Điểm qua tình hình biên soạn loại cơng cụ này nhằm xác định hướng biên soạn sách giáo khoa dạy tiếng phù hợp với mục đích dạy - học tiếng Việt thực hành theo quan điểm giao tiếp và đồn
Trang 1CÂU GIAO Tlễ p
Chủ trì đề tài:
PGS.PTS Đinh Thanh Huệ
Cán bộ tham giả nghiên cứu:
PTS Trịnh Đức Hiển PTS Đặng Văn Đạm
QỴ 96.
Trang 2CHƯƠNG MỘT
MỘT SỐ VẤN ĐỂ LIÊN QUAN
1.1 Đối với người nước ngoài, tiếng Việt thực hành là một ngoại ngữ, một phương tiện giao tiếp với người Việt trong cuộc sống hàng ngày và, quan trọng hơn, phương tiện tiếp cận với nền văn hoá - vãn minh của dân tộc Việt Nam trong
nhiều lĩnh vực Với nghĩa sau, tiếng Việt như cầu nối của tình hữu nghị giữa dân
tộc Việt Nam với các dân tộc khác trên thế giới
Việc dạy tiếng Việt thực hành, như vậy, không chỉ là “một nghê” mà còn là
nhiệm vụ chính trị, đặc biệt trong thời kỳ “mở cửa” hiện nay
Từ năm 1968, khoa Tiếng Việt và Vãn hoá Việt Nam cho người nước ngoài
có tư cách pháp nhân duy nhất trong lĩnh vực này Nhưng hiện nay, việc dạy tiếng Việt thực hành không chỉ dành riêng cho khoa tiếng Việt Nhiều cơ sở trong nước dạy tiếng Việt; không ít người Việt Nam dạy tiếng Việt cho người nước ngoài Đó là một nhu cẩu tự phát, bức xúc của xã hội hiện nay
Việc dạy tiếng Việt thực hành cho người nước ngoài tại khoa Tiếng Việt đã
có bề dày lịch sử ngót 30 nãm Thế nhưng những vấn đề cơ bản của nghề nghiệp vẫn chưa được mấy quan tâm Đó là những vấn đề: phương pháp dạy, tài liệu dạy (không chỉ sách giáo khoa dạy tiếng Việt), ứng dụng kỹ thuật trong giảng dạy, v.v
Trước tình hình thực tê đó, một vấn đề nghề nghiệp cần đặt ra không chỉ cho khoa Tiếng Việt và Văn hoá Việt Nam cho người nước ngoài mà cả cho bất cứ ai
“hành nghề” trong lĩnh vực này Đó là tìm kiếm một hướng dạy nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy, phục vụ có hiệu quả cho nhu cầu hiện nay và sau này của
xã hội
Lý do chọn đ ề rài “Câu giao tiếp - đơn vị dạy tiếng tối thiểu” được nảy sinh
từ định hướng đó
1.2 Nghề dạy tiếng Việt thực hành cho người nước ngoài cũng như bất cứ một nghề
nào khác trong xã hội, không thể không có “công cụ nghề n g h i ệ p Trong việc
Trang 3dạy tiếng Việt thực hành cho người nước ngồi, một trong những cơng cụ hành nghể đĩ là tài liệu giảng dạy.
Trong thực tế hiện nay, mới chỉ cĩ một loại tài liệu: sách giáo khoa Điểm
qua tình hình biên soạn loại cơng cụ này nhằm xác định hướng biên soạn sách
giáo khoa dạy tiếng phù hợp với mục đích dạy - học tiếng Việt thực hành theo
quan điểm giao tiếp và đồng thời khẳng định cáu giao tiếp là một trong những
phương thức thể hiện mục đích đĩ
Cho đến nay, sách giáo khoa dạy tiếng Việt thực hành do người Việt Nam (chủ yếu là CBGD khoa Tiếng Việt) và người nước ngồi cộng tác với người Việt Nam biên soạn, khơng phải là ít về số lượng Đã cĩ gần 20 ấn phẩm mà chúng tơi cĩ trong tay Nhưng chắc rằng số lượng đĩ chưa phản ánh đúng tình hình thực t ế (1)
1 Bùi Phụng (chủ biên): Tiếng Việt cho người nước ngồi - Learning Modern Spoken
Vietnamese Nxb Giáo dục, H, 1992.
2 Nguyễn Anh Quế: Tiếng Việt cho người nước ngói - Vietnamese fo r Foreigners Nxb
Giáo dục, H, 1994
3 Đinh Thanh Huệ (chủ biên): Tiếng Việt thực hành dùng cho người nước ngồi -
Vietnamese for Foreigners Nxb Đại học Quốc gia, H, 1997.
4 Nguyễn Văn Lai: Giáo trình cơ sỏ tiếng Việt thực hành Trường Đại học Tổng hợp, H
1995
5 Vũ Văn Thi: Tiếng Việt cơ sả - Vietnamese for Beginners Nxb Khoa học Xã hội, H,
1996
6 Nguyễn Việt Hương: Thực hành tiếng Việt dùng cho người nước ngồi - Practice
Vietnamese Use fo r Foreigners Nxb Giáo dục, H, 1996.
7 Nguyễn Thiện Nam: Tiếng Việt nâng cao (cho người nước ngồi-quyển 1) - Intermediate
Vietnamese (for non-native Speakers) Nxb Giáo dục, H, 1998.
8 Đinh Thanh Huệ, Trịnh Đức Hiển: Sách học tiếng Việt Nxb Chính trị Quốc gia Nxb và
phát hành sách Nhà nước CHDCND Lào, H, 1996
9 Nguyễn Minh Thuyết: Tiếng Việt cấp tốc - song ngữ Việt - Pháp Nxb Giáo dục, 1995.
10 Mai Ngọc Chừ: Tiếng Việt cho người nước ngồi - Vietnamese fo r Foreigners Nxb
Giáo dục, H, 1996
Trang 41.2.a Nhìn chung, đầu sách dùng cho năm c ơ s ở (cho những người bắt đầu học tiêng
Việt với thời gian 500 tiết học trở lên) chiếm một tỉ lệ khá lớn (16/19 cuốn) Điều đó phản ánh một thực tế: Sách giáo khoa tiếng Việt thực hành cho những
nãm tiếp theo rơi vào tình trạng “ khủng hoảng" Nói đúng hơn, chưa có một
chương trình phân giới giữa các bậc đào tạo (cơ sở, nâng cao và hoàn thiện) ổn định Hơn thế, trong tình hình hiện nay, mục đích của người học tiếng Việt thực hành phẩn lớn chỉ giao tiếp thường nhật Duy chỉ khoa Tiếng Việt và Văn hoá Việt Nam cho người nước ngoài mới khẳng định được hệ thống sách giáo khoa theo các bậc học, bởi lẽ tại đây mới có chương trình đào tạo cử nhân Tinh hình
trên cũng cho thấy: sách giáo khoa tiếng Việt thực hành hiện nay chưa biên soạn
cho đôi tượìĩg học cụ t h ể trừ cuốn “ Sách học tiếng Việt “cho người Lào - (chú
thích 1.8) Các tác giả của sách giáo khoa dành cho năm cơ sở soạn sách theo
quan niệm riêng củư mình Điều đó dễ nhận thấy trong cơ cấu của một bài
học; trong lựa chọn hiện tượng ngữ pháp, từ ngữ; trong lựa chọn chủ điểm - bài học; và trong cách ra bài tập, bài luyện Nhưng, các tác giả mặc nhiên có
một quan niệm chung về hướng chủ đế - sinh hoạt thường nhật Trong bất cứ
11 Mai Ngọc Chừ: Studying Vietnamese Through English - Học tiếng Việt qua tiếng Anh
Nxb The giới, H, 1997
12 Phạm Vãn Giưỡng: Tiếng Việt - Vietnamese fo r Beginners Asian Languages Project,
National Distance Education Conference
13 Phạm Vãn Giưỡng: Tiêng Việt hiện đai - Modern Vietnamese Victoria University of
Technology
14 Phạm Vãn Giưỡng, Nguyễn Anh Quế: Tiếng Việt - Vietnamese Nxb Giáo dục, H 1996.
15 Nguyễn Đình Hoà: Speak Vietnamese Tokyo and Rutland, Vermont, 1996.
16 Nguyễn Đình Hoà: Colloquial Vietnamese Center for Vietnamese Studies, 1973.
17 Nguyền Long, Maryberth Clark, Nguyễn Bích Thuận Spoken Vietnamese fo r
Beginners Northern Illinois University.
18 Franklin E Huffman and Trần Trọng Hải: Intermediate Spoken Vietnamese Cornell
Southeast Asia Program, New York, 1980
19 Trần Đức Vượng and John Moore: Colloquial Vietnamese London and New York
1994
Trang 5công trình nào, đều hiện diện các chủ đề làm quen, chào hỏi, tuôi tác, gia đình,
quốc tịch, nghé nghiệp, tham quan, thăm hỏi, sở thích, ăn uống Các chủ đề
này đều được thể hiện dưới hình thức hội thoại, đối thoại Dưới góc độ dạy tiêng thực hành - giao tiếp, những đối thoại, đàm thoại theo chủ đề là m ột trong những
cách tạo tình huống “kích thích tâm sinh lý cho đối tác tham gia vào hoạt động
lời nói” (2)
I.2.b Cơ cấu của một bài học tiếng Việt thực hành thường được xác định theo các
p h ầ n : Hội thoại (đàm thoại) vói từ vựng (Vocabulary); Ghi chú có ngữ pháp
(Notes on Grammar); Luyện tập (Drills); Bài đọc (Text) và từ vựng của bài đọc;
và Bài tập (Exercies) Một số tác giả đã th ể hiện tính nhất quản của chủ đê xuyên suốt bài học qua các phẩn trong cơ cấu của nó (chú thíchịl 8) - thay vì bài
đọc là bài thuật lại (Narration) - Không nhiều tác giả đã đưa ra tình huống nói
năng cho bài luyện tập (chú thích s ố l , 2) Nét riêng biệt này thật đáng quý, bởi
lẽ dạng nói - nghe của hoạt động lời nói, trong đó “mỗi lời đối đáp không thể
khổng hàm chứa yếu tố tình huống nói năng (ngôn cảnh) và lộ rõ tính tình thái
qua ngôn từ của nhân vật tham gia” (3) Đây cũng là một đặc điểm của câu giao
tiếp (xem chương hai) Đa sô' các sách giáo khoa dạy tiếng Việt thực hành dành
cho năm cơ sở xem nhẹ phẩn luyện phát â m , trừ hai cuốn (chú thích 1, 4, 5) Có
lẽ các tác giả của các công trình còn lại đã “tận dụng" sự tương đồng giữa hệ
thống âm tiếng Việt và tiếng Anh (ngôn ngữ trung gian) hoặc thay những bài tập
luyện phát âm bằng bài “Khái quát về phát âm và chữ tiếng Việt “ (chú thích 1, 2) hoặc bài “Giới thiệu hệ thống phát âm tiếng Việt” (chú thích 1.12) Nhận xét
này không liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài xác định, nhưng nó cần cho việc biên soạn tài liệu dạy tiếng Việt thực hành
Ngoài cơ cấu bài học tiếng như đã trình bày, cách biên soạn của các tác giả
cuốn “Spoken Vietnamese fo r Beginners” (chú thích 1,17) và cuốn “Colloquial
* ’ A A Jl&WĩỊp£{r ■ Nhif/Ig cơ sở tủm lỷ của Việc dạy học tiếng Ngu như một ngoại ngữ
Tạp chí Tiếng Nga cho người nước ngoài, 1974, số 4
(3) A.A tA e im r b e f : Nhữỉig cơ sà của lỷ thuyết ỉìoụt động lời nói, M, 1974 tr67.
