Bởi các lý do nêu trên, luận văn lựa chọn đề tài “Đại diện của cha mẹ cho con chưa thành niên trong giao dịch dân sự” làm đề tài nghiên cứu để nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống n
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ TÚ UYÊN
ĐẠI DIỆN CỦA CHA MẸ CHO CON CHƢA THÀNH
NIÊN TRONG GIAO DỊCH DÂN SỰ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ TÚ UYÊN
ĐẠI DIỆN CỦA CHA MẸ CHO CON CHƢA THÀNH
NIÊN TRONG GIAO DỊCH DÂN SỰ
Chuyên ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự
Mã số: 8380101.04
Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ VĂN BÍNH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo
vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
NGUYỄN THỊ TÚ UYÊN
Trang 4BẢNG TỪ VIẾT TẮT
BLDS: Bộ luật dân sự
BLTTDS: Bộ luật tố tụng dân sự
TTDS: Tố tụng dân sự
TAND: Tòa án nhân dân
UBND: Ủy ban nhân dân
Trang 5MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VIỆC ĐẠI DIỆN CHO CON CHƯA THÀNH NIÊN TRONG GIAO DỊCH DÂN SỰ 7
1.1 Khái niệm con chưa thành niên 7
1.2 Giao dịch dân sự do người chưa thành niên xác lập 11
1.2.1 Giao dịch dân sự 11
1.2.2 Cơ sở hình thành giao dịch dân sự của người chưa thành niên 18
1.2.3 Các mức năng lực hành vi dân sự của người chưa thành niên 19
1.3 Đại diện của cha mẹ cho con chưa thành niên 23
1.3.1 Khái niệm đại diện của cha mẹ cho con chưa thành niên 23
1.3.2 Đặc điểm của chế định đại diện của cha mẹ cho con chưa thành niên 26
1.3.3 Ý nghĩa của chế định đại diện của cha mẹ cho con chưa thành niên 29
1.3.4 Phạm vi đại diện 31
1.3.5 Hậu quả pháp lý trong trường hợp cha mẹ không có thẩm quyền đại diện hoặc vượt quá phạm vi thẩm quyền đại diện 36
CHƯƠNG II PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ ĐẠI DIỆN CỦA CHA MẸ CHO CON CHƯA THÀNH NIÊN TRONG GIAO DỊCH DÂN SỰ VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN 41
2.1 Pháp luật về đại diện của cha mẹ cho con chưa thành niên 43
2.1.1 Hình thức đại diện của cha mẹ cho con chưa thành niên 43
2.1.2 Thực hiện quyền đại diện của cha mẹ đối với con chưa thành niên 46
2.1.3 Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ với vai trò đại diện cho con trong giao dịch dân sự 47
2.2 Nguyên tắc thực hiện quyền đại diện 50
2.2.1 Cha mẹ chỉ xác lập và thực hiện giao dịch trong phạm vi đại diện 50
Trang 62.2.2 Thực hiện quyền đại diện trong việc định đoạt tài sản của con phải vì lợi
ích của con và có xem xét nguyện vọng của con từ đủ 9 tuổi 52
2.3 Đại diện của cha mẹ cho con chưa thành niên trong một số trường hợp cụ thể 53
2.3.1 Hợp đồng mua bán tài sản 53
2.3.2 Hợp đồng tặng cho tài sản 62
2.3.3 Thừa kế 66
CHƯƠNG III ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN CƠ CHẾ ĐẠI DIỆN CỦA CHA MẸ BẢO ĐẢM QUYỀN LỢI CHO CON CHƯA THÀNH NIÊN TRONG QUÁ TRÌNH THAM GIA GIAO DỊCH DÂN SỰ 74
3.1 Quy định về thẩm quyền đại diện trong trường hợp cha mẹ không thống nhất ý kiến 75
3.2 Quy định về thực hiện quyền đại diện của cha mẹ 76
3.3 Định đoạt tài sản vì lợi ích của con chưa thành niên 78
3.4 Giao dịch của con chưa thành niên trong việc tặng cho tài sản 81
3.5 Từ chối nhận di sản được hưởng thừa kế của con 83
ẾT LUẬN 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM HẢO 88
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Trong quan hệ pháp luật dân sự, đặc biệt là giao dịch dân sự việc xác định
tư cách chủ thể và năng lực chủ thể, nhất là của cá nhân có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng Mỗi người khi sinh ra đều có năng lực pháp luật như nhau Tuy nhiên, năng lực hành vi của mỗi cá nhân còn phụ thuộc vào nhiều điều kiện, yếu tố ví dụ như sức khỏe tâm sinh lý và độ tuổi của cá nhân đó Theo quy định của pháp luật Việt Nam, người từ đủ mười tám tuổi trở lên không thuộc các trường hợp bị mất, hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, còn những người ngược lại đó là người có năng lực hành vi dân sự không đầy đủ Một trong những thành phần có năng lực hành vi dân sự không đầy đủ đó là người chưa thành niên
Dưới góc độ tâm lý và thể chất, người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ, chưa hoàn thiện về thể chất, trí tuệ, tinh thần và tâm sinh lý, do đó chưa đủ nhận thức và năng lực để thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo pháp luật của mình Vì vậy cần có sự hướng dẫn, quan tâm, chăm sóc, bảo vệ của gia đình, Nhà nước và xã hội để những người chưa thành niên được chăm sóc phát triển toàn diện và đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp chính họ tránh trường hợp bị lạm dụng
Để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người chưa thành niên khi tham gia vào các quan hệ dân sự, góp phần bảo đảm sự ổn định pháp lý của các giao dịch dân sự nói chung và quyền lợi của những người chưa thành niên nói riêng
Trang 8thì pháp luật cần thiết và đặt ra nhiều biện pháp để bảo về quyền lợi của người chưa thành niên, đặc biệt là trong việc xác lập, thay đổi, chấm dứt giao dịch dân
sự Có rất nhiều những quy định trong nước và trên thế giới ra đời để bảo về cho quyền và lợi ích của họ Tại lời mở đầu của Công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em năm 1989 xác định rằng gia đình, với ý nghĩa là tế bào xã hội cơ bản và môi trường tự nhiên cho sự phát triển và hạnh phúc của mọi thành viên, nhất là trẻ em, cần được sự bảo vệ và giúp đỡ cần thiết để đảm đương được đầy đủ trách nhiệm của mình trong cộng đồng
Xuất phát từ quan điểm, gia đình là nguồn gốc hình thành nên tính cách của
cá nhân và không ai có thể bảo vệ quyền lợi một cách vô điều kiện và tận tâm nhất ngoài cha mẹ Chính vì vậy để bảo đảm cho quyền lợi của người chưa thành niên nói riêng và sự cân bằng ổn định trong xã hội nói chung, pháp luật quy định
về chế định đại diện cho người chưa thành niên mà chủ thể có nghĩa vụ trước hết
là bố mẹ Pháp luật Việt Nam quy định tại khoản 1 Điều 136 BLDS 2015: Cha,
mẹ là người đại diện theo pháp luật cho con chưa thành niên
Bởi các lý do nêu trên, luận văn lựa chọn đề tài “Đại diện của cha mẹ cho con chưa thành niên trong giao dịch dân sự” làm đề tài nghiên cứu để nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn về đại diện của cha mẹ cho con chưa thành niên trong giao dịch dân sự, xem xét cụ thể các quy định pháp luật Việt Nam về vấn đề này, từ đó đưa ra cái nhìn toàn diện về những hạn chế, thiếu xót của hệ thống pháp luật và đề xuất một một số giải pháp mang tính hoàn thiện để phần nào giúp cho quá trình sửa đổi và bổ sung pháp luật Việt Nam hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu
Trang 9Trên thế giới cũng như trong nước đã có những quy định được luật hóa hoặc thỏa thuận thành quy tắc chung như: Công ước Liên Hiệp Quốc về quyền trẻ em năm 1989, chế định đại diện cho con chưa thành niên trong BLDS các năm 1995, 2005, 2015, luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và luật trẻ em 2016 Cũng có nhiều công trình nghiên cứu xoay quanh vấn đề năng lực chủ thể của người chưa thành niên, các giao dịch dân sự liên quan đến người chưa thành niên hay quan hệ giữa cha mẹ và con cái Một số ví dụ như: bài viết “Đại diện bề ngoài nhìn từ góc độ pháp luật dân sự Nhật Bản”, Nguyễn Thị Phương Châm, Tạp chí luật học số 6/2016; bài viết “Những quy định pháp luật về hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên và cá kiến nghị hoàn thiện”, Cao Minh
