Tuy nhiên, bên cạnh những mặt được, cơ chế chính sách quản lý của nhà nước về giá, đặc biệt là giá hàng hóa, dịch vụ thiết yếu còn bộc lộ một số tồn tại, hạn chếnhất định: Một số hàng hó
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiêncứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trongluận án là trung thực Những tư liệu được sửdụng trong luận án đều có nguồn gốc trích dẫn
rõ ràng
Tác giả Luận án
Nguyễn Anh Tuấn
MỤC LỤC
Trang 2CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁ ĐỐI VỚI HÀNG
HÓA THIẾT YẾU VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
15
1.1.2 Giá cả hàng hóa thiết yếu và mối quan hệ với chỉ số giá tiêu dùng 181.1.3 Đặc điểm của hàng hóa thiết yếu ảnh hưởng tới quản lý giá 201.2 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁ ĐỐI VỚI HÀNG HÓA THIẾT YẾU 291.2.1 Khái niệm và mục tiêu quản lý nhà nước về giá đối với hàng hóa
thiết yếu
29
1.2.2 Nguyên tắc quản lý nhà nước về giá đối với hàng hóa thiết yếu 301.2.3 Nội dung quản lý nhà nước về giá đối với hàng hóa thiết yếu 321.2.4 Các hình thức quản lý nhà nước về giá đối với hàng hóa thiết yếu 351.2.5 Đánh giá quản lý nhà nước về giá đối với hàng hóa thiết yếu 361.2.6 Các nhân tố ảnh hướng đến quản lý nhà nước về giá đối với hàng
hóa thiết yếu
39
1.3 KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ BÀI HỌC RÚT RA CHO VIỆT NAM
TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁ ĐỐI VỚI HÀNG HÓA THIẾT
YẾU
41
1.3.1 Kinh nghiệm trong quản lý nhà nước về giá đối với hàng hóa thiết
yếu trên thế giới
41
1.3.2 Bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam trong quản lý nhà nước về
giá đối với hàng hóa thiết yếu
53
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁ ĐỐI VỚI
HÀNG HÓA THIẾT YẾU LÀ ĐIỆN VÀ XĂNG DẦU TẠI VIỆT NAM
57
2.1 KHÁI QUÁT VỀ HÀNG HÓA THIẾT YẾU LÀ ĐIỆN VÀ XĂNG DẦU
TẠI VIỆT NAM
57
2.1.1 Khái quát hàng hóa thiết yếu là điện tại Việt Nam 572.1.2 Khái quát hàng hóa thiết yếu là xăng dầu tại Việt Nam 602.1.3 Chỉ số giá tiêu dùng của Việt Nam giai đoạn từ 2013 đến 2018 và tác 63
Trang 3động của giá điện, xăng dầu đến chỉ số giá tiêu dùng
2.2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁ ĐỐI VỚI HÀNG
HÓA THIẾT YẾU LÀ ĐIỆN VÀ XĂNG DẦU TẠI VIỆT NAM
65
2.2.1 Thực trạng bộ máy quản lý nhà nước về giá đối với hàng hóa thiết
yếu là điện và xăng dầu tại Việt Nam
65
2.2.2 Thực trạng quản lý nhà nước về giá đối với điện tại Việt Nam 672.2.3 Thực trạng quản lý nhà nước về giá đối với xăng dầu tại Việt Nam 1002.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁ ĐỐI VỚI
HÀNG HÓA THIẾT YẾU LÀ ĐIỆN VÀ XĂNG DẦU TẠI VIỆT NAM
117
2.3.1 Những thành tựu trong quản lý nhà nước về giá đối với điện và xăng
dầu tại Việt Nam và nguyên nhân
117
2.3.2 Những hạn chế trong quản lý nhà nước về giá đối với điện và xăng
dầu tại Việt Nam và nguyên nhân
129
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁ ĐỐI
VỚI HÀNG HÓA THIẾT YẾU LÀ ĐIỆN VÀ XĂNG DẦU TẠI VIỆT NAM
143
3.1 ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁ ĐỐI
VỚI HÀNG HÓA THIẾT YẾU LÀ ĐIỆN VÀ XĂNG DẦU TẠI VIỆT NAM
143
3.1.1 Bối cảnh kinh tế- xã hội ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về giá đối
với hàng hóa thiết yếu là điện và xăng dầu tại Việt Nam
143
3.1.2 Quan điểm và định hướng quản lý nhà nước về giá đối với hàng hóa
thiết yếu là điện và xăng dầu tại Việt Nam
145
3.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁ ĐỐI VỚI
HÀNG HÓA THIẾT YẾU LÀ ĐIỆN VÀ XĂNG DẦU TẠI VIỆT NAM
3.3 CÁC GIẢI PHÁP ĐIỀU KIỆN ĐỂ HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC VỀ GIÁ ĐỐI VỚI HÀNG HÓA THIẾT YẾU LÀ ĐIỆN VÀ XĂNG
DẦU TẠI VIỆT NAM
187
Trang 4DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, TỪ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nội dung đầy đủ
BĐS Bất động sản
EVN Tập đoàn Điện lực Việt Nam
GCN Giấy chứng nhận
GDP Tổng sản phẩm trong nước
GTGT Giá trị gia tăng
HĐND Hội đồng Nhân dân
LPG Khí dầu mỏ hóa lỏng
MC Chi phí cận biên
MR Doanh thu cận biên
NCS Nghiên cứu sinh
Trang 51 Đồ thị 1.1: Cân bằng cung cầu trên thị trường hàng hóa thiết yếu 23
2 Đồ thị 1.2: Biểu diễn đường Chi phí cận biên và doanh thu cận biên 26
4 Hình 1.1: Quá trình đánh giá hoạt động quản lý nhà nước về giá đối
với hàng hóa thiết yếu
38
7 Bảng 1.3: Chỉ tiêu kinh tế vĩ mô và giá năng lượng tại In-đô-nê-xi-a 48
10 Hình 1.2: Tỷ trọng các yếu tố hình thành giá xăng tại Mỹ 52
11 Bảng 2.1: Chỉ số giá tiêu dùng của năm tính toán so với năm trước
tại Việt Nam giai đoạn 2013 - 2018
64
12 Bảng 2.2: Danh mục các nhà máy thủy điện chiến lược đa mục tiêu 76
13 Bảng 2.3: Tổng hợp khung giá phát điện từ năm 2013-2018 77
14 Bảng 2.4: Tổng hợp giá các nguồn điện từ năm 2013- 2018 81
15 Bảng 2.5: Thống kê giá truyền tải từ năm 2013-2018 84
16 Bảng 2.6: Thống kê chi phí khâu phân phối bản lẻ điện từ
2013-2018
85
17 Bảng 2.7: Khung giá bán lẻ điện bình quân từ năm 2013- 2020 92
Trang 618 Bảng 2.8: Giá bán lẻ điện bình quân được phê duyệt từ 2013- 2019 93
19 Bảng 2.9: Tổng hợp khung giá bán buôn điện từ năm 2015- 2018 96
21 Bảng 2.10: Số lượng doanh nghiệp điện (đơn vị) được kiểm tra từ
2015 – 2018
99
22 Bảng 2.11: Mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi 110
23 Bảng 2.12: Số lượng doanh nghiệp xăng dầu được kiểm tra từ 2015
– 2019
116
24 Bảng 2.13: Giá bán điện bình quân từ 2010- 2019 118
25 Bảng 2.14: Ý kiến đánh giá của chủ thể và đối tượng quản lý về
việc thực hiện các mục tiêu của quản lý nhà nước về giá đối với
điện
119
26 Bảng 2.15: Ý kiến đánh giá của chủ thể và đối tượng quản lý về
việc thực hiện công khai, minh bạch và lộ trình thị trường điện
121
27 Bảng 2.16: Ý kiến đánh giá của chủ thể và đối tượng quản lý về
việc thực hiện các mục tiêu của quản lý nhà nước về giá đối với
xăng dầu
124
28 Bảng 2.17: Ý kiến đánh giá của chủ thể và đối tượng quản lý về
việc thực hiện công khai, minh bạch và quỹ BOG
125
29 Bảng 2.18: Ý kiến đánh giá về việc xây dựng chính sách, pháp luật
liên quan đến quản lý nhà nước về giá đối với điện và xăng dầu
127
30 Bảng 2.19: Ý kiến đánh giá về khâu phân công, phân cấp; kiểm tra,
đôn đốc liên quan đến quản lý nhà nước về giá đối với điện và xăng
dầu
137
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Quản lý giá nói chung và QLNN về giá nói riêng là một trong những khâuchính trong hoạt động quản lý kinh tế vĩ mô của nhà nước Quản lý giá vừa là công
cụ, vừa là một trong những đòn bẩy có tính quyết định, đảm bảo sự thành công củacác tác động quản lý khác và của hoạt động quản lý kinh tế vĩ mô nói chung củanhà nước Quản lý giá là hoạt động không thể thiếu được nhằm khắc phục khuyếttật của thị trường và góp phần khai thác tốt các nguồn lực quốc gia bằng giá cả; cóvai trò lớn trong việc ổn định chính trị - xã hội, ổn định đời sống nhân dân, tăngcường công bằng xã hội, nhất là như Việt Nam chúng ta
Trong thời gian qua, hệ thống pháp luật về giá của nước ta đã dần hoàn thiện,thể chế hóa được đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước về quản lý, điềuhành giá trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Hầu hết giá cáchàng hóa, dịch vụ đã và đang trở thành tín hiệu khách quan, góp phần thúc đẩy sảnxuất phát triển, đổi mới công nghệ, kỹ thuật, tăng năng suất, hạ giá thành, Ngoàimục tiêu bình ổn giá, để góp phần khắc phục những khuyết tật của thị trường, giảmthiểu tổn thất xã hội, nhà nước vẫn kiểm soát giá một số hàng hóa, dịch vụ thiết yếu
ở mức độ nhất định Các biện pháp về giá luôn đi đôi với tăng cường công tác kiểmtra, kiểm soát giá thành sản phẩm; đồng thời chú ý công tác thông tin tuyên truyền,minh bạch các yếu tố hình thành giá Song song với các quy định về quản lý giá,việc xây dựng và hoàn thiện các quy định về quản lý cạnh tranh đã tạo lập hànhlang pháp lý và duy trì môi trường kinh doanh bình đẳng; mặt khác, góp phần hạnchế, ngăn chặn các hành vi lạm dụng sức mạnh thống lĩnh thị trường để gây thiệt hạicho người tiêu dùng
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt được, cơ chế chính sách quản lý của nhà nước
về giá, đặc biệt là giá hàng hóa, dịch vụ thiết yếu còn bộc lộ một số tồn tại, hạn chếnhất định: Một số hàng hóa thiết yếu thuộc danh mục nhà nước định giá, bình ổngiá còn có khi chưa được tính đúng, tính đủ và chưa được điều chỉnh kịp thời khiyếu tố chi phí đầu vào thay đổi; kìm giá một số chi phí đầu vào bằng biện pháphành chính và kéo dài, một mặt gây méo mó hệ thống giá, mặt khác dẫn đến việcđiều chỉnh tăng giá liên tục và ở mức cao trong thời gian ngắn; quy định về áp đặtgiá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý chưa phù hợp và gây khó khăn cho quá trình
áp dụng trong thực tiễn; điều tiết giá các mặt hàng này còn chưa gắn trực tiếp vớihình thái thị trường của hàng hóa, dịch vụ đó dẫn đến hiệu quả QLNN về giá còn
Trang 8có phần hạn chế… Vì vậy, việc nghiên cứu hoàn thiện QLNN về giá đối với hànghóa thiết yếu phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội mới, đáp ứng yêu cầu trọng tâmcủa công cuộc cải cách cơ chế giá và xu hướng hội nhập thế giới là điều cần thiết,
cho nên, Nghiên cứu sinh đã lựa chọn đề tài nghiên cứu luận án của mình là “Quản
lý giá đối với hàng hóa thiết yếu tại Việt Nam – Phân tích qua điện và xăng dầu”.
2 Những kết quả đã nghiên cứu ở trong và ngoài nước có liên quan đến luận án và những định hướng nghiên cứu tiếp của luận án.