Trang 6Vietnam ese” (chú thích 1,16) có những điểm đặc biệt; phần nào đó liên quan
đến đề tài nghiên cứu này
M ột bài học trong sách giáo khoa “Spoken Vietnamese fo r Beginners” của
các tác giả Nguyễn Long, Marybeth Clark và Nguyễn Bích Thuận được phân định ra 5 phần:
- Phần A: Câu mẫu (Patterns) - từ vựng của câu mầu.
- Phần B: Chú thích (Notes on Patterns).
- Phần C: Bài tập (Exercises)
- Phần D: Tự kiểm tra (Self - test)
- Phần E: Từ vựng của bài học (Summary of Leson Vocabulary)
Cáu mẫu (Pattern) được hiểu là những mẩu đối thoại về một chủ đ ề mà
người soạn đã xác định Mỗi mẫu đối thoại là một chủ điểm quy tụ quanh chủ
đề Một bài học có thể có từ 3 đến 5 đối thoại
Trong một bài học tiếng, có thể có phẩn hội thoại và phần bải đọc được coi như chất liệu chính của bài học Thay vì bài đọc và bài hội thoại, tác giả đã đưa
ra các câu mẫu (thuật ngữ: câu mẫu được chuyển dịch từ từ Pattern (tiếng Anh)
là thuật ngữ của tác giả) dưới hình thức hội thoại Cách thê hiện như thê đã giúpcho người học tham gia ngay vào một hoạt động lời nói, tập luyện cho họ kỹnăng nói - nghe và ngược lại
Trong cuốn “Colloquial Vietnam ese”, tác giả Nguyễn Đình Hoà cũng thể hiện bài đọc dưới hình thức Conversation (đàm luận, chuyện trò; mà trong mỗi
Conversation có một vài Unit Điểm khác nhau giữa tác giả Nguyễn Đình Hòa
với tác giả cuốn “Spoken Vietnamese fo r Beginners” là ở chỗ : chủ đê' của các
mẫu câu do nội dung của các đối thoại lộ ra, còn chủ đề của Conversation được
tác giả đặt tên ngay cho nó Chẳng hạn: Conversation (bài 9) : H ọc hành - ốm
đau\ Conversation (bài 13): Thú làm vườn
Các phần khác của một bài học tiếng Việt thực hành không mấy liên
quan đến đặc điểm của cảu giao tiếp (xem chương hai) nên không đề cập đến
ở đây
Trang 71.3 Dạy tiếng liên quan trực tiếp đến khoa học ngôn ngữ Như đã rõ, mục đích học tiếng Việt thực hành của người nước ngoài là để giao tiếp Mục đích này được xác lập tương ứng với chức năng của ngôn ngữ - phương tiện giao tiếp và tư duy của xã hội loài người Ngôn ngữ với những bình diện cấu thành của nó (ngữ
âm, từ vựng, ngữ pháp) là cơ sở tồn tại của khoa học dạy tiếng Một mặt “chất
liệu” ngôn ngữ (từ, ngữ, câu) không thể nào khác là “vật chất” quan trọng, duy nhất tạo thành phương thức tồn tại của hoạt động lời nói trong giao tiếp; mặt
khác, những kiến thức về khoa học ngôn ngữ là nén tảng, ]à “cái quyết đinh” cho
việc tổ chức một lời nói trong giao tiếp được hoàn chỉnh và theo đó, nó mới đảm
nhiệm được chức năng giao tiếp “Chất liệu” chỉ là “chất liệu” tựa như những viên gạch chưa được sử dụng vào việc tạo thành một “ bức tường” “Bức tường” được như chính nó không phải là do viên gạch mà do cách liên kết giữa chúng
theo một “mô hỉnh cảu tạo” nào đó Cái đó nằm ngoài bản thể của viên gạch Ferdinand De Saussure nhấn mạnh “trong ngôn ngữ chỉ có sự phân biệt mà thôi;
chỉ có những quan hệ thuần tuý và ngôn ngữ là một hình thức chứ không phải là một chất liệu” (4) Kiến thức ngôn ngữ, hay nói rõ hơn, kiến thức về Việt ngữ cần, rất cần cho việc dạy - học tiếng Đương nhiên, kiến thức đó được truyền thụ cho người học dưới góc độ thực hành tiếng chứ không phải dưới góc độ tiếp nhận nó dưới dạng lý thuyết Phần “chú thích ngữ pháp” (Note on Grammar) trong các bài học tiếng của các giáo trình đã nói đến, là một minh chứng cho sự cần thiết này Đối với người học tiếng thực hành, những kiến thức đó tiềm ẩn
trong tri giác Chúng cần cho sự lựa chọn phương thức biểu đạt của lời nói sau khi đã định hướĩig và hình thảnh trong tư duy nội dung của lời n ó i f5) Tất cả các dạng thức của hoạt động lời nói trong giao tiếp như: nói, nghe, đọc và viết mà
người học cần tập luyện, thực hành như một kỹ năng, đều được xây dựng từ
‘4 ’ Ferdinand De Saussure: Giáo trình ngôn ngữ học đại cươỉìg Nxb Khoa học Xã hội H
1973, tr 208,212
<5 * Đinh Thanh Huệ: Quá trình hình thành một phút lìiỊÔn (lời nói) dưới góc độ túm lý -
ngôn ngữ vã phương pháp dạy tiếng Tạp chí Khoa học, Trường đại học Tổng hơp H số
2 năm 1991, tr 4 - 6
Trang 8“chất liệu ngôn ngữ” Vì thế, muốn xác định một đơn vị dạy tiếng tối thiểu không thể không dựa trên những cơ sở ngôn ngữ Và, người học muốn có được
kỹ năng giao tiếp bằng ngoại ngữ cũng không thể không cần đến chất liệu và
kiến thức về ngôn ngữ.
Tóm lại, ngôn ngữ giữ một vai trò quan trọng trong việc dạy tiếng nói chung,
trong việc xác định một đơn vị dạy tiếng nói riêng Không có khoa học ngôn ngữ thì khoa học dạy tiếng không tồn tại Dạy tiếng hướng đến viêc tập luyện cho người học biết tự tổ chức một hoạt động lời nói thích ứng trong giao tiếp Hoạt động đó, như
viện sỹ ịA-8- uteỷrĩa đã nhận định: “Là một hoạt động phức tạp, là sự tổng hoà các
phương diện ngôn ngữ, ngôn ngữ - tâm sinh lý và xã hội” (6)
1.4 Hoạt động lời nói có hai mặt quy định, chế ước lẫn nhau: mặt hình thức và mặt nội
dung Hai mật đó cùng tồn tại trong một thể thống nhất để biểu đạt một nội dung thông báo trong giao tiếp Mật nội dung được hiểu là những thông tin (nhận định,
truyền đạt, phản ánh) về một sự kiện khách quan nào đó, hoặc một sự kiện trong tư
duy của người nói (viết) Mặt hình thức được hiểu là cách thức biểu đạt nội dung Đối với người nói, mặt hình thức là cúi có sau; ngược lại, đối với người nghe mặt hình thức là cái có trước Cái gì đã tạo nên mặt hình thức của một hoạt động lời nói?
Đó chính là cái thuộc về ngôn ngữ, trong đó tiềm ẩn những yếu tố tâm sinh lý theo cách phân tích sau đây của F.D Saussure:
Thính giác Quá trình phát âm
W tfW ' : Dạy ngoại ngữ trong trường phổ thông trung học Trong cuốn: Những vấn
đề chung vé'phương pháp, M, 1974.
Trang 9F.D Saussure viết: “ Cách phân tích này không dám tự coi là đầy đủ Người
ta có thể phân biệt thêm: cảm giác thuần tuý, thính giác, quá trình đồng nhất hoá cảm giác này với hình tượng âm tiềm năng, hình tượng cơ giác của quá trình phát âm, v.v Chúng tôi chỉ kể đến những yếu tố được coi là cốt yếu Hình vẽ
của chúng tôi cho phép phân biệt ngay được những yếu tố vật lý (sóng âm) với những bộ phận sinh lý (quá trình phát âm và thính giác) và tâm lý (hình tượng
ngôn ngữ và khái niệm) (chúng tôi gạch chận từ - ĐTH) Quả nhiên cần phải nhận thấy một điều tối quan trọng là hình tượng ngôn ngữ không trùng với bản thân âm và có tính chất tâm lý không kém gì cái khái niệm được liên hệ vói nó” í7)
Có thể hình dung sơ đồ trên như một kênh giưo tiếp, trong đó có hai nhân vật tham gia : A- người nói, B- người nghe; Khái niệm (C) được hiểu là một từ,
ngữ hoặc câu đưa vào giao tiếp.
Như vậy mặt hình thức của một hoạt động lời nói dưới dạng thức nghe - nói
và ngược lại, chính là phương thức ngôn ngữ chuyển tải nội dung lời nói Phương thức biểu đat đó mang dấu ấn tâm sinh lý của người nói, ngưòi nghe.Trong dạy tiếng, dạng thức nào của hoạt động lời nói giữ vai trò cần yếu đối với người học? Xác định được điều đó cũng có nghĩa là tìm được hướng xác định
loại hình cứu giao tiếp.
Kết quả đào tạo của quá trình dạy học tiếng được định giá bằng khả năng tự
tổ chức hoạt động lời nói của người học trong giao tiếp Bốn dạng thức của nó được hiểu như sau:
Nghe được tức hiểu được người nói nói gì Muốn thế, người nghe phải nhận
biết được âm của lời nói, đồng thời liên hệ được âm đó với “chất liệu ngôn ngữ”
có trong lời nói để hiểu được.
N ói được tức người nói vận hành bộ máy phát âm của mình tạo ra những hình tượng ủm thanh trùng hợp với “chất liệu ngôn ngữ” cấu thành nội dung
lời nói
° ] Sđd, tr 34-35.
Trang 10Nghe được - nổi được đều dùng đến sóng âm - thính giác Suy cho cùng,
như /7 n (ỉl/urvcstvu _nhà sư phạm ngoại ngữ Xô Viết (cũ).đã nhận xét tinh tế:
“Người nói và người nghe cả hai bên đều nói\ một người thì nói hằng âm thanh, người khác - nói thầm” <8).
