1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những tiến bộ và bất cập của các quy định pháp luật hiện hành về kết hôn – nhìn từ góc độ lịch sử và phong tục, tập quán

108 84 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Pháp luật về kết hôn phải đáp ứng được việc điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình trong bối cảnh toàn cầu hóa .... Ví dụ như truyền thống đề cao lòng chung thủy, thể hiện qua các q

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

ĐỖ THỊ NGỌC

NHỮNG TIẾN BỘ VÀ BẤT CẬP CỦA CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH

VỀ KẾT HÔN - NHÌN TỪ GÓC ĐỘ LỊCH SỬ VÀ

PHONG TỤC, TẬP QUÁN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

ĐỖ THỊ NGỌC

NHỮNG TIẾN BỘ VÀ BẤT CẬP CỦA CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH

VỀ KẾT HÔN - NHÌN TỪ GÓC ĐỘ LỊCH SỬ VÀ

PHONG TỤC, TẬP QUÁN

Chuyên ngành : Luật Dân sự và tố tụng dân sự

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Ngô Huy Cương

HÀ NỘI - 2019

Trang 4

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

L I CAM ĐOAN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ KẾT HÔN NHÌN TỪ GÓC ĐỘ LỊCH SỬ VÀ PHONG TỤC TẬP QUÁN 5

1.1 Khái lược về chế định kết hôn 5

1.1.1 Khái niệm kết hôn và mục đích, bản chất của kết hôn 5

1.1.2 Các yếu tố cơ bản tác động tới pháp luật điều chỉnh việc kết hôn 15

1.1.3 Ý nghĩa của pháp luật về kế hôn 17

1.2 Kết hôn trong pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ 21

1.2.1 Kết hôn trong pháp luật Việt Nam trước cách mạng tháng Tám năm 1945 21

1.2.2 Kết hôn trong pháp luật Việt Nam từ cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1975 25

1.2.3 Kết hôn trong pháp luật Việt Nam từ năm 1976 đến nay 28

1.3 Quan điểm về kết hôn trên thế thế giới 30

1.4 Phong tục, tập quán về kế hôn và điều kiện áp dụng phong tục, tập quán về kết hôn 32

1.4.1 Khái niệm phong tục, tập quán về kết hôn 32

1.4.2 Đặc điểm của phong tục, tập quán về kết hôn 33

1.4.3 Điều kiện đảm bảo hoạt động áp dụng phong tục tập quán trong pháp luật về kết hôn 37

CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ PHÁP LUẬT VỀ KẾT HÔN TỪ GÓC ĐỘ LỊCH SỬ VÀ PHONG TỤC TẬP QUÁN 41

2.1 Tổng quan các chế định Pháp luật về kết hôn ở Việt Nam hiện nay 41

2.1.1 Quy định về điều kiện kết hôn 41

2.1.2 Quy định về đăng ký kết hôn 55

2.1.3 Xử lý vi phạm pháp luật về kết hôn 63

2.2 Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về kết hôn ở Việt Nam hiện nay 68

Trang 5

2.2.1 Điều kiện kết hôn 68

2.2.2 Thẩm quyền đăng ký kết hôn 71

2.2.3 Xử lý vi phạm pháp luật về kết hôn 72

2.3 Đánh giá thực trạng các quy định pháp luật về kết hôn từ giác độ lịch sử và phong tục tập quán 73

2.3.1 Những điểm mới 73

2.3.2 Những điểm bất cập 76

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 78

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ KẾT HÔN Ở VIỆT NAM 79

3.1 Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về kết hôn 79

3.1.1 Hoàn thiện pháp luật kết hôn phải xuất phát từ thực trạng các quan hệ hôn nhân và gia đình trong thời kỳ mới 79

3.1.2 Hoàn thiện pháp luật kết hôn phải xuất phát từ yêu cầu giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của gia đình Việt Nam 80

3.1.3 Hoàn thiện pháp luật kết hôn phải có sự liên hệ với phong tục, tập quán kết hôn đã tồn tại từ lâu đời 81

3.1.4 Hoàn thiện pháp luật kết hôn phải xuất phát từ yêu cầu nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật về kết hôn 82

3.2 Định hướng hoàn thiện pháp luật về kết hôn 85

3.2.1 Pháp luật về kết hôn phải thể hiện rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước ta hướng tới mục tiêu xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững 85

3.2.2 Pháp luật về kết hôn phải cụ thể, toàn diện và đồng bộ, có tính thực thi và góp phần đảm bảo để các quyền con người trong lĩnh vực luật tư được tôn trọng và bảo vệ 86

3.2.3 Pháp luật về kết hôn phải đáp ứng được việc điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình trong bối cảnh toàn cầu hóa 87

3.3 Giải pháp cụ thể hoàn thiện pháp luật và một số giải pháp khác về kết hôn 88

3.3.1 Hoàn thiện các quy định điều chỉnh việc kết hôn trong Luật Hôn nhân và gia đình 88

3.3.2 Hoàn thiện các quy định của pháp luật có liên quan, góp phần nâng cao hiệu quả điều chỉnh pháp luật về kết hôn 92

Trang 6

3.3.3 Các giải pháp khắc phục nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật về

kết hôn 93

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 97

KẾT LUẬN 98

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của việc nghiên cứu đề tài

Phong tục, tập quán chính là những nét văn hóa đặc trưng của một dân tộc, phản ánh đời sống, sự phát triển của nền kinh tế xã hội Tại Việt Nam, những phong tục tập quán đã hình thành từ rất lâu đời, ăn sâu vào tiềm thức của người dân Việt trên tất cả các mặt của đời sống tinh thần, văn hóa - xã hội Trong mối quan hệ với pháp luật, phong tục tập quán được xem là một trong những yếu tố quan trọng để Nhà nước xây dựng và thực thi pháp luật, giữa phong tục tập quán và các quy định pháp luật luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Cũng chính vì vậy, chế định đăng

ký kết hôn trong pháp luật về Hôn nhân và gia đình nói riêng, các quy định của pháp luật về Hôn nhân và gia đình nói chung cũng chịu ảnh hưởng rất lớn từ các phong tục, tập quán trong tất cả các mặt xây dựng, hoàn thiện các quy định

Kết hôn là một quyền tự nhiên của con người, được pháp luật ghi nhận và bảo

vệ Với ý nghĩa đó pháp luật quốc tế cũng như pháp luật của mỗi quốc gia đều chú trọng bảo đảm quyền tự do kết hôn của cá nhân Trong bối cảnh hiện nay, việc bảo đảm thực thi pháp luật về quyền con người ngày càng được cộng đồng quốc tế đặc biệt quan tâm, nhất là các quyền mang giá trị hết sức nhân văn như quyền kết hôn Đảm bảo quyền tự do kết hôn của mỗi cá nhân không chỉ là bảo đảm lợi ích cho người kết hôn mà còn đảm bảo để thúc đẩy sự phát triển của xã hội Bởi lẽ, kết hôn

là nền tảng quan trọng để tạo dựng gia đình mà gia đình luôn được xác định là “tế bào” của xã hội Điều này cũng được ghi nhận trong Hiến pháp và cụ thể hóa trong nhiều văn bản pháp luật khác, đặc biệt là trong Luật HN&GĐ Chế định kết hôn điều chỉnh việc xác lập quan hệ vợ chồng - quan hệ nền tảng của gia đình Vì vậy, chế định kết hôn không chỉ đảm bảo quyền tự do kết hôn của cá nhân mà còn có vai trò quan trọng đối với việc xây dựng gia đình hòa thuận, hạnh phúc tạo tiền để tốt

để xây dựng một xã hội văn minh, thịnh vượng

Qua các thời kỳ phát triển của lịch sử, trên cơ sở kế thừa có chọn lọc những tiến bộ của các quy định pháp luật của thời kỳ trước, sự ảnh hưởng của các phong

Trang 9

tục, tập quán chế định kết hôn theo Luật HN&GĐ năm 2014 đã cơ bản được hoàn thiện, đáp ứng được nhu cầu phát triển của xã hội hiện tại Các trường hợp vi phạm

về điều kiện kết hôn, điều cấm đã được dự liệu, sửa đổi, phù hợp hơn với thực tiễn thi hành So với các quy định về kết hôn trong Luật HN&GĐ năm 2000 thì các quy định của pháp luật hiện hành đã mang đến sự đổi mới đảm bảo sự tương thích, phù hợp với các quy định trong hệ thống pháp luật Việt Nam và việc vận dụng vào thực tiễn áp dụng Tuy nhiên bên cạnh đó, chế định kết hôn cũng còn một số những vướng mắc, bất cập cần phải loại bỏ

Xuất phát từ những lý do nêu trên, tôi đã lựa chọn đề tài: “Những tiến bộ và bất cập của các quy định pháp luật hiện hành về kết hôn - nhìn từ góc độ lịch sử phong tục, tập quán” nhằm nghiên cứu một cách sâu sắc và toàn diện về chế định kết hôn của pháp luật Việt Nam dưới góc độ lịch sử, phong tục tập quán từ đó đưa

ra những đánh giá về sự tiến bộ của pháp luật hiện hành, đồng thời chỉ ra những bất cập và phương hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật về kết hôn hiện nay

2 Tì h hì h h ê ứu đề tài

Khi luật HN&GĐ năm 2014 ra đời, đã có một số công trình khoa học nghiên cứu liên quan đến những nội dung thuộc phạm vi của chế định kết hôn về những điểm mới, điểm tiến bộ của chế định kết hôn theo Luật HN&GĐ năm 2014 so với các quy định của Luật HN&GĐ trước đây Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này chỉ mới dừng lại ở việc phân tích, truyền đạt những quy định của pháp luật hoặc chỉ đề cập đến một vài khía cạnh ở tiến bộ của chế độ kết hôn, chưa có một công trình nghiên cứu nào mang tính chuyên sâu về việc đánh giá, phân tích những điểm tiến bộ, những điểm bất cập còn hạn chế của chế độ kết hôn nhìn từ góc độ lịch sử và phong tục tập quán

3 Mụ đí h, đố tƣợ h ê ứu, ớ hạ phạm v h ê ứu

Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn

về chế định kết hôn Phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật HN&GĐ hiện hành về chế độ kết hôn dưới giác độ lịch sử và phong tục, tập quán Chỉ ra những điểm mới tiến bộ và những điểm bất cập của chế định về kết hôn từ đó đưa ra những

Trang 10

đề xuất nhằm hoàn thiện chế định kết hôn, nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật về kết hôn

Đối tượng nghiên cứu: là những vấn đề lý luận về kết hôn; quy định của hệ thống pháp luật Việt Nam về kết hôn trong Luật HN&GĐ năm 2014 dưới góc độ lịch sử, phong tục, tập quán những điểm tiến bộ và bất cập

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của chế định kết hôn trong Luật HN&GĐ Việt Nam qua các thời kỳ phát triển của lịch sử, các ảnh hưởng của phong tục, tập quán đối với chế định kết hôn theo pháp luật hiện hành Vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài chỉ được nghiên cứu dưới góc độ là một phần nội dung trong pháp luật điều chỉnh việc kết hôn

4 Phươ ph p uậ và phươ ph p h ê ứu

Luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác-

Lê nin với phép biện chứng duy vật và lịch sử, gắn kết với tư tưởng Hồ Chí Minh

và quan điểm, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước về vấn đề HN&GĐ nói chung và kết hôn nói riêng

Bên cạnh đó, các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành được sử dụng để thực hiện đề tài như phương pháp lịch sử, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp và so sánh, phương pháp điều tra xã hội học Đặc biệt, các phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh luật sẽ được sử dụng triệt để nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cũng như các quy định của pháp luật hiện hành về kết hôn và thực tiễn thực hiện