Vũ, Nguyễn Nhật Khanh, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 12(340) T6/2017; “bài viết “Giám hộ và đại diện trong BLDS và tố tụng dân sự” – Ths Nguyễn Việt Cường, năm 2010; luận văn thạc sĩ luật học “Năng lực hành vi dân sự của người chưa thành niên” – Nguyễn Thị Hiền, năm 2007; luận văn thạc sĩ luật học
“Quyền và nghĩa vụ của người chưa thành niên trong giao dịch dân sự” – Hoàng Thị Vân Anh, năm 2014; luận văn thạc sĩ “Quan hệ giữa cha mẹ và con trong gia đình nông thôn hiện nay” – Nguyễn Thị Ánh Tuyết, năm 2009;…Tuy nhiên, vấn
đề đại diện của cha mẹ cho con trong giao dịch dân sự thì lại chưa nhận được sự quan tâm một cách đầy đủ
Dưới góc độ đời sống, với sự quan tâm của xã hội về các giao dịch dân sự liên quan đến người chưa thành niên và cách thức thực hiện quyền lợi đối với tài sản của người chưa thành niên đã được đăng tải ở các trang thông tin, sách báo, các tạp chí Chế định này đã được đưa ra thảo luận trên các diễn đàn trên trang dân luật của thư viện pháp luật, trang thông tin pháp luật dân sự, báo tuổi trẻ -bài
Trang 10viết “Mẹ có quyền bán tài sản của con chưa thành niên”, hay trên báo thanh niên
- bài viết “Quyền đại diện cho con” - Luật sư Huỳnh Minh Vũ,…
Qua các công trình nghiên cứu cũng như hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh chế định đại diện của cha mẹ đối với con chưa thành niên dưới một tổng thể sẽ thấy được mức độ quan tâm của nhà nước và xã hội đối với một thế
hệ trẻ của đất nước góp phần nâng cao nhận thức, hiểu sâu sắc về giá trị của họ, đồng thời hoàn thiện hơn những chế định nhằm bảo vệ cho người chưa thành niên
3 Mục đích, nhiệm vụ và ý nghĩa của nghiên cứu
Mục đích và ý nghĩa nghiên cứu đó là nghiên cứu một cách tương đối toàn diện về chế định đại diện, cụ thể là cha mẹ đại diện cho con chưa thành niên Tìm hiểu một số khía cạnh cụ thể trong hoạt động thực tiễn Những việc cha mẹ đại diện cho con thực hiện nhằm bảo đảm quyền lợi cho con, từ đó đưa ra được những bất cập và hạn chế trong việc thực hiện, nêu ra phương hướng, đề xuất nhằm hoàn thiện hệ thống quy phạm đại diện đối với người chưa thành niên Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài này là:
- Nêu ra được các lý luận và cơ sở của lý luận, các khái niệm về người chưa thành niên, giao dịch của con chưa thành niên và đại diện cho con chưa thành niên
- Phân tích chi tiết một số các giao dịch liên quan đến tài sản của con chưa thành niên và việc đại diện cho con tham gia vào các giao dịch đó dưới góc độ lý luận và thực tiễn
Trang 11- Đánh giá thực trạng và việc áp dụng chế định đó của pháp luật dân sự Việt Nam và đưa ra phương hướng, đề xuất
4 Phạm vi nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu cần tập trung vào các giao dịch của cha mẹvới tư cách là đại diện cho con chưa thành niên và những quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ đó tại các BLDS năm 2005, 2015, luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Bộ luật lao động, Luật trẻ em và các văn bản dưới luật khác quy định về việc đại diện của cha mẹ cho con chưa thành niên
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu dựa theo phương pháp cốt lõi – phương pháp luận duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, phép biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và pháp luật Bên cạnh đó, vận dung phương pháp
so sánh, đối chiếu, tổng hợp để phân tích và bình luận nội dung của một số chế định
6 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của đề tài gồm 3 chương sau đây:
Chương 1 Những vấn đề lý luận về việc đại diện cho con chưa thành niên trong giao dịch dân sự
Chương 2 Pháp luật Việt Nam về đại diện của cha mẹ cho con chưa thành niên trong giao dịch dân sự và thực hiễn thực hiện
Trang 12Chương 3 Đề xuất hoàn thiện cơ chế đại diện bảo đảm quyền lợi cho con chưa thành niên trong quá trình tham gia giao dịch dân sự
Trang 13CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VIỆC ĐẠI DIỆN CHO CON CHƯA
THÀNH NIÊN TRONG GIAO DỊCH DÂN SỰ 1.1 Khái niệm con chưa thành niên
Trong bất cứ một quan hệ pháp luật nào thì chủ thể luôn là yếu tố quan trọng để hình thành nên một quan hệ pháp luật Chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự bao gồm: Cá nhân (công dân nước sở tại, người nước ngoài, người không quốc tịch), pháp nhân và trong nhiều trường hợp Nhà nước tham gia với tư cách
là chủ thể đặc biệt của quan hệ pháp luật dân sự
Dưới góc độ khoa học pháp lý, cá nhân, pháp nhân đáp ứng được các điều kiện nhất định theo quy định của pháp luật là chủ thể của quan hệ pháp luật dân
sự Tức là để tham gia vào một quan hệ pháp luật dân sự cụ thể, cá nhân, tổ chức phải có đủ tư cách chủ thể Tư cách chủ thể của cá nhân được thể hiện dưới hai yếu tố: Năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân chính là cơ sở pháp lý và khả năng để cá nhân có quyền
và nghĩa vụ dân sự Mỗi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau được tính từ lúc cá nhân đó sinh ra cho đến khi chết Năng lực hành vi hành vi của dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự Như vậy năng lực hành vi dân sự chính là khả năng để cá nhân tiến hành các hành vi nhằm thực hiện năng lực pháp luật của mình
Theo quy định của pháp luật hiện hành, cá nhân là người thành niên có độ tuổi từ đủ mười tám tuổi trở lên còn người chưa thành niên là người chưa đủ
Trang 14mười tám tuổi1 Như vậy, thông qua giới hạn về độ tuổi mà khoa học luật dân sự chia cá nhân thành người thành niên và người chưa thành niên Người từ đủ mười tám tuổi trở lên không thuộc các trường hợp bị mất, hạn chế năng lực hành
vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có thể thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật, còn những người ngược lại đó là người có năng lực hành vi dân sự không đầy đủ Một trong những thành phần có năng lực hành vi dân sự không đầy đủ đó là người chưa thành niên
Cũng giống như các đối tượng khác quan hệ pháp luật, người chưa thành niên có năng lực pháp luật bình đẳng như mọi cá nhân Tuy nhiên, khi tham gia vào các giao dịch dân sự, năng lực hành vi của người chưa thành niên lại không được đánh giá ngang bằng với các đối tượng khác, thậm chí là có sự khác nhau trong chính độ tuổi chưa thành niên Xuất phát từ thực tiễn nghiên cứu khoa học dưới nhiều góc độ mà một số văn bản pháp lý, công ước, điều ước quốc tế về trẻ
em đều ghi nhận trẻ em là một người có độ tuổi dưới 18, trừ khi luật pháp ở từng quốc gia cụ thể quy định tuổi thành niên sớm hơn Cụ thể, trong các văn bản quốc tế và các chương trình của liên hiệp quốc (sau đây gọi tắt là LHQ) sử dụng đồng thời cả hai khái niệm trẻ em và người chưa thành niên Ví dụ, điều 1 Công ước của LHQ về quyền trẻ em (United Nations Convention on the rights of the child, CRC) năm 1989 quy định rằng trong phạm vi của CRC, trẻ em có nghĩa là mọi người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn; và tại điều 2 trong Công ước số 182 (Công ước nghiêm cấm và hành động khẩn cấp xoá bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất), năm 1999 đã quy định thuật ngữ trẻ em sẽ áp dụng cho tất cả những người dưới
1 Khoản 1 Điều 20 và Khoản 2 Điều 21 BLDS 2015
Trang 1518 tuổi Như vậy, đã gần 30 năm từ ngày Việt Nam chính thức trở thành nước đầu tiên ở châu Á và nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước quốc tế về Quyền trẻ em, đến nay Việt Nam lại là nước còn lại duy nhất trong khối các quốc gia ASEAN, thứ 4 ở châu Á và thứ 11 trên thế giới chưa nâng độ tuổi pháp lý của trẻ em lên 18 tuổi2 Bên cạnh đó Quy tắc tối thiểu phổ biến của LHQ về bảo