Viết được (theo nghĩa viết chính tả) là sự vận động của cơ quan thị giác và
vận động của tay trùng với con chữ ghi âm tương ứng
Đọc được nhờ vào thị giác là cốt yếu Thị giác “nhận biết” mối liên hệ trùng
hợp giữa âm và “chất liệu ngôn ngữ” Đọc được không có nghĩa là đọc - hiểu Bốn dạng thức này đểu liên quan đến ám Theo đó, có thể khẩng định: âm
chiếm vai trò chủ đạo trong việc tập luyện kỹ năng ngoại ngữ cho người họctiếng
Có thể hình dung vai trò đó như sau trong mối liên hệ với các dạng thức hoạt động lời nói sau:
Dạng thức
hoạt động lời nói
Cách thức tham gia
vào hoạt động lời nói
Như vậy, trong dạy tiếng luyện phát âm cho người học là điểu cần được quan tâm GS Hoàng Tuệ trong bài: Tiếng Việt cho người không phải bản ngữ
đã viết: “chú ý đặc biệt đến luyện phát âm” (9)
(8)/7,/7 SlĩữHC-KlỉU : Tuyển tập những công trình nghiên cửu vé sư phạm, M, 1964 tr 450 (Dẫn theo C Ạ Phương pháp dạy tiếng Đứt trong trường trung học phổ thông
Trang 11Trong cuốn Tâm lý của nhận thức cảm tính, 5 r, A cũng đưa ra nhận định: “Đọc và viết sẽ không có khả năng hiện thực nếu không dựa trên cơ
sở nghe và nói” (l0) Theo đó, có thể suy ra: các dạng thức của hoạt động lòi nói
là mục tiêu tập luyện kỹ năng ngoại ngữ cho người học Trong tiến trình của một
bài học tiếng, dạng thức nghe - nói (và ngược lại) cần được chú ý hơn, đạc biệt
đối với người học nãm cơ sở
1.5 Trong các công trình nghiên cứu về phương pháp dạy ngoại ngữ của không ít tác
giả người nước ngoài, khái niệm “giao tiếp” ((ctMMịỊHUMỉSMJ Cữmmưrti t, /fc )
thường được đề cập đến (ll) Chúng tôi muốn làm rõ khái niệm này trong đề tài nghiên cứu của mình
a Giả định rằng khi dạy một bài đọc, có thể tiến hành như sau: Người học đọc lần lượt các cứu có trong bài Sau mỗi câu - ngôn ngữ (được nhận biết bằng dấu
chấm hoặc dấu hỏi, dấu chấm than, dấu chấm lửng qua thị giác) thì dừng lại,
Người dạy sẽ giâi thích những gì mà người đọc chưa hiểu (chẳng hạn: nghĩa dụng của từ ngữ nào đó, kết cấu cú pháp nào đó ) Tiếp tục, các câu - ngôn ngữ
sau vẫn tiến hành các thao tác như trên vói câu hỏi: “Có hiếu không?” và tuỳ
theo câu trả lời “cớ” hoặc “không” của người đọc mà dừng lại hay tiếp tục.
b Giả định rằng, trong một bài luyện tập hỏi về tên nước với câu hỏi m ẫu: Đây là
nước nào? và câu trả lời mẫu : Đây là nước Việt Nam.
Bài luyện này được thực hiện dưối hình thức đối thoại (người dạy - người
học hoặc người học - người học) cùng với giáo cụ trực quan,- bản đồ khu vực
(Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam, Thái Lan, Campuchia, Malaixia, Inđonexia) (xem chú thích số 5, trang 50)
Câu trả lời nhận được qua cách thax th ế từ - tên nước.
Việc 11 đọc lụi” , “nhắc lại” hoặc “tíặt cáu hỏi" , “đưa ra cáu trả lời cho cứu
hỏi”, hoặc ‘7/ỉựy th ế từ ngữ', “đặt cáu với từ ỵ \ “đặt câu theo cấu trúc cú
1101 Dẫn theo C ậ.UiaTưAủỉ? (Sđd), tr 16
: Giao tiếp ngôn nỵư vù việc clụv học ngoại ngữ Nxb Giáo dục, M
1972
Trang 12p h á p ” là những “chỉ lệnh” theo hướng tập luyện cơ giới\ tức người học thực
hành các thao tác máy móc (cơ giới) Theo cách này, người học mới dùng lại ở
mức đô hiểu bài; có nghĩa “chất liệu ngôn ngữ” có trong bài học, đã được người
học tiếp thu kiến thức Nhưng tiếp thu mới chỉ là một khâu trong tiến trình học tiếng Mục đích học tiếng của người học, như đã xác định không chỉ tiếp thu
kiến thức mà quan trọng hơn, là tiếp thu kiến thức đi đến sản sinh ho ạ t động lời nói tự động Trong cách dạy như hai giả định trên, câu ngôn ngữ được coi là điểm xuất ph á t và điểm kết thúc của một đơn vị dạy tiếng Theo cách này, người
học không có được hoạt động giao tiếpđể phát triển nói - nghe; theo đó không có
điều kiện sản sinh lời nói tự động Đó lù cách dạy tiếng theo hướng thực hành
ngôn ngữ.
c Giả định một bùi đọc - chủ đé (Tham quan, thăm hỏi, ăn uống, chào hỏi ) - chủ
để thường do một từ ngữ nào đó của tên gọi bài đọc biểu đạt - gồm một sô đoạn
vãn - chủ điểm-, trong đó có nhiều cáu liên kết với nhau mà mỗi cáu có thê chứa
đựng một tình huống giao tiếp Chẳng hạn: câu - ngôn ngữ Khoa Tiếng Việt có
rất nhiều sinh viên nước ngoài ( ).
Nội dung thông báo của câu - ngôn ngữ này chỉ truyền đạt một sự kiện có thật theo nhận định của người nói (người viết) Đó là một thông báo hiển ngôn, nghĩa của câu được xác định theo nghĩa - từ điển của từ ngữ trong cảu cùng với những quy tắc ngữ pháp Nhưng, người nói không chỉ “thông báo” mà khi nói
ra, viết ra thông báo hiển ngôn ấy, người nói còn nhằm (hàm ý) cho người nghe,
(người đọc) có một hành động (hình thành trong tư duy hoặc bộc lộ bằng từ ngữ) thích ứng với sự kiện được tiếp nhận Hoặc, cũng không loại trừ trường hợp:
Người nói (viết) truyền đạt (thông tin) một sự kiện như trên nhằm khẳng định một nhận xét của mình theo nghĩa “sơ sánh" (số lượng sinh viên người nước
ngoài học tại khoa Tiếng Việt và số lượng sinh viên người nước ngoài ở một cơ
sở đào tạo khác); hoặc khẳng định sự kiện với hàm Ý: vui mừng khen ngợi tán
dương
Trang 13Như vậy, một câu ngôn ngữ hiển ngôn như trên tiểm ẩn trong nó không phải
một sự kiện mà nhiều sự kiện khác kéo theo từ góc độ người nói (viết) và người
nghe (đọc)
Những sự kiện tiềm ẩn sau sự kiện hiển ngôn đã sơ lược để cập đến ở trên,
chính là những nguyên cớ khởi độngcho một hoạt động lời nói của người nói (viết) hoặc người nghe (đọc) nảy sinh Nó là điểm xuất phút của quá trình hình
thành lời nói dưới góc độ ngôn ngữ - tâm sinh lý Dạy tiếng theo hướng thực
hành giao tiếp là cách dạy tạo ra hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, trên cơ sở xây dựng những nguyên cớ cho hoạt động giao tiếp được sản sinh Trong
chương hai, chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này
1.6 Để tài này liên quan đến các lĩnh vực khoa học tiếp cận: phương pháp dạv tiếng,
cơ sỏ ngôn ngữ, tâm sinh lý của việc dạy tiếng; dạy íiếng theo quan điểm giao tiếp Tiếp cận và giải quyết đề tài đòi hỏi phải có kiến thức về những lĩnh vực đó.
Trang 14CHƯƠNG HAI
CÂU GIAO TIẾP
ĐƠN VỊ DẠY TIẾNG Tốl THlỂU
-II 1 QUÁ TRÌNH SẢN SINH LỜI NÓI T ựĐ Ộ N G
I l.l.a Bất cứ quá trình đào tạo ngoại ngữ nào cũng hướng đến ba mục tiêu:
- Dạy ngôn ngữ: Dạy từ ngữ, ngữ pháp dưới góc độ thực hành tiếng.
- D ạy hình thảnh lời nói: Dạy cách hình thành và diễn đạt lời nói để bầy tỏ
tư tưởng, tình cảm của mình
- Và, dạy cách tổ chức hoạt động lời nói: Dạy những kỹ năng ngoại ngữ
(nói, nghe, đọc, viết) được sử dụng trong giao tiếp dưới hình thức hội thoại, đàm thoại
Ba mục tiêu này được quán triệt không chỉ trong suốt quá trình đào tạo ngoại ngữ mà trong mỗi bài học tiếng Chúng có quan hệ hữu cơ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau
Dạy ngôn ngữ được thể hiện trong lời giảng và các bài luyện tập cơ giới
Dạy hình thành lời nói và tổ chức hoạt động lời nói cho người học là tạo ra những hoạt động giao tiếp, môi trường ngoại ngữ để người học có điều kiện “ sản sinh lời nói tự động” Bởi lẽ, học ngoại ngữ là một quá trình tích luỹ kiến thức - ngoại ngữ và vận dụng nó trong giao tiếp
Phụ thuộc vào mục đích đào tạo của từng giai đoạn đào tạo, các dạng hoạt động lời nói (nói, nghe, đọc, viết) được quan tâm không đồng đều
Trong giai đoạn đào tạo cơ sở (năm thứ nhất - bậc cơ sở), dạng thức nói - nghe của hoạt động lời nói được ưu tiên Trong những năm học tiếp theo (bậc nâng cao, hoàn thiện) dạng thức viết, đọc - hiểu được chú ý nhiều hơn Sự phân định này có tính chất tương đối, nhưng nó cần cho việc tổ chức hoạt động lời nói trong từng giai đoạn đào tạo
Trang 15Đương nhiên, đối với những khoá học ngoại ngũ với mục đích riêng (dịch thuật, nghiên cứu về một chuyên ngành nào đó ), rnục tiêu đào tạo như đã đề cập đến, sẽ thay đổi Sử dụng tốt một ngoại ngữ để giao tiếp, trong một chừng mực nào đó, đổng nghĩa với nói năng lưu loát Mà muốn nói được, cần nghe được (12) Điểu đó nói lên vai trò quan trọng của nói - nghe trong quá trình đào tạo ngoại ngữ Ba mục tiêu dạy học ngoại ngữ như trên phản ánh mối quan hệ tất
yếu giữa lời nói và ngôn ngữ.
Il.l.b Đối với người học, quá trình học tiếng là quá trình thực hiện hai nhiệm vụ
chiến lược Tiếp thu và sản sinh ỉa lời nói.
Tách riêng quá trình sản sinh lời nói và để xem xét, chúng ta sẽ thấy 4 yếu
tố tham gia vào việc hình thành lời nói Đó \à: Nguyên cớ, dinh hướng, lựa chọn
và tự kiểm tra\ trong đó yếu tố sau cùng thường “bỏ qua” khi người nói dùng dạng thức nói trong hoạt động lời nói.
