và lên tiếng kêu gọi đổng bào vì tương lai của đất nước mà nên dùng thứ chữ tiện lợi ấy Những tài liệu văn hóa do phong trào này phát hành
đ ã được phổ biến rộng rãi Ngay từ khi mới thành lập, Đảng cộng sản Đông Dương đã chủ trương xây dựng, sử dụng và phát triển một cách tốt nhất tiếng
Việt làm công cụ văn hóa thống nhất của dân tộc ta Chánh cương vắn tắt
trong ngày thành lập Đảng đã đề ra việc “phổ thông giáo dục theo công nông hóa” Yêu cầu này đã được cụ thể hóa trong chương trình hành động của mình (1932) là: “Hết thảy con cái nhà lao động được học tới 16 tuổi bằng tiếng mẹ đẻ” Đảng còn chủ trương “hết sức tổ chức các lớp học ban đêm, các hội đọc sách báo v.v đế nông dân tranh đấu chống nạn không biết chữ” Hội truyền
bá chữ quốc ngữ đã có tác dụng to lớn trong việc xóa nạn mù chữ cho nhân dân lao động trước Cách mạng Trong phiên họp đầu tiên của chính phủ lâm
(l) Tương truyền Hồ Quý Li có dịch Kinh Thi, Kinh Thư ra chữ Nôm và sáng tác thơ Nôm nhưng nay đã thất truyền Nguyễn Huệ thì phê vào đơn thỉnh cẩu của nông dân trại Văn Chương, Hà Nội như sau:
Thôi, thôi, thôi, việc đã rồi
Trăm nghìn hãy cứ trách bổi vào ta
Nay mai dọn lại nước nhà
Bia nghè lại dựng trên tòa muôn gian
cơ đồ họ Trịnh đã tan
V iệc này cũng dừng đổ oan cho thằng Trịnh Khải.
Trang 25-23-thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ngày 3/9/1945, Hồ Chủ tịch đã đề ra 6 nhiệm vụ cấp bách trước mắt trong đó có nhiệm vụ thứ 2 là chống nạn mù chữ Sau đó không lâu, người đã cho thành lập Nha bình dân học vụ để chăm
lo việc này Trước Cách mạng tháng Tám, trong lãnh vực giáo dục, tiếng Việt chỉ được dùng ở lớp đồng ấu (lớp 1), ở lớp 2 và lớp 3, học sinh phải học theo chế độ song ngữ Việt - Pháp Từ lớp 4 trở đi tiếng Pháp giữ vai trò áp đảo và độc tôn Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quyết định tiến hành sự nghiệp giáo dục ở mọi cấp bằng tiếng Việt, dùng tiếng Việt thay thế hoàn toàn cho tiếng Pháp ngay lập tức Nhờ chính sách đúng đắn đó, sự nghiệp giáo dục của Việt Nam đã tiến những bước dài Đánh giá về sự kiện này, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng
đã viết:
“Vì chứng ta có ý thức sâu sắc đối với tiếng nói của dân tộc, cho nên từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chúng ta đã làm những việc rất có ý nghĩa và đem lại những kết quả to lớn.
Một là chúng ta đã dùng rộng rãi tiếng Việt, văn Việt trong mọi lãnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, nghệ thuật, khoa học, kĩ thuật.
Hai là, sau khi lập nước, chúng ta đã thanh toán nạn mù chữ trong một thời gian ngắn Chúng ta đã dùng tiếng Việt để giảng dạy ở các trường, đặc
biệt đáng nêu là dạy ở các trường đại học những môn về khoa học, kĩ thuật So
với tình hình ở nhiều nước giống nước ta đây ỉà một kì công của tiếng nước ta,
và kì công của ý thức chúng ta”(i).
Trong khi luôn luôn tôn trọng quyền của các dân tộc ít người được tự do
sử dụng, phát triển tiếng mẹ đẻ của mình, Đảng và Nhà nước ta lại khuyến khích và tạo điều kiện để các dân tộc ít người học tiếng Việt, dùng tiếng Việt làm công cụ giao tiếp giữa các dân tộc Vì thế, tiếng Việt không chỉ là phương
11 Phạm V ãn Đ ổng Giữ gìn sự trong sáng của tiếng V iệt “Tạp chí vãn học”, số 3 1966.
Trang 26-24-tiện giao tiếp của người Việt mà còn là phương -24-tiện giao tiếp giữa các dân tộc
ở Việt Nam Căn cứ vào sự tự nguyện của các dân tộc và thực tế sử dụng ngôn ngữ ở Việt Nam, nhà nước ta đã dùng tiếng Việt làm ngôn ngữ hành chính của
cả nước Tất cả các văn bán hành chính là Hiến pháp, Luật, Nghị định, Nghị quyết, Thông tư, Chỉ thị v.v thuộc nhà nước đều dùng tiếng Việt Trong thực
tế tiếng Việt đã trở thành ngôn ngữ quốc gia, ngôn ngữ chính thức của cả nước Cuối cùng, với các sự kiện tiếng Việt đã được sử dụng trong các Hội nghị quốc tế, trong các Hiệp định kí kết quốc tế thì chức năng xã hội của tiếng Việt đã được nâng lên ngang tầm các ngôn ngữ quốc tế khác.