5 Ý hĩa khoa họ và thự t ễ ủa uậ v

Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học, nghiên cứu toàn diện về chế định kết hôn trong pháp luật Việt Nam Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần

bổ sung và hoàn thiện những vấn đề lý luận khoa học pháp lý về chế định kết hôn nói riêng, pháp luật HN&GĐ nói chung và làm phong phú thêm kho tàng tri thức khoa học pháp lý

Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy

và học tập khoa học luật tại các cơ sở đào tạo, nghiên cứu luật…Luận văn cũng

Trang 11

có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan thi hành và áp dụng pháp luật để giải quyết các vấn đề có liên quan

6 Kết ấu ủa uậ v

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục, luận văn có kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1: Lý luận pháp luật về kết hôn nhìn từ góc độ lịch sử và phong tục tập quán;

Chương 2: Đánh giá pháp luật về kết hôn từ góc độ lịch sử và phong tục tập quán; Chương 3: Một số biện pháp hoàn thiện chế định kết hôn ở Việt Nam

Trang 12

mà thay vào đó là sự liên kết mang tính xã hội, thể hiện những tiến bộ, những giá trị văn minh mà loài người đã đạt đến và mối quan hệ này được gọi là “kết hôn”

Từ điển Tiếng Việt có định nghĩa về việc kết hôn như sau: “k t hôn là vi c

nam, n chính th c l y nhau thành v , chồng [18, 467] Theo truyền thống và phong tục, tập quán của người Việt Nam thì nam, nữ được coi là chính thức lấy nhau trở thành vợ chồng khi hai bên nam, nữ tổ chức lễ cưới theo nghi thức truyền thống có

sự chứng kiến của hai bên gia đình, người thân, bạ bè Kể từ thời điểm đó họ được cộng đồng dân cư thừa nhận là vợ chồng [2, 7-8] Vì thế, việc tổ chức lễ cưới cho hai bên nam nữ, luôn là một việc hệ trọng của đời người Nghi thức cưới phản ánh một không khí trang nghiêm, thiêng liêng, mang đầy ý nghĩa nhân văn sâu sắc đánh dấu thời điểm họ chính thức trở thành vợ chồng

Đối với từng vùng miền, từng dân tộc, từng địa phương và tôn giáo khác nhau thì lễ cưới cũng có những đặc điểm khác nhau Những người theo đạo Thiên chúa

Trang 13

thì nghi lễ kết hôn giữa hai người nam, nữ sẽ diễn ra ở Nhà thờ - nơi sinh hoạt cộng đồng của các tín đồ tại địa phương Cha xứ sẽ là người trực tiếp chủ trì lễ kết hôn đó Đối với những người theo đạo Phật thì lễ kết hôn được gọi với cái tên “lễ hằng thuận” sẽ diễn ra tại Chùa và sư chính tại chùa sẽ là người chủ trì nghi lễ Sau khi diễn ra nghi lễ tại Nhà thờ, Chùa thì đôi nam, nữ chính thức là vợ chồng, chung sống với nhau cùng một gia đình Tuy nhiên, những người tham dự lễ cưới của đôi nam, nữ tại Nhà thờ và Chùa chủ yếu là người thân hai bên gia đình của đôi nam, nữ nên để đảm bảo sự thừa nhận của cộng đồng dân cư tại nơi sinh sống về quan hệ hôn nhân của đôi nam nữ thì ngoài nghi lễ kết hôn theo nghi thức tôn giáo thì họ còn tổ chức thêm cả nghi lễ kết hôn truyền thống Như vậy, nghi lễ kết hôn truyền thống vẫn sẽ diễn ra ở cả những người theo tôn giáo hoặc không theo tôn giáo và đóng vai trò là sự kiện đánh dấu chính thức để xác lập quan hệ vợ chồng giữa đôi nam, nữ Tìm hiểu sâu về nghi thức kết hôn truyền thống tại Việt Nam, theo “Thiên Nam dư hạ tập” - bộ tùng thư mang tính điển chế do Lê Thánh Tông giao cho các văn thần biên soạn năm 1483, quyển “Hồng Đức Hôn giá lễ nghi” có ghi cụ thể về nghi thức kết hôn với các lễ lần lượt được liệt kê như sau:

- Lễ Nghị hôn (lễ dạm mặt);

- Lễ định thân (lễ đính hôn hay ăn hỏi);

- Lễ nạp chưng (đưa đồ sính lễ);

- Lễ thân nghinh (đón dâu) [2, 8]

Như vậy, để trở thành vợ chồng và xác lập quan hệ hôn nhân với nhau, gia đình hai bên nam nữ phải tiến hành đầy đủ các bước như trên Trong các nghi lễ thì

Lễ nghị hôn là nghi lễ có ý nghĩa quyết định đến việc xem xét và tiến hành các nghi thức tiếp theo của việc cưới hỏi và nghi lễ định thân thể hiện sự cam kết của hai bên

sẽ kết duyên vợ chồng được hai bên xác nhận Từ đó, sau lễ ăn hỏi về hình thức cô dâu đã được xác định là con dâu của bên nhà trai Các bước trong nghi lễ cưới đề cao sự chứng kiến của người thân và cộng đồng đối với việc xác lập quan hệ vợ chồng của hai bên nam, nữ

Trang 14

Theo Từ điển Hán - Việt thì “kết” là sự kết hợp với nhau, còn “hôn” là người con trai lấy vợ [19, 212] Theo nghĩa này, thuật ngữ “kết hôn” muốn nhấn mạnh và khẳng định việc lấy vợ của người con trai Như vậy, xét trên phương diện ngôn ngữ học, kết hôn chính là một từ Hán việt chỉ việc người con trai lấy vợ Do ảnh hưởng của hàng nghìn năm Bắc thuộc, thuật ngữ này được người Việt Nam dùng khá phổ biến [2, 9] Từ đó, “kết hôn” được sử dụng để chỉ việc nam nữ lấy nhau thành vợ chồng Trong đời sống hàng ngày, người Việt Nam thường sử dụng các từ lấy vợ, lấy chồng hoặc xây dựng gia đình khi nói về việc “kết hôn” của nam hay nữ Cách

sử dụng từ như vậy là cách nói thuần Việt để chỉ việc nam nữ lấy nhau thành vợ chồng Vì thế trong bài nói chuyện tại Hội nghị thảo luận Dự thảo Luật HN&GĐ năm 1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng từ “Luật lấy vợ, lấy chồng” thay cho

“Luật HN&GĐ” [9, 241-242]

Từ những phân tích như trên thì “kết hôn” dưới góc độ xã hội được hiểu là một hình thức xác lập quan hệ vợ chồng Dưới góc độ pháp lý, khái niệm kết hôn được xem xét như là một sự kiện pháp lý hoặc một chế định pháp lý

Với vai trò là một sự kiện pháp lý: Hôn nhân là một hiện tượng xã hội Do vậy việc nam nữ lấy nhau thành vợ chồng luôn là vấn đề của mọi thời đại Lịch sử xã hội loài người đã chứng minh rằng khi chưa xuất hiện Nhà nước thì xã hội được điều chỉnh bằng các quy ước Trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước” Ăng -ghen đã chứng minh rằng ở thời kỳ tiền sử, để duy trì diện cấm đoán quan hệ tính giao những “quy ước” hết sức tự nhiên đã được hình thành trong xã hội thị tộc Nhờ đó việc cấm đoán quan hệ tính giao giữa cha mẹ với các con, ông bà với các cháu; giữa anh chị em với nhau được tuân thủ Khi Nhà nước xuất hiện, ngoài những quy ước của cuộc sống cộng đồng, các quan hệ xã hội còn được điều chỉnh bằng pháp luật Quyền kết hôn với ý nghĩa là một quyền tự nhiên của mỗi cá nhân được pháp luật ghi nhận và bảo vệ Từ đó cũng hình thành khái niệm kết hôn dưới góc độ pháp lý

Dưới góc độ pháp lý việc nam, nữ lấy nhau thành vợ, chồng phụ thuộc vào việc thừa nhận của Nhà nước thông qua một nghi thức cụ thể được ghi nhận trong

Trang 15

pháp luật Nghi thức kết hôn ghi nhận trong pháp luật cũng được xây dựng, chi phối bởi phong tục, tập quán cũng như truyền thống lập pháp của mỗi quốc gia [2, 10] Hiện nay trên thế giới tồn tại các quy định về nghi thức kết hôn gồm: các quốc gia chỉ thừa nhận nghi thức dân sự; Các quốc gia chỉ thừa nhận nghi thức tôn giáo; Các quốc gia chấp nhận sự tương đương của cả hai nghi thức kết hôn; Các quốc gia thực hiện cả hai nghi thức tôn giáo và nghi thức dân sự

Tại Việt Nam do ảnh hưởng của văn hóa Pháp khi tiến hành đô hộ nước ta nên nghi thức mà Việt Nam cũng chính là nghi thức mà Pháp lựa chọn đó là nghi thức kết hôn dân sự Do đó, tại Bộ Dân Luật Bắc Kỳ năm 1931 (BDLBK), Bộ Dân luật Trung kỳ năm 1936 (BDLTK) và Bộ Dân luật giản yếu 1983 (BDLGY) quy định việc kết hôn nam nữ phải được khai với Hộ lại Chính vì vậy mà việc nam nữ lấy nhau thành vợ chồng không chỉ đơn thuần là việc ràng buộc về mặt xã hội mà còn phải có sự ràng buộc về mặt pháp lý Quy định này tiếp tục được ghi nhận trong các văn bản luật của Việt Nam kể từ khi cách mạng tháng Tám cho đến nay

Trong từ điển Luật học của trường Đại học Luật Hà Nội cũng đã giải thích rõ:

“ t hôn là vi c nam n chính th c l y nhau làm v , chồ t e qu ịnh c a pháp

lu t K t c hiểu là s ki n pháp lý làm phát sinh quan h hôn nhân Vi c k t hôn ph ý tạ ơ qu N ớc có thẩm quyền mớ c công nh n là

h p p p” [17, 150].Với cách giải thích như trên, ở phương diện pháp lý nam nữ

chỉ được coi là vợ chồng khi đã thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật tức là

đã đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Việc nam nữ lấy nhau theo nghi thức truyền thống hay nghi thức tôn giáo đều không được xác định là đã “kết hôn”

Do đó, trong khoa học pháp lý cũng xuất hiện thuật ngữ “nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng không đăng ký kết hôn” để phân biệt với trường hợp kết hôn Như vậy, với ý nghĩa là một sự kiện pháp lý, kết hôn được hiểu là một hình thức xác lập quan hệ vợ chồng được Nhà nước ta thừa nhận Kết hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng

ký kết hôn

Trang 16

Ở một góc độ khác về cách tiếp cận khái niệm “kết hôn” có quan điểm cho rằng kết hôn là một giao dịch có tính pháp lý chứ không phải một giao dịch có ý nghĩa vật chất hoặc tôn giáo Quan điểm này hợp lý ở chỗ thừa nhận việc xác lập quan hệ hôn nhân có sự ràng buộc về mặt pháp lý Theo đó người kết hôn phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật về kết hôn Tuy nhiên, nếu kết hôn là một “giao dịch” thì việc kết hôn có thể hiểu là một hành vi pháp lý đơn phương

hoặc có ý nghĩa như một hợp đồng Bởi vì “ ịch dân s là h p ồng hoặc

v p p ý ơ p ơ ” Nếu nhìn nhận kết hôn là một giao dịch có tính pháp

lý thì vẫn có nhiều điểm chưa phù hợp Như kết hôn không phải là hành vi pháp lý đơn phương mà nó được xác lập dựa trên sự tự nguyện của hai cá nhân nam và nữ đồng ý, chấp thuận việc chung sống với nhau và được cơ quan có thẩm quyền xác nhận Kết hôn cũng không phải là một Hợp đồng dân sự bởi: khi kết hôn hai bên nam nữ không thể thỏa thuận làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ vợ chồng mà quyền và nghĩa vụ này được pháp luật quy định vì thế họ không thể thỏa thuận trái hoặc hạn chế hoặc giảm bớt đi các quyền và nghĩa vụ của mình Hơn nữa, giao dịch dân sự được xác lập phải xác định được đối tượng của Hợp đồng như: tài sản, công việc phải làm, không được làm… nhưng kết hôn lại không thể xác định được Ngoài

ra, theo quy định về chế định Hợp đồng thì khi một trong hai bên vi phạm các quyền

và nghĩa vụ thì có thể áp dụng các chế tài như phạt, đền bù thiệt hại cho hai bên tuy nhiên trong kết hôn việc áp dụng các chế tài lại là điều không thể Vì vậy, hôn nhân không được xem là một hợp đồng Từ những phân tích như trên có thể thấy, khái niệm kết hôn nếu được tiếp cận là một sự kiện pháp lý thì nên được hiểu như sau:

“ t hôn là m t thu t ng p p ý c sử d ng trong pháp lu t hôn nhân và gia

ù ể chỉ làm phát sinh quan h pháp lu t gi a v và chồ tr ơ

sở ó qu ền và l i ích c ời k t hôn sẽ c Nh ớc b o v ”

Dưới một chế định pháp lý thì chế định kết hôn được hiểu là: các quy phạm pháp luật điều chỉnh việc kết hôn, không chỉ là những quy phạm đơn lẻ mà là tập hợp các quy phạm và dcofn được gọi là những “chế định” Nội dung của chế định kết hôn bao gồm các quy định về điều kiện kết hôn, đăng ký kết hôn và hình thức xử

Trang 17

lý các trường hợp vi phạm điều kiện kết hôn Ngoài ra, trong bối cảnh mở cửa và hội nhập cũng như xu thế chung của thế giới trong việc bảo vệ và tôn trọng các quyền con người, việc kết hôn có yếu tố nước ngoài cũng được các quốc gia trên thế giới chú trọng điều chỉnh bằng pháp luật Pháp luật của hầu hết các nước trên thế giới đều ghi nhận vấn đề này

Các yếu tố cấu thành chế định kết hôn

Đ ều t : là một trong những yếu tố đầu tiên quyết định việc kết hôn

có đúng và phù hợp với quy định của pháp luật hay không Xét một cách tổng quát nhất, điều kiện kết hôn chỉ rõ, người kết hôn được phép xác lập quan hệ hôn nhân khi có đủ những điều kiện gì; trong trường hợp nào thì họ không được phép kết hôn Nội dung các điều kiện kết hôn cụ thể phụ thuộc vào quan điểm của nhà làm luật khi xác định vai trò của hôn nhân đối với đời sống gia đình và xã hội

Điều kiện kết hôn được hiểu là những yêu cầu mà pháp luật đặt ra đối với

người kết hôn “K ị u p t ũ ị u p tu

t e Lu t t ờ ó t … t ể p tù s tù

t ờ t tr ạ s tù t ờ t p p tù

t ” [18, 218] Do đó, người kết hôn buộc phải chấp hành những

quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung khi kết hôn Việc quy định các điều kiện kết hôn là tất yếu khách quan Bởi vì, bản chất của hôn nhân chính là nội dung chi phối và mang tính chất quyết định tới nội dung các quy phạm pháp luật về điều kiện kết hôn Đây là điểm cơ bản để chúng ta có thể lý giải rằng vì sao pháp luật của các kiểu nhà nước khác nhau quy định về điều kiện kết hôn mang những sắc thái khác nhau Nói một cách khác, hôn nhân là một hiện tượng xã hội mang tính giai cấp cho nên các quy định về điều kiện kết hôn cũng phản ánh rõ tính giai cấp, thể hiện quan điểm của nhà làm luật cũng như những giá trị về hôn nhân mà giai cấp thống trị trong xã hội cần bảo vệ

Từ những phân tích trên đây, chúng ta có thể hiểu điều kiện kết hôn mang ý

nghĩa như sau: Đ ều ki n k t hôn là nh ng yêu cầu c a pháp lu t thể hi ới dạng

các quy phạm pháp lu t bu ời k t hôn ph i tuân th , nhằm m t t l p

Trang 18

nh ng cu c hôn nhân phù h p với l i ích c a ời k t hôn, l i ích c a gia và

xã h i

Ở nước ta hiện nay, quy định về điều kiện kết hôn được xây dựng trên cơ sở

cụ thể thóa các quy định của Hiến pháp - đạo luật cơ bản của Nhà nước về quyền tự

do, kết hôn của cá nhân Điều kiện kết hôn phải thể hiện sự tương thích với các quy định có liên quan đến quyền tự do kết hôn của cá nhân được ghi nhận trong BLDS phù hợp với nguyên tắc bình đẳng, không có sự phân biệt bình đẳng giới

Đ ý t : Xét dưới góc độ quản lý hộ tịch, đăng ký kết hôn là một thủ

tục do cơ quan có thẩm quyền tiến hành nhằm kiểm tra các điều kiện kết hôn và xác nhận việc kết hôn của hai bên nam nữ thông qua việc cấp Giấy chứng nhận kết hôn

Vì vậy, việc đăng ký kết hôn không chỉ có ý nghĩa đối với người kết hôn mà thông qua thủ tục này Nhà nước cũng kiểm soát được việc kết hôn nhằm xác lập những cuộc hôn nhân lành mạnh, tiến bộ, hạnh phúc

Theo quy định của pháp luật HN&GĐ, việc xác lập quan hệ vợ chồng phải được đăng ký tại cơ nhà nước có thẩm quyền Theo nghĩa này, đăng ký kết hôn có thể hiểu như một điều kiện hình thức mà qua đó Nhà nước công nhận quan hệ hôn nhân của hai bên nam nữ Do vậy, các bên nam, nữ xác lập quan hệ vợ chồng đều

phải tuân thủ ều t và ý t hôn

Xử ý v p ạ p p u t về t : Điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn là

một trong các yếu tố cấu thành chế định kết hôn Do vậy, việc kết hôn không tuân thủ các quy định của pháp luật về kết thì sẽ bị xử lý Xử lý vi phạm pháp luật về kết hôn là một trong nội dung không thể thiếu đối với pháp luật điều chỉnh việc kết hôn Bởi vì, xử lý vi phạm pháp luật về kết hôn là việc áp dụng các biện pháp chế tài cần thiết nhằm “bảo đảm” để điều kiện kết hôn được tuân thủ Xử lý vi phạm pháp luật về kết hôn theo pháp luật Việt Nam đa dạng về các hình thức chế tài và không chỉ áp dụng riêng đối với người kết hôn mà còn áp dụng với những người có liên quan Chế tài hành chính hoặc hình sự cũng có thể được áp dụng để xử lý đối với hành vi vi phạm Tùy từng trường hợp cụ thể mà hành vi vi phạm có thế bị xử lý ở

từng mức độ khác nhau

Trang 19

Nguyên tắc của chế định kết hôn

N u tắ t u t : Người kết hôn có quyền tự nguyện

xác lập quan hệ hôn nhân nhưng không thể tự thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ phát sinh sau khi kết hôn Nguyên tắc tự nguyện đòi hỏi người kết hôn phải tôn trọng quyền tự do kết hôn của người khác, không được ép buộc người kia kết hôn trái với

ý chí của họ, đồng thời các chủ thể khác cũng phải tôn trọng ý chí của chủ thể kết hôn, nhằm đảm bảo mọi cuộc hôn nhân được xác lập trước hết phải xuất phát từ việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người kết hôn Nguyên tắc tự nguyện đòi hỏi các chủ thể áp dụng pháp luật trong phạm vi quyền hạn của mình phải đảm bảo thực thi pháp luật một cách chính xác để bảo vệ quyền tự do kết hôn của mỗi cá nhân

N u tắ ẳ p t ử: Quyền kết hôn là quyền gắn

liền với nhân thân mỗi cá nhân được pháp luật ghi nhận và bảo vệ Vì thế, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật trong việc thực hiện quyền mà không bị phân biệt đối xử Pháp luật HN&GĐ phải ghi nhận và bảo vệ quyền bình đẳng trong việc xác lập quan hệ hôn nhân giữa nam và nữ, giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, các tôn giáo, giữa người theo tôn giáo và người không theo tôn giáo, giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài Đó cũng là cơ sở quan trọng để tạo dựng các cuộc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ phù hợp với xu thế chung của thời đại Nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử, yêu cầu mọi cá nhân khi kết hôn đều phải tuân thủ các quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn Theo đó, dù người kết hôn là ai thì khi xác lập quan hệ hôn nhân họ vẫn phải tuân thủ đầy đủ các quy định về điều kiện kết hôn Trong trường hợp vi phạm pháp luật về điều kiện kết hôn thì họ đều bị

xử lý theo quy định của pháp luật

N u tắ t v - t ồ : Hôn nhân một vợ một chồng cũng

là điều kiện quan trọng để xây dựng những cuộc hôn nhân bình đẳng, bền vững, hạnh phúc làm nền tảng để tạo dựng gia đình, góp phần đảm bảo mục đích của cuộc hôn nhân Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng là nguyên tắc đặc trưng của chế định kết hôn Bởi lẽ, kết hôn là căn cứ nhằm xác lập quan hệ vợ chồng, khi kết hôn các bên phải tuân thủ những điều kiện kết hôn luật định Từ đó, các nhà làm luật

Trang 20

Việt Nam quy định việc cấm kết hôn đối với người đang có vợ, có chồng Theo đó, những người chưa có vợ, có chồng hoặc đã có vợ, có chồng nhưng quan hệ hôn nhân trước đã chấm dứt mới được phép kết hôn Trường hợp vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật

Nguyên tắc tôn tr ng phong t c, t p quán t t ẹp: Tôn trọng phong tục, tập

quán tốt đẹp về HN&GĐ, đòi hỏi quá trình thực thi pháp luật về kết hôn phải khai thác những lợi thế của phong tục, tập quán tốt đẹp về HN&GĐ để tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả điều chỉnh pháp luật về kết hôn Đẩy mạnh việc đấu tranh để loại bỏ khỏi đời sống xã hội những phong tục, tập quán lạc hậu ảnh hưởng không tốt tới việc điều chỉnh pháp luật về kết hôn

1.1.1.2 M v n ch t c a k t hôn

- Mục đích của kết hôn

Theo pháp luật HN&GĐ hiện hành thì hôn nhân được hiểu là quan hệ vợ chồng sau khi đã kết hôn Vì vậy, nếu mục đích của kết hôn là xác lập quan hệ vợ chồng thì mục đích của hôn nhân là xác lập quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng Quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng là nội dung của quan hệ pháp luật giữa vợ và chồng Quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng được pháp luật ghi nhận và bảo vệ Như vậy, mục đích của kết hôn khác với mục đích của hôn nhân nhưng lại có mối liên hệ nhất định với nhau Mục đích của hôn nhân có cơ sở bảo đảm khi việc “kết hôn” tuân thủ quy định của pháp luật Mặt khác, nếu kết hôn không nhằm mục đích xác lập quan hệ vợ chồng thì giữa những người kết hôn cũng không thể tồn tại nghĩa vụ

và quyền giữa vợ và chồng được pháp luật bảo vệ Vì vậy, việc xác lập quan hệ hôn nhân theo đúng quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn

là một cơ sở để đảm bảo cho mục đích của cuộc hôn nhân Sự ràng buộc về quyền và nghĩa vụ giữa những người kết hôn được pháp luật ghi nhận và bảo vệ

là những hành lang pháp lý an toàn cho mục đích của cuộc hôn nhân Trong những trường hợp đặc biệt khi mục đích hôn nhân không đạt đến, quyền và lợi ích của người kết hôn sẽ được bảo vệ Đó chính là sự “bảo hộ” của Nhà nước đối với quan hệ hôn nhân