Một lời nói chỉ hình thành khi có nguyên cớ Nguyên cớ là cái kích thích, thúc giục hoàn thiện hành động (hoạt động) nào đó Thuật ngữ nguyền cớ ( MOTM0 ) được dùng “không đê chỉ sự kích thích một nhu cầu mà để chỉ cái thuộc về thực thể khách quan, trong đó nhu cầu được cụ thể hoá trong những điểu kiện khách quan đó, nhằm hướng đến hành động (hoạt động) cũng như hướng đến việc kích thích cho hành động nảy sinh”íl3)
Người học sẽ không nói gì (viết gì) khi tự thân họ không có nguyên cớ Vì
thế, muốn khích lệ người học “cần nói hoặc cần viết”, không thể không tạo ra
(“bày đặt” ra) nguyên cớ nào đó Trong một buổi học tiếng thực hành theo quan
điểm giao tiếp, nguyên cớ để người học sản sinh ra lời nói tự động chính là
những tình huống nói năng “cớ thật" được người dạy xây dựng từ nội dung của bài học tiếng, hoặc thậm chí là những tình huống nói năng "giả định” được
112 * Fries Ch : Dạy rờ học tiêng Anh như một ngoại ngữ Bản dịch của khoa Tiếng Việt
1976
<13 M A >A-A-vlemUefr Đậc điểm tám /v khj hát âủit hoc n^oai fì^ ữ Trong
cuốn: Nhữỉig vun đê clạy học tiếng Ngu cho người nước ngoài Nxb “Tiếng Nga”, M
1975, tr 31
Trang 16người dạy tạo thành theo ý đồ của mình nhầm hình thành một nguyên cớ (giả
định có thật)
Thí dụ 1: Nguyên cớ “gid định”.
Trong một bài học nào đó, cần luyện cho người học dùng kẽt câu “không
th ể không + động từ ' và “vì nên ”, nguyên cớ để kích thích lời nói của người
học được tạo ra bởi lời giới thiệu tình huống nói năng của người dạy như sau:
M ột bà giả mắt kém muốn sang đường Trên mặt đường xe cộ qua lại rất đông Bà dường như không thể qua đường một mình M ột em nhỏ đi qua.
C hỉ lệnh:
- Hãy đóng vai bà già và em nhỏ, đặt một đối thoại, trong đó vân
dụng các kết cấu đã cho
- Hoặc, người học A đóng vai hà già, B - em bé, thực hành một đối
thoại với kết cấu đã cho
- Hoặc, kế lại tình huống (hoàn cảnh) của bù giả hiện tại Cho biết vì
sao bà già qua đường được? dùng các kết cấu đã cho
Nguyên cớ giả định này được tạo ra bởi người dạy nhằm tạo ra hoạt động giao tiếp cho người học vận dụng kết cấu ngôn ngữ như trên
Thí dụ 2: Nguyên cớ “có thật”.
Hầu như bài đọc, bài hội thoại nào trong một bài học tiếng đều có nguyên
cớ Nguyên cớ đó thường là chủ đề hoặc chủ điểm của bài đọc, bài hội thoại và
được hình thành do một số từ ngữ trong tên gọi của bài đọc, bài hội thoại Người dạy chỉ cần xây dựng một hoạt động giao tiếp dựa trên những chủ đề, chủ điểm ấy
Nguyên cớ mới chỉ là xuất phát điểm của một hoạt động Không có nó, không
sản sinh ra lời nói Từ “nguyên c ơ \ người nói định hướng cho lời nói của mình
Định hướng là cãi V cụ thể được nảy sinh trong tư duy của người nói thích ứng
với nguyên cớ đã có Nguyên cớ có thế chỉ là một Nhưng, người nói định hướng
cho lời nói của mình từ nguyên cớ đó, thì không phải là một, mà nhiều hon
Chẳng hạn Nguyên cớ\ " muốn qua đường của bà g ia ' có thể có các định
Trang 17hướng cho lời nói: hoặc bà già nhờ em bé dắt qua đường; hoạc nhờ cô giáo dắt
qua đường; hoặc nhờ công an dắt qua đường, v.v
Các định hướng đó nảy sinh trong tư duy người nói khi họ tiếp nhận một
nguyên cớ, là tất yếu Nhưng, sự tạo thành lời nói của từng nhân vật trước thực tế
khách quan đó còn phụ thuộc vào vốn ngôn ngữ (từ ngữ, câu, cách tạo câu ) vào
trình độ văn hoú, học vấn của chính người nói, chẳng hạn:
- Cháu (chỉ em bé) làm phúc dắt bà qua đường mấy cháu!
- Mắt bà kém, bà muốn qua đường!
- Khổ thân tôi, xe cộ thế này qua đường sao được!
- Anh (công an) dắt tôi qua đường một tí!
- Làm ơn cho tôi qua đường! v.v
A.A c {r đã tinh tế phân biệt ranh giới nét nghĩa của từ “v
nghĩa" trong lời nói: “Nghĩa của từ là cái sẩn có, in dấu đậm nét trong tư duy
của bất cứ ai trong một cộng đổng dân tộc Cái nghĩa đó có trong từ - từ điển” Y của từ là cái làm cho nghĩa - từ điển của từ trở thành nghĩa riêng của cá nhân -
người nói Chính nó là mối liên hệ giữa động cơ, mục đích, thái độ, tình cảm
của người nói trước hiện thực do từ - từ điển phản ánh Ý là phưomg thức đưa
nghĩa của từ vào tâm lý của người sử dụng từ trong giao tiếp” " 41.
Trong thòi điểm cực ngắn để định hướng cho lời nói, người nói chưa gắn nội dung của lời nói với cách biểu đạt (chuyển tải) nội dung đó Thực ra trong tư
duy của họ mới nảy sình biểu tượng khái quát về nội dung lời nói; mới xuất hiện những từ ngữ ròn rạc, riêng biệt Các từ ngữ này chỉ được kết hợp với nhau ở bậc
cú pháp nhờ quá trình tiếp theo Đó là quá trình lựa chọn phương thức biểu đạt
lời nói
Quá trình lựa chọn này hoàn toàn phụ thuộc vào trình độ ngoại ngữ của
người học Đối với người bản ngừ, quá trình này là quá trình tự động, bởi lẽ
những dấu ấn ngôn ngữ (từ, ngữ, cú pháp) đã có sần trong tư duy của họ Nhưng,
(I4' A.A t iecrHTẻeị' : Những đơìt vị tâm lý ngôn ngư vù sản S I nh lời nói Nxb “tiếng Nga”
M, 1969, tr 29
Trang 18đối với người học ngoại ngữ “chất liệu ngoại ngữ ” áy đang ẩn trong trí nhớ Cần
tìm kiếm cái biểu đạt thích hợp cho nội dung lời nói Trong sự tìm kiếm đó,
trước hết, nảy sinh sự liên tưởng, so sánh, đối chiếu từ ngữ, phương tiện cú
pháp của tiếng mình đắc thụ với tiếng mẹ đẻ Hiện tượng “giao thoa" ngôn ngữ xảy ra chính trong bưốc đầu tìm kiếm này Cuối cùng, họ cũng có được một
số từ ngữ, phương tiện cú pháp của tiếng nước ngoài để chuyển tải nội dung của
lời họ muốn nói, cho dù đó là những từ - từ điển; những mẫu câu với những kết cấu cú pháp có tính hàn lâm mà họ đã tiếp thu được trước đó.Tại thời điểm lựa
chọn này, người học tiếng mới chỉ biết cách hình thành lời nói Tiếp theo, họ
cần diễn đạt lời nói sao cho phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp Như vậy, muôn
hoàn thiện lời nói của mình, người nói không chỉ biết lưa chọn cái đúnạ (chất liệu ngôn ngữ) mà còn phải tìm kiếm cái thích hợp (cách diễn đạt hợp với môi
trường giao tiếp)
Giai đoạn tự kiểm tra, như đã nói, trong dạng thức nói-nghe của hoạt động
lời nói, ngưòi nói không đủ thời gian để tự kiểm tra Giai đoạn này chịu sự chi phối của hai điểu kiện: thời gian và trình độ ngoại ngữ của người học Trên lớp học tiếng, người dạy có thể đoán định trước những gì sai sót trong lời nói của
những ngưòi học để giúp họ kiểm tra.
Dưới góc độ tâm lý - ngôn ngũ, một lời nói trong hoạt động giao tiếp được
hình thành chủ yếu từ hai “giai đoạn”: Định hướng và lựa chọn Điểu quan tâm
ở đây là hai giai đoạn tổn tại trong tư duy của người nói ấy, chỉ có thê xảy ra sau
khi người nói nhận biết được nguyên cớ Nói cách khác, nguyên có lù mộ! trong
những yếu tố quan trọng trong hoạt động giao tiếp.
II.2 CÂU NGÔN NGỮ CHAT LIỆU TẠO THÀNH CÂU GIAO TIẼP
-Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp của xã hội loài người Phương tiện đó được thể hiện dưới một trong hai hình thức âm thanh hoặc chữ viết Dạy tiếng Việt thực hành giao tiếp đồng nghĩa vói việc cấp cho người học phương tiện giao tiếp bằng ngôn ngữ tiếng Việt
Trang 19Cũng như bất cứ hệ thống ngôn ngữ nào khác, ngôn ngữ tiếng Việt có nhiều
đơn vị Nhưng, không phải bất cứ đơn vị nào của ngôr) ngữ cũng đảm nhiệm
được chức nãng trong giao tiếp Chỉ có cáu - ngôn ngữ, bởi lẽ như đã khăng định: câu là đơn vị thông báo Nhưng phải chăng câu - ngôn ngữ chính là câu -
giao tiếp ? (15) Câu trả lời đích thực chỉ có thể có sau khi tìm hiểu đặc điểm cơ
bản của câu -ngôn ngữvầ phút ngôn-.
11.2 1 C ả u - n g ô n ngữ
Trong các công trình nghiên cứu về ngữ pháp tiẽng Việt, hầu như các nhà
nghiên cứu đều cho rằng câu là đơn vị cú pháp có tổ chức bậc cao Chức năng của câu là chức năng thông báo, bởi lẽ câu có nội dung ngữ nghĩa hoàn chỉnh Nhưng, trong quãng nửa thế kỷ trở lại đây, khi ngữ pháp văn bản ra đời thì cảu
chưa hẳn là đơn vị ngữ pháp bậc cao “Ngữ pháp văn bản với nhiệm vụ nghiên cứu các vấn để ngữ pháp thuộc cấp độ trên câu, để tạo ra một đơn vị cú pháp lớn
hơn câu Đạc trưng của đom vị này là liên kết các câu theo chủ đề con để tạo thành một chỉnh thể’' (l6).
Nội dung - ngữ nghĩa của câu thường được hiểu là sự truyền đạt về hiện thực
của người nói (người viết) mà trong đó bao hàm cả mối quan hệ của người nói (
viết) với hiện thực Mối quan hệ này được gọi là thuyết tính Nhờ thuyết tính mà
câu (xét theo cấu tạo) phân định được với những đơn vị cú pháp khác như ngữ, cấu tạo chủ - vị Theo đó, câu có chức năng thông báo, còn các đon vị cú pháp
khác có chức năng đinh danh.
Cứu - ngôn ngữ tạo thành do các từ liên kết với nhau trên cơ sở ngữ nghĩa
lôgic “Câí/ là đơn vị dùng từ hay nói đúng hơn dùng ngữ mà cấu tạo nên trong
tl? 1 Thuật ngữ “câu - ngôn n g ữ ' không mang tính khoa học mà chí là tên gọi để làm việc, phân biệt với câu - giao tiếp.