Để tiếng Việt có thể gánh vác các chức năng xã hội ngày càng mở rộng, các chính sách ngôn ngữ còn tác dụng -trực tiếp vào mặt kết cấu của nó nữa
Trong Đề cương văn hóa Việt Nam, Đảng đã khẳng định “thống nhất và làm
giàu thêm tiếng nói” là “nhiệm vụ cần kíp về mặt ngôn ngữ” Do những biến động lớn lao của cách mạng, từ vựng tiếng Việt có khi được phát triển một cách ồ ạt, thiếu cân nhắc, Đảng ta lại đưa ra chủ trương “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” nhằm bảo vệ tiếng mẹ đẻ, bảo đảm sự phát triển diẽn ra một cách vững chắc trên cơ sở vốn cũ của tiếng ta, làm cho tiếng ta ngày thêm giàu nhưng vẫn giữ được phong cách, bản sắc, tinh hoa của nó” Đảng đã định hướng cho sự phát triển của tiếng Việt là dân chủ hóa, quần chúng hóa Trong
cuốn Sửa đổi lồi làm việc (kí tên là XYZ), Hồ Chủ tịch đã nhắc nhở:
- Phải học cách nói của quần chúng Chớ nói như giảng sách.
- Nói cũng phải học, mà chịu khó học mới được Vì cách nói của dân chúng rất đầy đủ, rất hoạt bát, rất thiết thực, mà lại rất đơn giản Anh em đi tuyên truyền chưa học được cách nói đó, cho nên khi viết khi nói khô khan, cứng nhắc, không hoạt bát, không thiết thực.
- Dừng cả đoạn chữ Hán, dùng từng đống danh từ lạ, nói và viết theo cách tây, mỗi câu dài dằng dặc, thì quđn chúng hiểu sao được?
Trang 27-25 Tiếng ta còn thiếu niên nhiều lúc phải mượn tiếng nước khác, nhất là tiếng Trung Quốc Nhưng phải có chừng mực, tiếng nào ta sẩn có thì dùng tiếng ta.
- Nhưng sẽ “tả” quá nếu những chữ Hán đã hóa thành tiếng ta ai cũng hiểu mà cố ý không dùng Ví dụ: Độc lập mà nói “đứng một”, du kích thì nói
“đánh chơi” Thế cũng là tếu.
- Chúng ta không chống mượn tiếng ngoại quốc để làm cho tiếng ta đầy
đủ thêm Nhưng chúng ta phải chống cách muộn không phải lối, mượn đến nỗi bỏ cả tiếng ta, đến nỗi quần chúng không hiểu được.
Trang 28Như trôn đã nói, tiếng Việt là người bạn đường thân thiết của mỗi người Việt Nam chúng ta Nhu cầu thực tiễn đòi hỏi mỗi người phải quan tâm tới liếng Việt, mặc dù coi nó như đối tượng của một ngành khoa học riêng biệt Việt ngữ học, thì chỉ mới gần đây thôi.
Trước hết, cần khẳng định rằng, ngôn ngữ là linh hồn của dân tộc Vì thế, cái nhu cầu thôi thúc cần phải nghiên cứu tiếng Việt một cách sâu sắc xuất phát từ niềm tự hào về dân tộc và tiếng nói dân tộc Mỗi người đều tự hào vể liếng nói của mình, mỗi người đều thấy bị xúc phạm nếu tiếng nói của mình bị
riẽu cợt Tục ngữ Việt Nam có câu chửi cha không bằng pha tiếng là vì thế
Nhưng khi ngôn ngữ dân tộc chưa phát triển, mỗi làng mỗi vùng có các đặc điểm về phát âm, về từ vựng về thành ngữ khác với các đặc điểm về phát âm
về từ vựng và thành ngữ của các làng, các vùng khác Khi dân tộc phát triển người ta hướng tới những cái chung cho'toàn dân tộc Niềm tự hào dân tộc thể hiện ở chỗ mỗi dân tộc phải có nền văn hiến riêng Trước khi chữ Nôm hình thành, dân tộc ta đã có một ngôn ngữ thành văn trên cơ sở chữ Hán, đã có mội nền văn hóa khả quan, phục vụ đắc lực cho việc quản lí và điều hành xã hội
đã tạo ra một nền văn chương bác học với thơ, phú, ca, từ Tuy nhiên, cái ngôn ngữ thành văn này không thật sự bắt rễ bền chắc từ bản thân cộng đồng Nhu cẩu đặt ra là phải xây dựng một nền văn hóa dân tộc, dựa trên ngôn ngĩ dân tộc.