Trang 21

- Bản chất của kết hôn

Kết hôn - một quyền tự nhiên cơ bản của con người được pháp luật ghi nhận

và bảo vệ Đối với con người, nhu cầu về giao lưu tình cảm là một nhu cầu không thể thiếu Do vậy, quyền được mưu cầu hạnh phúc trong đó có hạnh phúc lứa đôi là quyền tự nhiên của mỗi con người được pháp luật tôn trọng và bảo vệ Cùng với việc duy trì sự sống, con người có mối liên hệ tình cảm với nhau và hình thành nhu cầu giao lưu tình cảm Ở thời kỳ tiền sử, mặc dù là sự liên kết mang tính bản năng nhưng dần dần trật tự về quan hệ tính giao thể hiện văn minh người được xác lập Khi Nhà nước ra đời, quan hệ HN&GĐ được điều chỉnh bằng pháp luật Theo đó, quyền được mưu cầu hạnh phúc của mỗi cá nhân không đơn thuần là quyền tự nhiên

mà là quyền gắn liền với nhân thân của mỗi người - quyền con người

Kết hôn là cơ sở để tạo dựng gia đình, góp phần duy trì và thúc đẩy sự phát triển của xã hội loài người Kết hôn không phải là hình thức duy nhất để tạo dựng gia đình nhưng là một trong những hình thức quan trọng để tạo dựng gia đình nhằm duy trì và thúc đẩy sự phát triển của xã hội loài người Dù xã hội phát triển, quan niệm về tình yêu, hôn nhân có sự thay đổi nhất định nhưng hôn nhân vẫn có những giá trị nhân văn không thể phủ nhận Bởi lẽ, gia đình dù ở bất cứ xã hội nào cũng thực hiện một trong những chức năng cơ bản, đó là chức năng sinh đẻ Như vậy, sứ mệnh duy trì và bảo tồn nòi giống trước hết phải là sứ mệnh của hôn nhân Theo quan điểm duy vật, thì nhân tố quyết định trong lịch sử, suy cho đến cùng là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống trực tiếp Nhưng sản xuất đó, bản thân nó lại có hai loại Một mặt là sản xuất ra tư liệu sinh hoạt: Ra thức ăn, quần áo và nhà cửa và những công cụ cần thiết để sản xuất ra những thứ đó; mặt khác là sản xuất ra ngay bản thân con người, là tiếp tục nòi giống [2, 24]

Kết hôn là cơ sở pháp lý để Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người kết hôn Kết hôn có vai trò quan trọng đối với đời sống HN&GĐ Thông qua

sự kiện đăng ký kết hôn, Nhà nước kiểm soát được việc tuân thủ pháp luật về điều kiện kết hôn, thực hiện quản lý nhà nước về kết hôn nhằm đảm bảo cho việc kết hôn được xác lập phù hợp với lợi ích của gia đình và xã hội Quyền kết hôn là quyền tự

Trang 22

do cơ bản của mỗi người nhưng khi thực hiện quyền kết hôn, người kết hôn phải tuân thủ các quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn

1.1.2 Các yếu tố cơ bản tác động tới pháp luật điều chỉnh việc kết hôn

1.1.2.1 Y u t t nhiên

Là một thực thể của thế giới tự nhiên, con người luôn phải tôn trọng và thực hiện các quy luật của thế giới tự nhiên Vì thế, pháp luật điều chỉnh việc kết hôn trước hết xuất phát từ quyền tự nhiên của cá nhân, chịu sự chi phối của yếu tố tự nhiên Quyền con người trước khi là quyền- con người xã hội thì nó là quyền tự nhiên Quyền kết hôn là quyền tự nhiên của con người được pháp luật ghi nhận và bảo vệ Vì thế, theo lẽ tự nhiên, hôn nhân là sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà Do đó, khi nói đến kết hôn là nói đến việc xác lập quan hệ vợ chồng giữa hai người khác giới tính Đây cũng chính là lý do mà pháp luật các nước trên thế giới không công nhận quan hệ hôn nhân đồng giới diễn ra giữa hai người nam hoặc hai người nữ Ngoài ra mối quan hệ cận huyết thống trong phạm vi ba đời cũng bị ngăn cấm Việc ngăn cấm kết hôn giữa các đối tượng được nêu trên đều xuất phát từ lý do tự nhiên Như vậy, pháp pháp luật điều chỉnh việc kết hôn ghi nhận quyền kết hôn với ý nghĩa là một quyền tự nhiên của con người cũng chịu sự chi phối của yếu tố tự nhiên Ở góc độ này, những yếu tố tự nhiên được lý giải là cơ

sở quan trọng để nhà làm luật hiện thực hóa quyền kết hôn của cá nhân [2, 36-37]

1.1.2.2 Y u t xã h i

- Yếu tố phong tục, tập quán

Phong tục, tập quán là một trong những cơ sở quan trọng để xây dựng hệ thống pháp luật, lẽ đương nhiên phong tục tập quán sẽ có những tác động, ảnh hưởng nhất định đến các quy phạm pháp luật Chính vì lẽ đó mà các quy định của pháp luật điều chỉnh về việc kết hôn cũng sẽ có những ảnh hưởng sâu sắc từ phong tục tập quán

Sự ảnh hưởng của phong tục, tập quán thể hiện ở hai phương diện Phương diện thứ nhất các phong tục, tập quán phù hợp, tốt đẹp ,… được nâng lên, pháp điển hóa thành những quy phạm, pháp luật điều chỉnh việc kết hôn Ngoài ra, khi được

Trang 23

luật hóa các phong tục tập quán này vẫn thể hiện được ý nghĩa nhân văn sâu sắc trong việc phát triển và duy trì các truyền thống tốt đẹp của cha ông đã để lại

điều luật được thi hành trên thực tiễn thay thế cho những phong tục tập quán lạc hậu không còn phù hợp, cản trở các quyền phát triển tự nhiên của con người và các phong tục, tập quán cũng cản trở việc đưa các quy định của pháp luật vào thực thi

do sự ăn sâu của các phong tục, tập quán tạo thành thói quen khó bỏ

- Yếu tố văn hóa

Việt Nam là một quốc gia phương Đông có ảnh hưởng nhiều bởi tư tưởng Nho giáo với giá trị cốt lõi là tư tưởng coi trọng các mối quan hệ xã hội đặc biệt là mối quan hệ trong gia đình Kết hợp với lối sống trọng tình của người Việt, tư tưởng

ấy đã tạo ra sự liên kết giữa cá nhân và cộng đồng một cách sâu sắc, hun đúc thành tinh hoa văn hóa Việt Điều này chi phối nhiều đến đời sống hôn nhân và có tác động đến pháp luật điều chỉnh việc kết hôn Trong bối cảnh hội nhập, pháp luật điều chỉnh việc kết hôn đã bắt kịp với xu thế chung của thời đại bằng việc ghi nhận việc kết hôn có yếu tố nước ngoài Ở góc độ này, pháp luật về kết hôn không chỉ có ý nghĩa trong việc đảm bảo quyền tự do kết hôn của mỗi cá nhân mà còn thể hiện rõ những giá trị truyền thống trong văn hóa ứng xử của người Việt Nam Bên cạnh

đó, những giá trị truyền thống văn hóa của người Việt Nam cũng được thể hiện trong các quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn Ví dụ như truyền thống đề cao lòng chung thủy, thể hiện qua các quy định về việc cấm kết hôn đối với người đang có vợ, có chồng hoặc truyền thống tôn trọng thứ bậc và trật tự trên dưới trong quan hệ gia đình, phản ánh qua quy định về cấm kết hôn giữa những người có cùng dòng máu về trực hệ hoặc giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; cấm kết hôn giữa cha mẹ nuôi với con nuôi

- Chính sách xã hội

“ s ã i là h th qu ể ơ n, gi i pháp và bi n

p p Đ ng cầm quyề v N ớ ề ra và tổ ch c th c hi n trong th c tiễn

ời s ng nhằm kiể s t ều ti t và gi i quy t các v ề xã h ặt r tr ớc xã

Trang 24

h i” [15, 3-9] Đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng là kim chỉ nam cho mọi

quyết sách đối với các lĩnh vực đời sống xã hội Trên cơ sở đó, Nhà nước đề ra các giải pháp cụ thể nhằm thực hiện một cách hiệu quả các quyết sách này Có thể nói, pháp luật điều chỉnh việc kết hôn có mối liên hệ biện chứng với các chính sách về gia đình nói riêng và chính sách phát triển kinh tế xã hội nói riêng Các chính sách

về gia đình được Nhà nước ban hành có tác động sâu sắc tới pháp luật điều chỉnh việc kết hôn Chiến lược quốc gia về gia đình của Việt Nam là nhóm chính sách có mối liên hệ sâu sắc với pháp luật điều chỉnh việc kết hôn Bởi vì thực hiện mục tiêu quốc gia xây dựng Vì thế, pháp luật điều chỉnh việc kết hôn trước hết phải đảm bảo

là hệ thống các quy phạm pháp luật tạo cơ sở để xác lập các cuộc hôn nhân lành mạnh làm nền tảng xây dựng gia đình Ở góc độ này, chính sách về gia đình cũng là

cơ sở để xây dựng các quy phạm pháp luật về kết hôn đồng thời cũng giúp chúng ta đưa các quy định của pháp luật về kết hôn vào cuộc sống [2, 39]

Các yếu tố tác động tới pháp luật điều chỉnh việc xác lập quan hệ vợ chồng cũng tạo ra những điểm tương đồng và khác biệt trong pháp luật về kết hôn giữa các quốc gia trên thế giới Mỗi quốc gia với những nền văn hóa khác nhau, điều kiện kinh tế và các chính sách xã hội đặc thù thì pháp luật điều chỉnh việc kết hôn của mỗi quốc gia đó cũng phản ánh rõ những nét riêng nhất định

Các yếu tố trên tác động đến pháp luật điều chỉnh việc kết hôn không mang tính chất riêng rẽ và độc lập mà thể hiện một cách linh hoạt, đan xen vào nhau, có sự tác động qua lại với nhau Sự phân chia như trên chỉ mang tính chất tương đối nhằm đánh giá một cách tổng quát những yếu tố tác động tới pháp luật điều chỉnh việc kết

hôn để đưa ra những giải pháp tốt nhất cho việc hoàn thiện pháp luật về kết hôn

1.1.3 Ý nghĩa của pháp luật về kế hôn

1.1.3.1 Ý ĩ p p ý

Pháp luật điều chỉnh việc kết hôn tạo chuẩn mực pháp lý cho hành vi ứng xử của mỗi chủ thể thi hành, áp dụng pháp luật trên cơ sở tôn trọng các quyền con người của cá nhân Các quy định của pháp luật về kết hôn đã tạo ra khung pháp lý chuẩn mức cho hành vi của các cá nhân khi thực hiện các chế định về kết hôn Các

Trang 25

cá nhân sẽ căn cứ vào quy định này mà có những hiểu biết nhất định về việc được làm hoặc không được làm gì khi kết hôn và họ sẽ có những quyền gì khi thực hiện kết hôn từ đó mà xác lập, thực hiện hành vi cho đúng với chuẩn mực xã hội và phù hợp với pháp luật