116' Trần Ngọc Thêm, Nguyễn Quang Ninh và Nguyền Trọng Báu: Ngữ pháp văn bản vù
việc dạy van, H, 1995, tr 9.
Trang 20quá trình tư duy, thông báo; nó có nghĩa hoàn chỉnh, có cấu tạo ngữ pháp
và có tính độc lập” <l7)
Cách xác định bản chất của câu như trên mới chỉ đặt câu trong mối quan
hệ ngôn ngữ và tư duy Theo đó, tínhâộc lập của câu mới chỉ là độc lập trong tư duy của người nói Và, chức năng thông báo của câu được hiểu là
một thông tin của sự kiện nào đó mà nó được đưa ra (nói ra, viết ra) qua nhận biết (tư duy) của người nói (viết) Thông tin về một sự kiện nào đó là
việc của người nói (viết), còn việc cảm nhận, đánh giá, sự kiện đó để có
một hành động thích ứng với sự kiện đó là việc của người nghe (người đọc) Theo cách hiểu này, câu - ngôn ngữ tự nó không có chức năng giao tiếp.
I I 2.2 P h á t n g ô n
Phút ngôn thường được nhìn nhận như biến th ể của cáu - ngôn ngữ
“Khái niệm ph á t ngôn không phủ định khái niệm câu Nói chung, phát ngôn được xây dựng trên câu Không có cáu thì không có ph á t ngôn Tuy nhiên, câu không trùng với phút ngôn" Một cáu có thể ứng với một sô
p h á t ngôn |IS1.
Hoặc:
“ Nếu xét ở góc độ hệ thống cấu trúc thì câu là cái trừu tượng, còn p h á t
ngôn ỉà cái cụ thể, cáu là bất biến thể, p h ú t ngôn là biến thể, các phát ngôn
làm chức năng hiện thực hoá các mô hình cú pháp của cứu, đồng thời là phương thức tồn tại của mô hình đó Đến lượt mình, câu vừa thuộc bình diện ngôn ngữ vừa thuộc bình diện lời nói, còn p h ú t ngôn là thuộc vào bình
diện lời nói” ,l9)
' I7 1 Uỷ ban khoa học xã hội Việt Nam: Ngữ pháp tiếng Việt Nxb Khoa học Xã hội H
Trang 21“P h á t ngôn là đơn vị giao tiếp của lời nói Nó có thể tương ứng với câu -
từ, câu m ột thành phẩn, cáu đơn, cảu đơn có ph ầ n dư, câu trung giun, câu phức có liên từ vả càu phức không có liên từ Phát ngôn gắn liền với ngữ
cảnh và có thông báo nhất định “ (20>
Những quan niệm về phát ngôn trên cho thấy: P hát ngôn thuộc về bình diện lời nói cá nhân trong giao tiếp, còn câu - ngôn ngữ được nhìn nhận
như mô hình cú pháp trừu tượng Trong tiềm thức của người sử dụng ngôn
ngữ, câu - ngôn ngữ là chất liệu của p h ú t ngôn, là “cơ sở để theo đó mà tạo
ra những phát ngôn khác nhau” (21)
Tóm lại:
- Câu ngôn ngữ và phứt ngôn được xem xét dưới hai bình diện khác
nhau: Ngôn ngữ và lời nói
- Cả hai đơn vị này đều có chức nâng thông báo.
- Dưới góc độ cấu trúc, có thế mô hình hoá cấu tạo của các kiểu cáu -
ngôn ngữ Nhưng không thê xác lập được mô hình cấu tạo của các kiếu phát ngôn Nói cách khác mô hình cấu tạo câu - ngôn ngữ không trùng với
mô hình cấu tạo của phát ngôn
- Nội dung thông báo của một câu ngôn ngữ có thể ứng với nhiều phát ngôn tuỳ thuộc vào cá nhân người nói, vào tâm sinh lý, trí tuệ, vãn hoá của người nói trong hoàn cảnh giao tiếp cụ thể
II.3 CÂU GIAO TIẾP
II.3.1 K h á i niệm.
D ưới góc độ dạy tiếng thực hành giao tiếp, cáu giao tiếp ì à m ộ t hoạt động giao tiếp có đinh hướng mà trong đó các đối tác tham gia dùng chất
':0) Nguyễn Chí Hoà: Tóm tắt luận án PTS '‘Phút nạôn như là một dơn vị giao tiếp tro/iíỊ
ỉiêhiỊ Việt hiện dụi”, 1992.
Trang 22iiệu ngôn ngữ đ ể biểu đạt suy nghĩ, tư tưởng, tình cảm của mình theo hướng
đ ã xác định N ó là điều kiện cho người học rèn luyện kỹ năng ngoại ngữ (nói, nghe, đọc, viết) N ó là m ột đơn vị dạy tiếng tối thiểu không sẵn có Định hướng của hoạt động giao tiếp chỉ có thể có khi môi trường giao tiếp
nảy sinh ra một nguyên cở nhằm kích thích đối tác cùng tham gia vào hoạt
động đó
Trong khuôn khổ của bài học tiếng, nguyền cớ chính là những chủ đề, chủ
điểm, mục đích giao tiếp mà người dạy xây dựng từ nội dung bài học tiếng; từ
những từ ngữ, hiện tượng ngữ pháp đã được quy định trong bài học
Chủ để, chủ điểm là cái trục liên tưởng từ ngữ, kết cấu cú pháp trong tư duy của người nói
Trong các dạng hoạt động giao tiếp, dạng nói - nghe giữ vai trò chủ chốt, nhất là ở giai đoạn đào tạo năm cơ sở Trong những năm tiếp theo, nói có thể được phát triển và hoàn thiện do ảnh hưởng của dọc, viết và nghe
N ghe - nói trong vòng khép kín của một lời thoại (đối - đáp) tuy là hai dạng
nhưng “chập m ộ t” , bởi người nghe cũng chính là người nói Đ ọc và viết có ảnh hưởng tích cực đến nói và nghe Ngược lại, nói - nghe cũng có tác dụng tích cực đến viết và đọc Người nói bắt đầu học tiếng tựa như những trẻ em
“ học n ó i” Thoạt đầu, những đứa trẻ tiếp nhận lời nói của những người chung quanh và học nói Đến trường, các em học đọc, học viết Chỉ khác
nhau ở chỗ: trẻ em tiếp nhận vô thức và học nói vô thức, còn người mới bắt
đầu học ngoại ngữ thì “riếp nhận" và “học n ó i” có ý thức.
Tác động qua lại giữa các dạng kỹ năng /7ói, nghe, đọc và viết trong các
bậc đào tạo có thể hình dung như sau:
(21 ' Diệp Quang Ban: Cấu tạo của câu đơti tiêng Việr Trường Đại học sư phạm Hà Nội
1984, tr 12
Trang 23Giai đoạn (I) (bậc cơ sở)
Giai đoạn tiếp theo (II) (bậc nâng cao, hoàn thiện)
M ũi tên lớn: Chỉ ảnh hưởng tích cực (tác động lớn) của một dạng hoạt động lời
nói đến dạng khác
M ũi tên nhỏ' Chỉ ảnh hưởng (tác động) phụ của một dạng hoạt động lời nói đến
dạng khác
11.3.2 Y êu tố tạo th à n h câu giao tiếp.
11.3.2.a Con người không chỉ dùng chất liệu ngôn ngữ để trao đổi tư tường, tình cảm với nhau mà còn dùng nó để tư duy Người học ngoại ngữ dùng ngoại ngữ
để giao riếp vói đôi lác có cùng phương tiện và cùng một mục đích giao tiếp
Đôi tác đó có thể là người đối thoại, đàm thoại với mình, có thể là vãn bản bằng
ngoại ngữ mà họ đắc thụ Như vậy, muốn có giao ĩiép, ít nhất phải có một kênh
giao tiếp Kênh giao tiếp được hình dung như sau:
(Người nói hoặc người viết) (Người nghe hoặc người đọc)
Trang 24Trong hoạt động giao tiếp, nếu chi có một đối tác hiện diện mà đối tác khác
vắng mặt thì hoạt động giao tiếp xảy ra là hoạt động giao tiếp một chiều\ được
gọi là câu giao tiếp khép Ngược lại, cả hai đối rác cùng hiện diện, chúng ta có cảu giao tiếp mở.
Hoạt động giao tiếp dưới dạng đọc, viết là hoạt động theo câu giao riếp khép Hoạt động giao tiếp dưới hai dạng còn lại là hoạt động theo cáu giao tiếp mỏ Trong dạy - học tiếng, câu giao tiếp mỏ là điều kiện tối ưu để người học, người
dạy thực hiện mục tiêu dạy tiếng
Cáu giao tiếp mỏ được kết thúc khi hai đối tác cùng đạt đến mục đích giao tiếp.
II.3.2.b Mục đích giao tiếp mà cả hai đối tác trong hoạt động giao tiếp cùng đạt đến
là dấu hiệu kết thúc của càu giao tiếp Câu giao tiếp được tạo thành ít nhất có
một kênh giao tiếp
Chẳng hạn:
(1) Đối tác A: Hà ơi, xong chưa?
Đôi túc B : Rồi, đi đi!
Câu giao tiếp này đựơc tạo thành bởi một kênh giao tiếp mở
(2) Đối tác A: Hà ơi, xong chưa?
Đối túc B : Chưa, chờ một lát!
Đôi túc A: Sao lâu thế ?
ĐÔI tác B : Còn bơm xe cái đã! chờ một lát!
Câu giao tiếp (2) đựợc tạo thành bởi 2 kênh giao tiếp
Trong câu giao tiếp (1), mục đích giao tiếp của hai đối tác là xúc định thời điểm
kết thúc hành động Trong câu giao tiếp (2), mục đích - giải trình lý do chậm trễ.
Cốt lõi của hai sự kiện trong hai câu giao tiếp là khác nhau Với câu giao
tiếp (1) giá trị ngôn trung (22), trọng tâm của lời đối đáp do nghĩa dụng của từ
"rồi" biểu đạt; câu giao tiếp(2) do câu nghi vấn\ “Sao Ỉâỉt t h ể ’ biểu đạt.
°-2 ’ Cao Xuân Hạo (chủ biên): Ngư pháp chức năng tiếng Việt (quyển 1) Nxb Giáo due H
1998
Trang 25Một hoạt động giao tiếp chỉ có thể xảy ra khi cả hai đối tác cùng hướng đến
một mục đích giao tiếp và cùng đạt được mục đích ẩy Câu giao tiếp được nhận
diện bằng mục đích giao tiếp và sự kết thúc của mục đích giao tiếp
II.3.2.C Chất liệu ngôn ngữ là phương thức biểu đạt của câu giao riếp Chất liệu đó được hiện thực dưới dạng âm thanh hoặc chữ viết Với dạng âm thanh, cả hai
đối tác cùng hiện diện trong hoạt động giao tiếp Với dạng chữ viết - chỉ một trong hai Câu giao tiếp được thực hiện bằng phương tiện âm thanh là loại câu giao tiếp mở; bằng phương tiện chữ viết - câu giao tiếp khép
Trong khuôn khổ của một bài học tiếng, biên độ của câu giao riếp khép, hoặc câu giao tiếp mở được hạn định rõ hơn nhiều, cụ thể hơn nhiều Một bài hội thoại trong bài học tiếng được coi như một câu giao tiếp mở Bởi lẽ: hai đối
túc (nhân vật hội thoại) đã xác định, chú đê (mục đích giao tiếp) và kết thúc chủ
để giao tiếp (được đánh dấu bằng kết thúc của bài hội thoại), đã rõ ràng và cả hai đối tác đểu trực tiếp tham gia vào môi trường giao tiếp Một bài đọc (Text) của
bài học tiếng được coi như một tập iìỢỊ? của nhiều cáu giao tiếp khép Bởi lẽ, nếu bài đọc đó là một chủ đê thì hẳn rằng trong đó gổm nhiều chủ điểm Mỗi chủ điểm là một cảu giao tiếp khép.