Chữ Nôm hình thành và hoàn chỉnh vào cuối thế kỉ X đến đầu thế kỉ XII Lúc đầu, chữ Nôm chỉ là một lối chữ được sản sinh ra và được dùng chủ yếu lề
ở nhà chùa Nhưng vì chữ Nôm là thứ chữ dùng để ghi tiếng nói dân tộc, CC khả năng phục vụ các nhu cầu biên chép, sáng tác văn học của dân tộc, nên
Trang 29-27-nghiễm nhiên nó dần dần trở thành chữ viết của dân tộc được mọi tầng lớp xã hội chấp nhận và góp phần xây đắp Hồ-Quý Li, Nguyễn Huệ đã cố gắng dùng chữ Nôm trong hành chính và giáo dục Tuy nhiên, ngôn ngữ thành văn dựa trên tiếng nói dân tộc rút cuộc mới chỉ dùng lại ở việc tạo ra một truyền thống văn chương viết bằng chữ Nôm Những tác phẩm bằng chữ Nôm của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bính Khiêm, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm v.v đã đưa.vào văn chương Việt Nam sức sống hơi thở của người Việt, và tiếng Việt khác biệt với tính quan phương, tầm chương trích cú của văn chương bác học Văn chương Việt Nam nhờ có chữ Nôm cũng có thêm những thể loại mới như ngâm khúc, truyện Nôm, hát nói v.v
Như ta biết, khi chưa có chữ viết, hoặc chữ viết chưa phát triển và phổ cập thì nhận thức của người Việt về tiếng Việt chủ yếu là xác định rõ sự khác nhau giũa cái “của mình” và cái “của người khác” Thực tế chỉ ra rằng, cùng với sự hình thành của chữ viết, thói quen lời nói trở nên phức tạp hơn Bên cạnh những lời nói cửa miệng, nhờ có chữ Nôm mà ngôn ngữ văn học viết và các tiểu loại của nó được hình thành Ngônngữ viết là ngôn từ nhân tạo xét ở khía cạnh các kí tự và các nguyên tắc viết và đọc không phải như các tiền lệ về lời nói trong gia đình mà được các nhà sáng tạo quy định và được phổ biến thông qua nhà trường Ngôn từ viết là công cụ để thốngnhất ngôn ngữ đối với những người có thói quen lời nói khác nhau Khi chưa có chữ viết thì việc nắm vững thói quen lời nói sinh hoạt hàng ngày không có tính hệ thống, người Việt không thể miêu tả hệ thống ngôn ngữ, không thể giải thích hệ thống ngữ âm, ngữ pháp của tiếng Việt; Nói cách khác, việc hiểu tiếng Việt chỉ dựa vào tiền
lệ chứ chưa nhận thức được hệ thống ngôn ngữ.
Khi đã có chữ viết thì nhận thức về tiếng Việt phải gắn bó với thực tê ngôn ngữ xã hội của người Việt Nam trong các giai đoạn lịch sử Điều đó có nghĩa là muốn đặt ra chữ Nôm thì phải có hiểu biết ít nhiều khái quát hệ thống
về tiếng Việt, chứ không thể chỉ dựa vào thói quen nữa Tuy nhiên, số người
Trang 30-28-biết chữ Nôm không nhiều, chỉ các nho sĩ - tầng lớp trí thức đường thời mới biết chữ Nôm còn quảng đại quần chúng đều mù chữ Vì thế, chữ Nôm cũng chỉ ghi được thói quen lời nói của một nhóm nhỏ bé cư dân - tầng lớp nho sĩ
mà thôi Do chức năng xã hội của chữ Nôm bị hạn chế nên tác dụng làm cơ sở
để thống nhất ngôn ngữ của nó cũng hạn chế Khi sáng tạo chữ Nôm, cha ông
ta đã miêu tả và giải thích cơ cấu của tiếng Việt, chẳng hạn đã phân biệt phụ
âm đơn và phụ âm kép bằng cách dùng một chữ Hán để ghi một tiếng Nôm có phụ âm đơn và dùng hai chữ Hán ghi những tiếng Nôm có phụ âm kép, chẳng
hạn trăng được ghi là ba + lăng hoặc nguyệt + lăng (chi tiết xin xem
chương 2).