Pháp luật điều chỉnh việc kết hôn còn góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, lợi ích chung của gia đình và xã hội Pháp luật điều chỉnh việc kết hôn với các quy định cụ thể về điều kiện kết hôn, đăng ký kết hôn, hình thức và hậu quả của việc xử lý vi phạm về điều kiện kết hôn là cơ sở pháp lý quan trọng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, lợi ích của gia đình và xã hội Với các quy định này quyền tự do kết hôn của mỗi cá nhân được pháp luật bảo vệ Trường hợp người kết hôn, kết hôn trái với ý chí tự nguyện của họ thì theo quy định của pháp luật, họ có quyền khởi kiện yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật đó Ngoài ra lợi ích của các chủ thể khác có liên quan, lợi ích của gia đình và xã hội cũng được bảo vệ bằng các quy định của pháp luật về kết hôn Chế định kết hôn ghi nhận các trường hợp không được phép kết hôn nhằm bảo vệ lợi ích của gia đình và

xã hội Ví dụ như việc cấm kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ hoặc giữa những người có họ trong phạm vi ba đời Đó là việc kết hôn ảnh hưởng đến thuần phong, mỹ tục của người Việt Nam đồng thời làm suy giảm chất lượng giống nòi Vì thế, vì lợi ích của gia đình và xã hội, người kết hôn khi có mối quan hệ gần gũi này sẽ không được phép kết hôn Chế định kết hôn cũng dự liệu các chế tài cần thiết nhằm xử lý nghiêm minh đối với các hành vi vi phạm, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi cá nhân, của gia đình và xã hội

1.1.3.2 Ý ĩ ã i

Pháp luật điều chỉnh việc kết hôn góp phần giữ gìn và phát huy nét bản sắc, văn hóa truyền thống trong gia đình Việt Nam Như đã đề cập ở trên pháp luật chính

là sự phản ánh của các phong tục, tập quán các truyền thống của dân tộc Việt Nam

do đó khi thực hiện các quy định pháp luật về kết hôn thì các truyền thống tốt đẹp tiếp tục được lưu giữ qua các thế hệ Các truyền thống về tình cảm gia đình, tình yêu thương, sự chia sẻ khó khăn của hai vợ chồng được pháp điển hóa thành các quyền

Trang 26

và nghĩa vụ của vợ chồng khi thực hiện các quy định về kết hôn Sự chung thủy cũng được luật hóa bằng quy định chung sống một vợ một chồng nhằm đảm bảo tốt nhất các lợi ích của người kết hôn

Pháp luật điều chỉnh việc kết hôn tạo ra tiền đề để xây dựng gia đình Việt Nam tiến bộ, bình đẳng hạnh phúc Các quy định về kết hôn được xây dựng trên cơ sở của rất nhiều yếu tố tác động bao gồm tự nhiên, lịch sử, văn hóa, xã hội để đảm bảo

sự cân bằng về các điều kiện phát triển, quyền và nghĩa vụ của những người kết hôn

mà không có sự thiên lệch về bên nào như thời Phong kiến với chế độ “nam quyền”

- tất cả các quyền đều nghiêng về bên nam giới, nữ giới chỉ phụ thuộc và không được coi trọng Khi các quy định của pháp luật về kết hôn được thực hiện thì mọi quyền lợi và nghĩa vụ của mọi người kết hôn đều được đảm bảo, không có sự bất bình đẳng giữa nam hay nữ, đây chính là cơ sở để tạo lập một gia đình bình đẳng, tiến bộ và là cơ sở để có được hạnh phúc của mỗi gia đình sau này bởi kết hôn chính

là khởi điểm đầu tiên, hình thành nên gia đình

1.1.3.3 Ý ĩ t

Pháp luật điều chỉnh việc kết hôn góp phần củng cố và cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng cao cho nền kinh tế Con người là nhân tố quyết định đến mọi sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội Vì thế, một nền kinh tế muốn phát triển thì phải tập trung đầu tư phát triển nguồn nhân lực với trình độ và hiểu biết sâu rộng Gia đình với vai trò là môi trường quan trọng để rèn luyện, đào tạo nhân cách của con người, gia đình tốt thì xã hội mới tốt Một đứa trẻ được sinh ra trong một gia đình hạnh phúc và được cha mẹ quan tâm giáo dục đầy đủ chắc chắn vấn đề về nhân cách, về hiểu biết sẽ khác một đứa trẻ sinh ra trong gia đình không được quan tâm, không được giáo dục đầy đủ Chế định kết hôn góp phần xây dựng gia đình hạnh phúc và bền vững là động lực cho mỗi cá nhân phát huy mọi nỗ lực của mình để học tập, lao động và cống hiến đóng góp vào sự phát triển chung của toàn xã hội cũng như sự phát triển của nền kinh tế

Pháp luật điều chỉnh việc kết hôn góp phần giảm tải sức nặng đối với nền kinh tế đẩy lùi tình trạng đói nghèo và lạc hậu đảm bảo sự phát triển bền vững của

Trang 27

nền kinh tế Các quy định của chế định kết hôn cấm kết hôn với những người cận huyết trong phạm vi ba đời đã hạn chế được những tỷ lệ trẻ em ra đời mắc các bệnh

về máu, dị tật bẩm sinh là gánh nặng cho nền kinh tế hiện nay

Qua việc phân tích ý nghĩa của chế định kết hôn cho thấy, chế định kết hôn

có vị trí đặc biệt quan trọng đối với pháp luật điều chỉnh các quan hệ HN&GĐ Chế định kết hôn thể hiện rõ vị trí là một chế định trung tâm trong hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ HN&GĐ, thể hiện ở những khía cạnh sau:

- Pháp luật điều chỉnh việc kết hôn là hệ thống các quy phạm mang tính chất nòng cốt để Luật HN&GĐ thực hiện nhiệm vụ: xây dựng, hoàn thiện và bảo vệ chế

độ HN&GĐ tiến bộ, xây dựng chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của các thành viên trong gia đình, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình, kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức tốt đẹp của gia đình Việt Nam nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững Trong gia đình Việt Nam, quan hệ hôn nhân là quan hệ khởi đầu, quan hệ nền tảng và có tính chi phối tới các quan hệ khác như quan hệ cha mẹ và con, quan hệ giữa anh chị em với nhau Vì thế, những cuộc hôn nhân bền vững, hạnh phúc luôn là cơ sở vững chắc làm tiền đề quan trọng để xây dựng gia đình hạnh phúc Pháp luật điều chỉnh việc kết hôn đã đóng vai trò quan trọng trong việc xác lập những cuộc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ tạo nền tảng bền vững để xây dựng gia đình Pháp luật điều chỉnh việc kết hôn cũng loại bỏ được những yếu tố trở ngại cản trở sự phát triển của gia đình Vì thế, pháp luật điều chỉnh việc kết hôn đóng vai trò là hệ thống các quy phạm nòng cốt trong việc thực hiện nhiệm vụ của Luật HN&GĐ

- Pháp luật điều chỉnh việc kết hôn là nền tảng pháp lý quan trọng có tính chất quyết định tới nội dung điều chỉnh của nhiều chế định pháp lý khác Chế định kết hôn có mối liên hệ với hầu hết các chế định pháp luật điều chỉnh các quan hệ HN&GĐ như chế định quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng, quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con, chế định cấp dưỡng, chế định ly hôn Trong mối liên hệ này, chế định kết hôn tạo tiền đề pháp lý quan trọng để chúng ta xem xét việc bảo vệ quyền

và lợi ích của các chủ thể có liên quan Ví dụ, quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng

Trang 28

chỉ phát sinh khi hai bên nam nữ được thừa nhận là vợ chồng trước pháp luật Mối liên hệ hôn nhân được xác định là một trong những điều kiện phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng Hai người có quan hệ hôn nhân hợp pháp thì khi có yêu cầu chấm dứt quan hệ hôn nhân, Tòa án mới giải quyết yêu cầu của họ theo thủ tục

ly hôn Do vậy, nếu không có căn cứ pháp lý để xác định rõ hai bên nam nữ có phải là vợ chồng hay không sẽ không có cơ sở pháp lý để giải quyết các vấn đề pháp

lý phát sinh trong các chế định có liên quan Vì thế, chế định kết hôn được quy định

cụ thể, chặt chẽ và toàn diện không những tạo cơ sở, tiền đề quan trọng để chúng ta hoàn thiện các chế định có liên quan mà còn tạo ra sự liên kết thống nhất toàn bộ hệ thống pháp luật HN&GĐ, góp phần nâng cao hiệu quả điều chỉnh pháp luật trong lĩnh vực HN&GĐ, thúc đẩy sự phát triển chung của toàn xã hội

1.2 Kết hô tro ph p uật V ệt Nam qua thờ kỳ

1.2.1 Kết hôn trong pháp luật Việt Nam trước cách mạng tháng Tám năm 1945

1.2.1.1 Qu ị về t tr t ờ P

Quốc Triều hình luật (QTHL) và Hoàng Việt luật lệ (HVLL) được xem là hai bộ luật tiêu biểu, thể hiện tương đối đầy đủ các quy định của pháp luật Phong kiến Việt Nam, vì thế khi xem xét, đánh giá các quy định về kết hôn trong pháp luật Việt Nam

ở thời kỳ Phong kiến chúng ta nên tập trung vào việc đánh giá các quy định này

- Về điều kiện kết hôn

Khi xem xét các quy định của hai bộ luật này thì có thể thấy rằng cả hai bộ luật này đều có những điểm tương đồng trong các quy định về điều kiện kết hôn Việc kết hôn giữa người con trai và người con gái phải có sự ưng thuận của cha mẹ hoặc các bậc tôn thuộc Việc quy định như vậy đã thể hiện được sự quan trọng của nghi lễ kết hôn giữa nam và nữ Do đó, quyết định việc hôn nhân không phải là việc của người kết hôn mà là việc của gia đình, dòng họ Những người nam và nữ không được tự do kết hôn mà sẽ theo sự sắp đặt “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” của gia đình có xem xét đến sự đồng thuận của cả hai bên Nếu gia đình hoặc các bậc tôn thuộc không đồng ý, thì hôn nhân của người con trai và người con gái sẽ không được diễn ra hoặc nếu có diễn ra cũng không được công nhận là vợ chồng chính thức Sự tự nguyện kết hôn của hai bên nam, nữ không được ghi nhận

Trang 29

- Về quy định cấm kết hôn

Hai bên nam nữ sẽ không được kết hôn trong thời kỳ tang lễ của cha mẹ hai bên, cấm kết hôn khi cha mẹ bị giam cầm tù tội (Điều 317- 318 QTHL) Việc quy định này đã thể hiện được chữ “Hiếu” của người con dành cho cha mẹ, là một phong tục truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam Ngoài ra khi đang có tang chồng cũ, người phụ nữ cũng bị cấm kết hôn và được quy định tương tự như với trường hợp có tang cha mẹ

Đặc biệt trong quy định về cấm kết hôn, hai Bộ luật cũng đã chỉ rõ việc cấp xác lập quan hệ vợ chồng: cấm lấy cô, dì, chị, em gái, kế nữ (con gái riêng của vợ, người thân thích); cấm lấy vợ của anh, em, của thầy học đã chết (Điều 324) Đặc biệt, các quy định điều cấm kết hôn thể hiện rõ việc bảo vệ trật tự, đẳng cấp xã hội: cấm các quan và thuộc lại lấy đàn bà con gái hát xướng làm vợ (Điều 323) Vì người đời xưa quan niệm đàn bà con gái hát xướng là người có thân phận thấp kém

“xướng ca vô loài” [2, 47] Như vậy, nền tảng đạo đức đặt nền móng cho việc xây dựng các quy phạm pháp luật về điều kiện kết hôn đồng thời các quy phạm pháp luật đó cũng chính là những công cụ dẫn dắt người dân tôn trọng quy tắc đạo đức, tôn trọng pháp luật