vệ người chưa thành niên bị tước tự do, năm 1990 cũng xác định người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi3
Tùy thuộc vào sự pháp triển tâm sinh lý và nhận thức của từng khu vực mà pháp luật của các quốc gia có sự quy định khác nhau về độ tuổi của người chưa thành niên Ví dụ như Thái Lan là dưới 20 tuổi, Cộng hòa Liên bang Nga là dưới
18 tuổi, nước Anh là dưới 16 tuổi Tại Việt Nam, độ tuổi chưa thành niên được quy định thống nhất trong các văn bản từ trước đến nay là dưới 18 tuổi Tuy nhiên việc phân nhóm đối tượng dưới 18 tuổi chỉ mang ý nghĩa tương đối vì trên thực tế chúng ta không thể tìm ra được một sự đồng nhất hoàn toàn giữa các lớp lứa tuổi khác nhau trong nhóm chưa thành niên Do đó, mỗi ngành luật lại quy định về người chưa thành niên ở cách nhóm tuổi khác nhau phù hợp với đối tượng điều chỉnh riêng:
Theo Luật trẻ em 2016 quy định thì trẻ em là người dưới 16 tuổi4 Như vậy, quy định về tuổi trẻ em trong Luật trẻ em đã có độ vênh tới 2 tuổi so với Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em
2 Lê Văn Bính và Trương Thành Trung, Quyền của trẻ em có bố mẹ là người nước ngoài trong pháp luật quốc tế
và pháp luật Việt Nam Sách tham khảo “Quyền của người nước ngoài” Chủ biên: PGS.TS Nguyễn Thị Quế
Anh, PGS.TS Vũ Công Giao, TS Ngô Minh Hương và TS Lã hánh Tùng Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật, 2018, tr.231-250
3
Điểm a, Quy tắc 11 – các quy tắc tối thiểu phổ biến của Liên Hợp quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước
tự do, năm 1990
4 Điều 1 Luật trẻ em 2016
Trang 16Theo Luật Thanh niên năm 2005 quy định: Thanh niên quy định trong Luật này là công dân Việt Nam từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi5
BLDS 2015 lại quy định: Người thành niên là người từ đủ 18 tuổi trở lên Người chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên Với quy định này, có thể hiểu rằng, người chưa đủ 18 tuổi là người chưa trưởng thành, tức cũng có nghĩa là người chưa đủ 18 tuổi vẫn còn là trẻ em
Luật Lao động năm 2012 quy định về người lao động như sau: Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động6
Tóm lại, khái niệm người chưa thành niên được xây dựng dựa trên sự phát triển về mặt thể chất và tinh thần của con người và được cụ thể hoá bằng giới hạn độ tuổi trong các văn bản pháp luật của từng quốc gia Theo đó, người ta quy định những quyền và nghĩa vụ cụ thể của người chưa thành niên
Con chưa thành niên là khái niệm được nhắc đến trong ngành luật hôn nhân
và gia đình có nghĩa hẹp hơn khái niệm người chưa thành niên, tuy nhiên chưa
có văn bản pháp luật nào định nghĩa khái niệm này Con chưa thành niên bản chất chính là người chưa thành niên đặt trong mối quan hệ với cha mẹ hoặc với những người thân trong gia đình như: cha mẹ nuôi, cha dượng, mẹ kế, anh chị
em ruột, ông bà nội, ông bà ngoại, …), người giám hộ (trong trường hợp con chưa thành niên có người giám hộ theo quy định của pháp luật)
5 Điều 1 Luật thanh niên 2005
6 Khoản 1 Điều 3 Bộ luật lao động 2012
Trang 17Như vậy, về khái niệm: Con chưa thành niên là người dưới 18 tuổi, chưa phát triển hoàn thiện về thể chất và tinh thần, chưa có đầy đủ các quyền và nghĩa
vụ pháp lý như người đã thành niên và được đặt trong mối quan hệ với những người thân trong gia đình
1.2 Giao dịch dân sự do người chưa thành niên xác lập
1.2.1 Giao dịch dân sự
Xã hội phát triển theo nền kinh tế thị trường nhiều thành phần cùng với đó
sự phân công lao động rõ rệt dẫn tới tăng mạnh về khối lượng hàng hóa Đời sống xã hội tăng dẫn tới nhu cầu của con người ngày càng tăng Do vậy, các chủ thể phải tham gia các giao dịch dân sự khác nhau Giao dịch dân sự xuất hiện với vai trò hết sức quan trọng, nó không chỉ góp phần giúp con người thỏa mãn nhu cầu vật chất, tinh thần mà còn góp phần khuyến khích, đẩy mạnh sản xuất phát triển Việc tham gia vào giao dịch dân sự nào là hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của mỗi chủ thể Tuy nhiên, ý chí của chủ thể không được trái với ý chí của nhà nước Ý chí đó chỉ trở thành hiện thực nếu được pháp luật ghi nhận Trong pháp luật dân sự Việt Nam, giao dịch dân sự là một chế định đóng vai trò quan trọng BLDS 2015 đã có những quy định cụ thể về giao dịch dân sự nói chung và điều kiện có hiệu lực của một giao dịch dân sự nói riêng
Tại Điều 116 BLDS năm 2015 quy định: “Giao dịch dân sự là hợp đồng
hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”
Có rất nhiều căn cứ làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự: hợp đồng, hành vi pháp lý đơn phương, thực hiện một công việc không có ủy quyền, gây thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật hay quyết định của một cơ
Trang 18quan nhà nước có thẩm quyền, … trong đó giao dịch dân sự là căn cứ phổ biến, thông dụng nhất Giao dịch dân sự là một sự kiện pháp lý chứa đựng hành vi pháp lý Hành vi pháp lý là một sự thể hiện ý chí nhằm làm phát sinh ra một hậu quả pháp lý, có nghĩa là làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt một quyền lợi hay nghĩa vụ Sự thể hiện ý chí có thể là đơn phương (như lập di chúc, thiết lập một công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, đơn phương chấm dứt một hợp đồng, đề nghị giao kết hợp đồng, xác nhận lại một hợp đồng vô hiệu, …), hoặc
có thể là đa phương, hay còn gọi là sự thống nhất ý chí, có nghĩa là sự thỏa thuận, mà sự thỏa thuận có mục đích xác lập, thay đổi, chấm dứt một quyền lợi gọi là hợp đồng
Xem xét dưới phương diện khách quan thì hợp đồng là do các quy phạm pháp luật của Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình dịch chuyển các lợi ích vật chất giữa các chủ thể với nhau Theo phương diện chủ quan, hợp đồng là một giao dịch dân sự mà trong đó các bên tự trao đổi ý chí với nhau nhằm đi đến sự thỏa thuận để cùng nhau làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ dân sự nhất định Theo phương diện này, hợp đồng vừa được xem xét dưới dạng cụ thể vừa được xem xét ở dạng khái quát Nếu định nghĩa đưới dạng cụ thể thì “hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” (Điều 385 BLDS 2015) Như vậy, hợp đồng thường được định nghĩa là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều người nhằm xác lập, thay đổi hay chấm dứt quyền lợi (có nghĩa là nhằm làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quan hệ pháp luật hoặc quyền và nghĩa vụ giữa các bên) Chính vì vậy, hợp đồng thật sự là luật giữa các bên Khi giao kết hợp đồng, các bên biểu lộ và thống nhất ý chí về một đối tượng cụ thể nào đó Mặc dù trong
sự thỏa thuận đó, có thể họ không bày tỏ rõ các quy tắc xử sự, không tuyên bố
Trang 19thu hẹp quyền tự do của mình cho lợi ích của người khác, hoặc không tuyên bố
tự cấm mình vi phạm hay tự cấm mình phớt lờ lời hứa đó, nhưng với nhận thức của một con người bình thường ai ai cũng nhận thấy cần phải tôn trọng lời hứa, nên phải xử sự thích hợp với lời hứa của mình và khi vi phạm cam kết hay lời hứa thì việc phải gánh chịu một chế tài là hợp lẽ phải và thích đáng Điều đó có nghĩa là khi giao kết hợp đồng, các bên đã ngầm chấp nhận những lẽ thông thường đó Có thể các lẽ thông thường này được ghi nhận trong pháp luật hoặc trong tập quán.7
Hành vi pháp lý đơn phương (còn gọi là giao dịch dân sự một chiều) Hành