Khi đề cập đến quản lý về giá nói chung và QLNN về giá nói riêng đối vớihàng hóa thiết yếu, các nghiên cứu tập trung vào các mảng nội dung lớn như:những phân tích về hàng hóa thiết yếu, QLNN về giá đối với hàng hóa thiết yếu…Trên cơ sở này, NCS cũng tổng luận theo các nội dung chính nêu trên, tuy nhiên để
có những đánh giá sát thực về tình hình nghiên cứu, cũng như phù hợp với phạm vinghiên cứu, NCS tóm lược theo hai nhóm nghiên cứu: nghiên cứu của các tác giảnước ngoài và nghiên cứu của các tác giả trong nước
2.1 Các công trình nghiên cứu ở trong nước:
Trong thời gian vừa qua các nghiên cứu của nhóm tác giả trong nước về cácnội dung liên quan đến đề tài luận án tập trung vào hai mảng nội dung như QLNN
về kinh tế và QLNN về giá, các công trình tiêu biểu như sau:
- Các nghiên cứu về QLNN về kinh tế:
Trong các nghiên cứu về QLNN về kinh tế, có những nghiên cứu chung vềnội dung quản lý, có những nghiên cứu lại tập chung vào các nội dung QLNN theotừng mảng chức năng Luận án của Đặng Ngọc Lợi với đề tài “Chức năng QLNN
về kinh tế trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường ở nước ta”, năm 1995 đã
mô tả sự thay đổi cơ bản vai trò, chức năng QLNN về kinh tế trong quá trìnhchuyển sang kinh tế thị trường Một số phương pháp và giải pháp tiếp tục hoànthiện chức năng QLNN về kinh tế, xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế [25].Tiếp đến luận án tiến sỹ của Đào Viết Hiền với đề tài “Nâng cao hiệu lực QLNN vềkinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, 2005 cũng đã đivào phân tích, đánh giá thực trạng hiệu lực quản lí nhà nước về kinh tế thời kì đổimới, những vấn đề đang đặt ra và nguyên nhân của những hạn chế; quan điểm vàgiải pháp nâng cao hiệu lực quản lí nhà nước về kinh tế ở Việt Nam hiện nay [17] Bên cạnh những luận án nghiên cứu về QLNN về kinh tế, còn có những cuốngiáo trình hệ thống hóa tương đối toàn diện về các khía cạnh của QLNN, như: giáotrình “QLNN về kinh tế” của GS.,TS Đỗ Hoàng Toàn và PGS.,TS Mai Văn Bưu,
Trang 9năm 2009 đã hệ thống rõ những vấn đề chung về quản lí nhà nước; chức năng, vaitrò, nguyên tắc và phương pháp của quản lí nhà nước về kinh tế; các công cụ quản
lí vĩ mô về kinh tế của nhà nước; thông tin, quyết định và cơ cấu bộ máy nhà nước
về kinh tế; cán bộ công chức quản lí nhà nước về kinh tế [45]; Cuốn tài liệu
“QLNN trong nền Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” củaGS.TSKH Lương Xuân Quỳ đã nghiên cứu những vấn đề lý luận về QLNN đối vớikinh tế, bao gồm các nội dung về lý thuyết và kinh nghiệm quốc tế về vai trò củaQLNN về kinh tế trong nền kinh tế thị trường, cũng như nội dung QLNN về kinh tếtrong mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Trên cơ
sở đó, công trình đã phân tích và đánh giá thực trạng QLNN về kinh tế ở Việt Namtrong thời gian 1986 - 2005 và định hướng sau 2006 [36] Giáo trình cao cấp lýluận chính trị (khối kiến thức thứ ba) “Các vấn đề khoa học chính trị và lãnh đạo,quản lý” do nhóm biên soạn Ngô Quang Minh, Trần Thị Minh Châu, Đặng NgọcLợi cũng đã trình bày những nội dung cơ bản về quản lý kinh tế trong chương trìnhgiảng dạy, học tập lý luận chính trị cao cấp: vai trò, chức năng của nhà nước trongquản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; mục tiêuquản lý kinh tế vĩ mô; chính sách kinh tế - công cụ quản lý của nhà nước; bộ máyQLNN về kinh tế [28] Luận án của Đào Anh Tuấn (2013) với đề tài “QLNN vềthương mại điện tử”, ngoài các nội dung chuyên sâu về QLNN về thương mại điện
tử, luận án đặc biệt đã nghiên cứu xây dựng và đề xuất bộ tiêu chí để đánh giá hoạtđộng QLNN về thương mại điện tử trên cơ sở vận dụng mô hình Outcome vàphương pháp luận về đánh giá chính sách của Ngân hàng thế giới; các chỉ số trong
bộ tiêu chí này được sử dụng để đánh giá một cách toàn diện các nội dung QLNN
về thương mại điện tử theo các tiêu chí: hiệu lực, hiệu quả, phù hợp và bền vững[46] Luận án của Mai Công Quyền (2015) với đề tài “Quản lý của nhà nước đốivới vốn nhà nước tại các Tổng công ty xây dựng nhà nước”, luận án trên cơ sở các
lý thuyết cốt lõi về quản trị vốn trong doanh nghiệp và lý thuyết về quản trị công tynhư: Lý thuyết lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn (trade off) của Kraus vàLitzenberger (1973), Lý thuyết thứ tự tăng vốn (pecking order theory) của Myers
và Majluf (1984), Lý thuyết dòng tiền tự do (free cash flow theory) của Jensen(1986), Lý thuyết đại diện (acency theory) của Jensen và Meckling (1976), tác giảLuận án đã xây dựng nội dung và hệ thống các chỉ tiêu đánh giá quản lý của Nhànước đối với vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp Nhà nước bao gồm tính hiệu lực(Effetiveness); tính hiệu quả (Efficiency) và tính bền vững (Stability) [37]
Trang 10Các nghiên cứu chung về QLNN về kinh tế, cũng như QLNN đối với các lĩnhvực cụ thể ở trên phần nào đã khái quát chung được về các nội dung cơ bản củaQLNN, như: chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, các nguyên tắc QLNN, cũng nhưcác chức năng của QLNN và một số các tiêu chí đánh giá QLNN Nhưng nhữngnghiên cứu này mới dừng ở mức khái quát, chưa chuyên sâu về công tác quản lýgiá, nhất là QLNN về giá đối với hàng hóa thiết yếu, cũng như chưa đưa ra được bộtiêu chí và mô hình đánh giá QLNN.
- Các nghiên cứu trực tiếp liên quan đến QLNN về giá hàng hóa thiết yếu:
Từ khi Việt Nam chuyển đối nền kinh tế, từ kế hoạch hóa tập trung sang nềnkinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước đã có nhiều tác giả nghiên cứu vềcông tác quản lý giá trong nền kinh tế thị trường như: Nhóm tác giả Lưu Húc Minh,Mậu Đại Văn, Đỗ Ngọc Toàn dịch cuốn sách “Quản lý giá cả trong kinh tế thịtrường” năm 1994 là tài liệu tham khảo và nghiên cứu về quản lý của nước ngoài,nhất là một số nước và lãnh thổ có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao; trình bày có hệthống quá trình tham gia của Nhà nước vào quản lý giá cả và rút ra những kinhnghiệm thực tiễn đã đem lại hiệu quả kinh tế cao của các nước như: Mỹ, Anh,Pháp, Nhật Bản, Italia… [27] Tác giả Trần Hậu Thự với cuốn sách “Vai trò quản
lý của nhà nước về giá trong nền kinh tế thị trường ở nước ta” năm 1994 đã đưa ranhững luận cứ khoa học khẳng định vai trò của Nhà nước đối với việc quán lý giả
cả thị trường: Những vấn đề lý luận chung về giá và chính sách quản lý giá; quanđiểm và phương hướng đổi mới chính và cơ chế quản lý giá; chính sách và cơ chếquản lý của nhà nước đối với giá các loại hàng hoá [41] Đề tài nghiên cứu khoahọc cấp Bộ, Viện nghiên cứu thương mại, 1999 “Luận cứ khoa học của tổ chức thịtrường và lưu thông một số mặt hàng thiết yếu theo yêu cầu bảo hộ sản xuất trongnước và bảo vệ người tiêu dùng trong nước một số năm trước mắt” đã nghiên cứumột số vấn đề chủ yếu của tổ chức thị trường và lưu thông hàng hoá theo yêu cầubảo hộ sản xuất trong nước và bảo vệ người tiêu dùng; trên cơ sở đó, đề tài đã đánhgiá thực trạng tổ chức thị trường và lưu thông một số mặt hàng thiết yếu của nướcta; đề xuất một số khuyến nghị về tổ chức thị trường và lưu thông hàng hoá theoyêu cầu bảo hộ sản xuất trong nước và bảo vệ người tiêu dùng Tác giả NguyễnMinh Phong với bài viết “Quản lý giá trong suy giảm kinh tế toàn cầu” đã phân tíchkhái quát về công tác quản lý giá trong giai đoạn 2009 và những kiến nghị chocông tác quản lý giá trong điều kiện suy giảm kinh tế toàn cầu [31] Tác giảNguyễn Tiến Thỏa năm 2010 với cuốn sách “Con đường cải cách giá ở Việt Nam”
Trang 11đã phác họa ra bức tranh về công tác quản lý giá trong giai đoạn từ khi đổi mới đếnnăm 2010 [38] Đề tài nghiên cứu độc lập Cấp Nhà nước, mã số 58G/2011/HĐ-ĐTĐL năm 2013 “Hoàn thiện chính sách và cơ chế điều tiết cung cầu bình ổn thịtrường một số hàng hoá thiết yếu” đã tổng quan những vấn đề lý luận về điều tiếtcung – cầu, bình ổn thị trường trong nền kinh tế thị trường, những công cụ điều tiếtcung cầu hàng hoá thiết yếu (tập trung vào chính sách và cơ chế điều tiết cung cầu
3 hàng hoá thiết yếu là gạo, đường ăn, phân bón urê); phân tích và đánh giá thựctiễn cung cầu các mặt hàng thiết yếu; đánh giá các chính sách và cơ chế điều tiếtcung cầu các mặt hàng này trong giai đoạn 2001- 2011; trên cơ sở đó, định hướng
và đề xuất nội dung chính sách và cơ chế điều tiết cung cầu một số hàng hoá thiếtyếu thời kỳ đến 2015; đề xuất điều kiện và giải pháp thực hiện chính sách và cơ chếđiều tiết cung cầu hàng hoá trong những trường hợp cần thiết thời kỳ đến 2015 [5].Tác giả Phạm Minh Thụy, năm 2013 đã có bài viết trên trong Hội thảo về “Một sốvấn đề nguyên tắc trong QLNN về giá hàng hóa dịch vụ do các doanh nghiệp có vịtrí độc quyền sản xuất – kinh doanh ở Việt Nam”, trong đó đã phân tích về công tácquản lý giá và đề xuất các giải pháp quản lý giá hàng hóa của các doanh nghiệp có
vị trí độc quyền ở Việt Nam [43] Bản thân NCS cũng đã làm chủ nhiệm đề tài cấp
Bộ năm 2014 với đề tài “Nghiên cứu xây dựng và hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệuphục vụ công tác QLNN trong lĩnh vực quản lý giá và thẩm định giá”, trong đónhấn mạnh việc áp dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực QLNN về giá [48].Bên cạnh các nghiên cứu chung về quản lý giá trong điều kiện nền kinh tế thịtrường hiện đại, cũng đã có những nghiên cứu về quản lý giá đối với các loại hànghóa cụ thể, trong đó tiêu biểu là các nghiên cứu sau đây: NXB Chính trị Quốc gianăm 2002 đã xuất bản cuốn sách “Một số quy định của Nhà nước về quản lý giá”,trong đó giới thiệu những qui định pháp luật về quản lý giá trong một số lĩnh vực:giao thông vận tải, đất đai, nhà ở, điện, nước sản xuất và tiêu dùng, bưu chính viễnthông, đầu tư - xây dựng; quản lý tài chính trong chi phí và giá thành sản phẩm củadoanh nghiệp nhà nước [29] Luận án Tiến sỹ kinh tế “Nghiên cứu một số giải phápnâng cao chất lượng quản lý giá xây dựng trong điều kiện kinh tế thị trường ở ViệtNam” của Trần Thị Hồng Mai năm 2001 đã trình bày các lý luận chung về quản lýgiá xây dựng; tình hình quản lý giá xây dựng ở Việt Nam, một số nước trong khuvực và trên thế giới; những giải pháp nâng cao chất lượng quản lý giá xây dựng ởViệt Nam [26]; bản thân NCS cũng đã có nghiên cứu liên quan đến nội dung nàythông qua đề tài cấp Bộ năm 2012 với tiêu đề “Xây dựng lộ trình giá trị trường đối
Trang 12với dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh giai đoạn 2013- 2018”, trong đó đề xuất các lộtrình kèm cách thức quản lý trong mỗi giai đoạn cụ thể đối với dịch vụ khám chữabệnh [47] Nhóm tác giả thực hiện đề tài nghiên cứu cấp Bộ năm 2012 với chủ đề
“Nghiên cứu đổi mới quản lý giá cước viễn thông nhằm phát triển bền vững thịtrường viễn thông” đã đưa ra những cách thức quản lý giá cước viễn thông, trong đóđặc biệt nhấn mạnh đến việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý… [18]
Về quản lý giá một số mặt hàng tiêu biểu có các nghiên cứu sau: (1) Đối vớiquản lý giá điện có các nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu cấp Bộ của Nguyễn Thị VịnhLong năm 2002 với tiêu đề “Cơ sở khoa học và thực tiễn của việc hoàn thiện hệthống giá bán điện ở Việt Nam theo hướng sử dụng điện hợp lý, hiệu quả trong xuthế hội nhập” [23] Các bài viết trong Hội thảo khoa học “Quản lý, điều hành giáđiện theo cơ chế thị trường ở Việt Nam” năm 2012, như: bài viết “Các yếu tố ảnhhưởng đến giá điện ở Việt Nam trong hội nhập và sự lựa chọn” của PGS.TS.Nguyễn Thường Lạng; bài viết của Phạm Minh Thụy với tiêu đề “Tổng quan về cơchế quản lý, điều hành giá điện ở Việt Nam” cũng đã có những đánh giá tổng quát
về cơ chế điều hành của Nhà nước đối với giá điện và phân tích một số nội dungliên quan đến khâu phát điện, truyền tải và phân phối điện… Cục Quản lý giá cũng
đã chủ trì thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ về “Hoàn thiện cơ chếQLNN về giá đối với điện ở Việt Nam”, trong đó cũng đã đưa ra những phân tích
và đánh giá về cơ chế QLNN về giá điện hiện nay, cũng như đề xuất một số giảipháp để hoàn thiện cơ chế này….; (2) Đối với quản lý giá xăng dầu có các nghiêncứu: Bài viết “Cơ chế quản lý giá xăng dầu của Trung Quốc”, năm 2008, số 217trên tạp chí Kinh tế Châu á - Thái Bình Dương; tác giả Nguyễn Thanh Hương, năm
2013, nghiên cứu chuyên đề với chủ đề “Hoàn thiện cơ chế quản lý giá xăng dầu ởnước ta” [19] và một số báo cáo của Cục Quản lý giá cũng đã khẳng định tiếp tụcđổi mới cơ chế quản lý và điều hành giá xăng dầu nhằm bảo đảm để giá xăng dầuvận hành theo cơ chế thị trường; nhà nước không bù lỗ kinh doanh mặt hàng xăngdầu, tạo điều kiện cho doanh nghiệp thực hiện quyền tự chủ về giá, cạnh tranhtrong sản xuất kinh doanh và cạnh tranh về giá; tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạtđộng sản xuất kinh doanh của mình Đồng thời đảm bảo vai trò QLNN về giáhướng vào việc khắc phục tình trạng độc quyền, cạnh tranh không lành mạnh vềgiá, bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, nâng cao hiệu quả của nền sản xuất xãhội; bình ổn giá, ngăn ngừa tác động tự phát của giá thế giới vào hệ thống giá trongnước, đẩy giá trong nước tăng quá cao hoặc giảm quá thấp bất hợp lý; đồng thời đã
Trang 13khắc phục được những nhược điểm của cơ chế quản lý kinh doanh xăng dầu trướckia, đặc biệt trong khâu quản lý giá bán lẻ xăng dầu trong nước Tiếp theo, Bộ Tàichính đã có hướng dẫn cơ chế hình thành, quản lý và sử dụng Quỹ Bình ổn giáxăng dầu; theo đó, giá bán xăng dầu được quy định cụ thể như sau: "Giá bán xăngdầu được thực hiện theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước” Bản thânNCS với tư cách là Chủ nhiệm đề tài cũng đã chủ trì thực hiện đề tài nghiên cứukhoa học cấp bộ về “Hoàn thiện cơ chế QLNN về giá đối với xăng dầu ở ViệtNam” năm 2019, trong đó cũng đã đưa ra những phân tích và đánh giá về cơ chếQLNN về giá đối với xăng dầu hiện nay, cũng như đề xuất một số giải pháp đểhoàn thiện cơ chế này; đặc biệt, phân tích trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tếngày càng sâu rộng, cộng với một số thay đổi về cơ chế, chính sách hiện hành, sựtăng lên nhanh chóng đối với nguồn cung ứng xăng dầu trong nước trong thời giansắp tới, sự xuất hiện của yếu tố nước ngoài trong kinh doanh xăng dầu, đã đặt rayêu cầu cấp thiết phải đánh giá lại toàn diện cơ chế điều tiết giá đối với mặt hàngxăng dầu [50].