Chữ Quốc ngữ ra đời muộn hơn chữ Nôm Mãi thế kỉ XVII, các cố đạo phương Tây mới dùng chứ cái Latin để ghi lại tiếng Việt, từ đó chữ quốc ngữ mới hình thành Như ta biết, chữ Nôm là một loại chữ được sáng tạo ra theo nguyên tắc và trên cơ sở của chữ Hán vẻ bản chất, chữ Nôm cũng là loại chữ ghi ý, như chữ Hán Ngược lại, chữ Quốc ngữ là loại chữ ghi âm tố! Vì vậy, để xây dựng hệ thống chữ Quốc ngữ cần phải đi sâu phân tích hệ thống âm vị của tiếng Việt Như ta biết, tiếng Việt thuộc họ Nam Á, vốn là ngôn ngữ không có thanh điệu, giàu các phụ âm kép, các phụ tố cấu tạo từ Do sự tiếp xúc với các ngôn ngữ họ Thái - Kadai, tiếng Việt diễn biến theo hướng từ bỏ nhiều nét Môn - Khơmer vốn có trong nguồn gốc của mình để chuyển thành một ngôn ngữ hoàn toàn âm tiết tính có thanh điệu Ngày nay khi trở thành phương tiện giao tiếp giữa các dân tộc ở Việt Nam, thành ngôn ngữ quốc gia của Việt Nam trong giao iưu và hợp tác quốc tế, tiếng Việt lại có sự tiếp xúc rộng rãi với các ngôn ngữ dân tộc ở Việt Nam và nhiều ngôn ngữ khác cùng loại hình và không cùng loại hình với tiếng Việt Vì thế cần nghiên cứu để hoàn thiện hệ thống chữ quốc ngữ nhằm đáp ứng việc phiên chuyển thuật ngữ khoa học kĩ thuật cũng như một số từ ngữ của các ngôn ngữ khác Trong việc hoàn thiện
hệ thống chữ viết cho tiếng Việt những suy tư về một bộ chữ thống nhất cho các ngôn ngữ dân tộc ở Việt Nam là rất đáng quan tâm.
Trang 31-29-Nhu cầu thông nhất ngôn ngữ chuẩn hóa tiếng Việt cũng đòi hỏi phải nghiên cứu tiếng Việt một cách sâu sắc Chuẩn tiếng Việt đã được hình thành trên cơ sở lựa chọn những thói quen lời nói phù hợp với các tiêu chí dễ hiểu và
có giá trị văn hóa cao Những đơn vị ngôn ngữ được lựa chọn phải có giá trị văn hóa, được mọi người chấp nhận và sử dụng; Những đơn vị ngôn ngữ ấy phái có triển vọng, nghĩa là được đánh giá như thuận lợi với giao tiếp trong tương lai; Những đơn vị ngôn ngữ được lựa chọn phải có tính hệ thống, nghĩa
là dễ dàng nhập vào hệ thống tiếng Việt như một yếu tố khu biệt Đồng thời, những yếu tố được lựa chọn phải được thẩm định về khả năng biểu nghĩa và giá trị thẩm mĩ.
Chuẩn hóa ngôn ngữ hay quy phạm hóa ngôn ngữ là kết quả nhận thức khoa học về những quy luật thể hiện chuẩn ở một giai đoạn nhất định của sự phát triển ngôn ngữ, là sự tập hợp những quy luật về cách dùng từ ngữ, về cách tạo câu trong mọi phong cách của ngôn ngữ văn hóa Cho nên muốn quy phạm hóa tiếng Việt, cần xây dựng một bộ ngữ pháp tiếng Việt được xã hội chấp nhận và sử dụng, cần biên soạn một bộ Từ điển giải thích tiếng Việt làm chỗ dựa cho người nói và người viết Bên cạnh đó, cần có những văn bản hướng dẫn hành dụng ngôn ngữ Hướng dẫn hành dụng ngôn ngữ có thể dùng cho nhà trường, cho cả xã hội hoặc cho một bộ phận xã hội (chuyên về hoạt động xuất bản, hoạt độne khoa học, chuyên về pháp luật, hành chính hay quản lí) Trong quá trình phát triển, dân tộc ta đã tiếp xúc giao lưu với nhiều dân tộc khác Muốn giao lưu, tiếp xúc với nhau thì trước hết là phải học hỏi ngôn ngữ của nhau Trước đây, vào thời cổ, trung đại ở Việt Nam không có trường lớp nào dạy tiếng Việt cả Người Việt học tiếng Việt ngay từ lúc lọt lòng mẹ, thông qua thực tiễn xã hội, tiếng Việt đã được người nước ngoài nghiên cứu do nhu cầu cần học tập và nghiên cứu nó như một ngoại ngữ.