vi pháp lý đơn phương thể hiện ý chí của một bên chủ thể, do vậy hành vi pháp
lý đơn phương không là hợp đồng Ví dụ như cá nhân thể hiện ý chí trong việc lập di chúc để lại tài sản cho người thừa kế được chỉ định theo ý chí của mình, ủy quyền một bên hay thực hiện một công việc không có ủy quyền, Căn cứ vào quy định và logic học thì mọi hợp đồng là giao dịch dân sự là nhưng mọi giao dịch dân sự không phải là hợp đồng vì bên cạnh đó còn hành vi pháp lý đơn phương Cùng với đó, không phải mọi hành vi pháp lý đơn phương là giao dịch dân sự Hành vi pháp lý đơn phương để trở thành giao dịch dân sự thì hành vi đó phải được tiến hành nhằm làm phát sinh một quyền hay nghĩa vụ dân sự của chủ thể được xác định Còn hành vi pháp lý đơn phương được tiến hành không nhằm làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự ở chủ thể được xác định thì hành vi pháp lý đơn phương này không phải là giao dịch dân sự (ví dụ: chủ sở hữu từ bỏ quyền
sở hữu của mình đối với tài sản)8 Trong nhiều trường hợp hành vi pháp lý đơn phương chỉ phát sinh hậu quả pháp lý khi có những điều kiện nhất định do người
7 Ngô Huy Cương, Giáo trình Luật hợp đồng (phần chung), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2013, tr.17
8 Nguyễn Văn Cừ -Trần Thị Huệ (đồng chủ biên), Bình luận khoa học BLDS 2015, NXB Công an nhân dân, năm
2017, tr.230
Trang 20xác lập giao dịch đưa ra cho người khác Những người này phải đáp ứng được những điều kiện đó mới làm phát sinh nghĩa vụ của người xác lập giao dịch dân
sự Chẳng hạn như: Một nhà kinh doanh tuyên bố rằng anh ta sẽ chi trả toàn bộ tiền ăn trưa cho tất cả những người tham gia hội thảo với điều kiện những người
đó phải là học sinh, sinh viên
Như nội dung và quy định tại điều luật trên thì giao dịch dân sự là “phương tiện pháp lý” để các chủ thể của pháp luật dân sự xác lập, thực hiện các quyền dân sự, nghĩa vụ dân sự nhằm thỏa mãn các nhu cầu vật chất trong sinh hoạt, tiêu dùng hoặc sản xuất, kinh doanh nên giao dịch dân sự luôn là hoạt động có ý thức của chủ thể Giao dịch dân sự là hành vi có ý thức của chủ thể, phản ánh ý chí và
sự mong muốn của chủ thể cùng với những mục đích và động cơ nhằm thu được một kết quả nhất định và pháp luật tạo điều kiện cho kết quả đó trở thành hiện thực Trong một chừng mực nhất định, có thể hiểu ý chí của chủ thể được thể hiện trong động cơ khi chủ thể xác lập giao dịch dân sự
Trong thực tế, mục đích của giao dịch dân sự không hoàn toàn đồng nghĩa với động cơ của chủ thể khi xác lập giao dịch dân sự Động cơ xác lập giao dịch dân sự là yếu tố có ý nghĩa quan trọng thúc đẩy các chủ thể xác lập các giao dịch nhằm mục đích thỏa mãn các nhu cầu của chủ thể đó, còn mục đích là mục tiêu
mà chủ thể hướng tới, mong muốn đạt được Có thể xem động cơ như là một
“tiền đề” cần thiết để các chủ thể xác lập với nhau một quan hệ dân sự Nhưng nếu trong quá trình cam kết, thỏa thuận mục đích của một trong các bên tham gia không đạt được thì giao dịch dân sự sẽ không được xác lập Động cơ và mục đích của các chủ thể trong quá trình xác lập giao dịch dân sự có thể được xem là yếu tố “cần và đủ” nhưng luôn hòa quyện thành một khi thỏa thuận để xác lập
Trang 21giao dịch dân sự Phân biệt thành động cơ và mục đích đối với mỗi chủ thể chỉ
có tính chất tương đối và có ý nghĩa trong những trường hợp nhất định.9
Khi tham gia một giao dịch dân sự cụ thể, ý chí (thường được thể hiện là động cơ) của chủ thể bao giờ cũng phải thể hiện ra bên ngoài dưới một hình thức phù hợp nhất định để phía bên kia có thể nhận biết và hiểu được ý chí đó Đối với chủ thể bên kia, ý chí cũng phải được thể hiện dưới một hình thức thích hợp
để các bên trong quan hệ dân sự có thể hiểu nhau Trên cơ sở đó, các chủ thể mới
có thể thỏa thuận và thống nhất ý chí với nhau Giao dịch dân sự chỉ được coi là
đã được xác lập khi các bên trong giao dịch dân sự đã thống nhất ý chí với nhau Nói một cách khác nếu các bên không đạt được sự thống nhất ý chí về quyền dân
sự và nghĩa vụ dân sự đối với nhau thì giao dịch dân sự cũng không thể được xác lập Trong giao dịch dân sự tiêu chí về “ý chí” của chủ thể có ý nghĩa rất quan trọng Trong nhiều trường hợp nó còn là cơ sở để xác định quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự của từng chủ thể trong quan hệ dân sự đó
Tuy nhiên, giao dịch không nhất thiết luôn tạo ra quyền và nghĩa vụ Có những trường hợp ý chí được bày tỏ theo quy định của pháp luật, nhưng không tạo ra một quyền hay nghĩa vụ nào Chẳng hạn, một người từ chối nhận di sản theo Điều 620 BLDS 2015 rõ ràng đã thực hiện một giao dịch dân sự, đúng hơn
là một hành vi pháp lý đơn phương Nhưng việc từ chối không tạo ra một quyền hay một nghĩa vụ nào cho người này mà chỉ đơn giản khiến người này trở thành người ngoài cuộc trong quan hệ thừa kế.10
9 Đinh Văn Thanh (chủ biên), Giáo trình Luật dân sự Việt Nam (quyển 1), Viện đại học Mở Hà Nội, NXB Giáo dục Việt Nam, năm 2015, tr 291
10 Nguyễn Ngọc Điện (chủ biên), Giáo trình Luật dân sự Việt Nam (tập 1), Khoa Luật Viện đại học Mở thành phố
Hồ Chí Minh, NXB Đại học Quốc gia TP.HCM, năm 2016, tr 102
Trang 22Bên cạnh đó cũng cần phải thấy rằng, khi mong muốn xác lập với nhau một giao dịch dân sự không có chủ thể nào lại không nhằm đạt được một mục đích nhất định Mục đích của giao dịch có thể xem là hệ quả của quá trình chủ thể thực hiện động cơ Vì vậy, mục đích là yếu tố không thể thiếu trong giao dịch dân sự Điều này còn có ý nghĩa quan trọng nếu trong quá trình thực hiện những quyền và nghĩa cụ pháp lý phát sinh từ giao dịch dân sự cụ thể mà có tranh chấp thì các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải căn cứ vào ý muốn đích thực của các bên để xác định quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự cụ thể trong từng giao dịch
đó hoặc khi phải giải thích giao dịch dân sự
Để đạt được mục đích, động cơ cần phải được thực hiện bằng hành vi Điều kiện để hành vi được coi là sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt giao dịch dân sự đó là sự bày tỏ ý chí của chủ thể Ý chí là khả năng xác định mục đích hành động và định hướng cho hành động đó để đạt được mục đích đã xác định trước Ý chí được biểu hiện ra bên ngoài phải là ý chí hoàn toàn tự nguyện, tự giác thì mới là cơ sở là phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt giao dịch dân sự Chủ thể giao dịch dân sự khi tiến hành bất cứ hành vi nào nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt một giao dịch dân sự đều mong muốn đạt được một hậu quả pháp lý nhất định (hưởng một quyền lợi nhất định đồng thời gánh vác một nghĩa vụ tương xứng; thay đổi hay kết thúc các quyền và nghĩa vụ đang tồn tại) Để thu được lợi ích theo mong muốn, các chủ thể cần biểu hiện ý chí ra bên ngoài Biểu hiện khách quan của ý chí ra bên ngoài nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt một giao dịch dân sự được gọi là sự thể hiện ý chí
Như vậy, sự thể hiện ý chí đó phải thỏa mãn hai điều kiện Một là, ý chí của chủ thể phải là ý chí xác định được cho chủ thể đó mục đích hành động rõ ràng (đó là làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự nhất
Trang 23định) Hai là, ý chí của chủ thể phải được biểu hiện ra bên ngoài bằng cách nào
đó (thông qua lời nói, chữ viết hay một hành động cụ thể) để những người xung quanh có thể hiểu được) Các chủ thể tham gia phải có sự thống nhất giữa ý chí