Ngoài ra còn có các nghiên cứu trực tiếp về quản lý giá đối với hàng hóa thiếtyếu như: TS Vũ Đình Ánh, trong Tọa đàm khoa học Hoàn thiện cơ chế QLNN vềgiá đối với hàng hóa, dịch vụ thiết yếu do các doanh nghiệp có vị trí độc quyền,thống lĩnh thị trường sản xuất- kinh doanh, năm 2013 có bài viết “Bàn về QLNN vềgiá đối với hàng hóa, dịch vụ thiết yếu” [2] PGS.,TS Ngô Trí Long bài viết trongHội thảo về quản lý giá với tiêu đề “Chính sách điều tiết giá những hàng hóa quantrọng, thiết yếu và những kiến nghị” Bản thân NCS cũng đã có nghiên cứu về nộidung này thông qua đề tài cấp Bộ năm 2014 và bài viết đăng trên Tạp chí kinh tế-tài chính Việt Nam số 2 tháng 10/2015 với chủ đề “Hoàn thiện cơ chế QLNN vềgiá đối với hàng hóa, dịch vụ thiết yếu do các doanh nghiệp có vị trí độc quyền,thống lĩnh thị trường sản xuất- kinh doanh” [49]
Như vậy, các nghiên cứu trên đã đi vào phần tích nội dung về quản lý giá đốivới một số mặt hàng thiết yếu, như: khẳng định tính tất yếu khách quan cần có sựquản lý của nhà nước về giá đối với hàng hóa thiết yếu, phân tích các chính sách vàcác công cụ chính sách, các quy định của pháp luật trong QLNN về giá đối vớihàng hóa thiết yếu,
2.2 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài:
Trong lịch sử các học thuyết kinh tế, nội dung QLNN về giá thực sự đượctrình bày có hệ thống và trở thành học thuyết được các nhà kinh tế học chấp nhận
Trang 14đó là trường hợp của nhà kinh tế học người Anh, Jonh Maynard Keynes (1883 1946), ông nổi tiếng với lý thuyết “Nhà nước điều tiết nền kinh tế thị trường”/“lýthuyết bàn tay hữu hình”; trong đó nội dung quản lý giá đã được J.M.Keynes đềcập đến trong lý thuyết của mình và đã được Prederic S Lee mô tả lại chi tiết trongcuốn sách “Post Keynesian price theory” do trường đại học Cambridge phát hànhnăm 1998, trong cuốn sách đã mô tả rõ các nghiên cứu một số thuyết giá cả tronghọc thuyết kinh tế của Keynes, như: thuyết quản lý giá cả, thuyết giá cả thôngthường, thuyết về đánh mã Tuy nhiên, đây mới chỉ là những lý thuyết chung vềquản lý giá cả [59] Năm 1999, NXB McGraw-Hill companies đã phát hành cuốnsách “Cost management: A strategic emphasis” của tác giả Blocher, cuốn sách giớithiệu chung về vấn đề quản lý giá cả; những khái niệm về quản lí giá cả hiện thời;những phân tích chung về kế hoạch và hệ thống giá cả cùng các phương pháp tổchức quản lý giá cả này [55] Luận án tiến sỹ kinh tế “QLNN về giá cả hàng hóatrong nền kinh tế thị trường ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào”, Liane Thykeo,năm 2001 đã có những phân tích về cac chức năng và công cụ của QLNN về giá cảtại Lào [58] Công bố của nhóm nghiên cứu Ngân hàng thế giới năm 2006 “Smallstates: making the most of development assistance”, trong đó đi vào phân tíchnhững đặc thù riêng của các tiểu quốc; đánh giá hoạt động ngân hàng trong mỗiquốc gia; tận dụng sự giúp đỡ của ngân hàng thế giới giúp các quốc gia quản lý giá
-cả cùng một số bài học kinh nghiệm Luận án của Nguyen Tuan Anh, University ofNew South Wales, Sydney năm 2011 với chủ đề “Medicine prices and pricingpolicies” đã tổng quan phân tích về thị trường dược phẩm Việt Nam và các qui chế,chính sách quản lý giá thuốc; nghiên cứu định lượng về giá thuốc và định tính đểtìm hiểu tại sao giá thuốc ở nước ta lại cao [54] Luận án của Nguyen Thien Haovới đề tài “Urbanization of water: Entitlements and local institutions in theprovision of potable water in peri-urban Hanoi, Vietnam” tại Đại học University ofHawaii năm 2012 đã nghiên cứu quản lý nước sạch vùng ven đô Hà Nội - Trườnghợp ở xã Cổ Nhuế, Hà Nội; những đối phó của người dân xã Cổ Nhuế đối với thayđổi về nguồn nước địa phương, dân số và điều kiện kinh tế xã hội; tổ chức và quản
lý cung cấp nguồn nước sạch cho người dân Cổ Nhuế trong bối cảnh đô thị hoánhanh chóng [56]
Các nghiên cứu trên đã hệ thống tổng quan về các lý thuyết quản lý giá, nhất
là quản lý giá trong nền kinh tế thị trường, các nghiên cứu đã khẳng định vai tròcủa nhà nước trong điều tiết vĩ mô nền kinh tế nói chung và điều tiết giá nói riêng
Trang 15Một số nghiên cứu đã tìm hiểu chuyên sâu về công tác quản lý giá đối với một sốmặt hàng thiết yếu, như giá điện, giá thuốc, giá nước sạch, giá xăng dầu Tuynhiên, các nghiên cứu trên mới dừng ở những lý thuyết chung về quản lý giá, chưa
đi trực diện vào công tác quản lý giá đối với hàng hóa thiết yếu, cũng như chưa cónhiều nghiên cứu gắn trực tiếp với bối cảnh của Việt Nam
2.3 Các khoảng trống nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
Trên cơ sở những tổng quan về các nghiên cứu trong nước và nước ngoài ởtrên, NCS thấy rằng các nghiên cứu này chưa làm rõ được các đặc điểm của hànghóa thiết yếu, mà chính vì các đặc điểm đó đòi hỏi phải quản lý, cũng như đòi hỏicác chính sách quản lý phải phù hợp; đồng thời các nghiên cứu này cũng chưa phântích được rõ các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý giá đối với hàng hóa thiếtyếu tại Việt Nam, cũng chưa đưa ra được bộ tiêu chí để đánh giá QLNN về giá đốivới hàng hóa thiết yếu, đặc biệt các nghiên cứu trên chưa nghiên cứu và phân tíchhoạt động QLNN về giá đối với hàng hóa thiết yếu theo tiến trình quản lý nên các nộidung QLNN về giá đối với hàng hóa thiết yếu không được phân tích chuyên sâu vàlogic… Do vậy, những vấn đề chưa được nghiên cứu nêu trên, NCS sẽ đi vào phântích và làm rõ trong các nội dung của bản luận án này, cụ thể các câu hỏi nghiên cứuđặt ra là:
- Hiểu như thế nào về hàng hóa thiết yếu trong nền kinh tế thị trường? các đặctrưng của hàng hóa thiết yếu cần lưu ý trong công tác quản lý giá là gì?
- QLNN về giá đối với hàng hóa thiết yếu trong bối cảnh hiện nay được hiểu nhưthế nào?
- Nội dung của QLNN về giá đối với hàng hóa thiết yếu là gì?
- Các tiêu chí đánh giá QLNN về giá đối với hàng hóa thiết yếu?
- Các nhân tố ảnh hưởng đến QLNN về giá đối với hàng hóa thiết yếu?
- Các nước trên thế giới thực hiện việc quản lý giá đối với hàng hóa thiết yếu nhưthế nào?
- Sự thay đổi giá điện và xăng dầu ảnh hưởng như thế nào đến chỉ số giá tiêudùng tại Việt Nam?
- Thực trạng công tác QLNN về giá đối với điện và xăng dầu hiện nay ở ViệtNam như thế nào?
- QLNN về giá đối với điện và xăng dầu hiện nay ở Việt Nam có những thànhcông và hạn chế gì? Nguyên nhân của những thành công và hạn chế đó?
Trang 16- Có những giải pháp hoàn thiện và tăng cường QLNN về giá đối với điện vàxăng dầu hiện nay ở Việt Nam?