Trang 32Vào thế kỉ XV, sứ thần Trung Quốc đi ra các nước và sứ thần các nước đến Trung Quốc ngày một nhiều Vì thế, các cơ quan phiên dịch ở Trung Quốc như Hội thông quán, Tứ Di quán* Tứ Dịch quán nối tiếp nhau ra đời, để làm nhiệm vụ phiên dịch khi giao tiếp Các cuốn từ vựng đối chiếu tiếng Hán với một thứ tiếng khác được lần lượt biên soạn, trong đó có cuốn An nam dịch ngữ là cuốn từ vựng đối chiếu tiếng Hán với tiếng Việt của ta.
-30-Tiếp đó các giáo sĩ phương Tây cũng nghiên cứu, học tập, giảng dạy tiếng Việt nhằm có thêm một phương tiện để truyền bá tư tưởng Thiên chúa giáo phương Tây vào Việt Nam Khi Việt Nam đã xác lập được vị trí xứng đáng trên trường quốc tế, việc nghiên cứu học tập tiếng Việt càng được tăng cường nhằm mở thêm một cánh cửa nhìn cuộc đời, khám phá thêm một nền văn hóa lâu đời mà trước đó người nước ngoài còn ít biết.
Suốt hàng ngàn năm, ở Việt Nam lần lượt tiếng Hán, rồi tiếng Pháp được lựa chọn làm ngôn ngữ văn hóa Tiếng Việt chỉ được sử dụng trong giao tiếp thường ngày và trong sáng tác văn học truyền miệng mà thôi Chữ Nôm và chữ Quốc ngữ là những chữ ghi lại tiếng nói dân tộc, nhưng chữ Nôm thì chỉ một số nho sĩ biết, còn chữ Quốc ngữ thì buổi ban đầu nhân dân lạnh nhạt với
nó vì coi nó là thứ chữ do ngoại bang tạo ra Từ khi hình thành các phong trào đấu tranh văn hóa có ý nghĩa chính trị như phong trào Đông kinh Nghĩa thục, thì thái độ lạnh nhạt ấy mới thay đổi Những hoạt động của Hội truyền bá chữ Quốc ngữ đã góp phần làm cho chữ Quốc ngữ trở nên phổ cập Mặt khác, sự tiếp xúc với tiếng Pháp, với nền văn hóa Pháp đã dẫn đến sự hình thành nền báo chí Việt Nam bằng chữ Quốc ngữ, nền văn xuôi Việt Nam hiện đại, sự đổi mới trong thơ ca Đặc biệt là cách mạng tháng Tám thành công đã đưa lại địa
vị ngôn ngữ chính thức của quốc gia cho tiếng Việt Tiếng Việt đã trở thành đối tượng để nghiên cứu, học tập ngay đối với người Việt Chúng ta phải nghiên cứu toàn diện tiếng Việt để giữ gìn, phát triển nó làm cho nó trở thành công cụ giao tiếp công cụ tư duy, quảng bá nén văn hóa dân tộc trong giao lưu
và hợp tác quốc tế.
Trang 33Tiêng Việt được quan tâm nghiên cứu từ lâu, nhưng Việt ngữ học - với tư cách là một bộ môn nghiên cứu về tiếng Việt thì chỉ mới hình thành gần đây trong thời cận hiện đại, nhất là chỉ đạt được thành tựu rực rỡ từ sau cáchmạng tháng Tám đến nay Căn cứ vào sự phân kì phát triển lịch sử của tiếng Việt của giáo sư Nguyễn Tài cẩn, với những cứ liệu mà chúng tôi có được chúng tôi trình bày sự hình thành và phát triển của Việt ngữ học theo hai giai đoạn:
1 Việt ngữ học thời cổ trung đại.
2 Việt ngữ học thời cận hiện đại.
Những thành tựu của Việt ngữ học giai đoạn đầu gắn với việc hình thành chữ Nôm, chữ Quốc ngữ và sự ra đời của những cuốn từ điển đối chiếu đầu tiên Thành tựu ở giai đoạn này chưa nhiều Chúng tôi tập trung tìm hiểu những vấn đề sau:
1 Những suy nghĩ ban đầu về tiếng Việt qua sự sáng tạo chữ Nôm.
2 Những nghiên cứu đầu tiên về tiếng Việt của các giáo sĩ phương Tây.
3 Những nghiên cứu về tiếng Việt của Lê Quý Đôn.
4 Những cuốn từ điển đối chiếu đẩu tiên đáng chú ý.
Những thành tựu của Việt ngữ học giai đoạn sau thể hiện ở nhiều mặt, nhiều lĩnh vực khác nhau: ngữ âm, từ vựng, ngữ nghĩa cú pháp, phong cách, phương ngôn, lịch sử v.v Tiếng Việt không chỉ được người Việt nghiên cứu
ờ Việt Nam mà còn được nghiên cứu rộng rãi ở nước ngoài: ở Pháp, ở Nga, ở Trung Quốc, ở Nhật Bản v.v
Để có thể hình dung sự phát triển của Việt ngữ học trong thời kì này chúng tôi chia ra hai mảng để tìm hiểu:
1 Việt ngữ học ở trong nước.
2 Việt ngữ học ở nước ngoài.
Trang 34
-31- Những thành tựu của Việt ngữ học cũng không trình bày chung theo mốc thời gian mà trình bày theo từng vấn đề cụ thể Mỗi vấn đề cụ thể được giao cho một chuyên gia về lĩnh vực đó chấp bút.