Một bài luyện (Drill) trong bài học tiếng có thể là một bài luyện cơ giới hoặc bùi luyện phút triển kỹ năng ngoại ngữ cho người học Trong trường hợp sau, bài luyện có thể được thực hiên trong hoạt động giao tiếp, tức bài luyện được tiến hành dưới hình thức hội thoại Theo đó, bài luyện là một cảu giao
tiếp mở.
Tóm lại, câu giao tiếp được cấu tạo gồm các yếu tố sau đây:
1 Đôi tác “Nhân vật" tham gia vào hoạt động giao tiếp Khái niệm về
“nhân vật” được hiểu theo nghĩa: người nói- người nghe; hoặc người viết - người đọc
Các đối tác cùng chung một mục đích giao tiếp và sự kết thúc của mục
đích đó
2 M ục đích giao tiếp Chủ đề hoặc chủ điểm mà hoạt động giao tiếp
hướng tới
Trang 263 Phương thức biểu đạt: Chất liệu ngôn ngữ dưới hình thức âm hoặc
chữ viết.
II.3.3 P h ả n loại câ u giao tiếp.
Việc phân loại câu giao tiếp dựa trên sự hiện diện của các đối tác tham gia
trong hoạt động giao tiếp Nếu cả hai đôi tác cùng hiện diện thì có câu giao tiếp mở Ngược lại, nếu chi có một - câu giao tiếp khép Sự phân loại này tuy có tính hình
thức, nhưng nó lai cần cho việc tổ chức hoạt động giao tiếp Đối với việc dạy - học
tiếng, trong một tiến trình của một bài học, hai loại hình câu giao tiếp trên cần được
quan tâm Có thể chuyển câu giao tiếp khép thành câu giao tiếp mở và ngược lại
Một vài thí dụ về câu giao tiếp:
A Sao mày biết là chết ?
B Dạ, bẩm, con hỏi thăm ạ
• 1 Tuổi dưới 30
2 Tốt nghiệp đại học Y, Dược, Nha khoa
3 Thông thạo tiếng Anh hoặc tiếng Pháp
4 Có hộ khẩu thường trú tại Hà Nội Nộp hổ sơ trước ngày 15-10-1994
Trang 27Địa chỉ liên hệ: Công ty dược phẩm Hổng Thuý 82 Thợ Nhuộm Hà Nội (giờ hành chính).
(Hà N ội mới ngày ]4 /7 /ỉ 994) Câu giao tiếp khép trên gồm có các kênh giao tiếp được xác lập trên cơ sở
mục đích giao tiếp sau đây
- Ai làm gì ?
- Tiêu chuẩn gì ?
- Hạn nộp hồ sơ ?
- Địa chi liên hệ ?
Trong đó có 3 cảu ngôn ngữ.
Mục tiêu của việc dạy - học tiếng như đã xác định (xem II 1 a) không có gì khác là tập luyện cho người học sản sinh lời nói tự động nhờ vào tri thức và chất liệu ngôn ngữ; vào những kỹ năng ngoại ngữ đã thành thói quen trong hoạt động giao tiếp, Để có thể đạt được mục đích lý tưởng đó, trong quá trình dạy - học ngoại ngữ cần quán triệt một số luận điểm sau đây:
1 Dạy - học ngoại ngữ được bắt đầu bâng dạy nghe, dạy nói Đó là hai dạng kỹ năng cần có trước, ảnh hưởng trực tiếp đến việc rèn luyện kỹ năng đọc, nói.
2 Đơn vị dạy tiếng không phải là câu - ngôn ngữ mù ỉ ù cáu giao tiếp Chỉ có câu giao tiếp mới bảo đảm được hiệu quả tối đa cho việc rèn luyện hai kỹ năng ngoại
ngữ
3 Muốn tạo lập được câu giao tiếp, cần có nguyên cớ (mục đích giao tiếp) Nguyên
cớ được coi như tiền giả định cho hoạt động nói năng Trong dạy - học tiếng,
nguyên cớ ]à chủ đề, chủ điểm của các bài hội thoại, bài đọc có trong bài học
tiếng Nguyên cớ là mục đích, động cơ khích lệ người nói tham gia vào hoạtđộng giao tiếp
4 Câu giao tiếp đựoc đánh dấu bằng mục đích giao tiếp và sự kết thúc của mục
đích dó mà các đối tác tham gia vào hoại động giao tiếp cùng hướng tới Có cân giao tiếp khép và cáu giao tiếp mở.
5 Chất liệu ngôn ngữ (từ, ngữ, câu, các đơn vị cú pháp) cùng với kiến thức ngôn
ngữ dưới góc độ thực hành tiếng là phương thức biểu đạt của cảu ụ a o tiếp.
Trang 28Phương thức này hiện thực trong hoạt động giao tiếp hoặc bằng ám thanh ngôn ngữ hoặc bằng chữ viết (ký hiệu ghi âm thanh) Sự hiện diện của các đối tác -
một trong những yếu tố tạo thành câu giao tiếp - quy định dạng thức thể hiện của phương thức biểu đạt và loại hình câu giao tiếp
6 Câu giao tiếp là đơn vị dạy tiếng tối thiểu Nó không sẵn có Việc tạo lập, xây
dựng câu giao tiếp là công việc của người dạy tiếng Nó hiện diện trong quá trình dạy - học tiếng nhằm đạt được mục tiêu dạy tiếng như đã xác định
Trang 29tộc (Humbon) Theo đó, tiếng Việt có đặc điểm riêng, rất riêng của nó Đề cập
đến câu giao tiếp với tư cách là một công cụ giao tiếp, không thể không tìm hiểu
những đặc điểm của cách dùng hư từ, cách cấu tạo câu ngôn ngữ trong việc tạo thành câu giao tiếp Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp quan trọng nhất của loài
người Con người dùng ngôn ngữ để trao đổi tư tưởng, tình cảm với nhau, và quan trọng hơn, đê tổ chức toàn bộ cuộc sống của mình trong xã hội Các đơn vị ngôn ngữ (âm vị, hình vị, từ, ngữ, câu) tạo thành tính hệ thống của ngôn ngữ, trong đó
chỉ có một đơn vị duy nhất ỉà đơn vị có cấu tạo cô định và sẫn có Đó là từ Đơn vị
cảu tuy có chức năng thông báo nhưng vẫn là đơn vị không c ố định, không sẵn
có, cho dù chỉ có cáu mới tham gia vào hoạt động giao tiếp Câu - ngôn ngữ được
tạo thành do các từ liên kết với nhau theo những quy tắc ngữ pháp nhất định thông
qua tư duy của người nói (người viết) Nó chỉ đưa ra một nhận đinh vể hiện thực khách quan mà người nói “nhận biết” thông qua tư duy của mình; hoặc đưa ra một
suy nghĩ, tình cảm của thế giới nội tâm của chính họ Nói cách ngắn gọn, câu -
ngôn ngữ thông báo một sự kiện Sự kiện được thông báo đó vô cùng đa dạng,
phong phú trong thế giới tự nhiên và xã hội Cách thông báo một sự kiện có thật
nào đó trong một thời điểm nhất định lại phụ thuộc vào trình độ ngôn tigữ của người nói (viết) và quan trọng hơn phụ thuộc vào nguyên cớ làm nảy sinh ra lời
nói Vì vậy, trong ngôn ngữ, người ta phân định rạch ròi loại câu cấu tạo theo loại
câu được cấu tạo hoàn toàn theo miêu tả hình thức Nhà nghiên cứu ngôn ngữ sẽ phân định âm [u] trong tiếng Việt theo nhiều góc độ ngôn ngữ : úm vị, hình vị, từ
và câu Điều đó là một thực tế của ngôn ngữ, bởi lẻ ngôn ngữ là một khoa học mà
Trang 30“dường như quan điểm tạo ra đối tượng” (23) Người nghiên cứu tự ước định cho một nguyên tắc phân loại.
Giả định rằng âm [u] trong tiếng Việt với nghĩa', “người đàn bà có con, trong
quan hệ với con”, được đưa vào hoạt động giao tiếp thì:
Hoặc là: ( ) u?
Hoặc là : ( ) u!
Hoặc là (chính) u
Một âm |u] bé bỏng, dưới con mắt của nhà ngôn ngữ sẽ là úm vị “u”; hình ri
“u” (trong từ u ám)-, sẽ là ảm tiết u\ là từ “ u” thậm chí là câu (trong 3 dẫn dụ
trên) Dưới góc độ dạy tiếng thực hành, các chất liệu ngôn ngữ “u” ấy chỉ có thể
xem xét như một từ, hoặc một câu ngôn ngữ.
Chẳng hạn:
A Sao sự việc lại đến nông nỗi này? u ? u làm khổ con!
B Thôi, con! chính u u có lỗi với con!
A U! u \ Con biết làm sao đây?
B Số phận mà con!
2 Không thê và không bao giờ có được một danh mục khổng lo về các tình huống
nói nãng trong các hoạt động giao tiếp bằng ngôn từ mà trong đó các kiểu câu giao tiếp hiện diện Vì thế, việc tìm hiểu đặc điểm câu giao tiếp - nói đúng hơn, đặc điểm cấu tạo câu giao tiếp - không thể nào khác là tìm hiểu một trong những yếu tố tạo thành câu giao tiếp Đó là chất liệu ngôn ngữ với tu cách là phương thức biểu đạt của loại câu này Mà, như đã trình bày ở trên, chất liệu ngôn ngữ
có thế tham gia vào hoạt động giao tiếp là câu - ngôn ngữ với chức năng thông báo của nó
Dưới góc độ giao tiếp, các loại câu - ngôn ngữ chia theo mục đích nói nàng:
cãu rườỉìg thuật, câu cưu khiển, câu biểu cảm và câu nghi vấn, đều biểu đạt
“nhận đ ị n h về sự kiện khách quan (sự kiện có thực trong cuộc sống, hoăc sự
kiện suy luận, tưởng tượng theo tư duy) của người nói (người viết) và phún ứng
tâm sinh lý của chính họ trước sự kiện đó Nhưng cáu - ngôn ngữ có tham gia
1231 F.D Saussure - Sđd, tr 28
Trang 31vào hoạt động giao tiếp hay không còn cần có môi trường giao tiếp mà môi
trường đó lại do “nguyên c ố ' tạo ra Câu - ngôn ngữ, nói tóm lại, với chức nàng
thồng báo của mình bao giờ cũng nhằm tác động đến người nghe (người đọc) có một hoạt động thích ứng với thông tin được tiếp nhận Nếu câu - ngôn ngữ của
đối tác A đưa ra là câu tường thuật thì đối tác B trong hoạt động giao tiếp tại thời điểm nói nâng ấy, chỉ tiếp nhận thông tin, tiếp nhận cái mà đối tác A “nhận
định” về một sự kiện nào đó Nếu câu - ngôn ngữ mà đối tác B tiếp nhận là câu nghi vấn thì thông tin của đối tác A cần được đối tác B tường minh Nếu câu -
ngôn ngữ do đối tác A thông báo cho đôi tác B là một câu càu khiến thì đối tác
B tiếp nhận thông tin đó và có ngay một hành động thích ứng Hành động đó được biểu đạt bằng ngôn từ hoặc bằng hành vi Cũng theo logic này, nếu câu -
ngôn ngữ là câu biểu cảm do đối tác A phát ra thì hoạt động thích ứng được thể
hiện qua giọng biểu cảm, qua hành vi - phi ngôn ngữ ( ẠÌMM 0 KẠ ) của
đối tác B
Tóm lại, theo cách hiểu trên, câu - ngôn ngữ chia theo mục đích nói nâng đủ
tư cách là “một phân t ữ ' (24) chủ yếu trong cấu tạo giao tiếp.