và bày tỏ ý chí ra bên ngoài (yếu tố không thể thiếu) Nếu một giao dịch dân sự thiếu sự thống nhất giữa ý chí hay bày tỏ ý chí ra bên ngoài thì có thể bị tuyên bố
vô hiệu Đối với hợp đồng, sự bày tỏ ý chí của các chủ thể mà thiếu đi sự thống nhất ý chí thì giao dịch dân sự đó cũng có thể bị tuyên bố vô hiệu Đối với hành
vi pháp lý đơn phương thì chỉ cần sự thể hiện ý chí của một bên, không cần sự thống nhất ý chí giữa các bên tham gia như ở hợp đồng
Nếu hành vi của chủ thể quan hệ pháp luật dân sự không phù hợp với pháp luật, đạo đức xã hội thì đương nhiên hành vi này sẽ không được Nhà nước bảo
vệ và thừa nhận dẫn đến không thể phát sinh hậu quả pháp lý mà chủ thể đó mong muốn đạt được
Nhìn chung, giao dịch dân sự là hành vi pháp lý đơn phương hay hợp đồng đều có những đặc điểm sau: Là hành vi pháp lý; giao dịch dân sự được thực hiện bởi hành vi hợp pháp thể hiện ý chí của chủ thể quan hệ pháp luật dân sự nhằm đạt được một kết quả nhất định; có sự thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ý chí của chủ thể tham gia giao dịch dân sự; không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội; các giao dịch dân sự mang tính xác thực và có tính khả thi; chế tài trong giao dịch dân sự mang tính chất bắt buộc nhưng cũng rất linh hoạt; hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự là làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả không đi sâu vào nghiên cứu giao dịch dân sự mà tập trung khai thác các vấn đề liên quan đến giao dịch
Trang 24dân sự của con chưa thành niên mà có sự đại diện của cha mẹ, do vậy luận văn chỉ nêu mà không đi sâu vào làm rõ đặc điểm của giao dịch dân sự nói chung
1.2.2 Cơ sở hình thành giao dịch dân sự của người chưa thành niên
Quan hệ pháp luật là những quan hệ xã hội được các quy phạm pháp luật điều chỉnh Trong hệ thống pháp luật, mỗi ngành luật điều chỉnh một nhóm quan
hệ khác nhau Quan hệ pháp luật dân sự là một dạng quan hệ pháp luật, vì vậy nó mang đầy đủ đặc tính của quan hệ pháp luật về bản chất xã hội, bản chất pháp lý, tính cưỡng chế nhà nước
Các yếu tố cấu thành nên một quan hệ pháp luật dân sự đó là: chủ thể tham gia vào các quan hệ, đối tượng mà các chủ thể hướng tới khi tham gia vào quan
hệ pháp luật dân sự và được nhà nước bảo vệ, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự đó
Với tư cách là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự, người chưa thành niên cũng có những nhu cầu cần thực hiện trong đời sống hàng ngày như ăn uống, sinh hoạt, học tập, lao động, rèn luyện, … Để thực hiện các nhu cầu đó, người chưa thành niên cũng phải tham gia vào các quan hệ xã hội và tương tác với các chủ thể khác để mua bán, trao đổi, tặng cho nhằm đạt được mục đích sinh hoạt hàng ngày Do sự tác động của các quy phạm pháp luật lên các quan hệ xã hội nên khi tham gia vào các quan hệ đó người chưa thành niên có các quyền và nghĩa vụ pháp lý tương ứng Các quyền và nghĩa vụ pháp lý này được nhà nước bảo đảm thực hiện
Điểm đặc trưng của một quan hệ pháp luật dân sự là địa vị pháp lý của các chủ thể dựa trên cơ sở bình đẳng, không phụ thuộc vào các yếu tố xã hội khác và lợi ích (trước tiên là lợi ích kinh tế) là tiền đề trong phần lớn các quan hệ dân sự
Trang 25Tuy nhiên, người chưa thành niên với tư cách là chủ thể khi tham gia vào quan
hệ pháp luật dân sự luôn là bên yếu thế hơn Bởi họ là những người chưa đủ năng lực hành vi dân sự, còn hạn chế về nhận thức nên dễ bị lợi dụng Chính vì vậy cần có người đứng ra bảo vệ cho người chưa thành niên, thay họ tham gia vào các giao dịch dân sự để bảo vệ lợi ích của chính những người chưa thành niên đó, và đây là lúc chế định đại diện phát huy vai trò
Đối với những người đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ
Họ có thể tự mình tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự, bằng hành vi của chính mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự Còn những người chưa đủ
18 tuổi, việc tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự được thực hiện thông qua người đại diện của họ là cha mẹ Pháp luật phân năng lực hành vi dân sự của người chưa thành niên thành các mức khác nhau Tùy vào độ tuổi để xác định được quyền và nghĩa vụ của người chưa thành niên cũng như phạm vi đại diện của cha mẹ cho con chưa thành niên khi tham gia giao dịch dân sự Nội dung các mức năng lực hành vi dân sự của người chưa thành niên được trình bày cụ thể dưới đây
1.2.3 Các mức năng lực hành vi dân sự của người chưa thành niên
* Căn cứ xác định các mức năng lực hành vi dân sự của người chưa thành niên
Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là bình đẳng, bởi vì pháp luật quy định khả năng hưởng quyền dân sự cho các cá nhân là như nhau không phân biệt giới tính, độ tuổi, thành phần, …Cùng với năng lực pháp luật dân sự của cá nhân, năng lực hành vi dân sự của cá nhân là bộ phận cấu thành năng lực chủ thể của cá nhân Tuy nhiên, ngược lại năng lực pháp luật dân sự của cá nhân, năng
Trang 26lực hành vi dân sự của cá nhân lại không giống nhau Yếu tố quy định sự khác nhau về năng lực hành vi dân sự của mỗi cá nhân chính là ở độ tuổi và thể chất của cá nhân đó Mọi cá nhân có năng lực pháp luật dân sự kể từ khi người đó được sinh ra, nhưng mỗi cá nhân chỉ có năng lực hành vi dân sự khi họ đã đạt đến một độ tuổi nhất định và có sự phát triển bình thường về thể chất và trí tuệ Mỗi cá nhân sinh ra và lớn lên trong những môi trường sống, được nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trong những điều kiện vật chất và tinh thần khác nhau Có những đứa trẻ còn rất nhỏ nhưng đã có những suy nghĩ, tâm tư, tình cảm rất giống ngườn lớn, thậm chí có những đứa trẻ có khả năng lĩnh hội, cảm thụ những tri thức nhân loại một cách đặc biệt mà chúng ta gọi đó là những “thần đồng” hay “thiên tài” Bên cạnh đó có những đứa trẻ, người đã thành niên nhưng
sự nhận biết, diễn biến tâm lý hay cách xử sự lại không được như những người phát triển bình thường cùng lứa tuổi
Mặt khác ta thấy rằng khả năng nhận thức của mỗi người còn phụ thuộc vào yếu tố sinh học (di truyền từ thế hệ trước), phụ thuộc vào các yếu tố xã hội (môi trường sống, điều kiện học tập, rèn luyện …) Do vậy, những người cùng lứa tuổi nhưng khả năng nhận thức lại rất khác nhau
Chính vì sự đa dạng của các cá nhân về khả năng nhận thức và làm chủ hành vi mà Nhà nước đã luật hóa các mức độ năng lực hành vi dân sự của cá nhân dựa trên độ tuổi Theo đó, khả năng thực hiện hành vi được thừa nhận phân thành các nhóm độ tuổi Tuy nhiên việc xác định năng lực hành vi dân sự của cá nhân dựa trên độ tuổi chỉ là điều kiện cần mà không phải là điều kiện đủ Độ tuổi
Trang 27để xác định người đó là người thành niên hay chưa thành niên11 Cá nhân đã thành niên thì có năng lực hành vi dân sự đầy đủ nếu không thuộc các trường hợp bị tuyên bố mất năng lực hành vi, hạn chế năng lực hành vi
Như vậy, năng lực hành vi của cá nhân được xác định trên hai cơ sở:
- Độ tuổi và sự phát triển bình thường hay không bình thường về trí não và;
- Thông qua quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (Tòa án).12
* Các mức năng lực hành vi dân sự của người chưa thành niên
Người chưa thành niên khi tham gia vào giao dịch dân sự bất kỳ họ đóng vai trò là chủ thể trong giao dịch dân sự đó Giao dịch của con chưa thành niên đáp ứng mọi yêu cầu và điều kiện của một giao dịch dân sự thông thường Vì là đối tượng được quan tâm đặc biệt nên pháp luật cũng có những quy định rất cụ thể để một người chưa thành niên tham gia vào giao lưu dân sự Cụ thể:
Đối với con chưa thành niên chưa đủ 6 tuổi Việc tham gia giao dịch dân sự
của con chưa thành niên chưa đủ 6 tuổi được thực hiện theo khoản 2 Điều 21
BLDS 2015 như sau: “Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi do người
đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện” Xét về năng lực pháp
luật dân sự, người chưa đủ sáu tuổi hoàn toàn có thể trở thành chủ thể của giao dịch dân sự Tuy nhiên, năng lực hành vi dân sự chưa đủ để có thể tự mình giao kết giao dịch dân sự do vậy việc thực hiện giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi sẽ thông qua người đại diện Điều này đồng nghĩa với việc định đoạt tài
11 Trên thế giới, độ tuổi xác định một cá nhân thành niên hay chưa thành niên phụ thuộc vào qui định của từng quốc gia Việc quy định dựa trên nghiên cứu về mặt bằng phát triển thể chất và tâm sinh lý của trẻ em trên quốc gia đó
12
Nguyễn Thị Hiền, Năng lực hành vi d n sự của người chưa thành niên, luận văn thạc sĩ luật học, Đại học luật
Hà Nội
Trang 28sản của người chưa thành niên chưa đủ 6 tuổi cũng được thực hiện thông qua người đại diện hợp pháp
Đối với con chưa thành niên từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi Ở độ tuổi
này, khả năng thực hiện giao dịch dân sự của con chưa thành niên được mở rộng hơn Cụ thể là lứa tuổi này, người chưa thành niên có thể tự mình thực hiện giao dịch dân sự dưới sự kiểm soát của người đại diện, quy định tại khoản 3 Điều 21
BLDS 2015: “Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực
hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi” Có thể
thấy một cách rõ ràng, các nhà làm luật đã thu hẹp phạm vi đại diện của người đại diện lại từ việc quy định cho họ trực tiếp tham gia các giao dịch định đoạt tài sản của con chưa thành niên chưa đủ 6 tuổi thành việc chỉ cho phép đồng ý hay không đồng ý cho con chưa thành niên từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi thực hiện giao dịch Một số giao dịch phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của cá nhân như: ăn uống, đồ dùng học tập, đồ các nhân, … không cần sự đồng ý của người đại điện
Đối với con chưa thành niên từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi Nếu ở độ
tuổi từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi con chưa thành niên được thực hiện một số giao dịch cần có sự đồng ý của người đại diện thì ở độ tuổi từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi con chưa thành niên được thực hiện hầu hết các giao dịch dân sự
mà không cần sự đồng ý của người đại diện, quy định tại khoản 4 Điều 21 BLDS
2015: “Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập,
thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý” Ở độ tuổi gần hoàn thiện này,
người chưa thành niên có khả năng tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự
Trang 29và có quyền tự định đoạt tài sản riêng của mình Tuy nhiên với một số giao dịch đòi hỏi phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký hoặc những giao dịch dân sự theo quy định của pháp luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý
Bên cạnh việc quy định việc thực hiện giao dịch dân sự của người chưa thành niên theo độ tuổi thì cũng có những trường hợp việc xác lập giao dịch dân
sự của người chưa thành niên theo loại giao dịch Chẳng hạn như, người chưa thành niên từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi muốn lập di chúc, dù di sản để lại là
gì thì cũng đều phải có sự đồng ý của người đại diện: “Người từ đủ mười lăm
tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi được lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc 13 ”
1.3 Đại diện của cha mẹ cho con chưa thành niên
1.3.1 Khái niệm đại diện của cha mẹ cho con chưa thành niên
Trong đời sống thường nhật, mỗi con người đều phải tham gia vào các mối quan hệ trong xã hội và hầu hết các nhu cầu sống của họ đều được đáp ứng thông qua mối liên hệ với người khác như: hôn nhân, gia đình, quan hệ làm ăn buôn bán, các nhu cầu thiết yếu của bản thân… Các nhu cầu này ngày càng đa dạng và
có chiều hướng tăng lên theo sự phát triển của xã hội Nhưng với nhịp sống ngày càng hiện đại hóa, nhu cầu thì lớn mà thời gian thì có hạn hoặc nhiều nguyên nhân khác như: trở ngại về sức khỏe, địa lý và hạn chế về chuyên môn mà các chủ thể này không thể thực hiện hết các mong muốn của mình Để có thể thỏa mãn được những nhu cầu này các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự cần có người khác thay mình thể hiện ý trí nhưng vẫn mang tới sự ràng buộc cho chính
13 Khoản 2 Điều 625 BLDS 2015
Trang 30bản thân họ Bên cạnh những cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có thể
tự mình hoặc bằng chính hành vi pháp lý của mình ủy quyền cho người khác xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự thì còn có các đối tượng mà pháp luật coi là không có năng lực hành vi hoặc năng lực hành vi không đầy đủ nên không có khả năng tự bản thân tiến hành các giao dịch dân sự Cụ thể quy định trong BLDS 2015 đối với người chưa thành niên tại Điều 21, người bị mất năng lực hành vi, người có khó khăn trong nhận thức làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự được quy định từ Điều 22 đến Điều 24 Đối với những người này, họ cũng có nhu cầu rất lớn trong việc tham gia vào các hoạt động đời sống xã hội thông qua các giao dịch dân sự cũng như việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước người thứ ba, nhưng do hạn chế về năng lực hành
vi hoặc năng lực hành vi dân sự không đầy đủ nên họ cần tới sự hành động của người khác để xác lập, thực hiện và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Đối với pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác là những chủ thể quan trọng trong nền kinh tế, xã hội, văn hóa…là thành phần góp phần quan trọng vào sự phát triển của một đất nước nên việc tham gia vào các giao dịch dân sự của các chủ thể này ngày càng đa dạng và phức tạp hơn Vì những chủ thể này là một tập hợp gồm nhiều cá nhân khác nhau không thể xác lập thông qua tất cả mọi cá nhân hơn nữa hoạt động của những chủ thể này lại nhiều và đa dạng như giao kết nhiều giao dịch dân sự, tiến hành giao dịch ở nhiều địa điểm khác nhau, đòi hỏi
có chuyên môn hóa…nên để đảm bảo các giao dịch được xác lập một cách thuận lợi và bảo đảm quyền lợi cho các chủ thể này cần có người đại diện để tiến hành mọi hoạt động Nắm bắt được thực tiễn của xã hội và trên nguyên tắc tự do ý trí, pháp luật Việt Nam thừa nhận chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự có thể tự mình xác lập và thực hiện giao dịch hoặc có thể biểu lộ ý trí thông qua người
Trang 31khác Và để điều chỉnh mối quan hệ xã hội này nhà nước ta đã quy định chế định đại diện trong BLDS nhằm phù hợp với xu thế tất yếu và khách quan của cuộc sống
Tại điều 134 BLDS 2015 quy định:
“1 Đại diện là việc cá nhân, pháp nhân (sau đ y gọi chung là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nh n khác (sau đ y gọi chung là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự
2 Cá nhân, pháp nhân có thể xác lập, thực hiện giao dịch dân sự thông qua người đại diện Cá nh n không được để người khác đại diện cho mình nếu pháp luật quy định họ phải tự mình xác lập, thực hiện giao dịch đó
3 Trường hợp pháp luật quy định thì người đại diện phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập, thực hiện.”