-32-Nếu chúng ta ghi nhận có lịch sử Việt ngữ học thì người làm nên lịch sử
ấy chính là các nhà Việt ngữ học Trong công trình này, chúng tôi chưa có điều kiện đi sâu phân tích đóng góp của tất cả các nhà Việt ngữ học trong và ngoài nước Chúng tôi bước đầu giới thiệu một số nhà ngôn ngữ học được nhắc đến nhiều như Lê Quý Đon, Trương Vĩnh Kí, Lê Ngọc Trụ, Lê Khả Kế, Hoàng Tuệ, Nguyễn Kim Thản, Trương Văn Trình, Nguyễn Hiến Lê, Hoàng Phê, Nguyễn Tài cẩn.
Chúng tôi cũng dành hẳn một chương để tìm hiểu những kỉ niệm, những tâm tư, tình cảm của một số nhà Việt ngữ học trên con đường nghiên cứu tiếng Việt.
Lịch sử Việt ngữ học là một đề tài lớn và khó Thực hiện đề tài này là cả
một đội ngũ đông đảo nhiều nhà nghiên cứu có uy tín hiện nay Tuy nhiên, những kết quả nghiên cứu trong chuyên luận này chí là bước đầu Chúng tôi rất mong nhận được sự nhận xét, đánh giá và gợi ý của các bạn đọc gần xa để trong tương lai có điều kiện đánh giá xác đáng hơn những đóng góp cụ thể của từng giai đoạn, từng tác giả, từng học thuyết đối với sự phát triển của Việt ngữ học.
Trang 35Chương 2
GIAI ĐOAN Cổ TRUNG ĐAI
Trang 36-34-NHỮNG SUY NGHĨ BAN ĐẦư VỂ TIÊNG VIỆT
QUA Sự SÁNG TẠO CHỬ NÔM
1 Sự hình thành chữ Nỏm
Sự xuất hiện của chữ Nôm là một cái mốc quan trọng và có tác dụng khá quyết định đối với quá trình tiến lên của lịch sử dân tộc Việt Nam cũng như đối với nền văn hóa Việt Nam Chữ Nôm không những chỉ là một cái mốc ghi nhận bước phát triển của văn hóa, văn minh Việt Nam mà còn là một cái mốc
có thể ghi nhận cả sự trưởng thành của ý thức quốc gia, của tinh thần tự cường dân tộc Tìm hiểu con đường hình thành chữ Nôm, thời điểm xuất hiện của nó cũng như những đặc điểm cấu tạo bên trong của nó chúng ta sẽ thấy rõ những suy tư ban đầu của ông cha ta về tiếng Việt khi môn Việt ngữ học chưa trở thành một khoa học.
Như chúng ta biết, chữ Nôm là một loại chữ hình thành bằng con đường
mô phỏng chữ Hán và nguyên tắc cấu tạo chữ Hán Giáo sư Nguyễn Tài cẩn trong cuốn “Một số vấn đề về chữ Nôm”(1) đã đưa ra một bảng phân loại các kiểu cấu tạo chữ Nôm rất rõ ràng, dễ hiểu Ông chia chữ Nôm thành 2 mảng:
- Một mảng do vay mượn y nguyên từ chữ Hán mà có Mảng chữ này đưực mượn trong hai trường hợp:
Hoặc mượn với mục đích sử dụng cả hai mặt âm và nghĩa để ghi những tiếng Hán - Việt và ghi những tiếng tuy-không phải là Hán - Việt nhưng cũng bắt nguồn từ trong tiếng Hán Ví dụ về trường hợp mượn ghi tiếng Hán - Việt
là: tài ( / ị ) mệnh ( 'ậ - ) trong câu chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau', Ví dụ
U) N guyền Tài cấ n , Một số vấn dề về chữ N ôm , N XB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà N ội, 1985.