3 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích kinhnghiệm quốc tế liên quan đến QLNN về giá đối với hàng hóa thiết yếu; đánh giá thựctrạng QLNN về giá đối với hàng hóa thiết yếu là điện và xăng dầu tại Việt Nam; đềxuất giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách vĩ mô, cũng như các giải pháp cụ thể củaQLNN về giá đối với hàng hóa thiết yếu là điện và xăng dầu tại Việt Nam
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận án có các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Tổng hợp, hệ thống hoá và làm rõ cơ sở lý luận về hàng hóa thiết yếu và QLNN
về giá đối với hàng hóa thiết yếu; xem xét có chọn lọc kinh nghiệm thực tiễn QLNN
về giá đối với hàng hóa thiết yếu của một số nước trên thế giới vào Việt Nam;
Đánh giá thực trạng QLNN về giá đối với hàng hóa thiết yếu tại Việt Nam Phân tích qua điện và xăng dầu; chỉ ra những ưu, nhược điểm của QLNN về giá đốivới điện và xăng dầu trước những yêu cầu, nhiệm vụ của đất nước trong điều kiệnkinh tế thị trường hiện đại và hội nhập sâu rộng như hiện nay;
Đề xuất giải pháp xây dựng và hoàn thiện QLNN về giá đối với hàng hóathiết yếu là điện và xăng dầu tại Việt Nam đến năm 2030, qua đó góp phần thựchiện nhiệm vụ trọng tâm của cải cách hệ thống giá trong điều kiện mới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: luận án tập trung nghiên cứu QLNN về giá đối với
hàng hóa thiết yếu tại Việt Nam thông qua hai mặt hàng: điện và xăng dầu
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về nội dung: do quản lý giá có nhiều nội dung khác nhau, nên luận án tập
trung nghiên cứu QLNN về giá đối với hàng hóa thiết yếu tại Việt Nam Mặt khác,hàng hóa thiết yếu cũng có nhiều loại khác nhau nên luận án giới hạn nghiên cứu làhai nhóm hàng hóa thiết yếu và có mức độ ảnh hưởng lớn đến đời sống: điện vàxăng dầu; trong mỗi loại hàng hóa đó lại tập trung phân tích về chiến lược giá, hệthống luật pháp, cũng như tổ chức thực hiện và giám sát QLNN về giá đối với cáchàng hóa đó
+ Về không gian: luận án nghiên cứu QLNN về giá đối với hàng hóa thiết yếu
trên phạm vi cả nước, trong đó tập trung vào hai nhóm hàng hóa là điện và xăng dầu
Trang 17+ Về thời gian: phần thực trạng, luận án nghiên cứu QLNN về giá đối với
hàng hóa thiết yếu tại Việt Nam - Phân tích qua điện và xăng dầu từ năm 2013 đếnnăm 2018 Các giải pháp luận án đưa ra cho giai đoạn đến năm 2030
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Về mặt lý luận: luận án đưa ra khái niệm về hàng hóa thiết yếu, phân tích rõ
đặc điểm mang tính đặc trưng của hàng hóa thiết yếu, trong đó gắn cụ thể với mặthàng điện và xăng dầu; làm rõ sự ảnh hưởng của giá hàng hóa thiết yếu tới chỉ sốgiá tiêu dùng; cũng như đưa ra khái niệm QLNN về giá đối với hàng hóa thiết yếu,
từ đó xác định rõ chủ thể, đối tượng quản lý, các nguyên tắc quản lý và đặc biệt làkhái quát 3 nội dung cơ bản của QLNN về giá đối với hàng hóa thiết yếu, cũng nhưcác nhân tố ảnh hưởng đến QLNN về giá đối với hàng hóa thiết yếu Luận án đãxây dựng hệ thống gồm 6 tiêu chí đánh giá, đồng thời xác định mô hình đánh giáQLNN về giá đối với hàng hóa thiết yếu Bên cạnh đó, luận án cũng tổng hợp và hệthống các kinh nghiệm trong QLNN về giá đối với hàng hóa thiết yếu là điện vàxăng dầu trên thế giới, từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trongcông tác QLNN về giá đối với hàng hóa thiết yếu là điện và xăng dầu
- Về mặt thực tiễn: luận án làm rõ các nội dung chung về hai mặt hàng đặc
biệt quan trọng, thiết yếu tại Việt Nam là điện và xăng dầu; phân tích mức độ tácđộng của giá điện và xăng dầu đối với chỉ số giá tiêu dùng tại Việt Nam hiện nay.Đặc biệt, luận án đã tập trung phân tích thực trạng QLNN về giá đối với điện vàxăng dầu tại Việt Nam trong thời gian qua theo các nhóm nội dung QLNN, phù hợpvới đặc trưng của từng mặt hàng, từ đó để thấy được bức tranh toàn cảnh về QLNN
về giá đối với điện và xăng dầu hiện nay tại Việt Nam Luận án cũng đánh giá toàndiện về những mặt được và tồn tại, cũng như nguyên nhân của những ưu điểm vàtồn tại đó, đây chính là cơ sở quan trọng để đề xuất các giải pháp hoàn thiện QLNN
về giá đối với điện và xăng dầu tại Việt Nam trong thời gian tới Luận án đưa ra cácquan điểm, định hướng cụ thể trong QLNN về giá đối với điện và xăng dầu tại ViệtNam trong thời gian tới phù hợp với định hướng chung của đất nước và phù hợpvới xu thế phát triển của thế giới; trên cơ sở đó đã phân tích và luận giải các giảipháp cụ thể theo từng nội dung của QLNN về giá đối với hai nhóm hàng hóa thiếtyếu là điện và xăng dầu nhằm hướng đến việc hoàn thiện QLNN về giá đối vớihàng hóa thiết yếu nói chung, đối với điện và xăng dầu nói riêng Việc đề xuất cácgiải pháp được xem xét trong mối quan hệ chặt chẽ với những đặc trưng cơ bản củahai hàng hóa này, cũng như phù hợp với xu hướng quản lý thị trường nói chung
Trang 186 Phương pháp nghiên cứu
- Cách tiếp cận nghiên cứu: xuất phát từ những khoảng trống trong các
nghiên cứu lý luận quản lý về giá nói chung và QLNN về giá nói riêng đối với hànghóa thiết yếu; cũng như từ những vấn đề thực tiễn chưa giải quyết được trong cácnội dung QLNN về giá đối với hàng hóa thiết yếu tại Việt Nam giai đoạn vừa qua,luận án đã nêu ra các câu hỏi nghiên cứu cần giải quyết Xuất phát từ các câu hỏinghiên cứu đó, kết hợp với việc xem xét các mô hình, các lý thuyết về QLNN vềgiá đối với hàng hóa thiết yếu, các kết quả từ phân tích thực trạng cũng như địnhhướng chiến lược trong quản lý giá nói chung và quản lý giá đối với hàng hóa thiếtyếu nói riêng tới năm 2030, luận án đã tập trung đề xuất các giải pháp để hoànthiện QLNN về giá đối với hàng hóa thiết yếu tại Việt Nam
- Phương pháp luận: Ngoài việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ
yếu trong khoa học xã hội bao gồm phương pháp duy vật biện chứng và duy vậtlịch sử, luận án còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu, như: phương pháp thống
kê, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích và tổng hợp
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
Trên cơ sở những nghiên cứu lý thuyết, tác giả xây dựng khung lý thuyết chonhững phân tích và đánh giá thực trạng QLNN về giá đối với hàng hóa thiết yếu: sửdụng cách tiếp cận theo quá trình quản lý để đi vào phân tích các bộ phận củaQLNN về giá đối với hàng hóa thiết yếu; sử dụng hệ thống chỉ tiêu đánh giá QLNN
để đánh giá công tác QLNN về giá đối với hàng hóa thiết yếu tại Việt Nam hiện nay; sửdụng mô hình SWOT để đánh giá cơ hội và thách thức, điểm mạnh và điểm yếucủa QLNN về giá đối với hàng hóa thiết yếu trong bối cảnh hiện nay Trong cácnghiên cứu của luận án, có sử dụng số liệu sơ cấp và thứ cấp, cụ thể:
+ Về số liệu sơ cấp, nhằm đưa ra đánh giá chính xác và có kết luận mang tínhthực tiễn công tác QLNN về giá đối với hàng hóa thiết yếu là điện và xăng dầu tạiViệt Nam, tác giả đã thực hiện điều tra và phỏng vấn:
(1) Đối với hàng hóa thiết yếu là điện:
o Tác giả luận án đã phát ra: 110 phiếu đối với nhóm chủ thể quản lý (gồm cảcác cơ quan QLNN, đơn vị nghiên cứu, đào tạo) và thu về 101 phiếu, sau khi mãhóa và làm sạch, tổng số phiếu hợp lệ có được là 95 phiếu (mẫu d1); 200 phiếu đốivới nhóm đối tượng quản lý (gồm các công ty tham gia vào hoạt động sản xuất,kinh doanh điện, người tiêu dùng) và thu về 175 phiếu, sau khi mã hóa và làm sạch,tổng số phiếu hợp lệ có được là 160 phiếu (mẫu h1)
Trang 19o Các phiếu điều tra gồm có 13 câu hỏi đóng và 1 câu hỏi mở, 13 câu hỏiđóng được chia làm 2 nhóm: Nhóm 1 là câu hỏi đánh giá về mục tiêu quản lý hiệnhành, gồm 3 câu; Nhóm 2 là câu hỏi đánh giá về thực trạng các nội dung củaQLNN về giá đối với điện, gồm 10 câu.
(2) Đối với hàng hóa thiết yếu là xăng dầu:
o Tác giả luận án đã phát ra: 130 phiếu đối với nhóm chủ thể quản lý (gồm cảcác cơ quan nhà nước, đơn vị nghiên cứu, đào tạo) và thu về 110 phiếu, sau khi mãhóa và làm sạch, tổng số phiếu hợp lệ có được là 105 phiếu (mẫu d2); 200 phiếuđối với nhóm đối tượng quản lý (gồm các công ty tham gia vào hoạt động sản xuất,kinh doanh xăng dầu, người tiêu dùng) và thu về 165 phiếu, sau khi mã hóa và làmsạch, tổng số phiếu hợp lệ có được là 155 phiếu (mẫu h2)
o Các phiếu điều tra cũng gồm có 13 câu hỏi đóng và 1 câu hỏi mở, 13 câuhỏi đóng được chia làm 2 nhóm: Nhóm 1 là câu hỏi đánh giá về mục tiêu quản lýhiện hành, gồm 3 câu; Nhóm 2 là câu hỏi đánh giá về thực trạng các nội dung củaQLNN về giá đối với xăng dầu, gồm 10 câu
+ Về cơ sở dữ liệu và số liệu thứ cấp được tác giả thu thập và tổng hợp từcác báo cáo của các cơ quan QLNN (Chính phủ, Bộ Tài chính, Bộ Công Thương,
Bộ Kế hoạch và Đầu tư,…), các công trình nghiên cứu khoa học, sách, giáo trình,các tạp chí, các trang thông tin điện tử…, luận án còn sử dụng các số liệu thống kêcủa Tổng cục Thống kê, các số liệu trong tài liệu đánh giá tác động do Chính phủthực hiện khi soạn thảo các Luật và nghị định liên quan đến quản lý điện và xăngdầu và thông tin trên website về các nội dung của QLNN về giá đối với hàng hóathiết yếu là điện và xăng dầu tại Việt Nam hiện nay
Bảng 1: Tiến độ quá trình điều tra
Sơ bộ Thảo luận, phỏng vấn Tháng 9- 11/2018Chính thức Phát phiếu điều tra Tháng 3- 9/2019Phương pháp nghiên cứu thực trạng: việc điều tra, phỏng vấn được thực hiện
từ năm 2018 thông qua hai bước: nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức.Nghiên cứu sơ bộ sử dụng phương pháp thảo luận tay đôi, kết hợp với phỏng vấnchuyên gia nhằm khai thác những vấn đề xung quanh đề tài nghiên cứu và kiểmđịnh lại ngôn ngữ, cấu trúc trình bày bảng câu hỏi điều tra, đồng thời cũng để loạithải những biến không cần thiết Kết quả của lần nghiên cứu này là các bảng câu
Trang 20hỏi điều tra theo hai nhóm mặt hàng, trong mỗi mặt hàng lại chia hai nhóm đốitượng như đã đề cập đến ở trên Từ kết quả của bước 1, Tác giả đã tiến hành nghiêncứu bước 2, tiến độ nghiên cứu được trình bày tại Bảng 1.
Từ số phiếu làm sạch với 2 nhóm mặt hàng điện và xăng dầu, theo 2 đối tượngkhác nhau, tác giả đã sử dụng phần mềm SPSS 22 để phân tích Phiếu điều tra đượctác giả phân theo 2 nhóm mặt hàng (điện và xăng dầu), mỗi mặt hàng phân thành 2nhóm (nhóm chủ thể quản lý - nhóm chủ thể quản lý là các cán bộ công chức, viênchức thuộc Chính phủ, Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư,các Viện nghiên cứu, các Trường Đại học và Cao đẳng,… và nhóm đối tượng quản
lý là các người tiêu dùng, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh các mặt hàngtương ứng…) Để xử lý số liệu, đối với 13 câu hỏi tác giả đã đặt tương ứng với 13biến, được ký hiệu từ X1 đến X13, đối với mỗi câu hỏi có 5 mức độ trả lời, gồm:
mức độ rất đồng ý, mức độ đồng ý, mức độ tương đối đồng ý, mức độ không đồng
ý và mức độ rất không đồng ý, từ đó, mỗi biến số tương ứng với từng câu hỏi là biến rời rạc, nhận 5 giá trị khác nhau: X = 5 tương ứng với ý kiến rất đồng ý, X = 4 tương ứng với ý kiến đồng ý, X = 3 tương ứng với ý kiến tương đối đồng ý, X = 2 tương ứng với ý kiến không đồng ý và X = 1 tương ứng với ý kiến rất không đồng
ý Dựa trên việc mã hóa số liệu trên, tác giả đã sử dụng phần mềm SPSS 22 để xử
lý số liệu, với mỗi biến nêu trên tác giả tính toán các chỉ tiêu: giá trị trung bình, độlệch chuẩn, mốt, giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất và sử dụng bảng phân phối tần số
để biểu thị kết quả phân tích Kết quả xử lý số liệu được tác giả trình bày ở Phụ lụccủa Luận án
7 Kết cấu của luận án
Ngoài Phần mở đầu, Danh mục chữ viết tắt, Danh mục bảng biểu, Kết luận,Danh mục Tài liệu tham khảo; Luận án gồm ba chương:
Chương 1: Lý luận quản lý nhà nước về giá đối với hàng hóa thiết yếu và
kinh nghiệm quốc tế
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về giá đối với hàng hóa thiết yếu là
điện và xăng dầu tại Việt Nam
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về giá đối với hàng hóa
thiết yếu là điện và xăng dầu tại Việt Nam
Trang 21CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁ ĐỐI VỚI
HÀNG HÓA THIẾT YẾU
1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HÀNG HÓA THIẾT YẾU
1.1.1 Khái niệm hàng hóa thiết yếu
Thuật ngữ hàng hóa thiết yếu đã được đại bộ phận người dân sử dụng từ lâu
và cho đến thời điểm hiện nay đã được sử dụng tương đối phổ biến trong đời sống,cũng như trên các phương tiện thông tin đại chúng và đặc biệt là trong công tácQLNN
Ngay từ những năm 1986, thuật ngữ hành hóa thiết yếu đã được đề cập đến tạiQuyết định số 122-HĐBT ngày 04/10/1986 của Hội đồng Bộ trưởng về việc báncho công nhân viên chức một số mặt hàng thiết yếu theo định lượng với giá ổn địnhcủa nhà nước và tăng mức phụ cấp chênh lệch giá sinh hoạt cho công nhân viênchức, có 6 mặt hàng thiết yếu được bán cho công nhân viên chức theo định lượngvới giá ổn định của Nhà nước gồm: lương thực, chất đốt, nước mắm, xà phòng, thịt,đường
Năm 1998, Chính phủ ban hành Nghị định số 20/1998/NĐ-CP ngày31/3/1998 về Phát triển thương mại miền núi, hải đảo và vùng đồng bào dân tộc;theo đó, 9 mặt hàng thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống được nhà nước thựchiện trợ giá, trợ cước gồm: muối i-ốt, giống cây trồng, dầu hỏa thắp sáng, giấy viếthọc sinh, sách, thuốc chữa bệnh, phân bón, thuốc trừ sâu và than mỏ
Năm 2002, Pháp lệnh Giá được ban hành như một bước tiến cơ bản để hoànthiện hệ thống pháp luật về quản lý giá ở nước ta, Pháp lệnh Giá đã đưa ra nhữngquy định đối với những hàng hóa quan trọng, thiết yếu The đó, Nhà nước thực hiệncác chính sách, biện pháp cần thiết tác động vào quan hệ cung cầu để bình ổn giáthị trường So với giai đoạn trước, danh mục hàng hóa quan trọng, thiết yếu cũng
có nhiều thay đổi, được cụ thể hóa tại Nghị định số 170/2003/NĐ-CP, gồm các mặthàng: xăng, dầu, khí hoá lỏng, xi măng, sắt thép, phân bón, lúa, gạo, cà phê, bônghạt và bông xơ, mía cây nguyên liệu, muối; một số loại thuốc phòng, chữa bệnh chongười dịch vụ theo quy định của pháp luật Quan niệm về hàng hóa dịch vụ thiếtyếu chưa thống nhất ở các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến QLNN vềgiá [33]
Trang 22Năm 2012, Luật Giá được ban hành đã chính thức đưa ra cách hiểu hàng hóa
thiết yếu: đó là những hàng hóa không thể thiếu cho sản xuất, đời sống, quốc phòng, an ninh, bao gồm: nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, dịch vụ chính phục vụ sản xuất, lưu thông; sản phẩm đáp ứng nhu cầu cơ bản của con người và quốc phòng, an ninh [33]
Như vậy, cách hiểu về hàng hóa thiết yếu trong Luật Giá về cơ bản đã thể hiệnđược bản chất của loại hàng hóa này, đó là tính “thiết yếu” – theo như Từ điểntiếng Việt năm 1992 của Viện ngôn ngữ học giải thích: “Thiết yếu là rất cần thiết,không thể thiếu được” Từ đó, Luận án đưa ra cách hiểu về thuật ngữ “hàng hóa
thiết yếu” như sau: Hàng hoá thiết yếu là loại hàng hoá cần thiết, không thể thiếu trong cuộc sống bình thường của đại đa số người tiêu dùng.