3 Dưói đây, chúng tôi trình bày một số đặc điểm của câu ngôn ngữ trong cấu tạo câu giao tiếp tiếng Việt
III 1 CÂU GIAO TIÊP CÂU KHIÊN (còn gọi là “càu giao tiếp chỉ lệnh, khuyên
ngăn” hoặc “câu mệnh lệnh").
1 Như chúng ta đã biết, ngôn ngữ tồn tại là do các nhu cầu giao tiếp: nhu cầu thông báo, nhu cầu biểu hiện, nhu cầu định danh, nhu cầu phản ánh Đặc thù của mỗi
ngôn ngữ không phải ở cái được biểu hiện mà chính là ở cái biểu hiện.
So với câu rường thuật, câu hỏi thì các dạng thức biểu hiện của cáu giao riếp -
cầu khiển không phong phú bằng Tuy nhiên, nếu tìm hiểu kỹ, cũng có nhiều
vấn đề khá lý thú
124' Thuật ngữ của &ỈÌ' trong Giao tiếp ngôn ngữ vù việc dạy học n\>oại ngữ
Nxb “Giáo dục”, M, 1972, tr 14
Trang 32Việc tìm hiểu các dạng thức biểu hiện của câu giao tiếp cẩu khiến trong tiếng
Việt cũng góp phần quan trọng vào việc tìm hiểu đặc thù của tiếng Việt
Nội dung (hay mục đích) câu giao tiếp cầu khiến nêu lên ý muốn của chủ rhể
phát ngôn (người nói) và yêu cầu người nghe đáp lại bằng hành động Do đó, có thể
nói, câu giao tiếp cầu khiến gắn liền với ý nghĩa hành động.
2 Ở đây, trên cơ sở thực tế sử dụng của tiếng Việt trong ngôn ngữ viết (văn bản), ngôn ngữ nói ( ngôn bản) và những kết quả nghiên cứu của các nhà Việt ngữ, chúng tôi sẽ tìm hiểu câu giao tiếp cầu khiến của tiếng Việt trên hai bình diện:
- Nội dung câu giao tiếp cầu khiến
- Dạng thức biểu hiện của câu giao tiếp cầu khiến.
III 1.1 Nội d u n g c ủ a câu giao tiếp cầu khiến.
Về vấn để nội dung của câu giao tiếp cầu khiến, đây đó trong các công trình ngữ pháp của các nhà Việt ngữ có đề cập đến Tuy nhiên, người để cập đến vấn
để này một cách tương đối đầy đủ hơn có lẽ là tác giả Hoàng Trọng Phiến |2S).Theo nội dung của câu, Hoàng Trọng Phiến chia câu cầu khiến thành mấy loại sau:
1 Mời mọc, yêu cầu Để biểu thị nội dung này có các từ kèm theo:
a Ỏ đầu càu: Yêu cấu, mời, hãy, cứ, xin mời, cho phép, cho, đé nghị.
Thí dụ: - X in mời đồng chí vào!
- Yêu cầu chị giúp tôi việc này!
b Ở cuối câu Đi, thôi, nào, nghe.
Trang 33- Đợi tôi vói!
- Nghỉ đãỉ
Theo Hoàng Trọng Phiến, sự hiện diện của các từ tình thái khác nhau sẽ có những sắc thái ý nghĩa khác nhau Chẳng hạn:
+ Hàm ý nghĩa tranh thủ ý kiến người dưới hoặc ngang hàng với mình:
Thí dụ: - “Đi đi con, đi xa nữa, xa hơn
Trong chiến hào đồng đôị chờ con” (Phạm Ngọc Cảnh)
+ Hàm ý thúc giục, vội vàng:
Thí dụ: - Đi thôi]
+ Hàm ý dặn dò:
Thí dụ: - “Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé
Nghìn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi” (Hồ Xitán Hươỉig)
+ Hàm nghĩa khuyên răn, mời mọc thân mật:
Thí dụ : - Ản đi chứ\
2 Mệnh lênh, cám đoán Biểu đạt ý nghĩa này, thường dùng các phương tiện hư từ:
Hãy, đừng, chớ, thay, không nên (cần), không được, đi; từ thực: cám và
phương tiện ngữ điệu câu
Thí dụ:
- Hãy sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại!
- Đ ừng có làm ổn lên thế!
- Cấm dừng xe ở đây!
- K hông được hút thuốc lá trong rạp! v.v
Sự hiện diện của các từ tình thái và giọng điệu cũng bổ sung thêm các nét nghĩa khác nhau
Trang 343 Kêu gọi, chúc tụng Thưòmg dùng các câu như những quán ngữ.
Thí dụ : - “Tiến lên! Chiến sĩ đổng bào
Bắc Nam sum họp xuân nào vui hơn!” ịH ồ Chí M inh)
Theo chúng tôi, sự phân chia thành ba loại lón về nội dung trên đây đã phản ánh được những nét nghĩa chung nhất của một sô hư từ và thực từ Tuy nhiên, trong từng trường hợp cụ thể, sự xuất hiện của các từ tình thái trong câu còn tạo
ra nhiều sắc thái nghĩa khá phong phú; thậm chí cùng một từ nhưng xuất hiện trong các văn cảnh khác nhau cũng tạo ra các sắc thái nghĩa khác nhau Ớ phần
“Dạng thức biểu hiện của câu giao tiếp cầu khiến” dưới đây, chúng tôi sẽ lần lượt trình bày các sắc thái nghĩa khác nhau đó trong từng trường hợp cụ thế
III 1.2 D ạ n g thức biểu hiện của câu g ia o tiếp cầu kh iên
ơ phần này, chúng tôi sẽ sắp xếp, hệ thông các dạng thức biểu hiện của câu giao tiếp cầu khiến trong tiếng Việt Các dạng thức này biểu hiện ở việc sử dụng một số hư tù và thực từ phản ánh ý muốn của chủ thể phát ngồn (người nói) và yêu cầu người nghe đáp lại bằng hành động Thứ tự của các hư từ và thực từ đưa
ra cũng được sắp xếp theo vần để người đọc dễ theo dõi Mỗi dạng thức biểu hiện của câu giao tiếp cầu khiến sẽ được trình bày rõ ràng, đơn giản nhất đế người đọc dễ nhớ và dễ sử dụng
1 Sử dụng các hư từ.
a Ở đầu câu: Bao gồm một sô hư từ và cắp hư từ sau:
a ỉ C ứ
Thí dụ : - Ai đấy? Cứ vào! - C ứ nói đi! Đừng ngại.
Các câu trên biểu thị nội dung mời mọc, yêu cầu
a.2 Chớ.
Thí dụ : - C hớ làm bậy! - C hớ nói linh tinh!
Các câu này biểu thị nội dung cấm đoán, khuyên ngăn
a.3 Đê (đê cho).
Thí dụ : - Đ ê a n h ấy đ i! (1)
-Đ ê tôi xem! (2)
Trang 35- Đ ể cho cô ấy nói! (3)
Trong các câu trên đây, về sắc thái nghĩa có sự khác nhau Ớ câu (1) và (3)
có hàm ý cho phép; còn câu (2) lại có hàm ý yêu cầu, thúc giục
a.4 Để nào Trong tiếng Việt, từ “để” có thể kết hợp với từ biểu hiện cầu khiến
khác là “nào” thành cặp “để nào” biểu thị ý nghĩa yêu cầu, thúc giục
Thí dụ : - Đ ẻ tôi làm giúp nào\
- Đ ể ông xem cháu lớn đến đâu rổi nàoĩ
a.5 Đừng Đây là một phó từ, đứng trước động từ biểu thị yêu cầu không thực hiện
hoặc chấm dứt một hoạt động nào đó
Thí dụ : - Đừng nói chuyện vói anh ấy! - Đ ừng sợ!
a.6 Hãy Từ đặt trước một động từ để biểu thị một mệnh lệnh.
Thí dụ : - Hãy trật tự! - Hãy nghe tôi nói đây!
a.7 Hẩy đi Là sự kết hợp của “hãy” và “đi” để tạo thành cặp từ “hãy đi”, v ề ý
nghĩa, cặp từ này cũng biểu thị một mệnh lệnh như “hãy”, nhưng sắc mệnh lệnh
“giảm nhẹ” và có tính chất yêu cầu, khuyên bảo một cách thán mật, chân tình hơn Tất nhiên, ở đáy cần có thêm vai trò của giọng điệu mạnh mẽ, dứt khoát thì sắc thái ý nghĩa sẽ ngược lại: có tính chất mệnh lệnh, thúc giục
Thí dụ : So sánh hai câu sau:
- Hãy đọc đi\ (giọng điệu nhẹ nhàng -> tính chất khuyên bảo thân mật, chán
tình)
- Hãy đọc đỉ\ (Giọng điệu mạnh mẽ -> tính chất ra lệnh, thúc giục).
a.8 Hãy nào Đây là cặp từ biểu thị ý nghĩa mệnh lệnh do sự kết hợp của từ “hãy”
với từ “nào” Khác với càp từ “hãy đi”, cập từ “hãy nào” thiên về sắc thái nghĩa yêu cầu, khuyên bảo một cách thân mật, chân tình Vì dù có được thể hiện (nói) với giọng điệu mạnh mẽ thì sắc thái mệnh lệnh, thúc giục cũng không mạnh bằng “hãy đi”
Thí dụ : - Hãy nhanh lên nàoì
- H ãy đi nàol (Khác với: H ãy đi đ i\)
a.9 Không Trong tiếng Việt, ngoài chức nàng là một từ kèm phủ định, từ “không"
còn được dùng trong câu giao tiếp cầu khiến
Trang 36Thí dụ : - K hông được làm ổn! (la)
- K hông cho phép nói bậy! (2a)
- K hông nên uống nước lã! (3a)
- K hông cần chơi với nó! (4a) v.v
Điều đáng chú ý là: Đây vốn là những câu tường thuật (câu kể) đã rút gọn chủ ngữ và được sự giúp sức của giọng điệu
Các thí dụ trên đây có thể viết (hoặc nói) thành:
- K hông làm ổn! (lb)
- K hông nói bậy! (2b)
- K hông uống nưóc lã! (3b)
- Không chơi với nó! (4b)
Nhìn chung, tất cả các ví dụ trên dày đều biểu thị ý nghĩa của câu cầu khiến Tuy nhiên, nếu xem xét kỹ, ta sẽ thấy sự khác nhau giữa trường hợp có và không
có các phó từ “n ê n ”, “cấn" đứng giữa từ “không ” và động từ.