Trang 37-35-\ễ trường hợp ghi tiếng gốc Hán, nhưng không gọi là Hán Việt: mượn phù
( ) ghi bùa, mượn phủ ghi búa (
Hoặc mượn với mục đích sử dụng chỉ một mặt (hoặc mặt âm hoặc mặt
nghĩa) để ghi những tiếng thuần Việt: ghi chính xác thông qua mặt âm như khi
dùng chữ một (ỳ¿ ỉ) với nghĩa là mất để ghi con số một, ghi đại khái thông
qua mặt âm như khi dùng chữ biệt ( ) để ghi tiếng biết-, Còn ghi thông qua
mặt ý nghĩa như khi dùng chữ trảo ( f[\ ) để ghi tiếng vuốt.
- Mảng thứ hai bao gồm toàn những chữ do người Việt tự tạo ở đây chữ Nôm cũng sử dụng những yếu tố vốn có trong chữ Hán nhưng những yếu tố
này đã được ghép lại, tạo thành những kí hiệu phức hợp, có cấu trúc nội tại
Ghép yếu tố ghi âm với yếu tố ghi nghĩa, ví dụ: thảo + cô = có ( $fỉ"ỹ)
Ghép yếu tố ghi nghĩa với yếu tố ghi nghĩa, ví dụ: thiên + thượng = trời
<£ > ■
Ghép yếu tố ghi âm với yếu tố ghi âm, ví dụ: ba + lại = trái ( ).
Nói đến ghi âm ở đây cũng có khi ghi âm chính xác, cũng có khi ghi âm đại khái Còn nói đến yếu tố ghi nghĩa cũng có khi dùng một chữ trọn vẹn để ghi ý nghĩa đầy đủ, nhưng cũng có khi dùng một bộ đế gợi lên cái ý khái quát
của phạm trù So sánh: ở chữ chồng (= phu + trùng), plui là một chữ trọn vẹn ghi đẩy đú ý nghĩa của tiếng chồng, ờ chữ bắt (thủ + bất) thủ chỉ là một bộ,
dùng để nêu phạm trù ý nghĩa khái quát Sau khi được cấu tạo, chữ Nôm đã kinh qua nhiều bước phát triển và cải tiến như đặt thêm chữ mới, thay đổi cách cho chính xác hơn thuận lợi hơn.
Trang 38-36-Vc thời điểm xuất hiện của chữ Nôm, ý kiến còn phân tán Phạm Huy Hổ cho rằng chữ Nôm có từ đời vua Hùng-(l); Trương Vĩnh Ký cho chữ Nôm có trước thời Sĩ Nhiếp(2); Các ông Lê Đư^, Nguyễn Đổng Chi(4), Trần Văn Giáp'5', cho chữ Nôm có từ thời Sĩ Nhiếp; Nguyễn Văn Tố cho chữ Nôm có từ thời Phùng Hưng(6) v.v
Giáo sư Nguyễn Tài cẩn căn cứ vào lịch sử ngữ âm tiếng Hán và tiếng Việt, sự phát triển lịch sử, văn hóa Việt Nam, mối tương quan giữa Việt Nam
và các quốc gia khác trong khu vực đã cho rằng: chữ Nôm manh nha ở Việt Nam vào khoảng thế kỉ thứ VIII, thứ IX; hình thành và hoàn chỉnh vào khoảng cuối thế kỉ X đến thế kỉ XII Ông viết:
“Chữ Nôm lúc đầu chắc là một lối chữ được sản sinh ra trên cơ sở vay mượn các yếu tố chữ vuông Hán, và phương thức cấu tạo của chữ Hán Nhưng
vì chữ Nôm là thứ chữ dùng để ghi tiếng nói dân tộc, có khả năng phục vụ các nhu cầu biên chép, sáng tác văn học của dân tộc, nên nghiễm nhiên dần dần
I1Ó trở thành chữ viết của dân tộc được mọi tầng lớp xã hội chấp nhận và góp phần xây đắp
Chữ Nôm là một sản phẩm tất yếu của sự tiếp xúc với nền văn hóa Hán Nhưng chữ Nôm không thể xuất hiện ngay trong những thế kỉ đầu tiên sau khi
có sự tiếp xúc Trước đây với một số bi kí, với một số câu ghi chép trong thư tịch cổ, chúng ta cũng đã ngờ rằng đó là một sản phẩm của giai đoạn đầu trong thời đại Lý Trần, giai đoạn nước nhà đã bước vào và đang bước những bước đi lên mạnh mẽ đầu tiên trong kỉ nguyên độc lập, tự chủ thống nhất Nay
1,1 Phạm Huy H ổ V iệt Nam ta biết chữ Hán từ đời nào? Nam Phong tạp chí, tr 5.
N guyền Vãn H uyên, La civilisation annamite 1944, tr 250 - 251.
(,) Lê Dư, Chữ N ôm với quốc ngữ, Nam Phong, X X X , tr 77.
<4‘ N guyền Đ ổng Chi, V iệt Nam cổ văn học sử, 1942, tr 77.