Hàng hoá hay hàng hóa thiết yếu cũng đều là sản phẩm của lao động, nó cóthể thoả mãn những nhu cầu nhất định nào đó của con người thông qua trao đổi,mua bán Hàng hóa thiết yếu có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị, trong đó:
- Giá trị sử dụng: là công dụng của hàng hóa có thể thỏa mãn nhu cầu nào đócủa con người, không kể nhu cầu đó được thỏa mãn trực tiếp hay gián tiếp Đặctrưng giá trị sử dụng của hàng hóa:
+ Hàng hóa có thể có một hay nhiều giá trị sử dụng hay công dụng khác nhau
Số lượng giá trị sử dụng của một vật không phải ngay một lúc đã phát hiện ra được,
mà nó được phát hiện dần dần trong quá trình phát triển của khoa học - kỹ thuật.+ Giá trị sử dụng là một phạm trù vĩnh viễn vì giá trị sử dụng hay công dụngcủa hàng hóa là do thuộc tính tự nhiên của vật thể hàng hóa quyết định
+ Giá trị sử dụng của hàng hóa chỉ thể hiện khi con người sử dụng hay tiêudùng (tiêu dùng cho sản xuất, tiêu dùng cho cá nhân), nó là nội dung vật chất củacủa cải, không kể hình thức xã hội của của cải đó như thế nào
+ Hàng hóa càng phong phú, đa dạng, hiện đại thì giá trị sử dụng càng cao
- Giá trị hàng hóa: Một vật, khi đã là hàng hoá thì nhất thiết nó phải có giá trị
sử dụng Nhưng không phải bất cứ vật gì có giá trị sử dụng cũng đều là hàng hoá.Như vậy, một vật muốn trở thành hàng hóa thì giá trị sử dụng của nó phải là vậtđược sản xuất ra để bán, để trao đổi, cũng có nghĩa là vật đó phải có giá trị trao đổi.Trong kinh tế hàng hoá, giá trị sử dụng là cái mang giá trị trao đổi Muốn hiểu đượcgiá trị hàng hóa phải đi từ giá trị trao đổi
Trang 23Giá trị trao đổi: là một quan hệ về số lượng, là một tỷ lệ theo đó những giá trị
sử dụng loại này được trao đổi với những giá trị sử dụng loại khác Hai vật thể khácnhau có thể trao đổi được với nhau thì giữa chúng phải có cơ sở chung nào đó Cáchàng hóa khác nhau chỉ có một thuộc tính chung làm cho chúng có thể so sánh đượcvới nhau trong khi trao đổi: các hàng hóa đều là sản phẩm của lao động, sản phẩmcủa lao động là do lao động xã hội hao phí để sản xuất ra hàng hóa đó Thực chất cácchủ thể khi trao đổi hàng hóa với nhau là trao đổi lao động chứa đựng trong hànghóa Như vậy, giá trị của hàng hoá là lao động xã hội của người sản xuất kết tinhtrong hàng hoá, đặc trưng của giá trị hàng hóa:
+ Giá trị là thuộc tính xã hội của hàng hóa
+ Giá trị là một phạm trù lịch sử, nghĩa là chỉ tồn tại ở những phương thức sảnxuất có sản xuất và trao đổi hàng hóa
+ Giá trị hàng hóa biểu hiện quan hệ sản xuất xã hội, tức là quan hệ kinh tếgiữa những người sản xuất hàng hóa Trong nền kinh tế dựa trên chế độ tư hữu về
tư liệu sản xuất, quan hệ kinh tế giữa người với người biểu hiện thành quan hệ giữavật với vật Hiện tượng vật thống trị mgười gọi là sự sùng bái hàng hóa, khi tiền tệxuất hiện thì đỉnh cao của sự sùng bái hàng hóa là sự sùng bái tiền tệ
+ Giá trị trao đổi chỉ là hình thức biểu hiện của giá trị; giá trị là nội dung, là cơ
sở của giá trị trao đổi Giá trị thay đổi thì giá trị trao đổi cũng thay đổi theo
- Mối quan hệ giữa hai thuộc tính của hàng hóa
+ Hàng hoá là sự thống nhất của hai thuộc tính giá trị sử dụng và giá trị Haithuộc tính trên đều do cùng một lao động sản xuất ra hàng hóa
+ Hai thuộc tính của hàng hóa là sự thống nhất của các mặt đối lập Sự đối lập
và mâu thuẫn giữa giá trị sử dụng và giá trị thể hiện ở chỗ: người làm ra hàng hóađem bán chỉ quan tâm đến giá trị hàng hóa do mình làm ra, nếu họ có chú ý đến giátrị sử dụng cũng chính là để có được giá trị Ngược lại, người mua hàng hóa lại chỉchú ý đến giá trị sử dụng của hàng hóa, nhưng muốn tiêu dùng giá trị sử dụng đóngười mua phải trả giá trị của nó cho người bán Nghĩa là quá trình thực hiện giá trịtách rời quá trình thực hiện giá trị sử dụng: giá trị được thực hiện trước, sau đó giátrị sử dụng mới được thực hiện [24]
Trên cơ sở những lập luận trên thấy rằng việc xếp hàng hóa nào là hàng hóathiết yếu cũng có tính tương đối nhất định và tùy thuộc vào từng thời kì, từng khuvực cụ thể Tuy nhiên, để thuận lợi cho công tác quản lý giá hướng đến các mụctiêu cụ thể về kinh tế- xã hội thì Nhà nước thường đưa ra danh mục cụ thể về hàng
Trang 24hóa thiết yếu trong từng giai đoạn nhất định Hiện nay, trong Luật giá quy địnhdanh mục hàng hóa thiết yếu phục vụ cho sản xuất và đời sống được đưa vào diệnbình ổn giá cụ thể như sau: Xăng, dầu thành phẩm; Điện; Khí dầu mỏ hóa lỏng(LPG); Phân đạm; phân NPK; Thuốc bảo vệ thực vật theo quy định của pháp luật;Vac-xin phòng bệnh cho gia súc, gia cầm; Muối ăn; Sữa dành cho trẻ em dưới 06tuổi; Đường ăn, bao gồm đường trắng và đường tinh luyện; Thóc, gạo tẻ thường;Thuốc phòng bệnh, chữa bệnh cho người thuộc danh mục thuốc chữa bệnh thiếtyếu sử dụng tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của pháp luật Đồngthời, Luật giá cũng quy định danh mục những hàng hóa này có thể thay đổi vàtrong trường hợp đó, Chính phủ trình Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định [33]Như vậy, khi nói đến hàng hóa thiết yếu có thể đề cập đến nhiều loại hàng hóakhác nhau miễn là đáp ứng được các tiêu chí đề cập trong khái niệm như đề cập ởtrên Trong phạm vi Luận án chỉ nghiên cứu cụ thể về hai nhóm hàng hóa thiết yếuđặc biệt quan trọng đối với đời sống kinh tế - xã hội đó là điện và xăng dầu.
1.1.2 Giá cả hàng hóa thiết yếu và mối quan hệ với chỉ số giá tiêu dùng
1.1.2.1 Giá cả hàng hóa thiết yếu
Theo quan điểm của kinh tế chính trị học, giả cả hàng hóa thiết yếu là sự biểuhiện bằng tiền của giá trị hàng hóa thiết yếu đó Trong nền sản xuất hàng hóa, đểsản xuất ra một sản phẩm hàng hóa thiết yếu thường có nhiều người sản xuất cùngtham gia, nhưng điều kiện sản xuất khác nhau, vì vậy, mức hao phí lao động cá biệtcủa từng nhà sản xuất sẽ khác nhau (giá trị cá biệt khác nhau) Tuy nhiên, trên thịtrường, người mua chỉ chấp nhận một mức giá trị của hàng hóa thiết yếu, đó là giátrị thị trường Giá trị thị trường là kết quả của sự san bằng các giá trị cá biệt củamột hàng hóa thiết yếu thông qua cạnh tranh, cạnh tranh trong nội bộ dẫn đến hìnhthành một giá trị xã hội là cơ sở của giá cả Quan niệm này có ý nghĩa quan trọngđối với việc phân tích bản chất của các quan hệ kinh tế và giá trị thặng dư trong nềnkinh tế tư bản chủ nghĩa
Còn đứng trên quan điểm của các nhà kinh tế học thì giá cả hàng hóa thiết yếuđược xác định bằng tiền, được hình thành trong quan hệ mua bán Giá cả hàng hóathiết yếu là một số tiền nhất định yêu cầu chào bán hay thanh toán cho một hànghoá thiết yếu nào đó; phản ánh chi phí bằng tiền mà người mua phải bỏ ra, phảnánh thu nhập mà người bán nhận được Giá cả có thể được công bố rộng rãi trướccông chúng hoặc có thể được giữ bí mật Tuỳ thuộc vào cung cầu, mức giá trả chohàng hoá hoặc dịch vụ có thể chênh lệch rất lớn so với giá trị của hàng hoá Tuy
Trang 25nhiên, nhìn chung, trong thị trường cạnh tranh, giá cả thường phản ánh được giá trịtương đối của hàng hoá mà người mua và người bán quan tâm.
Như vậy, dù theo quan điểm nào đi nữa, khi nói đến giá cả hàng hóa thiết yếu,chúng ta đều hiểu đây là biểu hiện bằng tiền của giá trị, nghĩa là số lượng tiền phảitrả cho hàng hoá thiết yếu đó Giá cả của hàng hoá thiết yếu là đại lượng thay đổixoay quanh giá trị của hàng hóa thiết yếu Khi cung và cầu của một hay mộtnhóm hàng hóa thiết yếu về cơ bản ăn khớp với nhau, thì giá cả hàng hóa thiết yếuphản ánh và phù hợp với giá trị của hàng hoá thiết yếu đó Tuy nhiên, thường giá cảcủa hàng hoá thiết yếu sẽ cao hơn giá trị của hàng hoá thiết yếu nếu số lượng cungthấp hơn cầu và ngược lại, nếu cung vượt cầu thì giá cả hàng hóa thiết yếu sẽ thấphơn giá trị của hàng hoá thiết yếu đó Giá cả của một hàng hóa thiết yếu phụ thuộc:
- Giá trị của bản thân hàng hoá thiết yếu đó, tức là phụ thuộc vào thời gian laođộng và công sức lao động để làm ra hàng hóa thiết yếu đó;
- Giá trị của đồng tiền;
- Quan hệ cung và cầu về hàng hoá
1.1.2.2 Chỉ số giá tiêu dùng
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là chỉ tiêu tương đối, được tính bằng %, phản ánh
xu hướng và mức độ biến động giá cả chung qua thời gian của các loại hàng hóa vàdịch vụ tiêu dùng hàng ngày của người dân
Để tính mức độ biến động giá chung của các loại hàng hoá, dịch vụ tiêu dùngcần chọn ra một danh mục các loại hàng hoá, dịch vụ chủ yếu đang được tiêu dùngphổ biến; danh mục này được gọi là “rổ” hàng hoá Nói cách khác, CPI là chỉ tiêuthống kê phản ánh mức độ biến động giá cả theo thời gian của toàn bộ “rổ” hànghoá tiêu dùng Danh mục hàng hóa và dịch vụ đại diện gồm các mặt hàng và dịch
vụ chủ yếu, đại diện cho tiêu dùng của dân cư trong một giai đoạn nhất định, được
sử dụng để điều tra thu thập giá định kỳ, tính CPI
Để tính CPI, cần xác định danh mục hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng phổ biếncủa người dân (còn được gọi là danh mục hàng hóa và dịch vụ đại diện hay là “rổ”hàng hóa) và thực hiện việc thu thập giá hàng tháng đối với các loại hàng hóa, dịch
vụ này; đồng thời xác định quyền số cố định tương ứng với các nhóm trong danhmục hàng hóa và dịch vụ đại diện
Quyền số để tính chỉ số giá tiêu dùng là tỷ trọng mức tiêu dùng tương ứng củamỗi nhóm hàng hóa và dịch vụ đại diện trong tổng mức chi tiêu dùng cho đời sống
Trang 26hàng ngày của người dân Quyền số của các loại hàng hóa, dịch vụ không giốngnhau, vì vậy, để tính CPI đảm bảo phản ánh đúng mức độ biến động về giá của cáchàng hóa và dịch vụ tiêu dùng nói chung cần gia quyền mức độ thay đổi giá hànghóa và dịch vụ với quyền số tương ứng Quyền số thường được cập nhật qua cácthời kỳ Khi nền kinh tế phát triển và hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới,hàng hóa và dịch vụ trên thị trường đa dạng; cũng như khi đời sống người dân đượccải thiện, dẫn tới cơ cấu chi tiêu thay đổi qua các năm, điều đó đỏi hỏi phải cậpnhật danh mục mặt hàng đại diện và quyền số tương ứng với danh mục đó.