- Về nghi thức kết hôn

QTHL và HVLL đều không quy định về nghi thức kết hôn Tuy nhiên, theo quyển “Hồng Đức hôn giá lễ nghi” có thể thấy rằng, nghi thức truyền thống là nghi thức được thừa nhận Cả hai văn bản pháp luật này đều quy định khi nhà gái đã nhận đồ sính lễ của nhà trai thì coi như hai người đã “thành hôn” Vì vậy, nếu đem người con gái mà gả cho người khác thì xử tội đồ làm khao đinh (85, Điều 322), (54, Điều 94) QTHL cũng dự liệu một vài trường hợp đặc biệt, mặc dù đã nhận đồ sính lễ nhưng vẫn có thể từ hôn mà không bị phạt Đó là trường hợp, con gái hứa gả chồng mà chưa thành hôn, nếu người con trai bị ác tật, hay phạm tội hoặc phá tán tài sản thì cho phép người con gái được kêu quan mà trả đồ lễ Nếu người con gái bị ác tật hay phạm tội thì không phải trả lại đồ lễ HVLL còn có quy định mới mẻ về hiệu lực của hôn nhân qua quy định về “hôn thư” Hôn thư là việc hứa gả

Trang 30

thể hiện bằng văn bản Hứa gả có văn bản mà đổi ý phạt 50 roi Nhà gái đã nhận đồ sính lễ cũng như vậy Nếu nhà gái lại hứa gả cho nhà khác thì phạt 70 trượng, đã thành hôn xử 80 trượng (Điều 94)

- Xử phạt vi phạm các quy định về đăng ký kết hôn

Cả hai Bộ Luật đều quy định việc xử lý các trường hợp vi phạm điều kiện kết hôn bằng hình lượng với các hình thức xử phạt như bằng trượng, xử biếm, xử đồ… Việc quy định này cho thấy tại thời điểm phong kiến việc bảo vệ các giá trị đạo đức, phong tục, tập quán trong lĩnh vực HN&GĐ cũng như trật tự xã hội được đề cao Pháp luật về HN&GĐ thời kỳ này là sản phẩm tất yếu của một thời kỳ mà tư tưởng Nho giáo được xem nhu khuôn vàng thước ngọc và chuẩn mực để quản lý xã hội

1.2.1.2 Qu ị về t tr p p u t V t N t ờ P p t u

Khi thực dân Pháp đô hộ nước ta, Pháp đã chia đất nước thành ba kỳ: Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ tương ứng với ba kỳ sẽ là ba bộ luật khác nhau để cai trị Ở Bắc kỳ áp dụng Bộ Dân luật Bắc kỳ (DLBK), ở Trung kỳ áp dụng Bộ Dân luật Trung kỳ (DLTK), ở Nam kỳ áp dụng các quy định trong Bộ dân luật Giản yếu năm

1883 (Bộ DLGY) Mặc dù có ba bộ luật áp dụng trên đất nước ta thời bấy giờ nhưng nhìn chung các quy định của Luật đều ảnh hưởng bởi Bộ dân luật của Pháp, trong đó Nam kỳ với bộ DLGY chịu nhiều ảnh hưởng sâu sắc nhất

- Về điều kiện kết hôn

Bộ DLBK và Bộ DLTK đều quy định tuổi kết hôn của nam là đầy mười tám tuổi và nữ là đầy mười lăm tuổi (Điều 73) Khác với hai Bộ dân luật trên, Bộ

DLGY trong phần thứ năm nói về Hôn thú, tại mục “p ép ớ ù p ép

” quy định tuổi kết hôn của nữ ít nhất là đầy mười bốn tuổi, nam ít nhất là

đầy mười sáu tuổi Như vậy, so với thời kỳ phong kiến, tuổi kết hôn theo pháp luật thời kỳ Pháp thuộc đã có những chuyển biến nhất định, tuổi kết hôn dần được tăng lên là dấu hiệu thể hiện điểm tiến bộ đáng kể trong việc điều chỉnh pháp luật

về kết hôn hướng tới việc bảo vệ quyền tự do kết hôn đối với mỗi cá nhân

Về sự ưng thuận của cha mẹ, cả ba Bộ dân luật này đều có những nét tương đồng, thể hiện sự tiếp nhận những giá trị văn hóa, truyền thống của người Việt Nam

Trang 31

thể hiện trong cổ luật Bởi vì, ba Bộ dân luật đều quy định, việc kết hôn phải có sự ưng thuận của cha mẹ, dù hai bên trai gái đã trưởng thành Tuy nhiên, Bộ DLBK và

Bộ DLTK cũng dự liệu nếu có lý do chính đáng các tỉnh trưởng có quyền miễn cho các người con thành niên khỏi phải có sự ưng thuận của cha mẹ Điều 77 Bộ DLGY có điểm tiến bộ vượt xa so với quy định của pháp luật phong kiến khi trao cho người kết hôn quyền được phép ưng thuận Đặc biệt, Bộ DLGY quy định cụ thể việc kết hôn phải khai trước Hộ lại Những nội dung người kết hôn phải khai báo như: Tên, tuổi và chỗ ở của người kết hôn; họ, tên cha mẹ và chủ hôn, người mai mối nếu có Sau đó mọi người nói trên và Hộ lại cùng ký tên vào và đóng con dấu làng (Điều 13-18)

- Về cấm kết hôn

Các quy định điều cấm nhằm bảo vệ trật tự đẳng cấp của thời kỳ phong kiến được loại bỏ Về hình thức kết hôn, Bộ DLBK và Bộ DLTK vẫn ghi nhận hiệu lực của nghi thức truyền thống Theo đó, sau khi nhận đồ sính lễ, bên nào bãi bỏ lời hứa hôn mà không có lý do chính đáng thì phải bồi thường thiệt hại cho bên kia Tuy nhiên, để hôn nhân có giá trị pháp lý, việc kết hôn phải được khai với Hộ lại Về điểm này, Bộ DLGY còn có sự cách tân táo bạo hơn khi quy định người kết hôn có thể lựa chọn nghi thức kết hôn cử hành trước mặt Hộ lại mà không cần thiết phải thực hiện các nghi thức truyền thống Điều này cho phép suy đoán rằng, về mặt hình thức kết hôn, pháp luật thời kỳ này bắt đầu có sự phân định giữa nghi thức truyền thống và nghi thức dân sự

- Việc xử lý vi phạm các điều kiện kết hôn

Về việc xử lý vi phạm các điều kiện kết hôn, khác với pháp luật phong kiến, pháp luật thời kỳ này không quy định “hình phạt” đối với các trường hợp vi phạm điều kiện kết hôn Việc kết hôn vi phạm điều kiện thì tùy từng trường hợp vi phạm

có thể bị coi là hôn nhân vô hiệu tuyệt đối hay vô hiệu tương đối Có thể thấy, pháp luật thời kỳ Pháp thuộc thực chất là sự chuyển tiếp về nội dung các quy định pháp luật thời kỳ phong kiến Bởi lẽ, nội dung các quy định của pháp luật phong kiến khá phù hợp với chính sách “nô dịch, ngu dân” của thực dân Pháp Mặt khác, các quy

Trang 32

định của pháp luật phong kiến đã ăn sâu vào thói quen, cách ứng xử của người dân Việt Nam, cho nên nhà cầm quyền Pháp cũng không chủ trương phá vỡ Tuy nhiên,

về mặt kỹ thuật lập pháp, pháp luật thời kỳ này ít nhiều ảnh hưởng pháp luật Pháp

Sự du nhập kỹ thuật lập pháp của phương Tây đã khiến cho các quy định về kết hôn

đi theo xu hướng “dân sự hóa” với sự cách tân đáng kể Việc bảo vệ quyền của người kết hôn ít nhiều được thể hiện

1.2.2 Kết hôn trong pháp luật Việt Nam từ cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1975

1.2.2.1 K t tr p p u t V t N t ạ t 1945

1954

Cách mạng tháng Tám thành công Việt Nam bước sang một trang sử mới Ngày 10/10/1945, chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký ban hành Sắc lệnh số 90/SL cho phép áp dụng một cách chọn lọc quy lệ và chế định trong các Bộ dân luật cũ Tiếp đến, ngày 22/5/1950, Sắc lệnh số 97/SL về việc sửa đổi một số quy lệ và chế định trong dân luật được ban hành Sắc lệnh đã có những quy định tiến bộ về kết hôn

Theo đó điều kiện kết hôn giữa hai người nam và nữ không cần đến điều kiện được sự đồng ý của cha mẹ mà họ có thể tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau Đây chính là một điểm rất tiến bộ lần đầu tiên ghi nhận sự tự nguyện đăng ký kết hôn của nam và nữ

Việc cấm kết hôn cũng đã xóa bỏ trường hợp đang có tang chế không được phép đăng ký kết hôn Với quy định này, bước đầu tạo ra những hiệu ứng vô cùng tích cực cho việc xây dựng đời sống HN&GĐ mới, tạo nền tảng tiến tới xây dựng một đạo luật hoàn chỉnh điều chỉnh các quan hệ về HN&GĐ, như xóa bỏ việc cấm kết hôn trong thời kỳ tang chế và cho phép người kết hôn được tự nguyện quyết định việc kết hôn không cần có sự bằng lòng của cha mẹ (Điều 2-3) Với quy định này, bước đầu đã tạo ra những hiệu ứng vô cùng tích cực cho việc xây dựng đời sống HN&GĐ mới, tạo nền tảng tiến tới xây đựng một đạo luật hoàn chỉnh

1.2.2.2 Qu ị về t tr p p u t V t N t 1954 1975

Đất nước bị chia cắt thành hai miền do đó cũng tồn tại song song hai hệ thống pháp luật Ở miền Bắc, Luật HN&GĐ năm 1959 được Quốc hội khóa I kỳ

Trang 33

họp thứ 11 thông qua vào ngày 29/12/1959 Đây là đạo luật đầu tiên của Nhà nước

ta về HN&GĐ Sự ra đời của Luật HN &GĐ năm 1959 có ý nghĩa chính trị to lớn Luật này ghi nhận và bảo vệ quyền tự do kết hôn, quyền bình đẳng nam nữ trong đời sống HN&GĐ Với ý nghĩa đó, Luật HN&GĐ năm 1959 là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc xây dựng một chế độ HN&GĐ tự do, tiến bộ, xóa bỏ những tập tục lạc hậu của chế độ HN&GĐ phong kiến, góp phần giải phóng phụ nữ Ở góc độ này, quy định về kết hôn có tính chất bản lề mở ra cánh cửa bình đẳng giữa nam và nữ trong gia đình Luật HN&GĐ năm 1959 đã giành riêng một chương quy định về kết hôn

Về tuổi kết hôn: Luật HN&GĐ năm 1959 quy định nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên mới được phép kết hôn (Điều 5) Như vậy, so với pháp luật trước đó, độ tuổi kết hôn trong Luật này quy định ở mức cao hơn Luật HN&GĐ năm 1959 cũng quy định cấm tảo hôn nhằm ngăn chặn trường hợp xác lập quan hệ hôn nhân trước tuổi luật định

Về sự tự nguyện: Khác với pháp luật dưới chế độ cũ, Luật HN&GĐ năm

1959 ghi nhận sự tự nguyện kết hôn cho hai bên nam nữ (Điều 4) Đây là một đảm bảo quan trọng để các bên nam nữ thực hiện quyền tự do kết hôn Theo đó, những hành vi cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự do đều bị cấm Trên cơ sở đó, Luật HN&GĐ 1959 cũng quy định cho phép người đàn bà góa có quyền tái giá (Điều 8) Quy định này thực sự là một sự “cởi trói” cho người phụ nữ, giúp họ vượt qua những lễ giáo phong kiến hà khắc để thực hiện quyền tự do kết hôn [2, 53]

Về các trường hợp luật cấm kết hôn: Quy định về cấm kết hôn được xây dựng theo hướng khoa học hơn Ngoài việc cấm kết hôn đối với những người đang

có vợ hoặc có chồng; giữa những người cùng dòng máu về trực hệ, giữa cha mẹ nuôi và con nuôi, giữa anh chị em ruột, anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha… Luật HN&GĐ năm 1959 còn cấm kết hôn đối những người bất lực hoàn toàn về sinh lý; mắc một trong các bệnh hủi, hoa liễu, loạn óc, mà chưa chữa khỏi (Điều 9 - 10) Như vậy, các điều cấm đã đi theo xu hướng quan tâm nhiều đến thể chất của người kết hôn Đây cũng là những quy định thể hiện việc bảo đảm cho các cuộc hôn nhân phát triển lành mạnh, giúp gia đình thực hiện chức năng sinh đẻ để