Thí dụ : So sánh:
- Không nẽn uống nước lã! (3a) -K hông uống nước lã! (3b)
- Không cần chơi với nó! (4a) -K hông chơi với nó! (4b)
Ớ các câu (3a) và (4a) có sắc thái nghĩa khuyên bảo, can ngăn; còn ở các câu (3b) và (4b) có sắc thái nghĩa mệnh lệnh, cấm đoán
b Ở cuối câu: Ở vị trí cuối câu, trong tiếng Việt có một sô hư từ sau đây được sử
dụng trong câu giao tiếp cầu khiến,
b 1 C hớ (chứ).
Thí dụ : - Ăn đi chóP - Ản đi ch ứ l
Các ví dụ trên đây đựợc thể hiện dưới hình thức câu hỏi với việc sử dụng các
từ “chớ” hoặc “chứ” Tuy nhiên, ở các trường hợp này, tính chất nghi vấn mờ nhạt, còn tính chất cầu khiến đậm nét hơn với sắc thái nghĩa mời mọc, chờ đợi, thúc giục người nghe quyết định thực hiện hành động được người nói nêu ra
b.2 Đã Từ này được dùng khi người nói muốn tạm dừng một công việc đang tiến
hành đê làm một việc khác (thường dùng một cách thân mật)
Thí dụ : - Để tôi uống hết cốc cà phê này đã.
Trang 37- Anh làm việc này truớc đã.
- Con nghe hết bản nhạc này đả.
b.3 Đi Câu giao tiếp cầu khiến sử dụng từ “đi” biểu thị ý nghĩa yêu cầu, thúc giục
ngưòi nghe làm một việc gì đó
Thí dụ : - Anh ăn đỉ\ - Chúng ta đi đil
bA.Nào Khi sử dụng từ “nào”, câu giao tiếp cầu khiến mang sắc thái nghĩa mời
mọc, yêu cầu một cách thân mật, chân tình
Thí dụ : - Chúng ta đi nào! - Các em trật tự nào\
b.5 Nghe Câu sử dụng từ “nghe” cũng mang ý nghĩa yêu cầu, nhưng có tính chấtdặn dò, nhắc nhở thân tình
Thí dụ : - Nhớ về sớm em ngheì
- “Giữ sạch lẻ
Đẹp lối
b.6 Nhé Được sử dụng trong câu khi người nói muốn đưa ra một đề nghị và muốn
người nghe đổng ý với mình một cách thân mật
Thí dụ : - Chúng ta uống trà nhé\ - Anh viết thư cho em nhéì
b.7 Thôi Câu sử dụng từ “thôi” cũng biểu thị một yêu cầu có tính chất thân mật.
Thí dụ : - Bắt đầu thôi\ - Chúng ta đi thôil
b.8 Với Được sử dụng trong câu khi người nói muốn đưa ra một yêu cầu, để nghị
với sắc thái nghĩa thân mật
Thí dụ : - Đợi tôi vớil - Cho tôi đi với\
2 Sử dụng các thực từ.
Trong tiếng Việt, có một số động từ thường được sử dụng trong câu giao tiếp cầu khiến khi người nói thể hiện ý muôn của mình và yêu cầu người nghe đáp laị bằng hành động Những thực từ này được dùng ở đầu câu
a Cấm Câu sử dụng từ “cấm” thể hiên một yêu cầu có tính chất mệnh lệnh, cấm
đoán, không được phép làm một hành động nào đó
Thí dụ : - Cám hút thuốc! - Cấm đỗ xe ở đây!
Trang 38b Cho (cho phép) Trái với câu sử dụng từ “cấm”, câu sử dụng từ “cho” hoặc “cho
phép” biểu thị sự cho phép làm một hành động nào đó Về sắc thái tình cảm có tính chất trinh thượng của người trên nói với ngươi dưới, đặc biệt khi nói với giọng điệu mạnh mẽ, dứt khoát
Thí dụ : - Cho hắn đi! - Cho phép vào!
c Chúc Câu sử dụng từ “chúc” thể hiện sự mong muốn, chúc tụng điều tốt đẹp cho
người nghe
Thí dụ : - Chúc may mắn! - C húc sức khoẻ!
d Đế nghị Từ “để nghị” được sử dụng trong câu để trình bày một việc gì đó nhằm
mục đích được sự đổng ý của ngưòi xét
Thí dụ : - Đ é nghị anh cho ý kiến - Đ ề nghị các đồng chí phát biểu.
e Mời Từ “mời” được sử dụng trong câu thể hiên sự mời mọc, yêu cầu có tính chất
lịch sự
Thí dụ : - Mời ông vào! - M ời anh hút thuốc!
f Xin (xin mời) Câu sử dụng từ “xin” thể hiện lời yêu cầu một cách lịch sự, nhã
nhặn, ]ễ độ
Thí dụ: - X in anh đi lối này! - X in mọi người giữ trật tự cho!
Cũng có trường hợp dùng từ “xin mời”
Thí dụ : - X in mời ông vào!
- X in mời tất cả mọi người nâng cốc!
g Yêu cầu Câu sử dụng từ “yêu cầu” biểu thị lời yêu cầu đòi hỏi của người nóiđối với người nghe
Thí dụ : - Yêu cáu các bạn trật tự! - Yêu cầu mọi người giải tán!
h Làm ơn Sử dụng từ “làm ơn” trong câu giao tiếp cầu khiến thể hiện lời yêu cầumột cách lịch sự, nhã nhặn
Thí dụ : - Làm ơn cho tôi hỏi ông An ở đâu ạ?
- Làm ơn chỉ giúp tôi đường đến hồ Hoàn Kiếm?
Trên đây là một số thực từ thường được dùng trong câu giao tiếp cầu khiến Trong tiếng Việt, còn có những động từ khác như: mong, nhờ thể hiện mong muốn, nguyện vọng của người nói đối với người nghe Điều đáng chú ý là khi sử
Trang 39126 )
dụng các từ đó cần có sự chú ý là nói với đối tượng nào, trong tình huống giao tiếp nào, Chỉ có như vậy mới đạt hiệu quả cao trong hoạt động giao tiếp
Vai trò của giọng điệu câu.
Về vai trò của giọng điệu câu, theo Hoàng Trọng Phiến “có tác dụng bổ sung và khu biệt nghĩa khá rõ rệt” Tác giả viết: “Trong các câu cầu khiến, nếu
là mời mọc, yêu cầu, khuyên bảo thì dùng giọng điệu chậm rãi, nhẹ nhàng; nêu
là thúc giục mệnh lệnh hay khuyên ngăn thì dùng giọng điệu mạnh mẽ, dứt khoát; nếu là chúc tụng, kêu gọi thì dùng giọng điệu thoải mái, khoan thai nhưng mạnh mẽ, rõ ràng, tha thiết ” (26)
Với vai trò của giọng điệu, chúng ta có thể phân biệt đựơc các kiểu câu giao
tiếp như: câu tường thuật, câu nghi vấn, câu cảm thán và câu cưu khiến.
Thí dụ:
- Cô Bích hát {tường thuật) - Cô Bích hát? (nghi vấn)
- Cô Bích hát! (cảm thán) - Cô Bích hát! (cầu khiến)
Tương tự như vậy, trong nhiều trường hợp giao tiếp khác, bằng giọng điệu,
ta có thể biến những câu tường thuật thông thường thành câu cầu khiến với nhiều sắc thái nghĩa khác nhau, phục vụ đắc lực cho nhu cầu giao tiếp mà ngươi nói nêu ra và yêu cầu được người nghe đáp lại bằng hành động
Thí dụ : - Nam ra (giọng điệu bình thường -> câu tưởng thuật).
- Nam ra\ (giọng điệu mạnh mẽ, dứt khoat -> câu cầu khiến, có ý
thúc giục, xua đuổi)
Tóm lại, cùng với việc sử dụng các hư từ và thực từ thì giọng điệu cũng là
một trong những dạng thức biểu hiện hết sức quan trong của câu giao tiếp cầu khiến Tuy vậy, cũng phải thừa nhận rằng, việc dạy dạng thức biểu hiện bằng giọng điệu cho người nước ngoài là vấn đề không đơn giản, càng không thể làm trong thời ngắn, khi mà vốn kiến thức về tiếng Việt của người học chưa được bao nhiêu Đó là công việc đòi hỏi nhiều thời gian và công sức của cả người học lẫn người dạy tiếng Việt với tư cách là một ngoại ngữ
Hoàng Trọng Phiến, Sđd, tr 292
Trang 40III.2 CÂU GIAO TIẾP BIỂU CẢM.
Câu giao tiếp biểu cẩm còn gọi là cáu cảm thán, câu cảm, hoặc cảu cảm xúc Nó thuộc loại hình câu giao tiếp khép.
Ranh giới giữa cáu giao tiếp biểu cảm với các loại câu khác thật khó xácđịnh Tuỳ theo giai điệu và hành vi- phi ngôn ngữ của người nói mà xác định
một lời như: “Bài này hay” là câu biểu cảm hay một loại câu nào khác Trên văn bản, dấu chấm than (!) không chỉ dành cho sự kết thúc của cứu biểu câm mà cả cho cảu cầu khiến Hoàn cảnh giao tiếp, nói đúng hơn, “nguyên cớ" lôi cuốn các
đối tác tham gia vào hoạt động giao tiếp, là yếu tố quyết định cho sự phân định tương đối rạch ròi câu biểu cảm với các loại câu khác Trên văn bản, thay vì giọng điệu, hành vi - phi ngôn ngữ của người nói, người viết chú thích bằng từ ngữ trong ngoặc đơn
Chảng hạn:
- (Bà cau mày, càu nhàu với vú em): Bà biết sai đồ ngô ngọng ấy thìkhông được việc mà Thế là toi công!
(Nguyễn Công Hoan)
- (Ông phủ quắc mắt để thị uy, đáp): Điểu ấy, ta không thể cho các người biết!
(Nguyễn Công Hoan)
III.2.1 N ội d u n g củ a câu giao tiếp biểu cả m
Trong một sô công trình nghiên cứu về Việt ngữ, các tác giả đều có tiếng nói chung về nội dung thông báo của loại này, tuy cách diễn đạt có khác nhau:
- “Câu cảm thán nhằm mục đích nói lên các thứ tình cảm, các trang thái tinh thần của người nói Nó có nhiều ngũ điệu khác nhau Nhờ những ngữ điệu ấy mà
ta nói lên được những tình cảm như vui mừng, sợ hãi, căm giân, âu yếm, nùng nụi; nói lên sự ca tụng, tiếc rẻ, khiển trách, khinh bỉ, giận dỗi, thờ ơ, miễn