Hiện nay, để tính toán chỉ số giá tiêu dùng thường áp dụng công thứcLaspeyres bình quân nhân để tính cho một thời kỳ nhất định, cụ thể:
n i
w i t n
i
w i
i t t
i
i i
P
P P
P I
1 0
1
1 00
Trong đó: I t0Chỉ số giá tiêu dùng kỳ báo cáo t so với kỳ gốc cố định 0;
i i i
q p
q p W
1
0 0
0 0
: Quyền số cố định kỳ gốc 0
Các hàng hoá thiết yếu là những loại hàng hoá cần thiết, không thể thiếu trongcuộc sống bình thường của đại đa số người tiêu dùng, nên tỷ trọng mức tiêu dùngcủa những hàng hóa này so với các hàng hóa khác tương đối lớn, điều này cũngđồng nghĩa với quyền số để tính CPI của các hàng hóa thiết yếu thường rất cao,nhất là đối với 02 loại hàng hóa đặc biệt thiết yếu là điện và xăng dầu Chính vì cóquyền số cao nên sự biến động giá hàng hóa thiết yếu, nhất là điện và xăng dầu sẽ
có ảnh hưởng rất lớn đến CPI chung của cả nước [62]
1.1.3 Đặc điểm của hàng hóa thiết yếu ảnh hưởng tới quản lý giá
Hàng hóa thiết yếu cũng là một loại hàng hóa, nên ngoài những đặc điểmgiống hàng hóa thông thường khác, hàng hóa thiết yếu có những đặc trưng cơ bảnsau: [4], [20]
a) Lượng trao đổi nhiều, phổ biến trên thị trường
Trang 27Do đây là những mặt hàng “thiết yếu”, không thể thiếu được trong đời sốngcủa người dân, nên việc trao đổi của các hàng hóa này diễn ra thường ngày, liên tục
và ở trên khắp các địa phương, vùng miền của đất nước
Để thực hiện trao đổi, tất yếu phải có hai lực lượng: cung và cầu
- Cầu hàng hóa thiết yếu: là những nhu cầu về hàng hóa thiết yếu của mộtngười nào đó và người đó có khả năng thanh toán khi mua hàng hóa này Chính vìvậy, nhu cầu là rất lớn, nhưng trở thành cầu trên thị trường lại không nhiều, vì phầnlớn nhu cầu là không có khả năng thanh toán Lượng cầu về hàng hóa thiết yếumuốn đề cập đến số lượng hàng hóa thiết yếu được mua ở từng mức giá cụ thể, còncầu về hàng hóa thiết yếu lại đề cập đến toàn bộ mối quan hệ giữa lượng cầu và giá
cả hàng hóa thiết yếu Do đó cầu về hàng hóa thiết yếu là số lượng hàng hóa thiếtyếu mà người mua sẵn sàng chấp nhận và có khả năng thanh toán ở các mức giákhác nhau trong một khoảng thời gian nhất định Có các nhân tố sau ảnh hưởng đếncầu về hàng hóa thiết yếu:
+ Thu nhập của người tiêu dùng (I): Giữa thu nhập của người tiêu dùng và cầu
về hàng hóa thiết yếu có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau Thu nhập chịu ảnhhưởng trực tiếp đến khả năng mua hàng hóa thiết yếu của người tiêu dùng Do đóảnh hưởng đến số lượng hàng hóa thiết yếu tiêu thụ trên thị trường Khi mức thunhập thấp, người tiêu dùng sẽ ưu tiên cho các nhu cầu thiết yếu như ăn, mặc… Khithu nhập người tiêu dùng tăng lên, các nhu cầu lớn hơn sẽ được đáp ứng Thu nhậpcàng tăng thì cầu về hàng hóa thiết yếu càng tăng lên và ngược lại
+ Giá cả của hàng hóa thiết yếu thay thế (Py): hàng hóa thiết yếu thay thế lànhững hàng hóa thiết yếu có tính tương đồng nhau và có thể sử dụng thay thế chonhau Cầu về một loại hàng hóa thiết yếu nào đó có quan hệ tỷ lệ thuận với giá củahàng hóa thiết yếu thay thế Nếu giá của hàng hóa thiết yếu X tăng lên sẽ làm giảmnhu cầu về hàng hóa thiết yếu đó Lượng cầu giảm này thường sẽ được bù đắp bởicác hàng hóa thiết yếu thay thế khác, khi đó nhu cầu của hàng hóa thiết yếu thaythế sẽ tăng lên và ngược lại Như vậy, sự vận động của cầu về hàng hóa thiết yếuthay thế là cùng chiều với giá cả của hàng hóa thiết yếu nghiên cứu
+ Thị hiếu đối với hàng hóa thiết yếu (T): Thị hiếu đối với hàng hóa thiết yếuđược hiểu là xu hướng ham thích một kiểu, một loại nào đó về hàng hóa thiết yếu Vìvậy, khi thị hiếu thay đổi sẽ kéo theo cầu về hàng hóa thiết yếu đó cũng thay đổitheo, như thị hiếu về kiến trúc, kiểu dáng của nhà ở và các công trình xây dựng ảnhhưởng rất lớn đến cầu và giá của các loại hàng hóa thiết yếu Tâm lý, tập quán của
Trang 28người dân ở từng nước, từng vùng cũng có tác động rất lớn đến cầu và giá cả của cácloại hàng hóa thiết yếu Chúng ta cũng cần chú ý rằng thị hiếu không phải giốngnhau đối với tất cả mọi người, cũng như thị hiếu có thể thay đổi theo thời gian + Sự thay đổi của dân số (N): Dân số tăng lên làm tăng tất cả các loại nhu cầu
về hàng hóa thiết yếu như cầu về yếu tố sản xuất, cầu về tiêu dùng cầu về đầu cơhàng hóa thiết yếu Dân số thay đổi không chỉ làm thay đổi quy mô của cầu mà cònlàm thay đổi cả cơ cấu của cầu về hàng hóa thiết yếu Sự thay đổi của dân số có thểđược xem xét trên cơ sở một địa phương hay một quốc gia Khi có sự di chuyểndân số từ vùng này đến vùng khác thì dân số của cả hai vùng đều thay đổi và cầu vềhàng hóa thiết yếu sẽ tăng lên ở vùng này và giảm đi ở cùng kia
+ Các chính sách và quy định của Chính phủ (G): Thị trường hàng hóa thiếtyếu là thị trường rất nhạy cảm với các chính sách và quy định của Chính phủ + Các kỳ vọng (E): Kỳ vọng là sự mong đợi của người tiêu dùng Kỳ vọng cóthể về thu nhập, thị hiếu, giá cả, số lượng người tiêu dùng… Nếu người tiêu dùng
hy vọng rằng trong tương lai, giá cả của một loại hàng hóa thiết yếu nào đó sẽ giảmxuống thì cầu hiện tại đối với hàng hóa thiết yếu đó sẽ giảm xuống và ngược lại
Có thể biểu diễn tất cả các nhân tố ảnh hưởng đến cầu về hàng hóa thiết yếubằng một công thức tổng quát sau:
) E , N , G , T , P , I , P ( f
QD xt t yt t t tt
hàng hóa thiết yếu X trong thời gian t; It: Thu nhập của người tiêu dùng trong thờigian t; Py,t: Giá của hàng hóa thiết yếu có liên quan trong thời gian t; Tt: Thị hiếucủa người tiêu dùng trong thời gian t; Gt: Chính sách của Chính phủ trong thời giant; Nt: Dân số trong thời gian t; E: Các kỳ vọng
- Cung về hàng hóa thiết yếu là số lượng hàng hóa thiết yếu mà người bán sẵnsàng cung ứng và có khả năng bán ở các mức giá khác nhau trong một khoảng thờigian nhất định
Cung về hàng hóa thiết yếu phải đáp ứng được hai yếu tố là ý muốn sẵn sàngbán và khả năng bán Vì vậy số lượng hàng hóa thiết yếu cung ứng không phải làtoàn bộ số hàng hóa thiết yếu hiện có Khi chủ sở hữu hàng hóa thiết yếu khôngmuốn bán hoặc muốn bán nhưng mức giá trên thị trường không đáp ứng được mứcgiá mà họ mong muốn thì họ sẽ không đưa hàng hóa thiết yếu vào giao dịch
Trang 29Với điều kiện các nhân tố khác không thay đổi, nếu giá hàng hóa thiết yếutăng lên thì khả năng cung ứng hàng hóa thiết yếu cũng tăng lên và ngược lại Dovậy, lượng cung về hàng hóa thiết yếu tỷ lệ thuận với giá cả của hàng hóa thiết yếu
đó trên thị trường
Có các nhân tố sau ảnh hưởng đến cung về hàng hóa thiết yếu:
+ Giá cả các yếu tố đầu vào (Pi): Giá của các yếu tố sản xuất như đất đai, laođộng, vật liệu xây dựng… có ảnh hưởng trực tiếp đến mức lợi nhuận của nhà đầu
tư, do đó ảnh hưởng đến quyết định đầu tư Nếu giá các đầu vào giảm xuống thìkhả năng cung ứng hàng hóa thiết yếu sẽ tăng lên và ngược lại
+ Các chính sách và luật lệ của Chính phủ (G): Chính sách của Chính phủ vềthuế, chính sách quy hoạch… có ảnh hưởng quan trọng đến quyết định cung ứnghàng hóa thiết yếu Nếu Chính phủ tăng thuế thì thu nhập của người chủ sở hữuhàng hóa thiết yếu giảm xuống làm giảm khả năng cung ứng của họ và đường cung
sẽ dịch chuyển sang trái
+ Các kỳ vọng (E): Mọi mong đợi về sự thay đổi giá của hàng hóa thiết yếu,giá của các yếu tố đầu vào, quyền sở hữu hàng hóa thiết yếu, chính sách thuế… đều
có ảnh hưởng đến cung hàng hóa thiết yếu Nếu dự đoán thuận lợi cho nhà kinhdoanh hàng hóa thiết yếu thì cung tăng lên và ngược lại
Có thể biểu diễn tất cả các nhân tố ảnh hưởng đến cung hàng hóa thiết yếubằng một công thức tổng quát sau:
E 0
D
P 0
Q
S
Q P
Trang 30Đồ thị 1.1: Cân bằng cung cầu trên thị trường hàng hóa thiết yếu
- Sự hình thành giá cả của hàng hóa thiết yếu trên thị trường: được hình thànhthông qua sự tác động qua lại của cung và cầu về hàng hóa thiết yếu trên thị trường.Cân bằng cung cầu trên thị trường hàng hóa thiết yếu được xác định tại điểm cắtnhau (điểm E0) của đường cung và đường cầu (Đồ thị 1.1) Tại điểm cân bằng E0chúng ta xác định được giá cân bằng P0 và sản lượng cân bằng Q0
Giá cả hàng hóa thiết yếu trên thị trường sẽ thay đổi khi có các nhân tố làmthay đổi cầu hoặc thay đổi cung hoặc cả cung và cầu về hàng hóa thiết yếu cùngthay đổi Trong đó, như đã đề cập chi tiết ở phần trên, các nhân tố làm thay đổi cầuhàng hóa thiết yếu như: thu nhập của người tiêu dùng, thị hiếu, số lượng người tiêudùng, chính sách của chính phủ ; các nhân tố làm thay đổi cung như: giá các đầuvào, chính sách của chính phủ, kỳ vọng
b) Cầu về hàng hóa thiết yếu không hoặc ít co giãn
Co giãn của cầu hàng hóa thiết yếu là một thuật ngữ dùng để đo lường sự phản
ứng của lượng cầu hàng hóa thiết yếu khi có các nhân tố tác động, như: giá cả củachính hàng hóa thiết yếu đó, giá cả của hàng hóa thiết yếu thay thế, thu nhập củangười tiêu dùng Như vậy, hiểu một cách khái quát, co giãn của cầu hàng hóa thiếtyếu là chỉ số đo lường sự thay đổi của lượng cầu hàng hóa thiết yếu khi các yếu tốnêu trên thay đổi Khi nghiên cứu về co giãn của cầu hàng hóa thiết yếu thì tuỳ theoviệc xem xét nhân tố tác động nào sẽ chia co giãn của cầu về hàng hóa thiết yếu thànhloại đó, ở đây ta nghiên cứu 02 loại co giãn chính: co giãn của cầu hàng hóa thiết yếutheo giá, và co giãn của cầu hàng hóa thiết yếu theo thu nhập
- Co giãn của cầu hàng hóa thiết yếu theo giá
Co giãn của cầu hàng hóa thiết yếu theo giá là tỷ lệ phần trăm (%) thay đổi vềlượng cầu của một hàng hóa thiết yếu nào đó khi giá của chính hàng hóa thiết yếu
đó thay đổi một phần trăm (1%), đặt trong giả định giá của các hàng hóa thiết yếukhác và thu nhập không thay đổi
Co giãn của cầu hàng
hóa thiết yếu
= % thay đổi của lượng cầu về hàng hóa thiết yếu
% thay đổi của giáNhư vậy, ta có công thức xác định độ co giãn của cầu theo giá như sau:
Trang 31Trong đó:
- D
P
- %Q là phần trăm thay đổi của lượng cầu về hàng hóa thiết yếu;
- %P là phần trăm thay đổi của chính giá hàng hóa thiết yếu đó.
- Co giãn của cầu hàng hóa thiết yếu theo thu nhập
Co giãn của cầu hàng hóa thiết yếu theo thu nhập là tỷ lệ phần trăm (%) thayđổi của lượng cầu hàng hóa thiết yếu khi thu nhập của người tiêu dùng thay đổi 1%,đặt trong giả định giá cả của các hàng hóa thiết yếu không thay đổi
Như vậy, ta có công thức xác định độ co giãn của cầu hàng hóa thiết yếu theothu nhập như sau:
Q
I I
Q I
- %Q là phần trăm thay đổi của lượng cầu về hàng hóa thiết yếu;
- %I là phần trăm thay đổi thu nhập.