Trang 34

bảo tồn nòi giống Điều này khẳng định rằng, quy định về điều kiện kết hôn không chỉ chịu sự tác động của phong tục, tập quán, đạo đức, truyền thống mà còn phải xem xét trên cả khía cạnh khoa học [2, 53]

Về hình thức kết hôn: Luật HN&GĐ năm 1959 chỉ công nhận một nghi thức kết hôn có giá trị pháp lý, đó là nghi thức đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Mọi nghi thức kết hôn khác đều không có giá trị pháp lý Đây là cơ sở để xóa bỏ những hủ tục lạc hậu như tục thách cưới cao hay yêu sách của cải trong việc cưới, góp phần lành mạnh hóa các quan hệ HN&GĐ

Ở miền Nam, từ năm 1954 đến năm 1975, chính quyền Sài Gòn ban hành một hệ thống pháp luật riêng Pháp luật điều chỉnh các quan hệ HN&GĐ tập trung trong ba văn bản pháp luật là: Luật Gia đình năm 1959, Sắc luật số 15/64 và Bộ dân luật năm 1972

Điều kiện kết hôn

Luật Gia đình năm 1959 quy định độ tuổi kết hôn giống như Bộ DLBK và Bộ DLTK Độ tuổi kết hôn của nữ là đủ mười năm tuổi và nam là đủ mười tám tuổi (Điều 6) Bộ Dân luật năm 1972 và Sắc luật số 15/64 đều quy định độ tuổi kết hôn của nữ là đủ mười sáu tuổi và nam là đủ mười tám tuổi Bên cạnh đó, thể hiện sự linh hoạt của thực tiễn đời sống HN&GĐ trong việc thực thi pháp luật về điều kiện tuổi kết hôn, nhà làm luật thời kỳ này cũng cho phép đặc cách hạ thấp tuổi kết hôn trong những trường hợp đặc biệt

Cả ba văn bản pháp luật của Chính quyền Sài Gòn áp dụng thời bấy giời đều quy định quan hệ hôn nhân được thừa nhận trước pháp luật, các bên kết hôn phải khai việc kết hôn với viên chức hộ tịch và ghi vào sổ kết hôn

Về các trường hợp cấm kết hôn: Theo Bộ Dân luật năm 1972, những người không có mối liên hệ về huyết thống nhưng vì lý do đạo đức, họ vẫn bị cấm kết hôn: cấm kết hôn giữa cha mẹ nuôi với con nuôi cũng như với ti thuộc trực hệ của người này; giữa cha mẹ nuôi với người phối ngẫu của người con nuôi; giữa những người con nuôi của cùng một người; giữa những người con nuôi và con đẻ của người đứng nuôi (Điều 111) Cấm kết hôn khi hôn thú trước chưa “đoạn tiêu” [ 2, 54] Pháp luật

Trang 35

thời kỳ này thừa nhận chế độ đơn hôn, nên chỉ cho phép xác lập quan hệ hôn nhân khi cuộc hôn nhân trước không còn tồn tại Đây là một quy định mới so với cổ luật Cũng có thể coi đó như một điểm cách tân đáng chú ý mà nhà làm luật của chính quyền Sài Gòn đã dự liệu

Cấm kết hôn trong trường hợp người đàn bà ở vào thời kỳ “cư sương” Pháp luật thời kỳ này không cấm kết hôn trong thời kỳ tang chế Tuy nhiên, lại quy định việc cấm kết hôn khi người đàn bà ở vào thời kỳ “cư sương” Thời kỳ “cư sương” là khoảng thời gian luật định, sau khi người chồng chết, người đàn bà không được phép kết hôn Pháp luật thời kỳ này dự liệu thời kỳ cư sương kéo dài 300 ngày tính từ thời điểm người chồng chết Trong thời gian này, người đàn bà góa không thể tái giá [2, 54] Quy định này là giải pháp hạn chế tranh chấp trong việc xác định cha cho con Bởi vì, trong phạm vi 300 ngày, nếu người vợ kết hôn với người khác thì theo nguyên tắc suy đoán pháp lý, đứa trẻ sinh ra vẫn được suy đoán là con của người chồng trước, trong khi đó, người vợ lại đang tồn tại quan hệ hôn nhân với người chồng sau

Như vậy, pháp luật của chính quyền Sài Gòn về kết hôn, có nhiều nét tương đồng với các bộ dân luật thời Pháp thuộc nhưng cũng thể hiện ít nhiều dấu ấn riêng Nhà làm luật thời kỳ này, mặc dù cố gắng trao quyền tự do cho người kết hôn nhưng pháp luật về kết hôn, thực chất vẫn chưa bảo đảm quyền tự do kết hôn cho các bên nam, nữ Ở một góc độ nhất định, sự cách tân theo xu hướng tiến bộ vẫn chỉ mang tính chất nửa vời Mặt khác, pháp luật của chính quyền Sài gòn là pháp luật của chính quyền bù nhìn tay sai do Mỹ dựng lên nhưng không chịu ảnh hưởng bởi luật pháp Mỹ Đây là điểm khá đặc thù so với thời kỳ Pháp thuộc

1.2.3 Kết hôn trong pháp luật Việt Nam từ năm 1976 đến nay

Đất nước được thống nhất nên toàn bộ các quy định của pháp luật được xây dựng lại trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật đã có Luật HN&GĐ năm 1986 được ban hành thay thế cho Luật HN&GĐ năm 1959.Các quy định về kết hôn trong Luật HN&GĐ năm 1959 và các văn bản hướng dẫn thi hành được áp dụng thống nhất trên cả nước Năm 1980, Hiến pháp mới được ban hành thay thế Hiến pháp

Trang 36

năm 1959 Tình hình kinh tế xã hội cũng đã có những thay đổi, Luật HN&GĐ năm

1959 bắt đầu thể hiện những bất cập cần phải được bổ sung để đáp ứng việc điều chỉnh các quan hệ HN&GĐ trong tình hình mới Vì vậy, Luật HN&GĐ năm 1986 được ban hành thay thế Luật HN&GĐ năm 1959 Các quy định về điều kiện kết hôn

về cơ bản vẫn giống như Luật HN&GĐ năm 1959 nhưng có những sửa đổi phù hợp hơn Diện cấm kết hôn được quy định theo hướng thu hẹp hơn Về hình thức kết hôn, nhà làm luật 1986 lại chưa tỏ ra dứt khoát với quy định về đăng ký kết hôn Theo đó, việc kết hôn do hai bên tự nguyện, tuân thủ quy định điều kiện độ tuổi, không rơi vào các trường hợp luật cấm kết hôn thì không bị coi là trái pháp luật (Điều 9) Như vậy, ngoài trường hợp xác lập quan hệ vợ chồng có đăng ký kết hôn, Luật này đã gián tiếp thừa nhận “hôn nhân thực tế” Luật HN&GĐ năm 1986 dành một điều luật riêng quy định về việc kết hôn có yếu tố nước ngoài Pháp lệnh về HN&GĐ giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài năm 1993, và Nghị định số 184/CP ngày 30/11/1994 của Chính phủ quy định về thủ tục kết hôn, nhận con ngoài giá thú, nuôi con nuôi, nhận đỡ đầu giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, tiếp tục cụ thể hóa, tạo cơ sở pháp lý quan trọng để bảo vệ quyền tự do kết hôn cho các bên nam nữ

Sau chặng đường hơn 10 năm áp dụng, Luật HN&GĐ năm 1986 đã bắt đầu bộc lộ những bất cập, đòi hỏi phải có sửa đổi, bổ sung cho phù hợp, đáp ứng yêu cầu điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình nói chung và vấn đề kết hôn nói riêng Với tinh thần đó, Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2000 đã được ban hành thay thế Luật HN&GĐ năm 1986 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 được Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 9/6/2000 đã có tác động tích cực đến việc đề cao vai trò của gia đình trong đời sống xã hội, giữ gìn và phát huy truyền thống, những phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc Việt Nam Trên cơ sở kế thừa và phát triển các quy định của Luật HN&GĐ năm 1986, vấn đề kết hôn đã được quy định đầy đủ và hoàn thiện, góp phần nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật về kết hôn trong thời kì hội nhập, giữ gìn và phát huy những yếu tố bản sắc, truyền thống của người Việt Nam trong quan hệ hôn nhân và gia đình

Trang 37

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 được ban hành đã tạo ra một hành lang pháp lý chặt chẽ, an toàn để điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể có liên quan trong quan hệ hôn nhân Qua

đó, đảm bảo yếu tố bền vững của hôn nhân và gia đình phù hợp với bối cảnh lịch sử của đất nước tại thời điểm đó Tuy nhiên, qua 13 năm thực hiện, trước những thay đổi của tình hình kinh tế - xã hội của đất nước, đã khiến cho nhiều quy phạm pháp luật được quy định trong luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã bị lỗi thời, hiệu quả điều chỉnh thấp Bên cạnh đó, nhiều quan hệ mới phát sinh trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình chưa được luật điều chỉnh, từ đó, dẫn tới việc áp dụng tùy tiện, thiếu tính nhất quán của các cơ quan chức năng khi giải quyết các tranh chấp, xung đột có liên quan tới các quan hệ hôn nhân và gia đình mới phát sinh Chính vì vậy, việc sửa đổi, bổ sung Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 là một yêu cầu cần thiết

và cấp bách

Chế định kết hôn theo Luật HNGĐ 2014 đã được xây dựng trên cơ sở kế thừa

và phát triển chế định kết hôn trong Luật HNGĐ 1959, 1986 và 2000 Những quy định về kết hôn trong Luật HNGĐ đã được sửa đổi, bổ sung một cách hoàn thiện hơn, quy định chặt chẽ hơn và triệt để hơn, phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội nước

ta trong thời kỳ hiện nay

1.3 Qua đ ểm về kết hô trê thế thế ớ

Tại Hoa Kỳ kết hôn được hiểu là một khế ước dân sự (civil contract) của một người đàn ông và một người đàn bà để trở thành vợ chồng Vậy hôn nhân vừa là một sự cam kết ràng buộc cá nhân (private bond), vừa là một định chế xã hội (social institution), với những trách nhiệm và quyền lợi liên đới, hiệp lực, trong cách đối xử giữa hai bên hôn phối và con cái

Về điều kiện kết hôn: Hai bên có khả năng kết hôn, không dính líu với một cuộc hôn nhân khác (tức là người độc thân, đã ly dị) Quy định này cấm đoán hiện tượng song hôn (bigamy) hoặc đa thê, đa phối, nhiều vợ, nhiều chồng (polygamy, polygyny, polyandry); là người đủ tuổi kết hôn (vị thành niên 16, 17 tuổi đã có thể lập gia đình với sự ưng thuận của bố mẹ hoặc thẩm phán thụ lý); Có ý chí và ưng thuận kết hôn; không thuộc trực hệ gia đình (close blood relatives)

Trang 38

Thủ tục kết hôn: Hôn nhân theo nghi thức (marriage ceremony): ra Tòa án địa hạt xin cấp giấy phép cử hành hôn nhân (marriage license), trao giấy phép đó cho người chủ hôn (nhiệm cách chính quyền, hoặc đại diện tôn giáo) đứng ra thi hành thủ tục hôn nhân, ghi nhận sự ưng thuật kết hôn của hai bên phối ngẫu, rồi đăng ký chứng thư hôn nhân (marriage license recording) tại Tòa án sở tại; Cử hành nghi lễ tôn giáo hay dân sự (religiuos or civil ceremony) tùy theo sự lựa chọn của các đương sự