Đại diện là một quan hệ pháp luật dân sự bao gồm hai bên chủ thể là bên đại diện và bên được đại diện Quan hệ đại diện còn là căn cứ để làm phát sinh thêm một quan hệ (giao dịch dân sự) tiếp theo là quan hệ giữa người đại diện với người thứ ba theo ý chí của người được đại diện và vì lợi ích của người được đại diện Mọi cá nhân đều được pháp luật bảo vệ quyền tham gia xác lập và thực hiện giao dịch dân sự có thể trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua người khác Tuy nhiên, cá nhân không được người khác đại diện cho mình nếu pháp luật quy định
họ phải tự mình xác lập thực hiện giao dịch đó Ví dụ: Cá nhân không thể ủy quyền cho người khác thay mình đi đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền vì nó vi phạm nguyên tắc cơ bản của luật hôn nhân gia đình
Trang 32Như vậy, đại diện của cha mẹ cho con chưa thành niên là việc cha, mẹ nhân danh con chưa thành niên của mình xác lập, thực hiên những giao dịch dân
sự vì lợi ích của con
1.3.2 Đặc điểm của chế định đại diện của cha mẹ cho con chưa thành niên
Với tư cách là một chế định pháp lý, chế định đại diện mang đầy đủ đặc điểm của quan hệ pháp luật nói chung Ngoài ra chế định đại diện của cha mẹ cho con chưa thành niên còn mang đặc điểm riêng:
Là đại diện theo pháp luật
Đại diện theo pháp luật hay còn gọi là đại diện đương nhiên là đại diện theo pháp luật quy định hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Quan hệ đại diện này được xác lập theo ý chí Nhà nước, pháp luật quy định mối quan hệ đại diện dựa trên các mối quan hệ tồn tại sẵn có chứ không phụ thuộc vào ý chí hay sự định đoạt của các chủ thể Đại diện được quy định theo pháp luật chung là đại diện mặc nhiên, ổn định về người đại diện, về thẩm quyền, phạm vi đại diện
Căn cứ xác lập đại diện cho người chưa thành niên dựa trên quan hệ huyết thống giữ người đại diện và người được đại diện mà pháp luật quy định quan hệ đại diện có tính chất đương nhiên như cha mẹ với con chưa thành niên
Chế định đại diện có hai mối quan hệ pháp luật khác nhau song song tồn tại
là quan hệ giữa cha mẹ và con chưa thành niên (còn gọi là quan hệ bên trong), quan hệ giữa cha mẹ và người thứ ba (còn gọi là quan hệ bên ngoài)
Trang 33Quan hệ bên trong được hình thành theo quy định của pháp luật Ví dụ: theo quy định tại khoản 2 Điều 21 BLDS 2015 thì mọi giao dịch dân sự của người chưa đủ 6 tuổi đều phải do người đại diện theo pháp luật xác lập thực hiện Điều này thể hiện mối quan hệ ở đây là giữa cha mẹ và con chưa thành niên và
nó được xác lập theo pháp luật Chính vì vậy, khi xác lập bất kỳ một giao dịch dân sự cha mẹ phải chứng minh tư cách đại diện của mình thông qua giấy khai sinh hoặc giấy tờ khác xác định quan hệ huyết thống
Quan hệ bên ngoài chẳng hạn như việc bà D (mẹ của B) thay mặt B xác lập hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất của B cho ông T Như vậy trong việc giao kết hợp đồng giữa bà D và ông T đã làm phát sinh mối quan hệ bên ngoài của quan hệ đại diện giữa người đại diện theo pháp luật là bà D với người thứ ba là ông T Tuy được phân biệt nhưng bản chất của việc đại diện là người đại diện
sẽ thay người được đại diện thể hiện ý chí với người thứ ba Cho nên, ta thấy hai mối quan hệ này cùng tồn tại song song và bổ trợ lẫn nhau, quan hệ bên trong là tiền đề, là cơ sở cho sự xuất hiện và tồn tại của quan hệ bên ngoài Quan hệ bên ngoài thực hiện vì quan hệ bên trong, vì vậy các quyền và nghĩa vụ do người đại diện thực hiện trong phạm vi thẩm quyền đại diện với người thứ ba đều thuộc về người được đại diện Người đại diện có thể được hưởng những lợi ích nhất định
từ người được đại diện do thực hiện hành vi đại diện với người thứ ba
Trên thực tế vẫn tồn tại mối quan hệ về lợi ích và trách nhiệm giữa con chưa thành niên và người thứ ba (còn gọi là mối quan hệ gián tiếp) Trong quan
hệ đại diện, người đại diện nhân danh người được đại diện để xác lập và thực hiện giao dịch dân sự với người thứ ba Ví dụ: Tuất (16 tuổi - chưa thành niên),
là con của một gia đình giàu có tiếng Từ bé Tuất đã được thừa kế và đứng tên nhiều tài sản giá trị lớn Một hôm Tuất lái xe trên đường trong tình trạng có chất
Trang 34cồn trong người và đã đâm vào chị Dậu – một lao công đang quét rác ria đường khiến cho chị Dậu bị thương và phải nhập viện Lúc này, mẹ của Tuất là bà Sửu
đã đứng ra thay mặt Tuất thăm hỏi và bồi thường chi phí gây thương tích cho chị Dậu Lúc này mối quan hệ bồi thường thiệt hại giữ Tuất và chị Dậu được xác định là mối quan hệ gián tiếp Tại khoản 2 Điều 586 BLDS 2015 quy định: Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình Như vậy Tuất có trách nhiệm bồi thường cho chị Dậu bằng tài sản của chính mình còn bà Sửu hành động vì lợi ích của Tuất Hay nói cách khác trách nhiệm trong quan hệ với người thứ ba thuộc về người được đại diện
Cha mẹ tuy là nhân danh cho con chưa thành niên và thẩm quyền của họ được giới hạn trong phạm vi đại diện theo pháp luật nhưng họ vẫn có sự chủ động và độc lập trong việc thể hiện ý chí của mình với người thứ ba trong việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự nhằm mang đến lợi ích cho người được đại diện Chẳng hạn như ví dụ trên: Bà D đại diện cho B chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông T Khi xác lập giao dịch, bà D thoả thuận giá trị chuyển nhượng với mức cao nhất có thể nhằm mang lại lợi ích tối đa cho B
Cần phân biệt trường hợp người chưa thành niên còn cả cha mẹ và cha mẹ đều có năng lực hành vi dân sự đầy đủ nhưng lại có người khác giám hộ cho con (theo điểm b khoản 1 Điều 47) – do cha mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục con và có yêu cầu người khác giám hộ do đó cha mẹ đã chuyển giao quyền đại diện cho người giám hộ của con chưa thành niên Căn cứ xác lập quan hệ đại diện của cha mẹ cho con chưa thành niên dựa trên quy định của pháp luật Bên cạnh đó, chế định giám hộ của người chưa thành niên cũng mang ý nghĩa xã hội
Trang 35tương tự như chế định đại diện của cha mẹ cho con chưa thành niên đó là chăm sóc, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được giám hộ hay con chưa thành niên Tuy nhiên căn cứ xác lập quan hệ giám hộ cho con chưa thành niên được quy định rộng hơn, thông qua ba hình thức: (i) theo quy định của pháp luật14; (ii) theo việc cử của Ủy ban nhân dân cấp xã; (iii) theo sự chỉ định của Tòa án15
Chủ thể của quan hệ được xác định rõ ràng là cha mẹ và con chưa thành niên
Chủ thể của quan hệ được thể hiện rõ bao gồm cha mẹ và con chưa thành niên Cha mẹ có thể là cha mẹ đẻ, hoặc cha mẹ nuôi Đối với những trường hợp con được nhận nuôi thì mối quan hệ giữ cha nuôi, mẹ nuôi, con nuôi có đầy đủ quyền và nghĩa vụ như cha, mẹ đẻ với con Còn chủ thể của quan hệ giám hộ cho con chưa thành niên thì bao gồm cả anh, chị, em ruột, ông bà nội, ông bà ngoại,
cô, dì, chú, bác, cậu ruột là những người có quan hệ huyết thống trực hệ với con
14 Quy định tại Điều 52 BLDS 2015
15 Quy định tại khoản 1 Điều 54 BLDS 2015
Trang 36vực mà họ thành thạo Trong khi đó, nhu cầu sống thì rất lớn, thời gian thì có hạn, năng lực mỗi người thì khác nhau Vì vậy vấn đề đại diện được đặt ra
Bên cạnh đó, nếu không có chế định đại diện thì những người không có năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự sẽ không còn cơ hội tham gia đời sống giao lưu dân sự Con chưa thành niên là một trong các đối tượng chưa có năng lực hành vi dân sự một cách đầy đủ và pháp luật đặt ra những quy định để hạn chế họ tự mình thiết lập các giao dịch16 Chính vì vậy, ý nghĩa xã hội pháp lý của chế định đại diện được thể hiện chính là ở chỗ nhờ có
nó mà một người (ở đây được hiểu là con chưa thành niên) có thể sử dụng tri thức, khả năng, kinh nghiệm của người đại diện (được hiểu là cha mẹ của người chưa thành niên đó) và tiếp nhận kết quả từ hành vi pháp lý của người đại diện
đó Quan hệ đại diện xuất phát từ nhu cầu thực tế nhất định, là một trong những chế định pháp luật lớn, có ý nghĩa quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội và trong cơ cấu pháp lý Đại diện là chế định có chức năng trợ giúp xã hội, là một trong những thành quả của trí tuệ pháp lý của loài người, mang tính nhân văn, nhân đạo Đây cũng là một công cụ pháp lý hữu hiệu để các chủ thể trong quan