Xét về mặt kinh tế học, tính thiết yếu của hàng hóa có thể gắn với hệ số cogiãn của đường cầu (theo giá, hoặc theo thu nhập ED) Theo đó, cầu được coi làkhông co giãn (hoặc co giãn ít) khi ED < 1; khi đó, nếu giá cả hàng hóa biến đổi1%, lượng cầu về hàng hóa dịch vụ đó thay đổi nhỏ hơn 1% Đối với các hàng hoáhoặc dịch vụ được những người tiêu dùng nói chung coi là hàng thiết yếu, cầuthường kém co giãn hoặc không co giãn theo giá Mặt khác, nếu xét trong mối quan
hệ với thu nhập, thì đối với hàng hóa thiết yếu, 0< ED < 1; tức là khi thu nhập tăngthì lượng cầu tăng nhưng mức tăng của thu nhập lớn hơn mức tăng của lượng cầu
c) Hai hàng hóa thiết yếu là xăng dầu và điện thường do các doanh nghiệp độc quyền, có vị trí thống lĩnh thị trường cung cấp [6]
Các doanh nghiệp độc quyền có thể được hình thành do Chính phủ trao chomột cá nhân hay doanh nghiệp nào đó đặc quyền trong việc bán một hàng hóa haydịch vụ nhất định (độc quyền nhà nước) Trong trường hợp khác, độc quyền tựnhiên xuất hiện khi có kinh tế quy mô trong một khoảng biến thiên thích hợp củasản lượng Tức là, khi đường chi phí bình quân của một doanh nghiệp liên tục đixuống khi sản lượng tăng lên, doanh nghiệp đó sẽ có được cái gọi là độc quyền tựnhiên Sự khác nhau cơ bản giữa một doanh nghiệp cạnh tranh và độc quyền là khả
Trang 32năng của doanh nghiệp độc quyền trong việc tác động tới giá sản phẩm của họ.Doanh nghiệp cạnh tranh không thể can thiệp vào mức giá mà bị quy định bởi cácđiều kiện của thị trường
Ngược lại, do nhà độc quyền là người bán/mua duy nhất trên thị trường, nêndoanh nghiệp này có thể thay đổi giá cả hàng hóa của mình bằng cách điều chỉnhlượng cung sản phẩm ra thị trường Nhà độc quyền sẽ tối đa hóa lợi nhuận bằngcách lựa chọn mức sản lượng mà tại đó, doanh thu cận biên bằng chi phí cận biên;trên cơ sở đó xác định mức giá để người tiêu dùng mua hết mức sản lượng đã xácđịnh Nếu các doanh nghiệp cạnh tranh lựa chọn mức sản lượng tại điểm doanh thucận biên bằng chi phí cận biên (P = MR = MC), thì đối với nhà độc quyền, P > MR
= MC Đồ thị 1.2 minh họa quyết định này của doanh nghiệp độc quyền (bán) Lợinhuận của nhà độc quyền chính là diện tích hình chữ nhật EBAD
Nếu nhìn từ giác độ xã hội, do nhà độc quyền sử dụng sức mạnh thị trườngcủa mình bằng cách định giá cao hơn chi phí cận biên, nên không phải tất cả mọingười tiêu dùng đánh giá hàng hóa cao hơn chi phí để mua nó Do vậy, sản lượngsản xuất và bán ra của doanh nghiệp độc quyền thấp hơn mức có hiệu quả về mặt
xã hội Như cách so sánh của nhà kinh tế học Mankiw, khoản mất không do độcquyền gây ra tương tự như khoản mất không do thuế gây ra Tuy nhiên, Chính phủthì nhận được nguồn thu từ thuế, trong khi doanh nghiệp tư nhân nhận được lợinhuận độc quyền
Đồ thị 1.2: Biểu diễn đường Chi phí cận biên và doanh thu cận biên
Nếu như cấu trúc thị trường nói trên chỉ có một người mua (hoặc một ngườibán), thì một dạng thị trường cạnh tranh không hoàn hảo tương đối đặc biệt khác là
Trang 33độc quyền nhóm Do thị trường độc quyền nhóm chỉ có một ít người bán, nên đặctrưng của độc quyền nhóm là sự căng thẳng giữa hợp tác và lợi ích cá nhân Cácnhà độc quyền nhóm có lợi hơn nếu hợp tác với nhau để đạt được kết cục độcquyền; song do theo đuổi lợi ích cá nhân, cuối cùng họ không đạt được kết cục độcquyền và tối đa hóa tổng lợi nhuận của mình Các nhà độc quyền nhóm đều có xuhướng tăng sản lượng để có thị phần lớn hơn; và vì ai cũng làm thế, nên sản lượngtăng và giá giảm Đồng thời, lợi ích cá nhân cũng không đẩy thị trường đến kết cụchoàn toàn cạnh tranh Có thể nói, giống như nhà độc quyền, các nhà độc quyềnnhóm hiểu rằng việc tăng sản lượng sẽ làm giảm giá bán của họ Do vậy, họ dừnglại chứ không sản xuất đến điểm mà giá cả bằng chi phí cận biên Nhìn chung, khicác doanh nghiệp trong thị trường độc quyền nhóm chọn mức sản lượng để tối đahóa lợi nhuận, sản lượng của họ sẽ lớn hơn sản lượng của nhà độc quyền và nhỏhơn sản lượng trong thị trường cạnh tranh Giá của nhà độc quyền nhóm thấp hơngiá độc quyền, nhưng cao hơn giá cạnh tranh (bằng chi phí cận biên).
Đồ thị 1.3: Phân biệt giá cấp 1
Các hình thức định giá của các doanh nghiệp có sức mạnh thị trường: với giảđịnh rằng doanh nghiệp độc quyền bán với giá như nhau cho mọi khách hàng, mứcgiá lựa chọn là tại P > MR = MC Tuy nhiên, để tối đa hóa lợi nhuận, doanh nghiệp
có vị thế độc quyền trong nhiều trường hợp lựa chọn chiến lược phân biệt giá đốivới các nhóm khách hàng khác nhau; tức là bán cùng một loại hàng hóa cho nhiềukhách hàng khác nhau với giá khác nhau, dù chi phí sản xuất ra các sản phẩm này
là như nhau, cụ thể:
Trang 34(1) Phân biệt giá cấp 1 (hay còn gọi là phân biệt giá hoàn hảo): Giá các doanhnghiệp bán ra áp đặt cho mỗi khách hàng là giá tối đa mà khách hàng sẵn sàng trảcho mỗi đơn vị sản phẩm mua Theo hình minh họa trên, khi doanh nghiệp đặt giácho mỗi khách hàng bằng giá sẵn sàng trả của họ, doanh nghiệp sẽ có lợi khi mởrộng sản xuất đến Q1 Khi chỉ định một giá P* cho tất cả các khách hàng, lợi nhuậnbiến đổi là vùng giữa đường MR và MC Hình trên cho thấy, lợi nhuận cho mỗiđơn vị sản xuất tăng thêm được sản xuất và bán ra từ 0 đến mức sản lượng Q* đượcxác định bằng hiệu số giữa MR trừ đi MC của mỗi đơn vị sản phẩm hàng hóa Dođường MC tăng dần và đường MR dốc xuống, nên mỗi đơn vị sản phẩm tăng thêmlợi nhuận sẽ giảm dần Tổng lợi nhuận biến đổi chính là tổng lợi nhuận của các đơn
vị sản phẩm tăng thêm được sản xuất Khi người tiêu dùng mua hàng và sẵn sàngtrả giá theo mức độ sẵn sàng thanh toán của họ, lợi nhuận tăng thêm từ mỗi đơn vịhàng hóa là chênh lệch giữa giá bán đơn vị hàng hóa đó và chi phí cận biên Quátrình mở rộng sản xuất này được tiếp tục cho đến mức sản lượng Q1 (nếu sản xuất
Q > Q1, MC > P và giảm lợi nhuận) Trong trường hợp này, tổng lợi nhuận của nhàđộc quyền khi định giá hoàn hảo là vùng giữa đường cầu và đường chi phí cậnbiên Có thể thấy, việc áp dụng chiến lược phân biệt giá này chỉ được thực hiện khidoanh nghiệp biết chính xác mức độ sẵn sàng thanh toán của từng khách hàng và
họ có thể bán hàng với giá khác nhau Vì vậy, chiến lược này là không khả thi trêntrên thực tế và thay vào đó, doanh nghiệp lựa chọn chiến lược phân biệt giá khônghoàn hảo
(2) Phân biệt giá cấp 2 (phân biệt giá theo sản lượng): Một khách hàng có thểmua nhiều sản phẩm cùng loại trong một khoảng thời gian nào đó, tuy nhiên, cầucủa họ giảm xuống khi số lượng mua tăng Ví dụ: 100 kwh điện đầu tiên có thể hữuích và cần thiết để sử dụng cho điện thắp sáng, tủ lạnh; trong khi đó, 100 kwh tiếptheo có thể giảm tính hữu dụng và cần thiết hơn Trong trường hợp này, doanhnghiệp có thể phân biệt đối xử theo số lượng tiêu dùng và áp dụng mức giá khácnhau cho những khối lượng sản phẩm khác nhau của cùng một loại hàng hóa hoặcdịch vụ Với chiến lược này, doanh nghiệp tận dụng được tối đa khả năng chấpnhận thanh toán của khách hàng
(3) Phân biệt giá cấp 3: Chiến lược này chia khách hàng thành các nhóm khácnhau với các đường cầu riêng Trong mỗi nhóm, doanh nghiệp xác định mức sảnlượng và giá tối ưu sao cho MR từ mỗi nhóm đều bằng chi phí cận biên chung(MR1 = MR2 = …= MC)
Trang 35Liên quan đến chiến lược phân biệt giá cấp 3, chiến lược phân biệt giá theothời kỳ được sử dụng tương đối rộng rãi Theo đó, khách hàng được chia thành cácnhóm khác nhau với các hàm cầu khác nhau và được định giá khác nhau vào thờiđiểm khác nhau Doanh nghiệp đặt MR = MC cho mỗi nhóm khách hàng.
1.2 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁ ĐỐI VỚI HÀNG HÓA THIẾT YẾU
1.2.1 Khái niệm và mục tiêu quản lý nhà nước về giá đối với hàng hóa thiết yếu [4]
Để khắc phục những khuyết tật của cơ chế thị trường, để tạo điều kiện thuậnlợi cho cơ chế này vận hành có hiệu quả thì không thể không có vai trò quản lý củanhà nước Ở đây, nhà nước đóng vai trò là chủ thể của toàn bộ nền kinh tế quốc dân
và thực hiện các chức năng quản lý như là một tất yếu khách quan, nó xuất phát từyêu cầu nội tại của nền kinh tế quốc dân
Những tác động quản lý của nhà nước rất đa dạng và phủ rộng trên phạm vicủa cả nền kinh tế quốc dân, trong đó có những tác động quản lý quan trọng tới cáclĩnh vực liên quan đến giá Hiện nay đang tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về kháiniệm QLNN về giá hàng hóa thiết yếu, trong phạm vi nghiên cứu này, QLNN vềgiá đối với hàng hóa thiết yếu được hiểu như sau:
Quản lý nhà nước về giá đối với hàng hóa thiết yếu là quá trình sử dụng các công cụ quản lý nhằm thực hiện các nội dung quản lý bao gồm xây dựng chính sách và pháp luật, tổ chức thực hiện và kiểm tra, thanh tra về giá hàng hóa thiết yếu để hướng tới đạt được mục tiêu chung của đất nước.