Hôn nhân theo Luật tập tục (Common-law marriage): hai bên nam nữ đủ tuổi lập gia đình, dù không có hôn thú nhưng sống với nhau như vợ chồng, một cách công khai, người đàn bà lấy chồng theo tập tục, muốn đổi tên sang họ chồng cũng có thể làm như ghi trên, nếu sau đó, muốn chấm dứt cuộc hôn nhân theo tập tục, đương

sự cũng phải lập thủ tục ly hôn trước tòa

Khi so sánh các quy định về kết hôn của Luật Hoa Kỳ chúng ta dễ dàng nhận thấy những điểm tương đồng và những điểm khác biệt về chế định kết hôn của Hoa

Kỳ và Việt Nam Sự phát triển khác nhau của nền văn hóa, trình độ phát triển kinh

tế - xã hội chính là nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt về chế định kết hôn

Tại Hoa Kỳ cho rằng kết hôn là một loại khế ước dân sự có quy định rõ quyền

và nghĩa vụ của các bên để trở thành vợ chồng Đây cũng là một trong những cách tiếp cận tương đối khác so với quan điểm truyền thống của Việt Nam và các nước phương Đông Quan điểm này mang đậm tính chất tiêu biểu cho các nước có nền kinh tế phát triển, hôn nhân của họ được xây dựng trên cơ sở là giao dịch, khế ước dân sự do hai bên tự nguyện thiết lập với sự chứng kiến của bên thứ ba So sánh với Luật Việt Nam, các chế định về kết hôn như đã phân tích không được coi là Hợp đồng, giao dịch dân sự do chưa thõa mãn đầy đủ các điều kiện cần và đủ cho một Hợp đồng, giao dịch dân sự

Như vậy từ việc so sánh Luật Việt Nam với Luật Hoa Kỳ, một nước phương Đông với một nước phương Tây chúng ta có thể dễ dàng so sánh cách tiếp cận, những quy định, góc độ ghi nhận về các chế định kết hôn Sự khác nhau này chính

là do sự khác biệt về nền văn hóa, trình độ phát triển kinh tế và những yếu tố xã hội tác động

Trang 39

1.4 Pho tụ , tập qu về kế hô và đ ều k ệ p dụ pho tụ , tập qu

về kết hô

1.4.1 Khái niệm phong tục, tập quán về kết hôn

Từ góc độ ngôn ngữ học, khái niệm phong tục, tập quán được hiểu:"Phong

t s t ó que ã t ề p ờ tu t e " ,

p qu t ó que t t u tr ờ s ờ t e "

[11, 76] Thói quen hiểu theo nghĩa của tiếng việt chính là lối sống, cách sống hay hoạt

động do lặp đi lặp lại lâu ngày thành quen, khó thay đổi Qua đó có thể thấy rằng, khái niệm phong tục, tập quán theo cách định nghĩa của ngôn ngữ học, giữa chúng không

có gì khác nhau Điều đó có nghĩa, phong tục chính là tập quán và tập quán chính là phong tục và phong tục, tập quán chỉ là hai cách gọi khác nhau mà thôi

Khác với cách tiếp cận trên, ở một cách tiếp cận khác - cách tiếp cận từ góc độ triết học, khái niệm phong tục, tập quán lại được hiểu là hai khái niệm khác nhau song

có mối quan hệ hữu cơ, gắn bó mật thiết với nhau Khái niệm tập quán được hiểu là: Những cách xử sự lặp đi lặp lại, thói quen của con người trong những tình thế nhất định Tập quán có bao gồm những thủ pháp trong lao động được mọi người thừa nhận, những hình thức quan hệ phổ biến trong một xã hội nhất định giữa người với người trong sinh hoạt hằng ngày và trong gia đình, những nghi lễ ngoại giao và tôn giáo, và những hành động lặp đi lặp lại khác phản ánh những đặc điểm trong cuộc sống của các

bộ lạc, giai cấp, dân tộc Cả phong tục của xã hội cũng được biểu hiện trong tập quán Tập quán được hình thành trong lịch sử - Những nhân tố ảnh hưởng đến sự xuất hiện và tính chất của các tập quán là: những đặc điểm lịch sử của dân tộc, đời sống kinh tế của

nó, những điều kiện khí hậu - thiên nhiên, địa vị xã hội của con người, các quan điểm tôn giáo, v.v Các tập quán có sức mạnh của một thói quen xã hội và ảnh hưởng đến Còn khái niệm phong tục được hiểu là: Những đặc điểm hành vi của một cộng đồng

xã hội nào đó của con người và phụ thuộc vào tâm lý xã hội; những tập quán độc đáo tồn tại trong những điều kiện của một hình thái xã hội nhất định hoặc tiêu biểu cho đạo đức của một tập thể, giai cấp, dân tộc nào đó Phong tục bộc lộ nội dung của hành vi thực tế, chứ không bộc lộ những yêu cầu đạo đức cần hướng tới Vì sự tồn

Trang 40

tại của các giai cấp, các tầng lớp xã hội, vị trí của họ trong hệ thống sản xuất xã hội, trình độ văn hóa của họ là khác nhau, cho nên phong tục cũng khác nhau

Có thể thấy ở mỗi góc độ tiếp cận khác nhau thì định nghĩa về phong tục, tập quán cũng sẽ khác nhau và qua các cách tiếp cận trên có thể định nghĩa về phong tục tập, quán như sau:

Phong tục là thói quen đã thành nếp, hình thành trong những điều kiện kinh tế, xã hội nhất định, có tính ổn định, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, được một giai cấp, một tầng lớp, một dân tộc thừa nhận và tuân theo một cách tự giác

Tập quán là những quy tắc xử sự, được hình thành trong đời sống xã hội hoặc giao lưu quốc tế, đang tồn tại và được các chủ thể thừa nhận như là những quy tắc

xử sự chung

Qua đó, có thể định nghĩa phong tục, tập quán dưới góc độ là khái niệm về kết hôn như sau:

Phong t c về k t hôn là nh ng t ó que ã t p, hình thành trong

nh ều ki n kinh t , xã h i nh t ịnh, thể hi m nét n p s ng, quan ni m c a

t ị p ơ t c trong vi c k t hôn, quyề v ĩ v gi a v và chồng

c các ch thể sinh s tr ị p ơ t ó t a nh n và tuân theo

m t cách t giác

T p quán về k t hôn là quy tắc xử s c các ch thể th a nh n ở m

ơ v t ra khỏi giới hạn c ị p ơ t c, trở thành quy tắc xử s chung c a nhiều dân t c, nhiều ị p ơ về k t hôn, quyề v ĩ v gi a v

và chồng, gi a cha mẹ và con, quan h nuôi con nuôi, quan h khác về hôn nhân và

1.4.2 Đặc điểm của phong tục, tập quán về kết hôn

Phong tục tập quán về kết hôn cũng có đầy đủ những đặc điểm chung của phong tục, tập quán và có những đặc điểm riêng do điều chỉnh mối quan hệ giữa

người nam và người nữ trong vấn đề kết hôn Đó là:

Phong tục, tập quán vốn được hình thành từ quá trình lao động sản xuất, sinh hoạt của cộng đồng làng, xã, gắn bó hết sức mật thiết với cuộc sống con người Là

Ngày đăng: 12/05/2020, 11:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ăng - Ghen (1995), “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước”, Các Mác- P Ă e t t p (tập 21), tr. 41- 265, Nxb Chính trị - Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước”, "Các Mác- P Ă e t t p
Tác giả: Ăng - Ghen
Nhà XB: Nxb Chính trị - Quốc gia
Năm: 1995
2. Bùi Thị Mừng (2015), “ ịnh k t hôn trong Lu t H v G - V ề lý lu n và th c tiễ ” Luận án Tiến sĩ Luật Học Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ ịnh k t hôn trong Lu t H v G - V ề lý lu n và th c tiễ ”
Tác giả: Bùi Thị Mừng
Năm: 2015
3. Bùi Xuân Đính (2005), N ớc và pháp lu t thời phong ki n Vi t Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: N ớc và pháp lu t thời phong ki n Vi t Nam
Tác giả: Bùi Xuân Đính
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2005
10. Luật Dương Gia (2015), “Người có quyền yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014”, https://luatduonggia.vn, ngày 11/08/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người có quyền yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014”, "https://luatduonggia.vn
Tác giả: Luật Dương Gia
Năm: 2015
11. Nguyễn Như Ý (chủ biên) (1998), Đại t ển ti ng Vi t, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại t ển ti ng Vi t
Tác giả: Nguyễn Như Ý (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin
Năm: 1998
12. Nguyễn Văn Cừ - Ngô Thị Hường (2003), “M t s v ề về lý lu n và th c tiễn về Lu t HN&GĐ 2000”, Nxb Chính trị - Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: M t s v ề về lý lu n và th c tiễn về Lu t HN&GĐ 2000
Tác giả: Nguyễn Văn Cừ - Ngô Thị Hường
Nhà XB: Nxb Chính trị - Quốc gia
Năm: 2003
13. Nhật Linh (2014), “Ngay tại Hà Nội có một làng đàn ông lấy cả chục bà vợ”, https://anninhthudo.vn ngày 12/01/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngay tại Hà Nội có một làng đàn ông lấy cả chục bà vợ
Tác giả: Nhật Linh
Năm: 2014
14. Insun Yu (1994), Lu t và xã h i Vi t Nam th kỷ XII- XIII, (Phan Huy Lê giới thiệu, Nguyễn Quang Ngọc dịch), Nxb khoa học- Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lu t và xã h i Vi t Nam th kỷ XII- XIII
Tác giả: Insun Yu
Nhà XB: Nxb khoa học- Xã hội
Năm: 1994
15. Phạm Hữu Nghị (2001), “Chính sách xã hội và vai trò của pháp luật trong việc bảo đảm thực hiện chính sách xã hội”, Tạp N ớc và pháp lu t, (2), tr. 3 – 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách xã hội và vai trò của pháp luật trong việc bảo đảm thực hiện chính sách xã hội”, "Tạp N ớc và pháp lu t
Tác giả: Phạm Hữu Nghị
Năm: 2001
20. TANDTC (2000), Nghị quyết số 02/2000/NQ- HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng thẩm phán ớng d n thi hành Lu t H v 2000 21. Quốc Hội CHXHCNVN (2004), Bộ Luật Dân sự 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ớng d n thi hành Lu t H v 2000
Tác giả: TANDTC (2000), Nghị quyết số 02/2000/NQ- HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng thẩm phán ớng d n thi hành Lu t H v 2000 21. Quốc Hội CHXHCNVN
Năm: 2004
31. Qu c triều hình lu t (1995), Nxb Chính trị - Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Qu c triều hình lu t
Tác giả: Qu c triều hình lu t
Nhà XB: Nxb Chính trị - Quốc gia
Năm: 1995
37. www.nguoidaibieunhandan.com.vn (15/10/2012), “Công c pháp lý bị ã qu ” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công c pháp lý bị ã qu
5. Bộ Dân luật Trung kỳ năm 1936 6. Bộ Dân luật giản yếu Khác
7. Chính phủ nước CHXHCNVN (2014), Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật HN&GĐ năm 2014 Khác
8. Hoàng Việt Luật lệ, Nxb Văn hóa- Thông tin, Hà Nội Khác
9. Hồ Chí Minh tuyển tập (2004), Tập 3, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
16. Thủ tướng Chính phủ- Quyết định số 629/QĐ-TTg ngày 29/5/2012 của Thủ tướng Chính phủ: Phê duy t Chi c phát triể V t N 2020, tầm nhìn 2030 Khác
17. Trường Đại học Luật Hà Nội (1999), Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học (phần chuyên ngành Luật Dân sự, Luật HN&GĐ), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Khác
18. Từ điển Tiếng việt (2003), NXB Đà Nẵng - Trung tâm từ điển học Khác
22. Quốc Hội CHXHCNVN (2014), Bộ Luật Dân sự 2015 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w