hệ pháp luật dân sự có thể thực hiện được tất cả các quyền và nghĩa vụ dân sự của mình một cách linh hoạt và hiệu quả nhất Thể hiện được tính mềm dẻo, linh hoạt của pháp luật, bảo vệ những quyền lợi chính đáng cho người không có năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế về năng lực hành vi dân sự
Để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người chưa thành niên khi tham gia vào các quan hệ dân sự, góp phần bảo đảm sự ổn định pháp lý của các giao dịch dân sự nói chung và quyền lợi của những người chưa thành niên nói riêng
16
Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý (khoản 4 Điều 21 BLDS 2015)
Trang 37thì pháp luật cần thiết và đặt ra nhiều biện pháp để bảo về quyền lợi của người chưa thành niên, đặc biệt là trong việc xác lập, thay đổi, chấm dứt giao dịch dân
sự Có rất nhiều những quy định trong nước và trên thế giới ra đời để bảo về cho quyền và lợi ích của họ Tại lời mở đầu của Công ước Liên Hợp Quốc vệ quyền trẻ em năm 1989 xác định: Tin tưởng rằng, gia đình, với ý nghĩa là tế bào xã hội
cơ bản và môi trường tự nhiên cho sự phát triển và hạnh phúc của mọi thành viên, nhất là trẻ em, cần được sự bảo vệ và giúp đỡ cần thiết để đảm đương được đầy đủ trách nhiệm của mình trong cộng đồng Công ước đã nêu ra vai trò to lớn của cha mẹ đối với trẻ em (thuộc đối tượng con chưa thành niên) Chính sự non nớt về thể chất, nhận thức và tâm sinh lý nên là đối tượng dễ bị lợi dụng trong xã hội Sự xuất hiện của cha mẹ là sự bảo đảm chắc chắn nhất cho lợi ích của con chưa thành niên Xuất phát từ lý lẽ và thực tiễn cho thấy không ai có thể bảo vệ quyền lợi một cách vô điều kiện và tận tâm nhất ngoài cha mẹ Chính vì vậy để bảo đảm cho quyền lợi của người chưa thành niên nói riêng và sự cân bằng ổn định trong xã hội nói chung, pháp luật quy định về chế định đại diện cho người chưa thành niên mà chủ thể có nghĩa vụ trước hết là bố mẹ
1.3.4 Phạm vi đại diện
Như đã phân tích tại các phần trước, để bảo đảm cho người chưa thành niên tham giao được vào giao lưu dân sự thì những giao dịch dân sự đó phải được đặt dưới cơ chế đại diện trước tiên, tức là việc cha mẹ (người đại diện) nhân danh và
vì lợi ích của những người con chưa thành niên (người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch với người thứ ba Khi giao dịch được xác lập, thực hiện phù hợp với phạm vi đại diện thì người được đại diện chịu sự ràng buộc của giao dịch Ngược lại, nếu giao dịch được xác lập, thực hiện ngoài phạm vi đại diện thì, về nguyên tắc, người được đại diện không chịu ràng buộc bởi giao dịch được
Trang 38xác lập, thực hiện trên danh nghĩa của họ Chính vì vậy, việc xác định phạm vi đại diện của người đại diện rất quan trọng trong thực tế đời sống
Ý nghĩa của việc xác định phạm vi đại diện: Việc xác định phạm vi đại diện không chỉ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được đại diện mà còn bảo
vệ quyền lợi cho người thứ ba xác lập giao dịch dân sự với người đại diện Quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của người được đại diện với người thứ ba chỉ phát sinh khi người đại diện xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện của mình Ngoài ra đây còn là căn cứ để xem xét tính hiệu lực của một
số giao dịch do người đại diện xác lập, thực hiện
Khác với thẩm quyền đại diện theo ủy quyền Việc xác lập, thực hiện một giao dịch dân sự theo ủy quyền được giới hạn trong phạm vi mà bên được đại diện ủy quyền cho bên đại diện Quyền và nghĩa vụ của người đại diện được xác định rõ ràng theo nội dung ủy quyền Còn thẩm quyền đại diện của người đại diện theo pháp luật là thẩm quyền rộng Người đại diện theo pháp luật được xác lập mọi giao dịch làm phát sinh quyền, nghĩa vụ cho người được đại diện Tiêu chí để xem xét tính hợp pháp của việc thực hiện thẩm quyền đại diện này là giao dịch do người đại diện xác lập có xuất phát từ lợi ích của người được đại diện không? Có ảnh hưởng đến lợi ích của người đó không?
Nghiên cứu phạm vi đại diện của cha mẹ cho con chưa thành niên, pháp luật cũng cân nhắc đến việc trao quyền đại diện cho cha mẹ như thế nào để đáp ứng được mục đích duy nhất của quan hệ đại diện đó là bảo vệ cho người chưa thành niên, tuy nhiên cũng không xâm phạm đến quyền tự định đoạt của chính đứa trẻ Việc xác định phạm vi đại diện cho ý nghĩa quan trọng trong việc xác định thẩm quyền đại diện của cha mẹ, hiệu lực của những giao dịch dân sự do cha mẹ đại
Trang 39diện xác lập, thực hiện và trách nhiệm pháp lý mà cha mẹ phải gánh chịu khi thực hiện giao dịch vượt quá thẩm quyền
Phạm vi đại diện của cha mẹ được xác định tương ứng với các mức năng lực hành vi dân sự của con chưa thành niên:
- Phạm vi đại diện của cha mẹ trong trường hợp con chưa thành niên chưa
đủ 6 tuổi:
Ở lứa tuổi này, trẻ em mới chỉ đang tìm hiểu về thế giới quan thông qua các mối quan hệ thân cận như ông bà, bố mẹ, anh chị em thường xuyên gặp Những nhu cầu của những đứa trẻ này đều được đáp ứng thông qua người khác chẳng hạn như ăn uống, quần áo hay đồ chơi Pháp luật dân sự coi những trẻ em chưa
đủ 6 tuổi thì không có năng lực hành vi dân sự Mọi quan hệ dân sự do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện Như vậy, với trường hợp con chưa đủ 6 tuổi thì thẩm quyền đại diện của cha mẹ là lớn nhất Cha mẹ sẽ có toàn quyền quyết định, định đoạt khi xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân sự với
tư cách là đại diện cho con, bao gồm cả những giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu thiết yếu của chính người con chưa đủ 6 tuổi đó
- Phạm vi đại diện của cha mẹ trong trường hợp con từ đủ 6 tuổi đến dưới
15 tuổi:
Những người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi, không mắc các bệnh tâm thần hoặc các bệnh lý khác dẫn đến tình trạng không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình hoặc không bị Tòa án tuyên bố mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự là những người có năng lực hành vi dân sự nhưng chưa đầy
đủ Trẻ em từ đủ 6 tuổi đến dưới 15 tuổi, khả năng thực hiện giao dịch dân sự của họ được mở rộng hơn Pháp luật đã bắt đầu trao cho họ quyền được tham gia
Trang 40vào các giao dịch dân sự hàng ngày, phục vụ những nhu cầu thiết yếu phù hợp với lứa tuổi như mua sắm đồ dùng học tập, đồ ăn, thức uống hoặc đồ chơi, … Ngoài những giao dịch phục vụ những nhu cầu thiết yếu thì trẻ em ở độ tuổi này cũng được tham gia vào các quan hệ dân sự khác tuy nhiên phải được sự đồng ý của cha mẹ Có thể thấy, nhà làm luật đã thu hẹp phạm vi đại diện của cha mẹ từ việc cho họ trực tiếp tham gia xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự thành việc chỉ cho phép đồng ý hay không đồng ý cho con tham gia vào giao dịch dân sự Ở
độ tuổi này, người chưa thành niên gây thiệt hại được xác định là không có năng lực chịu trách nhiệm bồi thường, mặc dù có thể họ đã có một phần năng lực hành
vi dân sự Hơn nữa, họ vẫn chịu sự giám sát, quản lý của cha mẹ nên khi gây ra thiệt hại, cha mẹ được coi là có lỗi trong việc quản lý nên cha mẹ phải chịu trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại Nếu cha mẹ không đủ tài sản để bồi thường toàn bộ thì lấy tài sản của con để bồi thường phần còn thiếu Việc xác định bồi thường này không nhằm mục đích quy trách nhiệm cho con chưa thành niên mà hướng tới bảo vệ lợi ích chính đáng của người thứ ba ngay tình Chính vì vậy, dù phạm vi đại diện của cha mẹ cho con ở độ tuổi này đã được thu hẹp hơn nhưng trách nhiệm thì vẫn tương đương với trách nhiệm khi đại diện cho con chưa đủ 6 tuổi
- Phạm vi đại diện của cha mẹ trong trường hợp con từ đủ 15 tuổi đến dưới
18 tuổi:
Ở độ tuổi gần như phát triển toàn diện về thể chất lẫn tâm sinh lý này, con chưa thành niên được pháp luật trao cho quyền tự chủ rất lớn trong việc xác lập
và thực hiện các giao dịch dân sự đối với tài sản của mình mà không cần sự đồng
ý của cha mẹ Với độ tuổi từ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi, con chưa thành niên đã có thể tham gia vào quan hệ lao động, có thể tạo ra thu nhập riêng đủ để thực hiện