<5' Trần V ãn Giáp, Lược khảo về nguồn gốc chữ N ôm , N ghiên cứu lịch sử, số 127, 1969
íM N guyền V ăn T ố, BEFEO, X X X , tr 144.
Trang 39-37-căn cứ thêm vào một số cứ liệu mới, rút ra từ trong nước cũng như nước ngoài, nhất là cứ liệu rút ra từ sự phân tích bản thán các mô hình cấu tạo chữ Nôm, chúng ta lại càng có thêm cơ sở để vững tin ở điều đó” (Sđd, tr 42 - 43).
2 Người Việt Nam nghĩ gì về tiếng Việt qua sự sáng tạo chữ Nôm
1 - Điều đầu tiên có thể thấy ngay Ịà qua sự sáng tạo chữ Nôm, ông cha ta
đã thế hiện mạnh mẽ tinh thần dân tộc và ý thức tự hào về ngôn ngữ dân tộc của mình Trong lúc chữ Hán đang được coi là quốc tự mà dám đặt thêm một chữ viết riêng cho dân lộc, ghi tiếng nói dân tộc mở đường cho nền văn học dân tộc xuất.hiện và phát triển là một minh chứng hùng hổn về sự phát triển cao của tinh thần độc lập dân tộc Bài thơ thần của Lý Thường Kiệt chính là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của Việt Nam:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tuyệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư
Đã khẳng định một Nam quốc, một Nam đế thì cũng khẳng định một
Nam nẹữ, một Nam tự Nói cách khác, ý thức tự tôn dân tộc mình là cơ sở để
khẳng định một Nam quốc, một Nam đế Bài Bình Ngô đại cáo của Nguyễn
Trãi năm 1427 là bản tuyên ngôn đầu tiên về quyền dân tộc tự quyết và định nghĩa đầu tiên về nhà nước dân tộc trên thế giới:
Nhớ nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâũ
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác
Từ Triệu, Đinh, Lê, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương.
Trang 40Như ta biết, Stalin định nghĩa: “Dân tộc là một khối cộng đồng ngưòi ổn
định, hình thành trong lịch sử, dựa trên cơ sở cộng đồng về ngôn ngữ, về lãnh
thổ, về sinh hoạt kinh tế và về cấu tạo tâm lí biếu hiện bằng cộng đồng về văn
hóa” Trước Stalin 465 năm, Nguyễn Trãi đã thấy dân tộc là một thể thống
nhất gồm các yếu tố là văn hiến (vỏn xưng nền văn hiến đã lâu), địa lí (Núi
sônẹ bờ cõi đã chia), phong tục (Phong tục Bắc Nam cũng khác), lịch sử (Từ Triệu, Đinh, Lê, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập), chính quyền thống nhất (Củng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương) Mãi gần
đây, UNESCO cũng lấy văn hóa làm nền tảng chủ quyền dân tộc.
Trước UNESCO gần 600 năm Nguyễn Trãi nói tới Văn hiến như biểu hiện của dân tộc Nguyễn Trãi là tác giả tập thơ Nôm nổi tiếng Quốc âm thi tập, nên Văn hiến mà ông nhắc tới chắc chấn không phải chỉ những tác phẩm bằng chữ Hán mà bao gồm cả những tác phẩm bằng chữ Nôm của người Việt Như vậy một ngôn ngữ riêng, một văn hóa riêng với tư cách đặc trưng của dân
tộc đã được ông nói đến trước Stalin Bình Ngô đại cáo quả là một văn kiện
thế giới cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị.
2- Chữ Nôm là loại chữ mô phỏng chữ Hán, nhưng được dùng dể ghi tiếng nói dân tộc nên vẫn có sự khác biệt so với chữ Hán.
Như ta biết có sáu phép cấu tạo chữ Hán là: tượng hình, tức là thấy vật thế nào thì vẽ chữ y như hình dạng của vật ấy, ví dụ: chữ nhật ( ũữ ); chỉ sự tức
là dùng các dấu hiệu trừu tượng hơn để chỉ đặc điểm của vật, ví dụ: chữ
thượng ), chữ hạ C]í); hội ý là ghép hai chữ để thành một chữ mới trên
cơ sở nghĩa của hai chữ đầu nhắc gợi tới nghĩa của chữ thứ ba, ví dụ: minh
<0Jị ) = nhật ( 0 ) + nguyệt ( ); hình thanh là ghép hai chữ để tạo nên một
chữ mới, trog đó một chữ nhắc tới nghĩa, một chữ nhắc tới âm của từ thứ ba, ví
dụ: chữ hà (>ặ), chữ vũ ( ); chuyển-chú là lấy một chữ đã có biểu thị một
từ khác trên cơ sở hai từ có liên hệ vể nghĩa với nhau, ví dụ: chữ khảo và lão