Như vậy, chủ thể QLNN về giá đối với hàng hóa thiết yếu chính là các cơquan nhà nước theo thẩm quyền; đối tượng quản lý là các tổ chức, cá nhân hoạtđộng liên quan đến hàng hóa thiết yếu
Như đã đề cập ở trên, vai trò điều tiết của nhà nước trong nền kinh tế vận hànhtheo cơ chế thị trường rất quan trọng, trong đó có điều tiết về giá cả hàng hóa thiếtyếu Ở nước ta, điện và xăng dầu là các mặt hàng thuộc danh mục bình ổn giá dotính chất quan trọng, thiết yếu của các mặt hàng này đối với quốc kế dân sinh Bêncạnh đó, thị trường điện và xăng dầu thuộc dạng cạnh tranh không hoàn hảo, đúnghơn là thị trường có doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp thống lĩnh thị trường Vìvậy, cần có sự can thiệp của nhà nước thông qua quy định cơ chế điều tiết giá vớimục tiêu bảo đảm hài hoà lợi ích các bên (người tiêu dùng, Nhà nước, doanhnghiệp sản xuất, kinh doanh xăng dầu, điện), đồng thời khuyến khích sử dụng điện
và xăng dầu có hiệu quả Để phù hợp với cơ chế vận hành của nền kinh tế, ở nước
Trang 36ta, cơ chế điều hành giá điện và xăng dầu đã có nhiều thay đổi, từ việc nhà nướcduyệt giá, bù lỗ đến áp dụng thống nhất sang chính sách giá điện và xăng dầu theo
cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước Trong cả quá trình đó, mục tiêuQLNN về giá đối với điện và xăng dầu ở nước ta không thay đổi, đó là tiến tới thựchiện nhất quán theo cơ chế giá thị trường có sự điều tiết của Nhà nước; giá xăngdầu trong nước bám sát diễn biến giá xăng dầu thế giới, cùng với đó là giá điệnđảm bảo chia sẻ hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng,đồng thời thực hiện công khai minh bạch trong điều hành giá điện và xăng dầu, từ
đó đảm bảo công bằng xã hội, ổn định vĩ mô nền kinh tế [45]
1.2.2 Nguyên tắc quản lý nhà nước về giá đối với hàng hóa thiết yếu [45]
1.2.2.1 Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa
Ngay trong đường lối của Đảng và các chính sách của Nhà nước đã chỉ rõ,pháp luật phải được chấp hành nghiêm minh, mọi người đều bình đẳng trước phápluật Chính vì vậy, hoạt động QLNN về giá đối với hàng hóa thiết yếu trước hếtphải dựa trên cơ sở pháp luật của nhà nước, trong việc quản lý không cho phép các
cơ quan nhà nước thực hiện một cách chủ quan và tùy tiện
Để thực hiện nguyên tắc này, cần phải có ba điều kiện: 1) Xây dựng và hoànthiện hệ thống pháp luật về giá; 2) Tuyên truyền, giáo dục pháp luật giá cho mọingười; 3) Xử lý nghiêm minh mọi hành vi vi phạm phát luật giá
1.2.2.2 Nguyên tắc tập trung dân chủ (phân cấp quản lý)
Quản lý tập trung có thể được thực hiện thông qua hệ thống kế hoạch; hệthống pháp luật và chính sách quản lý giá Thực hiện thống nhất quản lý giá hànghóa thiết yếu, giao cho một đơn vị chức năng nhất định, như Bộ Tài chính (thôngqua Cục Quản lý giá)
Thực hiện dân chủ trong quản lý giá hàng hóa thiết yếu được thể hiện quanviệc mở rộng phạm vi trách nhiệm, quyền hạn của các cấp; chấp nhận kinh tế thịtrường, chấp nhận cạnh tranh, phân biệt rõ chức năng QLNN với chức năng sảnxuất kinh doanh; giáo dục, bồi dưỡng kiến thức giá cho quần chúng
Trong công tác QLNN về giá hàng hóa thiết yếu phải đảm bảo mối quan hệchặt chẽ giữa quản lý tập trung và phát huy dân chủ; tập trung phải trên cơ sở dânchủ, dân chủ phải được thực hiện trong khuôn khổ tập trung Vận dụng nguyên tắcnày phải được thấy được sự đối lập với tập trung quan liêu, tập trung gia trưởng;cũng như đối lập với tình trạng phân tán, cục bộ, địa phương, hay tư tương vô tổchức, vô kỷ luật
1.2.2.3 Nguyên tắc kết hợp hài hóa các loại lợi ích
Trang 37Lợi ích là sự vận động tự giác, chủ quan của mọi người nhằm thỏa mãn nhucầu nào đó của con người Lợi ích là một động lực to lớn nhằm phát huy tính tíchcực, chủ động của con người, vì vậy trong QLNN nói chung và QLNN về giá hànghóa thiết yếu nói riêng cần phải luôn coi lợi ích là phương tiện quan trọng của quản
lý Khi nói đến lợi ích người ta thường đề cập đến ba loại lợi ích cơ bản trong xãhội: lợi ích nhà nước (lợi ích xã hội), lợi ích tập thể và lợi ích các nhân
Trong các tác động quản lý của Nhà nước về giá hàng hóa thiết yếu phải luônbiết cách kết hợp hài hòa các loại lợi ích trên với nhau Chỉ khi các phương phápquản lý phù hợp và đảm bảo sự kết hợp hài hòa các loại lợi ích trên thì các quy luật
xã hội mới được nhận thức và tuân thủ Vì vậy, việc nghiên cứu các loại lợi ích,thỏa mãn và kết hợp chúng chính là một cơ sở quan trọng để cải tiến các phươngpháp quản lý
1.2.2.4 Nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo vùng lãnh thổ
Xét theo ngành kinh tế- kỹ thuật, bộ máy QLNN được phân định theo cácchức năng quản lý cụ thể, đây chính là các bộ chuyên ngành Ngay trong các bộchuyên ngành đó lại có những bộ phận phụ trách về công tác quản lý giá Thôngthường, chức năng QLNN về giá sẽ được giao cho Bộ Tài chính là đầu mối để điềutiết và phối hợp
Xét theo vùng lãnh thổ, bộ máy QLNN được tổ chức hoạt động theo các cấphành chính, có cấp trên và cấp dưới, có cấp trung ương và địa phương Theo đó,cấp dưới phải phục tùng cấp trên, địa phương phải phục tùng trung ương
Hai hướng quản lý trên, thực tế không tách rời nhau, các đơn vị quản lý ngànhlại nằm trên một vùng lãnh thổ nhất định, cho nên cùng với việc chịu sự quản lýtheo ngành thì đồng thời cũng phải chịu sự quản lý của địa phương Hai mặt đó tạonên sự thống nhất giữa cơ cấu ngành với cơ cấu theo lãnh thổ trong một cơ cấuchung Chính vì vậy, công tác quản lý giá hàng hóa thiết yếu theo ngành và quản lýtheo lãnh thổ phải phối hợp, gắn bó với nhau trên tất cả mọi lĩnh vực nhằm đạtđược mục tiêu chung về QLNN về giá hàng hóa thiết yếu đã đề ra
1.2.2.5 Nguyên tắc phân định và kết hợp hợp lý chức năng quản lý nhà nước về giá với chức năng tự định giá của các doanh nghiệp
Nguyên tắc này đòi hỏi các cơ quan QLNN về giá phải tôn trọng tính độc lập,
tự chủ của các tổ chức kinh doanh, không can thiệp sâu và trực tiếp vào các hoạtđộng kinh doanh, trong đó có hoạt động tự định giá hàng hóa thiết yếu Bên cạnh
đó, nguyên tắc này cũng đòi hỏi các tổ chức kinh doanh cũng cần vận hành theo
Trang 38đúng cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, tuân thủ pháp luật, chấp nhậncạnh tranh và hội nhập với bên ngoài.
1.2.2.6 Nguyên tắc công khai minh bạch
Trong nền kinh tế thị trường, việc công khai và minh bạch thông tin, cũng nhưtrong các tác động quản lý của các cơ quan nhà nước là rất quan trọng Việc côngkhai và minh bạch phải được thực hiện ngay trong khâu xác định các yếu tố cấuthành giá; công khai minh bạch trong việc tính toán giá hàng hóa thiết yếu, trongphương pháp xác định giá hàng hóa thiết yếu; công khai minh bạch trong việc xácđịnh các loại hàng hóa thiết yếu cần phải định giá
Khi các cơ quan nhà nước đưa ra các tác động quản lý giá cũng cần phải đượcthực hiện một cách rõ ràng, cần giải thích rõ lý do của những tác động quản lý đó,cũng như phân tích được những ảnh hưởng của các tác động quản lý đó tới xã hội
1.2.3 Nội dung của quản lý nhà nước về giá đối với hàng hóa thiết yếu [7]
1.2.3.1 Nghiên cứu, xây dựng và ban hành chính sách, pháp luật về giá hàng hóa thiết yếu phù hợp với đường lối, chính sách phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ.
Đây là một nội dung QLNN về giá cơ bản Trong thời gian qua, nhiều văn bảnquy phạm pháp luật ra đời đã có nội dung QLNN về giá hàng hóa thiết yếu theochuyên ngành như: giá điện trong Luật điện lực, giá xăng dầu trong Nghị định củaChính phủ, giá dịch vụ bưu chính- viễn thông, giá đất và tài nguyên, quy định vềtiền thuê đất, thuê mặt nước, mặt biển; giá nhà thuộc sở hữu Nhà nước, cước phícảng biển, cước vận chuyển bằng đường sắt, hàng không; hướng dẫn việc thực hiệnthông báo và kiểm soát giá vật liệu xây dựng, giá thiết bị trong lĩnh vực đầu tư xâydựng…
Với quan điểm chuyển hẳn sang cơ chế thị trường, đường lối, chính sách củaĐảng và nhà nước về giá trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủnghĩa phải phù hợp với quy luật kinh tế thị trường nhưng vận động trong tầm kiểmsoát của Nhà nước Cơ chế giá phù hợp với mô hình đó là cơ chế giá thị trường có
sự điều tiết của Nhà nước Nhà nước giảm dần các can thiệp trực tiếp, tôn trọngquyền tự định giá của doanh nghiệp, tạo điều kiện khuyến khích các doanh nghiệpcạnh tranh về giá đúng pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuấtkinh doanh; ổn định tình hình kinh tế, xã hội, phục vụ công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước Hệ thống các văn bản pháp luật về giá cần đảm bảo tính thống nhất,
Trang 39đồng bộ, phù hợp với các quy định của các luật có liên quan đã ban hành, các thông
lệ quốc tế và những cam kết của Chính phủ Việt Nam so với các tổ chức quốc tế vàcác nước trong quá trình hội nhập kinh tế
1.2.3.2 Tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý giá đối với hàng hóa thiết yếu
Trên cơ sở những quy định về QLNN về giá đối với hàng hóa thiết yếutrong hệ thống chính sách, pháp luật liên quan, bộ phận triển khai sẽ tổ chức thựchiện các quy định này Việc tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật liên quan đếnQLNN về giá đối với hàng hóa thiết yếu gồm các nội dung sau:
- Thiết lập bộ máy quản lý; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ: từ những địnhhướng chiến lược về về giá hàng hóa thiết yếu, cũng như định hướng trong côngtác QLNN, chính phủ cần thành lập hoặc phân công, phân cấp các đơn vị phụtrách công tác QLNN về giá hàng hóa thiết yếu từ cấp trung ương cho đến địaphương QLNN về giá đối với hàng hóa thiết yếu có phạm vi rộng, với nhiều bộphận liên quan, do đó phải có sự phối hợp, phân công hợp lý để hoàn thành tốtnhiệm vụ Đồng thời để duy trì được công tác QLNN về giá đối với hàng hóathiết yếu đòi hỏi phải có sự đồng tâm, hiệp lực của nhiều bộ phận: Nhà nước làchủ thể quản lý phải tạo điều kiện và môi trường thuận lợi, còn người bị quản lýphải có trách nhiệm tham gia tích cực vào các khâu quản lý Quản lý giá hànghóa thiết yếu đã và đang có thêm nhiều nội dung mới, đòi hỏi cán bộ quản lý giáphải tiếp nhận, biết vận dụng nhiều phương pháp và phương tiện quản lý hiện đại,phù hợp và có hiệu quả Do vậy yêu cầu tất yếu cần làm hiện nay là nâng cao chấtlượng đội ngũ cán bộ quản lý giá mà cách làm chủ yếu là thông qua đào tạo và bồidưỡng
- Xây dựng kế hoạch triển khai các hoạt động quản lý: đây là bước cần thiết
và quan trọng, các cơ quan triển khai từ trung ương đến địa phương đều phải lậpcác kế hoạch cụ thể, như: kế hoạch về tổ chức, điều hành như hệ thống các cơquan tham gia, đội ngũ nhân sự, cơ chế thực thi; kế hoạch cung cấp nguồn vậtlực như tài chính, trang thiết bị; kế hoạch thời gian triển khai thực hiện; kếhoạch kiểm tra, đôn đốc thực thi chính sách; dự kiện về quy chế, nội quy về tổchức và điều hành thực thi các khâu trong công tác QLNN về giá hàng hóa thiếtyếu
- Hướng dẫn để thực hiện những nội dung của công tác QLNN về giá hànghóa thiết yếu, phổ biến tuyên truyền về các khâu và các công việc trong hoạt
Trang 40động QLNN Công đoạn này giúp cho nhân dân, các cấp chính quyền hiểu đượcvai trò của công tác QLNN về giá hàng hóa thiết yếu Để làm được việc tuyêntruyền này thì chúng ta cần phải đầu tư về trình độ chuyên môn, trang thiết bị kỹthuật, việc tuyên truyền này cần phải được thực hiện thường xuyên liên tục, vàvới mọi đối tượng và trong khi tuyên truyền phải sử dụng nhiều hình thức nhưtiếp xúc trực tiếp, gián tiếp, tuyên truyền thông qua các phương tiện thông tinđại chúng…
Nhà nước quản lý, điều hành sự vận động của giá cả thị trường chủ yếu bằngphương thức gián tiếp thông qua việc xây dựng môi trường pháp lý; sử dụng cácchính sách kinh tế để tác động đến sự hình thành và vận động của giá cả Bên cạnh
đó, Nhà nước thực hiện các biện pháp can thiệp trực tiếp về giá đối với ba nhómhàng hóa: Hàng hóa thuộc lĩnh vực độc quyền nhà nước sản xuất, kinh doanh; tàinguyên quan trọng; hàng dự trữ quốc gia, sản phẩm, dịch vụ công ích và dịch vụ sựnghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước Những loại hàng hóa dịch vụ trên đây doNhà nước định giá nhưng mức giá hình thành vẫn cần tuân thủ nguyên tắc bảo đảm
bù đắp chi phí sản xuất, kinh doanh thực tế hợp lý, có lợi nhuận phù hợp với mặtbằng giá thị trường và chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhànước trong từng thời kỳ và kịp thời điều chỉnh giá khi các yếu tố hình thành giáthay đổi
- Theo dõi, đôn đốc: bất cứ triển khai các hoạt động quản lý nào cũng đềucần phải đôn đốc để đảm bảo cho hoạt động quản lý đi đúng hướng, và sử dụng
có hiệu quả mọi nguồn lực Công tác theo dõi, đôn đốc giúp cho Chính phủ, BộTài chính nắm bắt được các đối tượng quản lý, qua đó nhận ra những hạn chế
để điều chỉnh bổ sung, hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả và hiệu lực trongQLNN về giá hàng hóa thiết yếu
1.2.3.3 Tổ chức kiểm tra, thanh tra về giá đối với hàng hóa thiết yếu.
Tổ chức kiểm tra, thanh tra, cũng như xử lý vi phạm pháp luật về giá hàng hóathiết yếu là một nội dung quan trọng trong công tác QLNN về giá Thanh trachuyên ngành về giá hàng hóa thiết yếu là thanh tra việc chấp hành pháp luật về giátheo quy định của Luật giá và quy định khác của pháp luật có liên quan
Mục đích hoạt động kiểm tra, thanh tra về giá hàng hóa thiết yếu nhằm pháthiện sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật về giá để kiến nghị với cơquan nhà nước có thẩm quyền biện pháp khắc phục; phòng ngừa, phát hiện và xử lýhành vi vi phạm pháp luật về giá giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy